KHÁM PHÁ CỦA EMMANUEL

Chủ đề: Giáng sinh chính là việc Thiên Chúa ngỏ lời với con người: “Ta yêu các con tới độ đã ban cho các con chính Con độc nhất của Ta.  Các con cũng hãy yêu thương nhau như chính Ta đã yêu thương các con”

Ngày xưa, có một chú bé Phi Châu tên là Emmanuel.  Chú ta luôn luôn tò mò thắc mắc.  Ngày nọ chú hỏi thầy giáo: “Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?”  Thầy giáo chỉ biết gãi đầu và nói: “Thú thực là thầy không biết.”

Sau đó Emmanuel đi hỏi các nhà trí thức trong làng nhưng họ cũng chẳng biết.  Thế là chú ta càng lúc càng tò mò thắc mắc hơn, chú dạo quanh khắp vùng dọ hỏi các bậc thức giả ở những làng khác: “Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?”  Nhưng họ cũng chỉ biết lắc đầu mà thôi.  Tuy nhiên, Emmanuel vẫn tin chắc có người biết điều ấy.  Vì thế chú lên đường đến những quốc gia và cả những đại lục khác để tìm hỏi, nhưng ở đâu chú cũng chẳng nhận được câu trả lời.

Một đêm nọ sau khi bị kiệt sức vì đi quá nhiều nơi, Emmanuel đến được một ngôi làng nọ, tên là Belem.  Chú cố tìm chỗ nghỉ đêm trong các quán trọ, nhưng tất cả các quán đều đã đầy người.  Vì thế chú quyết định tìm một cái hang ngoài thành để trú đêm.  Cuối cùng quá nửa đêm chú mới tìm được một cái hang.  Nhưng khi bước vào hang, chú nhận ra chiếc hang đá có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú ngụ.  Nhìn thấy chú, bà mẹ trẻ liền nói: “Chào Emmanuel, chúng ta đang mong chờ con.”

Chú bé quá sửng sốt làm sao bà này biết tên chú?  Và chú càng ngạc nhiên hơn khi nghe bà ấy nói: “Đã từ lâu, con đã tìm kiếm khắp thế giới để hỏi xem Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào.  Giờ đây hành trình của con kể như đã đến đích, đêm nay chính mắt con sẽ thấy được Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào.  Người nói bằng ngôn ngữ của tình yêu.  Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi ban cho thế gian Con Một của Người” (Ga 3: 16).

Trái tim Emmanuel trào dâng niềm xúc động, chú vội quì gối xuống trước hài nhi và mừng rỡ bật khóc.  Giờ đây chú đã biết rằng Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu, thứ tiếng mà mọi người thuộc bất kỳ dân tộc hay thời đại nào cũng đều có thể hiểu được.

Và thế là Emmanuel ở đó vài ngày để giúp đỡ Đức Maria và Thánh Giuse.  Sau đó đến lúc chú phải chia tay để đi loan báo cho mọi người “Tin Mừng” về thứ ngôn ngữ Chúa dùng, Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu.  Lủi thủi một mình, Emmanuel vừa rảo bước vừa suy nghĩ: “Nếu tôi muốn kể cho mọi người biết Chúa dùng thứ tiếng nào để nói, thì chính tôi cũng phải nói bằng thứ tiếng Chúa nói, tức ngôn ngữ của tình yêu.  Bởi vì đó chính là thứ tiếng duy nhất mà mọi người trên thế gian đều hiểu được” và kể từ ngày đó trở đi, Emmanuel bắt đầu nói bằng ngôn ngữ của Thiên Chúa tức là ngôn ngữ của tình yêu.

Điều Emmanuel khám phá ra quả thật thú vị khi anh chị em nói với mọi người bằng thứ tiếng của tình yêu, thì họ cũng sẽ nói lại với anh chị em bằng thứ tiếng của tình yêu.  Thế rồi, họ bỗng nhiên khám phá ra rằng nói bằng thứ tiếng ấy hay hơn biết bao nhiêu: và một khi họ đã khám phá ra điều ấy, họ sẽ không bao giờ trở lại nói thứ tiếng xưa kia của họ nữa.  Vậy thì khi Emmanuel lên đường trở về nhà, chúng ta có thể noi theo bước chú, bởi vì chú đã để lại đàng sau chú một chuỗi phố phường làng mạc, nơi đó người ta bắt đầu nói bằng ngôn ngữ của tình yêu.

Về sau, khi có người kể lại cho Emmanuel những điều đã xảy đến trong các phố xá làng mạc nơi chú đã đi qua, thì chú lại khám phá ra một điều kỳ diệu thứ hai đó là khi trao ban cho thế gian Con Một của Người, Thiên Chúa đã muốn dạy cho mọi người nói chung một thứ ngôn ngữ tức là ngôn ngữ của tình yêu.

Người biết rằng một khi người ta bắt đầu nói ngôn ngữ ấy, họ sẽ không còn trở lại nói thứ ngôn ngữ xưa kia của họ nữa.  Người còn biết rằng một khi người ta bắt đầu nói bằng ngôn ngữ của Tình yêu thì những điều kỳ diệu sẽ lập tức xuất hiện khắp nơi.  Mọi quốc gia sẽ chia sẻ mọi nguồn lợi, và tài năng cho nhau, mọi chủng tộc sẽ đối xử với nhau bằng lòng tôn kính, mọi gia đình sẽ hoà thuận thương yêu nhau, khắp nơi mọi người sẽ bắt chặt tay nhau trong tình thân hữu.

Lúc đó, lời hứa của Người qua miệng ngôn sứ Isaia sẽ thực sự được thể hiện: “Gốc Jesse nẩy sinh một chồi và từ rễ ấy một nụ bông hé nở.  Thần Trí Chúa sẽ ngự xuống trên Người: Thần Trí khôn ngoan và thông hiểu.  Bấy giờ sói sẽ là khách của chiên, báo sẽ nằm chung với trẻ nít, bò cái và gấu sẽ là láng giềng với nhau, lũ con của chúng sẽ nghỉ ngơi bên nhau; sư tử sẽ ăn cỏ giống như bò đực và trẻ nít sẽ vui đùa bên hang rắn độc…. sẽ không còn tai họa hay hoang tàn trên núi thánh của Ta, bởi vì mặt đất sẽ ngập tràn sự hiểu biết về Chúa khác nào nước phủ khắp đại dương” (Is 11: 1-2, 6-9)

Lạy Chúa, xin giúp tất cả chúng con đang hiện diện nơi đây khám phá ra điều mà chú bé Emmanuel đã tìm thấy.  Xin giúp chúng con khám phá ra ngôn ngữ của tình yêu và biết dạy cho tha nhân thứ ngôn ngữ này.  Xin cho chúng con góp phần hối thúc cho ngày ấy chóng đến, cái ngày mà mọi dân tộc đều biết chia xẻ cho nhau, mọi chủng tộc đều biết tương trợ lẫn nhau, mọi gia đình biết yêu mến nhau và mọi người đều biết thắt chặt tay nhau trong tình thân hữu.

Xin giúp chúng con góp phần hối thúc cho ngày ấy chóng đến, cái ngày mà “hoà bình thực sự ngự trị trên trái đất” và “thiện chí” loan tỏa đến mọi người.

Lm. Mark Link, S.J.

KÌ TÍCH ĐÊM GIÁNG SINH

Một công ty nọ có truyền thống tổ chức tiệc và rút thăm trúng thưởng vào Giáng sinh mỗi năm.  Theo quy định rút thăm trúng thưởng, mỗi thành viên tham gia đều phải đóng góp 10 USD làm lệ phí.  Toàn công ty có 300 người, và phần thưởng chính là tổng số tiền của 300 người gộp lại: $3,000 USD.  Ai may mắn sẽ được mang toàn bộ số tiền đó về nhà.

Vào ngày tổ chức lễ bốc thăm, không khí náo nhiệt tưng bừng hơn bao giờ hết, ai nấy cũng mong đợi tới giờ vàng để thử vận may của mình.  Mỗi người đều được phát một mẩu giấy để ghi tên mình trước khi bỏ vào thùng bốc thăm trúng thưởng.  Và trong lúc chuẩn bị ghi tên, một cậu nhân viên trẻ chợt phân vân suy nghĩ: “Cô lao công Sarah là người có gia cảnh khó khăn nhất, con cái lại mắc nhiều bệnh tật, mà cô thì không có tiền để phẫu thuật cho con.  Giá như cô có được số tiền này thì tốt biết mấy, nhưng cô lấy đâu ra $10 USD để tham gia cơ chứ ?  Nghĩ rồi cậu không cần đắn đo mà quyết định sẽ ghi tên cô Sarah thay vì ghi tên mình lên đó.  Mặc dù vẫn biết cơ hội quá mong manh, chỉ có 1/300 cơ hội, nhưng cậu vẫn cầu mong vận may mỉm cười với cô.

Tới lúc chuẩn bị rút thăm, không khí hồi hộp không kém phần căng thẳng.  Mọi người cùng nhìn lên khán đài khi Giám  đốc công ty chọn ra tấm phiếu may mắn.  Ở bên dưới, cậu thanh niên trẻ không ngừng cầu Chúa, cầu Chúa hãy giúp đỡ cô Sarah…

Vị giám đốc từ từ mở mẩu giấy ra…  Tích tắc, tích tắc…, mọi người đều nín thở chờ đợi đến mức tiếng kim đồng hồ cũng có thể nghe thấy.  Khi nhìn vào cái tên trên tấm phiếu may mắn ấy, vị Giám đốc bất giác mỉm cười… rồi ông đọc to lên.  Và… kỳ tích thật sự đã xuất hiện!  Khi cái tên Sarah được xướng lên, những tràng vỗ tay chúc mừng vang lên không ngớt tràn ngập cả hội trường.  Cô Sarah vừa vui mừng vừa bất ngờ vì không biết mình được tham gia.  Khi bước lên bục nhận phần thưởng, cô rối rít cảm ơn: “Tôi thật may mắn, có số tiền này con tôi được cứu rồi, cảm ơn mọi người, cảm ơn mọi người!”

Buổi tiệc diễn ra trong những tiếng nói cười và tiếng nâng ly chúc tụng.  Chàng nhân viên trẻ miên man suy nghĩ về cái kết có hậu của đêm Giáng sinh năm ấy, bởi mọi thứ xảy ra như một kỳ tích.  Cậu vừa bước dạo xung quanh vừa chúc tụng mọi người một Giáng sinh vui vẻ.  Vô tình đi qua thùng phiếu, thuận tay cậu rút lấy một tờ ra xem, và… lạ chưa kìa, trên mảnh giấy đó có tên cô Sarah.  Cậu không dám tin vào mắt mình nên vội vàng rút ra thêm một mẩu giấy, và một mẩu giấy nữa, tất cả đều có tên cô Sarah trên đó.

Một nỗi xúc động dâng trào trong lòng cậu, giống như những cơn sóng thuỷ triều dâng lên mãnh liệt.  Hai mắt cậu đỏ lên, những giọt nước mắt hạnh phúc không ngừng tuôn rơi.  Cậu nhận ra một điều, thế giới này thực sự tồn tại “kỳ tích đêm Giáng sinh,” chỉ có điều kỳ tích đó không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó được tạo ra bởi những con người có tấm lòng lương thiện quanh ta.

Sưu tầm

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Nếu ai đã từng xem cuốn phim “Đức Giêsu thành Na-da-rét” của đạo diễn Franco Zeffirelli (sản xuất năm 1977) chắc còn nhớ phân cảnh Thánh Giuse nằm mơ thấy Đức Maria bị ném đá chết vì tội ngoại tình.  Nếu không thì cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh Thánh Giuse khắc khoải, lo âu, dằn vặt, thậm chí xấu hổ, trước sự kiện Đức Maria mang thai mà ông chẳng biết nguyên do.  Đó là những tình tiết lâm ly, bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng chăng?  Ngoài ra, ý tưởng “tố giác” (ám chỉ Giuse nghi ngờ – mà nghi bậy – Maria ngoại tình, chửa hoang) nằm bên cạnh ý tưởng “công chính” (một danh hiệu vinh quang, hiếm người được Kinh Thánh trao tặng) đã khiến nhiều học giả phải lý luận vòng vo đủ cách, trưng dẫn bản văn đủ kiểu để hòa hợp hai ý tưởng này.  Tất cả những cái đó, theo nhiều nhà chú giải hiện đại, là do cách dịch chưa đúng về một vài từ ngữ trong văn bản.

Khúc Mắc Tâm Tư

Mở đầu bản văn bằng câu “Đây là gốc tích Đức Giêsu Ki-tô” và bằng chi tiết “Trước khi hai ông bà về chung sống, Maria đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần,” Mát-thêu đã muốn chứng minh cho độc giả Do-thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do-thái và con cháu Đa-vít được (trong lúc Lc 1, 26-38 thì chỉ trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân hiểu).  Việc lạ lùng này, chắc hẳn Đức Maria đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Ê-li-sa-bét mà còn được biết nữa là, vì thiên thần đâu có cấm Maria tiết lộ: x. Lc 1,39-45).  Với hai lý do: xin ông thông cảm cho quyết định của bà là vâng phục thánh ý lạ lùng lẫn bất ngờ của Thiên Chúa, và như thế sẽ chấm dứt kiểu chung sống chồng vợ thông thường; hai là chia sẻ niềm vui và vinh dự của bà được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao.  Ngoài ra, việc Mát-thêu khẳng định đầy đủ sự kiện nhiệm mầu ấy ngay từ đầu bài Tin Mừng (ông chẳng viết đơn giản: “Maria đã có thai”) hàm ý Giuse đã biết rõ công chuyện.  Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt ông vào một hoàn cảnh khó xử.

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà Giuse Maria chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn không có chồng hoặc có chồng không con là tủi nhục lớn lao, tương tự quan niệm Á đông: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”), đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai (Mêsia) như bao mộng ước của mọi gia đình và mọi thiếu nữ Do-thái thời đó.  Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống như vợ chồng, Maria đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai, nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ – do quyền năng Chúa Thánh Thần – vì thai nhi đó chính là Con Thiên Chúa!  Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi.

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, Giuse đâm băn khoăn.  Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng Maria như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người.  Từ nay Maria đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao.  Giuse tự nghĩ mình đâu có quyền động đến nàng nữa.  Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn.  Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa, vì Hài nhi là con của Người mà.  Công bố chuyện này cho thiên hạ ư?  Ai mà tin nổi và hiểu nổi!  Có dấu chứng nào về một chuyện lạ lùng xưa nay chưa từng gặp như vậy?  Vả lại đây là bí mật giữa Thiên Chúa với Maria mà Người đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền nó cho bá tánh.  (Phải 30 năm sau, chính Đức Giêsu mới làm rõ được chuyện này)!  Thế là Giuse dự tính ra đi, ra đi âm thầm, để mặc Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện.  Ông xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Chúa và không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người.  Vả lại, hiểu cách tự nhiên tức thời, công chính, công bình – hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp – có nghĩa là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi và sở hữu của tha nhân.  Ngoài ra, từ Hy-lạp dùng ở đây là “deigmatisai”, cùng gốc với từ “paradeigmatisai”.  Nhưng trong lúc “paradeigmatisai” có nghĩa là “tố giác, bêu nhục” thì “deigmatisai” lại chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”, theo nhiều Giáo phụ (Origène, Eusèbe de Césarée…) và nhiều học giả hiện đại (Lm Paul Joüon, SJ, thành viên Viện Kinh thánh Giáo hoàng, Lm Nil Guillemette, SJ, giáo sư Kinh thánh lỗi lạc…).  Thành ra, chính cách dịch mới: “Giuse là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hợp lý đồng thời hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây.

Lối giải thích cho rằng Giuse công chính chiếu luật (vâng lời Lề luật) là không ổn, vì chả có luật nào buộc phải ly dị hôn thê mới bị coi như ngoại tình cả (x. Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng).  Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì việc ly dị chỉ được phép và mang giá trị pháp lý nếu có chứng thư ly dị rõ ràng và đưa ra công khai (Đệ Nhị Luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành).  Thành ra đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động từ trời.

Gỡ Mối Tơ Vò

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông.”  Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp: “Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng sợ [Hy ngữ: phobethes] đón Maria vợ ông về.”  Đến đây, các nhà chú giải hiện đại đề nghị cách dịch khác cho từ Hy-lạp gar mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “vì” (“Vì người con bà cưu mang…”) và cho từ Hy-lạp  mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “và” (“và ông phải đặt tên…”).  Từ “gar” còn có nghĩa: “vẫn biết, quả thật, hẳn nhiên, phải rồi”, và thường gặp trong Tân Ước (x. Mt 18,7; 1Cr 9,19; 1Tx 2,20…); từ “dé” cũng còn có nghĩa “nhưng”: “Vẫn biết/hẳn nhiên người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ.”  Từ “vẫn biết/hẳn nhiên” nói lên một sự thật mà Giuse đã rõ (nên không có chuyện thiên thần mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho ông lúc này).  Maria sẽ sinh con, “nhưng” Giuse sẽ đặt tên cho con trẻ.  Đặt tên (quyền của người cha theo pháp luật Do-thái) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình.  Rồi con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật Do-thái, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ.  Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do-thái (con nuôi # con đẻ, mà chắc Người đã từ lâu xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít dù là con của một trinh nữ, với Thiên Chúa là Cha.

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành khẳng định của chính Đức Giêsu) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giuse là cha đẻ của Người.  Sự hiện diện của Thánh Giuse trong ngôi nhà Na-da-rét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người.

Đến đây, ta có thể hiểu rõ thêm nữa về sự công chính của Thánh Giuse: đó là sự thức tỉnh nội tâm đối với Thiên Chúa, một sự thức tỉnh vốn giúp người có khả năng đón nhận và hiểu rõ sứ điệp, dẫn người tức khắc tới chỗ vâng phục.  Dẫu cho đến nay người đã bối rối trước các chọn lựa khác nhau của mình, giờ đây người biết đâu là đường lối hành động đúng đắn.  Là một người công chính, người vâng theo các mệnh lệnh Thiên Chúa truyền dạy.

Hiểu Ra Mầu Nhiệm

Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ: ‘Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’.  Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.”  Vậy là bên cạnh Đức Maria, bà Ê-li-sa-bét, Thánh Giuse nay cũng hiểu: vừa là con Thiên Chúa, vừa là con loài người, Đức Giêsu đúng là Em-ma-nu-en thật (x. Is 7,14).  Ngay cả cho dù không thực sự mang cái tên độc đáo này, Người vẫn là Em-ma-nu-en, như toàn bộ Tin Mừng sẽ cố gắng minh chứng, là Thiên-Chúa-ở-cùng-nhân-loại trong chính bản thân Người.  Hai bản tính trong một ngôi vị này khiến Người có thể đền tội xứng đáng, đầy đủ cho chúng ta và nhất là có thể thần hóa chúng ta, làm chúng ta nên con Thiên Chúa, thông phần bản tính Người: “Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa” (thánh Athanasiô), “Thiên Chúa đã làm người, để biến chúng ta thành thần linh” (thánh Irênê).  (Tương tự chúng ta vì là vật chất và tinh thần nên có thể tinh thần hóa vật chất vậy).

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ĐỒNG TRINH SINH HẠ

Truyền thống Kitô luôn luôn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu được sinh ra do một trinh nữ.  Đấng Thiên sai chỉ được sinh ra từ dạ người đồng trinh.  Đương nhiên lý do chính cho sự nhấn mạnh này là để nêu bật Chúa Giêsu không có người cha thế gian và việc Ngài được sinh ra là do Thần Khí.

Nhưng cũng có một nghĩa thứ hai, ít được nói đến trong Thánh Kinh.  Thường thường trong nghĩa này, ý tưởng cho rằng Chúa Giêsu sinh từ một trinh nữ vì dục tính là cái gì không tinh khiết, quá phàm tục so với một sự việc thiêng liêng như vậy.  Thiêng liêng phải được tách bạch ra khỏi cái gì phàm tục.

Không những Chúa Giêsu được sinh ra từ một trinh nữ, vì Người không có cha trần thế, mà Người còn được sinh ra từ trinh nữ vì sự sinh ra này đòi hỏi phải tinh tuyền, mà theo định nghĩa, tinh tuyền là loại trừ dục tính.  Khái niệm của chúng ta về đồng trinh sinh hạ đã chịu sự thấm nhuần của lòng mộ đạo, mà với tất cả lý do có thể có, không thể nào chấp nhận dục tính đi với thiêng liêng.

Có cái gì sai ở đây?  Vượt ra ngoài sự chê bai cái tốt đẹp do Chúa ban của dục tính, ở đây thiếu một trong những khía cạnh chủ yếu của sự mặc khải trong việc đồng trinh sinh hạ.  Có một thách đố mang tính luân lý trong việc đồng trinh sinh hạ, một điều gì đó mời gọi bắt chước hơn là thờ phượng.

Truyền thống Kitô nhấn mạnh đến đồng trinh sinh hạ (cũng như nhấn mạnh đến hầm mộ chưa từng chôn ai, nấm mộ trinh khiết đi đôi với tử cung còn trinh) không phải vì truyền thống cho rằng dục tính là không tinh khiết và quá thế tục nên không thể sinh ra một cái gì thiêng liêng.

Ngược lại, ngoài khía cạnh nhấn mạnh Chúa Giêsu không có cha trần thế, truyền thống Kitô muốn nhấn mạnh đến quả tim và tâm hồn cần có một khoảng không gian linh thiêng để một cái gì đó có tính cách linh thiêng có thể được sinh ra.  Vấn đề ở đây không phải là chuyện độc thân thay vì dục tính, nhưng là kiên nhẫn thay vì hấp tấp, tôn trọng thay vì không tôn trọng, chấp nhận sống trong căng thẳng thay vì đầu hàng và bù đắp cho một ước muốn không được đáp ứng.  Quả tim tinh khiết sẽ để cho tình yêu đi theo tiếng gọi của nó chứ không lèo lái nó.  Quả tim tinh khiết để cho quà tặng là quà tặng chứ không cưỡng bức nó, dù theo cách tinh vi đến đâu đi nữa.  Quả tim tinh khiết chấp nhận đau khổ của khiết tịnh thay vì ngủ với cô dâu trước ngày cưới.  Rốt cuộc, đó là điều tạo nên khoảng không gian tinh tuyền, là khoảng không gian trong đó Chúa có thể sinh ra.

Cách đây ba mươi năm, trong ý hướng muốn diễn tả điều này, tôi viết một bài thơ có đầu đề là Đồng trinh sinh hạ.  Bây giờ tôi mắc cỡ bởi vì lý tưởng của tuổi thanh xuân trong bài thơ này, nhưng, trong những ngày đẹp đẽ của tôi, tôi lại nhận lấy lời khuyên từ những dòng thơ của chàng trai trẻ năm nào:

Đồng trinh sinh hạ
Nghịch lý đời đời, đặc biệt cho cả hai Đấng Cha và Con
Những vị đã kết hợp đặc biệt minh triết con người từ điều kỳ diệu.
Một trinh nữ sinh hạ
Không phải ra một chủng tử vô sinh
Mà là một Đấng Cứu Thế.

Đồng trinh thì liên quan gì tới việc hạ sinh?  Không gì cả!
Khi minh triết phí phạm lời lẽ để đi mông lung
tìm một sự thật sẽ không giải thoát chúng ta.

Đồng trinh và không ăn nằm: quả tim chưa trọn đủ và thân xác,
Vật lộn với một vị Chúa không có thịt da
Người không để xác thịt gặp xác thịt
cảm thấy đớn đau, vẫn mong chờ sự trọn đủ
Để tránh hiếm muộn, một tội lỗi thật sự không thể tha thứ chống lại tinh thần của sự sống
Nhưng hiếm muộn đã mang thai lòng khao khát cái tinh thần đã ngủ với Thiên Chúa trong đêm
đã mang thai tinh thần cứu thế – những ai đã kiên nhẫn đợi chờ và thà một mình khóc thầm
hơn là làm hư món quà
vì thiếu kiên nhẫn.

Chỉ dạ của các trinh nữ mới cưu mang được Đấng Cứu Thế
vì chỉ các trinh nữ mới sống một mình trong chờ đợi
chờ đợi một chàng hôn phu
khuya khoắt, đã sau mười một giờ đêm, không còn hy vọng gì.
Không nản lòng, dạ người trinh nữ vẫn chờ đợi
Khước từ tất cả những người tình giả dối và tất cả nôn nóng
cái đòi hỏi xác thịt trên xác thịt và
một Xứ sở thần tiên theo điều kiện của con người

Đấng Cứu Thế chỉ được sinh hạ
từ trong dạ người trinh nữ
từ trong kiên nhẫn của người trinh nữ
cái làm cho
Thiên Chúa là Thiên Chúa

tình yêu là quà tặng.

Ronald Rolheiser, OMI
14, tháng mười hai, 1981

Tại sao là dạ người trinh nữ mới sinh ra Đấng Thiên sai?  Tại sao có ám ảnh về sự tinh tuyền trong truyền thống Kitô?  Bởi vì, tất cả chúng ta đều quá biết, cuộc sống chúng ta đầy những chuyện không tinh khiết: hấp tấp, không tôn trọng, bất kính, lèo lái, khắc kỷ, vĩ cuồng, và tất cả chúng ta cũng đều biết, trong ma trận đó, đấng thiên sai không thể thụ thai được.

SA MẠC NỞ HOA

Sứ điệp và chứng từ của Thánh Gio-an Tẩy Giả gắn liền với sa mạc.  Ông sống trong sa mạc, làm bạn với muông thú, ăn mật ong rừng và mặc áo bằng da lạc đà.  Ông khởi đầu sứ mạng cũng ở trong sa mạc, bằng lời kêu gọi sám hối.  Con người khổ hạnh ấy có sức hấp dẫn lạ kỳ, đến nỗi dân thành từ Giê-ru-sa-lem, Giu-đê-a và vùng ven sông Gio-đan đều đổ xô đến nghe ông giảng.  Trong đó có cả những người thuộc phái Pha-ri-siêu và phái Sa-đốc.  Vào thời đó, hai phái này mâu thuẫn và không đội trời chung.  Sứ điệp của Gio-an Tẩy Giả đã gắn kết họ trong việc lắng nghe và thành tâm sám hối.

Trước đó bảy trăm năm, ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo về sự kiện này.  Ông chiêm ngưỡng một viễn tượng tương lai: Sa mạc sẽ nở hoa.  Đồng khô cỏ cháy mừng rỡ reo hò.  Vị ngôn sứ diễn tả một tương lai mà cỏ cây cũng như con người, đều biết nhảy múa và thể hiện niềm vui.  Lý do làm sao mà vui thế? Thưa, vì Thiên Chúa đến đây rồi.  Lúc đó, người què đi được, thậm chí còn nhảy nhót như nai; người mù sáng mắt; người điếc nghe thấy, và tất cả cùng nhau tiến về Xi-on.  Tiến về Xi-on là tiến về nhà Chúa, để gặp gỡ và tôn vinh Ngài.

Lúc đó, ông Gio-an đang ở trong tù.  Có thể khi ông kêu gọi mọi người sám hối để chuẩn bị đón Đấng Thiên Sai, ông cũng không hiểu hết những gì mình nói.  Bởi vậy, lúc bị bắt cầm tù, ông cảm thấy hoang mang.  Trong cảnh ngục tối, có lẽ ông đặt câu hỏi: “Vị ngôn sứ thành Na-da-rét thực ra có phải là Đấng Ki-tô mà ông loan báo?”  Trăn trở này đã khiến ông sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?”  Chúa Giê-su không trả lời thẳng câu hỏi của các môn đệ này, nhưng Người nói đến kết quả lời rao giảng là các phép lạ Người đã thực hiện.  Ông Gio-an nghe những lời này, chắc chắn cảm thấy an tâm vì những gì ngôn sứ I-sai-a nói trước đó nay đã được thực hiện.  Qua câu trả lời, Đức Giê-su muốn nhắn gửi tới Gio-an Tẩy giả: “hãy an tâm!  Hãy vui lên, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông….”

Kiên nhẫn đợi chờ, đó cũng là thông điệp là Phụng vụ muốn gửi đến chúng ta trong Chúa Nhật này.  Bởi lẽ năm nào chúng ta cũng nghe nói đến việc Chúa sắp đến.  Hình ảnh người nông phu được Thánh Gia-cô-bê diễn tả (Bài đọc II) cho thấy sự kiên nhẫn sẽ được đền đáp.  Trong khi chờ đợi Chúa đến, người tin Chúa phải thực hành đức bác ái yêu thương, “đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử.”

Ông Gio-an Tẩy Giả đã thi hành sứ vụ trong sa mạc.  Hôm nay, xã hội của chúng ta cũng đang rơi vào tình trạng sa mạc hóa.  Đó là sự dửng dưng của con người, và bạo lực dối trá tràn lan khắp nơi.  Những khủng hoảng về gia đình và đạo lý đang làm cho xã hội này trở nên khô cằn, ngược lại với cảnh nhộn nhịp phát triển của một cuộc sống được gọi là “hiện đại.”  Chính trong bối cảnh này, người tin Chúa được trao sứ mạng làm cho sa mạc nở hoa.  Thay vì bình phẩm phê phán, chúng ta hãy đóng góp phần mình để giảm thiểu bạo lực, đầy lùi dối trá và cổ võ tình thương, khởi đi từ gia đình, rồi đến với cộng đồng xã hội.  Khi cố gắng làm cho sa mạc cuộc đời nở hoa, là chúng ta làm lan tỏa chất Tin Mừng đến mọi góc khuất của cuộc đời.  Thánh Gia-cô-bê viết: “Anh em hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa.”  Sống thanh tao giữa cuộc đời đầy bạo loạn, đó là sống ơn gọi Ki-tô hữu và thi hành chức năng ngôn sứ mà Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy.

Cùng chung một nội dung với Bài đọc I, Thánh vịnh 145 được hát lên trong Phụng vụ như cảm nghiệm sâu xa về những điều tốt lành Chúa đang làm cho mình.  Với lăng kính Ki-tô giáo, chúng ta tin Đức Ki-tô là Đấng giải phóng con người khỏi nô lệ tội lỗi mà các ngôn sứ và Thánh vịnh đã tiên báo.  Người đến để thiết lập một thế giới mới, nơi đó người với người không còn là lang sói, nhưng tất cả đều là anh chị em với nhau, có cùng một Cha trên trời (x. Mt 5,45).

Ông Gio-an Tẩy Giả là gương mẫu cho chúng ta.  Sứ mạng của Ki-tô hữu là dọn đường cho Chúa.  Tuy vậy, trước hết chúng ta phải đón Chúa đến trong cuộc đời mình.  Gio-an được Đức Giê-su khen ngợi đặc biệt, và đánh giá ông là người cao trọng nhất trong số những phàm nhân.  Nếu chúng ta thực thi sứ mạng ngôn sứ một cách nghiêm túc, chúng ta cũng được chúc phúc như vị Tiền Hô.  Đôi khi người tin Chúa cũng bị cám dỗ bỏ cuộc và hoang mang.  “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”  Đó cũng là lời Chúa Giê-su đang nhắn gửi chúng ta hôm nay.

Lời Chúa hôm nay thấm đượm niềm vui.  Niềm vui vì được Chúa tạo dựng, được Chúa yêu thương và được Ngài cứu độ.  Ki-tô hữu còn vui vì có Đức Giê-su hiện diện trong cuộc đời mình.  Cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc của người phụng sự Chúa, chúng ta sẽ có khả năng và nhiệt huyết đem niềm vui đến cho anh chị em mình.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

ĐỨC MẸ GUADALUPE VÀ TẤM ÁO CHOÀNG THẦN KỲ

Đức Mẹ Guadalupe là một sự kiện thần kỳ và nổi tiếng ở xứ sở Mexico.  Đức Mẹ Guadalupe là một tước hiệu của Đức Mẹ Maria, tên gọi này chứng minh cho sự hiển linh của Đức Mẹ ở vùng Guadalupe, Mexico vào năm 1531.  Năm 1999, Giáo hội Công giáo chính thức tuyên bố biểu tượng Đức Mẹ Guadalupe là Nữ Thần bảo hộ Châu Mỹ.

Ngày 12/12 hàng năm, Giáo hội mừng kính Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày Đức Mẹ hiện ra với người nông dân tên Juan Diego ở Mexico vào năm 1531.  Theo các ghi chép về sự việc này, Đức Mẹ đã hiện ra vài lần trước mặt Juan Diego, yêu cầu Juan đến gặp vị Giám Mục sở tại xin ngài xây dựng một nguyện đường mới tại nơi này.  Vị Giám mục lúc đầu không tin, nên đã yêu cầu một dấu hiệu để chứng minh.  Juan Diego quay trở lại đồi Tepeyac để truyền đạt lại yêu cầu của Giám mục.

Đức Mẹ chấp thuận và bảo Juan lên đỉnh đồi Tepeyac vốn rất khô cằn để gom một số hoa hồng vào áo Tilma của anh (Tilma là một loại áo choàng thô dệt bằng sợi cây xương rồng thổ dân nghèo châu Mỹ thường mặc).  Anh vâng lời Đức Mẹ đi lên đồi.  Anh đã thấy một vườn hoa hồng tuyệt đẹp mặc dù xung quanh đất đai cằn cỗi.  Juan đến gặp vị Giám mục một lần nữa.  Trước mặt vị Giám Mục, Juan mở áo choàng ra, hoa hồng rơi xuống đất để lộ chân dung mầu nhiệm của Đức Mẹ một cách thần kỳ.  Hình tượng Đức Mẹ trên tấm áo choàng Tilma về sau được biết đến dưới cái tên “Đức Mẹ Guadalupe.”

Tấm áo choàng vẫn lưu tồn cho đến tận ngày nay.  Nó được treo trang trọng trên bàn thờ tại Vương Cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe tại thủ đô Mexico City.

Các nhóm khoa học gia khác nhau đã tiến hành nhiều loại thí nghiệm trên lớp vải và bức hình.  Nhưng họ không thể tìm thấy bất kỳ lời giải thích khoa học nào cho quá trình tạo nên bức hình này.

Thánh ảnh cho thấy Mẹ mặc áo mặt trời chân đạp trên mặt trăng hình lưỡi liềm, tượng trưng cho địa vị cao cả của Mẹ – vĩ đại hơn các mẫu tượng khác.  Mẹ mặc áo choàng màu ngọc lam xanh – tượng trưng cho hoàng tộc – khoác ngoài áo dài màu hồng tượng trưng cho tình yêu cao cả.

“… Một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao….” (Khải Huyền 12:1)

Một Số Chú Giải Liên Quan Đến Bức Tượng Đức Mẹ Guadalupe

 Đôi mắt: Đầu Mẹ hơi cúi xuống và đôi mắt đang nhìn xuống trong tư thế khiêm cung tượng trưng cho người nữ tỳ của Chúa.  Đôi mắt Mẹ ẩn chứa hình ảnh của Juan Diego và vị Giám mục, nhưng điều này chỉ có thể nhìn thấy bằng công nghệ hiện đại.

Đôi bàn tay chấp niệm: Đôi bàn tay chắp trong tư thế cầu nguyện.  Bên trái tối và bên phải sáng hơn. Hình ảnh này đại diện cho hai chủng tộc.

Nơ mẫu tử: Là hình ảnh của sự trinh tiết.  Vị trí này thể hiện Mẹ đang mang trong mình một đứa trẻ.  Dây Mẫu Tử thắt quanh eo tượng trưng cho người nữ đang mang thai.

Bông hoa: Những hình mẫu này là ký tự của ngôn ngữ bản địa, chứa đựng các thông điệp phức tạp khác nhau

Nhiệt độ: Nhiệt độ của chiếc áo choàng Tilma không thay đổi, ở mức 98,6°F = 37°C, tương đương với nhiệt độ của một cơ thể sống.

Độ bền: Màu sắc của hình ảnh vẫn tươi mới một cách kì diệu dù đã hơn 500 năm tuổi.  Những hình ảnh được thực hiện trên vải thường tan rã trong vòng 15-30 năm nhưng tấm áo Tilma này không hề có dấu hiệu phai mờ hoặc nứt rạn của màu sắc

Khả năng phục hồi: Tấm áo choàng Tilma đã sống sót sau một vụ đánh bom và cũng tự phục hồi một cách kỳ diệu sau khi bị dung môi axit nitric đổ vào.

Ngôi sao: Các ngôi sao trên áo choàng của Mẹ phác họa ra chính xác các chòm sao khác nhau trên bầu trời Mexico ngày 12 tháng 12 năm 1531, Thứ Bảy, lúc 10:26 sáng.

Nhịp tim: Khi đặt một ống nghe bên dưới chiếc nơ màu đen, đo được nhịp đập nhịp nhàng 115 mỗi phút, giống như nhịp tim của một em bé trong bụng mẹ.

Bản gốc: Không có dấu hiệu của sơn, nét cọ, hoặc nét phác thảo nào được tìm thấy; hình ảnh này không thể tạo ra bản sao khác; Và nếu quan sát ở phạm vi 3-4 inch tính từ vải, hình ảnh này sẽ biến mất, chỉ còn lại tấm vải nguyên gốc.

Mặt trăng: Người nữ đang đứng trên mặt trăng lưỡi liềm là tín hiệu cho biết Bà là đấng cao cả hơn hắc thần (thần đêm tối) và nguyệt thần (thần mặt trăng).  Bên cạnh đó, Mẹ đứng trên mặt trăng có lớp da rắn.  Đây là một biểu tượng của một vị thần rắn của người Azp về sự hy sinh của con người.

Thiên thần: Thiên thần ở dưới chân Đức Mẹ với đôi cánh lông vũ mang Đức Mẹ đến với mọi người.  Chiếc áo choàng của thiên thần màu đỏ tượng trưng cho trái đất, trong khi chiếc áo choàng của Mẹ Maria màu xanh tượng trưng cho thiên đường.

Tổng hợp và dịch : Goretti.Tran

BƯỚC QUA NGƯỠNG CỬA KITÔ

Này đây Ta đứng trước cửa và gõ.  Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì ​Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và ​người ấy sẽ dùng bữa với Ta (Rev. 3: 20)

Mỗi ngày, chúng ta đi qua biết bao nhiêu cánh cửa mà ít khi nào để ý hay trân quý những hàm ý của sự biến đổi đang chờ đợi chúng ta ở phía bên kia.

Những cánh cửa quen thuộc trong mái nhà thân yêu: cửa phòng tắm, cửa bếp, cửa phòng ngủ vợ chồng, con cái, cửa ra vào mở ra một ngày mới.  Những cánh cửa của đời sống xã hội: cửa văn phòng, cửa nhà hàng, cửa siêu thị, cửa phòng gym, cửa sổ màn hình máy tính hay mạng xã hội.  Rồi những cánh cửa của đời sống tâm linh: cửa nhà thờ, cửa tòa giải tội.  Và không thể thiếu, những cánh cửa của các mối tương quan giữa người với người: những ánh mắt, cái bắt tay, vòng tay ôm, hay những buổi gặp gỡ…

Ẩn sau những cánh cửa hữu hình ấy là những cánh cửa vô hình – cánh cửa của giác quan, của tâm trí, của con tim.  Những cánh cửa, dù hữu hình hay vô hình, cùng nhịp nhàng vận hành, đưa ta đi vào không gian mới, những chiều kích mới – cả thể lý lẫn thiêng liêng.

Mở hay đóng – là những chọn lựa ta phải đối diện mỗi ngày.  Một cánh cửa mở có thể đưa đến sự sống, sự trưởng thành trong sứ vụ và ơn gọi; nhưng cũng có thể dẫn đến rạn nứt, mất mát và lầm lạc.  Mỗi quyết định, dù nhỏ nhặt như “mở hay không một trang web,” “gửi hay không một tin nhắn,” “lên tiếng hay giữ im lặng,” “tham gia hay rút lui,” “đến phòng tập thể dục hay ở nhà xem phim” – đều là những lần ta mở hoặc đóng không chỉ những cánh cửa bên ngoài, mà còn là những ngưỡng cửa sâu kín trong lòng mình.

Những chọn lựa tưởng chừng rất bình thường ấy lại là nền tảng hình thành nên lối sống, tính cách, và căn tính của một con người.  Cánh cửa học đường và những lớp học ta chọn có thể định đoạt cả một sự nghiệp.  Một cú click chuột có thể mở ra chân trời tri thức – hoặc cũng có thể kéo ta vào hố sâu tăm tối của thất bại, thậm chí tù tội.  Mở lòng đón nhận một mối tương quan mới – có thể đem đến hạnh phúc, nhưng cũng có thể dẫn đến tổn thương.

Không phải cửa nào cũng nên mở.  Mở toang lòng mình thì dễ khiến ta bị tổn thương.  Nhưng nếu khoá chặt tâm hồn lại, né tránh mọi tương giao, ta dễ rơi vào đơn côi mộc chiếc.  Sự khôn ngoan của một đời người hệ tại ở chỗ biết khéo léo mở sao cho đúng, khép sao cho khôn.  Bởi thế, người xưa mới dạy: “Học ăn, học nói, học gói, học mở.”

Trong văn hóa Việt hiện nay, “cửa” còn mang nghĩa ẩn dụ: là cơ hội, là đặc quyền.  Người ta hay nói: “muốn vào làm ở tòa đại sứ, mình có cửa gì đâu,” hay “đi gặp Đức Thánh Cha, làm gì mình có cửa!” – nghe những câu nói tưởng đùa nhưng lại phản ánh rất thật sức mạnh của “cửa” trong guồng máy xã hội hôm nay.

Cửa có đóng hay mở được là nhờ có bản lề.  Bản lề – phần kết nối âm thầm giữa cánh cửa và khung cửa, giữa phần trụ và phần đi động – tuy nhỏ bé và ít được người ta chú ý đến nhưng lại là bộ phận thiết yếu làm cho cửa có thể chuyển xoay được.  Phần trụ nhờ ốc xoáy chặt vào gỗ, phần di động gồm hai bản lề xoay quanh cái trục.  Cửa chỉ đóng mở êm xuôi khi cả hai phần hoạt động nhịp nhàng với nhau.  Nếu phần trụ không vững, cửa sẽ lỏng lẻo.  Nếu phần di động thiếu dầu mỡ, cửa sẽ kêu cót két, thậm chí kẹt cứng.  Cửa lòng người cũng vậy, muốn hoạt động đúng đắn cần phải, một phần, biết gắn chặt vào những “bản lề” đạo đức tâm linh vững chắc.  Phần khác, biết mềm mại uyển chuyển trong việc hội nhập dấn thân vào nếp sống mỗi ngày với ân sủng sẵn có ở nơi đó.

Đối với Giáo Hội Công Giáo, Cửa là biểu tượng trung tâm của Năm Thánh.  Việc bước qua Cửa Thánh của bốn Vương cung Thánh đường không chỉ đơn thuần là những hoạt động bề ngoài để làm cho có, cho xong, hay chỉ để quay phim chụp hình phô trương trên mạng xã hội.  Trọng điểm của những hành động thiêng liêng đó thật sự là một quyết định, một điều cam kết nội tâm là tôi ước ao mở lòng mình để được kết thân với Đức Kitô và bước theo lối sống của một Thiên Chúa đã và đang lao tác ở giữa chúng ta.  Hình ảnh của Đức Mẹ và các thánh in sâu vào những Cửa Thánh này là những chứng tá hùng hồn của đức tin sống động soi dẫn bước chân chúng ta hôm nay.

Bước vào Cửa Thánh Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả, ta gặp Mẹ Maria – Người đã can đảm dám mở lòng thưa hai tiếng “Xin Vâng” tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa, ngay cả khi đối với hiểu biết con người thì không thể được.

Bước qua Cửa Thánh Thánh Phêrô, ta thấy “Đá” biết nhỏ lệ khi nhận ra lầm lỗi của mình, dẫu biết tình yêu mình chưa được trọn vẹn nhưng vẫn cố gắng trung thành yêu với cả tấm lòng, “Thầy biết hết mọi sự.  Thầy biết con yêu mến Thầy.”

Qua Cửa Thánh Thánh Phaolô Ngoại Thành, ta đối mặt với vị “Tông Đồ Dân Ngoại,” Người táo bạo hiên ngang sẵn sàng từ bỏ những gì quen thuộc đi ra chốn biên cương, dấn thân “trở nên mọi sự cho mọi người” vì Tin Mừng.

Ngang qua Cửa Thánh Vương cung Latêranô, một bên ta được đón chào bằng “Tiếng kêu trong hoang địa” của Gioan Tiền Hô vẫn tiếp tục mời gọi mọi người “hãy dọn đường cho Chúa đi.” Bên kia, ta được Thánh Gioan tông đồ thánh sử nhắc nhở điều đáng khắc ghi trong lòng là Chúa Giêsu “là đường, là sự thật và là sự sống.”

Cũng như Đức Mẹ và các thánh, ta chỉ có thể bước qua những cánh Cửa Thánh ấy được vì Đức Kitô đã đi trước khai đường, mở lối cho chúng ta.  Chính Người đã không khép mình vào trong địa vị Thiên Chúa, nhưng đã mở cửa trời xuống thế làm người như chúng ta.  Vì thế, Người trở nên ngưỡng Cửa cho chúng ta đi vào hầu được thông phần với bản tính Thiên Chúa.  Hơn thế nữa, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô không những đã phá vỡ ranh giới ngăn chia giữa cung thánh và thế tục mà còn mở rộng không gian gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người – vượt cả cánh cửa của sự chết.

Cậy nhờ vào sức mạnh của Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta hãy mạnh dạn bước theo gương Mẹ Maria và các thánh, biết can đảm và quảng đại mở rộng tâm hồn để gặp gỡ lẫn nhau nơi chính chúng ta là.  Nơi đó, chúng ta sống biết yêu thương và sẻ chia với nhau một cách chân tình hơn.  Là những “người hành hương trong hy vọng,” chúng ta cùng tiếp tục đồng hành tiến về và bước qua Ngưỡng Cửa Kitô.

Lm. Hưng Phạm, S.J.

LỰC ÂN SỦNG

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”

“Thiên Chúa tạo tác con người trong vẻ đẹp nguyên sơ; Ađam Eva sống ở một tầm cao vượt xa chúng ta.  Nhưng khi khuất phục con rắn, điều kỳ diệu ấy tan biến.  Giờ đây, nhân loại như cố ráp lại một chiếc máy bay từ đống đồng nát: vật liệu vẫn còn, nhưng khả năng bay đã mất!” – Dave Breese.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhận xét của Breese thật tinh tế!  Tuy nhiên, với ‘lực ân sủng’ của Thiên Chúa, mọi vật có thể được tái tạo, ‘bay trở lại’ và bay cao vút.  Đó là một sự thật hấp dẫn khơi gợi niềm hy vọng nơi chúng ta trong ngày mừng kính Đức Trinh Nữ Maria, Vô Nhiễm Nguyên Tội!

Các bài đọc tường thuật hai cuộc đối thoại: một mất, một được.  Eva – mẹ của “cuộc đối thoại mất mát” – Sợ hãi, trần truồng, ẩn núp, ngài không đủ can đảm để đứng trong ánh sáng.  Một sự đổ vỡ – Ađam đổ cho Eva, Eva đổ cho con rắn… và kết cục, hậu duệ bị tước “khả năng bay.”  Nhưng lạ lùng thay, ngay trong đổ nát đó, Thiên Chúa hé lộ một động lực mới, một “gia tốc âm thầm” của lòng thương xót, “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà… dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi!”  Đó là ‘lực ân sủng’ khởi động lịch sử cứu độ – nhẹ như một lời hứa, nhưng mạnh như một vụ phóng mở ra kỷ nguyên mới.  “Ân sủng tăng tốc ngay tại những vùng tội lỗi đã làm chúng ta trì trệ!” – Max Lucado.

Maria – mẹ của “cuộc đối thoại được lại.” Trái tim Mẹ tinh khôi, tự do; Mẹ không ẩn núp nhưng mở toang lòng mình.  Lời “Xin vâng!” như một cánh cửa bật mở cho ‘lực ân sủng’ bùng lên trọn vẹn.  “Ân sủng chỉ có thể đi vào nơi nào trái tim chịu mở ra!” – Karl Rahner.  Nhờ lời xin vâng ấy, con người – từng bị trục xuất – được dẫn vào lại nhà Cha nhờ Đấng Mẹ cưu mang.  Với Ngài, ‘lực ân sủng’ không chỉ nâng dậy nhân loại ngã quỵ, nhưng nâng bổng và biến đổi nó.  Thánh Vịnh đáp ca chúc khen công trình kỳ vĩ ấy, “Hát lên mừng Chúa… vì Người đã thực hiện bao kỳ công!”  Trong Đức Kitô, con người được lại phiên bản nguyên thuỷ, “Trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện” – bài đọc hai – và giờ đây, nó có thể bay lên, bay cao vút.

Anh Chị em,

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”  Không chỉ Mẹ đầy ân sủng; bạn và tôi cũng đầy ân sủng.  Từ ngày chịu phép Rửa, ‘lực ân sủng’ đã được cấy vào linh hồn chúng ta như một lực nâng thầm lặng.  Sống trong ân sủng, nghĩa là sạch tội và làm theo thánh ý Chúa, con người có thể bay trở lại, bay cao, bay xa, bay trong tự do của con cái Chúa.  Các thánh mọi thời ‘đã bay’ như thế nhờ ‘lực ân sủng.’  Ngược lại, một khi nuông chiều xác thịt, liều lĩnh đánh mất ơn thánh, “lực nâng” ấy suy yếu; nên dù vật liệu giống nhau, khả năng bay không còn.  Mùa Vọng, mùa tìm lại ‘lực bay’: trở về, hòa giải, thanh tẩy, cho cánh hồn nhẹ lại và bay lên.  “Ân sủng là tình yêu nâng ta dậy khi ta không còn đôi cánh!” – Brennan Manning.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con chỉ còn là một đống đồng nát, xin nhúng con vào dòng Hoà Giải để được sạch, được tái tạo và được tiếp lực; hầu con có thể bay trở lại, bay cao vút!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

MONG CHỜ

Một vài năm trước đây tờ Chicago Tribune cho biết tia sáng laser có thể dùng để tẩy xoá các hình xăm dấu hiệu băng đảng trên thân thể của các phần tử.

Một chỗ thi hành công việc này là Trung Tâm Y Tế Sinai ở phía tây thành phố Chicago.  Viên giám đốc điều hành trông coi chẩn y viện này nói rằng: Có một nhu cầu rất lớn cho chương trình này. Chúng tôi có trên 700 người đang chờ đợi để được hưởng dịch vụ này.

Vào một ngày thứ Bẩy mới đây, 45 người đã đến chẩn y viện này.  Sử dụng một dụng cụ phát ra tia sáng laser, các bác sĩ tình nguyện đã hoàn toàn tẩy xoá được vết xăm chỉ trong vòng vài phút.

Một phụ nữ 25 tuổi cho biết một sự kiện xảy ra vào chiều Chúa Nhật đã khiến cô quyết định tẩy xoá các hình xăm trên thân thể.  Khi cô đang đẩy đứa con gái nhỏ trên xích đu, một vài phần tử băng đảng nhìn thấy hình chĩa ba trên cánh tay và chân của cô, hình này là dấu hiệu của băng địch thủ, bọn chúng đã nổ súng.  Thật may mắn, khi vội vàng nổ súng chúng đã không bắn trúng cô và đứa con gái.

Một người khác trước đây thuộc về băng đảng cũng đến chẩn y viện chiều hôm đó để tẩy xoá hình xăm ba giọt nước mắt bên mắt trái.  Mỗi giọt nước mắt tiêu biểu cho một người bạn đã bị băng thù nghịch bắn chết.  Anh ta nói: Bây giờ tôi đã có vợ và một đứa con nhỏ.  Tôi muốn từ giã tất cả những thứ này.  Nó là một điều ngu xuẩn mà tôi đã làm trước đây.

Câu chuyện của tờ Chicago Tribune cho thấy một điểm quan trọng.  Trong cuộc đời, tất cả chúng ta đều đã thi hành những gì mà giờ đây chúng ta hối hận và muốn xoá bỏ chúng.

Điều này không chỉ đúng với người trẻ, nhưng còn đúng với người già.  Thí dụ, nếu tôi ngưng nói ở đây khoảng nửa phút, tôi chắc rằng mọi người đều có thể nhớ lại một vài điều gì đó mà họ đã thi hành và giờ đây họ sẵn sàng đánh đổi lấy bất cứ gì để có thể đưa những điều ấy ra khỏi cuộc đời.

Điều bi thảm là rất nhiều người trên thế giới hối hận về những gì họ đã thi hành nhưng không biết cách nào để tẩy xoá chúng.  Do đó họ phải chấp nhận sống với tình trạng như vậy.  Bất cứ khi nào họ cảm thấy hối hận hay bứt rứt, họ cố gắng quên đi.  Nhưng thường những tâm trạng ấy lại trở lại.

Tiểu thuyết gia Somerset Maugham đã viết nhiều cuốn tiểu thuyết và được dựng thành phim — tỉ như The Razor’s Edge, The Moon and Six Pence, và Of Human Bondage.  Ông đã lên tiếng thay cho nhiều người khi nói rằng:

Tôi có một lương tâm bén nhậy và tôi từng thi hành một vài điều trong đời sống mà tôi không thể nào thực sự quên được.

Nếu tôi may mắn là một người Công Giáo, tôi có thể tự giải thoát mình khỏi những điều ấy qua việc xưng tội… lãnh nhận sự tha tội và có thể mãi mãi quên đi những điều ấy.

Lời phát biểu của ông giúp chúng ta thấy mình thật có phúc là chừng nào khi có được một phương cách để tẩy xoá tội lỗi khỏi cuộc đời.

Cũng như người cựu băng đảng thấy vui khi có thể tẩy xoá vết xăm thì người Công Giáo chúng ta cũng hân hoan khi Chúa Giêsu giúp chúng ta một phương cách để mãi mãi xoá bỏ tội lỗi của chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến mùa Vọng.  Hàng năm Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về món quà vĩ đại này mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta và thúc giục chúng ta hãy xử dụng nó để đưa tội lỗi ra khỏi cuộc đời.

Nó không chỉ đem lại cho chúng ta sự bình an lớn lao, nhưng còn chuẩn bị cho chúng ta về ngày giờ khi chúng ta phải đứng trước mặt Thiên Chúa để trả lời về những gì chúng ta đã làm và những gì không làm trong đời sống chúng ta.

Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta rằng lời của Thánh Gioan Tẩy Giả trong bài phúc âm hôm nay không chỉ nói với người thời đó, nhưng còn cho con người thuộc mọi thời đại.  Những lời đó nói với tôi và anh chị em: Hãy thay đổi đời sống…  Hãy chuẩn bị con đường của Chúa.

Một cách cụ thể, những lời này có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngay bây giờ?  Chúng cũng có cùng một ý nghĩa đối với những người thời Chúa Giêsu.  Chúng có nghĩa hãy sám hối và tẩy xoá tội lỗi bằng bí tích hoà giải, là một trong những món quà vĩ đại của Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Chúng có nghĩa thi hành điều mà phần tử băng đảng trước đây đã thi hành.  Chúng có nghĩa hãy thi hành những gì mà người nghiện rượu thi hành trong bước đầu tiên của chương trình 12 bước chừa rượu.  Bước quan trọng này nói:

Chúng ta thú nhận với Thiên Chúa, với chính mình, và với người khác về bản chất sai lầm của những điều chúng ta làm.

Về bước này, cuốn cẩm nang AA, “12 Steps and 12 Traditions”, viết:

Một vài bước thì khó hơn để thi hành và … không có bước nào cần thiết hơn.  Tuy sự sợ hãi của chúng ta thật lớn và chúng ta do dự thi hành, nhiều người AA bỏ qua Bước Năm…

Không biết tại sao, ở một mình với Thiên Chúa thì không có vẻ bối rối như khi đối diện với người khác…  Khi chúng ta thành thật với người khác, điều đó xác nhận rằng chúng ta đã từng thành thật với chính mình và với Thiên Chúa.

Nhiều người AA, đã một lần vô thần hay bất khả tri, nói với chúng tôi rằng chính trong bước này mà lần đầu tiên họ cảm thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa.  Và ngay cả những người đã có đức tin họ cũng thường ý thức hơn về Thiên Chúa như chưa bao giờ có.

Và như vậy Mùa Vọng là một sự nhắc nhở rằng đó không chỉ là thời gian chuẩn bị mừng Chúa đến lần thứ nhất vào ngày Giáng Sinh đầu tiên.

Nó còn nhắc nhở rằng đây là thời gian chuẩn bị cho Chúa đến lần sau cùng vào lúc tận thế.

Chúng ta hãy vui mừng và cảm ơn Chúa Giêsu vì đã ban cho chúng ta một phương cách để tẩy xóa quá khứ và làm lại từ đầu.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Origen, một tín hữu thời tiên khởi:

Lạy Chúa Giêsu, chân của con thì đầy bụi và dơ bẩn.  Chúa hãy đổ nước vào bồn và đến rửa chân con như Chúa đã rửa chân các tông đồ trong bữa Tiệc Ly.

Con nhận ra rằng, con thật can đảm khi xin Chúa thi hành điều ấy.  Nhưng con sợ lời cảnh cáo mà Chúa đã nói với ông Phêrô, “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con không thể làm bạn với Thầy.”

Vậy, lạy Chúa Giêsu, xin hãy rửa chân con, bởi vì con muốn được làm bạn với Ngài – hơn bất cứ gì khác trong đời.

Lm. Mark Link, S.J.

THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ

Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506.  Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán.  Anh em ngài theo binh nghiệp.  Riêng Phanxicô ham thích học hành.  Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới.  Khi còn ở học viện thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước.  Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyoa.

Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư.  Ngài dạy triết học.  Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng.  Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập.  Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình.  Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng :

“Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì.”

Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng.  Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn:

“Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được.  Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh.  Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời.”

Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu.  Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối.  Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm mình.  Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

Ngày lễ Mông triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa.  Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hóa lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh.  Phanxicô còn học thần học hai năm nữa, rồi cùng sáu bạn đi Italia.

Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Kinh Thánh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt.  Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi.  Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột giây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ.  Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ.  Phanxicô và Inhaxiô thụ phong linh mục ngày 16 tháng 6 năm 1537.  Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương.  Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét.  Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh cha gửi các thừa sai sang Ấn độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

Ngài bộc lộ cho một người bạn:

“Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Rôma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la:

“Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không?  Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô.  Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức.  Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa.”

Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường.  Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang.  Với vài bộ đồ cũ.  Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng.  Ngài đáp tàu.  Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng.  Đau bệnh, ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân.  Những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa.  Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

Sau bảy tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique.  Khí trời ngột ngạt.  Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây.  Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất.  Ngài lặp lại:

“Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo.”

Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm 1542.  Ngài phát khóc vì vui mừng.  Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã.  Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo.  Còn dân Ấn thì thờ ngẫu tượng.  Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên.  Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý.  Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ.  Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng.  Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân.  Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng.  Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca.  Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

Phanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai.  Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý.  Rồi ngài lại qua các làng khác.  Cứ như thế ngài đi khắp Ấn độ.  Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi.”  Người nói : “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo hội sơ khai.”

Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện.  Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân.  Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người.  Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên.  Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui.  Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca.  Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc…

Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi.  Phanxicô đáp lại:

  • “Thì tôi bơi tới vậy.”
  • Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao?

Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc.  Rồi ngài thêm : “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quí hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay.  Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi.  Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi.”

Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và thánh Inhaxiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại.  Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức.  Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Rôma.  Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào.  Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài.  Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến.  Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước.  Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

Được hai năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

Phanxicô trở lại Ấn độ.  Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm.  Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn ngài.  Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này.  Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét.  Giữa cơn đau, ngài đã lập lại:

Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavid, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa.  Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ:  “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con.”

Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến.  Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552.  Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa.  Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài vào ngày 12 tháng 3 năm 1622, Đức Grêgôriô XV đã phong thánh cho ngài cùng với thánh Inhaxiô.  Nay Ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy
Trích: Theo vết Chân Người