NỖI NIỀM GIUSE

(Mt 1:18-25)

Hành trình đức tin của mỗi người đến với Đấng Tối Cao không phải là một hành trình đơn giản, cho dù đó là Đại Thánh, Thánh Cả, hay Nữ Vương Các Thánh.

Mời bạn cùng tôi quay ngược bánh xe thời gian trở về thăm viếng một đất nước Do thái xa xăm, nghèo nàn, và lạc hậu với bao phong tục tập quán khắc nghiệt của cha ông để lại, cách đây hơn 2000 năm về trước.  Dân chúng đang sống trong cảnh lầm than, quằn quại rên xiết dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc La Mã.  Đời sống tinh thần được xiết chặt dưới gọng kìm của bao lề luật tôn giáo khắt khe từ thời Môi-se, ngày qua ngày đã hun đúc họ lòng trông mong vào lời hứa của Đấng Tối Cao với cha ông họ!  Họ nóng lòng trông chờ một vị Cứu Tinh đến để lật đổ chế độ, giải thoát họ khỏi cảnh lầm than của kiếp người, và xây dựng lại một vương quốc Israel hùng cường ngày nào.  Họ háo hức trông mong một vị Thiên Sai, một Đấng Cứu Thế đã được Đức Chúa hứa ban, và được loan báo nhiều lần trong Kinh Thánh mang đến cho họ một ánh sáng mới trong đức tin.  Càng khổ họ càng ngóng trông, càng bị đàn áp họ càng khao khát chờ đợi, họ sống trong niềm hy vọng từ trời cao, họ mòn mỏi trông chờ như đất cằn mong mưa rào, như nai đang khát mơ thấy suối trong.

Cùng sống trong hơi thở chờ đợi của dân tộc mình, Giuse, một chàng thanh niên trai tráng sinh sống bằng nghề mộc với cha mẹ là ông bà Giacóp, tại một ngôi làng nhỏ hẻo lánh ít ai biết đến, làng Nazarét, miền Galilê.  Anh đến tuổi cập kê nhưng không muốn lập gia đình, anh muốn dâng trọn đời mình cho Thiên Chúa, Đấng mà anh, và cả dân tộc anh tôn thờ.  Anh vui mừng khi được gia đình sắp xếp cho thành hôn với Maria, người thiếu nữ đức hạnh hiền dịu mà ai gặp qua một lần cũng đều qúy mến, là người mà cả hai đã cùng nhau thề ước trọn đời đồng trinh dù phải sống bực vợ chồng trước mắt họ hàng và cha mẹ hai bên.

Ngày đính hôn đã đến, và qua đi trong niềm vui của gia đình hai họ, và sự hân hoan của cả thôn xóm.  Một mái nhà mới sẽ được mọc lên trong xóm nhỏ Nazarét thưa người này.  Quả là đẹp đôi!  Họ cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho cặp vợ chồng son trẻ thánh thiện.  Riêng Giuse, anh hoan hỉ chờ đợi ngày đón Maria về chung sống với gia đình.

Nhưng dòng đời không xuôi chảy êm đềm như mong ước!  Giuse bồn chồn bứt rứt với bao nỗi hoài nghi thắc mắc, khi nhìn thấy bụng nàng nhấp nhô dưới ánh mặt trời, sau lớp áo của cô thiếu nữ Sion đội nước.  Điều gì đã xảy ra?  Hạnh phúc lứa đôi chưa nắm bắt trong tay mà đã bị đe dọa rồi sao?  Sao nàng không nói?  Sao nàng không kể?  Maria thánh thiện của anh lại có thể như thế được sao?  Đâu rồi người thiếu nữ Sion đức hạnh mà anh trông chờ?  Bao câu hỏi, bao thắc mắc như thác lũ ào tới trong đầu anh.  Vẫn chỉ là những câu hỏi mà không có câu trả lời.

Ngược với Giuse đang sống trong cảnh dày vò đau khổ, Maria vui tươi, hồn nhiên, khuôn mặt rạng rỡ phản chiếu trong cặp mắt sáng to lóng lánh chan chứa niềm vui.  Đôi môi hồng chúm chím với nụ cười mãn nguyện sung sướng, đôi môi đó vẫn khép kín không một tiết lộ nào với Giuse.  Có những lúc tình cờ hai người đối mặt, bốn mắt giao nhau, Giuse hơi bối rối trước cái nhìn thẳng thắn, không trốn tránh e dè, không mắc cở của Maria.  Ánh mắt tuy có thấp thoáng vẻ âu lo nhưng không phải là ánh mắt ăn năn của kẻ có tội.  Nhìn Maria, ai cũng dễ dàng đoán được nàng là một người thiếu nữ hạnh phúc, đang sống trong tình yêu sung mãn, là người con gái đang yêu và được yêu.  Nhưng là tình yêu của ai?  Làm sao Giuse biết được!  Vẫn không có câu trả lời!

Giuse đau khổ cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa, Chúa muốn nói gì với anh qua biến cố này?  Chúa muốn anh làm gì trong tình trạng này?  Anh muốn sống theo thánh ý Chúa nhưng đâu là ý Chúa?  Anh chỉ thấy ý của anh, thật lớn và mạnh mẽ, phải khó khăn lắm anh mới giữ cho lòng khỏi sôi lên uất hận.  Không, anh không muốn trả thù, không muốn nàng bị ném đá như luật Môise đòi hỏi, anh không muốn a dua theo cá tính tự ái của một thanh niên mới lớn trong anh.  Nhưng anh cũng không muốn nhận một đứa con không phải của mình.  Anh không thể bao dung nhận đại được, làm thế anh sẽ có lỗi với cha mẹ tổ tiên, với dòng dõi quân vương Đavít của anh, đứa cháu đích tôn lại mang dòng máu ngoại tộc.  Anh tự hỏi, nếu anh nhắm mắt nhận đại thì… đứa bé kia sẽ giống ai nhỉ?  Anh hình dung cảnh hàng xóm đang xúm lại cười ngạo dèm pha, trong khi anh ôm ấp một đứa bé giống một người thanh niên nào đó trong làng.  Lòng anh rối rắm trăm đường, anh thấy tội mình thật lớn với dòng tộc Đavít lẫy lừng một thời!  Một dòng họ danh giá của Israel mà giờ đây anh lại muốn chấp nhận một đứa con hoang không cha vô dòng họ mình.

Không, không thể chấp nhận được, nhưng… nhưng nếu nàng thú tội, nếu nàng khóc lóc van xin tha thứ, nếu nàng xuống nước năn nỉ?  Lòng anh chùng xuống, bản tính nhân từ cố hữu trong anh lại át đi những lo âu suy nghĩ khi nãy, tâm trí anh bị giằng co đôi đường, trái tim anh bị chia đôi giữa hình ảnh Maria đang bị ném đá, và dòng tộc Đavít oai hùng bị bôi nhọ.  Anh thở dài ai oán, chắc anh đành mang tội với tổ tiên mà tha thứ cho nàng để cứu hai mạng người khỏi bị chết oan.  Ai mà chẳng một lần vấp ngã!  Lòng nhủ lòng như thế và anh chờ đợi…, chờ đợi một sự lên tiếng…  Nhưng ngày vẫn lặng lẽ trôi.  Mặt trời mọc rồi lại lặn, bình thản như không có gì xảy ra, vẫn không một lời giải thích!  Im lặng vẫn bao phủ Nazarét hiền hòa!

Thôi được, nàng đã không muốn nói thì anh cũng không muốn ép.  Sau những đêm trằn trọc mất ngủ, những ngày mò mẫm trong tăm tối của tâm hồn, sau những giờ cầu nguyện khổ sở để tìm thánh ý Chúa, anh đã quyết định.  Một quyết định dứt khoát!  Nàng đã thờ ơ trước sự bao dung của anh thì anh đành chịu thôi!  Anh tình ZZnguyện trả nàng về với niềm bí mật của nàng.  Anh không muốn tố cáo nàng!  Như một tên lính bại trận, anh chỉ muốn lặng lẽ rút lui khỏi chiến trường một cách kín đáo.  Anh chấp nhận mình thua và xin rút quân.  Nàng đã dám làm thì nàng đã có cách giải quyết của nàng.  Anh tôn trọng!

Hành trang đã sẵn ở góc nhà, màm đêm dần buông, anh mệt mỏi thiếp đi để lấy sức cho cuộc bỏ đi vào nửa đêm đã được định đoạt trước.  Trong giấc ngủ chập chờn, anh mơ thấy một thiên thần mặc phẩm phục trắng toát, hào quang rực rỡ chiếu sáng một góc nhà, khuôn mặt hiền hậu, ánh mắt âu yếm nhìn anh đầy yêu thương, và thoang thoảng bên tai anh một giọng trầm ấm vang lên: “Này ông Giuse, con cháu Đavit, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1: 20a-21).  Giuse choàng tỉnh bật dậy, anh hoàng hồn, hơi thở dồn dập, nhịp tim đập liên hồi, người anh toát mồ hôi lạnh, anh dụi mắt nhiều lần để tỉnh trí lại xem mình đang ở đâu.  Anh cắn vào tay một cái thật mạnh, và thấy nhói đau, bây giờ anh biết mình đã tỉnh, thực sự đã tỉnh, và ban nãy là một giấc mơ.  Ngoài kia, bóng tối dầy đặc phủ lên thôn làng, xa xa một vài tiếng côn trùng rỉ rả trong bóng đêm như xác nhận với anh không gian, và thời gian nơi anh đang ở.  Là mơ hay là thực vậy?  Là tiếng nói của thần lành hay thần dữ?  Có thực đó là tiếng nói của Thiên Chúa không, hay chỉ là một giấc mộng mị bình thường như bao giấc mộng khác.  Anh ôm đầu suy nghĩ và ôn lại giấc mơ, “Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về!”  Anh rùng mình ớn lạnh, câu nói ấy đánh trúng vào yếu huyệt của anh, đó không phải là mối ưu tư hàng đầu của anh trong mấy ngày qua sao?  Anh thẫn thờ lặng lẽ gục đầu qùy xuống trong bóng đêm.

Bọc hành lý nho nhỏ được xếp gọn lại để dưới gầm giường, vài bộ quần áo vẫn để nguyên trong chiếc bọc chứ chưa được xếp lại vào ngăn tủ, chiếc bọc nằm gọn ghẽ trong một xó nhỏ như tiếp tục chờ đợi một cơ hội khác.  Mấy ngày qua, Giuse âm thầm sống trong trăn trở bối rối.  Anh hoang mang không biết phải làm gì, nên quyết định ra sao, không biết đâu là hư, đâu là thực.  Nếu đó là thánh ý Chúa, sao Ngài không hiện ra nói với anh rõ ràng như hai với hai là bốn, anh sẽ làm ngay không một thắc mắc chần chừ.  Sao Ngài không nói lúc anh đang tỉnh, đang ý thức, hoặc ngay lúc anh đang cầu nguyện mà lại là một tiếng nói trong chiêm bao?  Giấc mộng, bao nhiêu phần trăm là thực, bao nhiêu phần trăm là ảo ảnh?  Ai dám đảm bảo giấc mơ nào cũng đúng sự thực?  Chẳng phải đó là những chuyện làm anh suy nghĩ từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, tối đến những việc đó phản ánh lại trong giấc ngủ thì cũng là chuyện thường tình thôi mà!  Anh tự nhủ mình như thế!  Nhưng anh lại áy náy khi nhìn về quá khứ của dân tộc, quả là có những giấc mộng xảy ra đúng với thực tế mà người giải mộng cũng là một người mang tên Giuse như anh.  Giuse trong Cựu Ước đã từng giải mộng cho Pharaôn ở Ai Cập với bảy con bò mập ăn bảy con bò ốm, tượng trưng cho bảy năm được mùa, và bảy năm mất mùa.  Nhờ đó Giuse đã cứu được cả dân tộc Ai cập, lẫn gia đình mình thoát khỏi nạn đói.  Tiếng gà gáy xa xa đầu làng báo hiệu một ngày mới bắt đầu kéo anh về với thực tại.  Ừ, nhưng thôn xóm nhỏ của anh không phải là không có mấy bà hàng xóm nhiều chuyện, vừa đi múc nước ở cái giếng đầu xóm vừa kháo cho nhau nghe những giấc mộng nhảm nhí của họ.  Nào là Thiên Chúa hiện ra với mình nói thế này thế kia, nào là mơ thấy tiên tri Êlia sống lại, có kẻ mạnh miệng hơn bảo là mơ thấy vị cứu tinh sắp đến giúp dân Do Thái thoát khỏi ách thống trị người La Mã, v.v… và bao nhiêu chuyện linh tinh khác nữa đã làm trò cười cho thiên hạ.  Anh không muốn mình là nạn nhân của những câu chuyện ngồi lê đôi mách đó!

Lòng anh rối rắm, anh không ngừng cầu nguyện, suy nghĩ và nhận định… nhưng ý Chúa vẫn mịt mùng trong bóng đêm, giấc mơ không trở lại lần thứ hai!  Càng cầu nguyện anh càng thấy chỉ có một con đường duy nhất để tìm ra thánh ý Chúa, đó chính là bền bỉ cầu nguyện, và cầu nguyện không ngừng.  Anh tiếp tục cầu nguyện xin Chúa soi sáng cho anh biết phải làm gì, anh ao ước được làm theo ý Chúa, xin Chúa cho anh nhìn ra thánh ý Ngài thì anh sẽ không còn chần chờ gì nữa.

“Vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần,” tác giả bào thai lại là Chúa Thánh Thần?  Anh chưa nghe ai nói đến bao giờ, lịch sử dân tộc anh với bao điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm, nhưng chưa có ai mang thai rồi dám đổ thừa cho Chúa Thánh Thần.  Anh chợt chau mày suy nghĩ, nhưng đây đâu phải là những lời biện hộ từ miệng của Maria.  Cô đã không hề mở miệng nói một lời về bào thai mình đang mang. “Vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần,” đó là những lời từ miệng một vị thiên sứ mặc áo trắng trong giấc mộng kia mà!  Một người phụ nữ không cần đến đàn ông mà vẫn có thể mang thai, bào thai đó là do quyền năng Chúa Thánh Thần thì người mang thai vẫn là một cô gái đồng trinh, như vậy nàng vẫn là một trinh nữ.  Anh giật mình, thoang thoáng nhớ lại lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ mà anh đã được nghe lập đi lập lại nhiều lần trong hội đường những ngày Sabát: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23).

Anh choàng tỉnh, anh đang thức chứ không ngủ, nhưng anh lại thấy mình vừa thoát ra một cơn mơ dài.  Anh đã từ từ nhìn ra những mảng hình được ghép lại như một bức tranh.  Đúng rồi, Maria của anh không thể nào là một cô gái lăng loàn mất nết được, anh nhớ lại khuôn mặt của cô những ngày gần đây: vui tươi, trong sáng, thánh thiện, khuôn mặt của một người đầy ân sủng Thiên Chúa ở cùng.  Nàng là một người phụ nữ đạo hạnh tốt lành, “người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần,” “một trinh nữ sẽ thụ thai,” còn anh là dòng dõi Đavít, “Đấng Kitô được hứa ban xuất thân từ dòng dõi vua Đavít…”  Anh xụp xuống qùy phủ phục trước trời đất bao la như đang qùy trước tôn nhan Thiên Chúa Chí Thánh, và mắt nhắm lại không dám nghĩ tới những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã dành cho anh.  Anh không ngờ mình là người được chọn, không bao giờ anh dám nghĩ đến Đấng Cứu Tinh mà cả dân tộc anh đang mòn mỏi mong chờ, lại được hạ sinh ngay trong gia đình anh, và anh sẽ là người nuôi nẫng ẵm bồng đứa bé.  “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ,” lời nói trong giấc mơ ngày nào lại vang lên rõ mồn một bên tai anh.  Anh thở hổn hển, không ngăn được nhịp đập dồn giã của con tim, anh vui sướng nhảy lên như một chú bé vừa bắt được quà.  Anh đã biết rồi, thánh ý Chúa là đây!  Anh nghe rồi, tiếng Chúa gọi anh trong đêm trường. “Lạy Chúa, xin thứ lỗi cho con vì đến bây giờ con mới nhận ra thánh ý Ngài,” anh lẩm nhẩm nói với Chúa và chạy ù sang nhà Maria.

Gặp nàng, anh nắm chặt lấy đôi bàn tay thon nhỏ đưa lên ngực mình, mắt ngước nhìn lên trời cao.  Anh ấp úng không nói được một tiếng, bây giờ anh đã hiểu tại sao lúc trước nàng im lặng không một lời giải thích.  Maria nhìn anh, nàng đã hiểu mọi sự dù không nghe một lời từ miệng anh, nàng vui sướng nắm chặt lấy tay anh như muốn cùng anh chia sẻ niềm hân hoan tận đáy lòng.  Nàng hiểu chứ, những ân huệ mà Thiên Chúa tuôn đổ xuống cho con người thì ngôn ngữ nào nói cho hết, bút mực nào tả cho xiết, sợi dây liên hệ mật thiết giữa Thiên Chúa với một con người là những gì riêng tư thầm kín nhất, khó mà chia sẻ cho người ngoại cuộc hiểu hết được.  Bốn mắt nhìn nhau chan chứa niềm vui, hai con tim hoà chung một nhịp đập, họ đã nhìn ra thánh ý Chúa muốn họ làm gì, họ nhận ra tình yêu và ân sủng quá bao la của Thiên Chúa tuôn đổ xuống trên gia đình bé nhỏ của họ, họ cùng nhau chúc tụng Thiên Chúa đã làm cho họ bao điều kỳ diệu.

Và anh vui sướng đón nàng về nhà mình.  Hai người vẫn giữ trọn lời nguyện ước ban đầu, mặc dù sống bên nhau nhưng họ gìn giữ cho nhau.  Sau đó không bao lâu, anh đưa nàng lên Bêlem, miền Giuđê là nguyên quán của dòng tộc Đavít anh, để kê khai tên tuổi theo chiếu chỉ của hoàng đế Au-gút-tô thời ấy.  Đêm đó, trên con đường tìm đến nhà trọ, anh hân hoan đón nhận người con trai do quyền năng Chúa Thánh Thần trao ban cho dân tộc anh, và cho cả nhân loại.  “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” mà anh là người diễm phúc được chọn, để trở thành cha nuôi của đứa trẻ, để nuôi nấng bồng ẵm từ lúc còn sơ sinh, còn hạnh phúc nào hơn thế nữa!  Và anh đặt tên cho con trẻ là Giêsu như lời sứ thần áo trắng đã nói với anh trong giấc mơ đêm nào.

Lang Thang Chiều Tím
March 2005

 

TÂM TÌNH SAU CƠN SÓNG THẦN 2004

Cơn sóng thần ở Đông Nam Á đã qua đi đến nay gần hai tuần rồi nhưng dư âm kinh hoàng của nó vẫn vang vọng như vừa mới xảy ra, bao gia đình tan nát, chết chóc, chia lìa.  Có những xóm làng, hòn đảo bị quét sạch trên bản đồ không một ai sống sót, có những cặp tình nhân đưa nhau đi nghỉ mát cuối năm, đi hai về một.  Người chết không đủ đất chôn, không kịp thời gian để an táng, không đủ bao nylon để bọc, đành chọn kiểu chôn tập thể.  Những người thoát nạn sống trong cảnh màn trời chiếu đất, thiếu ăn thiếu uống, lo âu hãi hùng, khủng hoảng tinh thần.  Những nước vốn đã nghèo giờ bị tàn phá kiệt quệ…  Tôi không muốn đưa ra con số chính xác ở đây, vì mỗi ngày đọc tin tức là một con số mới, thay đổi đến chóng mặt, con số ngày hôm nay sẽ lạc hậu so với con số của ngày mai.  Sự mất mát, và thiệt hại quá ZZnặng nề, về vật chất cũng như về tinh thần, cho người đã chết cũng như người còn sống sót.  Nhưng có lẽ sự thiệt hại nặng nhất là sự khủng hoảng về đức tin cho những người đang sống.  Hình ảnh về một Thiên Chúa nhân từ đầy lòng xót thương bị cơn sóng thần bóp méo, con người đâm ra nghi ngờ sự hiện hữu của Đấng Hằng Hữu.  Đó là nỗi buồn vượt trên bao nỗi buồn!  Con người có thể sống khổ sở, vật lộn với cuộc sống, thiếu ăn thiếu mặc, nhưng nếu vắng bóng đức tin thì con người sẽ sống ra sao?

Cái ngày kinh hoàng đó sẽ là ngày giỗ cho những người đã chết, và là ngày đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đời sống hàng ngàn gia đình ở Đông Nam Á còn sống sót.  Đó là ngày Chúa nhật 26 tháng 12 năm 2004, sau ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh, và tiếp theo một ngày là lễ kính Các Thánh Anh Hài Tử Đạo.  Câu chuyện về ngày Chúa sinh ra vẫn còn được tiếp nối trong Tuần Bát Nhật.  Đó là một câu chuyện buồn xen lẫn trong những ngày vui.  Sau khi Ba Vua nghe lời Sứ Thần báo mộng đi lối khác mà về xứ mình, còn Hêrôđê chờ hoài… chờ mãi… chờ bóng Ba Vua trở lại để báo cáo tình hình của vị Vua không ngai bé xíu mà không thấy bóng dáng ai đâu.  Ông ta liền nổi giận cho giết hết tất cả những trẻ em sơ sinh từ hai tuổi trở xuống trong vùng Bêlem, và toàn vùng lân cận, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.

Con số chính xác bao nhiêu em bị giết trong thời đó?  Không ai biết chính xác, chỉ ước chừng trên dưới 1000 em.  Tôi hình dung ra cảnh trên dưới 1000 em bé sơ sinh đỏ hòn hỏn vô tội, ngây thơ, xinh xắn nhưng yếu đuối không biết kháng cự…, đang bị quân lính nhà vua giành lấy từ tay người mẹ, và giơ gươm lên.  Một tiếng “xoạc” ngọt sớt, xác em bé bị chẻ hai!  Tai tôi nghe những tiếng khóc thét, kêu gào đầy sợ hãi của mấy bé thơ nhi không biết chuyện gì xảy ra, hoà lẫn với tiếng khóc than rền rĩ của mấy bà mẹ bị mất con.  Tiếng ngựa hí, tiếng chân của quân lính lùng xục chạy rầm rầm khắp đầu thôn cuối xóm, tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng.  Quả là một cảnh tang tóc, những bà mẹ tóc tai rối bời đang nhào ra, giành giật xác con từ tay mấy tên lính hung hãn.  Bà thì ôm xác con rũ rượi, gục xuống đất mà khóc nấc, có bà bế xác con mình đưa cao lên trời, như muốn hỏi Thượng Đế, tại sao con tôi vô tội mà phải chết?  Bà khác không tìm được xác con, lấy hai tay bịt tai lại, như không muốn nghe lời an ủi của những người xung quanh.  Nỗi đau lớn quá!  Có lời an ủi nào có thể xoa dịu được nỗi lòng người mẹ mới mất con?  Tôi tự hỏi sinh mạng của Đấng Cứu Thế lại được đánh đổi bằng cách này sao?  Có công bằng không?  Tại sao sứ thần Chúa không báo mộng hết cho những bà mẹ ở Belem biết, để họ cùng chạy trốn qua Ai cập?  Mẹ Maria và thánh Giuse trên con đường chạy trốn qua Ai Cập, có nghe được tiếng khóc than văng vẳng sau lưng không?  Gia đình Thánh Gia có biết rằng bao nhiêu em bé đã chết thay cho con mình không?  Bạn đã từng là người mẹ, người cha:  nếu bạn là một người mẹ lúc đó, là người trong cuộc, và được hỏi ý bạn có bằng lòng để cảnh này xảy ra, để đổi lại sự ra đời của Đấng Cứu Thế mà nhân loại hằng mong đợi không?  Câu trả lời chắc chắn là không, không đời nào!  Thế mới biết con người chỉ nhìn gần mà không nhìn xa, chỉ nhìn đến sự sống chóng qua ở đời này mà không nghĩ đến sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

Ngước nhìn lên trời cao trong ngày lễ kính Các Thánh Anh Hài, tôi thấy một cảnh khác.  Trên dưới gần 1000 em bé mặt mày dễ thương, bụ bẫm, hào quang sáng chói chung quanh các em.  Có em bò, em lật, em mút tay, em nằm xấp, em nằm ngửa đang xúm xít bu quanh nôi Chúa Hài Đồng.  Còn các em lớn khác thì đang cùng với ca đoàn của các thiên thần trên Thiên Quốc vỗ tay ca hát, nhảy múa chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa.  Các em ngày đêm được chiêm ngưỡng dung nhan Chí Thánh, đang sống một cuộc sống vĩnh cửu hạnh phúc mà bao linh hồn hằng mơ ước.  Tôi tự hỏi 1000 em này nếu không bị giết chết, nếu các em có cơ hội được sống, trưởng thành, có gia đình, rồi có con, phải đi làm nuôi thân, nuôi gia đình, rồi già, rồi bịnh, rồi chết… theo qui luật tự nhiên của con người, thì bao nhiêu em trong số đó sẽ được nên thánh?  Có chắc là 100% số em đó sẽ có cuộc sống hoàn hảo thờ phượng Chúa hết lòng, và được nên thánh hết không?  Tôi nghĩ là không, chắc chắn là không.  1000 em đó nếu có cơ hội sống, sẽ có những em nên tốt, nên thánh thiện, nhưng cũng có những em bị hư đi trong dòng đời.  Và cũng sẽ có những em dở dở ương ương, nóng chẳng nóng lạnh chẳng lạnh, không ai biết số phận đi về đâu.  Vậy cái chết với 1000 em bé đó là phúc hay là họa?  Nếu một gia đình có một vị thánh trên Thiên Quốc ngày đêm cầu bầu cho những người thân trong gia đình, thì đó là phúc hay họa?

Ngày cơn sóng thần lẳng lặng xuất hiện không một tiếng báo trước là ngày Chúa nhật 26 tháng 12 nhằm ngày Lễ Thánh Gia, bổn mạng các gia đình Công giáo.  Trong khi Giáo Hội hân hoan kỷ niệm ngày đầm ấm xum vầy của một gia đình hạnh phúc trong dư âm ngày Chúa Giáng Sinh còn đâu đây, thì đó cũng chính là ngày gây kinh hoàng tang tóc cho hàng trăm ngàn gia đình.  Hai hình ảnh thật trái ngược, Thượng Đế như khéo bày chuyện trêu ngươi người đời!  Nhưng nhìn lại bằng con mắt đức tin thử xem, Phục Sinh và Giáng Sinh là hai ngày lễ lớn và trọng đại nhất của Giáo Hội Công Giáo.  Đối với người Công Giáo có mức sống đạo bình thường, một năm Giáo hội khuyến khích xưng tội hai lần: một vào mùa Chay và một vào mùa Vọng.  Họ cũng rước Mình Thánh Chúa trong hai ngày lễ lớn của năm:  Phục Sinh và Giáng Sinh theo như Giáo Hội yêu cầu.  Vậy được Chúa gọi về với Ngài ngay khi người tín hữu đã chuẩn bị tâm hồn, vừa được rước Chúa vào ngày hôm trước, đó là phúc hay họa?  Hãy cẩn thận, đừng khóc thương cho những người vừa được Chúa gọi về, và đang yên nghỉ trong vòng tay yêu thương của Ngài, mà hãy khóc than, lo lắng cho chính linh hồn mình, vì ngày Con Người tới, biết mình có được chuẩn bị sẵn sàng như họ chưa?

Có những tấm hình thật khủng khiếp mà những người yếu bóng vía không dám coi.  Thật đau lòng khi đọc tin tức mỗi ngày, con số người chết gia tăng, thi thể của những người chết được chất đống trong những hố đất đào vội.  Những câu chuyện thương tâm của những người sống sót… sự sợ hãi, lo âu đang bị giam hãm trong những thân thể vốn đã gầy gò đói khát ở những nước chậm tiến, giờ đây đang lê lết trong lạnh lẽo, dưới môi trường sống hôi thối, ruồi muỗi, giành giựt, cướp bóc… kể sao cho xiết, nói sao cho đủ!  Thiên Chúa ở đâu rồi?  Ngài có tồn tại hay không?  Tại sao Ngài lại để những cảnh này xảy ra?  Ngài có chứng kiến những cảnh này không?  Tai Ngài có nghe thấy những tiếng khóc than rên rỉ không?  Và đức tin tôi bị khủng hoảng!

Khoan…, khoan đã…!  Hình như tôi đang nghĩ mình nhân từ hơn Thiên Chúa.  Tôi chỉ nghe tin tức, đọc báo, theo dõi hình ảnh trên internet, tivi… và trái tim tôi tan nát trước những hình ảnh thương tâm đó.  Còn Thiên Chúa, Ngài đang sống với những con người đó, Ngài đang chịu đau khổ với họ, đang chia sẻ cảnh sống thương tâm sợ hãi, thiếu thốn sau Tsunami… mà trái tim Ngài vẫn trơ ra, lạnh lùng!!!???  Sự suy nghĩ của tôi đúng hay sai nhỉ?  Tôi có khóc thương những nạn nhân Tsunami thì tôi chỉ biết cầu nguyện cho những người đã chết, nhịn ăn, nhịn mặc chắt chiu vài đồng để gởi cho những người còn sống.  Những đồng tiền bé nhỏ dè xẻn bao lâu nay tính gởi cho người thân bên quê nhà xài tết, bây giờ nó quẹo phải đi về hướng Đông Nam Á, đến với những nạn nhân Tsunami.  Sức của tôi có thế và tôi chỉ làm được thế thôi, chứ tôi nào dám bỏ gia đình bên Mỹ, bỏ công ăn việc làm, bỏ chăn ấm nệm êm trong mùa đông giá buốt để đến với họ, sống với họ, và an ủi họ.  Còn Con Một Thiên Chúa, Ngài đã dám bỏ tất cả vinh quang hạnh phúc từ trời cao xuống thế trong thân phận con người thấp hèn nhất, để chia sẻ những yếu đuối, khổ sở, lầm than của kiếp người.  Có nỗi khổ nào của con người mà Ngài chưa nếm qua?  Có nỗi nhục nhã nào mà Ngài chưa thử tới?  Ngài đã đến với họ, sống với họ, và chết với họ, vậy mà tôi dám cao giọng chất vấn Ngài?

Con người có những qui luật tự nhiên của con người:  sinh ra, lớn lên, bịnh tật, và chết đi.  Tự nhiên cũng có luật của tự nhiên:  hết nắng rồi mưa, hết đông đến xuân, ngày rồi đêm, trái đất tự quay chung quanh nó, và xoay chung quanh mặt trời với một chu kỳ nhất định.  Trong lòng trái đất cũng có những qui luật của riêng nó, lúc nóng lúc lạnh, lúc im ắng, lúc sôi động cựa mình.  Có những qui luật con người hiểu, khám phá ra, và có cách đề phòng.  Nhưng cũng có những qui luật con người chưa khám phá ra, và không biết cách đề phòng.  Rồi khi nó xảy ra gây nên thiệt hại lớn lao, thì mình lại đổ lỗi cho Chúa, Chúa làm nên hết mọi sự!  Thật là tội nghiệp Thiên Chúa biết bao!  Một Thiên Chúa không biết nói, không biết tự biện hộ!  Trong Kinh Thánh chỉ một lần duy nhất Thiên Chúa để nạn lụt hồng thủy xảy ra vào thời ông Nô-ê tiêu diệt loài người tội lỗi.  Sau đó Ngài buồn rầu và hối hận, Ngài lập giao ước với ông Nô-ê, hứa sẽ không bao giờ để nước hồng thủy hủy diệt tàn phá mặt đất nữa (x St 6-9).  Nếu tôi tin vào Kinh Thánh, tôi cũng tin rằng những sự dữ không xuất phát từ Thiên Chúa, đó là qui luật của tự nhiên, và thiên nhiên, mà vì thiếu sự hiểu biết, thiếu sự đề phòng nên con người phải gánh lấy hậu quả của nó.

Ngày xưa, chỉ mới cách đây vài chục năm, khi khoa học còn thô sơ chưa phát triển, tuổi thọ con người trung bình chỉ 40-50, ngày nay khoa học tiến bộ hơn nhiều, tuổi thọ con người lên đến 70-80.  Vậy ngày xưa con khóc cha ở tuổi 40 thì cho Chúa là “ác,” còn ngày nay con chôn cha ở lứa tuổi 90-100 thì gật gù khen Chúa rất nhân từ???  Nhiều khi Chúa “nhân từ” quá mà người con bắt chán, vì phải nuôi cha mẹ già 90-100 tuổi hoặc hơn, mà đợi hoài Chúa cũng chưa chịu kêu về dùm.  Thực sự Thiên Chúa lúc nào cũng thế:  từ bi, nhận hậu, khoan dung, đầy lòng xót thương và chậm bất bình…, đó là bản chất của Ngài, chỉ có khác là mình nhìn Thiên Chúa dưới lăng kiếng nào thôi.

Thời thơ ấu, mỗi khi trốn học đi chơi bị đòn quắn đít, tôi nhìn mẹ bằng ánh mắt giận dỗi, bỏ đi, và trả thù bằng cách không nói chuyện với mẹ.  Mỗi khi bị bịnh, mẹ bắt uống thuốc bắc đắng nghét, bóp miệng ngửa cổ ra rồi thẳng tay đổ ộc chén thuốc đen thùi vô miệng, rồi mẹ nhanh tay bóp chặt miệng lại không cho thuốc có cơ hội thoát ra ngoài.  Lúc đó tôi nhìn mẹ bằng ánh mắt nghi ngờ, thương con là như vậy sao?  Rồi lớn lên thành người tôi mới hiểu được, à thì ra là thế!  Có những lý do đằng sau cây roi, và chén thuốc đắng kia mà lúc nhỏ tôi không nhìn thấy được.  Bây giờ tôi “hiểu” việc mẹ làm tôi mới “tin” mẹ làm vì tình thương, còn ngày xưa, tôi “không hiểu” thì tôi cũng “không tin” mẹ làm vì thương mình.  Tôi cũng tầm thường như bao người khác thôi, bởi thế người ta mới nói nước mắt chảy xuống, khi nào có con, nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ.  Chỉ khi nào tôi “không hiểu” việc mẹ làm, mà tôi vẫn “tin” mẹ làm vì tình yêu, lúc đó tôi mới thực sự là một người con đúng nghĩa.  Chúa ơi, con cũng chỉ là người con đúng nghĩa của Chúa khi nào con “không hiểu” những việc xảy ra, mà con vẫn “tin” vào tình thương của Chúa.  Đó là cái mà Chúa gọi là “đức tin,” và con biết “đức tin” thì cần được thử thách, tôi luyện, nhưng xin đừng thử thách quá sức của con.  Xin cho con biết phó thác vào Chúa những việc con làm không nổi, những điều mà đầu óc con suy không thấu.

Tôi thấy gì sau cơn bão này nhỉ?  Bên cạnh những hình ảnh tang thương, chết chóc là những tấm hình chụp những chuyến trực thăng chở hàng tiếp vận, những kho hàng óc ách đầy hàng hoá, những nhân viên làm việc thiện nguyện ngày đêm để cứu các nạn nhân.  Tiền cứu trợ của các nước Mỹ, Nhật, Úc… tăng lên từ từ, các hội từ thiện trên thế giới lớn tiếng kêu gọi đóng góp với những con số lớn lên mỗi ngày.  Con người bỗng ra hiền hòa, và thế giới cảm nhận được tình nhân ái lâu rồi mới thấy lại.  Tiếng gọi cứu trợ ở khắp mọi nơi: báo chí, internet, đài phát thanh, truyền hình, trong nhà thờ, nhà trường, các hội đoàn, các hãng lớn, xưởng nhỏ, chợ búa, v.v…  Đi đến đâu cũng nghe người ta ơi ới réo gọi nhau, khuyến khích nhau cùng bố thí làm phước.  Hình như những đau khổ trong cuộc sống đẩy con người lại gần nhau hơn và những tang thương chết chóc của người khác là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính mình.  Ước gì con người đừng quên bài học hôm nay để luôn sống trong tỉnh thức và cầu nguyện!

Lang Thang Chiều Tím
January 2005
Viết cho người bạn đang bị khủng hoảng đức tin về cơn sóng thần ở Đông Nam Á

 

 

TRÒ CHƠI KINH THÁNH

LTS: TRÒ CHƠI KINH THÁNH được mở đầu và đăng trên Maranatha-34 (báo điện tử).

Đây là một trò chơi, nhưng là một trò chơi rất nghiêm túc.  Vì là trò chơi Kinh Thánh, nên trước tiên chúng ta hãy đọc lại một đoạn Kinh Thánh.  Đoạn trích thư 1 Côrintô, chương 13, câu 4-7.

“Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu, đức mến không ghen tuông, đức mến không vênh vang, đức mến không tự đắc, đức mến không làm điều bất chính, đức mến không tìm tư lợi, đức mến không nóng giận, đức mến không nuôi hận thù, đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng đức mến vui khi thấy điều chân thật.  Đức mến tha thứ tất cả, đức mến tin tưởng tất cả, đức mến hy vọng tất cả, đức mến chịu đựng tất cả.”

Hẳn bạn để ý rằng tôi lặp lại chữ ‘đức mến’ trước mỗi động từ, và in đậm lên.  Đó là điểm chính yếu của trò chơi.  Bây giờ ta vào cuộc nào.  Trò chơi này gồm hai giai đoạn.  Một dễ và một khá khó.  Hy vọng bạn thành công.

Giai đoạn 1: Bạn thay tất cả những chữ “đức mến” trong câu trên bằng “Chúa Kitô,” và đọc lại chầm chậm với hết lòng chân thành.  Đọc đi!  Dễ phải không?  Bạn đã thành công giai đoạn 1.

Giai đoạn 2: Bây giờ bạn thay tất cả những chữ “đức mến” trong câu trên bằng chính tên của bạn (có chữ lót càng tốt).  Bạn đọc lại với hết lòng chân thành như giai đoạn 1.  Khó hơn nhiều, phải không nào?

Nếu bạn thành công giai đoạn 2, nghĩa là đọc câu trên với lòng chân thật, thì bạn đã hiểu được vì sao Chúa dạy chúng ta: Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán (Mt 7, 1).  Nhưng nếu không thành công thì cũng chẳng hề gì.  Bạn có suốt đời để đọc đi đọc lại cho đến khi thành công mà!

**************************************

Bạn đã đọc bài “Trò Chơi Kinh Thánh” ở báo điện tử Maranatha 34 chưa nhỉ?  Nếu chưa đọc thì nên đọc cho biết, nếu đã đọc mà chưa chơi thì thử “thời vận” trong những ngày đầu năm Ất Dậu xem sao.  Nếu chưa muốn chơi thì cũng nên “liếc mắt” qua một tí để giữ trong đầu, lúc cần có cái mà chơi, và nếu bạn đã chơi thử rồi thì kết quả ra sao thế?  Thắng hay bại?  Hơn hay thua?

Tình cờ một người bạn gởi cho tôi bài này, liếc sơ qua tôi thấy quá khó để mà chơi, đúng ra là một sự thách đố nên thôi, không dại gì đọc kỹ, tôi bèn cất đó để dành.  Rồi mấy ngày sau tôi đọc sơ lại một lần nữa trước khi xóa bỏ một số e-mail.  Thấy trò chơi này cũng hay hay vui vui, tôi theo chân tác giả cho tên mình vô đọc thử thì đọc không nổi, nuốt không vô, như bị nghẹn họng mặc dù bài rất ngắn, tôi lưu trữ lại để lúc khác đọc tiếp.  Đến tối trước khi đi ngủ, lấy bài này ra đọc lại lần nữa, tôi thế “Đức mến” bằng “Giêsu Kitô,” và đọc một cách dễ dàng trôi chảy.  Đó đích thực là những đức tính đáng yêu của Giêsu, đến lúc thế tên của chính mình vô thì tôi không nhịn được cười, phá ra cười lớn.  Tôi nhìn lên tượng Chúa nhân từ, và thành thật thú nhận với Chúa rằng con đọc không được Chúa ơi, ngượng miệng quá, mắc cỡ với Chúa và với chính mình.  Đó không phải là con, con không có những đức tính đó, tuy thế tôi cũng ráng liếc sơ qua một loạt các đức tính đó rồi gấp cuốn Kinh Thánh lại.

Hôm sau mẹ tôi và tôi đi lễ sớm, thánh lễ Việt Nam 8 giờ sáng ngày thứ Bảy vắng vẻ như những thánh lễ ngày thường khác với đa số người lớn tuổi.  Lòng nhà thờ rộng mênh mông, lác đác những cụ già ngồi rải rác trong nhà thờ.  Thánh lễ chưa bắt đầu, tôi liếc trước liếc sau rồi chọn ngồi ở hàng ghế giữa, không gần ai hết, vì tôi có cái tật xấu là hay ngồi bắt chéo chân lên nhau nên không dám ngồi gần các cụ lớn tuổi.  Đang ngồi thì một bác không già lắm khoảng 60 hơn một chút, ngồi ở hàng ghế phía sau chồm người lên khều khều lưng, chỉ chân tôi và nói:  “Cô hy sinh vì Chúa trong nhà thờ ngồi bỏ chân xuống đi!”  Tôi quay xuống và bắt gặp khuôn mặt khó chịu quen thuộc.  Bác này tôi biết quá, đây không phải là lần đầu bác bắt bẻ tôi như vậy.  Tôi hay đi lễ ngày thường ở đây, tuy không bao giờ nói chuyện với mấy bác lớn tuổi nhưng đa số họ biết mặt tôi, và tôi cũng biết mặt họ.  Với bác này, tôi có cảm tưởng tôi chướng mắt bác ta hay sao ấy, nên bác hay rình để kêu tôi ngồi bỏ chân xuống, hoặc kêu tôi lên ngồi ở mấy hàng ghế trên.  Có lần trong lúc đang sắp hàng lên rước lễ, bác đứng sau chồm người lên, đẩy tay tôi đi lên rước lễ lè lẹ.  Tôi đâu phải là con nít!  Đã biết tôi không có đức tính vâng lời mà cứ thử thách mãi!

Lần này tự nhiên máu nóng trong tôi bốc lên khi nghe bác nhắc nhở tôi như vậy, tôi đâu có lấy con trai bác mà tôi phải làm dâu bác nhỉ?  Tôi không ngồi bắt chân chữ ngũ, chỉ là bắt chéo chân lên nhau thì thất kính lắm hay sao?  Sao đi lễ bác không nhìn lên Chúa, nhìn bàn thờ, mà cứ chân tôi mà ngắm, mà soi coi tôi ngồi kiểu gì?  Nếu tôi thất kính với Chúa thì tôi đã không đi nhà thờ sáng sớm ngày thứ bảy, thà để nằm nướng trên giường thì sướng hơn vì Thánh lễ sáng thứ bảy không thay thế thánh lễ ngày Chúa nhật.  Tôi đâu có già như bác mà kêu tôi ngủ không được, hay không có việc gì làm nên đến nhà thờ để giết thì giờ.  Tôi nghĩ thầm trong bụng:  “Sao bác không hy sinh vì Chúa, trong nhà thờ chịu khó nhìn Chúa một chút đừng nhìn đi đâu hết!”

ZZTôi bực mình tính xách bóp đứng lên ra chỗ khác ngồi, thoát khỏi cặp mắt soi mói của bác này.  Tự dưng trong đầu tôi lại hiện ra mấy câu mà tối qua tôi đang đọc dang dở, Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu…,” tôi chỉ nhớ có thế và một cách máy móc không tự chủ, tôi thế tên mình vô lẩm nhẩm: “LTCT thì nhẫn nhục, LTCT thì hiền hậu.”   Lạy Chúa, là con đó sao, con không tưởng tượng ra được!  Chậc… chậc…đã đọc được thì phải làm được, tôi thở dài bỏ bóp, bỏ chân xuống, nén lòng ngồi lại chỗ cũ.  Nhẫn nhục, hiền hậu thì không lý sự, không hơn thua phải trái đúng sai, hiền hậu với mọi người chứ không chỉ hiền với người hiền, dễ thương với người dễ thương mà thôi.  Tôi cười thầm trong lòng khi thấy tự dưng mình hiền như con chi chi, và nhẫn nhục chịu đựng quá!  Bạn bè tôi mà nghe kể chuyện chắc chúng ngạc nhiên lắm, vì họ biết tôi dữ bẩm sinh, ngang bướng, cứng đầu, lì lợm, khó bảo.  Cái gì đúng lý, hợp tình tôi mới nghe, ai đời ở bên Mỹ, thế kỷ 21 rồi mà còn có chuyện làm dâu mẹ chồng ngang hông như vậy nữa thì lạ thật!  Tôi thở dài ngao ngán, theo Chúa chua quá!  Mình không còn là mình nữa.  Ừ thôi, chịu vậy, thôi ráng làm dâu bà bác kia một chút đi.  Chắc bác nghĩ rằng bác có bổn phận phải răn dạy, sửa bảo những đứa ngồi không ngay ngắn trong nhà thờ để nhà Chúa tôn nghiêm hơn.  Cũng đúng thôi!

Thấy tôi ngồi im ngoan ngoãn nghe lời, có lẽ bà bác thích lắm, nên một chút sau lại khều khều lưng tôi, rồi đưa cuốn sách hát như thưởng công cho sự vâng lời của tôi.  Tôi cầm lấy mở sách ra hát.  Trong suốt thánh lễ, tôi cứ bị lo ra nhất là lúc chuẩn bị ngồi, tôi nhắc mình ngồi bỏ chân xuống, đằng sau có mẹ chồng, rồi lâu lâu cứ phải dòm chừng cái chân nếu không nó lại tự động trở về vị trí cũ.  Đến lúc cha dâng bánh rượu, tôi lại thấy khều khều sau lưng.  Giật mình tôi bỏ vội hai bàn chân xuống, tôi ý thức nên đã duỗi hai chân thẳng tắp ngay ngắn như nhà binh rồi, nhưng hai bàn chân thì dựng đứng lên, mỏi quá, chả lẽ như vậy cũng không được hay sao?  Tôi quay xuống thì bà bác chỉ chỉ vào cuốn sách hát, và hất đầu hàm ý bảo tôi giở sách ra hát đi, chứ ngồi đó mà mơ mộng gì nữa.  Tôi quay lên, mấy giây sau mới hiểu ý của bà bác, và phì cười vì thái độ của bác.  Sao bác ta dòm ngó tôi kỹ thế nhỉ?  Đi lễ, Chúa không nhìn mà cứ nhìn coi tôi đang làm cái gì, ngồi kiểu nào, có hát hay không.

Lạy Chúa, “Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu…,” “LTCT thì nhẫn nhục, LTCT thì hiền hậu,” hôm nay con đọc được câu này, và chỉ tới đây thôi.  Còn ngày mai, ngày mốt, chắc chắn phải có ơn Chúa con mới đủ can đảm đọc tiếp được.  Nếu con đọc không được thì xin giữ đâu đó trong đầu con để lúc cần thì Chúa nhắc con, đúng như tác giả nói, con có suốt cả đời để đọc, đọc đi đọc lại cho đến khi con về với Chúa!  Đến lúc đó con không nhận ra con là ai nữa!

Lang Thang Chiều Tím
January 2005

 

 

 

 

TẤM BÁNH LIÊN ĐỚI

ZZBài Tin Mừng hôm nay chứa đựng rất nhiều bài học.  Như về Nước Trời, về Dân Thiên Chúa, về bí tích Thánh Thể.  Nhưng có lẽ bài học thiết thực nhất cho chúng ta hôm nay là bài học liên đới.  Đó cũng chính là bài học Chúa muốn dạy cho các môn đệ của Người.

Liên đới là biết cảm thương.  Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu chạnh lòng thương.  Đó là một đám đông nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, bơ vơ không người chăn dắt.  Đám đông tội nghiệp đi tìm Chúa không phải chỉ để được ăn no, nhưng còn để được chữa lành bệnh, nhất là được an ủi, được dạy dỗ, được chỉ bảo.  Khi chạnh lòng thương, Chúa Giêsu dạy ta hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt liên đới.  Những người này đói vì tôi đã ăn quá nhiều.  Những người kia rách vì tôi đã mê mải đuổi theo “mốt”.  Những đứa trẻ này hư hỏng vì tôi đã thiếu quan tâm chỉ bảo.  Những đứa trẻ kia rơi vào tội phạm vì tôi đã không làm gương tốt cho chúng.  Thế giới này chưa tốt một phần có trách nhiệm của tôi.  Thế giới này chưa công bằng trong đó phần lỗi của tôi.

Liên đới là nhận lấy trách nhiệm.  Các môn đệ đã nhìn thấy đám đông đói khát.  Các ngài muốn thoái thác, phủi tay: “nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”.  Đó là một giải pháp hợp lý.  Lo cho năm ngàn người ăn là ngoài tầm tay của các môn đệ.  Đó cũng là giải pháp nhẹ nhàng.  Ai lo phần nấy.  Thật dễ dàng.  Nhưng đó là giải pháp không được Chúa chấp nhận, vì thiếu tình liên đới.  Chúa muốn các môn đệ Chúa nhận lấy trách nhiệm: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn”.  Họ đói, các con phải lo cho họ ăn.  Một trách nhiệm nặng nề vượt quá sức các môn đệ.  Nhưng đã cảm thương thì phải có trách nhiệm.  Trái tim cảm thương thật sự phải hướng dẫn bàn tay làm việc.

Liên đới là đóng góp phần của mình.  Chúa không cần những phép tính vĩ mô.  Năm ngàn người thì cần bao nhiêu bánh?  Những tính toán lớn lao là không thực tế và làm ta lo sợ.  Chúa dạy các môn đệ khởi đi từ thực tế: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá”.  Thật là ít ỏi, nghèo nàn.  Nhưng Chúa không chê cái ít ỏi nghèo nàn đó: “Đem lại đây cho Thầy”.  Có ít hãy đóng góp ít.  Nhưng quan trọng là phải bắt đầu, là phải góp phần của mình.  Liên đới không đòi ta phải quán xuyến mọi sự, nhưng đòi ta thật sự có trách nhiệm, góp phần của mình vào việc chung.

Liên đới là chia sẻ.  Chúa chúc tụng để làm phép bánh và cá như cho ta thấy, những đóng góp dù ít ỏi của ta đã thành thiêng liêng cao quí.  Chúa không làm phép lạ tức khắc biến ngay cá và bánh ra một núi lương thực cho người tự do đến lấy.  Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực cho mọi người. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ.  Các môn đệ trao cho mọi người.  Và mọi người trao lại cho nhau.  Đó là bài học lớn của phép lạ . Chính khi mọi người trao cho nhau, Chúa làm phép lạ.  Bánh và cá cứ tiếp tục sinh sôi bao lâu những bàn tay còn trao nhau.  Bánh và cá vẫn tiếp tục nhân lên bao lâu mắt con người vẫn còn nhìn nhau.  Những tấm bánh của tình liên đới.  Những đàn cá của sự chia sẻ. Chúng nhân lên theo nhịp của trái tim.  Khi trái tim chan chứa yêu thương, quan tâm, liên đới, lương thực trở nên phong phú, dư thừa.

Thế mà các môn đệ đã vội lo.  Cũng như ta thường lo thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ cho mọi người.  Cũng như ta vẫn thường lo lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người.  Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực.  Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người.

Lạy Chúa xin mở trái tim con để con biết cảm thương và chia sẻ.  Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt

THÁNH MARTHA

ZZChúng ta biết chắc về thánh Martha qua 2 giai thoại trong Tin Mừng, khi bà nhiệt thành đón rước Chúa Giêsu (Lc 10, 38-42) hay khi bà tín thác vô giới hạn vào Chúa Giêsu trước cái chết của Lazarô (Ga 11,1-44).  Martha, theo tiếng aramêô, có nghĩa là bà chủ.  Martha, Maria và Lazarô ở làng Bêtania, là những người bạn thân tình của Chúa Giêsu.  Người hay đến trú ngụ ở nhà họ để nghỉ ngơi sau những chuyến hành trình mệt nhọc. Martha đóng vai gia chủ, đã tỏ ra rất hiếu khách và tận tụy. Ngày kia, trong lúc bận rộn với việc phục dịch, bà nói:

– Thưa Thầy, Thầy không màng nghĩ tới sao? em con để cho con một mình phục dịch.  Vậy xin Thầy bảo nó đỡ đần con.

Chúa Giêsu đáp lại:

– Martha, Martha, con lo lắng xôn xao về nhiều chuyện. Cần thì ít thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất rồi và sẽ không bị ai lấy mất.

Như thế Chúa Giêsu đã cho Martha biết rằng đối với Người không có gì quý hơn một tâm hồn biết suy tư cầu nguyện, Martha đã hiểu, bà sẽ để lộ đức tin ấy ra dịp Lazarô từ trần.  Bà nhắc tin cho Chúa Giêsu:

– Thưa thầy, kẻ Thầy thương đang ốm liệt.

Vượt đường xa, Chúa Giêsu đã đến. Nhưng Người cố ý đến chậm, khi Lazarô đã chết.  Đức tin của Martha vẫn không thay đổi.

-Thưa Thầy, nếu thầy có mặt ở đây, em con đã không chết.

Và bà thêm:

– Nhưng ngay lúc này, con biết là bất cứ điều gì Thầy xin với Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho thầy.

Khi Chúa Giêsu cho biết Người là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Người thì dù chết cũng sẽ sống, rồi Người hỏi:

– Con có tin thế không ?

Martha đã mau mắn tuyên xưng:

-Vâng, thưa Thầy, con tin Thầy là đức Kitô Con Thiên Chúa, đấng phải đến trong thế gian.

Và bà đã không lầm.  Chúa Giêsu đã phục sinh Lazarô.

Tin Mừng không nói rõ các bạn hữu của Thiên Chúa sẽ ra sao.  Chắc chắn Martha có mặt trong số phụ nữ theo Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn và xức dầu thơm xác Người trước khi mai táng.

Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm không chèo không lái.  Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp.  Lazarô đã trở thành Giám mục tiên khởi của thành này.  Riêng Martha, ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon.  Một huyền thoại còn kể thêm việc thánh nữ tiêu diệt quái vật Tarasque.  Dân chúng khổ cực vì con vật dữ tợn, mồm phun lửa hoành hành.  Thánh nữ đã dùng cây thánh giá áp đảo con vật, rồi trói chặt nó lại.  Quái vật bị hạ sát và bị tiêu diệt, người ta gọi là Tarascon.

Thánh nữ Matta đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về lòng hiếu khách.  Khi chúng ta chào đón hay phục vụ ai, Đức Chúa Giêsu coi đó như là chúng ta làm cho chính bản thân Người.  Thánh nữ Matta cũng nêu gương sáng về lòng tin tưởng và niềm trông cậy.  Ngài là bạn thân của Đức Chúa Giêsu và ngài biết có thể tin tưởng vào lời Đức Chúa Giêsu đã nói.  Xin thánh nữ Matta cũng giúp chúng ta biết tạo mối tương quan thân thiện với Đức Chúa Giêsu như ngài.

Sưu tầm

XIN MẸ CỨU GIÚP CON MỌI NƠI MỌI LÚC, NHẤT LÀ TRONG GIỜ CHẾT!

…. Câu chuyện xảy ra tại thành phố Hal nằm dọc theo kênh đào Charleroi.  Hal chỉ cách Bruxelles – thủ đô vương quốc Bỉ – khoảng vài cây số.  Tại đây có nhà thờ Công Giáo kiểu gô-tích tôn kính bức tượng “Đức Mẹ Đen”.  Bức tượng tạc từ thế kỷ XIII và nổi tiếng vì làm nhiều phép lạ.

Tại thành phố Hal cạnh con kênh Charleroi đã xảy ra tai nạn thảm thương.  Một bà mẹ góa sống với đứa con trai duy nhất.  Một ngày, cậu bé chơi với bạn cạnh con kênh.  Không hiểu hai cậu bé rượt đuổi nhau thế nào mà cậu trai con bà góa trượt chân rớt xuống kênh . Cậu bạn hoảng hốt chỉ biết gào lên kêu cấp cứu.  Bà mẹ càng hoảng hốt hơn và cũng chỉ biết hét lên những lời kêu cứu thảm thiết.

May mắn vào ngay lúc đó có một thanh niên đi về hướng này.  Nghe tiếng kêu chàng đoán ngay sự việc.  Chàng tức tốc nhảy xuống kênh và lặn sâu dưới dòng nước.  Mấy phút sau chàng vớt được cậu bé và mang lên bờ, trước đôi mắt đẫm lệ của bà mẹ.  Người ta xúm lại cấp cứu cậu bé.  Cậu từ từ hồi tỉnh.  Cậu thoát chết nhờ hành động mau mắn và dũng cảm của người thanh niên lạ mặt.

ZZTrước công ơn to tát như thế làm sao cám ơn cho đủ người đã cứu mạng sống con mình???   Bà mẹ góa lại quá nghèo!  Nghĩ lui nghĩ tới bà thấy không gì quý hơn là tặng chàng trai ảnh đeo có hình Đức Mẹ Đen của nhà thờ gô-tích thành phố Hal.  Bà đưa tặng chàng và nói:

– Chắc chắn Đức Mẹ MARIA nghe lời tôi cầu cứu nên đưa đẩy cậu đến và cứu vớt kịp thời con trai tôi bị nạn.

Chàng thanh niên lúng túng trả lời:

– Tôi không biết là có đúng như thế không, bởi vì, thú thật với bà, tôi là người không tin!

Tuy nói thế nhưng trước cái nhìn khẩn thiết của bà mẹ chàng chấp nhận ảnh thánh Đức Mẹ MARIA. Chàng cũng hứa sẽ mang ảnh như lời bà xin để ghi nhớ cuộc gặp gỡ với cậu bé con bà…

Gần mấy chục năm trôi qua… chàng thanh niên dũng cảm năm xưa, nay là người đàn ông lớn tuổi.  Ông bị bệnh nặng và được điều trị tại một nhà thương bên Thụy Sĩ.  Nhà thương do các nữ tu điều khiển.  Cùng vào thời kỳ đó, tại vùng này, có vị Linh Mục người Bỉ về đây nghỉ ngơi.  Thỉnh thoảng Cha đến thăm viếng các bệnh nhân theo lời xin của các nữ tu.  Một ngày, cha đang trên đường gần nhà thương thì thấy một nữ tu chạy đến xin cha tới giúp một bệnh nhân đang hấp hối.  Chị nói:

– Xin cha đến mau! Ông ta đang mê sảng!

Khi vị Linh Mục đến bên giường Cha hiểu rằng người bệnh nói tiếng Flamand.  Ông muốn bịt tai và xua đuổi tất cả những gì có liên hệ đến tôn giáo.  Bằng tiếng Flamand vị Linh Mục nói vào tai người bệnh:

– Xin ông an tâm, không ai dám làm trái ý ông!  Chúng tôi chỉ cầu nguyện cho ông thôi!

Nói xong vị Linh Mục thoáng thấy nơi cổ bệnh nhân có lấp lánh ảnh đeo Đức Mẹ MARIA.  Không giữ được bình tĩnh Cha ngạc nhiên nói:

– Ông mang một ảnh đẹp như vậy mà ông lại không muốn tôi nói với ông về Đức Chúa GIÊSU KITÔ và về Đức MARIA, Mẹ của Ngài và cũng là Mẹ của chúng ta sao???

Người hấp hối bỗng chốc như hồi tỉnh.  Bằng từng câu rời rạc, ông kể lại câu chuyện vớt một cậu bé và lời hứa với bà mẹ cậu bé là sẽ mang ảnh Đức Mẹ MARIA suốt đời để ghi dấu cuộc gặp gỡ.  Và ông đã giữ lời hứa.  Vị Linh Mục thật cảm động.  Ngài cúi xuống cầm tay người bệnh và nói:

– Chú bé mà ông cứu sống chính là tôi!  Mẹ tôi vẫn kể lại câu chuyện ấy và nhắc tôi nhớ đến ông luôn. Chúng tôi suốt đời ghi ơn ông… Và ông không thấy là chính Đức Mẹ MARIA đưa tôi đến đây gặp lại ông để giúp ông trong giây phút trọng đại cuối đời sao?

Người bệnh cũng cảm động không kém vị Linh Mục.  Ông bỗng trở nên an bình hơn.  Ông chấp nhận xưng tội và xin rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU làm của ăn đàng.  Sau đó, ông nhắm mắt an nghỉ trong vòng tay trìu mến ghi ơn của vị Linh Mục.

… Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Lạy Rất Thánh Đồng Trinh MARIA, Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp, cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng, thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương, cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội, và khi gặp các sự khốn khó trong đời con, và nhất là trong giờ chết.  Lạy Mẹ hay thương, xin cho con siêng năng chạy đến cùng Mẹ luôn luôn. Con tin rằng, con siêng năng chạy đến cùng Mẹ, thì làm cho Mẹ càng sẵn lòng nghe lời con.  Xin Mẹ ban cho con ơn trọng này, là siêng năng cầu xin Mẹ, và được lòng trông cậy Mẹ như con thảo, ngỏ cho Mẹ nghe lời con hằng cầu xin, mà hằng cứu giúp con, và ban cho con được ơn bền đỗ đến cùng.  Lạy Mẹ yêu dấu hay thương giúp, xin Mẹ ban phúc lành cho con, và cầu bàu cho con khi này và trong giờ lâm tử.  AMEN.

Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin che chở mọi kẻ thuộc về con, ban ơn phù hộ cho Đức Thánh Cha, cho Hội Thánh, cho nước Việt Nam con, cho gia đình con, cho kẻ thân nghĩa, kẻ thù nghịch và hết mọi kẻ khốn khó.  Sau hết cho các Linh Hồn đáng thương trong Lửa Luyện Ngục.

Thánh MARIA, lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cầu bàu cho con.  Lạy Thánh Anphongxô là quan thầy bào chữa con, xin giúp đỡ con trong những khi khó ngặt thiếu thốn biết chạy đến cùng Đức Bà MARIA.

Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cầu cho chúng con.
Lạy Thánh Anphongxô, cầu cho chúng con.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
(Albert Pfleger, ”FIORETTI DE LA VIERGE MARIE”, Mambré Éditeur 1992, trang 57-58)

KHO BÁU ẨN DẤU VÀ VIÊN NGỌC QUÍ

Sống là một hành trình tìm kiếm và chọn lựa liên lỉ.  Tìm kiếm chân thiện mỹ, chọn lựa tốt xấu, lành dữ.

Trong tác phẩm nổi tiếng “la Pensées”, Pascal (triết gia công giáo pháp) cho rằng có ba thứ bậc của sự cao trọng.  Bậc thứ nhất liên quan đến vật chất hay con người: Nó đề cao những ai giàu có, những ai có sức khoẻ hay dung nhan xinh đẹp.  Bậc này có một giá trị không thể xem thường, nhưng nó chỉ ở cấp thứ nhất.

Bậc thứ hai cao trọng hơn là bậc của tài năng siêu việt mà các triết gia, khoa học gia, nghệ sĩ và các nhà thơ nắm giữ.  Đây là một bậc có một phẩm chất khác.  Giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, không thêm không bớt điều gì từ những thiên tài.  Trước họ chúng ta phải ngưỡng mộ, nhưng nó chưa phải là bậc cao nhất.

Còn có một thứ bậc cao hơn, đó là thứ bậc của tình yêu, của lòng tốt mà Pascal gọi đó là thứ bậc của thánh thiện và ơn sủng.  Gounod cho rằng: “Một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương tài năng.”  Đẹp hay xấu, học thức hay dốt nát không thêm hay bớt đi điều gì khỏi một người thánh thiện, một vị thánh.  Sự cao cả của ngài thuộc về một thứ bậc khác, vượt trên cả hai bậc kia.  Điều này rất phù hợp với quan niệm của người Việt Nam: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du, Truyện Kiều).

Có thể nói rằng đức tin Kitô giáo thuộc về bậc thứ ba này, bởi lẽ cốt lõi của Đạo chúng ta là Tình Yêu, và mời gọi đạt tới sự Thánh Thiện.  Hay nói đúng hơn, những ai đã được rửa tội, là Kitô hữu đều được mời gọi sống cho Tình Yêu và sự Thánh Thiện này, ngay trong chính đời sống của mình.

ZZLời Chúa hôm nay cũng nói tới sự cao cả và lời mời gọi này:  Vua Salômon trong bài đọc I không xin Chúa cho được giàu có, sống lâu, nhưng ông chỉ xin cho tâm hồn khôn ngoan để lãnh đạo dân Chúa và phân biệt lành dữ.  Điều ông xin đẹp lòng Chúa và Chúa ban cho ông được khôn ngoan và có tất cả.

Dụ ngôn “kho báu giấu ở thửa ruộng” và “viên ngọc quí” diễn tả sự cao trọng, sự vô giá của Nước Trời, mà không có cái gì, không có vàng bạc hay tài năng nào sánh được. “Kho báu” và ‘viên ngọc quý” ở đây là chính Đức Giêsu Kitô, Ngài là đối tượng lớn nhất, là niềm vui, là hạnh phúc để chúng ta tìm kiếm và sở hữu.  Không có gì đẹp hơn, bởi được tìm biết Đức Kitô, có Ngài chúng ta có tất cả!  Nói như Thánh Phaolô hôm nay là: trong Người, chúng ta “những người theo dự định của Chúa, được kêu gọi nên thánh,” trở nên giống với hình ảnh Chúa Con, trở nên giống Đức Kitô.  Như thế, lời mời gọi nên thánh chính là trở nên giống Đức Kitô, sống theo Đức Kitô.

Khủng hoảng lớn nhất của con người hôm nay là khủng hoảng về các giá trị, các bậc sống bị đảo lộn. Tiền bạc lên ngôi, trở thành tiên, thành phật; sự thánh thiện và tình yêu trở thành một thứ secondhand, “hàng ế”!  Thiên Chúa bị loại ra khỏi đời sống.  Đức Giáo Hoàng Benedetto XVI nói rất chính xác rằng: “Trong lòng nhiều người sống trong xã hội chúng ta, bên cạnh sự thịnh vượng vật chất là sự lan rộng của sa mạc tâm linh, một sự trống rỗng nội tâm, nỗi sợ không tên, và một cảm thức lặng lẽ của tuyệt vọng” (Bài giảng ở Sydney 2008).  Nếu cuộc sống chúng ta vắng bóng Thiên Chúa, nếu Thiên Chúa không được tìm kiếm và quy chiếu như sự thiện tuyệt đối, như là mục đích tối hậu của đời người, thì chúng ta sẽ bị vong thân, cuộc sống đánh mất nền tảng căn bản.

Như hai người trong Tin Mừng tìm kiếm kho báu và viên ngọc quí, tất cả chúng ta đều được mời gọi tìm kiếm Thiên Chúa như là kho báu, là viên ngọc quí, là mục đích tối hậu trong cuộc đời mình.  Trong gia đình, chúng ta đừng đánh giá nhau chỉ dựa trên tiền bạc của cải.  Các bạn trẻ đừng bao giờ nghĩ rằng, tình dục là tất cả để tìm kiếm, để hưởng thụ.  Có một sự bận tâm cao hơn đó là “tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Trời”; có những giá trị còn lớn lao hơn, đó là hãy sống thánh thiện và tìm kiếm Thiên Chúa là chân thiện mỹ của đời ta.  Amen!

Lm Pietro Nguyễn Hương
http://vietcatholic.org

THÁNH NỮ MARIA MAGDALENE TRONG HỘI HỌA 

Trong hàng Thánh nữ Công giáo, đi vào hội họa nhiều nhất, là Thánh nữ Maria Magdalene.  

Thánh nữ Maria Magdalene được biết đến nhiều, đối với người Công Giáo, có lẽ, bởi trong Kinh Thánh, có nhiều câu chuyện viết về Bà gắn liền với cuộc đời Chúa Giêsu, đặc biệt, ở chi tiết, Bà là người đầu tiên được gặp Chúa Giêsu sau khi người sống lại.  Đã có rất nhiều tranh vẽ về chi tiết này. 

Tuy nhiên, với phần đông họa sĩ, nhất là từ thời Phục Hưng, cảm ZZhứng lớn nhất đối với chủ đề Thánh nữ Maria Magdalene , thì dường như, bởi ngay chính ý nghĩa hình tượng:  Bà không sinh ra “là Thánh”.  Bà sinh ra trong tội lỗi và lớn lên trong tội lỗi. Bà “trở thành Thánh”, bởi cái Tâm hướng thượng, hướng về Thiên Chúa, và đã “vượt qua chính mình”… 

Nổi tiếng nhất, trong những bức tranh về Thánh nữ Maria Magdalene, là của Titian (Tizano Vecellio-1488-1576) – họa sĩ bậc thầy thời Phục Hưng – vẽ năm 1567, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Nazionale di Capodimonte, Naples

Nổi bật trong tranh là hình ảnh một người phụ nữ đẹp, có sức sống tràn đầy, nhưng tâm hồn đã hướng trọn về Thiên Chúa.  Nó có thể, khiến gợi nhớ đến quá khứ tội lỗi, “bị qủy ám” nơi Thánh nữ, nhưng, không tạo nên nghi ngờ về đức tin kiên định và sự thánh thiện hiện tại… Trong tranh, họa sĩ cũng đã sử dụng lại biểu tượng quen thuộc, gắn liền với hình tượng Thánh nữ Maria Magdalene, có từ trong nghệ thuật Byzantium, đó là lọ nước hoa, nhưng, ông đã thêm vào một biểu tượng mới, đó là chiếc đầu lâu người đặt ngay dưới sách Thánh.  Biểu tượng này, được ông dùng, như một cách “lý giải” hình tượng: đón nhận tin mừng của Chúa, Thánh nữ đã vượt qua cõi chết để đến với cõi vĩnh hằng…  Biểu tượng đầu lâu người được thêm vào tranh vẽ Thánh nữ Maria Magdalene này, đã được nhiều họa sĩ về sau sử dụng lại.

Bức tranh thứ hai, cũng nổi tiếng không kém, là “Chúa Giêsu ở nhà ông biệt phái Simon” của Pieter Pauwel Rubens, vẽ năm 1618-1620, ZZhiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Hermitage, thành phố Petersburg, Nga. 

Hình ảnh trong tranh thể hiện câu chuyện Chúa Giêsu ở nhà ông biệt phái Simon, khi Thánh nữ Maria Magdalene đang quì ôm chân Chúa, dùng dầu thơm rửa chân Chúa, dùng tóc mình lau chân Chúa và xin được cứu rỗi…  Bức tranh nổi tiếng bởi sự sinh động của hình ảnh. Người xem có thể nhận thấy, Chúa Giêsu, dường như đang giải thích, không chỉ cho những người biệt phái, mà cho cả chúng ta, về ý nghĩa của Tin Mừng Thiên Chúa, về sự ăn năn và cứu rỗi…  Theo nhiều nhà phê bình mỹ thuật, đây là một trong số rất ít tác phẩm của Rubens thể hiện sự quan tâm nhiều đến các biểu hiện tâm lý nhân vật, đến tư tưởng chủ đề hơn là các hình thức kiểu cách… Và, bản thân điều này cho thấy, với ngay cả một họa sĩ kiểu cách, ưa thích sự hấp dẫn hình thức (nhiều khi hy sinh cả khía cạnh tư tưởng) như Rubens, ý nghĩa hình tượng nơi Thánh nữ Maria Magdalena cũng đã có giá trị hết sức đặc biệt. 

Cả hai tác phẩm nêu trên đều đã đi vào lịch sử nghệ thuật như là những tác phẩm đặc sắc nhất và nổi tiếng nhất của nghệ thuật Công Giáo.  Đối với chúng ta, những suy ngẫm của các họa sĩ thể hiện trong tranh cũng rất nên được suy ngẫm lại…

Nguyên Hưng
http://nghethuatthanh.net/hoi-hoa/

 

TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN

ZZCó một bài tình ca mang tựa đề “Trái tim không ngủ yên” diễn tả tâm trạng của đôi bạn trẻ nam nữ yêu nhau.  Dù xa nhau, họ vẫn cảm thấy gần gũi.  Dù giận hờn, họ vẫn thấy dễ thương. Trái tim họ không ngủ yên, nhưng luôn thôi thúc người này nhớ tới người kia.  Vì thế mà xa hóa nên gần, lạ hóa thành quen, và khổ đau được biến thành hạnh phúc.

Trong Cựu ước, bằng một lối hành văn “nhân cách hóa”, ngôn sứ Hô-sê đã diễn tả Thiên Chúa có một trái tim như trái tim nhân loại: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11, 8).  Thổn thức, bồi hồi, đó là tâm trạng cảm thương, băn khoăn trước một sự việc xảy đến cho mình hoặc cho người mình yêu mến, nhất là lúc gặp phải thử thách gian nan trong cuộc sống.

Trái tim Thiên Chúa “thổn thức, bồi hồi” vì “không nỡ từ chối Ép-ra-im, không nỡ nộp Ít-ra-en vào tay quân thù.”  Thiên Chúa không lãnh đạm trước nỗi đau khổ bất hạnh của con người.  Vì Ngài là tình yêu, nên trái tim của Ngài “không ngủ yên”.  Ngài luôn yêu thương che chở con người và tạo vật.  “Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?” (Ed 18, 23).  Ngay cả đối với những tội nhân, Ngài cũng không muốn họ phải chết, nhưng mong cho họ được may mắn và hưởng mọi sự tốt lành.  Thiên Chúa yêu thương con người.  Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho họ và Ngài cũng mời gọi họ hãy sống với nhau bằng trái tim.  Chúng ta cùng suy tư về tình yêu thương bao la rộng mở của Ngài đối với mọi loài thụ tạo.

1- Trái tim Thiên Chúa là tình yêu thương vô bờ

Thiên Chúa yêu thương con người.  Toàn bộ nội dung Kinh Thánh đều nhằm nói với chúng ta điều ấy.  Thiên Chúa vừa mang gương mặt cương quyết của người Cha, vừa mang tấm lòng bao dung của người mẹ.  Là Cha, Thiên Chúa mạnh mẽ dẫn đưa con người trên con đường ngay thẳng, quở phạt khi họ bất trung, tội lỗi.  Là Mẹ, Thiên Chúa êm đềm che chở con người trước những bão giông, vỗ về động viên khi họ yếu đuối sai lầm.

Tình thương của Thiên Chúa đã được mặc khải nơi Đức Giêsu, Ngôi Lời giáng thế.  Đức Giêsu là Thiên Chúa.  Người mang trong mình một trái tim nhân loại.  Trái tim của Chúa Giêsu đã rung cảm trước nỗi đau của con người, khi đối diện với bệnh tật, đau khổ và sự chết.  Người đã “chạnh lòng thương” và đem lại cho con người niềm vui, ơn chữa lành và tha thứ.  Nhờ việc Thiên Chúa mang trái tim nhân loại mà con người thấp hèn có thể gặp gỡ Đấng tối cao để tâm sự với Ngài.  Đức Giêsu còn giới thiệu cho nhân loại biết rằng Thiên Chúa là Cha.  Ngài cũng có một trái tim, vì Ngài là tình yêu. Nơi tình yêu của Ngài, không ai bị loại trừ hay phân biệt, vì Ngài làm cho mặt trời mọc lên nơi người công chính cũng như kẻ bất lương (x. Mt 5, 45).  Có biết bao phép lạ Đức Giêsu đã làm để minh chứng cho tình yêu diệu kỳ của Thiên Chúa.  Bằng chứng lớn lao nhất cho tình yêu của Thiên Chúa là cuộc tử nạn của Người trên thập giá.  Thập giá là lời tôn vinh quyền năng cao cả và tình thương vô biên của Thiên Chúa.  Thập giá cũng biểu lộ vinh quang ngàn đời của Thiên Chúa, Đấng Sáng tạo và Cứu độ thế gian.

Khi chứng tỏ cho con người thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đức Giêsu mời gọi con người hãy thương yêu nhau.  Thương yêu là cốt lõi của giáo huấn Tin Mừng, là bổn phận chính yếu của các tín hữu. “Yêu thương là chu toàn Lề Luật ” (Rm 13,8-10).  Không ai có thể tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu mà lại sống ngược với giới răn tình yêu.  Không ai có thể nhận mình là môn đệ của Chúa mà vẫn sống trong hận thù. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12)Tình yêu do Đức Giêsu đề nghị mang một chiều kích bao la, đến mức dành cho cả kẻ thù: “Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44)Đức Giêsu là mẫu mực cho việc thực thi đức yêu thương, để rồi khi chúng ta bắt chước Chúa, là chúng ta nhân rộng những nghĩa cử của Người trên khắp trần gian, cho đến tận cùng thế giới.

2- Trái tim Thiên Chúa nhân hậu và bao dung

Thiên Chúa cũng là Đấng bao dung tha thứ đối với những ai thành tâm trở lại cùng Ngài. Lịch sử cứu độ là một chuỗi những sa ngã phạm tội của dân Ít-ra-en, đồng thời cũng ghi lại lòng nhân từ của Chúa.  Câu chuyện vua Đa-vít là bằng chứng của lòng bao dung nhân từ của Chúa.  Ông đã phạm tội, nhưng cũng đã sám hối.  Lòng sám hối của ông đã làm nguôi cơn giận của Chúa và Ngài đã thứ tha. Hình ảnh người cha nhân hậu được Đức Giêsu diễn tả trong Tin Mừng Thánh Luca chương 15 cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến mức nào.  Ngài tôn trọng tự do của con người.  Ngài sẵn sàng đón nhận những ai thành tâm sám hối trở về và cho họ được phục hồi phẩm giá của người con trong mối tương quan với Chúa.  Người cha nhân hậu đó chính là Thiên Chúa.  Ngài có trái tim không ngủ yên, khi thấy con người sống  trong tội lỗi.  Ngài mong chờ họ trở về với chính lộ để được chia sẻ hạnh phúc và vinh quang của Ngài.  Đức Giêsu đến trần gian để tìm kiếm con người lầm lạc, đưa họ về với Chúa.  Người giống như người chăn chiên, tận tâm kiên nhẫn đi tìm con chiên lạc, vác lên vai, đưa về với đàn chiên.

“Hãy tha thứ!” đó là một trong những nét nhấn quan trọng trong lời giảng dạy của Đức Giêsu. Thế giới hôm nay có nguy cơ hủy diệt lẫn nhau vì thiếu lòng bao dung tha thứ.  Theo Chúa Giêsu, sự tha thứ không được đong đếm bằng số lượng, nhưng phải tha thứ hết lòng (x. Mt 18,21-22).  Phải tha thứ luôn luôn, một cách bao dung, quảng đại.  Nền tảng của lời mời gọi tha thứ là vì mỗi người chúng ta đều bất toàn và vì chính Chúa đã tha thứ cho chúng ta: “Như Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau.  Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện” (Cl 3,13-14).  Trên thập giá, Chúa đã cầu nguyện cho những người làm hại mình. Người đã làm gương cho chúng ta về sự tha thứ.  Chính sự tha thứ sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui tràn đầy và tâm hồn bình an.

3- Trái tim Thiên Chúa trao ban hạnh phúc cho con người

Tình yêu đích thực là mong muốn cho người khác được hạnh phúc.  Khi dấn thân phục vụ, chúng ta tìm được niềm vui.  Khi cho đi chính bản thân mình, chúng ta cảm nghiệm được hạnh phúc dồi dào. Từ thuở ban đầu của lịch sử, Thiên Chúa tạo dựng con người để chia sẻ cho họ vinh quang của Ngài. Hành động sáng tạo chính là sự chia sẻ kỳ diệu ấy.  Một tác giả đã viết: Giống như nước thủy triều, rút xuống nhường chỗ cho đất khô, Thiên Chúa sáng tạo như thu mình lại để nhường chỗ cho con người và tạo vật được hiện hữu.  Thật thế, công trình sáng tạo cho thấy một Thiên Chúa yêu thương, muốn cho con người được hạnh phúc và chia sẻ vinh quang của Ngài.

Đức Giêsu đến trần gian để phục vụ con người.  Mầu nhiệm nhập thể là sự “tự hủy mình ra hư không” để nên giống con người trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.  Các môn đệ và những người đương thời đã hết sức ngạc nhiên, khi thấy Đức Giêsu mạc khải một quan niệm mới về Đấng Thiên Sai, không giống như quan niệm của họ: ‘Con Người đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45).  Phêrô đã can ngăn Chúa, vì ông không thể chấp nhận một quan niệm Thiên sai như vậy.  Điều này khiến ông trả giá qua lời khiển trách của Chúa, như thể đó là ý muốn của Satan.  Khi chiêm ngưỡng thập giá, chúng ta thấy sứ mạng dấn thân phục vụ của Đức Giêsu được thể hiện cách rõ ràng: Đức Giêsu đã tự nguyện nộp mình chịu khổ hình vì chúng ta.  Người chấp nhận chết để cho chúng ta được sống.  Người chịu lăng mạ để cho chúng ta được tôn vinh.

Trên thập giá, Đức Giêsu đã thốt lên: “Ta khát” (Ga 19, 28).  Cơn khát của Đức Giêsu không chỉ là cơn khát thể lý, mà Người khao khát đem cho con người tình yêu của Chúa Cha.  Ngài cũng mong cho con người học bài học nơi thập giá để biết hy sinh cho nhau.  Vì thế, trải dài cho đến tận cùng thời gian, cơn khát của Đức Giêsu vẫn thôi thúc chúng ta phải làm gì để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân. Mẹ Têrêsa Calcutta, người sáng lập Dòng Thừa sai Bác ái đã đặt thành mục tiêu ưu tiên của dòng mình là dấn thân vì phần rỗi các linh hồn, “đáp ứng cơn khát của Chúa Giêsu trên thập giá”.  Người tín hữu được mời gọi chia sẻ cơn khát của Đức Giêsu bằng việc thao thức đem Tin Mừng cho anh chị em đồng loại.  Loan báo Tin Mừng đối với chúng ta không chỉ là một việc làm thêm có tính tình nguyện, nhưng đó còn là một bổn phận gắn liền với đời sống Kitô hữu: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9, 16).

Lạy Chúa Giêsu, xin làm cho trái tim chúng con trở nên giống như trái tim Chúa.  Nên thánh đối với chúng ta chính là mang trong mình một trái tim của Chúa, một trái tim không ngủ yên trước nỗi đau của đồng loại.  Khi có một “trái tim không ngủ yên”, chúng ta sẽ luôn thao thức để trở thành hoàn thiện, đồng thời giúp cho anh chị em mình gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu!

GM Giuse Vũ Văn Thiên

 

TỘI LỖI NÀO ĐƯỢC THA THỨ

Có tội ác nào tày trời đến độ không thể tha thứ được không? Tap chí Times đã nêu ra câu hỏi trên đây khi trích dẫn câu trả lời của một vị luật sư người Campuchia.

Cách đây ba năm, một Mục sư đã rửa tội cho một giáo viên ở một vùng sình lầy thuộc tỉnh Battanapan, ở mạn Tây Campuchia.  Mới đây người giáo viên này tiết lộ mình đã từng làm giám đốc cơ quan mật vụ của Khờ-me đỏ.  Sau 20 năm lẩn trốn, nay ông thú nhận là ông đã trực tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát ít nhất là 12.000 người Khờ-me.

Người Mục sư mà cha mẹ và với gần 2.000.000 đồng bào ruột thịt bị người Khờ-me đỏ sát tế trong giai đoạn từ năm 1975 – 1979, đã nhận định về cuộc trở lại của người giáo viên này như sau:

Thật là kỳ diệu, Kitô giáo có thể thay đổi cuộc sống con người.  Nếu Chúa Giêsu đã thay đổi người giáo viên này, thì Người cũng có thể thay đổi tất cả mọi người.

Ông Duo tức người giáo viên này, một hôm đã đến nghe vị Mục sư thuyết giảng, sau đó ông đã xin chịu phép rửa, ông nói rằng, trong suốt thời thơ ấu và ngay cả khi lớn lên ông không bao giờ được yêu thương.  Giờ đây tin nhận Chúa Kitô, ông cảm thấy tâm hồn được tràn ngập yêu thương.

Mục sư ghi nhận rằng, cuộc thay đổi nội tâm đã ảnh hưởng đến toàn diện con người của ông.  Trước kia ông lầm lì ít nói, nay ông vui vẻ và cởi mở với tất cả mọi người.  Trước kia quần áo ông xốc xếch, thì nay ông ăn mặc chỉnh tề.  Sau khi đón nhận phép rửa và tiết lộ tông tích của mình, ông Duo đã bị chính quyền Campuchia bắt giữ hồi tháng 5.1998, hiện nay ông đang bị giam tại một nhà tù gần trung tâm Tollen, tức là nơi trước đây ông đã từng tham vấn, hành hạ và sát hại hàng trăm ngàn người đồng bào ruột thịt của mình.

Nhận định về tay đồ tể khát máu Khờ-me, người luật sư Lobin đã nói như sau: Một câu chuyện mang lại niềm hy vọng cho nhân dân Campuchia, họ đã trải qua quá nhiều năm trong tăm tối.  Khi đón nhận Chúa Giêsu, họ đã được mang lại ánh sáng trong cuộc sống của họ.  Thật vậy, đã đến lúc người Campuchia cần phải từ bỏ thù hận để sống yêu thương.

**********************************

ZZAnh chị em thân mến,

Chứng từ sống động trên đây đưa chúng ta vào cốt lõi của đạo chúng ta là yêu thương và tha thứ mà hôm nay qua bài dụ ngôn cỏ lùng Giáo Hội muốn nhắc lại cho chúng ta.  Dụ ngôn là một câu trả lời của Chúa Giêsu và thắc mắc mà các môn đệ thường nêu lên, là tại sao Thiên Chúa không trừng phạt nhãn tiền những kẻ làm điều gian ác?

Với hình ảnh của ruộng lúa tốt và cỏ lùng, Chúa Giêsu mạc khải lòng nhân từ và sự tha thứ vô biên của Thiên Chúa, đối với Thiên Chúa không có tội ác nào, dù cho có tày trời đến đâu mà không thể tha thứ được.  Như một người cha ngày ngày ra đứng trước cửa trông ngóng người con hoang đàng trở về, thì Thiên Chúa cũng có một thái độ chờ đợi kiên nhẫn như thế đối với tất cả mọi tội nhân, dù cho con người có đốn mạt xấu xa đến đâu thì Chúa vẫn luôn dành cho một cơ may mới để trở về với Ngài.  Nơi tâm hồn con người dù có tăm tối đến đâu, Thiên Chúa vẫn nhận ra được ánh sáng mà chính ngài đã đặt để trong trái tim con người.  Chính vì tin tưởng nơi khả năng có thể cải thiện của con người mà Thiên Chúa không ngừng tha thứ cho con người và kiên nhẫn chờ đợi con người trở về.

“Thức khuya mới thấy đêm dài, sống lâu mới thấy dạ người có nhân”.  Dụ ngôn về cỏ lùng được Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, mời gọi các Kitô hữu mặc lấy tâm tình khoan dung nhân hậu và cảm thông của Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu không khoan nhượng, không dung tha cho bất cứ tội ác nào, Ngài gay gắt lên án thói giả hình và thái độ mù quáng của con người, nhưng Ngài lại tỏ ra cảm thông và tha thứ cho những người yếu đuối tội lỗi, Ngài không những cảm thông với những người tội lỗi, mà còn tha thứ cho chính những kẻ hành hạ Ngài.

Tòa nhà giáo huấn của Chúa Giêsu sẽ sụp đổ nếu từ trên thập giá Ngài không tha thứ cho những lý hình của Ngài.  Cuộc sống của Ngài cũng sẽ vô giá trị nếu khi bị treo trên thập giá Chúa Giêsu vẫn còn mang theo hận thù trong lòng Ngài.

Tha thứ là vẻ đẹp cao quý nhất trong tâm hồn con người.  Nhân cách của con người sẽ bị đánh mất nếu nó không thể làm được hành động tha thứ.  Người tín hữu Kitô chúng ta cũng sẽ mất căn tính của mình nếu chúng ta chỉ sống theo đố kỵ, hận thù.  Tha thứ là vẻ đẹp cao quý nhất trong tâm hồn con người, do đó cũng chính là điều khó thực hiện nhất, vì thế mà chúng ta không ngừng cầu xin Chúa cho chúng ta luôn được sống ơn tha thứ, đó là điều chúng ta cầu xin trong Thánh Lễ mỗi ngày.

Kinh Lạy Cha nhắc nhớ chúng ta rằng, chúng ta chỉ có thể cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa nếu chúng ta cũng tha thứ cho người anh em chúng ta mà thôi.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn được lớn lên trong niềm xác tín ấy.  Amen!

R. Veritas