TRÊN SÂN CỎ ĐỜI SỐNG

Trong đời sống ai cũng đã sống trải qua những giai đoạn, những biến cố vui buồn, thành công cũng như thất bại.

Những đội tuyển bóng đá tham dự tranh tài World cup 2014 bên Brazil đã và đang sống trải qua những biến cố bất ngờ hân hoan chiến thắng có và thất vọng thua trận phải cuốn gói trở về nhà sớm có.

Những điều đó không phải chỉ là bất ngờ ngoài dự liệu mong muốn, nhưng còn có ý nghĩa chứa đựng sứ điệp, lời nhắc bảo cho đời sống nữa.  Nhưng không phải lúc nào, và ai cũng đọc hiểu được sứ điệp lời nhắc bảo qua biến cố mà mình đã trải qua.  Vì thế mỗi người đọc hiểu biến cố đã sống trải qua cách khác nhau.

Khi sự việc, biến cố xảy ra trong đời sống, có người không hiểu nhìn ra đó là một biến cố, nhưng cho đó là ảo tưởng, là bị làm cho choáng mắt thôi.

Có người không ngần ngại chối bỏ phủ nhận, cho đó là mơ mộng.

Có người quá sốt sắng, như thành điên loạn, luôn loan báo rộng rãi cho mọi người khác điều mình hiểu, và cho đó là sứ điệp quan trọng.  Hễ ai chê cười thì bị nguyền rủa xỉ vả.

Có người thinh lặng suy nghĩ biến cố sự việc đã xảy ra mang ý nghĩa tích cực gì cho đời sống mình.  Và họ còn ghi chép lại thành bài vở như kinh nghiệm quý báu cho đời sống.

Biến cố bóng đá World Cup 2014 đang diễn ra ở Brazil.  Trên sân cỏ trái banh được hai đội tranh giành nhau dẫn lừa đá tung lưới khung thành đội đối thủ đoạt dành chiến thắng cho đội mình.

Hàng trăm triệu người trên khắp thế giới từ hôm 12.06. đến 13.07. 2014 đã và đang chú tâm theo dõi những trận tranh tài biến cố bóng đá World Cup 2014 sôi nổi qua màn ảnh truyền hình.  Nhưng họ có những cách thế phản ứng khác nhau.

ZZCó người không màng quan tâm tới cho đó là trò chơi ảo ảnh vô bổ.

Có người chối bỏ không chấp nhận trò chơi đó, cho là mơ mộng điên lọan.

Có người cuồng nhiệt to tiếng ca ngợi đủ mọi cách, hễ ai chê thì bị chê bai nguyền rủa là người không biết gì hết.

Có người bình tĩnh hơn, vui vẻ hơn không coi đó chỉ là trò chơi môn thể thao. Nhưng hiểu nhận ra cùng rút ra bài học về cung cách sống trong tương quan với người khác trên sân cỏ cuộc đời như tình liên đới đồng đội qua cùng chơi cùng làm việc chung, lòng khiêm nhượng chia xẻ tình người với nhau. Thắng thua là chuyện thường tình trong đời sống, có lên cũng có xuống, không ai mãi mãi ở trên đỉnh cao của thành công chiến thắng, cũng như không ai mất tất cả và mãi mãi bị thất bại.

Bốn thái độ cung cách sống cũng giống tựa như bốn trường hợp trong dụ ngôn Chúa Giêsu nói về người gieo giống tung vãi hạt lúa trên nền đất.

Hạt rơi xuống vệ đường bị chim trời đến mổ nhạt ăn mất.
Hạt rơi trên sỏi đá nơi không có đất nhiều, khi nắng nóng lên, cây lúa chết khô héo ngay.
Hạt rơi chỗ bụi gai cây cỏ mọc um tùm làm cho bị nghẹt, không có ánh sáng chiếu vào, thiếu khí trời nên cũng chết.
Hạt rơi xuống nền đất đồng ruộng tốt nó mọc lên cây lúa tươi tốt mang lại hoa trái nhiều bông hạt lúa mới.

Sự kiện biến cố nào xảy ra trên sân cỏ đời sống cũng đều ẩn chứa sứ điệp của Đấng Tạo Hóa gửi cho con người.

Sứ điệp của Ngài không mang tính chất đe dọa phạt vạ, nhưng mang sâu đậm khía cạnh đào tạo giáo dục cho đời sống con người.

LM Daminh Nguyễn ngọc Long
Mùa World Cup 2014

CUỘC ĐỜI VÀ BÓNG ĐÁ

Cuộc đời con người như cuộc đấu bóng đá vậy.  Hiện nay Cúp bóng đá thế giới 2014 đang diễn ra ở Brazil.  Bóng đá là một môn thể thao được ưa chuộng nhất trên trái đất này.  Nó thu hút hàng tỉ người tham gia và hâm mộ, cả người đá cũng như cổ động viên.  Người ta nói: “Ăn bóng đá, ngủ bóng đá, sống bóng đá”.  Đó là các Fan hay các “tín đồ của bóng đá”.  Bóng đá như là hơi thở, là sự sống, là cuộc sống của họ.  Còn các cầu thủ coi đó như một nghề nghiệp.  Có những cầu thủ lương rất cao.  Càng đá hay, đá giỏi bao nhiêu thì lương càng cao bấy nhiêu.

ZZNói đến bóng đá là phải nói trọng tài, sân bóng, cầu thủ, huấn luyện viên, cổ động viên, thẻ vàng, thẻ đỏ,…

Trọng tài là người “cần cân nảy mực,” xem cầu thủ nào chơi xấu, chơi không đúng luật thì phạt.  Nhẹ thì thẻ vàng, nặng thì thẻ đỏ.  Trong các lỗi, có lỗi việt vị.  Việt vị là tội “ăn cắp trứng gà”, nghĩa là đối phương đứng sau hậu vệ.  Vì như thế, rất nguy hiểm cho thủ môn, nên luật không cho phép cầu thủ nào cứ chờ ở dưới mà sút bóng cả, có sút cũng không công nhận bàn thắng.  Ngoài trọng tài chính cầm còi, còn có hai trọng tài biên và trọng tài bàn, các trọng tài này giúp cho trọng tài chính điều khiển trận đấu.

Sân bóng.  Sân bóng được làm hẳn hoi, với khung thành và các đường biên, vùng cấn địa được phận biệt rõ ràng. Nhất là có khán đài cho người ta đến xem.  Các người này sẽ động viên các cầu thủ, cũng như đem lại kinh phí cho bóng đá.  Khán đài được làm cao hơn so với sân bóng, để dễ dàng xem cầu thủ đá bóng.

Trái bóng thì tròn xoe, có độ tưng và bền . Những người không mê bóng đá thì nói: “22 người đàn ông, thật là rảnh việc, có một trái bóng mà cũng giành.  Mua cho mỗi ông một trái đá cho đã khỏi phải giành.”  Đó là những người không biết cũng như không mê bóng đá đó mà.  Theo luật, trong sân và trong cuộc đấu chỉ dùng một trái bóng, ai đá vào được khung thành đối phương thì thắng.  Ai tự đá vào khung thành đội mình thì gọi là “đốt nhà”; quân ta đánh quân mình.

Cầu thủ. Đó là những người yêu thích và chọn bóng đá làm nghề nghiệp của mình.  Họ phải thường xuyên tập luyện để có sức cũng như có những chiến thuật và kỹ thuật . Họ học, họ tập cho biết cách đón bóng, dắt bóng, truyền bóng và sút bóng.  Có cầu thủ điêu luyện, họ sút trái bóng căng và mạnh như “kẻ chỉ”, ghi bàn tuyệt đẹp.

Huấn luận viên là những người từng đá bóng, có nhiều kinh nghiệm, họ truyền lại những gì mình đã học, đã biết cho đàn em, cho các học trò của họ, để các cầu thủ đá bóng cho tốt.

Cổ động viên là những người hâm mộ đội bóng cũng như cầu thủ.  Họ đến để ủng hộ, động viên và thưởng thức bóng đá.

Thẻ vàng là để cảnh cáo những cầu thủ chơi xấu.  Nếu bị hai thẻ vàng trong một trận đấu thì cầu thủ đó sẽ bị phạt không cho đá nữa và phải rời sân.

Thẻ đỏ để phạt cầu thủ nào chơi xấu thô bạo và nguy hiểm như “không đá bóng mà đá người” hay có hành vi không có tinh thần thể thao, sẽ bị trọng tài tước quyền thi đấu, cho ra khỏi sân.  Nếu tái phạm nhiều lần sẽ bị Liên đoàn bóng đá “treo giò”, nghĩa là không cho tham gia đá bóng nữa; có thể mấy trận, mấy năm hay suốt đời.

Cuộc sống của con người cũng giống như cuộc đá bóng vậy.  Trọng tài là Thiên Chúa.  Thiên Chúa sẽ xử mọi hành vi của con người dù tin hay không tin.  Việc tốt thì ân thưởng, việc xấu thì phạt.  Ai mà chơi xấu, làm việc xấu, bất công, “ăn cắp trứng gà”, ăn cắp, ăn cướp của người khác, sống không đúng luật sẽ bị Chúa cảnh cáo, cảnh báo và phạt.  Nếu ai làm việc tốt, chơi hay, chơi đẹp; sống công bằng, công chính, đúng luật thì được thưởng, được khen.

Sân bóng là trần gian, là trái đất này, nơi con người ta sống và làm việc.   Có sông, có biển; có núi, có rừng; có đất, có không khí; có động vật, có thực vật; có mưa, có nắng; có mặt trời; mặt trăng; có đêm, có ngày và có những định luật để vận hành.

Khán đài là trời, nơi đó có các thánh trên trời nhìn xuống; có ông bà cha mẹ hay anh chị em, bạn hữu theo dõi và cầu nguyện.

Trái bóng là cuộc đời của ta.  Mỗi người chỉ có một cuộc đời, một thời gian để sống.  Ai biết vận dụng tốt những gì mình có, sẽ làm cho mình có một cuộc sống bình an, hạnh phúc và có nhiều thành công.

Cầu thủ là mỗi người sống ở trần gian này.  Họ phải học hỏi và luyện tập để làm việc cũng như làm cho mình nên người tốt, nên người công chính, nên người thánh thiện.  Họ phải học để có kiến thức, có khôn ngoan.  Đó là những chiến thuật và kỹ thuật để làm việc và sống.  Họ phải biết đón nhận tất cả những gì xảy ra trong đời; họ phải dắt bóng, biết dùng những gì mình có, những khả năng mình có.  Họ biết truyền bóng nghĩa là biết làm và sống với người khác.  Họ biết sút bóng là biết chớp những thời cơ và dứt điểm.  Sút ra ngoài là làm những việc xấu hay không có giá trị.  Sút vô khung thành là làm những việc tốt và có giá trị.  Họ ghi bàn là ghi được điểm, ghi công cho cuộc đời của họ và ghi được tên của họ ở trên trời.

Huấn luyện viên là những người hướng dẫn và truyền lại những kinh nghiệm mình có để giúp người khác có những kiến thức, cũng như hiểu luật chơi, hiểu luật đời, hiểu luật sống làm cho người khác thu được những kết quả và sống một một sống bình an và hạnh phúc.

Thẻ vàng là những khi gặp những khó khăn, vất vả; những hiểu lầm.  Đó cũng là những cảnh báo cho ta biết sẽ có thành công.  Những bệnh tật, thất bại, đó là những cáo, để ta biết thức tỉnh lại con người của ta, coi chừng bị lầm đường, lạc lối; coi chừng làm bậy, sống ẩu, gây nguy hiểm cho mình và người khác.

Thẻ đỏ là rời sân, rời cuộc sống đời này mà về với Chúa.  Không phải bị phạt mà ai cũng thế, sống ở trần gian này giỏi lắm là 100 năm thôi.  Có cầu thủ nào mà có sức đá đến 100 tuổi không?  100 tuổi, đi còn chưa vững nữa là, ở đó mà còn đấm với đá.  Con người của ta cũng thế, sống đến 100 tuổi là về với Chúa, để cho lớp trẻ lớn lến và đá tiếp.

Trong bóng đá, ai chơi tốt, chơi hay; có sức lực, có kỹ thuật cá nhân cũng như biết phối hợp nhịp nhàng với đồng đội; biết chớp thời cơ và dứt điểm, sẽ ghi được bàn thắng, được yêu mến và hâm mộ.  Họ sẽ phát huy được tài năng và hái ra tiền.  Ai mà bán độ, chơi xấu, chơi gian; chần chừ, chậm chạp; lừng khừng, loay hoay một mình không truyền cho đồng đội, cũng không sút bóng sẽ chẳng làm được gì và bị chê thôi.  Con người của ta cũng thế, nếu làm tốt, sống ngoan; có kiến thức, có kinh nghiệm; biết dùng những khả năng mình có và cùng với người khác sống và làm việc, sẽ có nhiều thành công và được nhiều người mến mộ.  Ai mà ham tiền bán độ, bán rẻ, bán đứng anh chị em mình; lại chơi xấu, chơi gian sẽ thất bại, chẳng làm được việc gì cho ra hồn và có giá trị.

Lại nữa, đội nào hay cầu thủ nào ỷ y, cao ngạo, sẽ bị thua.  Đội nào không giỏi nhưng biết cố gắng sẽ chiến thắng.  Ai giỏi mà ỷ y, kiêu ngạo và khinh thường người khác cũng sẽ thua, sẽ thất bại.  Người nào khiêm nhường, chịu khó, kiên trì và cố gắng sẽ chiến thắng, sẽ thành công.

Là cổ động viên, không nên nhất thiết là của một đội, một người nào đó.  Vì như vậy, nếu đội đó thua, người đó không ghi được bàn thắng ta sẽ buồn, sẽ bực.  Không, cứ đội nào giỏi, cầu thủ nào đá hay là ta hâm mộ, xem trận đấu nào ta cũng luôn có niềm vui và phấn khởi.  Cũng vậy, khi ta sống ở đời, cái gì hay, cái gì phải, cái gì tốt là ta học, ta tập, cuộc đời ta sẽ vui luôn và tích trữ được nhiều kinh nghiệm.

Như cầu thủ chuyên nghiệp, muốn đá hay, đá giỏi nhất định phải học hỏi và tập luyện thường xuyên, thì con người của ta cũng thế.  Muốn giỏi, muốn hay dứt khoát là phải luôn học hỏi và tập luyện mới được.  Để ta nên nhanh nhẹn, khỏe mạnh, dẻo dai, bền bỉ, khôn ngoan và chính trực.

Một câu hỏi vui là Chúa có biết tỉ số trước khi đá không?  Có biết đội nào thắng trước khi đá không? Xét về Thần tính thì Chúa là Đấng thông biết mọi sự, nên biết.  Nhưng xét bền bản tính con người thì không.  Như việc biết ngày tận thế, chỉ có mình Thiên Chúa biết, ngay Con người tức là bản tính người của Đức Giê-su cũng không biết được.  Nếu Đức Giê-su sống ở thời đại này mà xem bóng đá thì Ngài cũng không biết được tỉ số trước trận đấu.  Nếu biết thì đâu có gì hấp dẫn.  Có điều chắc chắn, đội nào, cầu thủ nào chơi hết mình, đá hết sức lực thì đội đó sẽ chiến thắng; cầu thủ đó sẽ ghi bàn.  Có cầu nguyện với Chúa đi nữa thì Chúa cũng ban ơn cho cả hai, ai cố gắng nhiều sẽ chiến thắng, vì nếu cả hai cũng cầu nguyện cho thắng thì Chúa sẽ làm sao đây?

Cũng vậy, Chúa có tiền định, tức là biết trước ai sẽ lên thiên đàng, ai xuống hỏa ngục không?  Không, Chúa chẳng tiền định cho ai phải xuồng hỏa ngục cả.  Ý định của Chúa là muốn cứu độ, muốn cho mọi người lên thiên đàng.  Còn ai muốn lên hay muốn xuống thì người đó quyết định . Chơi tốt, sống tốt thì lên; chơi xấu, sống đểu thì xuống.

Vậy khi ta xem đá bóng ta hãy rút ra những bài học cho mình, vì cuộc đời của ta cũng giống như chơi đá bóng vậy.  Muốn chiến thắng, muốn được mến mộ ta phải lo học hỏi và luyện tập thường xuyên để ta có kiến thức, khôn ngoan, mạnh khỏe, mạnh mẽ, nhanh nhẹn, chịu khó, ta sẽ ghi bàn, ghi điểm; sẽ nên người tài, người giỏi, được hâm mộ, được yêu mến, được thưởng và được lên thiên đàng.  Không gì có thể làm lung lạc được ý chí của ta, dù là tiền bạc, của cải hay những khó khăn.  Cũng không ai làm ta khuất phục mà họ phải khâm phục ta thôi.  Amen!

LM Bosco Dương Trung Tín
http://www.vietcatholic.net

 

TÂM TÌNH NGƯỜI ĐI GIEO

“…Có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.  Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu;  nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.  Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt.  Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: Hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục”. (Mt 13, 4-8)

Bài dụ ngôn thật đẹp.  Đẹp về hình ảnh phong phú.  Đẹp về ý nghĩa sâu xa.  Nhưng đẹp nhất vẫn là thái độ của người đi gieo.  Người đi gieo đã có thái độ vừa hào phóng vừa kiên trì, vừa hy vọng vừa yêu thương.

Người đi gieo đã gieo một cách hào phóng.  Hãy nhìn kìa: Ông vốc từng vốc lớn hạt giống và rộng tay vung vãi.  Ông gieo không tiếc xót.  Ông gieo không tính ZZtoán.  Ông gieo không loại trừ.  Những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ nhận được hạt giống đã đành.  Cả đến những mảnh đất sỏi đá, gai góc cũng được hưởng ơn mưa móc. Cả đến lối mòn có bước chân người cũng không bị lãng quên.  Người đi gieo không bỏ rơi một mảnh đất nào, một ngõ ngách nào.  Ông muốn cho hạt giống được gieo vãi khắp chốn.

Người đi gieo đã gieo một cách kiên trì, ông gieo bất kể ngày đêm.  Ông gieo bất kể mưa nắng.  Ông gieo bất kể những thất bại.  Đợt gieo giống đầu tiên đã thất bại vì chim chóc tha đi, ông liền gieo tiếp đợt hai.  Bị sỏi đá nắng hạn, cây lúa mất mùa, ông lại đi gieo tiếp đợt thứ ba.  Bị gai góc bóp nghẹt, cây lúa bị lụi tàn, ông vẫn không nản, cứ gieo đợt thứ tư.  Ông đúng là người đi gieo hạt không biết mỏi mệt.

Người đi gieo đã gieo trong niềm hy vọng.  Niềm hy vọng của ông thật lớn lao.  Chính với niềm hy vọng ấy, ông đã dám đầu tư tất cả tiền bạc, sức khỏe, thời giờ vào việc gieo hạt.  Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông đủ sức mạnh vượt qua những khó khăn, đứng vững trước những thất bại.  Vì hy vọng, ông gieo cả trên lối đi, trên đá sỏi, trong cỏ gai.  Ông tin rằng có gieo thì có gặt.  Chính niềm hy vọng ấy đã giúp ông kiên trì và sau cùng đi đến thành công.

Người đi gieo đã gieo trong tình thương yêu.  Tình thương yêu của ông dạt dào lắm.  Nên ông đã không ngại hao tốn tiền của, tâm trí, sức lực.  Tình thương ấy bao la lắm.  Nên ông động lòng thương đến cả những mảnh đất chai cứng, đá sỏi, gai góc.  Tình yêu thương ấy mãnh liệt lắm.  Nên ông mong sẽ cảm hoá được cả gai góc, sỏi đá, biến chúng thành đất màu mỡ phì nhiêu.  Ông đã có thể chỉ chọn đất tốt mà gieo.  Nhưng tình thương yêu mãnh liệt không cho phép ông làm thế.  Vì ông không muốn loại trừ những miền đất chai cứng chứa đầy sỏi đá, cỏ gai.

Người đi gieo chính là Thiên Chúa hiện thân trong Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu đã gieo trong yêu thương. Yêu thương đến độ chính Người lại trở nên một hạt giống, chịu vùi chôn, chịu mục nát để biến cải những mảnh ruộng gai góc, sỏi đá thành màu mỡ phì nhiêu, mong một mùa gặt đầy những bông lúa chín vàng trĩu nặng.

Thiên Chúa là người đi gieo không biết mệt mỏi.  Chúa Giêsu là người đi gieo say mê đến quên chính cả bản thân mình. Người muốn cho các môn đệ của Người tiếp tục công việc gieo Tin Mừng đi khắp mọi nơi.

Hôm nay Người muốn ta gieo một cách hào phóng.  Hãy gieo không xẻn xo.  Hãy gieo không tính toán.  Hãy gieo không loại trừ.  Hãy biết dùng mọi phương tiện hiện đại nhất để chuyên chở Tin Mừng.  Hãy đem Tin Mừng tới mọi lãnh vực của đời sống.  Hãy đem Tin Mừng tới tất cả mọi hạng người không loại trừ một ai.

Người cũng muốn ta kiên trì gieo hạt Tin Mừng.  Hãy kiên trì như thánh Phaolô, cứ gieo dù gặp “thời thuận lợi hay không thuận lợi.”  Hãy cứ gieo dù đá sỏi, chông gai.  Hãy cứ gieo dù những thất bại, nhọc nhằn.

Nhưng điều Người mong chờ nhất là các môn đệ của Người hãy đi gieo yêu thương.  Yêu thương không chỉ những mảnh đất phì nhiêu, nhưng yêu thương cả những mảnh đất sỏi đá, gai góc.  Yêu thương không chỉ những người mình thương và những người thương mình mà còn yêu thương cả những người không ưa mình và mình không ưa: vì một tình yêu thương đích thực thì không loại trừ ai. Chỉ có tình yêu thương mãnh liệt như thế mới cảm hoá được cỏ gai, làm mềm được đá sỏi, biến tất cả thành màu mỡ phì nhiêu.

Đáp lời Chúa mời gọi, biết bao lớp người đã hăng hái ra đi gieo Tin Mừng tại vùng đất Lạng Sơn này.

Trong số đó phải kể đến Đức cố Giám mục Vinh Sơn Phaolô của chúng ta.  Người đã là một người đi gieo không biết mệt mỏi.  Qua bao ngày tháng, Ngài vẫn kiên trì không bao giờ chồn chân mỏi gối. Hôm nay Ngài đã trở thành một hạt giống vùi sâu trong lòng đất.  Hạt giống ấy, tình thương ấy, sẽ làm mềm sỏi đá, hứa hẹn cho ta một mùa gặt bội thu.

Ta cũng không thể nào quên được công ơn của Đức Hồng Y Phaolô Giuse, cũng là một người đi gieo không biết mệt mỏi.  Dù tuổi cao sức yếu với gánh nặng của Giáo phận Hà Nội và của Giáo hội Việt Nam, Ngài vẫn sẵn sàng ghé vai gánh đỡ Lạng Sơn trong những lúc cần thiết.  Ngài đã gieo mồ hôi nước mắt làm phì nhiêu cánh đồng này.  Công khó ấy chắc chắn sẽ góp phần rất lớn cho một mùa gặt mai sau.

Hôm nay, Chúa gởi tôi đến cánh đồng Lạng Sơn này.  Lạng Sơn là quê hương tôi.  Anh chị em đã đón nhận tôi như đón một người thân.  Chúng ta thuộc về một gia đình.  Hôm nay Chúa mời gọi tất cả chúng ta vào làm việc trong cánh đồng của Chúa.  Chúng ta hãy hăng hái bắt tay vào việc đi gieo Lời Chúa.  Hãy noi gương Chúa Giêsu, hào phóng, gieo kiên trì, gieo hy vọng và nhất là hãy gieo yêu thương.  Gieo gì gặt nấy.  Nếu ta gieo bác ái chắc chắn ta sẽ gặt được yêu thương, một mùa yêu thương tràn ngập trên núi đồi Lạng sơn- Cao bằng này.

TGM Ngô Quang Kiệt

ÐI TÌM CHÉN THÁNH

Theo một câu chuyện cổ nước Anh, thì chén thánh mà Chúa Giêsu dùng trong bữa tiệc ly đã được đem về thành Cas-tân-bơ-ry.  Nhưng vì lòng dạ độc ác của dân thành cho nên chén thánh này đã được đưa về trời, và chỉ những ai có tâm hồn trong sạch, quảng đại mới được nhìn thấy chén thánh.

Một người quí tộc trong thành phố này ước ao được nhìn thấy chén thánh một lần trong đời mình. Ông lên đường tiến về lâu đài trước kia đã cất giữ chén thánh.

Trong cuộc hành trình, ông gặp một người phong cùi ngồi ăn xin bên vệ đường.  Ông ném cho kẻ khốn khổ một đồng tiền mà không thèm ngó đến anh ta.  Và dĩ nhiên ông đã không bao giờ nhìn thấy được chén thánh.

Mấy chục năm sau, người quí tộc giờ đây đã trở thành một cụ già cũng quyết chí trở lại lâu đài một lần nữa. Lần này ông gặp lại người phong cùi cũng ở chỗ cũ, bên vệ đường.

Vừa thấy kẻ khốn cùng, nhà quí tộc liền mở hành trang, Ông rút ra một ổ bánh mì thơm ngon và một chiếc cúp bạc sang trọng.  Ông chia cho người phong cùi nửa ổ bánh và ăn phần còn lại.  Rồi ông dùng chiếc cúp bạc múc nước nơi dòng suối bên cạnh.  Ông đưa cho người phong cùi uống trước rồi uống phần còn lại.

Vừa lúc ấy mắt ông bỗng thấy người phong cùi biến dạng.  Rồi ông nghe có tiếng nói như sau:

“Chính Ta đây.  Ngươi đã cho Ta ăn và uống.  Bởi vì ai trao ban là trao ban cho ba người: Cho bản thân mình, cho kẻ đói khát và cho chính Ta”.

***************************************

ZZCho đi là trước hết cho chính mình.

Một tấm lòng càng rộng mở càng có khả năng lãnh nhận nhiều.  Một tác giả đã nói: “Con tim làm giàu bằng cách cho đi”.

Nhưng cho người khác không phải chỉ là cho người khác.  Người khác ấy chính là hình ảnh của Thiên Chúa.  Người khác ấy chính là hiện thân của Chúa Kitô.  Người khác ấy là “Chính Ta đây”.

Cho tha nhân là trước hết cho chính mình.  Cho tha nhân là tự trở nên giàu có.  Nhưng cho Chúa Kitô nơi tha nhân chúng ta sẽ chắc chắn có được kho tàng vĩnh cửu, vượt xa muôn ngàn lần những giàu sang, những giá trị của đời này.

Hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta đã quá hiểu chân lý cơ bản này.  Nhưng từ hiểu biết đến thực hành nhiều khi là cả một thách đố lớn lao.

Không có can đảm vượt qua thách đố ấy làm sao chúng ta sẽ là môn đệ chân chính của Chúa Kitô được?

“Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”.

Tha nhân khốn khổ nghèo hèn là chén thánh chứa đựng Chúa Kitô, tìm đến đó với tấm lòng quảng đại và bàn tay rộng mở chúng ta sẽ chắc chắn gặp được Ngài.

Veritas

***************************************

Lạy Chúa,

Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…

Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.

Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…..

Jean Dozolme

NHÀ THỜ

Phúc Âm Thánh Matthêu thuật lại Chúa vào đền thờ như sau: “Ðức Kitô vào đền thờ, Ngài xua đuổi kẻ buôn bán, và những kẻ mua.  Ngài lật nhào bàn ghế của người đổi bạc, và của kẻ bán bồ câu.  Ngài nói với họ: Nhà của Ta là nhà cầu nguyện, còn các ngươi làm thành hang trộm cướp” (Mt 21,12-13). Phúc Âm thánh Gioan thêm chi tiết nữa là Chúa “lấy giây thừng làm roi mà xua đuổi họ.”  Và nói với họ là đừng biến nhà Cha Ta “thành cái chợ” (Gn 2, 13-17).

Phúc Âm muốn nói gì về hành động của Chúa ở đây?  Lời văn mô tả rất ngắn nhưng mỗi chữ mang một ý nghĩa thật sâu.  Những gì đã thực sự xẩy ra ở Jerusalem vào ngày hôm ấy?  Theo lời mô tả của Phúc Âm, điều làm tôi chú ý là trong suốt cuộc đời của Chúa, không khi nào Chúa đối lập rắn rỏi với dân chúng như lúc này.  Chúa lật nhào bàn ghế.  Chúa lấy giây thừng làm roi, xua đuổi các tín hữu. Chúa đã dùng những danh từ rất nặng.  Ðây là bảng so sánh:

Ðền thờ ——– Hang trộm cướp.

Nhà cầu nguyện ——– Cái chợ.

Người trong đền thờ ——– Kẻ buôn bán.

Của lễ ——– Tiền bạc và súc vật.

Hành động của Chúa ——– Lật nhào bàn ghế, lấy giây thừng quấn roi, xua đuổi dân chúng.

Kết luận của Chúa ——– Nhà Ta là nhà cầu nguyện.

Có buôn bán thì khó mà tránh được gian dối.  Có tiền bạc thì làm sao tránh được rình mò.  Ở đâu có súc vật, ở đó có mùi ô uế.  Ðã là chợ thì có người trả giá, có người đôi co, có ồn ào.  Có trộm thì có mất cắp.  Gian dối sinh cãi nhau.  Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện!  Chúa thất vọng biết bao trong tiếng than thở ấy.

Hôm nay, nếu Chúa vào nhà thờ, Chúa có còn phải lập lại lời nói 2,000 năm xưa: Nhà Ta là nhà cầu nguyện?

*******************************************

ZZHôm nay, có nhà thờ đã bỏ hoang.  Có nhà thờ đã được bán lại để làm khách sạn, làm tiệm buôn. Thánh giá ngày nào trên tháp cao đã bị hạ xuống.  Những cửa sổ kính mầu rực rỡ mầu nhiệm cứu rỗi không còn nữa.  Bây giờ là hình vẽ quảng cáo.  Chúa mất nhà thờ.

Bù lại, nhiều nơi lại xây nhà thờ.  Muốn xây nhà thờ thì phải có tiền.  Không có tiền thì tìm cách kiếm tiền.  Tiền có thể làm mất sự trong sáng của tâm hồn, làm của lễ vương khói trần gian.  Lịch sử Giáo Hội đã trải qua những đoạn đường tăm tối vì nhà thờ.  Không thời kỳ nào Giáo Hội xây nhiều nhà thờ, xây huy hoàng như thời trung cổ.  Cần tiền xây nhà thờ, nhiều nơi trong Giáo Hội đã bán ân xá lấy tiền.  Ai càng mua nhiều thì càng được bảo đảm phần rỗi linh hồn.  Luther nhận thấy đường lối sai lầm ấy, đã chống lại, đã tranh luận, đã chia rẽ.  Có nhiều lý do để Luther ly khai khỏi Giáo Hội, nhưng một trong những lý do lớn đó cũng chỉ vì cần tiền để xây nhà thờ.

*******************************************

ZZCó rất nhiều loại nhà thờ.  Nhà thờ của những nước giàu thì nguy nga.  Nhà thờ của những dân tộc nghèo thì lợp lá, vách đất, mưa dột.  Có nhà thờ Công Giáo, có nhà thờ Tin Lành.  Thế giới hôm nay vẫn ngưỡng mộ Gandhi vì tinh thần bất bạo động của ông.  Tinh thần hòa bình này chẳng xa gì tinh thần của Chúa Kitô.  Gandhi đã suy tư rất nhiều về Kitô giáo.  Tiểu sử viết về đời ông kể lại là có một lần kia Gandhi đến nhà thờ.  Khi ông đến cửa thì người đứng chào ở cuối nhà thờ lịch sự chào ông, rồi nói với ông rằng, ông đến nhà thờ là điều chúng tôi rất mừng, nhưng xin ông đến nhà thờ dành cho người da đen.  Gandhi âm thầm, cúi đầu đi và không bao giờ trở lại nhà thờ nữa.  Hôm nay, biết đâu cũng có những người đang mất niềm tin vào Chúa cũng chỉ vì nhà thờ.

*******************************************

Nếu nhà thờ là nơi đông người tụ họp nhất thì cũng là nơi nhiều ma qủy nhất.  Ở chợ búa thì ma qủy thường chỉ cám dỗ người ta gian dối thôi.  Nhưng nhà thờ là nơi ma qủy có thể cám dỗ đủ mọi thứ.  Có thể đến nhà thờ để làm đẹp lòng người khác.  Có thể đến nhà thờ vì sợ bị chê là thiếu đạo đức.  Nhà thờ là nhà cầu nguyện.  Nhưng cũng có thể xây nhà thờ để nổi danh.  Có thể xây nhà thờ vì tự ái, giáo xứ bên cạnh xây được thì mình cũng phải xây cho xong.  Nhà thờ là nơi nghe Lời Chúa: “Các ngươi đừng xét đoán nhau” (Gc 4,11-12).  Nhưng chính nhà thờ lại trở nên tiêu chuẩn xét đoán.  Nhìn kẻ này, trông kẻ kia có đi nhà thờ không để đánh giá lòng đạo đức của họ.  Có người đến nhà thờ để chú ý đến mình, có thể là nhan sắc, tài năng, chức vụ trong xã hội.  Ngày lễ là lúc nhà thờ nhộn nhịp đàn ca, quần áo.  Nhưng có mấy ai nghe thấy nỗi vắng, nhìn thấy cái nghèo của Chúa trên thập giá.

Cái nghèo của Chúa có khi vẫn dễ thấy.  Nghe nỗi vắng, thấy cái nghèo nơi con người mới khó. Không ai mặc áo rách đến nhà thờ.  Vì thế, để thấy cái nỗi khổ, cái nghèo nơi con người, phải ra khỏi nhà thờ, đi vào nhà thờ trong cuộc sống lầm than của họ.  Lúc đó, phải xây nhà thờ là cuộc đời.

*******************************************

Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện.  Nhưng nhà thờ cũng là những vết thương đau đớn nơi thân thể Chúa Kitô.  Nhà thờ là nơi mọi người chung một bữa tiệc, ăn cùng một bánh, chia sẻ cùng một chén thánh.  Nhà thờ là nơi nối kết mọi phần tử trong một thân thể.  Nhưng nhà thờ đã trở thành chia rẽ.

Bên bờ giếng, người đàn bà Samari hỏi Chúa: “Lạy Ngài, tôi thấy Ngài là tiên tri… cha ông chúng tôi thờ phượng trên núi này, còn các ông thì lại bảo Jerusalem mới là nơi thờ phượng” (Gn 4, 19).  Ðức Kitô nói với bà ấy: “Này bà, hãy tin Ta, sẽ đến giờ không phải trên núi này hay tại Jerusalem mà các ngươi thờ phượng Cha” (Gn 4, 21).  Người đàn bà băn khoăn không biết phải thờ Chúa ở đâu.  Chúa nói với bà: “Giờ sẽ đến, và là ngay bây giờ, những kẻ thờ phượng đích thực sẽ thờ Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Cha chỉ muốn gặp những kẻ thờ phượng Ngài như thế” (Gn 4, 23).  Người Do Thái có đền thờ trên đồi Jerusalem.  Người Samari có đền thờ ở núi Gerizim.  Họ không được phép vào nhà thờ của nhau.  Hai bên đã thành thù địch cũng vì nhà thờ.

Chúa không cần nhà thờ.  Chỉ có con người cần nhà thờ.  Con người cũng không cần nhà thờ nếu sống riêng lẻ.  Ðiều ấy hàm ý, nhà thờ chỉ là nhà thờ khi nhà thờ là trung tâm điểm để dân Chúa hiệp thông.  Ðánh mất sự hiệp thông, nhà thờ không còn ý nghĩa.  Lịch sử hôm qua là thế, hôm nay cũng vậy, nhiều nhà thờ đã làm mất bình an trong gia đình.  Nhà thờ gây đổ vỡ trong Giáo Hội.  Nhà thờ đem đến phân ly.  Chúa Kitô vẫn giang tay trên thập giá.  Mỗi phe cầm một tay để kéo Chúa về phe mình thì Chúa sẽ bị rách đôi.  Ðau đớn, nhưng Chúa biết làm sao, Chúa phải thương cả hai, vì tất cả đều là con của mình.

*******************************************

Lạy Chúa, không có nhà thờ nào đẹp bằng đền thờ của tổ phụ chúng con xây cho Chúa ở Jerusalem. Ôi Jerusalem đền thánh thành vàng.  Công trình ròng rã xây cất trong bốn mươi sáu năm (Gn 2,20). Chúa đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Chúa thấy sự huy hoàng của đền thờ, sao Chúa lại nói: “Nhìn ngắm công trình ấy ư?  Ở đó, sẽ không còn hòn đá nào trên đá nào, tất cả sẽ bị phá tan tành” (Mt 24,1-2).

Chúa bị các đạo sĩ kết án vì Chúa bảo phá đền thờ ấy đi, Chúa sẽ dựng lại trong ba ngày.  Sợ chúng con không hiểu, nên thánh Gioan đã phải viết rõ: “Còn Ngài, Ngài nói về đền thờ Thân Mình Ngài” (Gn 2, 21).  Lạy Chúa, nếu vậy thì con phải hết sức cẩn thận.  Vì chỉ lo xây nhà thờ cho Chúa mà quên đi rằng Chúa là nhà thờ của con.  Khi xây nhà thờ thì ma quỷ cũng có thể vào trú ngụ và gây nên biết bao gương xấu.  Nhưng nếu lấy Thân Thể Chúa làm nhà thờ thì không ma quỷ nào vào được.  Và, trong nhà thờ ấy con sẽ sống bình an.

Nếu hôm nay Chúa hỏi: “Shopping center ở đâu?”  Con có thể chỉ lối cho Chúa.  Nếu Chúa hỏi: “Làm sao đến hý viện?”  Con cũng có thể biết đường.  Nếu Chúa hỏi: “Ðường nào đến nhà thờ?”  Thì con bắt đầu phân vân, vì có quá nhiều nhà thờ, nhà thờ Tin Lành, nhà thờ Công Giáo, nhà thờ da đen, nhà thờ da trắng, nhà thờ Do Thái, nhà thờ của nhóm này, nhóm kia, con không biết Chúa chọn nhà thờ nào.  Tuy nhiên, con vẫn có thể chỉ liều cho Chúa một ngôi.  Nhưng nếu Chúa hỏi: “Nơi nào Cha có thể ngủ trọ đêm nay?”  Thì con thực sự phân vân.  Chính trong trái tim mình, con cũng không biết chắc đã sẵn sàng cho Chúa ở chưa.  Trái tim mình là nơi gần mình nhất mà còn không biết thì làm sao biết những gì ở xa mình.

Nơi nào Cha có thể ngủ trọ đêm nay?

Câu hỏi của Chúa ngắn ngủi, mà câu trả lời thì nghe xa xôi, hiu hắt quá.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”

KHIÊM NHƯỜNG HIỀN HẬU

ZZĐức Giêsu đã nói về mình như một người hiền hậu và khiêm nhường.  Sự khiêm nhường của Người được thể hiện rõ nét nhất qua mầu nhiệm nhập thể.  Là Thiên Chúa toàn năng, Người đã hạ mình nhận thân phận con người, sống như người trần thế (x Phl 2,6-12).  Nếu Người kêu gọi chúng ta sống khiêm nhường, là vì chính Người đã sống khiêm nhường suốt đời để thực hiện Thánh ý Chúa Cha.  Cuộc khổ nạn thập giá chính là bằng chứng cao cả nhất của sự khiêm nhường ấy.

Trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu với Chúa Cha, Người đã nhắc đến những người được Chúa Cha mặc khải chân lý vĩnh cửu.  Những người này không phải là vĩ nhân, không phải người khôn ngoan xuất chúng, nhưng là những người bé mọn.  Như vậy, Lời Chúa giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn khái niệm “khiêm nhường”:

-Khiêm nhường trước hết là biết mình hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa và chạy đến tìm nương ẩn nơi Ngài.  Vì chúng ta chỉ là tạo vật, nên chúng ta phụ thuộc vào Đấng đã dựng nên chúng ta.  Khước từ Thiên Chúa là tội kiêu ngạo.  Tự cho mình làm nên mọi sự là tội phạm thượng.  Ađam và Evà đã kiêu ngạo và phạm thượng khi khước từ vị trí của Đấng Sáng tạo trong cuộc đời mình.  Họ đã muốn thoát khỏi vòng kiểm soát của Chúa, muốn được trở nên giống thần linh để cạnh tranh với Đấng đã tạo dựng nên mình.

-Khiêm nhường là chấp nhận vị trí và vai trò của tha nhân trong mối tương quan đa dạng của cuộc sống xã hội.  Mỗi người có một vị trí, một nghề nghiệp, một tài năng và một trách nhiệm.  Không ai có thể làm được bách nghệ, nhưng con người trong xã hội phải phụ thuộc vào nhau mà sống.  Người thợ dệt sống nhờ người nông dân, người thợ xây sống nhờ người đánh cá, người làm việc văn phòng sống nhờ bác nông phu… nhận ra tình liên đới trong sự tôn trọng lẫn nhau, đó chính là khiêm nhường.

-Khiêm nhường là đón nhận chân lý vĩnh cửu do Đức Giêsu loan báo: Thực tế cho thấy có những người học hành uyên thâm lỗi lạc không tin vào các giá trị thiêng liêng, không tin vào Thượng đế; trong khi có những người dân quê chất phác ít học, cả đời không ra khỏi làng, lại tin vào Chúa và gắn bó suốt đời với đức tin ấy đến nỗi không gì có thể lay chuyển nổi.  Như thế, đức tin trước khi là sự khiêm nhường đón nhận của con người thì đã là ân ban của Thiên Chúa, là sự mạc khải của Thiên Chúa về mầu nhiệm Nước Trời.

-Khiêm nhường là học dưới mái trường của Đức Giêsu.  Nhờ Bí Tích Thánh Tẩy, chúng ta trở thành môn sinh của Thày Giêsu.  Người là Thày dạy Chân lý, Thày dạy yêu thương.  Người chính là con đường để dẫn đưa chúng ta về với Chúa Cha, con đường để đem lại cho chúng ta hạnh phúc.  Có biết bao học trò của Đức Giêsu đã nhờ tuân theo giáo huấn của Người mà nên thánh.  Biết bao người đã  chiến thắng những cám dỗ, chiến thắng những nghịch cảnh cuộc đời nhờ giáo huấn ấy.  Chính nơi trường học của Đức Giêsu mà chúng ta được biết Chúa Cha, vì chính Chúa Con mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha và đưa chúng ta vào sống trong mối tình huyền diệu Cha-Con muôn thuở.

-Khiêm nhường là sống theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.  Tác giả Thư Rôma (bài đọc II) đã nhấn mạnh đến  sự hiện diện và tác động của Thần Khí nơi các tín hữu.  Một lối sống ngược lại với Thần Khí, đó là sống theo những bản năng của xác thịt, nghiêng chiều theo những đam mê và những đam mê này làm cho chúng ta xa Chúa.  Cũng chính nhờ Thần Khí mà chúng ta diệt trừ được sự ích kỷ và kiêu ngạo, là nguyên nhân của mọi tội lỗi.

Các nhà tu đức thường nói: “Khiêm nhường là mẹ của các nhân đức”.  Vậy nếu chúng ta sống khiêm nhường thì chúng ta sẽ có mọi đức tính tốt lành khác.  Như dòng nước luôn tìm chỗ trũng để chảy xuống, nên có thể thấm vào mọi nơi mọi chỗ và có thể làm cho đất đai trở nên màu mỡ phì nhiêu, sự khiêm nhường là bí quyết của thành công trong cuộc sống.  Khiêm nhường còn là cội nguồn của hạnh phúc, là nền tảng của tình yêu thương huynh đệ.  Đấng Cứu độ được diễn tả bằng hình ảnh khiêm tốn cưỡi trên lưng lừa, chứ không oai hùng trên lưng ngựa chiến với áo giáp uy hùng và kiếm gươm sáng loáng (Bài đọc I).  Chính nhờ sự khiêm nhường này mà Người đã chinh phục được các dân và đưa họ vào vương quốc công chính.

Kiêu ngạo bao nhiêu cũng chẳng đủ, khiêm tốn bao nhiêu cũng chẳng thừa.  Xin cho mỗi người chúng ta biết lắng nghe bài học Chúa dạy hôm nay.  Amen!

Gm Vũ Văn Thiên

 

VÀO KHUNG CỬA HẸP

ZZTrong mùa thi vào đại học vừa qua, có nhiều bạn học sinh đã bị chứng suy dinh dưỡng, mất ngủ, thậm chí bị tâm thần.  Lý do là các bạn phải học rất nhiều, phải phấn đấu để được vào đại học.  Đại học hiện tại là một khung cửa hẹp.  Trường lớp có ít mà số lượng sinh viên mỗi năm mỗi tăng.  Thế nên các học sinh phải hết sức phấn đấu mới được vào.

Cảnh các thí sinh chen chúc trước các cổng trường đại học làm tôi nhớ đến bài Tin Mừng hôm nay.  Ai muốn vào Nước Trời cũng phải đi qua khung cửa hẹp.

Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp.  Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người.  Nhưng không phải tất cả mọi người vào được, vì vào Nước Trời đòi có những điều kiện cần thiết.  Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời.  Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu.

Trước hết phải phấn đấu hạ mình xuống.  Ở đời người ta thường phấn đấu để vươn lên.  Người ở địa vị thấp phấn đấu để được địa vị cao.  Người hèn kém phấn đấu để được trọng vọng.  Người phải phục vụ phấn đấu để được người khác phục vụ mình.  Nhưng trong Nước Trời thì ngược lại.  Phải phấn đấu để đi xuống.  Phải phấn đấu để tìm chỗ thấp hèn nhất.  Phải phấn đấu để phục vụ anh em.  Như lời Chúa dậy: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống.  Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 14, 11).  “Khi anh được mời, hãy ngồi vào chỗ cuối” (Lc 14, 10).  “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 26).  “Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (Mc 10, 15).

Sau đó phải phấn đấu để bé nhỏ lại.  Thông thường ở đời người ta phấn đấu để to ra.  Ai có nhà nhỏ phấn đấu để có nhà lớn hơn.  Ai có ruộng vườn nhỏ cũng phấn đấu để vườn ruộng lớn rộng thêm.  Ai cũng phấn đấu để có nhiều của cải hơn, có nhiều bằng cấp hơn, có nhiều đặc quyền đặc lợi hơn.  Trái lại, người muốn vào Nước Trời phải phấn đấu để trở nên bé nhỏ.  Phải phấn đấu để trở nên nghèo.  Phải phấn đấu để bỏ bớt của cải đi.  “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời.  Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19, 21).  “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3).

Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu.

Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình thẳm sâu.  Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm.  Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp.  Là Thày, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ.  Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã để bị đối xử như một đại tội phạm.  Người đã bị vùi dập xuống tận bùn đen.

Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ.  Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.

Chúa Giêsu đã mở đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi.  Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã qua.  Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người phấn đấu hạ mình khiêm tốn, và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết “từ bỏ mình, vác thập giá mình” mà theo Chúa.  Amen.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

 

TỪNG CHÚT MỘT THÔI…

ZZNhìn một vận động viên đứng trên bục cao nhận giải thưởng, ta trầm trồ thán phục.  Ta ước mong mình có thể trở thành một vận động viên xuất sắc như thế.  Đọc một kiệt tác văn học, ta thích thú ngưỡng mộ ngòi bút xuất thần của nhà văn.  Ta ước mong mình có thể viết được hay như thế.  Nghe gương sống thánh thiện của một vị thánh, ta thấy mình bừng cháy khát khao nên thánh.  Ta ước ao đời mình cũng thánh thiện như thế.  Rồi ta lên kế hoạch cho mình, ta sẽ làm thế này, ta sẽ làm thế kia… cuối cùng, được vài ngày, ta lại…nản.  Tất cả lại trở về như cũ.

Ở đời, tất cả những gì thành công, xuất chúng, đáng giá đều không thể gặt hái một sớm một chiều. Chúng là kết quả của những nỗ lực bền bỉ, bước đi trong khiêm tốn, kiên nhẫn và…từng chút một.  Ta nên biết rằng đằng sau tấm huy chương vàng óng ánh là những kiêng khem, tập luyện vất vả, không phải ngày một ngày hai, mà có khi mất nhiều năm trời luyện rèn bền bỉ.  Đằng sau những áng văn bất hủ là những bản thảo miệt mài viết đi viết lại, sửa tới sửa lui.  Có khi nó là công trình của cả một đời người, bắt đầu từ những nét chữ nguệch ngoạc cho đến những câu chữ chỉnh chu rõ ràng.  Đằng sau một mẫu gương thánh thiện, là cả một đời rèn luyện nhân đức.

Mọi sự đều có tiến trình riêng của nó.  Một chú nhộng bướm phải mất hàng giờ kiên nhẫn cố thoát mình ra khỏi cái lỗ nhỏ xíu trên cái kén.  Tiến trình tự nhiên mà ta tưởng là mất giờ này giúp cho cơ thể chú nhộng nhỏ gọn và đôi cánh cứng cáp để có thể bay khi chú thoát thai thành bướm.  Nếu ta thương tình can thiệp để tiến trình ấy diễn ra nhanh hơn, chú “nhộng bướm” sẽ chỉ là chú “bướm nhộng” bò loanh quanh với thân hình phồng rộp và đôi cánh nhăn nhúm.  Tôn trọng tiến trình của cuộc sống và chấp nhận quy luật ấy cũng là lẽ khôn ngoan ở đời.  Một bạn trẻ thành công quá sớm trong khi chưa chín chắn trưởng thành trong nhân cách có thể hủy hoại tương lai và cả thành công hiện tại. Macaulay Culkin, diễn viên nhí trong bộ phim nổi tiếng “Ở nhà một mình” là một thí dụ điển hình. Thành công quá sớm đã khiến cho Macaulay Culkin nhanh chóng sa ngã, sự nghiệp tuột dốc và cuối cùng chết mòn vì ma túy.  Chấp nhận mọi thành công đều cần một quá trình, ta từ tốn khôn ngoan bước đi từng bước vững chắc.

Thường thì nói và nghĩ bao giờ cũng dễ, bắt tay vào làm mới khó.  Nghĩ tưởng về thành công trong tương lai, khơi lên trong ta bao nhiêu động lực hiện tại, nhưng thực tế, khi bắt đầu hành trình và nhìn về chân trời xa xăm phía trước lại có thể khiến ta thoái chí nản lòng.  Ta không biết liệu mình có làm được như vậy không?  Ta không biết liệu dự phóng của mình có quá ảo tưởng không?  Và cái tiến trình xa vời vợi ấy có thể là một cám dỗ giục ta bỏ cuộc.  Lúc mới hoán cải với tâm trí tràn ngập những dự phóng sẽ thực hiện cho Thiên Chúa, thánh Inhaxio cũng đã từng bị cám dỗ như vậy.  Khi ấy, tâm trí ngài nổi lên một ý nghĩ: “Liệu ngươi có thể sống nổi cuộc sống này suốt 70 năm không?” Ý nghĩ ấy khiến ngài nản chí, nhưng khi nhận ra đó là một cám dỗ, ngài hiểu rằng 70 năm ấy có thể đạt được, chỉ cần lúc này ngài sống từng giờ trọn vẹn.

Cuối cùng, ở mỗi tiến trình ta phải nhận thức đúng về mình và quý trọng những thành quả tương xứng với tiến trình ấy.  Một con sâu róm xấu xí không nên tự trách mình không đẹp đẽ tươi xinh như chú bướm bay lượn trên các khóm hoa.  Những so sánh như vậy đều là khập khiễng và dễ dàng khiến ta thất vọng về mình.  Ta đang tập viết, không thể đòi mình có khả năng xuất khẩu thành thơ, hay sáng tác những áng văn kiệt xuất.  Điều khiến lòng ta an ủi là, dù có là cây bút đại tài đi nữa, thì cũng từng phải mài đũng quần tập viết từng câu chữ như ta.  Nhận thức đúng về mình giúp ta vững vàng trước những tiếng đời dư luận.  Chú sâu róm sẽ thất vọng buồn rầu đến chết được, vì ai nhìn chú cũng khiếp sợ.  Người ta khiếp sợ một con sâu mà không thể thấy rằng nó sẽ trở thành một con bướm.  Người ta thích thú nhìn ngắm một con bướm mà quên mất rằng nó đã từng là một con sâu.  Người đời cũng vậy, họ có thể chỉ nhìn thấy bạn như là một “con sâu” mà không thấy được nỗ lực của bạn để trở thành một “con bướm”.  Vậy nên bạn đừng để nhận xét của họ làm mai một ý chí vươn lên của mình.

ZZBạn thân mến, một tòa tháp cao bắt đầu từ một viên gạch nhỏ.  Một hành trình dài ngàn dặm khởi đi từ một bước chân ngắn.  Bạn là kiến trúc sư cho tòa tháp cuộc đời mình.  Trở nên một con người như thế nào, tương lai ra sao, cống hiến được gì cho đời, tất cả được đặt trên đôi vai của bạn.  Chính bạn là thuyền trưởng của cuộc đời mình.  Từ tốn, kiên nhẫn, trung thành sống từng chút nhỏ thôi, bạn sẽ lái cuộc đời mình về đến đích, như lời vị tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Chấm một chấm cho thẳng, chấm này nối tiếp chấm kia… đường sẽ thẳng.  Sống một phút cho tốt, phút này nối tiếp phút kia… đời sẽ thánh’’.

Dominic Vũ Chí Kiên, SJ.
http://dongten.net

NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BIẾT SỢ

ZZNói đến hai thánh Tông Đồ cả Phêrô và Phaolô, người ta thường chăm chú đến những khác biệt nơi hai Ngài để rồi hướng đến quyền năng của Thiên Chúa.  Đây là một cái nhìn truyền thống có căn bản thần học đã góp phần cho đoàn tín hữu xác tín vào quyền năng của Thiên Chúa.  Mạo muội có một cái nhìn về những điểm chung của hai Ngài xem ra khá táo bạo, thế nhưng nếu có cơ sở thì cũng đáng cho ta ghi nhận điều gì đó.  Xin được chia sẻ một nét chung nơi tính cách của hai “cột trụ” của Hội Thánh đó là “không biết sợ”.

1. Không sợ sai để dám nói: Những người quá cẩn trọng thì thường tự biện minh là “nói nhiều sai nhiều, nói ít sai ít.” Tuy nhiên cũng có thể nếu cẩn trọng cách quá đáng như kiểu luôn thủ thân thì rất dễ đi đến chỗ “không nói gì” để khỏi phải sai lầm. Có ngờ đâu, không nói gì cả khi cần phải nói thì lại là một sự sai lầm rất tai hại.

Đọc Tin Mừng thì không ai lại không chân nhận tính “mau miệng” của tông đồ Phêrô.  Không thể nói là Chúa Kitô đã minh nhiên đặt Ngài làm đầu nhóm 12 trong thời gian rao giảng, vì cũng trong thời gian này nhóm 12 luôn tranh giành nhau về vị thế làm đầu.  Chưa chính thức làm đầu, thế mà Phêrô thường là người thay mặt anh em để lên tiếng.  Có khi nói đúng thì được Thầy khen, nhưng cũng có khi chệch choạc thì bị Thầy lên tiếng quở trách nặng nề (x. Mt 16, 13-23).  Thế nhưng Phêrô vẫn cứ lên tiếng.  Đúng là không biết sợ.

Thánh Phaolô thì sao đây?  Có thể nói Ngài là vị “nhỏ người mà lớn miệng.”  Ngài đã nhiều lần tự biện hộ cho mình về việc lên tiếng quá nhiều và hình như không biết “kiêng dè.”  Ngay cả với Phêrô mà Ngài cũng chẳng tha (x. Gal 2, 11-14).  Có khi hăng say rao giảng đạt kết quả và cũng có khi nhiệt tình lý luận thì bị mời đi chỗ khác chơi ( x.Cvtđ 17, 22-34).  Thánh nhân vẫn không ngừng lên tiếng, khi thuận lợi cũng như lúc không thuận lợi.  Thật chẳng biết sợ là gì.

2. Không sợ thất bại để dám làm: Dù biết rằng thất bại là mẹ thành công nhưng sự thường không ai là không ngại thất bại. Không chỉ ngại thất bại mà người cơ hội thường thích ẩn mình để chờ thời cơ. Không làm gì cả thì chẳng mất lòng ai và nếu có bầu bán vị trí vai trò quan trọng nào trong các tổ chức xã hội hay tôn giáo cũng dễ kiếm nhiều phiếu hơn. Một sự thật không thể nói là cá biệt hay đặc thù chút nào nếu không muốn nói ngược lại.

Nếu là Thầy, xin truyền cho con đi được trên nước… và Phêrô mạnh dạn bước đi trên sóng biển (x. Mt 15, 22-33).  Trước đám đông quân lính hùng hổ, Phêrô dứt khoát rút gươm bảo vệ Thầy.  Dù cho bạn đồng môn tìm cách trốn lánh thì Phêrô vẫn quyết định dõi theo chân Thầy vào sân vị Thượng tế.  Làm nhiều ắt gặp thất bại không ít, nhưng Phêrô vẫn quyết tâm đi tới.

Việc làm của Phaolô thật khó có ai bì.  Ba chuyến hành trình truyền giáo cùng với bao gian khó vất vả là một minh chứng rõ ràng.  Bị đòn roi, bị ném đá, bị ngồi tù hay lênh đênh trên biển cả… tất cả không ngăn được bước chân của vị Tông đồ nhiệt thành.  Thành công rất nhiều và thất bại cũng chẳng thiếu, nhưng Phaolô bỏ tất cả đằng sau để một mực lao về phía trước.  Ngài đã từng khẳng định “bất cứ những gì người ta dám làm thì Ngài cũng dám làm” (2 Cor 11, 21).

3. Không sợ thua thiệt để dám yêu:  Đây chính là nền tảng căn bản để hai thánh Tông đồ dám nói, dám làm không sợ hãi.  Yêu là chết trong lòng một ít.  Câu ngạn ngữ trên một cách nào đó nói về sự hy sinh trong tình yêu.  Đã yêu là không thể thiếu sự quảng đại hy sinh và quên mình vì người mình yêu.

Vì yêu mến Thầy hơn các môn đệ khác Phêrô chấp nhận cảnh phận “phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn Ngài đến nơi Ngài chẳng muốn” (Ga 21, 18).  Cho dù bị thua thiệt nhưng tình yêu sẽ phủ lấp muôn vàn tội lỗi (x. 1 P 4, 8)

Vì yêu mến Đức Kitô, Phaolô chấp nhận mọi thua thiệt.  Phaolô sẵn sàng chịu mọi gian truân khốn khó vì yêu mến đồng loại và mong cứu thoát được một số người.  Thánh nhân cảm nghiệm tình yêu là cao trọng hơn cả vì yêu thương là chu toàn mọi lề luật (x.Rm 14, 8).

Hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô được Hội Thánh nhìn nhận là hai trụ cột chính của Tòa Nhà Hội Thánh.  Hội Thánh là đoàn dân của Thiên Chúa.  Có thể nói đó là tập thể những con người sống đạo yêu thương.  Tình yêu thì loại trừ mọi nỗi sợ hãi.  Đã yêu thì không còn e ngại sự gì.  Đã yêu thì không ngại các thiệt thua.  Vì yêu thương nên không sợ sai khi phải nói điều phải nói.  Vì yêu thương nên không sợ thất bại khi quyết làm điều chính đáng và phải đạo.

Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
VietCatholic.net

PHÊRÔ, PHAOLÔ, BẠN VÀ TÔI

 

ZZTại sao hai thánh tông đồ cả lại mừng lễ chung với nhau?

Một số thánh nhân, vì là anh em với nhau, vì cùng tử đạo, vì là mẹ con, vì có những điểm chung nhất, nên được mừng lễ trùng ngày với nhau hoặc sát gần nhau. Vậy thánh Phêrô và thánh Phaolô tương quan với nhau thế nào mà lại có ngày lễ kính cùng với nhau?

Đức Tổng Giám Mục Patrick Flores đã từng đặt câu hỏi này với giáo dân trong bài giảng của mình.  Và rồi ngài tự trả lời cách hóm hỉnh: “Bởi vì hai thánh nhân không thể sống chung với nhau được trên thế gian, nên Chúa bắt các ngài phải chung với nhau trên thiên đàng.”(!)

Câu chuyện hài hước này rất có cơ sở. Thánh kinh cho thấy hai ông thật sự khác biệt nhau về tính cách, chênh lệch nhau về đẳng cấp:

  • Người kém văn hóa, kẻ trí thức cao
  • Người đã có vợ, kẻ vẫn độc thân
  • Người rút gươm bảo vệ Chúa, kẻ phóng ngựa truy giết những ai theo Chúa
  • Người giảng dạy cho giới đã cắt bì, kẻ loan Tin Mừng cho dân ngoại.

Chính thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Galata đã thừa nhận sự đụng độ với thánh Phêrô ở Antiokia.  Ông đã cự lại thánh Phêrô vì đã không dám công khai dùng bữa với lương dân như trước khi nhóm cắt bì đến (từ cự lại là nguyên văn của Phaolô trong Gl 2, 11).

Điều rất dễ thương là, trong tất cả sự khác biệt cũng như cãi vã đó, thánh Phaolô luôn nhìn nhận vị trí quan trọng của thánh Phêrô với tư cách là người đầu tiên được Chúa Giêsu cho thấy Người đã phục sinh (1Cr 15, 5), một tư cách xứng đáng với cương vị thủ lĩnh.  Một sự trân trọng rất tuyệt đến nỗi tính cách khác biệt không hề làm cản trở sứ mạng và lý tưởng của hai thánh nhân.  Phần mình, thánh Phêrô cũng không kém cao thượng khi bắt tay Phaolô để tỏ dấu hiệp thông (Gl 2,10).  Điểm độc đáo này được Giáo Hội đưa vào kinh tiền tụng trong ngày lễ 29/06: “các ngài đã dùng đường lối khác biệt để quy tụ một gia đình duy nhất cho Ðức Kitô.”  Để rồi từ những khác biệt tính cách và mâu thuẫn đường lối đó, các ngài đã trở thành:

Hai người tiên phong, hai sao sáng đi đôi và hai tướng anh hùng.

Thế còn anh và em?  Còn bạn và tôi thì sao?

Dĩ nhiên chúng ta thế nào cũng có các điểm khác biệt, và dĩ nhiên chúng ta đã từng cãi vã, giận hờn.  Không ít lần chúng ta đặt câu hỏi tại sao và tại sao người mà mình trọn niềm tin tưởng lại cư xử như thế.  Đã nhiều lần ta như muốn buông một bàn tay thân yêu, rời xa một bờ vai thân thiết, phớt lờ một ánh mắt thân thương.  Chỉ vì chúng ta khác biệt nhau, không hiểu nhau.

Phải chăng ta khác biệt nhau và rồi ta so đo tính toán với nhau?  Để rồi ta hát mãi điệp khúc sau đây:

  • Đúng là anh giầu có hơn tôi thật, tôi không quên được đâu vì anh thường xuyên nhắc tôi về điều đó, nhưng anh cũng biết tôi có rất nhiều tài, còn về sắc đẹp thì không cần bàn cãi là ai hơn nhé!
  • Dĩ nhiên em chu đáo tỉ mỉ, nhưng cũng vì thế em thường sa đà vào các tiểu tiết và chi li, tính toán, phê bình đến mức nhỏ nhen.
  • Anh nghĩ chuyện to lớn trên trời, nhưng chuyện trước mắt, ngay trong nhà, anh có thấy đâu?
  • Sao em nói nhiều như vậy mà anh cứ ngồi im thin thít thế kia?
  • Và còn bạn nữa! Chúng ta có còn là bạn nữa không, mà sao khi lòng dạ mình rối bời lên thì bạn cứ trơ trơ như không cảm xúc vậy?
  • Có nhiều điều mình muốn nói, nhưng không nói ra vì mình nghĩ bạn chẳng thể nào hiểu được.

Khác biệt giữa Phêrô và Phaolô làm cho công cuộc loan báo Tin Mừng trở nên phong phú hơn.  Các khác biệt của chúng ta lẽ ra là để bổ sung cho nhau và để làm cho đời ta thêm màu hương sắc, cũng như các giới hạn của cá nhân là để chúng ta cần đến nhau hơn trong cuộc trần này.  Điều quan yếu là ta biết trân trọng người khác và chiến thắng cái tôi ích kỷ.

Phêrô và Phaolô, hai ngôi sao “chỏi” đều tỏa sáng trên bầu trời Thiên quốc, hai con người Phêrô và Phaolô trở thành đồng trụ và bàn thạch cho tòa nhà Giáo Hội.  Tình yêu đối với Chúa Giêsu làm nên điều kỳ diệu này.  Chỉ có tình yêu đủ lớn mới có thể làm cho các bất đồng giữa vợ chồng, giữa bạn bè trở thành một liên kết phong nhiêu, một tương giao phong phú.  Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ có tình yêu còn ở lại.

Anh và em, bạn và tôi đã giận hờn, tranh cãi, thậm chí căm thù nhau trong quá khứ.  Có những điều cứ tái đi tái lại nhiều lần như một căn bệnh mãn tính, nan y.  Chúng ta có quá nhiều khác biệt mà.  Vẫn biết gương vỡ khó lành, vẫn biết ly nước đổ ra không thể lấy lại hết, nhưng tình yêu sẽ bù đắp tất cả và tình yêu sẽ làm cho tấm gương và ly nước lấy lại sau đó trở nên kỳ thú hơn, ngon lành hơn.

Có bao giờ chúng ta trân trọng nhau cho đúng mức không?  Có bao giờ anh và em cầu nguyện cho nhau rồi nói với Chúa về những lỗi lầm, yếu đuối của nhau chưa?  Có bao giờ bạn và tôi, chúng mình cùng cầu nguyện với nhau để chấp nhận các khác biệt của nhau mà mưu cầu công ích, mà lo cho đại cuộc không?  Đã bao giờ tôi nhìn ra được khía cạnh tốt đẹp của sự khác biệt, để yêu mến những gì “bất thường” nơi anh em, và phát huy những gì “cá biệt” của tôi nhằm hướng tới những điều cao quý hơn chưa?

Xin hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô cầu cho chúng con.

Pr. Nguyễn Đức Thắng