BÓNG GIÁO ĐƯỜNG NƠI TRẠI PHONG

Ngày tôi dâng Thánh lễ tạ ơn Linh mục ở quê nhà là một ngày có những kỷ niệm in sâu.  Giữa bao nhiêu khách mời, có một nữ tu đến muộn.  Muộn vì chị ở một nơi xa.  Xa cả khoảng cách không gian, và xa cả khoảng cách tình người.  Chị sống với những người cùi ở Tây Nguyên, nơi con người ngại lui tới.  Chị không gọi họ là “cùi,” chị gọi họ là những người “phong,” để làm dịu đi thực tế của căn bịnh, và làm dịu đi cái ấn tượng về những con người kém may mắn này.

Hơn 30 năm trước, chị dạy tôi giáo lý và cách sống đạo, rồi chị sống những điều chị dạy.  Tha nhân, niềm đau khổ, tình thương, và lòng cảm thông không còn là bài giáo lý trên những trang sách.  Chị biến những trang sách bằng giấy, thành trang sách của tâm hồn.  Rời giáo xứ ấm áp tình người, để đến nơi xa xôi thiếu bước chân con người.  Những hình ảnh tưởng chừng như chỉ có trong tiểu thuyết.

Hôm nay chị ghé qua nơi giáo xứ mà chị đã phục vụ khi tuổi còn thanh xuân, để xem người học trò năm xưa dâng lễ tạ ơn.  Chị không lái xe.  Người tài xế đưa chị bằng xe Honda là một người cùi.  Chị không ngại ngồi bên anh, tình thuơng phục vụ lớn lao hơn sự sợ hãi.  Chị đã lặng lẽ ngồi bên cạnh những người cùi cả một quãng đời dài.

Chị gần họ, hiểu nỗi đau và niềm cô đơn.  Cô đơn trong tình người, và cô đơn giữa những người cùng đạo.  Chị hiểu hơn điều này khi thấy người bạn cùi cùng với chị đến gần với giáo đường hôm nay, nhưng anh thấy mình thật xa lạ.  Anh ngại đứng bên những người lành lặn, nên chọn một góc xa cho riêng mình ở phía cuối cổng giáo đường.  Anh không ngại đứng xa, vì cả cuộc đời, anh đã sống ở một góc xa ở phía cuối cổng cuộc đời.

Anh nhìn những bước chân vội vã của trẻ thơ đi về giáo đường, những chiếc áo dài thướt tha của xóm đạo, những bộ vét sang trọng của người đi tham dự lễ tạ ơn, và cả những chiếc áo dòng bóng bẩy của nhiều tu sĩ trẻ.  “Giáo hội sang trọng quá,” anh thốt lên với người nữ tu khi tan lễ.  Chị cũng tỏ ý đồng tình,  “Ừ, vui hơn ở trong trại cùi.”

zzTrại cùi có gần một trăm em, không kể người lớn.  Nó ở một nơi hẻo lánh của miền tây nguyên.  Mảnh đất núi đồi, thiếu thốn phương tiện.  Thiếu thốn nhất là nguồn nước, điều kiện cần thiết cho những người bịnh phong tắm rửa mỗi ngày.  Các em sinh ra không có sự chọn lựa cho số phận của mình, vậy thì làm sao có được những bước chân rộn rã như trẻ thơ xóm đạo.  Người nữ tu biết những thánh lễ nơi xóm đạo là vui, nhưng lại chọn đến ở một nơi buồn.

Chị mang hình ảnh giáo đường đến với những con người vì số phận không dám đến với giáo đường.  Trong ý nghĩa sâu xa nhất, chị là hình ảnh của giáo đường.  Thầm lặng, không rộn vang tiếng hát, không có những tà áo dài thiết tha, nhưng có nhịp thở và trái tim rung cảm của cảm thông.

Ở nhiều nơi, giáo đường không có Thánh lễ nên giáo đường trở nên trống trải.  Nhưng có Thánh lễ mà không tiếp tục lễ hy sinh trong cuộc sống thì vẫn chỉ là những nghi lễ hững hờ.  Khi Chúa Giêsu truyền dạy, “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy,” Chúa không chỉ có ý truyền cho giáo hội cử hành Thánh lễ mỗi ngày nơi bàn thờ, mà là truyền dạy sống Bí Tích Thánh Thể qua hành động như Ngài hành động: trở nên bánh và rượu để nuôi dưỡng sự sống cho thế giới.  Mỗi một nghĩa cử yêu thương là bánh, mỗi một chọn lựa hy sinh, dâng hiến là rượu.  Tình yêu trao ban và lòng hy sinh làm nên thánh lễ cuộc đời.  Người mẹ thức khuya lo lắng cho con, người cha lam lũ cho cuộc sống tươi xinh của gia đình, hay như người nữ tu hiến dâng một đời cho những con người bất hạnh, tất cả đang sống mầu nhiệm Thánh Thể. Trở nên bánh và rượu cho anh chị em mình là đang tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô.  Thánh lễ trở nên thiết thực quá, không riêng gì cho Linh mục, nhưng cho tất cả mỗi Kitô hữu, biết sống cho tha nhân.

Khi Thánh lễ Tạ Ơn Linh Mục kết thúc, người nữ tu đến chào.  Ánh mắt chị vui, long lanh, xen nỗi xúc động.  Chị nói, “Chị đến xem em dâng lễ ra sao!  Vui quá”.  Thánh lễ vui thật vì có hoa, có nến, có ca đoàn rộn vang tiếng hát, có tấp nập bước chân, có cả quay phim và tiệc mừng nữa.  Nhưng Thánh lễ vui chỉ là khởi điểm bắt đầu của hy lễ hiến tế.  Để mời gọi sống những Thánh lễ trong cuộc đời có niềm vui xen lẫn nước mắt, có hạnh phúc và đau khổ, có nhận lãnh và mất mát, được yêu thương và có cả phản bội nữa.

Tôi nói với chị, “Thánh lễ em dâng hôm nay có hoa, có nến, có rộn vang tiếng hát, và có ngàn nụ cười trên môi.  Còn thánh lễ chị dâng trong cuộc đời bên những con người đau khổ, thiếu vắng nụ cười, để nuôi dưỡng sức sống và niềm hy vọng cho một phần thân thể đau khổ của Đức Kitô, thật sự là sống trọn vẹn bí tích Thánh thể: trở nên bánh rượu cho thế giới.”

Khi nắng chiều xuống dần, chị theo xe cùng người bạn cùi trở về nơi xa xăm.  Tôi đứng nhìn bóng dáng họ khuất dần theo nắng nhạt.  Ở phía xa, lác đác ánh điện đường bắt đầu sáng.  Xe chị không dừng lại giữa phố phường sáng rực, nhưng lăn lóc qua những làng quê tĩnh lặng, mộc mạc, khuất lấp giữa núi đồi.  Chị mang Thánh Lễ và mang cả bóng Giáo đường đến với nhiều cuộc đời ngổn ngang đang sống ở nơi xa xăm nhất của tình người.  Tôi nhìn bóng dáng chị, rồi nghĩ đến Thánh Lễ đời mình.

Những năm Linh mục qua đi với nhiều Thánh lễ nơi bàn thờ, nhưng lòng vẫn mãi băn khoăn, bao giờ mình mới sống trọn vẹn mầu nhiệm Thánh thể như người nữ tu ấy.  Bao giờ mình mới trở nên bánh rượu đích thực như chính Đức Kitô để nuôi dưỡng sự sống cho thế giới?  Hiến lễ nào cũng có giây phút bắt đầu, nhưng kết thúc lời kinh lại chỉ diễn ra qua những hành động trao ban.  Cuối Thánh Lễ sáng nay, tôi nguyện thầm với Chúa:

Lạy Chúa, xin cho thánh lễ con dâng mỗi ngày giúp biến đổi nghi lễ thành hành động yêu thương.  Xin cho lời truyền của Thầy Chí Thánh “Hãy làm việc này mà nhớ đến thầy” thôi thúc chúng con hành động vì tha nhân, như hình ảnh người nữ tu hao gầy trở nên bánh rượu cho một phần nhân loại khao khát tình người.  Có khi phần nhân loại khao khát ấy lại chính là những con người cụ thể luôn hiện diện trên từng lối đi của đời con.

Nếu lễ dâng được cử hành mỗi ngày nơi giáo đường, thì hành động trao ban của chúng con cũng cần được diễn ra nơi bàn thờ của cuộc sống như một hy lễ nối dài.  Nếu được như thế, Thánh thể sẽ trở thành nguồn sức sống cho gia đình con, cho cộng đoàn, và cho cái thế giới quanh con đang cần được nuôi dưỡng bằng niềm hy vọng.  Những Thánh Lễ ấy, tuy không có tiếng hát, không có hoa, có nến, không có những bài giảng hùng hồn, nhưng lại là những Thánh Lễ mang đến sức sống cho nhiều tâm hồn.  Con không thể mang Giáo đường vào cuộc sống, nhưng xin cho con trở nên bóng giáo đường giữa lòng đời, như người nữ tu hao gầy bé nhỏ, nhưng có một trái tim có khi lớn lao hơn cả những Giáo đường lộng lẫy nhưng thiếu vắng tình thương.

Nguyễn Thảo Nam

LỜI YÊU THƯƠNG TRÊN TẤM KHĂN ĂN

Vào năm 1974, mẹ tôi đang học lớp cuối cấp ở trường dòng nữ sinh ở New York.  Bà là sinh viên xuất sắc nhất lớp, đang nuôi ước mơ trở thành một giáo viên giỏi.  Nhưng ước mơ trở thành giáo viên của bà đã bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của một đứa bé không hề được chờ đợi – là tôi.  Mẹ tôi mang thai tôi vào năm học cuối cấp, bà phải nghỉ học nửa chừng để lấy cha tôi.  Mặc dầu trên danh nghĩa, bà đã xa rời lĩnh vực giáo dục nhưng không hẳn là như vậy.

Khi sinh tôi ra, mẹ tôi bắt đầu tìm hiểu toàn bộ và từng khía cạnh của đời sống con trẻ qua tôi.  Bất luận hai mẹ con chúng tôi làm gì, nướng bánh trong bếp hay ngồi với nhau cả ngày trong phòng đọc sách thì điều đó cũng có tác dụng tương tác giáo dục một cách tích cực.  Tôi không bao giờ coi ti vi, không phải vì mẹ không cho tôi coi mà vì tôi thấy những giờ ngồi tập viết truyện với mẹ tôi hấp dẫn hơn.  Không phải trong nhà tôi lúc nào cũng có đủ tiền chi tiêu, nhưng với những cuốn sách lý thú, những nụ cười vui vẻ và vòng tay dịu dàng của mẹ, tôi chưa bao giờ cảm thấy thiếu thốn một thứ gì.

ZZVào tuổi lên năm, tôi bắt đầu đến trường, trong một tâm trạng vừa háo hức, vừa sợ hãi.  Ngày đầu tiên ở nhà trẻ, giờ ăn trưa, tôi ngồi một mình ở bàn, từ từ mở hộp cơm trưa mà mẹ đã chuẩn bị cho tôi.  Bên trong hộp cơm, tôi bắt gặp một bức thư ngắn của mẹ tôi viết trên tấm khăn ăn.  Bức thư nói rằng mẹ yêu tôi và tự hào về tôi, đứa con gái bé bỏng của mẹ.  Và rằng tôi là đứa bé nhà trẻ ngoan nhất trên đời này.  Nhờ vào bức thư ngắn của mẹ, tôi đã vượt qua ngày đầu tiên ở nhà trẻ một cách nhẹ nhàng, và cả rất nhiều ngày sau đó…

Kể từ bức thư đầu tiên ấy, sau này tôi nhận được rất nhiều những bức thư của mẹ trên chiếc khăn ăn. Những bức thư tôi nhận được ở trường tiểu học, khi tôi đang vật vã cam go với môn Toán, khích lệ tôi: “Hãy cố lên, con gái yêu của mẹ, rồi con sẽ làm được mà.  Đừng bao giờ quên rằng con là đứa trẻ giỏi giang !”  Những bức thư thời học cấp 2 của tôi, khi tôi còn là một cô gái mới lớn, tóc xoăn tít và đầy mụn, khuyên tôi: “Hãy luôn thân thiện với bạn bè.  Không có gì phải sợ cả!  Chẳng mấy chốc thì mọi người sẽ cảm thấy may mắn khi có con là bạn thân thôi.”  Ở trường cấp 3, khi đội bóng rổ trường tôi lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào tranh giải vô định toàn tiểu bang, bức thư của mẹ nhắc nhở tôi: “Không có khái niệm ‘tôi’ trong đội bóng.  Con gái mẹ luôn là người biết cách chia xẻ cùng đồng đội, phải không?”  Và khi tôi tốt nghiệp phổ thông, vào Đại học, đi xa nhà, vẫn đều đặn có những bức thư ngắn trên khăn ăn mẹ dành cho tôi.  Mặc cho những biến cố liên tiếp trong đời khi tôi học đại học, đổi ngành học, chia tay với bạn trai, những thay đổi trong cách nhìn nhận của tôi đối với cuộc sống thì vẫn có một điều không bao giờ thay đổi – sự khích lệ, hổ trợ và dạy dỗ từ mẹ tôi, những năm tháng tôi tắm mình trong tình yêu của mẹ, những bức thư ngắn – những thông điệp trên tấm khăn ăn.

Đứa em gái mười chín tuổi của tôi đang là sinh viên năm đầu tiên ở Đại học.  Đâu đó trong phòng ký túc xá của nó, lẫn giữa đống áo quần và sách vở, nó luôn giữ một cái hộp đựng đầy những bức thông điệp trên tấm khăn ăn ở nơi bất ngờ dễ tìm thấy nhất.  Ở nhà, cô em gái mười sáu tuổi và cậu em trai chín tuổi của tôi cũng có những nơi bí mật chứa những thông điệp trên tấm khăn ăn.  Khi tụi nó đọc những thông điệp của mẹ, tôi biết trong tụi nó cũng đang trào dâng một cảm giác tự tin như tôi đã từng có suốt thời đi học.

Chúng tôi khôn lớn, đã đến lúc mẹ thực hiện nốt ước mơ còn dang dở của mình.  Sau gần hai mươi lăm năm gián đoạn, người mẹ bốn mươi bốn tuổi của chúng tôi trở lại trường để lấy bằng sư phạm.  Tôi thấy ngưỡng mộ mẹ, bà đâu cần bằng cấp mà vẫn mãi mãi là một giáo viên giỏi, một người thầy xuất sắc của chúng tôi.

Ngày mẹ trở lại trường học, món quà tôi chuẩn bị cho mẹ là một túi đựng sách vở, bút viết và những đồ dùng học tập ưa thích của bà.  Và dĩ nhiên là tôi không quên chiếc khăn ăn có mang thông điệp: “Mẹ sẽ thành công !”.

Khi mẹ mở chiếc khăn ăn và đọc bức thông điệp, tôi thấy từ đôi mắt đã qua thời thanh xuân của bà, những giọt lệ hạnh phúc từ từ lăn xuống.

Caurie Anne Moner

Đinh Lễ Vũ phỏng dịch

 

PHẢI CHI LỬA ẤY ĐÃ BÙNG LÊN

Nhiệt độ của trái đất có chiều hướng nóng dần lên.  Đó là một điều đáng sợ.  Nhưng điều đáng sợ hơn lại là sự lạnh lùng giữa người với người.  Con người cần cơm bánh và giải trí, nhưng con người còn cần sự nâng đỡ cảm thông.  Nhân loại sống được là nhờ tình thương ấm áp.  Vậy mà băng giá của lãnh đạm dửng dưng vẫn tồn tại khắp nơi trên mặt đất.  Băng giá nằm ngay nơi lòng con người.

Đức Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Ngài: Ngài đến để ném lửa trên mặt đất, và Ngài ước mong, phải chi lửa ấy đã bùng lên.  Ngọn lửa Đức Giêsu muốn nhóm lên không phải là ngọn lửa của án phạt và huỷ diệt, không phải là thứ lửa từ trời mà Gioan và Giacôbê định xin đổ xuống trên một làng của xứ Samari.  Đây là ngọn lửa vẫn bừng cháy trong tim Ngài, lửa của Thánh Thần, lửa của yêu thương, lửa hâm nóng hai môn đệ Emmau đang tuyệt vọng.

zzChúng ta cần được ngọn lửa của Đức Giêsu chạm đến, cần được Ngài làm bừng sáng lên những sức mạnh tiềm ẩn nơi ta, để chúng ta trở thành ánh lửa cho thế giới.  “Phải chi lửa ấy đã bùng lên!”  Chúng ta được mời gọi để thực hiện niềm ước mong mà Đức Giêsu đã suốt đời ôm ấp, đó là làm cho thế giới nên ấm áp hơn vì con người biết sống cho Thiên Chúa và cho nhau.

Gieo rắc ngọn lửa và ánh sáng là chấp nhận bị từ khước và đe dọa.  Đức Giêsu linh cảm những gì sẽ xảy ra cho đời mình.  Ngài sẽ phải chịu một phép rửa kinh khủng, sẽ phải dìm mình thật sâu trong nỗi khổ đau.  Hôm nay, Ngài mời chúng ta ném lửa trên mặt đất và chấp nhận đối đầu với sức mạnh của bóng tối.  Khi Đức Giêsu bị treo trên thập tự, khi Ngài bị giam trong mồ tối, bóng tối tưởng như đã nuốt chửng được Ngài.  Nhưng ngọn lửa phục sinh đã bừng lên giữa đêm đen.  Đó là niềm hy vọng của chúng ta, những người vẫn còn phải hăng say chiến đấu để đẩy lui bóng tối ra khỏi mọi nơi, mọi chỗ, bóng tối của bất công, sa đọa và tuyệt vọng, bóng tối của hận thù, của nạn mù chữ, bóng tối của nghèo nàn lạc hậu…  Bóng tối do khép lại cánh cửa của lòng mình.  Bóng tối ở ngay trong lòng tôi.

Có lúc chúng ta sợ hãi bóng tối dầy đặc, mà ngọn lửa của mình lại yếu ớt.  Nếu một tỷ Kitô hữu đều là những ngọn lửa thì bóng tối sẽ bị đẩy lùi khỏi mặt đất.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

****************************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã mang ngọn lửa yêu thương ném vào thế gian.  Chúa hằng ước mong cho ngọn lửa ấy mãi bừng lên.  Xin đốt nóng chúng con trong tình yêu Chúa.  Xin giúp chúng con biết thực thi ước mơ của Chúa, khi chúng con mang lửa yêu thương dâng tặng nhau.

Nhưng Chúa ơi, cuộc đời hôm nay có quá nhiều bóng tối.  Bóng tối của bất công và sa đoạ.  Bóng tối của hận thù, chia rẽ.  Bóng tối của nghèo đói, lạc hậu.  Bóng tối ở ngay trong lòng chúng con.  Bóng tối quá dày đặc mà ngọn lửa chúng con lại quá yếu đuối.  Xin Chúa luôn ở bên chúng con.  Xin ban thêm ơn trợ giúp để chúng con vượt thắng gian nan, để mang lửa yêu thương xoá tan bất công     hận thù, mang lửa bác ái, cảm thông để sưởi ấm lòng người.  Xin huấn luyện chúng con thành chiến sĩ luôn hăng say chiến đấu, để đẩy lùi bóng tối tội lỗi ra khỏi mọi nơi mọi chỗ, để kiến tạo một thế giới đầy ánh sáng tình thương.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là ngọn lửa thiêng không bao giờ lịm tắt, xin hun nóng tâm hồn chúng con, và xoá tan những băng giá ích lỷ đang thống trị tâm hồn chúng con.  Xin xoá tan bóng tối tội lỗi đang chìm ngập tâm hồn chúng con.  Xin mang lại cho chúng con ánh sáng của tin yêu và hy vọng để nhờ đó chúng con hăng say rao truyền tình yêu Chúa cho thế gian. Amen

Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

 

ĐỨC MARIA: ĐỊA CHỈ TRÊN CAO  

zzCách đây ít lâu, khi đọc báo hằng ngày, tình cờ tôi ghi nhận được một mẩu tin là lạ.  Đó là mẩu quảng cáo đăng ký địa chỉ trên cung trăng.  Ai muốn đứng tên chủ quyền một thửa đất trên gương mặt chị Hằng bảo đảm có bằng khoán giấy tờ công chứng đàng hoàng, hãy mau mau đăng ký, chọn vị trí trên bản đồ và nộp tiền đầy đủ.  Bảo đảm, chỉ vài ngày sau là được trao tận tay sổ hồng sổ đỏ, để cứ mỗi đêm trăng sáng là có quyền vác kính viễn vọng ra ngắm nghía chỉ trỏ giới thiệu với bạn bè về dự án tương lai địa chỉ trên cao của mình.

Thấy mẩu tin ngồ ngộ, tôi ghi nhận, và hôm nay lễ Đức Maria Mông Triệu, nghe vẳng bên tai bài hát “Như một vầng trăng tuyệt vời, muôn ngàn tia sáng lung linh chốn thiên cung” ca ngợi Đức Maria, bỗng dưng nhớ lại và liên tưởng: mỗi tín hữu cũng có một địa chỉ trên cao, địa chỉ ấy mang tên Maria.

1. Đức Maria: Một địa chỉ thiết định cho lòng tin.

Đây không phải là điều huyền hoặc do trí tưởng tượng con người bịa ra trong một giờ cao hứng, cũng không phải là sản phẩm mang nặng cảm tính do lòng đạo đức của giới bình dân, càng không phải là do sự nhất trí giơ tay tán thành theo kiểu vào hùa của đám đông.

Không phải thế, mà là kết quả suy tư lâu dài tìm kiếm của đời sống Giáo Hội.  Trước năm 1950, người ta có quyền bán tín bán nghi, tin hay không tin cũng chẳng hề hấn gì, như thánh Tôma tiến sĩ; nhưng kể từ ngày lễ Các Thánh năm 1950, khi Đức Giáo Hoàng công bố sự kiện Đức Maria Mông Triệu như một tín điều, người ta không còn có thể dửng dưng được nữa, mà phải reo lên vui mừng vì đã sáng tỏ: trên cao, Đức Maria chính là địa chỉ của lòng tin Công Giáo.

Thật vậy, Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, nên không thể chịu hậu quả của Tội nguyên tổ là phải chết.  Mẹ trọn đời Đồng Trinh nên cứ lý cũng trọn đời trinh nguyên tồn tại.  Mẹ cung cấp chất liệu xác thân cho Ngôi Hai Thiên Chúa bước xuống đồng hành với con người trong kiếp phận loài người, thì khi Phục Sinh về trời vinh quang, Thiên Chúa cũng giữ gìn cho Mẹ mình thoát khỏi cảnh hư nát thân xác.  Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nếu đã được Thiên Chúa yêu thương gìn giữ từ thuở đời đời bằng đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, thì cũng được Thiên Chúa giữ gìn cho đến muôn đời bằng đặc ân Mông Triệu tuyệt diệu hơn mọi người trần.

Cách khác, Mẹ Hồn Xác Lên Trời là một ngôn ngữ mang tính dấu chỉ dễ đọc của một địa chỉ trên cao, vốn đã có sẵn trong mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô.

2. Đức Maria: Một địa chỉ thiết thân của đời tín hữu.

Ngày nay có thể có người nghĩ rằng: Đức Maria Mông Triệu chỉ là một tín điều, nghĩa là một điều được Giáo Hội xác lập như đối tượng phải tin; lại nữa, cũng chỉ được định tín cách nay chưa lâu, mới từ năm 1950, có chi mà quan trọng?

Xin được cùng với Giáo Hội nhắc lại rằng: Đây không phải là chuyện thuần túy quy ước, mà đúng là chuyện thiết thân với mọi con người.  Khi gọi một chiếc xe là “xe máy” thì nó là “xe máy” dù chẳng có chút máy móc nào mà chỉ là “xe đạp”.  Đó là quy ước.  Thế nhưng, khi tín điều thiết định thì khác, vì ở đó cả vận mệnh đời sống của những kẻ tin cũng được định hình theo.

Đức Maria về trời, nhưng không về với đôi tay trắng, mà là nặng trĩu vận mệnh của cả Giáo Hội, Đức Kitô là Đầu, mà vinh quang của Đầu tiến đến đâu thì vinh quang của Thân Mình cũng tỏ hiện đến đó, nhưng qua việc Đức Maria về trời, tín hữu nhận thấy rõ hơn vận mệnh đời mình.

Mẹ là người đi đầu cho ta được tiếp bước.  Mẹ được đưa về trời là tiền đề cho lòng tin người tín hữu: nếu sống như Mẹ, họ cũng sẽ được về trời với Mẹ.  Mẹ như người đi trước cho ta được theo sau.  Mẹ được đưa về trời là khuôn mẫu cho niềm hy vọng: bên kia địa chỉ trần thế này là một địa chỉ trên cao của cuộc sống phong phú đời đời.  Mẹ là người đi mau cho ta được níu kéo dắt dìu.  Mẹ về trời xác lập một hướng đi cho lòng yêu mến: yêu trung thành hôm nay sẽ được dẫn tới bến bờ yêu thương tinh ròng vĩnh phúc.  Thế đó, Đức Maria địa chỉ trên cao thiết thân cho mệnh đời tín hữu.

3. Đức Maria: một địachỉ thiết thực cho mỗi cảnh đời.

Vấn đề được đặt ra ở đây không chỉ là chuyện hiểu biết và tin tưởng, nghĩa là dừng lại trong nhận thức, cho dẫu đó là bước đầu không thể thiếu được, nhưng quan trọng hơn, là hỏi xem địa chỉ trên cao kia có để lại âm hưởng gì trong đời sống hằng ngày?  Có một bài hát “Kinh Tin Kính” kết thúc bằng câu quyết tâm “Tin những gì Hội Thánh dạy con”.  Tốt lắm, nhưng nghe sao vẫn cứ ngờ ngợ, tin tất cả mà không lo chuyển hoá niềm tin vào cuộc sống thiết thực, thì tự nó đã hàm chứa một nguy cơ của sự cả tin.  Giống như một cha sở cử hành Bí tích Xức Dầu cho một nữ bệnh nhân tân tòng trọng tuổi, với những công thức tuyên tín dài dòng, bệnh nhân ấy trong cơn đau đớn đã thốt lên: “Cha nói thánh tướng nào con cũng tin cả”.  Thành thử, hôm nay, khi tuyên xưng Đức Maria hồn xác về trời chính là lúc ta phải nỗ lực tổ chức xây dựng đời sống nơi địa chỉ trần thế sao cho phù hợp tương thích với địa chỉ trên cao mà ta tin yêu hy vọng.

Làm sao có thể về trời thanh nhàn khi cuộc đời này chưa thanh sạch tâm hồn, chưa thanh bạch nếp sống, chưa thanh luyện ý chí, chưa thanh thoát tư duy, chưa thanh cao tình cảm, chưa thanh thản nỗi đau đời và chưa thanh thỏa nhiệm vụ người người với nhau?  Làm sao có thể về trời thênh thang khi cuộc sống hôm nay vẫn còn bận bịu bỏ neo nơi những khuynh hướng đam mê sùng bái, như là dục vọng buông lơi lòng tham không đáy hay quyền bính vô độ?  Và làm sao có thể về trời với Mẹ khi ta hằng ngày vẫn còn gặp mình trên những lo toan tính toán làm ăn không chỉ dừng lại ở mức “lương thực hằng ngày” “cầu vừa đủ xài” của Kinh Lạy Cha, mà còn mong có mọi sự nhiều thêm nữa, trừ một sự là có điểm dừng?

Muốn có địa chỉ trên cao, hãy tích cực đăng ký xây dựng ngay từ địa chỉ trần thế này.

Qua một bài báo về kỹ thuật hàng không, được biết rằng người ta đang tính tới chuyện bay cao bay xa và bay nhanh hơn.  Điều này đòi hỏi phải giải quyết ba thông số kỹ thuật: giảm nhẹ thân tàu, tăng cường sức đẩy động cơ và trang bị bộ phận định hướng tốt.  Bất giác tôi nghĩ đến chuyến bay đời người về địa chỉ trên cao, cũng cần trút nhẹ lo toan, gia tăng ơn thánh, và nỗ lực định hướng theo gương Đức Mẹ.  Như vậy, chuyến bay ấy chắc chắn sẽ cao xa nhanh an toàn.

Chúc mọi người luôn biết dâng cao tin yêu hy vọng, để làm quen với địa chỉ trên cao ngay từ cuộc sống xem ra còn nhiều lũng thấp hôm nay.

Đức Maria địa chỉ trên cao, dạy cho con biết qua bao tháng ngày, biết đường sống thánh từ nay, ngày mai sẽ được thẳng bay về trời.

ĐGM Vũ Duy Thống

 

 

TẶNG PHẨM

Tôi đã vất vả rong ruổi đi tìm, nhưng chẳng gặp.  Miệng đã khô và bụi sương làm tóc tôi bay rối. Ngày lại ngày, tôi lục lọi những pho sách quý giá trong tủ sách loài người, nhưng tôi vẫn thất vọng. Tôi rũ mỏi đi khắp phố chợ, ngày, đêm.  Tôi hỏi bạn bè cùng các triết nhân và họ đã trả lời: Ðó là cuộc đời!

Thân tôi tội lỗi, trước Ngài, Thượng Ðế, tôi sợ đâu dám hỏi.  Nhưng đau thương cứ dâng cao và nỗi lo lắng càng ngày càng lênh láng.  Một chiều, tôi vào cuối giáo đường ngồi khóc.  Tôi khóc như một đứa nhỏ và than thở với Người như một đứa con:

– Cha ơi, con đã vất vả đi theo Cha dọc chuỗi thời gian.  Con đã vấp ngã vô vàn, và mặt mày nhơ nhớp như bây giờ Cha thấy đây.

– Cha! Sao Cha đặt con trong vòng Bóng-Tối rồi bảo con tìm về Ánh-Sáng.

– Sao Cha đặt con trong vùng Sự-Ác rồi bảo con tìm về Thiện-Hảo.

– Cha ban cho con Trí-Tuệ nhưng sao Cha lại đặt trong lòng con Trái-Tim trùng trùng, điệp điệp những Man-Mác, Lấp-Lửng.

– Trong khu vườn Già-Nua, khô cằn, Cha bảo con hãy mọc lên Xanh-Tươi và trổ sinh hoa trái!

– Cha ơi, Cha cho con Lương-Tâm, nhưng sao Cha không đem con ra khỏi căn hầm của Gian-Dối và lâu đài của Tham-Lam.

zzTừ tâm điểm Cha đã thắp sáng trong con Ánh-Lửa-Tình-Yêu nhưng xa xa sao Cha lại vây bọc con bằng Chu-Vi-Căm-Thù.  Rồi Cha bảo: Hãy vượt qua!

Cha ơi, Cha có yêu con?

– Bao lần con lầm lũi trốn tránh vì tha nhân là vấp phạm.  Nhưng từ hút thẳm ý nghĩ Cha lại thôi thúc vang vang: Tha-Nhân là Cây-Cầu và bên kia bờ sông là chính Cha!

– Ôi, Cha đã mở cửa cung vườn tình yêu cho con bước vào.  Con đã hái Bông-Hồng và tay con đã nắm vào Gai.

Cha ơi, Cha có yêu con?

Con đã vất vả gian nan theo Cha.  Bờ vai đã lạnh và Gió-Sương vẫn nghìn dặm dõi theo.  Hai chân đã mỏi mà đường đi thì cứ mù khơi, tít tắp.

Trong vườn hạnh phúc Cha ban, con bứt giật đóa Bạch-Huệ bằng tay trái, thì tay phải đã vướng vào Sâu.

Giáo đường chẳng có ai.  Những hàng ghế dài mút mút, im lặng thẹn thùng vì những lời tôi nói. Nhưng mặc kệ, tôi cứ kể lể.  Vì tôi lo lắng và đã biết rằng đường tôi đi còn dài mà không gian là những đây đó vấp ngã, còn thời gian là những cám dỗ tiếp nối mênh mông.

Tôi kể lể cho tới khi lời tôi nhỏ lại mất hút, cho tới khi những làn sương xuống dầy đặc xóa nhòa đôi mắt, cho tới khi giáo đường tan loãng biến vào hư không.  Bấy giờ, tôi thấy một đồi cao và rừng cây trầm lặng bát ngát.  Những gió và suối tiên vang lên lời ru.  Tôi nghe như có tiếng người nói:

– Trong vùng thăm thẳm, Thẫm-Tối của Cuộc-Ðời, Cha đã ban cho con Ðức-Tin để đi.  Ðó là tặng phẩm qúy nhất.

– Trong những miên trường của giằng co giữa Con-Tim và Lý-Trí, Cha đã cho con Tự-Do để lựa chọn.  Ðó là tặng phẩm quý nhất.

Rồi, những cung điệu rất lạ đã say sưa lá của rừng, những lời ngọt ngào của suối đã ru êm bờ đá cuội trắng.  Tôi nghe như có tiếng nhạc dạt dào, và cũng trong tiếng nhạc ấy dường như có tiếng Người nói nữa:

– Ðó, tất cả là Tặng-Phẩm của Mùa-Xuân.  Ðó, tất cả là Dấu-Chỉ của Tình-Yêu.

Niềm vui và hơi ấm nhen nhúm đâu đây.  Tôi lập lại: Ðó, tất cả là dấu chỉ của Tình-Yêu.

LM Nguyễn Tầm Thường S.J –  trích trong “Nước Mắt Và Hạnh Phúc”

TỈNH THỨC

Tại Thụy sĩ, có một vườn hoa tuyệt đẹp, đủ loại hoa, đủ màu sắc.  Nằm giữa vườn là một tòa nhà tráng lệ.  Nhìn vườn hoa với cảnh phối trí, cắt tỉa, uốn nắn… ai cũng phải công nhận đã có một sự chăm sóc kỹ lưỡng, kèm theo một óc thẩm mỹ hiếm có của người chủ vườn.  Một du khách đi qua đây, thoáng nhìn ông đã thấy như say mê.  Giữa lúc đó, người làm vườn bước ra.  Chủ khách chào hỏi lẫn nhau. Rồi từ chuyện hoa cỏ, cách chăm bón, trồng tỉa, sự phối hợp màu sắc… câu chuyện đi đến chỗ thân tình.

Du khách hỏi: “Xin lỗi cụ, cụ ở đây được bao lâu rồi?”- “Khoảng 40 năm rồi” – “Tôi đoán, có lẽ ông chủ của cụ rất sành về nghề cảnh, chắc giờ này ông có nhà?” – “Ông ta không ở đây, thỉnh thoảng mới ghé qua đây thôi” – “Ông có thư từ gì với cụ không?” – “Không, ông ta bận lắm” – “Ông không về cũng không thư từ, thì ai trả lương cho cụ?” – “Hàng tháng tôi chỉ nhận được ngân phiếu từ ông ta để chi phí mọi sự cho khu vườn này” – “Thế tội gì cụ phải chăm sóc kỹ lưỡng thế này, ông chủ có mấy khi đến thưởng ngoạn đâu?” – “Tôi thì lại không nghĩ thế, mình là một gia nhân được chủ tín nhiệm trao phó việc bảo quản khu vườn này, mình phải tận tụy chứ lúc nào ông về cũng được, ông sẽ hài lòng với công việc của tôi.  Hơn nữa, khi làm đẹp khu vườn cho chủ, chính tôi cũng được thưởng ngoạn cảnh đẹp do chính tay mình làm nên”.

****************************************

zzNgười gia nhân trên đây thật đáng ca tụng.  Ông làm việc không vì sợ nhưng vì yêu, không vì mắt chủ mà vì trách nhiệm, ông coi việc của chủ như việc của mình, nên đã hết lòng.  Thái độ của ông thực là thái độ Chúa muốn mỗi người chúng ta phải có khi làm việc cho Ngài.  Trong huấn dụ về sự tỉnh thức Chúa đã dạy chúng ta trong bài Tin Mừng: “Hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ gõ cửa thì mở ngay cho chủ.  Nếu canh hai canh ba chủ trở về mà gặp thấy như vậy thì phúc cho các đầy tớ ấy”.

Lời dạy của Chúa chúng ta đã nghe nhiều, nghe đi nghe lại, nhưng có lẽ nó chưa rơi vào óc, chưa thấm vào tim chúng ta.  Chúa bảo chúng ta cầm đèn cháy sáng, nhưng đèn chúng ta lại không dầu, chúng ta lại ngủ vùi trong đam mê.  Chúa bảo chúng ta đợi Ngài, nhưng chúng ta lại đợi những gì khác Ngài… Vậy nếu canh hai canh ba Ngài về thì phúc cho chúng ta hay họa cho chúng ta?  Linh hồn và thân xác chúng ta là tòa lâu đài Chúa trao, vườn hoa chính là nhân đức Chúa đã gieo trồng, rồi ủy thác cho chúng ta chăm sóc.  Hôm nay nhìn lại, tòa lâu đài còn xứng đáng với danh xưng của nó hay đã biến thành nhà hoang, nhà điếm hoặc hang trộm cướp?  Vườn hoa nhân đức giờ này còn khởi sắc hay chỉ phơi bày sự úa tàn?  Trong hoàn cảnh này, nếu Chúa trở về, Ngài sẽ buồn hay vui?  Vui buồn của Ngài cũng là quyết định cho khổ đau hay hạnh phúc của chúng ta.

Suy nghĩ và nhận ra những thiếu sót của mình, chúng ta hãy tức thời tu sửa.  Thời gian của vũ trụ thì con dài, nhưng thời gian của đời mình thì thật ngắn ngủi.  Sự chấm dứt chẳng biết lúc nào.  Chúng ta đừng bao giờ nghĩ mình còn lâu mới chết: mình còn trẻ, khỏe mạnh, còn lâu mới chết, vì không thiếu gì trường hợp “Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời”.  Ông Lã Phụng Tiên kể một câu chuyện ngụ ngôn: có một cụ già kia đang cuốc đất trồng cây, có ba chàng thanh niên tình cờ đi qua, thấy vậy các cậu nói: “Cụ ơi, cụ lẩm cẩm quá, già rồi mà còn trồng cây.  Thôi cụ ơi, việc ấy để tụi cháu, cụ lo dọn mình chết là vừa”.  Cụ già vui vẻ ân cần trả lời: “Chắc gì lão chết trước.  Chắc gì các cháu sống lâu hơn lão.  Tử thần xưa rày có phân biệt trẻ hay già đâu.  Trẻ hay già có khác chi nhau về phương diện đó.  Các cháu cứ lo làm cho đàng hoàng công việc của các cháu đi”.  Một thời gian sau, cụ già lần lượt được tin ba chàng thanh niên, vì công việc đều chết cả: người thì chết vì tai nạn xe hơi, người thì chết trận, người thì bị đắm tàu trong một chuyến kinh doanh.  Cụ già được tin buồn, khóc thương ba chàng trai trẻ đó.

Giả sử chúng ta cho là mình còn trẻ, còn khỏe mạnh, còn lâu mới chết cũng được đi.  Nhưng Chúa dạy chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng, chúng ta phải quan tâm và chấp hành nghiêm chỉnh.  Tỉnh thức không phải là không ngủ mà là ngủ trong thức tỉnh.  Tỉnh thức không phải là ngồi không mà chờ đợi, nhưng vẫn làm như thường trong tư thế chờ đợi.  Có những người tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại mê ngủ trong những đòi hỏi của Tin Mừng. Tỉnh thức cũng không phải là suốt ngày đọc lời Chúa nhưng là để lời Chúa chi phối đời sống của mình.  Như vậy, thái độ tỉnh thức của chúng ta không phải là một thái độ tiêu cực, chạy trốn, tránh né bổn phận, không dấn thân trong hiện tại, nhưng ngược lại, vẫn sống tích cực, vẫn chu toàn bổn phận hàng ngày, vẫn liên đới với mọi người… sống và làm việc cách tốt đẹp.  Tóm lại, sự tỉnh thức của chúng ta là ý thức rằng sống là để yêu thương và phục vụ.  Đây chính là ý nghĩa đích thực của sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng.

Chúng ta còn trẻ hay đã già, khỏe mạnh hay đau yếu, điều đó không quan trọng, nhưng quan trọng là chúng ta đang sống thế nào?  Đang tỉnh thức hay ngủ mê?  Nếu chúng ta đang sống tốt đẹp, chúng ta cứ vui sống.  Có một câu chuyện kể rằng: Một hôm, một số trẻ em đang vui chơi, một giáo sư đi tới hỏi các em: “Nếu bây giờ Chúa gọi các con chết, các con sẽ làm gì?”.  Nghe hỏi thế, em thì nói: “Con vào nhà thờ cầu nguyện”.  Em khác thưa: “Con đi xưng tội”.  Có một em hồn hiên trả lời: “Phần con vẫn vui chơi như thường”.  Vị giáo sư hỏi: “Tại sao con lại vui chơi như thường?”.  Em trả lời: “Vì con luôn sống tốt đẹp, nên con chẳng có gì phải lo sợ”.  Em bé đó chính là thánh trẻ Bec-man.

Khi đời chúng ta luôn sẵn sàng, khi lương tâm chúng ta không trách cứ chúng ta điều gì, khi mọi nợ nần của chúng ta với Chúa và anh em đều sòng phẳng, chúng ta không có gì phải lo sợ, chúng ta cứ vui sống.

Sưu tầm

HÃY THEO THẦY

zz“Cách tuyệt vời để duy trì bình an và tĩnh lặng không ngừng của tâm hồn là đón nhận tất cả từ bàn tay của Chúa, lớn hoặc nhỏ, và trong bất cứ hoàn cảnh nào” – Thánh Dorotheus

“…Hãy theo thầy, tiếng Ngài gọi con hôm nay, tiếng Ngài gọi con, gọi con hãy theo Ngài.

Chúa gọi con từ sớm mai hồng, gọi con khi mặt trời đứng bóng, gọi con khi chiều sắp buông.

Hãy theo thầy, tiếng Ngài gọi con trìu mến, bước theo thầy này lòng con quyết theo Ngài…”

Đây là điệp khúc của bản nhạc Hãy Theo Thầy của nhạc sĩ Gia Ân.  Có lẽ ai trong chúng ta cũng có thể hiểu được lời nhạc vì đó là lời mời gọi quen thuộc của Chúa Giêsu: “hãy theo Thầy”, và có lẽ trong chúng ta cũng có lòng mong ước để đáp lại lời mời gọi ấy một cách trọn vẹn.

Mặc dầu trong tâm hồn ta có nhiều ao ước, nhưng chúng ta cũng biết lời mời gọi ấy không phải là lời mời gọi suông nhưng mà là một lời mời gọi đầy thách đố.  Vì khi Chúa Giêsu mời gọi ai, Ngài cũng tỏ cho chúng ta biết ta sẽ mất những gì và được những gì để chúng ta có thể đắn đo và thật sự chọn lựa.

Trong Phúc Âm Luca, Chúa Giêsu nói câu “theo ta” tất cả là bốn lần.  Lần thứ nhất Ngài gọi người thu thuế Mát-thêu và ông ta đã hứa bỏ cuộc sống cũ và đón nhận cuộc sống mới (Lc 5:27).  Lần thứ hai là khi Ngài nhắc các môn đệ cái giá họ phải trả để theo Ngài khi Ngài tiên báo về cuộc thương khó của Ngài lần thứ nhất (Lc 9:23).  Lần thứ ba là khi Ngài đi dọc đường và có hai người muốn theo Ngài nhưng họ chưa sẵn sàng bỏ lại sau lưng những trách nhiệm làm người như chôn cất cha mình và từ giã gia đình (Lc 9:59-62), và lần thứ tư là khi người thủ lãnh giàu có đến hỏi Chúa Giêsu làm sao để được sự sống đời đời làm gia nghiệp và Ngài mời gọi ông theo Ngài sau khi ông bán hết của cải (Lc 18:18-23).

Qua bốn câu chuyện trên, chúng ta thấy được mỗi một người Ngài đòi hỏi họ một cách khác nhau vì mỗi một người có một hoàn cảnh khác nhau.  Khi Ngài mời gọi họ theo Ngài, Ngài nói họ cần phải bỏ lại những gì cần thiết cho họ, chẳng hạn như với Mát-thêu có thể ông cần phải hàn gắn lại với những người ông đã gian lận và lạm dụng.  Còn các môn đệ thì Ngài đòi hỏi các ông phải bỏ mạng sống.  Còn hai người kia thì Ngài đòi hỏi họ bỏ lại gia đình, không chôn cất cha già và cũng không từ giã gia đình. Ngay cả việc chôn cất người cha của mình để sống trọn vẹn sự hiếu thảo của kẻ làm con, Ngài cũng đòi hỏi họ sự hy sinh đó.  Còn người thủ lãnh giầu có thì Ngài đòi hỏi ông bỏ hết gia tài của mình.

Thế còn mỗi người chúng ta, khi Ngài gọi thì chúng ta nghĩ Ngài sẽ đòi hỏi chúng ta phải bỏ những gì? Chúng ta có sẵn sàng và có đủ can đảm để đáp trả lại lời mời gọi đó một cách chân thành chưa?  Có bao giờ chúng ta ngồi lại với chính mình và nói với Ngài” con đã theo Chúa bao lâu nay nhưng con chưa bao giờ hỏi Chúa muốn gì nơi con, và giờ đây xin Ngài dạy cho con biết con phải từ bỏ những gì để rồi con được theo Ngài cho trọn” không?  Lắm lúc chúng ta cứ nghĩ rằng chỉ có đi tu thì mới cần bỏ mọi sự mà theo Ngài, hay là vì chúng ta đã đi tu nên chúng ta đã bỏ mọi sự để theo Ngài.  Có lẽ chúng ta nên có một cái nhìn mới về điểm này là tất cả mọi người đều được mời gọi để theo Ngài trong mọi hoàn cảnh, và khi theo Ngài chúng ta cũng cần hội đủ những điều kiện mà Ngài đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta.

Trong mỗi bậc sống – độc thân, đi tu, hay là lập gia đình – đều có những thách đố đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ để hội nhập vào bậc sống mà Chúa chọn cho mình.  Đó là những hy sinh mà ai cũng cần phải đối diện và đón nhận để tìm được niềm vui trong cuộc sống ấy.  Bậc sống độc thân thì có những thách đố và hy sinh của nó, chẳng hạn như phải tự lo cho chính mình và phải đối diện với những thử thách trong xã hội về bậc sống của mình.  Bậc sống tu trì đòi hỏi chúng ta phải sống lời khấn của dòng và sống đời sống cộng đoàn, nhưng bù vào đó chúng ta luôn có nơi nương tựa.  Bậc sống gia đình thì cũng có những bôn ba và lo lắng cho cuộc sống và cho con cái nhưng rồi chúng ta cũng tìm được niềm vui của diễm phúc làm cha mẹ.

Điều mà có lẽ Chúa Giêsu luôn đòi hỏi ở mỗi người chúng ta trong cả ba bậc sống đó là chúng ta cần phải từ bỏ những gì Ngài sẽ tỏ cho chúng ta trong bậc sống của mình hầu chúng ta biết theo Ngài trọn vẹn.  Làm sao chúng ta có thể sống trong mỗi bậc sống của mình mà vẫn chọn Ngài trên hết?  Làm sao chúng ta có thể nhận ra lời mời gọi của Ngài “từ sớm mai hồng, khi mặt trời đứng bóng, hoặc khi chiều sắp buông?”  Trong Phúc Âm Luca ở chương chín, khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ về những thách đố để theo Ngài, “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo”, Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta phải theo Ngài hàng ngày, và trong mỗi hơi thở là một sự lựa chọn để theo Ngài.

Trong cuộc sống hàng ngày, một cách cụ thể để theo Chúa Giêsu cho trọn là chúng ta có dám bỏ đi chỗ khác khi bạn mình hay người thân trong gia đình đang nói xấu về người khác không?  Chúng ta có sẵn sàng chia sẻ cùng một không gian trong con tim của Chúa khi người anh chị em của mình đối xử không tốt với mình không, hay khi người anh em của mình nói những điều xúc phạm tới mình, chúng ta có dám chọn để ở trong bình an của Chúa mà không cần phải trả đũa lại không?  Khi chúng ta có chuyện lo lắng, chúng ta có dám phó thác và tin vào sự quan phòng của Chúa và vẫn giữ mình trong bình an Ngài không?  Hoặc khi chúng ta biết mình cần phải làm một điều gì nhưng sợ người khác tự ái mà không dám nói ra, chúng ta có biết mang điều đó vào cầu nguyện để xin Chúa dạy cho chúng ta biết đối diện nó và sẵn sàng làm những gì Ngài dạy cho chúng ta không?  Nói tóm lại, chúng ta có dám thực sự chọn để ở trong bình an của Chúa bằng cách bỏ đi hoặc đối diện những gì làm cho tâm hồn chúng ta bị giao động và đón nhận tất cả mọi sự, dù lớn dù nhỏ, như là những món quà thiêng liêng của Chúa không?

Mỗi người chúng ta cần phải thành thật trả lời cho sự chọn lựa của mình về việc đáp trả lời mời gọi của Chúa trong mỗi giây phút của cuộc sống, và đó là cái giá đầu tiên chúng ta phải trả khi chúng ta chọn Ngài.  Ước gì mỗi người chúng ta đều biết lắng đọng để lắng nghe và chọn lời mời gọi của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng đã chọn để ở giữa và chia sẻ từng hơi thở với chúng ta hầu giúp chúng ta thật sự là những môn đệ chân chính của Ngài trong bậc sống mà ta và Ngài cùng chọn.

Củ Khoai

 

CẦU NGUYỆN VÀ CÁCH MẠNG (2)

Trong mọi sự hình như ngài có mục đích cụ thể và sống động trong đầu óc, và việc thực hiện điều đó là chuyện quan trọng sống chết.  Tuy thế ngài luôn giữ được sự tự do nội tâm theo ánh sáng của mục tiêu.  Ðôi khi hình như ngài biết là mục đích không bao giờ hoàn tất và ngài chỉ thấy bóng hình của nó. Nhưng dù sao ngài vẫn có sự tự do gây ấn tượng do cuộc sống của ngài.  Ngài cẩn trọng và cẩn thận, không phải là không kiểm soát nhưng lúc nào hình như ngài cũng coi cuộc sống mình chỉ có tầm quan trọng thứ yếu.  Ngài không sống để giữ nhưng để hoạt động cho một thế giới mới mà những nét chính ngài đã thấy và điều đó kêu gọi ngài nên biên giới giữa sống chết trở nên mờ nhạt.

Nhưng rõ ràng là con người cách mạng không những lôi kéo người khác mà cũng làm cho người khác lánh xa.  Sự bất mãn ngài tạo nên cũng là thực tại lớn lao như vẻ hấp dẫn ngài có.  Rõ ràng vì ngài tự do không bị ràng buộc bởi những điều người khác coi như là thánh thiện nên ngài là mối đe doạ cho họ. zz Cách ngài nói và sống làm cho tương đối hóa những giá trị mà nhiều người xây dựng cuộc sống trên đó.  Họ cảm thấy sứ điệp ngài có chiều sâu và thấy được hậu quả xảy ra cho họ nếu họ chấp nhận là ngài có lý.  Dần dà khi ngài đến với họ, họ biết thế giới họ đang sống cũng là thế giới họ mong ước nhưng đòi họ cố gắng là một việc quá sức.  Việc ngài phê phán cuộc sống của họ liên lỉ và rõ ràng nên con đường duy nhất cho họ trốn được ngài là khai trừ ngài.  Ðể giữ được sự yên tĩnh trong tâm trí và không bao giờ bị quấy rầy trong cách sống yên ổn của họ, họ thấy là phải làm im tiếng con người chiến đấu chống lại hạnh phúc giả tạo và nhân tạo của họ.

Vì thế, người tuyên bố một thế giới mới và làm cho thế giới cũ rung chuyển sẽ trở thành mục tiêu tấn công cho những người coi mình là những người bảo vệ trật tự, gìn giữ hòa bình yên ổn.  Trên hết, đối với những người lãnh đạo trong thế giới ngày nay, con người này lột mặt nạ những ảo tưởng thời đại và là người khuấy động làm cho bất an không thể tha thứ được.  Theo quan điểm của họ thì họ có lý vì người thị kiến này không những phê bình những nhà lãnh đạo mà cả xã hội họ đang hướng dẫn.  Sự tấn công chống lại người thị kiến sẽ là sự tuyệt thông với mọi phương tiện nhà cầm quyền có trong tay. Ðiều này có thể khởi đầu với sự chối từ sứ điệp của ngài đưa đến tấn công bằng lời nói, và kết thúc bằng giam tù hay hành quyết.  Nhưng nếu người cách mạng đáng tin và thật, điều họ chờ đợi không bao giờ xảy ra.  Ngay cả cái chết cũng không làm xáo trộn lời kêu gọi của ngài.  Những người giết ngài thường khám phá ra với bất ngờ và kinh hoảng là họ chỉ thành công trong việc thức tỉnh nhiều người hơn và tiếng kêu gọi cho một thế giới mới lại trở thành tiếng nói lớn hơn.

Nếu theo cách mô tả trên, không ai trong thế giới chúng ta được xếp hạng nhà cách mạng.  Dù bạn kể ra những tên nào cũng chỉ thấy những dấu vết nhỏ bé của con người cách mạng đó.  Tuy nhiên cũng phải nói rằng ai mở mắt và tìm kiếm người đó có thể gặp thấy trong muôn ngàn người họ gặp trong cuộc sống.  Ðôi khi chỉ nhận ra cách mơ hồ, đôi khi hiển nhiên không chối cãi, không bao giờ hoàn toàn nhưng có những phần trở nên rõ ràng cho người muốn thấy.  Ta có thể thấy ngài trong anh du kích, trong giới trẻ mang biểu ngữ biểu tình, nơi người mơ mộng trầm lặng trong góc quán cà phê, trong người tu sĩ nói nhỏ nhẹ, trong người sinh viên hiền lành, trong người mẹ để cho con theo con đường của mình, trong người cha đọc cuốn sách kỳ lạ cho con, trong nụ cười của cô con gái, trong sự bất mãn của anh công nhân, nơi mọi người cách này hay cách khác tìm ra năng lực sống trong một thị kiến mờ nhạt trước mặt họ, nhưng vượt lên trên mọi sự khác họ đã nghe hay thấy.

Ðiều này có liên quan gì đến cầu nguyện?  Cầu nguyện có nghĩa chui qua bức màn hiện hữu và để cho thị kiến trở thành sự thực hướng dẫn bạn.  Dù cho ta gọi thị kiến là: “Thực thể chưa thấy” “người khác toàn thể” “Numen” “Thần khí” “Cha” thì ta cũng lập đi lập lại là không phải chính con người có năng lực làm cách mạng, sự xoay chiều đến và qua đi.  Ðó đúng hơn là năng lực mạc khải mình cho họ và họ cảm thấy mình kết hợp với năng lực từ đời đời.

Người cầu nguyện là người gợi hứng cho thế giới, nhìn vào thế giới với sự thương cảm, và qua cái nhìn đó, nhìn thấu nguồn gốc mọi hiện hữu.

Ðôi khi ta dùng tiếng Thiên Chúa.  Từ này có thể gợi cho ta ngất ngây hay ghê tởm.  Quyến rũ và xua đuổi.  Mê hoặc và nguy hiểm.  Có thể nuôi dưỡng con người và cũng nuốt trửng con người.  Cũng giống như mặt trời.  Không có mặt trời không có cuộc sống con người, nhưng nếu con người đến gần mặt trời quá, họ sẽ bị đốt cháy.  Người Kitô hữu là người biết Ðấng ấy là một ngôi vị, và tên Chúa của Ngài là Abba, Cha.  Họ biết có thể đối thoại với người và như thế hoạt động cho việc canh tân thế giới. Như thế cầu nguyện là hành động thiết yếu nhất con người có thể làm vì con người cầu nguyện không bao giờ thoả mãn với thế giới hiện tại và ở đây, họ luôn cố gắng thực hiện một thế giới mới mà tia sáng đầu tiên họ đã nhận ra.

Khi bạn cầu nguyện, bạn mở lòng cho ảnh hưởng của Năng Lực đã mạc khải mình là Tình Yêu.  Quyền Năng cho bạn tự do và độc lập.  Một khi được năng lực đó chạm tới bạn không còn giẫy giụa trong những ý kiến bất tận, những tư tưởng hay cảm xúc đến với bạn.  Bạn tìm được trung tâm cho cuộc sống của bạn cho bạn một khoảng cách có tính cách sáng tạo, để mọi cái bạn thấy nghe hay cảm có thể thử nghiệm được nguồn gốc.  Chúa Kitô là Ðấng làm sáng tỏ trong cách mạc khải rõ ràng nhất cầu nguyện có nghĩa chia xẻ quyền năng của Chúa.  Cầu nguyện cho ngài có thể biến đổi thế giới, cho ngài sự lôi cuốn giải thoát bao nhiêu người ra khỏi xiềng xích của cuộc sống, nhưng cũng gây nên sự chống đối làm cho ngài phải chết.  Chúa Kitô, Ðấng được gọi là Con Người và cũng là Con Chúa đã cho thấy cầu nguyện có ý nghĩa gì.  Nơi Ngài chính Thiên Chúa trở thành hữu hình cho sự sụp đổ hay chỗi dậy của nhiều người.

Cầu nguyện là cách mạng vì khi đã khởi đầu bạn làm cho toàn thể cuộc sống bạn thành quân bình. Nếu thực sự bạn cầu nguyện nghĩa là thực sự đi vào thực thể của điều không thấy được bạn phải nhận ra là bạn dám phê phán cách quyết liệt nhất, sự phê phán nhiều người mong đợi nhưng lại là quá đáng đối với nhiều người.

Như thế cầu nguyện có nghĩa sẵn sàng để cho không còn chắc chắn và đi qua chỗ bạn đang đứng bây giờ.  Nó đòi hỏi bạn lên đường luôn luôn, rời nhà và đi tìm mảnh đất mới cho bạn và đồng loại.  Ðó là lý do tại sao cầu nguyện đòi nghèo khó, nghĩa là sẵn sàng sống cuộc sống trong đó bạn không có gì để mất, để bạn luôn khởi đầu mới mẻ.  Bất cứ lúc nào bạn muốn chọn sự khó nghèo này thì bạn làm cho bạn dễ bị thương tổn nhưng bạn cũng được tự do để nhìn thế giới, và để cho thế giới được nhìn theo hình thể mới.  Vì bạn không cần bảo vệ mình và bạn có thể nói lớn lên điều bạn biết do sự tiếp xúc thân mật với Ðấng là nguồn gốc mọi cuộc sống.  Nhưng điều này đòi phải can đảm.  Nếu bạn muốn cho mọi hậu qủa của cuộc sống cầu nguyện thành đạt có lẽ bạn phải sợ hãi và tự hỏi sao bạn lại dám làm thế.  Lúc ấy điều căn bản phải nhớ là sự can đảm cũng là ơn Chúa ban và bạn có thể cầu nguyện với Ngài bằng những lời sau đây:

Lạy Chúa xin cho con sự can đảm để làm cách mạng
như Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô đã là nhà cách mạng.
Cho con can đảm buông mình ra khỏi thế giới
Xin dậy con đứng lên tự do
và tránh không phê phán.
Lạy Chúa, vì nước Chúa
xin hãy cho con tự do,
cho con nghèo hơn trong thế giới này,
rồi con sẽ giàu trong thế giới thực
là mục đích cuộc sống này.
Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì viễn tượng tương lai
nhưng hãy làm cho viễn tượng ấy là sự kiện chứ không chỉ là nguyên tắc mà thôi.

Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA.

 

NHỮNG KHO LỚN HƠN

zzCái kho là quan trọng.  Kho bạc quan trọng đối với một đất nước.  Kho lẫm cần cho người làm nghề nông.

Mỗi gia đình, mỗi công ty thường có kho riêng.  Có thể là một tủ sắt để trong nhà hay ở ngân hàng.  Mọi lợi nhuận đều thu vào kho.

Ai cũng muốn cho kho của mình bành trướng.

Sau một vụ mùa bội thu, mối bận tâm lớn nhất của ông phú hộ trong dụ ngôn là tìm cho ra chỗ để tích trữ hoa màu của mình, vì những kho cũ không đủ sức chứa nữa.  Cuối cùng ông đã tìm ra giải pháp này: phá những kho cũ, làm những kho mới lớn hơn, rồi bỏ tất cả hoa màu, của cải vào đó, khóa lại cho thật kỹ, đề phòng kẻ trộm.

Khi nhà kho đã an toàn thì tương lai của ông vững vàng ổn định.  Nhiều của cải cho phép ông sống thoải mái trong nhiều năm.  Những cái kho lớn cho ông tha hồ vui chơi, ăn uống.  Ông thấy mình chẳng cần đến Chúa, chẳng cần đến ai.  Của cải trong kho bảo đảm cho ông sống hạnh phúc.  Những cái kho là nơi ông đặt lòng mình (x. Lc 12,34).  Xin đừng ai xâm phạm vào chỗ thiêng liêng ấy.

Kho là nơi của cải đổ vào, sinh sôi nẩy nở.  Kho không phải là chỗ chia sẻ cho người khác.  Ông phú hộ sống cô độc, khép kín như cánh cửa kho.  Ông sống với cái kho, sống nhờ cái kho.

Ông tưởng mình đã tính toán khôn ngoan, nhưng ông không ngờ cái chết đến lúc đêm khuya, hay có thể có biết bao rủi ro khác xảy đến.  Ông chợt nhận ra mình phải bỏ lại tất cả.  Cái kho không níu được ông, cũng không vững như ông nghĩ.  Những gì ông thu tích như giọt nước lọt qua kẽ tay.

Ai trong chúng ta cũng có một hay nhiều kho.  Có thể chúng ta ôm mộng làm giàu hay đang giàu lên, chúng ta định nới kho cũ hay xây kho mới.  Chúng ta chăm chút cái kho cho con cháu mai này.

Thật ra của cải không xấu, xây kho cũng không xấu. “Nhưng phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam” (12,15).

Phải mở rộng những cánh cửa kho của mình, để kho không phải chỉ là nơi tích trữ cho tôi, nhưng là phương tiện để tôi giúp đỡ tha nhân.  Đừng để nhà kho, két sắt, ví tiền thành mục đích.

Người giàu đáng yêu trước mặt Thiên Chúa là người biết mở kho để trao đi, và thấy Thiên Chúa liên tục làm cho kho mình đầy lại.  Làm thế nào để khi ra trước toà Chúa, chúng ta thấy kho của mình trống trơn vì vừa mới cho đi tất cả.

Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.

Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, có bao điều con lãng phí bên cạnh những Ladarô túng quẫn, có bao điều con hưởng lợi dựa trên nỗi đau của người khác, có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.  Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa.  Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.  Con phải chịu trách nhiệm về cảnh người nghèo trong xã hội.

Lạy Cha chí nhân, vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.  Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.

Thế giới còn nhiều người đói nghèo là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.  Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen!

Trích từ ‘Manna’

CẦU NGUYỆN VÀ CÁCH MẠNG (1)

Khi cuộc sống của bạn càng ngày càng trở thành lời cầu nguyện bạn nhận ra mình luôn bận bịu hướng về mình và hiểu rất sâu xa về đồng loại.  Bạn cũng nhận ra cầu nguyện là nhịp đập của thế giới bạn đang sống.  Nếu bạn cầu nguyện thực sự, bạn sẽ có những câu hỏi về những vấn đề lớn lao mà thế giới đang phải vật lộn, và bạn không thể bỏ qua ý tưởng cho rằng sự trở lại không chỉ cần thiết cho chính bạn và người bên cạnh nhưng còn cho toàn thể cộng đồng nhân loại.  Cuộc trở lại của thế giới có nghĩa một cuộc quay về, một cuộc cách mạng, có thể đưa đến sự canh tân.

Thoạt nhìn, những “từ” cầu nguyện và cách mạng hình như ở hai thái cực và từ hai vũ trụ khác nhau mà đến, nên sự phối hợp của chúng có lẽ chỉ tạo nên thù nghịch và giận dữ.  Sự giận dữ này là điểm khởi đầu rất tốt vì ngày nay, người giận dữ hình như đòi hỏi sự chú ý nhiều hơn người cầu nguyện.

zzSự giận dữ và thù nghịch làm cho bao nhiêu người phải cầm khí giới, làm cho họ lẫn lộn, và làm cho họ mau mắn phản đối và biểu tình hay để tỏ ra khinh khi, thì không làm gì cả hay chạy trốn trong con đường sai lạc của ma tuý.  Đó là những dấu hiệu không thể sai lầm cho thấy sự bất mãn kinh niên với thế giới nơi ta bị bó buộc sống.  Có người muốn nhắc tới cho xã hội chúng ta về những lý tưởng tự do và công bình được viết trong sách, nhưng bị dầy đạp dưới chân trong cuộc sống thực hành hàng ngày.  Có người còn từ bỏ cố gắng đó và đi đến kết luận là cái cơ may sau cùng dành cho con người tìm bình an và yên tĩnh là rút lui ra khỏi thế giới hỗn độn này.  Họ ghê tởm xã hội với những định chế và chương trình.  Bất cứ điều gì con người làm hoặc trở nên anh hippi, anh yippi, nhà cách mạng hay người mơ mộng hiền lành, hay là kêu gọi thay đổi cơ cấu, hay buông trôi tất cả trong nụ cười buồn thảm, sự bất mãn vẫn còn, mạnh mẽ và âm thầm hay bị dẹp tắt dưới một thái độ dửng dưng thụ động. Rất dễ nhận ra trong những thái độ đó sự khao khát một thế giới mới.  Xã hội như ta thấy bây giờ phải thay đổi, những cơ cấu giả tạo phải biến mất và một cái gì hoàn toàn mới thay thế vào.  Có người chiến đấu với mọi nghị lực, có người chờ đợi sự hiển hiện ra mà chính họ không thể tạo nên, người thứ ba tham dự vào tương lai và chìm ngập trong thế giới bó buộc phải mơ mộng của âm thanh, màu sắc và hình thái trong đó, ít là trong lúc đó, họ có thể coi như mọi sự, ngay cả chính họ, đều được cải tân.

Ðiều có lẽ đánh động nhất về những viễn tượng của tương lai thế giới là nó mang hình thức hoàn toàn độc lập với tư tưởng Kitô giáo là tư tưởng đặc biệt hướng về tương lai.  Hình như những năng lực khổng lồ đó đang lấn đất trong thế giới cứng cỏi, đang kêu gào một thế hệ mới, một thế giới mới và một trật tự mới không tìm thấy căn bản sâu xa trong Kitô giáo truyền thống.  Trong khi Kitô hữu bận bịu với những vấn đề nội bộ và như thế quá lo lắng về chính mình nên không nhìn thấy những gì còn lại trên thế giới, thì nhu cầu cần được cứu độ đang tăng lên bên ngoài Kitô giáo càng trở thành một điều hiển nhiên.  Sự gợi ý này người Kitô hữu thường coi như ngô nghê, vô trật tự và chưa trưởng thành.

Tuy thế bạn chỉ là Kitô hữu bao lâu bạn hướng về thế giới mới, bao lâu bạn luôn đặt câu hỏi quan trọng cho xã hội bạn đang sống, bao lâu bạn nhấn mạnh nhu cầu phải trở lại, cho bạn và cho thế giới, bao lâu bạn không thể nào để cho bạn trong tình trạng yên tĩnh, bao lâu bạn vẫn không thoả mãn với cái “status quo” và tiếp tục nói rằng thế giới mới chưa tới.  Bạn chỉ là Kitô hữu khi bạn tin là bạn có vai trò phải đóng trong việc thực hiện vương quốc mới, và khi bạn thúc đẩy nhiều người bạn gặp luôn thao thức thánh thiện để vội vã làm cho lời hứa chóng được thực hiện.  Bao lâu bạn tiếp tục sống như người Kitô hữu bạn tiếp tục tìm kiếm trật tự mới, cơ cấu mới, cuộc sống mới.

Bạn không chịu được việc có người còn ở bên lề đường, chán nản và tìm hạnh phúc trong những khoái lạc nhỏ bé mà họ dính bén.  Thấy mọi sự được xếp đặt sẵn và qui định sẵn làm cho bạn phẫn nộ và bạn cũng cảm thấy sự tha thứ cho mình, thoả mãn cho mình, vì bạn biết chắc chắn cái gì cao cả đang tới và bạn đã thấy những tia sáng đầu tiên.  Như Kitô hữu, bạn không những chủ trương rằng thế giới này sẽ qua, nhưng rằng nó sẽ phải qua đi để cho thế giới mới xuất hiện, và không có giây phút nào trong cuộc sống của bạn mà bạn có thể nghỉ ngơi khi xác tín không phải làm gì nữa.

Nhưng còn người Kitô hữu như thế chăng?  Nếu ta có cảm tưởng Kitô giáo hôm nay đang thất bại trong vai trò lãnh đạo tinh thần, nếu có vẻ như con người tìm ý nghĩa hiện hữu hay không hiện hữu, sinh ra và chết, yêu và được yêu, trẻ và già, cho và nhận, làm thương tổn hay bị thương, mà không có được câu trả lời do chứng tá cho Chúa Giêsu Kitô, bạn sẽ bắt đầu đặt vấn đề những chứng tá đến mức nào mới được tự xưng là Kitô hữu.

Chứng tá Kitô hữu là chứng tá cách mạng vì Kitô hữu tuyên xưng là Chúa sẽ trở lại và canh tân mọi sự.  Cuộc sống Kitô hữu là cuộc sống cách mạng vì Kitô hữu đặt ra khoảng cách cho mình với thế gian, và dù cho mọi nghịch cảnh, họ luôn nói rằng con người mới, sự bình an mới là điều có được và không có ta những điều đó không thể xảy ra.

Do đó không phải là nhiều quá vấn đề làm cho Kitô hữu thành nhà cách mạng khi muốn nhận ra nơi người cách mạng đương thời hình dáng thực của Chúa Kitô.  Vì có thể nơi con người không an hoà với thế gian và dấn thân toàn diện trong cuộc tranh đấu cho một tương lai đẹp hơn, chúng ta một lần nữa tìm ra con người hi sinh mạng sống cho nhiều người được tự do.

Ðâu là những dấu hiệu cho thấy nhà cách mạng thật?  Bất cứ lúc nào ta tìm kiếm ông ta, ta phải hiểu là những dấu hiệu đó không hoàn toàn hiển nhiên nơi cá nhân nào.  Nó luôn là vấn đề phản ứng, vết chân, tra cứu, dấu tay hay ghi dấu trên cây làm cho ta thấy có người đi qua đáng được tìm hiểu.

Người đó là ai?  Họ là người có năng lực thu hút lớn lao những người chung quanh họ.  Ai gặp ngài cũng ngất ngây vì ngài và muốn biết ngài hơn.  Ngài tiếp xúc với ai có cảm tưởng ngài có sức mạnh từ nguồn gốc phong phú mạnh mẽ.  Sự tự do nội tại do người mà có, cho ngài sự tự do, không kiêu hãnh hay dửng dưng, nhưng cho ngài khả năng vượt lên những nhu cầu khẩn thiết hay thúc bách nhất.  Ngài xúc động vì những gì xảy ra chung quanh nhưng không để cho nó đàn áp hay làm tan vỡ.  Ngài chú ý nghe, nói ra với uy tín hoàn toàn nhưng không dễ dàng vội vã hay bị kích thích.  Trong mọi việc ngài nói hay làm, hình như ngài có thị kiến sống động mà người nghe ngài có thể biết rõ nhưng không thể thấy được.  Thị kiến này hướng dẫn cuộc sống của ngài.  Ngài vâng phục nó.  Nhờ thị kiến ngài biết phân biệt thế nào là cái quan trọng và cái không quan trọng.  Nhiều điều có vẻ khẩn thiết khó làm cho ngài bị lay chuyển nhưng ngài lưu ý thực sự đến những điều mà người khác bỏ qua.

Ngài không phải không xúc động trước những gì làm người khác xúc động nhưng ngài gán cho những nhu cầu của họ một ý nghĩa khác, là chống lại thị kiến của mình.  Ngài sung sướng và hạnh phúc khi có người nghe mình nhưng ngài không ra ngoài để lập nhóm chung quanh mình để xây dựng một tổ chức hay phát động phong trào.  Không có phe nhóm nào phát triển được chung quanh ngài vì chính ngài không tha thiết với phe nhóm nào.  Ðiều ngài nói hay làm có giá trị thuyết phục và là chân lý tự nó hiển nhiên nhưng ngài không bắt ai theo, và cũng không bị xao xuyến khi có người không theo ý kiến ngài và không làm như ngài muốn.

Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA.