ĐỜI KHÔNG NHƯ LÀ MƠ

Trở về nhà sau khóa tĩnh tâm, tôi khá mệt vì hai đêm ngủ không ngon ở nhà tĩnh tâm.  Tuy vậy, gặp lại anh và hai con, tôi vẫn muốn chia sẻ cùng họ niềm vui và cái ấm áp của Chúa Phục Sinh trong con người mình với họ bằng cách phục vụ trong tình yêu.  Căn nhà như một đống rác, chén dĩa ly tách đầy trong bồn rửa chén, đồ chơi tràn lan từ các phòng trong ra ngoài phòng khách, quần áo và tất của ba cha con vất lung tung…  Nhưng tôi mới đi tĩnh tâm về mà, chuyện nhỏ!  Lòng thầm tạ ơn Chúa vì anh đã giữ con cho mình đi chơi với Chúa hai đêm ba ngày.

Buổi chiều cuối tháng mười thật đẹp.  Đứng rửa dọn chén bát ly tách và ngắm nhìn ngoài cửa sổ khi nắng chiều đang tắt dần.  Tôi mân mê trong làn nước ấm rửa sạch chén dĩa dơ, tự nhiên thấy hạnh phúc trong những việc nhỏ nhặt.  Đúng như Chúa hứa, Chúa có trong mọi sự, mọi việc vặt vãnh quanh tôi, chỉ là tôi không nhận ra.  Bữa cơm chiều gia đình có thịt ram mà tôi đã ướp sẵn trong tủ lạnh trước khi đi tĩnh tâm, có rau và canh cải ngọt còn trong tủ lạnh, chỉ hâm lại.  Gia đình bố mẹ con cái quây quần ngồi ăn bữa cơm Việt Nam giản dị cùng với Chúa.  Một niềm hạnh phúc ấm áp đơn sơ.

Rồi cả nhà đi xin kẹo quanh xóm mặc dù tôi mệt rã rời và chỉ muốn có thời gian để ngả lưng, nằm đọc qua bài vở cho kỳ thi giữa khóa ngày mai.  Thế nhưng, vì mới xa anh và con, và thấy anh cũng đã vất vả với con cả ngày, nên tôi lại đi cùng.  Lọt tọt khóa cửa nhà và chạy theo con vì trời đã tối.  Đi vòng vòng quanh xóm qua hết bốn năm con đường, và khi vòng về đến nhà, thì phát hiện ra cái chìa khóa trong túi áo của mình đã không cánh mà rơi.

– Ba ơi, chìa khóa nhà đâu mất rồi, chắc rớt mất dọc đường.  Tôi hốt hoảng nói với anh.  (Tôi theo con gọi ông xã là “Ba”.)

Anh bực mình gắt gỏng:

– Ai biểu bỏ chìa khóa vô túi.  Con người gì mà bất cẩn.

Tự nhiên tôi thấy mình như một con rùa rút đầu.  Trong lòng đang khí thế bừng bừng.  Mới đi tĩnh tâm về, lòng thanh thản nhẹ nhàng tưởng như có chết thì cũng vui vẻ sẵn sàng… Vậy mà sao kỳ vậy nè.  Tôi khựng lại như muốn bật khóc, lại bất an.  Thinh lặng.  Tôi dắt con vào trong nhà và nói với anh:

– Ba coi con giùm em chút nghen, em cầm đèn pin đi kiếm lại một vòng những chỗ mình đã đi qua.  Tôi cố bình thản nói vậy, nhưng thực sự như có tiếng Chúa mời gọi tôi dành mấy phút tản bộ cùng Ngài, trước việc mất chìa khóa nhà…

Thiên hạ trong xóm đoàn đoàn lũ lũ kéo nhau đi xin kẹo.  Tôi lang thang cầm đèn pin dọi xuống đất.  Trong đầu thì miên man nghĩ đủ thứ chuyện.  Tôi nghĩ :

“Sao cái ông chồng của mình kỳ cục vậy.  Nhớ có lần tôi và anh đi dự Đại hội giới trẻ, anh làm rơi cái bóp của anh.  Thế là cả hai vợ chồng cùng nhau đi kiếm.  Tôi nhiệt tình gợi nhắc giúp anh nhớ coi đã đi chỗ nào… Và cuối cùng thì tìm được.   Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn.

“Sao anh không nhẹ nhàng với tôi.”

“Giá như tôi cẩn thận hơn…”

“ Chúa ơi, nếu mà con tìm được chìa khóa thì hay quá, thì Chúa thiệt đúng là toàn năng.  Chúa giúp con căng mắt ra nhìn Chúa nghe, không thôi lại phiền anh phải thay ổ khóa mới…”

Đi hết qua những chỗ đã đi, quay gần về đến nhà, tôi bắt đầu thấy chán nản và buồn phiền.  Mất thật rồi, Chúa ơi!  Tính sao đây.  Sao mới đi tĩnh tâm về mà Chúa chơi xấu liền vậy nè.

Tôi bấm chuông.  Anh ra mở cửa với bộ mặt hình sự.  Tôi nhìn anh với mắt buồn bã và nói:

– Em làm mất chìa khóa thật rồi, kiếm không có.  Phiền ba mua cho ổ khóa khác.

Anh không nói một lời, đi thẳng vào phòng coi internet, để mặc tôi tắm rửa, cho con uống sữa, đánh răng, đi ngủ…

Người lả ra, tôi ngồi phệch xuống giường, thấy thật bất an.  Cảm thấy hoảng sợ vì những điều Chúa gởi gấm trong tim, Chúa nhắc nhở tôi qua trí hiểu trong khóa tĩnh tâm… như đang lung lay.  Cứ tưởng chiến sĩ này của Chúa ra trận ngon rồi, trang bị đầy đủ để chiến đấu.  Thế mà…  Tôi khóc.  Không phải khóc vì giận Chúa chơi xấu, hay giận chồng không nhẹ nhàng, mà khóc vì tôi yếu đức tin.   Tôi mải dòm đâu đâu mà không tập trung nhìn vào đôi mắt của Cha tôi khi Ngài đưa tay bảo tôi thử bước ra mặt nước để đi trên biển và đến với Ngài.  Thất bại, xấu hổ vì mấy ngày hăng hái theo chân Cha, nay thì giống như mới đi có nửa đường thánh giá, đã vội quay mặt bỏ chạy.

Con té rồi, vấp ngã rồi… Cha ơi

Tôi gục đầu vào lòng Chúa

…Và nghe như có tiếng Chúa nói bên tai: “Cha đùa chút, thử lòng con chút thôi.  Càng yêu nhiều thì càng thử thách nhiều, biết không?”

Rồi tôi bắt đầu bình tâm lại.  Nhận ra mình đã thật vội vàng trách cứ về người chồng mà Chúa đã gửi cho tôi trong cuộc đời này.  Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, núi rừng trên nhà tĩnh tâm cũng thế.  Xanh lá cây thôi mà có trăm màu khác nhau.  Sao tôi lại đòi hỏi anh phải thế này, phải thế kia, phải nên trọn hảo…  Chúa yêu anh như anh là.  Chúa yêu tôi, như tôi là.  Hơn nữa chung sống với anh đã lâu, biết tấm lòng anh chân thật, chỉ có ăn nói vụng về, không dễ nghe chút thôi.  Chấp nhận, yêu thương, và tạ ơn vì anh là tạo vật có một không hai của Chúa.  Lý thuyết đơn sơ cho bao nhiêu gút mắc, mâu thuẫn vì khác biệt của vợ chồng, mà nhiều khi học hoài không nhớ.

Tôi thầm tạ ơn Chúa vì tôi không có tánh hung hăng dữ tợn bộp chát nên đã không nói năng tầm bậy khiến chồng tôi buồn, khiến anh phải đặt câu hỏi “ Ủa, mới giữ con cho đi tĩnh tâm mà sao kỳ vậy nè!”  Tạ ơn Chúa vì Ngài đã thắng tôi lại, cho tôi biết ôm ấp Thánh kinh, ôm ấp lời Chúa và để Chúa hoạt động trong biến cố mất chìa khóa.

Sáng hôm sau thức dậy sớm, tôi thong dong đi bộ một mình với Chúa.  Sẵn tiện kiếm chìa khóa lần nữa.  Vẫn không tìm được chìa khóa, cho dù là có ánh sáng ban ngày.  Chúa đang mời gọi tôi điều gì đây?  Tôi nhận ra sự bé nhỏ, hạn hẹp của phận người.  Cuộc đời sẽ xô đẩy, lá khô có khi sẽ rơi xuống, vùi lấp chìa khóa lời Chúa, chìa khóa để tôi mở cửa trái tim mình.  Hay có khi tôi đánh rơi chìa khóa con tim tôi trong một bàn tay lạ, không phải bàn tay của Chúa…  Lời mời gọi tôi sống tỉnh thức, sống trọn vẹn giây phút hiện tại.  Lời mời gọi tôi hãy trở nên một Kitô hữu trong sáng, tinh sạch và xứng đáng với Chúa Giêsu Thánh Thể…dù cuộc đời tôi có hoen úa, dù cuộc hành trình ấy khó khăn và tối mù mù giống như ban đêm dọi đèn pin đi tìm chìa khóa bé xíu.

Cuộc đời còn dài và tôi mới có hơn hai chapters thôi (ngoài 20) nên chắc hẳn sẽ cón nhiều biến cố lạ lùng, bất ngờ phía trước.  Chỉ cầu xin một điều cho tôi biết đơn sơ nắm chặt lấy tay Chúa để đi hết con đường này.

Đời không như là mơ
Xin em đừng ngu ngơ
Hãy căng mắt đợi chờ
Nhiều bất ngờ dễ sợ
Đón nhận như trẻ thơ
Sẽ thấy nhẹ như tơ

Ngạo

ĐỜI NÀY và ĐỜI SAU

Bạn đã làm người được bao nhiêu năm?

Chết hết làm người, bạn dự định sẽ làm gì ?

Sống và chết là điều mà mọi người đều nghĩ tới. Và hơn thế nữa, ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời này luôn luôn là điều mà ta hằng quan tâm suy nghĩ.  Ngay cả những người vô thần, dù không tin có cuộc sống ở đời sau, vẫn băn khoăn lo lắng cho những gì xảy ra sau khi ta chết: Lúc đó ta sẽ ra sao ? Sẽ làm gì ? Sẽ đi về đâu ? Về cõi trường sinh vĩnh phúc, hay nơi trầm luân đời đời ?

***

zzBạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến đời sau, nơi mà con người không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống.  Sẽ chẳng cần lấy vợ lấy chồng. Sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nhưng đời sau vẫn là một nhiệm mầu, vì chẳng ai tận mắt nhìn thấy đời sau, chẳng ai chụp hình quay phim được thiên đàng hay hỏa ngục.  Người đã chết cũng chẳng bao giờ trở lại đời này để kể cho ta nghe về đời sau. Bởi thế, nhiều người không tin có đời sau.  Đời sau là chuyện ở đâu đó, hoàn toàn xa lạ, cho nên con người bị cuốn hút bởi “tham sân si” của đời này, sống như thể chỉ có đời này, bám dính lấy đời này.

Thế nhưng, đời này được kết thúc bằng cái chết. Mọi người đều phải đi qua sự chết. Cái chết là cánh cửa mở ra cho con người đi vào cuộc sống mới ở đời sau. Nơi đó những người công chính không còn phải chết nữa, nhưng được sống lại, và sống đến muôn muôn đời.

Một số tôn giáo tin rằng đời người có nhiều kiếp.  Giáo lý Công giáo khẳng định chỉ có một kiếp người, đó là cuộc đời ta đang sống.  Chính cuộc đời duy nhất này định đoạt số phận của ta ở đời sau.  Lúc đó ta sẽ ra sao ?  Sẽ đi về đâu?  Về nơi trường sinh vĩnh phúc hay cõi trầm luân đời đời ?

Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời này một lần mà thôi, không có một cơ hội thứ hai để ta làm lại. Chính vì thế ta phải cố gắng nỗ lực sống hết mình trong cuộc đời này, để đời sau ta được sống lại với Thiên Chúa, vì “Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, và đối với Ngài, tất cả đều đang sống.” (Lc.20:38). Và đó cũng là cơ sở vững chắc cho ta mạnh dạn tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính : “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.

Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng.  Hy vọng vì đời ta sẽ không đi trong bất định, không lạc vào hư vô, nhưng có một cùng đích là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta.  Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên trong hạnh phúc; hạnh phúc được làm con cái Thiên Chúa, hạnh phúc được chia sẻ sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chúng ta tin tưởng vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng : Cũng như Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì sau khi chết, người công chính cũng được sống mãi với Đức Kitô Phục sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. (GLHTCG, số 989)

***

Lạy Chúa Giêsu, trần gian này quá đẹp khiến con mải mê, quên mình là lữ khách. Thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong lòng con. Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân, như thể con sẽ sống mãi trong cuộc đời này.  Xin khơi dậy trong con niềm khát khao những điều cao cả trên trời, và đừng để con mãn nguyện với những cái tầm thường nơi trần thế tạm bợ này. Amen .

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: 2 Maccabees 7:1-2,9-14 – BĐ2: 2Thessalonians 2:16-3:5 – PÂ: Luca 20:27-38)

LỊCH SỬ NGÀY LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN

zzNgay từ thời tiên khởi, Giáo Hội đã khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho người chết như một nghĩa cử bác ái.  Thánh Augustine viết, “Nếu chúng ta không lưu tâm gì đến người chết, thì chúng ta sẽ không có thói quen cầu nguyện cho họ.”  Tuy nhiên, các nghi thức cầu cho người chết có tính cách dị đoan thời tiền-Kitô Giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi mãi cho đến đầu thời Trung Cổ, nhờ các dòng ẩn tu có thói quen cầu nguyện cho các tu sĩ đã qua đời hàng năm thì một nghi thức phụng vụ cầu cho người chết mới được thiết lập.

Vào giữa thế kỷ 11, Thánh Odilo, Tu Viện Trưởng dòng Cluny, ra lệnh rằng mọi tu viện dòng Cluny phải cầu nguyện đặc biệt và hát kinh Nhật Tụng cầu cho người chết vào ngày 2 tháng Mười Một, ngay sau lễ Các Thánh.  Truyền thống này được lan rộng và sau cùng được Giáo Hội chấp nhận đưa vào niên lịch Công Giáo La Mã.

Ý nghĩa thần học làm nền tảng cho ngày lễ này là sự thừa nhận bản tính yếu đuối của con người.  Vì ít có ai đạt được một đời sống trọn hảo, mà hầu hết đã chết đi với vết tích tội lỗi, do đó cần có thời gian thanh tẩy trước khi linh hồn ấy được đối diện với Thiên Chúa.  Công Ðồng Triđentinô xác nhận có luyện tội và nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của người sống có thể rút bớt thời gian thanh luyện của linh hồn người chết.

Sự dị đoan vẫn còn dính dấp đến ngày lễ này.  Thời trung cổ người ta tin rằng các linh hồn trong luyện tội có thể xuất hiện vào ngày lễ này dưới hình thức các phù thủy, các con cóc hay ma trơi.  Và họ đem thức ăn ra ngoài mộ để yên ủi người chết.

Tuy nhiên việc cử hành lễ với tính cách tôn giáo vẫn trổi vượt.  Người ta tổ chức đọc kinh cầu nguyện ở nghĩa trang hay đi thăm mộ người thân yêu đã qua đời và quét dọn, trang hoàng với nến và hoa.

****************************************

Có nên cầu nguyện cho người chết hay không là một tranh luận lớn khiến chia cắt Kitô Giáo.  Vì sự lạm dụng ơn xá trong Giáo Hội thời ấy nên Luther đã tẩy chay quan niệm luyện tội.  Tuy nhiên, đối với chúng ta, cầu cho người thân yêu là một phương cách cắt bỏ sự chia lìa với người chết.  Qua lời cầu nguyện, chúng ta cùng đứng với những người thân yêu, dù còn sống hay đã ra đi trước chúng ta, để dâng lời cầu xin lên Thiên Chúa.

****************************************

“Chúng ta không thể coi luyện tội là một nhà tù đầy lửa cận kề với hỏa ngục – hoặc ngay cả ‘một thời gian ngắn của hỏa ngục.’  Thật phạm thượng khi nghĩ rằng đó là một nơi chốn mà Thiên Chúa bủn xỉn đang bòn rút từng chút thân xác…  Thánh Catherine ở Genoa, vị huyền nhiệm của thế kỷ 15, viết rằng ‘lửa’ luyện tội là tình yêu Thiên Chúa ‘nung nấu’ trong linh hồn đến nỗi, sau cùng, toàn thể linh hồn ấy bừng cháy lên.  Ðó là sự đau khổ của lòng khao khát muốn được xứng đáng với Ðấng được coi là đáng yêu quý vô cùng, họ đau khổ vì sự mơ ước được kết hợp đã cầm chắc trong tay, nhưng lại chưa được hưởng thật trọn vẹn” (Leonard Foley, O.F.M., Tin Chúa Giêsu).

Lm Nguyễn Phước, OFM (from vietcatholic.net)

****************************************

Lạy Chúa Giêsu,
nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này
thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn
vì phải chia tay với những người thân yêu,
vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết
như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý,
nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,
Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,
và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,
để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống Vĩnh Hằng.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.
Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,
chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.

Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.
Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành
đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.
Sống một đời và chết một lần.

Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.
Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống.
Amen!  (theo Maranatha 89)

MỘT NGÀY ĐỂ NHỚ ĐẾN THẦN DỮ

zzHôm nay ngày cuối tháng 10.  Buổi chiều ngày cuối tháng 10 được người Mỹ và các nước chịu ảnh hưởng của Mỹ gọi là Halloween, nghĩa là vọng lễ các thánh.

Có lẽ do những rơi rớt còn lại của một ngày lễ ngoại giáo bắt nguồn từ thời những người Celtic trước Công nguyên, ngày vọng lễ các thánh mang màu sắc ảm đạm ma quái.

Trong các cửa tiệm, hàng hóa được trưng bày một khung cảnh quái dị: những hình nộm được tô vẽ với một bộ mặt của thần chết, những màng nhện trắng xóa giăng mắc khắp nơi, những đồ chơi trẻ em cũng được khoác lên những nét kinh hãi quái dị.  Trên màn ảnh truyền hình cũng như tại các rạp chiếu bóng, đa số các phim trình chiếu đều mang nội dung quái đản, kinh dị.  Buổi tối ngày Halloween, thanh niên thiếu nữ thường cải trang thành ma quái để đi từng nhà ca hát và kể cho nhau nghe chuyện ma quái.

Phải chăng mỗi năm người ta dành một ngày để nhắc nhở về sự hiện hữu và tác quái của thần dữ? Nhưng liệu con người ngày nay còn ý thức được tội lỗi và sự tác động củ thần dữ không?

*************************************

Thi sĩ Baudelaire của Pháp đã có lần nói: “Sự thành công của ma quỷ là thuyết phục được con người rằng nó không hiện hữu”.

Với những khám phá mới trong ngành tâm lý học cũng như bệnh lý học, người ta cho rằng tất cả những vụ quỷ ám mà Kinh thánh nói đến chỉ là những hiện tượng tâm lý bệnh hoạn mà ngày nay khoa học có thể tìm ra nguyên nhân.  Với luận điệu ấy, con người ngày nay tự hào đã loại trừ ma quỷ ra khỏi cuộc sống.

Có lẽ ngày nay, người ta ít có dịp chứng kiến những vụ quỷ ám nhãn tường như Thánh kinh đã ghi lại. Tuy nhiên, dù muốn dù không, không ai có thể chối cãi được một sức mạnh luôn cày xéo tâm hồn con người, luôn lôi kéo con người đến chỗ tự hủy và hủy diệt lẫn nhau.  Mãi mãi câu nói của thánh Phaolô vẫn đúng cho kinh nghiệm của mỗi người: “Ðiều thiện tôi muốn làm thì tôi không làm, điều ác tôi không muốn là, thì tôi lại làm”.  Có một sức mạnh vô hình nào đó luôn khuyến dụ, luôn lôi kéo con người vào tội ác… Thánh Phêrô hẳn không thể nào quên được lời cảnh cáo của Chúa Giêsu: “Hỡi Satan, hãy tránh khỏi mặt Ta”.  Trong lá thư đầu tiên gửi cho các tín hữu, vị Giáo Hoàng đầu tiên đã nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức luôn.  Kẻ thù của anh em là ma quỷ như sư tử luôn gầm thét lượn quanh, tìm mồi để cắn xé.  Anh em hãy chống cự và kiên vững trong Ðức Tin.”

Là người tín hữu, chúng ta không ngừng cầu nguyện bằng chính lời Kinh của Chúa Giêsu: “Xin cứu chúng con khỏi ác thần”.  Ước gì lời Kinh ấy luôn nhắc nhở chúng ta về sự tác động liên lỉ của ma quỷ trong cuộc sống của từng người chúng ta.  Nhưng chúng ta không phải hãi sợ bởi vì chúng ta không chiến đấu một mình mà cùng với và bằng chính sức mạnh của Ðấng đã nói: “Ðừng sợ hãi, vì Ta đã thắng thế gian.”.

R. Veritas

*************************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chịu đau khổ và bị cám dỗ.  Chúa là Đấng quyền năng đã đến để cứu giúp những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Chúa luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài.

Lạy Chúa, xin gìn giữ những kẻ tin vào danh thánh Chúa trong cánh tay Ngài.  Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt.  Amen!

St. Gregory of Khandzta (759-861)

LỆNH HỒ XUNG

zzHôm nay, tôi xin được mượn nhân vật Lệnh Hồ Xung trong tác phẩm võ hiệp lừng danh Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung để minh họa cho chủ đề “sống hiện tại”.  Nhân vật Lênh Hồ Xung không phải là một nhân vật hoàn hảo, nhưng là một nhân vật được Kim Dung mượn để nói lên vấn nạn của con người qua nỗi trăn trở về “phe chính” và “phe tà” trong chốn giang hồ.  Nói cách khác, đó là sự kiếm tìm không ngơi nghỉ đâu là đúng, đâu là sai trong xã hội cũng như trong mỗi tâm hồn con người.  Làm sao ta bảo đảm được những chọn lựa của ta hôm nay sẽ cho ta tương lai ổn định?  Làm sao ta biết được những chọn lựa của ta là đúng và thuận lòng trời?  Xin được nêu lên hai ví dụ sau để minh họa cho vấn đề trên.

Thứ nhất, trong thời gian bị lưu đày sám hối trên ngọn núi Hoa Sơn, Lệnh Hồ Xung may mắn được Phong Thanh Dương truyền thụ cho Độc Cô Cửu Kiếm.  Trong quá trình tập luyện kiếm pháp, Lệnh Hồ Xung thường bị lẫn lộn giữa kiếm pháp cũ của phái Hoa Sơn mà mình đã học từ nhỏ và kiếm pháp Độc Cô Cửu Kiếm mà mình vừa mới học.  Sự phân vân do dự này làm cho Lệnh Hồ Xung tự hỏi là mình có nên tiếp tục luyện Độc Cô Cửu Kiếm hay không?  Nhận ra sự khó khăn này của Lệnh Hồ Xung, Phong Thanh Dương đã chỉ giáo cho Lệnh Hồ Xung như sau: Việc luyện kiếm phải được ví như “nước chảy mây trôi.”  Nhờ lời chỉ giáo này, Lệnh Hồ Xung đã luyện thành công Độc Cô Cửu Kiếm.

Thứ hai, sau khi vô tình học được Hấp Tinh Đại Pháp của giáo chủ ma giáo Nhậm Ngã Hành, nội công của Lệnh Hồ Xung trở nên rất thâm hậu.  Tuy nhiên việc tự học này cũng có mặt hạn chế của nó. Vì tất cả các luồng chân khí đôi khi xung khắc nhau làm cho cơ thể nóng lên và đau đớn.  Biết được nhược điểm này, Nhậm Ngã Hành muốn giúp Lệnh Hồ Xung hóa giải chúng nhưng với điều kiện Lệnh Hồ Xung phải gia nhập ma giáo.  Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ:  Mạng sống mình còn sống được ngày nào là may mắn ngày đó, hà tất gì mà phải lệ thuộc vào ai.  Với suy nghĩ này, Lệnh Hồ Xung chấp nhận mang sự bất toàn trong cơ thể để sống đúng với lòng mình.

************************************

“Triết học và tôn giáo phiêu lưu qua bao dòng suối dòng sông, cuối cùng cũng chỉ đến được một bến tiêu sơ: trở về lại lòng ta.”[i]  Đó là lời nhận định của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.  Đúng như vậy, cuộc sống con người với nhiều trăn trở, phân vân cho tương lai cho ngày mai cũng ví như chàng Lệnh Hồ Xung phân vân trong việc luyện kiếm cũ hay kiếm  mới.  Luyện kiếm như “nước chảy mây trôi” cũng như là lời nhắc chúng ta rằng chúng ta hãy cứ sống tự nhiên như trong một dòng suối chảy.  Nghĩa là trong giây phút này, trong hoàn cảnh hiện tại này mà chúng ta đang sống, đang hiện hữu thì chúng ta hãy cứ sống trong đó một cách tròn đầy, không khao khát thay đổi hay trốn chạy.  Cái gì đến rồi nó cũng sẽ đến và rồi nó cũng sẽ đi.  Hoàn cảnh khó khăn đến rồi nó cũng sẽ đi như dòng nước vậy.

Sau khi luyện Hấp Tinh Đại Pháp, Lệnh Hồ Xung thà chấp nhận những giới hạn và trở ngại của môn công phu này, chứ chàng không chịu qui đầu vào ma giáo để tìm cách giải quyết những trở ngại này.  Chấp nhận sự bất toàn trong thể lý để hoàn thiện tinh thần chính mình; chấp nhận trong sự thiếu thốn từ ngoại cảnh, để lòng mình được no thỏa với ý chí tự chủ làm người.  Đó là sống trong hiện tại với tất cả ý thức về phẩm giá của mình – sống thật với lòng mình.

Bạn thân mến, sống hiện tại không có nghĩa là đã thoát ra khỏi những giới hạn, những bất toàn của kiếp người.  Những khiếm khuyết vẫn còn đó, những vấp ngã vẫn có thể xảy ra, nhưng sống hiện tại giúp đưa ta về thật với con người của mình, về với lòng mình.  Dù khiếm khuyết có hiện hữu trong ta, nó cũng chỉ hiện hữu trong giây phút này mà thôi; sau một giây, nó cũng bị trôi theo dòng thời gian. Thưa bạn, “Sống hiện tại là [sống cho] tất cả.”[ii]

Br. Huynhquảng

 ************************************

Lạy Chúa, con không đợi chờ,
con quyết sống phút hiện tại,
và làm cho nó đầy tình thương,
vì chấm này nối tiếp chấm kia,
ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đời sẽ đẹp.
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.
Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận

[i] http://nguyenmonggiac.info/index.php/vi/noi-ban-khoan-cua-kim-dung/473-nhung-buoc-vo-chieu-cua-lenh-ho-xung.html?start=1 (accessed July 27, 2010).

[ii] D.H. Lawrence, http://www.quotegarden.com/live-now.html

THÁNH LUCA, THÁNH SỬ

zzTheo các nhà Kinh Thánh học, thánh Luca đã hiến cho chúng ta hai tác phẩm: một là cuốn Tin Mừng thứ ba và hai là sách Tông Đồ Công Vụ.

Qua các tông đồ, nhất là Mẹ Maria và thánh Phaolô, thánh Luca đã ghi lại tiểu sử của Chúa Giêsu bằng những nét đặc sắc.  Ngài đã hết lòng ca tụng ơn cứu độ và lòng từ bi của Thiên Chúa.  Qua những truyện như: Người con phung phá, người Samaritanô nhân hậu, ông Giakêu, người trộm lành…  chúng ta thấy đuợc phần nào chủ ý của thánh nhân khi ngài muốn trình bày cho chúng ta thấy một cách cụ thể về lòng từ bi của Thiên Chúa.

Tin Mừng thánh Luca cũng là Tin Mừng về đời sống cầu nguyện.  Ngài đặt trước mắt chúng ta gương cầu nguyện của Chúa Giêsu trước khi Chúa chịu phép rửa, trước khi khi chọn môn đệ, trước khi biến hình sáng láng, lúc hấp hối trong vườn Giêtsimani và cả trên thánh giá.

Tin Mừng của ngài là Tin Mừng cho những người bị áp bức.  Không Tin Mừng nào làm cho chúng ta có thể thấy được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Tin Mừng thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất… một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn…  Không một Tin Mừng nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.

Tin mừng của thánh Luca là Tin Mừng của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàng bạc trong Tin Mừng của ngài, có rất nhiều chỗ nói về niềm vui như loan báo tin vui cho Zacharia, truyền tin cho Maria.  Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh…  Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui nân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem.  Ðúng như Harnack đã nói: “Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Tin Mừng của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót.”

Tin Mừng của thánh Luca còn được gọi là Tin Mừng của những người phụ nữ bởi vì không Tin Mừng nào vai trò của người phụ nữ được nhắc tới với một lòng kính trọng như Tin Mừng của thánh Luca.  Những câu chuyện về những người phụ nữ đặc biệt như những chị em phụ nữ đi theo phục vụ Chúa Giêsu và tông đồ đoàn chỉ có thể tìm thấy trong Tin Mừng của thánh Luca.

Sau hết, khi trình bày, thánh Luca như cố ý cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để tin theo Chúa cũng như để đuợc gia nhập Nước Trời.  Những điều kiện đó là đức tin, lòng khiêm nhường, thống hối, dám chấp nhận những khó khăn, biết sống bác ái và kiên trung trong đau khổ.

Cũng như Tin Mừng, cuốn Tông Đồ Công Vụ của thánh Luca là một bằng chứng sống động về việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống truyền giáo của các tông đồ và đời sống của Giáo Hội lúc sơ khai.  Đây cũng là cuốn lịch sử đầu tiên của Giáo hội.  Đọc sách Công vụ chúng ta không thể không cảm thấy một nguồn vui thanh cao và sống động đuợc bùng phát lên từ sự nhận biết Thiên Chúa của các tín hữu đầu tiên, và rồi kết quả sau đó là một cuộc sống được định hướng bằng tình bác ái chân thực, bằng tinh thần hy sinh xả kỷ, cũng như bằng bầu khí cầu nguyện, bằng sự hiệp nhất cao độ, lòng hợp lòng, với một đức tin, và một tình yêu duy nhất để hình thành nên những cộng đoàn thánh thiện giữa các tông đồ và những người tin Chúa của Giáo hội sơ khai.

Mặc dầu lịch sử không cho chúng ta những tài liệu chính xác về gia thế và đời sống của thánh Luca, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng: thánh Luca thuộc gia đình nề nếp và giàu sang tại Antiokia.  Khi còn bé, Ngài được giáo dục chu đáo về cả đức tính, văn hóa và nghề nghiệp.  Ngài theo học các khoa cổ điển của nền văn minh Hy lạp và chuyên nghề lương y.  Từ buổi đầu, thánh Luca vẫn chưa biết Chúa.  Cho đến một ngày kia thánh Phaolô đến Troa giảng đạo Chúa Giêsu.  Luca vào nghe và sau khi suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận và nhận thấy giáo thuyết thánh Phaolô giảng rất thâm trầm hợp lý, Ngài liền tin theo.  Ngài chịu phép rửa tội và theo làm môn đệ thánh Phaolô, ngày đêm học hỏi Kinh Thánh và làm thư ký cho thánh Tông đồ.  Quãng năm 49, nghĩa là khi khởi sự truyền giao lần thứ hai, thánh Phaolô cùng mang thánh Luca đi theo.  Nhưng rồi hai thầy trò lại chia lìa nhau một thời gian.  Có lẽ kỳ này thánh Luca trở về sinh quán làm nghề lương y.  Đến sau hai thầy trò lại gặp nhau tại Philipphê.  Từ đây thánh Luca cùng đi giang đạo với thánh Phaolô.  Nhưng đến khi thánh Phaolô bị người Lamã bắt cầm tù, thì thánh Luca cũng từ giã đế đô, và chúng ta không biết gì về quãng cuối đời của Ngài nữa.

Đọc Tin Mừng thứ ba và Công vụ tông đồ, chúng ta thấy thánh Luca rất lỗi lạc về văn chương Hy lạp.  Ngài quả là một nhà văn học kỳ tài, luôn thay đổi từ ngữ và dùng những danh từ thích hợp với đặc tính văn chương của người Hy lạp thời bấy giờ.  Thánh nhân tỏ ra rất nghệ thuật trong việc bố cục câu chuyện thế nào cho rõ ràng, hấp dẫn, gợi nhiều ý tưởng và tâm tình, chẳng hạn dụ ngôn người con người phung phá và câu chuyện hai người du khách trên đường Emmau phải là hai kiệt tác văn chương, có nhiều giá trị nghệ thuật không kém gì những áng văn hay nhất của người Hy lạp thời ấy.

Hơn thế, thánh Luca còn là một người rất sành tâm lý.  Thánh nhân đã mặc cho mỗi nhân vật trong Tin Mừng cũng như trong các dụ ngôn những tâm tình, cử điệu và lời lẽ phù hợp với điạ vị riêng của họ.  Phải chăng nhờ tài nghệ này, thánh Luca đã đề cao đến chữ trọn hảo địa vị Cứu thế của Chúa Giêsu: Chúa nhân lành tự trời đến với loài người lầm than tội lỗi.  Chúa tự hiến mình trên thập giá để tẩy xóa mọi tội trần và thông ban ơn sủng đời sống mới cho các tâm hồn.

Với một sự hiểu biết sâu xa về sứ mệnh Cứu thế của Chúa như vậy, hẳn thánh Luca đã nhiệt thành với nhiệm vụ phổ biến Tin Mừng cứu thế không kém gì thánh Phaolô.  Nhưng Ngài giảng đạo tại đâu và chết như thế nào thì theo một tài liệu tìm thấy ở Constantinople, thánh Luca đã giảng đạo tại Achaie và Beotie.  Và sau cùng làm giám mục thành Thèbes.  Trong bài thực hành cuốn chú giải Tin Mừng thánh Matthêô, Thánh Hiêrônimô nói rõ thánh Luca đã viết Tin Mừng thứ ba tại Achaie và Beotie, sau cùng thánh Gaudence de Brescia quả quyết thánh Luca cùng chịu tử đạo với thánh Andrê tại Patras một tỉnh nhỏ thuộc vùng Achaie.

Ngày nay thánh Luca là quan thầy của các lương y và bác sĩ.  Ngài cũng là bổn mạng các nhà họa sĩ, vì theo một truyền thuyết thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung Đức Mẹ đầu tiên mà nay chúng ta quen gọi là ảnh “Đức Mẹ hằng cứu giúp”.

Ngay từ đầu, Giáo hội vẫn kính lễ thánh Luca vào ngày 18.10 mỗi năm.

Kính xin thánh Luca thánh sử phù trợ cho chúng ta được lòng tin mạnh mẽ và hăng hái như người để chúng ta đem tin lành cứu độ đến cho những người còn chưa nhận biết Chúa.

LM Giuse Đinh Tất Quý

https://suyniemhangngay.net/

SẮC MÀU CUỘC SỐNG

Ở trung tâm thành phố nọ, trên một con đường sầm uất, đông người qua kẻ lại.  Có một chiếc xe hơi hào nhoáng dừng lại trước một tiệm kem, một cô bé xinh xắn với chiếc váy may bằng vải đất tiền, nắm tay mẹ bước xuống xe, cô bé chay vội vào tiệm kem và vòi vĩnh với mẹ:

– Con không muốn loại kem có mùi trái cam vì nó không ngon.  Con cũng không muốn loại kem quá ngọt!

Mẹ cô bé nói:

– Con thích loại kem nào con có thể chọn theo ý của con.

Trong tiệm có quá nhiều loại kem, mỗi loại có màu sắc, hương vị khác nhau trông rất đẹp mắt và hấp dẫn.  Sau khi đã chọn lựa, cô bé ưng ý một cây kem dâu và đưa ngay lên miệng mút…  Cây kem dâu vừa được đưa vào miệng, cô bé vội nhăn mặt phụng phịu nói:

– Kem không ngon, con không ăn đâu, nó không có đâu phộng ở trong !

Mẹ cô bé không chút do dự,  cầm cây kem vất xuống đất.  Họ khúc khích cười với nhau và cùng lên xe, chiếc xe bắt đầu chuyển bánh cuốn hút trong khu phố đông người ….

Cây kem còn lại dưới đất không chỉ có một mình, mà bên cạnh nó còn có hai đứa bé mặt mũi lem luốc, họ là hai anh em.  Người anh vội lượm lấy cây kem không dám ăn ngay, cây kem mà hằng ngày cậu bé cứ đứng trước cửa tiệm kem  dòm vào mà ao ước…

Cô bé gái cũng không khác gì anh mình, cũng  muốn được đụng chạm, ngắm nhìn thứ là lạ mà đối với cô bé chưa một lần đươc nếm thử.  Cô bé dằng lấy trong tay anh và vì lỡ tay cây kem văng ngay vào lỗ cống gần đó.  Cô bé òa lên khóc nức nở vì tiếc cây kem .

Thấy em khóc, câu bé dỗ em:

– Đừng khóc, năm ngón tay của anh vẫn còn dính kem, anh cho em mút ba ngón tay, còn hai ngón kia là  phần của anh nhe .

*************************************

Bạn thân mến!  Bạn làm việc bằng nỗ lực của mình, bạn hoàn toàn có quyền đươc thừa hưởng những thành quả của mình một cách chính đáng.  Đó là bức tranh màu hồng tươi sáng, hay màu xanh hy vọng của bạn.  Nhưng trong đời sống quanh chúng ta không phải lúc nào cũng có màu sắc tươi vui như vậy, nếu như bạn bỏ ra một vài giây để quay lưng nhìn lại phía sau mình một chút, bạn sẽ thấy trong cuộc sống cũng có những bức tranh có màu sắc khác: còn có rất  nhiều người đang sống trong sự thiếu thốn, khó nghèo, bịnh tật… vì thiên tai, nhân họa đã  mang đến cho họ.  Đôi lúc, trong tủ đựng quần áo, thức ăn…. của chúng ta có những áo quần, vật dụng mà chúng ta lâu lâu mới đụng tới hay chẳng bao giờ đụng đến, chúng vẫn nằm nguyên trong một góc tủ nào đó chỉ vì không vừa ý.  Vậy mà ở khắp mọi nơi trên thế giới, cũng có thể ở ngay gần bên cạnh bạn, có những người đang nghèo đói, thiếu thốn, bịnh tật… họ đang rất cần đến sự giúp đỡ của bạn.

“Lá lành đùm lá rách” chúng ta  hãy mở rộng tấm  lòng của mình để giúp đỡ cho những ai đang trong cơn hoạn nạn khó khăn trong cuộc sống, tùy theo khả năng của mỗi người .

*************************************

Lạy Chúa!  Con xin lỗi Chúa vì nhiều khi con đã quá ích kỷ và hời hợt trước những khó khăn của anh em xung quanh con, xin cho con biết thương yêu tha nhân như chính Chúa đã thương yêu con.  Cho dù với khả năng nhỏ bé của mình, xin cho con biết mở mắt ra để nhìn đến những khó khăn của anh chị em quanh con và mở lòng ra để giúp đỡ họ, những con người đang cần tới bàn tay của con.  Amen!

MT

CHỨNG TÁ

Có người đã kể lại lý do và động lực thúc đẩy ông theo đạo như sau: “Tôi đau rất nặng, người ta đưa tôi vào bệnh viện, không ai chăm sóc tôi cả ngoài một chị y tá, chị tỏ ra rất tốt và tận tình giúp đỡ tôi. Một đêm kia, trời đã rất khuya, tôi thấy chị quỳ gối im lặng trong phòng, tôi hỏi: “Chị quỳ làm gì thế?”.  Chị trả lời: “Tôi cầu nguyện cho ông”.  Chỉ mấy tiếng đó thôi đủ làm cho tôi bấy lâu không biết Chúa, bây giờ được biết Chúa, tôi thấy Chúa nơi người chị y tá ấy.  Giữa những đau khổ thể xác và tinh thần, nhờ sự săn sóc đầy tình người và những lời cầu nguyện đầy yêu thương của chị y tá ấy, tôi đã gặp Chúa”.

*********************************

Câu chuyện trên cho chúng ta thấy gương sáng và tình yêu thương là bằng chứng cho người ta nhận ra Thiên Chúa.  Có nhiều người không bao giờ thấy chúng ta cầu nguyện sốt sắng ở nhà thờ, vì họ có đạo đâu mà đến nhà thờ, nhưng họ thấy cách chúng ta biểu lộ tình thương với họ hay với những người chung quanh mà họ nhận ra Thiên Chúa của tình yêu.  Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai đánh giá sai lầm về đạo Chúa, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những người bạn tốt của nhau.

zzMẹ Têrêxa Cancutta đã định nghĩa về một nhà truyền giáo như sau: đó là “một tín hữu Kitô say mê Chúa Giêsu đến độ không có một ước muốn nào khác hơn là làm cho mọi người nhận biết và yêu mến Ngài”.  Mẹ Têrêxa không chỉ làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giêsu bằng những lời nói suông, nhưng Mẹ nói về Chúa Giêsu, Mẹ tỏ bày gương mặt của Chúa Giêsu bằng chính cuộc sống yêu thương phục vụ của Mẹ.  Do đó, truyền giáo thiết yếu đối với Mẹ Têrêxa là dùng cả cuộc sống của mình để làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giêsu, truyền giáo không chỉ là rao giảng một giáo lý mà thiết yếu là chia sẻ một cuộc sống yêu thương.

Giáo dân đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền giáo, vai trò là men, là muối, là ánh sáng, là chứng nhân giữa đời.  Bởi vì giáo sĩ không thể sống chân bùn tay lấm nơi đồng ruộng với những nông dân; giáo sĩ không thể gồng gánh theo chân những người buôn bán đi vào đầu đường xó chợ; giáo sĩ không thể đầu tắt mặt tối làm việc trong những cơ xưởng, nhà máy, công trường…  Nhưng chính những giáo dân nhà nông, những giáo dân buôn bán, những giáo dân công nhân, có nhiệm vụ đem Chúa đến cho anh em mình nơi đồng ruộng, chợ búa, xí nghiệp, nhà máy.  Nghĩa là những nơi mà giáo sĩ không thể có mặt và không thể đi đến, thì giáo dân sẽ đóng vai trò chủ chốt và chủ động.  Bởi đó, không những giáo dân đóng vai trò yểm trợ cho giáo sĩ mà còn đóng vai trò chính yếu, thay thế cho giáo sĩ trong những nơi hay những hoàn cảnh đó.

Như vậy cách truyền giáo tốt nhất và có hiệu quả nhất là đời sống gương mẫu, đời sống Công giáo đích thực, nhất là đời sống thể hiện tình yêu thương của chúng ta.  Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai đánh giá sai lầm về đạo, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những bạn tốt, những công nhân gương mẫu trong nhà máy, những công nhân gương mẫu ngoài công trường.  Tóm lại, chúng ta hãy nắm lấy những cơ hội đi lại đây đó, khi thi hành công tác, khi làm ăn sản xuất, khi xê dịch thăm viếng… để nói hay làm chứng về Chúa qua lời nói, thái độ và cách đối xử đầy tình yêu thương của chúng ta.

*********************************

Xin Chúa cho chúng con tin bằng trái tim, tuyên xưng bằng miệng và bày tỏ bằng việc làm, rằng Chúa ngự trong chúng con ngõ hầu nhân loại thấy rõ những việc lành chúng con làm mà tôn vinh chúc tụng Cha chúng con trên trời.  Vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng muôn đời vinh hiển.  Amen!

Sưu tầm

MỘT CÕI RIÊNG CHO GIÊSU

Giữa những ồn ào của đám đông,
Giữa những sôi nổi của thành công,
Hay những ê chề của thất bại,
Xin dành một cõi riêng cho Giêsu

Những cánh chim thiên di, viễn xứ, bỏ lại sau lưng cả một khung trời kỷ niệm để mang bên mình biết bao hoạch định, lắng lo…  Tương lai nắng hồng còn ngút ngàn, xa thẳm; hiện tại chẳng có gì ngoài nỗi ám ảnh kinh hoàng đã từ bao thế hệ: nỗi buồn sầu đông.  Bay, bay mãi… mệt mỏi, rã rời, những đôi cánh bị cuồng phong vần vũ chỉ muốn tìm một chốn yên bình.  Thế nhưng, cánh chim vẫn bay, bay mãi… Bay đã là định mệnh của cuộc đời.  Tận tít mù thăm thẳm ấy, nơi đó có bình yên ?

Khi lang thang, lúc mải miết trên giòng đời tất bật, ta cứ loay hoay với những dự phóng, tiền đồ của riêng mình. Từng cuộc đời, từng khuôn mặt bất ngờ ta gặp nhau trên hành trình vô định, tuởng rằng sẽ là một đỡ nâng, một niềm vui, hay chí ít là một nghỉ ngơi, dừng bước thì vô tình ta để chúng rơi mãi vào chân không thời gian.  Bất định!  Bao lần ta tự trách mình hờ hững với mẹ cha, dự tính thực hiện cho các ngài điều này, thứ nọ nhưng nay đã làm được gì?  Đã không ít lần ta cảm thấy mình thờ ơ với bạn bè, người thân vì hối hả mưu sinh.  Ta như bị sóng đời xô xát, vùi dập. Không thể dừng lại được nữa rồi.  Vì đâu nông nỗi ?

Cuộc sống này, cha mẹ này, bạn bè này có làm cho ta vui thoả, bồng bềnh những ước mơ ? Bên họ ta có thấy lòng mình nhẹ nhõm những lo toan, hồn mình có an lành, và tim mình có ấm hơn không?  Thành công, thành công bằng mọi giá!  Và giá trả quá đắt cho một cuộc sống vắn vỏi.  Một định mệnh nghiệt ngã.

Giữa những quay cuồng của thế gian
Giữa những khát thèm của lòng tham
Hay những trói buộc của hãi sợ
Xin dành một cõi riêng cho Giêsu

Mây trong xanh nhởn nhơ giữa bầu trời hừng nắng.  Gió trong lành đang ve vuốt làn sóng nước trong veo.  Ngay bên cạnh đó thôi, bãi cát vàng lấp lánh đang nhấp nhổm, thấp thỏm chăm chú lắng nghe những lời tâm sự trải nghiệm cuộc đời của hàng dương phong trần, cùng lời ra tiếng vào rất trẻ con của bọt nước về một nàng tiên cá đã xa.  Bãi biển tuyệt đẹp, thiên nhiên hùng vĩ như mở lòng tới vô tận.  Chính nơi đây, những con dã tràng ngộ nghĩnh, đáng yêu mà cũng thật tội nghiệp: miệt mài vun quén cho hạnh phúc riêng tư để đắp xây lâu đài mộng tưởng.  Nỗi sợ hãi truyền kiếp làm chúng hớt hải và kiên trì với một niềm tin tưởng đến ương ngạnh là “đời cha không làm nên cơ đồ thì sẽ hoàn tất trong đời con, đời cháu”(!).

Thành công ư, rồi thì sau đó?  Và thế nào là thành công?

Con người ơi, có lúc nào trao cho nhau hạnh phúc?  Trao cho nhau yên bình?

Nghiệt ngã đến vậy sao để chỉ vì thành công, ta phải chịu quá nhiều bầm dập, thương tích. Ta đã gây cho nhau bao nhiêu đớn đau, bao nhiêu thù hận.  Ám ảnh về thành công đã làm ta lao đao, ê chề và thường xuyên sống trong sợ hãi, lo âu.  Tiếng cười hòa trong giọt lệ ngày ta được nhìn nhận, đuợc tuyên bố là đã thành công.  Cả cuộc đời lao nhọc, để rồi trắng đôi tay trong ngày trở về. Thật đáng thương.

Giữa lúc cuộc đời như khước từ
Giữa lúc mây mờ hồn bơ vơ
Hay mất tin cậy giữa cuộc đời
Xin trở về cõi riêng bên Giêsu

Hoa trong kẽ đá.  Vết nứt nhỏ xíu làm phiến đá buồn quá đỗi.  Nó oán hận cuộc đời đã mạnh tay thô bạo.  Sao nó luôn phải chịu những thiệt thòi, những trái ngang.  Cúi gầm mặt xuống che dấu chỗ khiếm khuyết, nó lầm lũi trong vô vọng, trong thù nghịch, oán hờn.  Và khi không chịu đựng được nữa, ngửa mặt lên nó hét thật lớn cho nỗi đau của chính mình vỡ tung đến ngàn sao.  Một lần cho thoả, trước khi ra đi, đi thật xa.  Nhưng kìa!  Nó cảm thấy sảng khoái, mát lạnh.  Những giọt sương mai bấy lâu vẫn cứ rơi nay đọng lại ngay chính trên vết thương đang chảy máu để chữa lành nó.  Cảm giác thật dễ chịu, hồn đá lắng đọng lại để từ bên trong vết nứt, một mầm sống có sẵn tự bao giờ vươn hình hài, nở hoa.

Một chiều, mệt mỏi đi ngang qua sân nhà thờ, ta như đặt chân lên đất yên bình.  Các bé thơ hồn nhiên tung tăng đùa giỡn, phá phách nữa không chừng.  Ta tìm ta trong số trẻ đó.  Rồi những đứa trẻ này, mai sau lớn lên có như ta không?  Chợt buồn, chợt vui.  Cuộc đời không đơn giản như ta tưởng.  Đã bao lần ta chán ghét các bài học Giáo Lý, không ít lần ta nghi hoặc các chân lý đức tin.  Niềm tin trượt dài theo các nghịch cảnh trong cuộc sống.  Ngày lễ Chúa Nhật, ta giải khuây bằng những gì ta thường mơ ước.  Chẳng biết tìm vui hay tìm quên?  Ta đã kinh qua mọi vùng đất nhân sinh nhưng cái-được-tìm vẫn chưa bao giờ tìm được.

Lặng lẽ trong giáo đường, làm bạn với ngọn đèn chầu nơi nhà Tạm.  Bên Chúa hồn con an lành.

Để một mình ở đó bên Giêsu
Để tình ta trầm lắng trong tin yêu
Để tình yêu lên tiếng trong tim ta
Để tình yêu sưởi ấm hồn giá lạnh

Sau thời gian được ôm ấp, bao bọc bởi đại dương bao la, giọt nước tinh nghịch theo anh chị ra đi trên muôn nẻo đường xa vợi.  Khi yên ả qua các cánh đồng, lúc bấp bênh trên ghềnh đá; khi hoang mang trong mạch nước ngầm tăm tối, lúc cao ngạo trên ngàn mây xanh; khi tù đọng trong sình lầy, lúc tung hoành trên dốc núi; khi nhơ nhớp, lúc khiết tinh; có khi biết mình là nước, có lúc không thể nào nhận ra là gì… nhưng lúc nào giọt nước cũng trăn trở, thao thức về thân phận của mình: rồi sẽ đi đâu và về đâu.  Một lần được đưa lên cao, trở về với đại dương.  Giọt nước hoà mình, tan biến.

“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con hồn lặng lẽ yên vui” (TV 130).

Chiều nay, ta tìm về thanh vắng trong ngôi giáo đường rất quen- như- đã- quên.  Những giọt lệ lăn dài trên gò má nhô cao thách thức với trái ngang, oan khiên của cuộc sống bởi cứ mãi đương đầu với “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng“.  Giọt ấm ức, giọt tức tưởi, giọt oan ức, giọt rấm rức, giọt nức nở, giọt nghẹn ngào,… chảy mãi không thôi để dâng trào quyện thành giòng châu lệ hạnh phúc.  Trong thanh vắng, hồn đã tìm gặp được chính mình, đã lấy lại được nguồn sinh lực cho một khởi đầu mới.  Sự sống được hồi sinh, “và con tim đã vui trở lại”.

“Dẫn con ánh sáng dịu êm,
Dẫn con đi tới giữa đêm mịt mùng.
Trời khuya thanh vắng lạnh lùng
Bước chân lưu lạc quê hương xa vời
Dẫn con vững bước trên đời
Con không cầu thấy chân trời xa xôi
Dẫn con từng bước một thôi”. (HY. Newman)

Lm. Nguyễn Thắng

CẦU NGUYỆN

Dụ ngôn trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay đưa ra hai hình ảnh trái ngược. Một bên là bà góa nghèo khổ, bé nhỏ, không có tiếng nói trong xã hội.  Một bên là ông quan tòa bất nhân, chẳng sợ trời mà cũng chẳng nể người. Thật là một hoàn cảnh tuyệt vọng cho người phụ nữ không có tiếng nói. Nhưng nhờ kiên trì, bà đã đạt được ý nguyện. Chúa kể dụ ngôn này với mục đích dạy các môn đệ hãy noi gương bà góa, cầu nguyện luôn không được nản chí . Bà goá nêu gương cầu nguyện cho ta ở 4 thái độ sau đây:
  1. zzThái độ khiêm nhường. Người đàn bà này rất khiêm nhường vì bà tự biết mình bé nhỏ nghèo hèn. Bị người ta ức hiếp mà chẳng thể tự bảo vệ. Không có sức khỏe để chống lại người ác. Không có người bênh vực chống lại bất công. Không có cả tiền bạc để mua lấy sự bình an. Bà mất tất cả, chẳng còn gì. Noi gương bà, khi cầu nguyện ta phải có thái độ khiêm nhường. Khiêm nhường vì biết mình nghèo nàn yếu đuối, biết mình chỉ là thân phận tro bụi. Khiêm nhường biết mình đã cùng đường, không còn nơi nương tựa. Khiêm nhường biết mình bất tài bất lực.

  2. Thái độ phó thác. Bà góa này không còn nơi nương tựa. Chỉ còn trông cậy vào ông quan toà như lối thoát duy nhất. Bà đặt niềm tin vào ông. Đó là niềm hy vọng duy nhất và cuối cùng. Bà bám víu lấy ông, phó thác vận mạng của mình trong tay ông. Trao cho ông sự sống của bà. Tương tự như thế, khi ta cầu nguyện, hãy hoàn toàn phó thác vận mệnh của ta cho Chúa. Chúa là lối thoát duy nhất. Chỉ có Chúa mới có thể cứu giúp ta.  Hơn nữa Chúa là người Cha toàn năng và giầu lòng thương xót. Ta là đứa con bé nhỏ, yếu ớt. Hãy đặt vận mệnh ta trong tay Chúa. Hãy tin tưởng phó thác vào Chúa, Ngài sẽ an bài sắp xếp cho ta những gì tốt đẹp nhất.

  3. Thái độ kiên trì. Chỉ còn một con đường duy nhất để sống, nên bà kiên trì theo đuổi cho đến cùng. Thất bại không làm bà nản lòng. Bị hất hủi không làm bà bỏ cuộc. Niềm tin của bà thật lớn lao. Sự kiên trì của bà thật bền bỉ. Bà đã đi đến cùng và bà đã thành công. Cũng thế, khi cầu nguyện ta hãy kiên trì. Kiên trì chứng tỏ sự phó thác trong tay Chúa. Kiên trì chứng tỏ ta hoàn toàn yếu hèn chỉ biết trông cậy vào Chúa. Kiên trì chứng tỏ lòng ta yêu mến Chúa tha thiết. Chắc chắn Chúa sẽ dủ lòng xót thương ta.

  4. Thái độ khao khát. Bà khao khát vì đó là con đường sống duy nhất. Bà khao khát được sống. Bà không ngồi đó chờ đợi. Nhưng làm hết cách, hết sức mình để đạt được khao khát đó. Bà không chán nản thất vọng, nhưng làm việc liên lỉ cho ước nguyện của mình. Cũng thế, khi cầu nguyện ta phải có lòng khao khát cháy bỏng. Lòng khao khát đó được biểu lộ trong hành động. Ta không ngồi chờ, nhưng đứng lên, ra đi và bắt tay hành động. Không lùi bước trước khó khăn, nhưng tìm hết cách để đạt được ước nguyện. Lòng khao khát chứng tỏ ta tha thiết với lời cầu nguyện. Lòng khao khát cùng với nỗ lực phấn đấu sẽ được Chúa thương chấp nhận.

Chiêm ngắm tấm gương của bà góa, ta nhận thấy rất nhiều lúc ta chưa cầu nguyện cho đủ và cho đúng. Chưa thực hiện sự khiêm nhường để nhận ra sự bất lực của mình. Chưa hoàn toàn phó thác vận mệnh của ta trong bàn tay của Chúa. Chưa biết kiên trì đủ. Và nhất là chưa tha thiết tới mức tích cực làm hết sức mình cho nguyện ước đó.

Lạy Chúa ! Xin cho con đừng bao giờ nản chí, biết kiên trì nỗ lực trong cầu nguyện, biết dành thời giờ để nói chuyện tâm tình với Chúa, nhờ đó con được liên kết với Chúa trong tình yêu thương thân mật mỗi ngày mỗi hơn, Amen .

TGM. Ngô Quang Kiệt.
(BĐ1: Exodus 17:8-13 – BĐ2: 2 Timothy 3:14-4:2 – PÂ: Luca 18:1-8)