KHOAN DUNG

Bạn thân mến,

Có bao giờ bạn bị lạc mất một món đồ mà phải vất vả đi tìm không?  Lúc chưa kiếm được thì tâm trạng bạn ra sao?  Có bồn chồn nóng nảy, bực mình cay cú không?  Còn khi tìm được rồi thì bạn cảm thấy thế nào nhỉ?  Có thấy vui và nhẹ nhõm không?

Tuần trước tôi để cái thẻ nhớ của máy chụp hình trong chiếc áo khoác ngoài mà quên bẵng đi.  Rồi cứ loay hoay cả buổi đi tìm.  Moi móc từng góc cạnh của căn phòng nhỏ để tìm cho bằng được.  Tìm mãi không ra, cứ ngỡ rằng đã mất, mãi cho đến khi tình cờ đem quần áo đi giặt, lục túi áo mới bắt gặp nó.  Tôi thở phào nhẹ nhõm!

Mất cái thẻ nhớ của máy hình thì tôi có thể mua mấy cái khác thay thế.  Nhưng tôi quyết tâm kiếm cho được vì trong đó có chứa một vài tấm hình phong cảnh tôi chụp ở VN.  Những tấm hình đó có đầy ở trên internet, có khi còn đẹp hơn là hình tôi chụp nữa.  Nhưng đây là những tấm hình quan trọng, có giá trị với tôi nên tôi đã vất vả đi tìm.

zzBài Tin Mừng hôm nay cũng nói lên một tâm tình tương tự như thế.  Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 nói về con chiên lạc, đồng bạc bị mất, và người con đi hoang.  Cả ba dụ ngôn đều nói lên trọn vẹn tâm tình của một Thiên Chúa yêu thương và nhẫn nại.  Cả ba đều diễn tả niềm vui khi tìm được cái đã mất.  Cả ba dụ ngôn đều nhấn mạnh vào hai cụm từ được lập đi lập lại: “mất” (Hy lạp: apollymi) và “tìm đuợc” (heuriskô) và sự  vui mừng khi tìm thấy điều đã thất lạc.

Này nhé, trong dụ ngôn con chiên lạc, ta nghe thấy: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?  Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai.  Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó!’”

Cũng tương tự như thế trong dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, ta lại nghe: Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.”

Và trong dụ ngôn người cha và hai đứa con, ta cũng nghe: Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.  Và họ bắt đầu ăn mừng…  Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

Trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, điểm nhấn là hai dụ ngôn đầu chứ không phải là dụ ngôn thứ ba vốn đã được đọc trong Chúa nhật thứ IV Mùa Chay năm nay.  Ở đây nói lên sự quan tâm của Thiên Chúa cho từng cá nhân.  Lòng khoan dung của Thiên Chúa, chứ không phải thái độ ăn năn thống hối của tội nhân, là đề tài Hội Thánh mời chúng ta cùng suy tư.

Con chiên, đồng bạc và người con thứ bị thất lạc trong những hoàn cảnh khác nhau.  Con chiên đi lạc vì nó không định hướng được với đàn.  Có thể vì nó u mê đi lạc, có thể vì nó ham ăn quên cả đường về, hay có thể vì nó vấp ngã đâu đó, bị cả đàn bỏ lại đằng sau.  Còn đồng bạc không tự mình đi, nhưng có thể nó bị mất vì rơi rớt đâu đó.  Có khi nó bị lẫn lộn trong hàng trăm thứ vật dụng cỏn con.  Nhưng đồng bạc lại không thể kêu lên như con chiên để người chủ đi kiếm.  Nó phải an phận trong bóng tối cho đến khi ai đó tìm thấy được.  Còn người con thứ thì có đủ tự do chọn lựa, nhưng anh ta đã chọn lầm và đã phải trả một giá đắt cho sự sai lầm của mình.  Thông thường chúng ta nghĩ rằng anh ta ra đi vì ham chơi đua đòi, muốn độc lập, hoặc bất mãn với cha mình.  Nhưng biết đâu đó là vì hoàn cảnh mà anh ta phải ra đi.  Có thể vì cuộc sống ở gia đình quá ngột ngạt buồn tẻ, có khi vì bị người anh ganh tị chèn ép.  Dù sao anh ta cũng đã bỏ nhà ra đi, và đối với gia đình làng xóm, anh ta đã thất lạc.

Dù đến từ nguyên nhân nào, sự thất lạc cũng đều gây cho người bị mất mát một nỗi xót xa nuối tiếc.  Một con chiên, có thể là một con chiên nhỏ trong đàn, có đáng giá là bao mà người chăn phải vất vả đi tìm cho kỳ được?  Một đồng bạc, chỉ là một đồng trong chuỗi tiền dùng làm đồ trang sức, có giá trị thế nào để người đàn bà phải đốt đèn quét nhà tìm cho kỳ được?  Phải chăng hai dụ ngôn này cho thấy hình ảnh của mỗi người chúng ta trong ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa?

Từ cấp số 100 đến cấp số 10, Thiên Chúa luôn quan tâm đến từng cá nhân và quý trọng từng người một, như họ là những người duy nhất.  Không phải bởi vì 99 con chiên không lạc mà Ngài bỏ qua một con nhỏ nhoi.  Không phải vì 9 đồng bạc còn đó mà Ngài bỏ mặc một đồng bị rơi vào xó xỉnh nào đó.  Càng tha thiết gắn bó với của bị mất bao nhiêu, thì càng thôi thúc kiếm tìm bấy nhiêu.  Càng quý trọng vật bị mất bao nhiêu, thì càng làm cho nỗi vui mừng thêm chất ngất khi tìm gặp lại bấy nhiêu.

Đó cũng là tâm tình của người cha.  Ông vui mừng khôn tả khi thấy bóng con thất thểu từ đằng xa.  Ông quên hết những ưu phiền sầu muộn, những sỉ nhục dằn vặt mà đứa con thứ đã để lại cho ông khi nó đòi chia của rồi ra đi.  Ông quên hết tất cả.  Ông tha thứ tất cả.  Bây giờ chỉ còn lại trong ông là nỗi vui mừng hoan hỉ vì “con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.”  Niềm hân hoan sung sướng là tiếng cười dòn dã, là lời khoe báo tin vui cho mọi người.

Thiên Chúa của chúng ta là thế đó.  Như lời thánh vịnh mô tả “Ngài chậm giận và chan chứa tình thương.  Ngài không xử với ta như ta đáng tội.  Và không trả cho ta theo giá của ta” (TV 103).

Như người chăn chiên tìm lại được con chiên bị lạc, như người phụ nữ kiếm được đồng bạc bị mất, như người cha mở tiệc, giết bê béo ăn mừng, Thiên Chúa hân hoan vui mừng khi một người con của Ngài ăn năn trở về hơn là bao người lành thánh.  Và Ngài mong ước chúng ta chia sẻ niềm vui này với nhau.  Trong dụ ngôn thứ ba người cha kiên nhẫn mời người anh cả bước vào bàn tiệc để cùng chung vui với cha, với em.

Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 là câu trả lời của Đức Yêsu cho những lời phàn nàn và ganh tị của người Biệt Phái.  Nhưng đó cũng là những lời cảnh tỉnh cho chúng ta hôm nay.  Thông thường mỗi khi phạm tội, chúng ta có khuynh hướng khoan hồng nhân nhượng với chính mình, nhưng lại ít khoan dung với kẻ khác.  Qua ba dụ ngôn này Đức Yêsu nhắc nhở chúng ta về lòng thương xót vô lượng của Thiên Chúa, cho chúng ta và ngay cả cho những người chúng ta không chấp nhận trong cuộc sống của mình – những người mà chúng ta coi là con chiên lạc hay người con hoang đàng.

Trong cuộc sống chúng ta hôm nay có biết bao người sa đọa, lầm đường lạc lối.  Như người con thứ, họ cũng đã phải trả một giá khá đắt cho những sai lầm của họ.  Nhưng liệu chúng ta có sẵn sàng đón nhận họ trở về?  Liệu chúng ta có là những chướng ngại vật ngăn cản họ đến với Chúa Cha?  Liệu thái độ xét đoán và óc phê bình của chúng ta có làm họ chùn bước để trở về với Thiên Chúa qua Hội Thánh?  Liệu chúng ta có tập mở rộng lòng thương xót, đồng cảm để đón nhận họ như người anh chị em cùng một Cha trên trời?

Lòng quảng đại và khoan dung của chúng ta là thước đo mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa.  Chúng ta cần tập lòng khoan dung để có thể đón nhận người anh chị em lầm đường lạc lối với lòng thương xót, như lòng từ bi Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.  Và như thế, chúng ta tiếp tay với Thiên Chúa để chia sẻ sự tha thứ và hoà giải trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng khoan dung với anh em con như Chúa đã khoan dung nhân hậu với con.

Antôn Bảo Lộc

 

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

zzTừ Kinh Thánh cho đến sòng bạc, con số 7 thường được xem là con số may mắn, hoàn hảo và kỳ diệu. Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy tha thứ bảy mươi lần bảy cho những ai lỗi phạm đến mình.  Rõ ràng Ngài có ý muốn bảo chúng ta tha thứ đến vô cùng.  Sách Sáng Thế nói về bảy ngày tạo dựng, Kinh Thánh nói về bảy tổng lãnh thiên thần, và Sách Khải Huyền nói về Bảy dấu niêm phong Mặc Khải.  Kinh Thánh đầy dẫy con số bảy.  Phải mất vài trang để liệt kê ra cho hết.

Những gì có trong Kinh Thánh Kitô giáo cũng có trong các văn hóa khác.  Có bảy phúc thần trong thần thoại Nhật Bản, các Phật tử tin rằng khi mới hạ sinh, Đức Phật bước bảy bước.  Trong đạo Do Thái, có bảy ngày than khóc, buổi giảng kinh hàng tuần cũng được chia thành bảy phần riêng biệt, có bảy phúc lành được đọc lên trong đám cưới Do Thái, tân lang và tân nương mừng hạnh phúc trong vòng bảy ngày, và có bảy cảm xúc căn bản hướng đến Thiên Chúa.  Trong truyền thống Hồi giáo, có bảy thiên đàng bảy thế gian, bảy ngọn lửa trong địa ngục, bảy cửa lên thiên dàng, và bảy cửa xuống địa ngục.

Và còn có nhiều điều có liên hệ với con số 7: Có bảy châu lục trên thế giới, bảy màu cầu vồng, bảy ngày trong tuần, bảy nốt nhạc căn bản, bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng, và bảy thiên thể thấy được bằng mắt thường.  Số bảy là mã điện thoại ở Nga.  Ở Bắc Mỹ, các giải bóng chuyền, bóng rỗ, và hockey chính đều chia cuộc đua vô địch thành loạt bảy trận, và nhiều vận động viên ưu tú chọn số bảy làm con số áo, kể cả Mickey Mantle.  Các sòng bạc cũng rất thích con số 7.  Xếp được một hàng số bảy là cách chơi của rất nhiều trò may rủi.

Chúa Giêsu, Đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, tự nhiên, cách xếp tuần, mã điện thoại của Nga, các giải thể thao chính, Mickey Mantle, và các sòng bạc – và bây giờ là một điều khác nữa!  Chẳng tình cờ khi người ta dùng rất nhiều số bảy:

Ví dụ như chúng ta có đủ kiểu số bảy trong thần học và trong giáo hội:

Thần học Kitô giáo nói về bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Hiểu biết, Lo liệu, Sức mạnh, Thông minh, Đạo đức, và Kính sợ Thiên Chúa.  Về Bảy mối tội đầu: Kiêu ngạo, Ghen tỵ, Giận dữ, Biếng nhác, Tham lam, Ham ăn, và Dâm dục; cũng như về bảy nhân đức tương ứng: Khiêm nhường, Rộng rãi, Nhẫn nhịn, Siêng năng, Nhân từ, Tiết độ, và Trong sạch.  Giáo hội cũng nói về bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”; “Thật, ta bảo thật, hôm nay, ngươi sẽ được ở cùng ta trên thiên đàng”; “Lạy Cha, con xin phú linh hồn trong tay Cha”; “Thưa bà, này đây là con bà… Đây là mẹ con”; “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”; “Ta khát”; “Mọi sự đã hoàn tất”.

Mohandas Gandhi cũng nói về bảy Tội lỗi của xã hội: Chính trị không nguyên tắc, không làm mà có ăn, buôn bán vô đạo đức, hưởng lạc vô lương tri, tri thức thiếu nhân cách, khoa học thiếu nhân đạo, và tôn kính Thượng đế mà không chịu hy sinh.  Và về điều này, Công giáo La Mã cũng đã có Bảy Luận đề về Huấn Giáo Xã hội của Giáo hội Công giáo: Mạng sống và phẩm giá con người; yêu cầu đối với gia đình, cộng đồng, và bổn phận; quyền và trách nhiệm; chọn người nghèo và người cô thế; giá trị của lao động và quyền của người lao động; tình đoàn kết; và chăm lo cho những gì được Thiên Chúa tạo dựng.

Giáo hội Công giáo La Mã có Bảy Bí tích: rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh, và hôn phối.  Bảy Việc thương người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ cơ nhỡ trú ngụ, thăm viếng người ốm, thăm viếng tù nhân, và chôn xác kẻ chết.  Và kèm theo là Bảy Việc thương người phần hồn: Sửa dạy kẻ ngu muội, lấy lời lành mà khuyên người, răn bảo kẻ có tội, nhịn kẻ mất lòng ta, tha kẻ dễ ta, yên ủi kẻ âu lo, và cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Hơn nữa, Giáo hội Công giáo La Mã còn tôn kính Bảy sự thương khó Đức Mẹ: Lời tiên tri của ông Simeon, chạy nạn đến Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu trong đền thánh, gặp Chúa Giêsu trên đường Núi Sọ, Chúa Giêsu chết trên thập giá, nhận xác Chúa Giêsu trong tay, chôn cất Chúa Giêsu vào huyệt đá.

Và tất nhiên, vẫn chưa hết, chúng ta còn có Bảy Kỳ quan thế giới, dù bây giờ người ta đang tranh cãi nhau xem chính xác nên chọn cái nào làm kỳ quan: Một số đồng ý với danh sách cũ, Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, số khác lại ủng hộ Bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, số khác lại nói về Bảy kỳ quan của thế giới Đương đại, và số khác nữa lại nhất quyết rằng những kỳ quan thật sự của thế giới này được dựng nên bởi tự nhiên và liệt kê ra Bảy kỳ quan Tự nhiên của thế giới.

Vậy đâu là danh sách xác đáng đây?  Những cái nào mới đúng là Bảy kỳ quan thế giới?

Gần đây trên Internet có xuất hiện câu chuyện thế này:  Một giảng viên yêu cầu các học sinh nêu tên Bảy kỳ quan thế giới.  Một số, chắc chắn có nhờ vào các phương tiện điện tử, nhanh chóng đưa ra những danh sách khác nhau.  Tuy nhiên, một cô gái trẻ, không dùng đến những tìm kiếm trên mạng như thế, đã tự viết ra danh sách của mình.  Bảy kỳ quan thế giới, theo kết luận của cô là:  NHÌN, CẢM, NẾM, NGỬI, SỜ, THỞ và YÊU.  Tôi tin rằng, danh sách đó, thắng vượt tất cả mọi danh sách khác và chứa đựng đủ tất cả bí tích thiêng liêng.

Fr. Ron Rolheiser

CỤC ĐẤT SÉT CỦA CHÚA

Khiêm nhường là sự tĩnh lặng hoàn toàn của con tim.  Đó là không mong đợi gì, không tự hỏi điều gì đã thực hiện ở nơi tôi, hoặc cảm nghiệm điều gì chống đối tôi.  Khiêm nhường là vẫn yên nghỉ khi không ai lên tiếng ca ngợi tôi, và khi tôi bị đổ lỗi hoặc bị khinh thường.  Nhưng chỉ có một nơi ẩn náu trong Chúa, nơi mà tôi có thể bước vào, đóng cửa lại, và quỳ xuống trước mặt Cha của tôi trong nơi bí ẩn đó, và tôi ở trong bình an như đang ở trong sự tĩnh lặng của biển sâu dầu xung quanh và trên tôi đầy những xáo trộn. – Andrew Murray 

Ông Booker T. Washington được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh của một người nô lệ da đen, và khi ông lên chín tuổi thì gia đình ông được trả lại sự tự do.  Từ đó, ông đã cố gắng hết mình để đi học và được tốt nghiệp đại học.  Sau này ông trở thành một người giáo dục nổi tiếng và là người tư vấn cho tổng thống Mỹ.  Chuyện kể rằng một buổi sáng nọ, khi ông còn là chủ tịch của trường Đại Học Tuskegee Institute ở tiểu bang Alabama, ông đang đi dạo thì có một bà Mỹ da trắng hỏi ông có muốn chặt củi để kiếm thêm ít tiền không.  Ông Booker nhận lời và khiêm nhường xắn tay áo làm việc đã được mướn.  Khi củi đã được chặt và sắp ngăn nắp ở cạnh lò sưởi, thì đứa cháu gái chạy ra và nhận ra người chặt củi là ai.  Sáng hôm sau người bà da trắng đó đã đến gặp ông tại trường và xin lỗi, nhưng ông chỉ trả lời là “Tôi thích được có cơ hội làm việc lao động”.  Hành động đó đã đánh động bà và bà đã kêu gọi những người thân bảo trợ cho ngôi trường đó và họ đã ủng hộ rất nhiều.

zzTrong chương hai của sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta từ cát bụi, và mỗi một người chúng ta là cục đất sét của Chúa từ ban đầu cho đến lúc chúng ta trở về với Ngài trong tro bụi.  Đó là điểm mà ai cũng biết và chấp nhận nhưng có bao giờ bạn thắc mắc tại sao nó lại là như vậy khi mà Thiên Chúa cho mỗi người một nét rất riêng biệt và những tài năng khác nhau không?  Bạn có nghĩ rằng điều phù hợp hơn cho cục đất sét là khi nó dùng những tài năng mà Chúa ban cho để làm cho chính nó được đẹp hơn để rồi khi nó trở về với Ngài cục đất sét ấy được biến đổi thành một cái gì khác lạ hơn không?  Chẳng hạn, nơi một vị linh mục thì cục đất sét đó được biến thể và trở thành sợi dây Stola, người nữ tu thì được biến thể và trở thành chiếc áo dòng, vị bác sĩ thì trở thành ống nghe để chẩn bịnh (stethoscope), người luật sư thì trở thành cán cân công bình, v.v…  Có lẽ nhiều người chúng ta nghĩ như vậy là chúng ta nên tô điểm con người chúng ta, làm được nhiều việc ích lợi và sinh lợi trước khi chúng ta trở về với Chúa.  Chúng ta thường nhắm đến thành tích chúng ta đạt được trong đời để khi nhắm mắt xuôi tay chúng ta cảm thấy tự hào và không hổ thẹn trước mặt Chúa.

Tuy nhiên một sự thật chúng ta nên chấp nhận đó là những gì chúng ta đạt được hay gây dựng không thuộc về chúng ta.  Những nén bạc chúng ta sinh lợi không thuộc về mình mà thuộc về Thiên Chúa và tùy Ngài chọn lựa.  Chúng ta không thể là người tự trang điểm cục đất sét của mình mà phải đích tay Chúa nhào nắn chúng ta theo ý Ngài (Tiên tri Giêrêmia có nhắc đến hình ảnh này ở chương 18:1-6). Ngay từ ban đầu khi tạo dựng chúng ta từ bụi đất, Thiên Chúa muốn chúng ta trở về với Ngài cục mịch và thô sơ như cục đất sét nguyên thủy.  Giáo Hội cũng nhắc nhở chúng ta điều đó vào thứ Tư Lễ Tro là chúng ta là bụi tro và sẽ trở về bụi tro.  Đó là điều thực tế nhất của mỗi con người của chúng ta và đó cũng chính là hình ảnh đẹp hoàn hảo nhất của tạo dựng – hoàn toàn buông thả tất cả trong bàn tay của Thiên Chúa.  Như vậy thì Thiên Chúa muốn gì nơi mỗi người chúng ta và Ngài muốn chúng ta làm gì với những nét riêng biệt và tài năng khác nhau ấy?

Để trả lời câu hỏi trên có lẽ chúng ta hãy cùng nhau trở lại câu chuyện của ông Booker T. Washington. Ông sanh ra là một người da đen và bà Mỹ da trắng nhìn ông bằng một cái nhìn chất phác nhất của một người da trắng đối với người da đen thời bấy giờ, đó là họ là những người lao động tay chân, và bà chân thành hỏi ông giúp việc nếu ông muốn kiếm thêm chút tiền.  Với câu chuyện này, chúng ta có thể dựng nên hai bối cảnh khác.  Bối cảnh thứ nhất, ông có thể trở nên giận dữ và lên án bà là người kỳ thị và bước đi chỗ khác với một con tim tức giận.  Bối cảnh thứ hai là ông có thể lịch sự nói cho bà ông là vị chủ tịch của một trường đại học và tiếp tục bước đi.  Trong cả hai bối cảnh đó, câu chuyện chỉ dừng lại nơi ông và chẳng phát triển thêm được gì.  Nhưng chính nhờ vào sự khiêm nhường mà ông đã để cho bà Mỹ da trắng thấy ông như những người lao động da đen mà câu chuyện này được tồn tại và là một bài học cho chúng ta bây giờ.

Có lẽ trong sự tạo dựng của Thiên Chúa, Ngài muốn chúng ta không chỉ là cục đất sét lúc tạo dựng và lúc trở về với Ngài, nhưng Ngài muốn chúng ta luôn luôn là một cục đất sét thuần túy hầu mọi công việc chúng ta làm không phải để tô điểm cho cục đất sét được đẹp hơn hay biến thể cục đất sét ấy thành một cái gì khác, nhưng là để tô điểm cho công trình tạo dựng của Ngài được hoàn hảo và được tồn tại.  Hơn nữa, có lẽ Thiên Chúa cũng chẳng muốn chúng ta phải lo lắng và phải tô điểm cục đất sét như thế nào để cho nó được đẹp hơn hoặc được biến thể thành một cái gì đó lớn lao hơn khi trở về với Ngài, hay phải bận tâm về cái nhìn hoặc sự đánh giá của người khác, nhưng Ngài chỉ muốn chúng ta sống với Ngài trong bình an và cảm nhận với tất cả con tim rằng chúng ta là cục đất sét yêu quý của Ngài.

Ước gì chúng ta biết ngồi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày để Ngài nâng niu và nhắc nhở chúng ta về cục đất sét mà Ngài luôn luôn yêu quý.  Xin Ngài dạy cho chúng ta biết khiêm nhường buông thả những bận tâm về việc trang điểm cho cục đất sét được đẹp hơn, được coi trọng hơn, được thánh thiện hơn, nhưng luôn biết sống bằng an trong Ngài và biết nhận ra sự hư không của chính mình hầu chúng ta thật sự là một ống máng trống rỗng để qua đó Ngài tô điểm cho công trình tạo dựng của Ngài được hoàn hảo hơn.  Amen!

Củ Khoai

MỒ HÔI, NƯỚC MẮT VÀ MÁU 

zzTrong thời Chúa Giêsu, giấc mơ của những nông gia nghèo hèn ở Pa-lét-tin là có được một tháp canh trên phần đất sở hữu của mình.  Trong mùa gặt, họ có thể ở trên tháp canh, coi chừng những kẻ xâm phạm cùng những súc vật và như thế, bảo đảm hoa màu của mình khỏi bị thất thoát.

Những người nghe Chúa Giêsu nói lúc bấy giờ đều hiểu giá trị của cây tháp canh như thế nào.  Họ hiểu thật ngớ ngẩn khi bắt đầu xây cất mà trước tiên không tính toán sở phí.  Người nông gia khởi công xây cất mà hết tiền, khi nền móng vừa xây xong, sẽ làm trò cười cho biết bao người trong cộng đồng địa phương.

Tính toán sở phí 

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để diễn tả như sau: Trước khi các bạn theo tôi, hãy suy nghĩ cho kỹ, tính toán hơn thiệt.  Tôi không chút nghi ngờ là bất cứ ai khi nghe đoạn Phúc Âm nầy mà không cảm kích sâu xa về sự lương thiện tuyệt đối của Chúa Giêsu.  Ngài không bao giờ do dự nói rõ ràng là người ta trông đợi điều gì khi theo Chúa Giêsu.  Ngài nói rõ hết ý định của Ngài, không chút giấu diếm

Ngoài ra, Chúa Giêsu không bao giờ tẩy não bất cứ ai.  Trái lại, Ngài đã mô tả việc theo Ngài bằng những ngôn từ có tính cách thực tế và ai cũng có thể hiểu được: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 27).

Nói rõ hơn, Ngài truyền dạy: Hãy vác thánh giá mình và theo Ngài.  Ngài không bao giờ tự áp đặt mình lên trên người khác nhưng luôn luôn dành chỗ cho họ chọn lựa và ngay cả khước từ nữa.

Một người chơi đàn piano nổi danh trong các buổi trình diễn đã trả lời một cuộc phỏng vấn trên vô tuyến truyền hình về những sự hy sinh cần thiết phải có để đạt tới sự thành công trong nghề nghiệp: “Khi người ta quyết định hy sinh cuộc đời cho âm nhạc, người ta không bao giờ ngó lui đằng sau.  Người ta chỉ nói một cách đơn giản như sau: Ngoài âm nhạc ra, không có gì hết.”  Thật hấp dẫn và cũng đầy hứng khởi.

Điều đó không khác với những đòi hỏi của Chúa Giêsu.  Người ta không thể có cuộc sống mà không đau khổ.  Điều đó rất chính xác đối với mọi cuộc sống.  Mọi tiến bộ y khoa xem ra phải trải qua sức ép của khổ đau.  Chim cần sức đề kháng của gió để bay tới và bay cao.  Cá cần sức đề kháng của nước để dùng vây bơi tới như những mái chèo.

Kitô hữu cần thánh giá. “Không đau khổ, không tiến bộ” không phải là một thành ngữ vu vơ. Kitô giáo dành cho những người mang con tim quả cảm, không phải cho những người giỏi giang lúc ban đầu nhưng không giỏi giang đến phút cuối, giống như những người được nhắc tới trong đoạn Phúc Âm nầy đã khởi công xây cất nhưng không thể hoàn thành được.

Khi cố công dùi mài, người ta có thể thất bại nhiều lần, nhưng mỗi lần ngã xuống, người ta chỗi dậy và bắt đầu lại.  Cụm từ “bỏ cuộc” không có trong ngôn ngữ Kitô giáo.

Đôi khi chúng ta hiểu tại sao Chúa đã dựng nên cuộc sống khó khăn như thế.  Một em bé không thích rau cải đã hỏi người mẹ: “Tại sao Chúa đã để vitamin trong rau cải mà không để trong kem lạnh?”  Bà mẹ trả lời: “Mẹ lo sợ là cuộc sống cũng giống như thế đó!

Vẻ đẹp còn lại  

Hai họa sĩ người Pháp là Henry Matisse và Auguste Renoir là đôi bạn tri âm, mặc dù Renoir lớn hơn Matisse hai mươi tám tuổi.  Trong những năm cuối đời, Renoir gần như bị co quắp vì chứng viêm khớp.  Tuy nhiên Renoir vẫn vẽ mỗi ngày và khi những ngón tay không còn mềm mại đủ để cầm cây cọ cho đúng, Renoir và bà vợ là Alice đã buộc cây cọ vào bàn tay ông để ông có thể tiếp tục hội họa.

Matisse thăm viếng ông hằng ngày.  Một bữa kia, khi nhìn bạn mình co rúm lại hết sức đau đớn mỗi khi phết lên một nét tô màu, anh hỏi: “Auguste ơi, sao bạn còn tiếp tục vẽ khi bạn đang ở trong tình trạng hấp hối như thế?” Renoir đáp lại ngay: “Vẻ đẹp còn lại, sự đớn đau qua đi.

Sự đam mê nghệ thuật đã chế ngự sự đau đớn của Renoir và làm cho ông có thể hội họa cho tới ngày lìa đời.  Những ai còn tiếp tục say mê ngắm nhìn vẻ đẹp lưu lại trên những bức tranh rạng rỡ của ông, những phong cảnh ông vẽ ra, những nét sống tĩnh lặng của hoa quả trong các bức tranh… sẽ không tìm thấy dấu vết của sự đớn đau đòi hỏi phải có để sáng tạo ra chúng.  Nhưng mọi người đều đồng ý là cái giá phải trả thật xứng đáng.

Thật đáng giá

Chúa Kitô đã hứa hẹn với các môn đệ không phải là mẩu-bánh-trên-trời khi họ nhắm mắt, nhưng là thánh giá.  Nếu người ta lấy thánh giá ra khỏi Kitô giáo, người ta sẽ giết chết tôn giáo đó không chút tiếc thương.

Nếu chúng ta không cảm thấy bị dằn vặt, dày vò thì chúng ta chưa nhận được sứ điệp của Phúc Âm.  Chúa Kitô đã quả quyết với chúng ta là nếu chúng ta lưu lại với Ngài thì Ngài và chúng ta cùng nhau sẽ làm nên đại cuộc, chúng ta sẽ xây nên những tháp canh lớn.  Chúa Giêsu luôn đòi hỏi nhiều hơn, chứ không bao giờ ít hơn.

Là những Kitô hữu, chúng ta đang đi theo một vị lãnh đạo bị đóng đinh.  Ngài vẫn ở với chúng ta trên mỗi bước đường đời như là bạn đồng hành của chúng ta.  Khi chúng ta đi tới đoạn cuối hành trình, Ngài đoan hứa là sẽ đưa tay ra chào đón chúng ta.

Đức Hồng Y John Henry Newman đã nói lên những ngôn từ thật tuyệt vời: “Khi cơn sốt cuộc sống qua đi và công tác của chúng ta đã làm xong, Ngài sẽ cho chúng ta một chỗ ở an toàn, một nơi nghỉ ngơi linh thánh và cuối cùng được bình an.”  Đau khổ mà chúng ta đã chịu đựng trên đường đời thật đáng giá!

LM Vincent Travers, OP – Hương Vĩnh chuyển ngữ

 

ANH ĐI TU NHÉ!

Cứ đến hẹn lại lên, ngoài kia những cơn gió bấc đã bắt đầu ùa về, kéo theo cái lạnh lẽo của một mùa đông buốt giá.  Những chiếc lá đã bắt đầu phải lìa cây, từng hàng cây sau vườn đã trở nên trơ trọi. Đầu ngõ, cuối xóm đã trở nên vắng vẻ hơn, cái mùa này ai cũng muốn ở trong nhà chùm kín cái chăn bông lên mình tìm kiếm sự ấm áp.  Thế nhưng, điều tuyệt vời mà  Đấng Tạo Hóa ban tặng cho chúng ta đó là những mầm non xanh tươi trổ sinh vào mùa xuân tới ngay sau đó.  Đấy là những hồi ức của anh về những mùa đông ở nơi miền quê thân yêu của chúng ta.

Em!

Giờ này, nơi ấy chắc là những cơn gió bấc đã về rồi phải không em?  Chẳng biết mùa đông năm nay có lạnh lắm không?  Chẳng biết những cơn gió mùa này có làm em thấy se lòng?  Nơi ấy, em còn giữ thói quen thưởng thức một ly trà nóng mỗi buổi sáng mùa đông không em?  Nơi ấy, giờ không có anh.

Em biết không, ở nơi này không có những cơn gió bấc, cũng không có cái lạnh đến tê tái người.  Nơi này, không có ai viết những lá thư tình ngọt ngào ru anh vào giấc ngủ mỗi ngày.  Mỗi buổi sáng, cũng không thể nào có tiếng chuông điện thoại ấm áp buổi sớm mai chỉ để đánh thức con mèo lười còn ngái ngủ là anh.  Nơi này, vắng bóng em.

Em có còn nhớ không…?  Giấc mơ mà anh đã cố gắng đi trên một hành trình.  Giống như chú bướm bị thu hút bởi những bông hoa rực rỡ hai bên đường.  Anh cũng mải mê theo đuổi những điều kỳ thú hai bên đường để rồi khi anh giật mình nhìn lại thì những “bạn đường” của anh đã đi về đích trong cuộc sống của họ.  Lúc đó anh hốt hoảng nhận ra rằng anh chưa kịp hỏi mọi người địa chỉ nơi mà anh cần đến.  Anh đã rất hốt hoảng khi anh không biết nơi anh cần phải về là đâu?  Đó như là một cơn ác mộng với anh, em à!

Em biết không, ngày ra đi anh đã nghĩ rất nhiều về giấc mơ đó.  Anh đã hiểu vì sao nó cứ hiện lên trong giấc ngủ của anh, rất nhiều lần trong những tháng ngày qua.  Anh đã hiểu rằng vì sao khi yêu em, anh không thể tìm được cảm giác “yên bình” trong tâm hồn mình, vì sao ở bên em anh không cảm thấy rằng mình là người hạnh phúc, vì sao ở bên em anh không thể là chính bản thân mình…  Có lẽ, bởi vì bên cạnh em có quá nhiều người và quá nhiều thứ chứ không chỉ riêng mình anh.  Những toan tính về cuộc sống của em đã làm em trở nên một con người bận rộn.  Bây giờ, anh đã hiểu những điều anh đeo đuổi hai bên đường trong cuộc hành trình hão huyền không điểm kết của anh chính là em.

Ngồi nơi đây xem lại những tấm hình ở quê nhà, những nỗi nhớ vô duyên bỗng từ nơi xa xăm nào đó ùa về, tràn qua vòm cây kẽ lá, hững hờ khẽ rơi xuống tâm trí của anh.  Giữa đất trời mênh mông nỗi nhớ bỗng như nước sông mùa lũ chảy tràn vào trong tâm trí anh không thể nào ngăn được, những nỗi nhớ không vâng lời đã tìm về với anh…  Đó là những phút không “bình yên” của tâm hồn anh nơi cái miền quê cách xa em hơn một ngàn cây số này.  Ngồi đây một mình, anh nhớ lại những điều mà anh đã “mơ ước” khi còn ở bên em.  Anh đã ước rằng em chỉ là một người thật bình thường để anh cũng có thể là một người con trai bình thường bên cạnh em, anh ước rằng mình có thể sống thật là chính mình để có thể làm những điều tưởng chừng thật đơn giản, nhưng điều đó lại là quá sức nếu cứ phải ở bên em.

zzCuộc sống của anh bây giờ là những giờ kinh phụng vụ “sáng, chiều”; là những chuỗi kinh Mân Côi; là những giờ học tu đức, là những giờ học kiến thức xã hội; là chuỗi những tiếng cười không biết mỏi; là những tách café buổi sáng… Và em biết không, lúc này ở bên cạnh Chúa và bên những người bạn trẻ trung sôi nổi này, anh có được những giấc ngủ dài không thắp thỏm âu lo.

Nhiều khi, anh cảm thấy hối tiếc vì sao mình lại đi tìm những điều giản dị ấy ở một nơi xa lạ với mình trong từng ấy năm.  Người ta thường nói yêu một ai đó là sẽ không bao giờ hối tiếc, nếu hối tiếc có nghĩa là bạn chưa yêu người ta mà đó chỉ là một tình cảm tương tự như tình yêu mà thôi.  Anh không biết có phải mình đã ngộ nhận về những tháng ngày ấy không?  Nhưng có một điều anh chắc chắn, chúng ta là những con người ở những thế giới khác biệt, em là một ngôi sao trên bầu trời của sự thành công, còn anh không bao giờ có thể rướn mình lên để chạm tay tới vì sao đó được.

Và anh tin, anh tin mình đúng khi quyết định ra đi, anh tin mình đúng khi từ bỏ ước mơ chạm tới “ngôi sao” đó để tới nơi này.  Tới bến bờ của sự bình yên với con sông hiền hòa vỗ về, để mong quên đi tháng năm bơ vơ một mình giữa phố đông xa lạ.  Anh đã chọn lựa đúng khi buông tay em để trở về là chính anh, bình thường và giản dị.

Những kỷ niệm xưa rồi cũng như những cơn gió thoảng đi.  Thỉnh thoảng nghĩ về những kỷ niệm xưa cũng làm cho anh thấy cuộc đời còn có biết bao điều thú vị.  Anh nghĩ rằng những kỷ niệm giúp cho người ta biết rằng cuộc đời có những niềm vui, và để ta có thể nhìn lại những dấu chân mà mình đã từng đi qua.  Không bao giờ là quá trễ để thực hiện điều mình ao ước phải không em?  Cầu nguyện cho ước mơ đi trên con đường dâng hiến của anh, em nhé!

DomStone

 

VÀ TÔI ĐÃ BẬT KHÓC…

Tôi đã không bật khóc khi được biết con tôi là một đứa trẻ bị bệnh tâm thần.  Tôi vẫn ngồi im và không nói gì khi vợ chồng tôi được thông báo rằng Kristi đứa con hai tuổi của chúng tôi – đúng như chúng tôi đã nghi ngờ – thật sự bị chậm phát triển trí não.  “Cứ khóc đi,” bác sỹ khuyên tôi thân ái. “Nó giúp tránh được các khủng hoảng về tâm lý.”

Những khủng hoảng tâm lý không xảy ra, tôi không thể khóc trong những ngày tháng tiếp theo.  Chúng tôi đăng ký cho con vào trường mẫu giáo khi cháu được bẩy tuổi.  Thật dễ bật khóc khi tôi để con mình ở lại trong căn phòng toàn những đứa trẻ năm tuổi đầy tự tin, háo hức, nhanh nhẹn.  Kristi đã chơi một mình ở nhà rất nhiều giờ, nhưng vào bữa đó, khi cháu là đứa khác biệt hẳn giữa hai mươi đứa trẻ khác, có lẽ lúc đó là lúc cháu nó cảm thấy cô đơn nhất.

Mặc dù vậy, những điều tốt đẹp hơn cũng dần dần tới với Kristi và những bạn cùng lớp của cháu.  Khi khoe về mình, những đứa bạn của Kristi cũng cố gắng khen thêm: “Hôm nay Kristi đã đọc tất cả các chữ chính xác.”  Không đứa trẻ nào nói thêm rằng những chữ mà Kristi phải đọc dễ hơn nhiều so với các bạn khác.  Trong năm thứ hai ở trường, cháu nó gặp một trường hợp rất khó khăn.  Một cuộc thi lớn cho học sinh về năng khiếu âm nhạc và thể thao.  Kristi lại rất kém về âm nhạc và khả năng vận động.  Vợ chồng chúng tôi cũng rất sợ khi nghĩ đến ngày đó.

Hôm đó, Kristi tính giả bộ bệnh.  Tôi cũng muốn liều để cho cháu ở nhà.  Tại sao phải để cho Kristi thua trong một phòng thể thao ngập những phụ huynh, học sinh và thầy cô giáo?  Cách giải quyết đơn giản nhất là để cháu ở nhà.  Chắc chắn rằng vắng mặt trong một chương trình như vậy cũng không có vấn đề gì xảy ra.  Nhưng lương tâm tôi không cho phép tôi đầu hàng dễ dàng như vậy.  Và cuối cùng thì tôi phải đẩy Kristi – lúc đó đã tái nhợt và rất miễn cưỡng – lên xe học sinh và chính tôi lại giả bộ bệnh.

Nhưng một khi tôi đã ép con gái mình tới trường, thì tôi cũng phải ép mình tới tham gia chương trình. Dường như thời gian kéo dài tới vô tận khi chưa tới nhóm của Kristi trình diễn.  Cuối cùng thì chúng cũng tới lượt, khi đó tôi biết Kristi rất lo sợ.  Lớp của cháu được chia thành từng nhóm.  Với những động tác ì ạch, chậm chạp và lóng ngóng, chắc chắn cháu sẽ làm đội kém điểm.

Cuộc thi đấu lại diễn ra rất suông sẻ một cách đáng ngạc nhiên, cho đến khi cuộc thi chạy trong bao tải. Mỗi đứa trẻ phải nhảy vào trong bao từ tư thế đứng, ôm bao nhảy đến đích, quay vòng lại nơi xuất phát và nhảy ra khỏi bao.  Tôi thấy Kristi đứng gần cuối hàng và trông có vẻ hoảng loạn.

Nhưng khi gần tới lượt Kristi, có một thay đổi trong đội của cháu.  Cậu con trai cao nhất trong đội đứng ra sau Kristi và đặt hai tay lên eo của cháu.  Hai đứa con trai khác đứng lệch ra phía trước của cháu.  Khi đứa trẻ trước Kristi nhảy ra khỏi bao, hai đứa con trai đằng trước giữ bao trong khi đứa con trai đằng sau nhấc Kristi lên và đặt cháu chính xác vào trong bao.  Đứa con gái đứng đằng trước Kristi giữ tay cháu và giúp cháu giữ thằng bằng.  Cuối cùng cháu cũng bắt đầu nhảy, mỉm cười và tự hào.  Giữa tiếng zzhoan hô cổ vũ của các giáo viên, học sinh và phụ huynh, tôi đã cảm ơn trời vì những con người tốt bụng kia có mặt trong cuộc đời đã giúp cho đứa con gái khuyết tật của tôi có thể cảm thấy mình như là một con người thật sự.

Và tôi đã bật khóc.

Sưu tầm

AI HẠ MÌNH XUỐNG SẼ ĐƯỢC TÔN LÊN

Nếu cuộc đời là một bữa tiệc, hẳn có nhiều thực khách đã chọn chỗ nhất mà ngồi. Tôi chọn ngồi chỗ nhất vì tôi thấy mình quan trọng, tôi xứng đáng được hưởng vinh dự đó…

Tiếc thay, không có nhiều chỗ nhất trong bữa tiệc cuộc đời, nên người ta phải tranh giành nhau bằng mọi thủ đoạn để chiếm được và giữ được chỗ nhất cho mình.

Những cuộc tranh giành như thế đâu phải là điều xa lạ.  Chúng vẫn diễn ra nơi gia đình, trong cộng đoàn, trong nhóm, trong giáo xứ, giữa các quốc gia… Nơi nào có hai người ở với nhau là có thể có đụng chạm, vì chỉ có một chỗ nhất.

Giữa một thế giới tự cao tự đại, rồi xâu xé nhau, Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống tự khiêm, tự hạ. Nhiều khi chúng ta hiểu sai về khiêm nhường.

–  Khiêm nhường không phải là khinh rẻ bản thân, cũng không phải là thụ động, không dám nhận trách nhiệm, trách nhiệm làm người ở đời và làm con Thiên Chúa.

–  Khiêm nhường lại càng không phải là một mặt nạ để lôi kéo sự chú ý của người khác: tôi hạ mình xuống để được tôn lên.

Abraham là một mẫu gương khiêm nhường.  Ông ý thức mình chỉ là tro bụi (Kn 18,27), nhưng ông đã dám mạnh dạn mặc cả với Đức Chúa về số người công chính, đủ để cứu thành Sôđôma.  Giêrêmia đã từ chối làm ngôn sứ, lấy cớ mình còn trẻ người non dạ (Gr 1,6). Nhưng khi ông dám nhận trách nhiệm Chúa trao, thì ông trở thành khiêm tốn và can đảm.

zz–  Nhiều người định nghĩa khiêm nhường là chấp nhận sự thật. Nhưng chấp nhận sự thật là điều khó biết bao, vì sự thật đòi tôi xét lại cách sống.

–  Khiêm nhường là nhận biết thân phận thụ tạo của mình: những gì tôi có và cả con người tôi, đều bởi Chúa.

–  Khiêm nhường là đón nhận đời mình như quà tặng Chúa ban, và dâng lại đời mình cho Chúa như một quà tặng.

–  Khiêm nhường cũng là nhìn nhận sự thật về mình: tôi chưa hoàn hảo, tôi có nhiều giới hạn, tôi cần được tha nhân nâng đỡ, góp ý… Tha nhân ấy không phải chỉ là người trên tôi, mà còn có thể là người kém tôi hay chẳng ưa tôi.

Nơi lời chỉ trích, tôi gặp được khá nhiều sự thật.

Nếu tôi khiêm hạ trước người khác, tôi sẽ thấy được nhiều ưu điểm bất ngờ của họ.  Những ưu điểm này không phải là mối đe dọa cho tôi nhưng là quà tặng làm tôi thêm phong phú.

“Xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.”Càng biết, chúng ta càng khiêm nhường thẳm sâu. Thánh Phanxicô Borgia viết: “Tôi thực tâm muốn đặt mình ở dưới Giuđa, vì tôi đã thấy Đức Giêsu ngồi dưới chân anh ấy.

Nếu chúng ta chọn ngồi ở chỗ cuối, thì chỉ vì đó là chỗ ngồi quen thuộc của Đức Giêsu.

*****************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.  Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Trích từ ‘Manna’

 

THINH LẶNG

zz“Những đan sĩ phải siêng năng trau dồi thinh lặng trong mọi lúc.”

Thinh lặng là mẹ của Thần Khí.  Nó nảy nở trong chúng ta một đan viện của tâm hồn.  Nó mang chúng ta ra khỏi tiếng ồn ào từ sự hỗn độn, huyên náo, và mơ hồ của một thế giới quay cuồng và đưa chúng ta đến một trọng tâm trầm tĩnh, lắng đọng của một bản chất thiêng liêng.

Tại trọng tâm này thinh lặng cho chúng ta nghỉ ngơi.  Ở đó Chúa làm việc trong ta, giũ sạch trong con tim chúng ta những ý nghĩ, nỗi đau, ao ước, đòi hỏi, tiếng la hét tựa như một đứa trẻ đòi được để ý và những điều ấy tách rời chúng ta khỏi con người tốt đẹp của chúng ta.

Trong thinh lặng, chúng ta học lắng nghe những người khác cũng đang tìm kiếm Thiên Chúa trong một đan viện của tâm hồn, để nghe những nỗi đau và sự khôn ngoan của họ, những kinh nghiệm của họ và sự thật trong con người họ, để từ đó đưa sự khôn ngoan của chúng ta ra ánh sáng, đặt vấn đề và phát triển nó.

Chính thinh lặng kiềm chế chúng ta khỏi ước muốn luôn sẵn sàng xuất phát những ý tưởng trống rỗng và những bình luận ác nghiệt từ con người ích kỷ của chúng ta.

Luật [Thánh Biển Đức] dạy rằng, “Có câu chép rằng, trong lúc thao thao bất tuyệt anh sẽ không tránh được sự tội.”

Chúng ta được đòi hỏi, mời gọi, để từ bỏ những thoả mãn quá thường tình nơi những chuyện thế tục khi mà chúng ta có những bắt bẻ sắc bén, những phê bình chanh chua, những cám dỗ không thành thật, và những điều này thường đi kèm với những lời nói ba hoa trống rỗng thiếu suy tư, những lời nói lãng phí đi chiều sâu của cuộc sống.

Trong Đan Viện của Tâm Hồn, chúng ta được thách thức để thay thế tất cả những tư tưởng trống rỗng bằng chiều sâu của sự suy niệm, sự thanh thản của ý nghĩ, và sự sáng tỏ của hiểu biết sâu sắc mà qua đó chính sự thinh lặng lại mang đến sự thức tỉnh cho một linh hồn đang mong mỏi sự thinh lặng đó đến – trong thinh lặng.

Thinh lặng che chở chúng ta khỏi sự ồn ào của chính mình và chuẩn bị chúng ta cho công việc của Chúa nơi chúng ta.

Trong thinh lặng, chúng ta hiểu được chính mình.

Trong thinh lặng chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa mời gọi chúng ta vượt lên chính chúng ta, để luôn hướng tới cái gì tốt hơn và hơn thế nữa.

Điều cốt yếu là trong Đan Viện của Tâm Hồn, không gian dành cho sự thinh lặng được trân quý và giữ gìn, được tìm kiếm và làm cho linh thiêng, khiến cho đời sống thiêng liêng có thể phát triển và hưng thịnh nơi chúng ta, nếu không trong chúng ta chỉ có cỏ lùng bén rễ bằng những lời nói trống rỗng mà thôi.

Trong cuộc sống của chúng ta, khi chúng ta dành chỗ cho sự thinh lặng, chúng ta có thời gian  để chữa lành những gì hãy còn âm ỉ nung nấu và đang ẩn nấp ở một chỗ nào đó trong ta mà đôi khi ngay cả chính chúng ta cũng không biết, nhưng sức mãnh liệt của những nung nấu âm ỉ này có khả năng thiêu rụi linh hồn chúng ta với nọc độc của nó theo thời gian.

Như Luật nhắc nhở chúng ta, “Có câu chép rằng, “Cái lưỡi nắm giữ chìa khoá cho sự sống và sự chết.”

Thinh lặng là một lá chắn giúp chúng ta thoát khỏi những thúc đẩy bồng bột khiến chúng ta ngăn cản những thay đổi, hay loại bỏ những thách đố mới, hay bác bỏ những tư tưởng mới, hay lên án những ý kiến của người khác.

Thinh lặng là điều khước từ sử dụng hài hước gây tổn thương, lời mỉa mai nhằm làm giảm giá trị, lời phê phán để hạ phẩm giá của người khác.

Luật dạy, “Chúng ta tuyệt đối lên án bất kỳ hành động thô bỉ, chuyện tầm phào, và cuộc trò chuyện nào dẫn tới sự cười đùa.”

Như vậy, sự thinh lặng mở mang cho chúng ta nhiều triển vọng, đón nhận người khác, tới nhiều dòng tư tưởng, mà nếu như không có thinh lặng mang tới thì chúng ta mãi mãi không cảm nhận được.

Chuyển ngữ từ sách “Đan Viện của Tâm Hồn: Lời Mời Gọi cho Cuộc Sống Đầy Ý Nghĩa (Monastery of the Heart: An Invitation to a Meaningful Life, Bluebridge, 2011), của Sơ Joan Chittister, OSB.

NÉT ĐẸP ĐỜI LINH MỤC

Cuộc sống quanh ta với biết bao là nét đẹp.  Nét đẹp của hoa cỏ đồng nội.  Nét đẹp của trăng sao, cá nước chim trời.  Nét đẹp của những cánh đồng mênh mông bát ngát, hay nét đẹp của những dòng sông hiền hòa, trĩu nặng phù sa.  Nét đẹp của thiên nhiên và nét đẹp của con người.  Đó là nét đẹp của trí tuệ, nét đẹp về hình thể, nét đẹp của lòng nhân ái bao dung, nét đẹp trong những lời thơ, tiếng hát v.v…  Thế nên, một nhạc sĩ đã từng viết: “Cuộc đời quanh ta có biết bao là nét đẹp.”  Vậy những nét đẹp của đời linh mục là gì?  Tại sao đời linh mục lại có những nét đẹp như thế?

Trong một bài viết đã lâu, linh mục Anthony Đào Quang Chính, OP, có đề cập đến 6 niềm vui sướng và 5 niềm khổ đau trong đời linh mục: “Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng “cha”; thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng: Chúa chọn con lên hàng khanh tướng; thứ ba là nghe tội người khác; thứ tư là ngồi chỗ kính trọng; thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp; và thứ sáu là cha nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng.”  Suy cho cùng, những niềm vui sướng ấy chỉ dừng lại ở khía cạnh hình thức bên ngoài mà thôi.  Những niềm vui sướng ấy không nói lên những nét đẹp nơi căn tính và sứ vụ của người linh mục.  Căn tính sâu xa của đời linh mục đó chính là nét đẹp của tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, và nét đẹp của hy sinh.

Nét đẹp của tâm linh

Linh mục là con người của cầu nguyện, là thầy dạy về cầu nguyện.  Là con người của cầu nguyện, linh mục nguyện gẫm, suy niệm Lời Chúa, giảng dạy Lời Chúa, viếng Chúa, Chầu Thánh Thể và dâng Thánh lễ mỗi ngày.  Đó là những nét đẹp tâm linh trong đời linh mục.

Mỗi lần nguyện gẫm, linh mục có thời gian nhìn lại chính mình, nhìn lại mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, hay mối tương quan giữa mình với giáo dân.  Mỗi lần suy niệm hay giảng dạy Lời Chúa, linh mục phải là người để Lời Chúa soi sáng, dẫn đường để rao giảng những lời của an ủi yêu thương, những lời của sự thật và sự sống.  Mỗi lần viếng Chúa, chầu Thánh Thể, linh mục quỳ gối thinh lặng, cầu nguyện và chiêm ngắm Thánh Thể là bí tích của tình yêu, một tình yêu cao trọng, một tình yêu đến cùng mà Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm đời đời đã dành cho nhân loại.  Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần linh mục hiệp cùng hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá, để dâng cả những suy nghĩ, dự định, ước muốn; zzdâng cả những lỗi lầm, bất xứng trong đời linh mục lên cho Thiên Chúa Cha, để cầu nguyện cho bản thân, nhất là cầu nguyện cho những đau khổ của đoàn chiên mà Chúa trao phó.

Nét đẹp của sẻ chia

Nhiều bổn đạo đau khổ, tuyệt vọng bởi những biến cố đau thương giữa đời thường.  Họ tìm đến nhờ linh mục cho những lời khuyên, giúp lời cầu nguyện để vượt qua những khó khăn và thử thách.  Đau khổ về tinh thần lẫn vật chất.  Nhiều bà con vướng vào cảnh nợ nần, hoặc quá nghèo tìm đến với linh mục, nói thật những đau khổ ấy với linh mục, họ hy vọng được ngài sẻ chia.  Có cha mẹ nào lại không thương những đứa con đang hoạn nạn, nghèo túng của mình.  Vì vậy, người linh mục luôn đồng cảm với những nỗi thống khổ của nhiều bổn đạo trong giáo xứ mà ngài coi sóc.  Cha giúp lời cầu nguyện. Cha thăm viếng động viên.  Thậm chí cha giúp một chút tiền để họ vượt qua khủng hoảng và bế tắc.  Vì vậy, linh mục là người “bị ăn”, là tấm bánh được bẻ ra để phân phát cho những ai đang đói khát.

Nhiều linh mục tổ chức mời đoàn bác sĩ ở thành phố về nhiều giáo xứ tỉnh lẻ ở thôn quê để khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho bà con giáo dân.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát quà cho bà con giáo dân nghèo mỗi dịp Giáng sinh hay Tết đến.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát học bổng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn nhưng chăm chỉ học hành.  Gia đình nào có tang chế, linh mục đến hiệp dâng Thánh lễ, cầu nguyện và chia sẻ sự mất mát lớn lao.  Đó là những nét đẹp của sẻ chia và yêu thương trong đời linh mục.

Nét đẹp của tha thứ

Theo gương Chúa Giêsu, người linh mục là con người của tha thứ.  Ngài tha thứ cho những bổn đạo nói xấu, chỉ trích, lên án mình.  Ngài tha thứ cho nhiều hối nhân nơi tòa giải tội.  Ngài tha thứ cho những lầm lỗi, thiếu sót cho bà con đang làm việc trong các hội đoàn.  Đó là nét đẹp của lòng bao dung.  Vì yêu thương con cái nên cha mẹ sẵn sàng tha thứ, không chấp nhất những lỗi lầm, khuyết điểm của con. Vì yêu thương đoàn chiên nên người linh mục luôn đón nhận tất cả vào vòng tay nhân ái của người mục tử nhân lành.

Vì vậy, nơi nét đẹp của tha thứ, mỗi Kitô hữu chúng ta còn khám phá ra nơi khuôn mặt của mỗi linh mục sự hiền lành và phúc hậu.  Nét đẹp ấy đã giúp nhiều hối nhân lấy lại niềm tin yêu và cậy trông vào Thiên Chúa.  Cả thế giới vô cùng cảm kích trước nghĩa cử Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới một nhà tù, thăm hỏi và tha thứ cho người thanh niên bắn những phát súng để ám sát ngài.  Phải chăng đó là nghĩa cử xuất phát từ những gì Chúa Giêsu đã dạy và đã sống?

Nét đẹp của hy sinh

Làm linh mục đòi hỏi phải có sự hy sinh.  Hy sinh thời gian, sức khỏe; hy sinh những phút thư giãn của bản thân để phục vụ nhu cầu tâm linh của nhiều bà con bổn đạo; hy sinh sống đời độc thân không có vợ con để dành trọn thời gian và công việc cho việc phục vụ Giáo hội và mọi người.  Bởi vậy, nét đẹp của hy sinh được kết nên bởi những từ bỏ trong đời linh mục.  Người linh mục đúng nghĩa phải là một con người của sự từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ những quyến luyến của tình cảm, của đam mê xác thịt, hay từ bỏ những cám dỗ quyền lực, danh vọng để sống đơn sơ, thanh thoát và dấn thân cho sứ vụ mục tử.

Tình yêu đòi hỏi phải có hy sinh.  Hy sinh càng nhiều tình yêu càng có ý nghĩa và đúng nghĩa.  Tuy nhiên, ngày nay, tâm lý tự nhiên ai cũng sợ hy sinh và từ bỏ.  Người linh mục sợ hy sinh vì thấy lòng mình chưa thật sự từ bỏ dứt khoát những lôi cuốn của sự đời.  Người linh mục sợ cô đơn vì động lực dấn thân vì lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội chưa thật sự mạnh mẽ.  Vì vậy, tận trong sâu thẳm cõi lòng, nhiều linh mục vẫn chân nhận rằng mình cảm thấy cô đơn và đấu tranh với những phân mảnh trái ngược nhau diễn ra trong tâm hồn như trong “Lời Kinh Chiều Chúa nhật”, Linh mục Michel Quoit đã viết: “Lạy Chúa, chiều nay chiều Chúa nhật, một mình con quỳ đây đối diện với ngọn đèn chầu, đối diện với Thánh Thể Chúa.  Giờ này, nhiều gia đình đang sum họp ăn uống, cười nói vui vẻ bên nhau, còn con thì lặng lẽ âm thầm cầu nguyện với Chúa.  Con bắt tay nhiều người nhưng không giữ lại một bàn tay nào cho riêng mình.  Con tiếp xúc với nhiều trẻ con, nâng niu và vui đùa với chúng.  Nhưng lạy Chúa, đó là những đứa trẻ của người khác chứ không phải là của con.  Con giơ tay ban phép lành xá tội cho nhiều người, nhưng những tội đời của con thì chỉ có Chúa mới hiểu mà thôi… Lạy Chúa, làm linh mục có những phút giây cô đơn rất thật như thế, nhưng con tin rằng những phút giây ấy là cơ hội để con trắc nghiệm lại động lực ơn gọi dấn thân trong sứ vụ đời mình.”

Tóm lại, trong cuộc đời này cái gì cũng đều có hai mặt.  Đời linh mục cũng vậy.  Nhiều bậc cha mẹ muốn con đi tu làm linh mục cho sướng cái thân, ra đời lăn lộn kiếm tiền, vất vả khổ cực lắm!  Nhưng họ đâu biết rằng, đằng sau những hào nhoáng, sung sướng bên ngoài ấy, người linh mục hằng ngày phải chiến đấu với bản thân, chiến đấu trong lời kinh, nguyện cầu.  Làm linh mục có nhiều cái sướng nhưng khổ đau cũng không phải là ít, thậm chí khổ nhiều hơn sướng.  Thế nhưng, nhờ những nét đẹp tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, hy sinh mà người linh mục có thêm động lực tình yêu để sống trọn vẹn trong ơn gọi.  Những nét đẹp đời linh mục cho thấy Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng của niềm vui, của niềm tin yêu và hy vọng cho thế giới hôm nay.

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J

 

TRƯỚC CỬA THIÊN ĐÀNG

Ở trang trong của một nhật báo xuất bản tại Manila, người ta đã đọc được câu chuyện vui sau đây:

Trước cửa Thiên đàng, linh hồn một nông dân xuất hiện xin Thánh Phêrô cho vào hưởng nhan Thiên Chúa.  Thánh Phêrô nghiêm nghị hỏi:

– “Con đã sống như thế nào trên trần gian mà giờ đây con muốn vào Thiên đàng?”

Linh hồn người nông dân trả lời với hết lòng chân thật:

– “Dạ, thưa Thánh Phêrô, 70 năm qua trên trần gian con đã cần cù làm ăn, tuân giữ mọi điều luật Chúa dạy, không bao giờ phạm tội làm mất lòng Chúa.  Con muốn vào Thiên đàng để được hưởng nhan thánh Chúa đời đời”.

Thánh Phêrô nghiêm nghị trả lời:

– “Con đợi ta xem lại các bản phúc trình mà thiên thần bản mệnh của con đã gởi về”.  Trong giây phút im lặng, với vẻ mặt nghiêm nghị, thánh Phêrô lần mở ra kiểm soát thật kỹ những phúc trình về cuộc đời của người nông dân.  Quả thực, đúng như lời ông khai báo.  Thánh Phêrô không tìm thấy bất cứ lỗi nào trong các bản phúc trình ấy cả.  Sau giây phút suy nghĩ, thánh nhân nghiêm nghị trả lời cho linh hồn người nông dân:

– “Con không đủ điều kiện để vào Thiên đàng”.  Thánh Phêrô ôn tồn giải thích lý do: “Con có biết không, trên Thiên đàng nầy, kể cả chính bản thân ta đây nữa, tất cả mọi linh hồn vào đây đều là những linh hồn tội lỗi, đã làm phiền lòng Chúa Giêsu rất nhiều, nhưng đã sám hối ăn năn, được Chúa thứ tha, rồi mới vào đây được.  Còn con thì thật là khác thường.  Con suốt đời không phạm tội gì cả.  Vậy con không đủ điều kiện để vào Thiên đàng.  Ta cho con trở lại trần gian sống thêm ít năm nữa xem sao, để con có điều kiện mà trở lại đây vào Thiên đàng”.

**********************************

zzĐây là một câu chuyện vui có thể giúp chúng ta nhìn vào cuộc đời quá khứ của mình dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay.  Nước Trời là của những tâm hồn tội lỗi nhưng đã sám hối ăn năn trở về cùng Chúa.  Nào ai dám tự phụ cho mình đã không bao giờ lầm lỗi, không bao giờ làm phiền lòng Thiên Chúa và xúc phạm đến anh chị em xung chung quanh.  Chúng ta không nên có thái độ giả hình, tự phụ, cho mình là trong sạch, tốt lành hơn kẻ khác, xứng đáng được vào Nước Trời.  Đừng tưởng như những người Do Thái, cứ tưởng là dân riêng của Chúa, là con cháu của Abraham là đương nhiên được bảo đảm chắc chắn được vào Nước Trời.  Vì không phải bất cứ ai thưa: “Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời”, cũng không phải tất cả những ai đã được diễm phúc đồng bàn ăn uống với Chúa Giêsu, được nghe Ngài giảng dạy trên các đường phố của mình, đều là những người có đủ tiêu chuẩn bảo đảm cho một tấm vé vào cửa Thiên đàng!

Vấn đề là phải phấn đấu “vào qua cửa hẹp”, “phải dùng sức mạnh” mới lọt được cửa hẹp dẫn tới bàn tiệc Nước Trời.  Bởi vì, trước cửa Nước Trời, mọi người đều bình đẳng để vào, không có ưu tiên dành cho những người có lý lịch tốt, hay có gốc gác bự, có ô dù…  Cũng không có chuyện dành chỗ trước, cũng chẳng có chuyện chạy chọt đút lót, cậy quyền cậy thế, hoặc dựa vào thành tích quá khứ để đòi hỏi cho mình quyền ưu tiên.  Vả lại, cũng đừng quan niệm bàn tiệc Nước Trời như một tiệc chiêu đãi có tính cách phô trương trình diễn.  Trái lại, đây phải là một bàn tiệc của những người chiến thắng, mà chỉ có những người đã từng chiến đấu, đã chia sẻ những nỗi gian khổ, đã thông phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô mới xứng đáng dự phần.

Điều trớ trêu là không phải con cái trong nhà sẽ là những kẻ nhanh chân nhất và được vào bàn ăn.  Trái lại, chính những kẻ ở xa, những kẻ lặn lội từ bốn phương trời mà đến.  Đối với những người Do Thái đang nghe Chúa Giêsu thì những kẻ từ Đông Tây Nam Bắc mà đến chính là các dân ngoại.  Họ sẽ được vào đồng bàn với các Tổ phụ và các Ngôn sứ, trong khi chính những người Do Thái là con cái trong nhà, những kẻ hãnh diện từng ăn uống thường ngày với Chúa, từng được nghe Ngài giảng dạy, lại phải đứng ngoài gõ cửa tuyệt vọng.  Vì vậy có sự đảo ngược thứ tự vào Nước Trời: “Những người trước hết sẽ trở nên cuối hết, còn những người cuối hết sẽ trở nên trước hết”.

Anh chị em thân mến, Thiên Chúa không theo chủ nghĩa lý lịch.  Trước cửa Nước Trời, Ngài không hỏi mọi người: Có chịu phép rửa tội, có theo kitô giáo, có phải là người Công giáo hay không?  Có phải là Tu sĩ, Linh mục, Giám mục, Hồng y hay Giáo Hoàng?  Điều Ngài đặc biệt quan tâm và xét hỏi, đó là đã có làm và sống như Chúa Giêsu đã làm, đã sống, đã dạy hay không?  Vì thế, đừng lầm tưởng rằng: hễ có tên là Kitô hữu, là người Công giáo, là đạo gốc, là đương nhiên được bảo đảm vào Nước Trời, để rồi tự đắc đứng trên nhìn xuống thương hại hay loại trừ những người anh em ngoại giáo, những người không chia sẻ một tôn giáo, một niềm tin với chúng ta.  Bàn tiệc Nước Trời đón nhận tất cả mọi thành tâm thiện chí.  Nếu chúng ta không thực thi Lời Chúa, không đi theo con đường hẹp của Chúa, thì có thể những người anh em ngoại giáo sẽ vào Nước Trời trước chúng ta, đang khi chúng ta, những người được mời gọi trước lại sẽ bị Chúa từ chối, vì chỉ mang cái nhãn hiệu Kitô hữu mà không có một đời sống đức tin, một đời sống Kitô hữu đích thực.

Nếu Chúa Giêsu mượn hình ảnh bữa tiệc để nói về Nước Thiên Chúa thì chính là để diễn tả sự chia sẻ niềm vui, chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa và với anh em.  Bởi thế, Thánh Phaolô đã nói với tín hữu Rôma: “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17).

Bàn tiệc Thánh Thể hôm nay phải là dấu chỉ cụ thể của bàn tiệc Nước Trời, nên những gì chúng ta chia sẻ trên bàn thờ, tức là Mình Máu Thánh Chúa, phải được chia sẻ rộng rãi trong cuộc sống.  Nói khác đi, chúng ta không thể bẻ Bánh Thánh với nhau mà không biết chia cơm sẻ áo cho nhau, nghĩa là cho anh em trong cộng đoàn mà thôi, nhưng còn là cho mọi người anh em đang cần được chúng ta chia sẻ. Thực hiện sự chia sẻ cụ thể đó, chính là phấn đấu đi qua cửa hẹp để dự Bàn Tiệc Nước Trời vậy.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”