HIỆN TẠI TRONG NGỤC TÙ

zz“Ít ái dục để giữ tinh
Ít lời để giữ khí
Ít tư lự để giữ thần.

Quá khứ thì đã qua
Tương lai thì chưa tới
Chỉ có phút HIỆN TẠI
Biết vậy nên tu tập
Không động, không chuyển lay.”

Bài thơ trên của vị thi sĩ ẩn danh được viết bằng phấn sau cánh cửa phòng biệt giam trại B34 quận 5, Sài gòn.  Trong cảnh bị biệt giam không ánh mặt trời, bị chia cắt khỏi người thân và bạn hữu, bị hiểu lầm và kết án bất công; sống trong cảnh cơm không đủ ăn, nước không đủ uống; ngày ngày đối diện với sự sợ hãi, sự cô đơn và nhất là phải chấp nhận một thực tế về một tương lai đen tối.  Bài thơ như khơi dậy cho người tù lương tâm hiểu rõ chân lý ngàn đời mà cả kiếp người rong ruổi kiếm tìm: Hiện tại – chỉ hôm nay thôi, thế là đủ.  Đừng cố xót xa bám víu vào quá khứ.  Dù quá khứ có đẹp đến bao nhiêu đi chăng nữa, dù nó có tươi vui hay lắm ưu phiền, thì chúng cũng đã chết rồi.  Cũng vậy, đừng quá mong chờ vào tương lai.  Vì tương lai sẽ không thể lấp đầy cho những khát vọng, hoài bão của mình.  Tương lai không làm chủ cuộc đời ta.  Nó chỉ đánh lừa ta ra khỏi hiện tại, làm ta quên đi con người thật, hoàn cảnh thật, và giá trị thật mà mình đang sống với tất cả con người xương thịt của mình.  Trong căn phòng biệt giam đen tối ấy, Hiện Tại đã tỏa chiếu và xóa tan bao u uẩn, lo âu, hối hận, cũng như bao mộng tưởng chờ mong.  Trong chính căn phòng đen tối ấy, giá trị của sự thật được hiển hiện rõ nét: giới hạn, mong manh, đau khổ, chia lìa là rất thật, nhưng chúng cũng chỉ được gói gọn trong hôm nay, ngày này mà thôi.  Mọi sự thế là đủ cho hôm nay, trong căn phòng này.  Vì dù một giây cũng đã là quá khứ, và ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến!

Sống hiện tại như là lời mời chân thật nhất để ta trở lại với chính mình, với con người thật của mình, và sống trong hoàn cảnh mình đang sống.  Sống với chính mình tức là đón nhận những ưu điểm và những giới hạn bằng cách nhìn thật vào lòng mình để trở về với hiện tại.  Sống cho con người của mình là dù có đó những giới hạn, nhưng không ai có thể sống thay ta được, không ai có thể lấp đầy những giới hạn ấy của ta được.  Ta hãy sống cho ta với những gì ta đang có trong hiện tại.  Và cuối cùng, sống trong hoàn cảnh mình đang sống tức là sống tròn đầy vào vị trí ấy, hoàn cảnh mà ta đang sống, dù tự do hay tù đày.

Hãy chấp nhận thực tế hiện tại (dù khổ đau, mất mát, chia xa) để thấy được rằng dù ta có ước ao với bao mộng đẹp, với bao hoài bão ta cũng không thể sở hữu tất cả chúng được.  Đời người vẫn là những giới hạn bất toàn: cố vươn lên, cố chụp lấy, cố giữ lại nhưng kết quả cũng chỉ là không.  Chấp nhận những giới hạn này là chấp nhận hiện tại; và chính khi sống trong giây phút hiện tại ấy, ta mới thấy phong phú và tròn đầy vì ta lại tìm gặp con người thật của ta – chỉ sống cho hôm nay mà thôi.  Vì dù một giây cũng đã là quá khứ, và ngày mai có thể sẽ không bao giờ đến!

Một môn sinh hỏi thầy mình,

“Thưa thầy, làm thế nào để con đạt được đời sống vĩnh cửu?”

“Đời sống vĩnh cửu là hiện tại bây giờ.”

“Nhưng bây giờ con đang sống mà, vậy nó có phải là vĩnh cửu không?”

“Không.”

“Tại sao?”

“Vì con không từ bỏ qua khứ.”

“Quá khứ đâu có gì xấu đâu mà phải từ bỏ thưa thầy?

“Từ bỏ qua khứ không phải vì nó xấu, nhưng vì nó đã chết rồi.”[1]

Quá khứ đã chết rồi tại sao ta còn bám víu, ôm lại, và ray rứt hối tiếc?  Phải chăng vì ta sợ bị mất chúng?  Sợ độc hành?  Trong căn phòng biệt giam đen tối ấy, dù nỗi lo sợ cho sự mất mát, cho sự bị lãng quên, và cho sự chia cắt đến đâu đi chăng nữa, thì thực tế vẫn là bốn bức tường đen ngòm.  Cũng chính trong căn phòng biệt giam ấy, dù nỗi lo sợ cho một tương lai bấp bênh, chao đảo có lớn lao đến mấy đi chăng nữa, thì trong “cái hộp” đen tối ấy, người tù vẫn phải đối diện với chính lòng mình, với con người mình, và với hoàn cảnh mình đang sống.  Quá khứ hay tương lai cũng chỉ được gom lại trong “cái hộp” đen tối ấy mà thôi.  Ngay trong cái hộp” ấy, trong chính hoàn cảnh ấy, giá trị của tự do, của hiện tại trở nên hoàn mỹ nhất.  Người tù không cần phải kiếm tìm gì khác ngoài sống với chính lòng mình, cho con người thật của mình, và trong hoàn cảnh thật của mình.

Xin mượn bài thơ sau để kết thúc bài chia sẻ.

“Sống là động mà không xáo động
Sống là thương mà chẳng vấn vương
Sống hiên ngang danh lợi ta coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.”[2]

Br. Huynhquảng
[1] Lược dịch từ http://www.soulwise.net/99adms4.htm (accessed July 31, 2010).

[2] http://thanhcavietnam.net/forum/showthread.php?p=92764 (accessed July 31, 2010)

KHUNG CỬA HẸP

Cuộc sống của con người trên dương thế này phải đối diện với nhiều trạng thái và hoàn cảnh khác nhau. Những trạng thái và hoàn cảnh đó được ví như những cánh cửa cuộc đời. Có những cánh cửa rất lớn; rất rộng, nhưng cũng có nhiều cánh cửa rất hẹp: Cửa hẹp khi học sinh thi vào đại học. Cửa hẹp khi người công nhân đi xin việc làm. Cửa hẹp của bệnh nhân đang chiến đấu tranh giành giữa sự sống và cái chết. Cửa hẹp trong cảnh mất mát chia lìa của người thân yêu trong gia đình..v..v..

***

Bạn thân mến! Sống là phải phấn đấu để bước qua cửa hẹp. Cửa càng hẹp, càng phải cố gắng nỗ lực thật nhiều. Nếu thiên đàng có cửa, thì chắc hẳn vào được cửa thiên đàng cũng phải phấn đấu với rất nhiều cố gắng và quyết tâm nỗ lực… Cửa hẹp mà vào được thì mới quý, mới hãnh diện.

zzTin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc nhở ta: “Hãy chiến đấu để vào qua cửa hẹp”(Lc 13,24), vì “cửa hẹp dẫn đến sự sống đời đời”(Mt 7,14). Chiến đấu ở đây là chiến đấu với chính mình, với cái tôi cồng kềnh của mình, cái tôi nặng nề vì những thu tích cá nhân, cái tôi phình to vì tự hào và kiêu căng đầy tham vọng.

Thật ra cửa vào Nước Trời rộng thênh thang, không phải là cửa hẹp, nhưng hẹp vì “cái tôi” của ta quá to lớn cồng kềnh . Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp. Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người. Nhưng không phải tất cả mọi người có thể vào được, vì vào Nước Trời cần phải có những điều kiện cần thiết. Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu. Cần nỗ lực liên tục để cắt xén “cái tôi” của ta, để giữ cho “cái tôi” của ta trở nên bé nhỏ; khiêm hạ trước Thiên Chúa và cởi mở trước anh em.

Cái tôi của ta luôn có khuynh hướng phình to vì những thu tích cho chính mình: tri thức, tiền bạc, khả năng..v..v.. Cả những kinh nghiệm, tuổi tác, đạo đức, chức vụ… cũng có thể làm cho “cái tôi” của ta trở nên xơ cứng và phình to.

Phải trở nên nhỏ bé như trẻ thơ thì mới được vào Nước Trời (Mt 18,3). Cần phải biến đổi và tự hạ để có thể vào được Nước Thiên Chúa (Mt 18,3-4). Quả thật, đời sống người Kitô là một cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ, một cuộc chiến đấu liên lỉ với chính mình. Khi ta cắt xén “cái tôi” của mình, khi ta tự hủy thân phận của mình, ta sẽ dễ dàng đi qua cửa hẹp, để bước vào cuộc sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.

Đức Giêsu cũng chính là “Cửa” để ta bước vào Nước Trời.  Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu:

Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình sâu thẳm: Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp. Là Thầy, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ. Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã tự nguyện để bị đối xử như một tội nhân.

Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ: Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Trong cuộc tử nạn, Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.

Chúa Giêsu đã khai mở con đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã bước qua. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người, phải phấn đấu để khiêm tốn hạ mình, phải từ bỏ cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

***

Lạy Chúa Giêsu! Xin ban ơn giúp sức cho con để con không ngừng nỗ lực phấn đấu với chính mình, biết “bỏ mình, vác thập giá mình” mỗi ngày mà bước đi theo Chúa. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Isaiah 66:18-21 – BĐ2: Do Thái 12:5-7,11-13 – PÂ:Luca 13:22-30)

THA THỨ VÌ GIÁ TRỊ SỰ SỐNG

zzVào một bối chiều tối ngày 27 tháng 12 năm 1982, Jack Kelly, một vận động viên Olympic nổi tiếng, cùng vợ là Sandee ngừng xe tại trạm xăng trong thành phố Fort Lauderdale, tiểu bang Florida, Hoa Kỳ.  Ông bước vào hộp điện thoại công cộng để hỏi người bạn về đường đi đến một buổi tiệc.  Khi Ông Kelly vừa cầm điện thoại lên, ông cảm thấy ớn lạnh phía sau của mình vì một họng súng chỉ thẳng vào gáy ông.  Kẻ cầm súng yêu cầu ông Kelly phải đưa hắn tiền.  Kelly nói, “tôi bị lạc.” Giọng tên cướp nói nhỏ vừa đủ nghe, “Vợ của mày sẽ là người tiếp theo nếu mầy không đưa tiền cho tao.”  Dĩ nhiên ngay sau đó, Kelly bị gây tổn thương và tên cướp bỏ đi.  Kelly được đưa đi cấp cứu ngay sao đó; và trên đường tới bệnh viện Broward General Medical Center, Kelly thều thào với vợ mình, “Em hãy cứu lấy anh ta, vì anh ta đã cứu cuộc đời của anh.” [1]

***********************************

Kính thưa quí vị và các bạn, câu chuyện của ông Kelly hôm nay nhắc chúng ta thái độ nhận ra ân huệ của sự sống sẽ giúp chúng ta dễ dàng thực hiện sự tha thứ.

Làm thế nào ông Kelly lại dễ dàng bảo vợ mình hãy tha thứ và cứu lấy tên cướp, dù tên này đã bắn hại chính mình.  Có lẽ ông Kelly nói một cách dễ dàng như thế, vì ông đã cảm nghiệm được giá trị của cuộc sống.  Với ông sự sống là một quà tặng mà tự chính ông không thể có được.  Dù bị hại, nhưng ông vẫn nhìn thấy sự may mắn vì còn sống sót và phải biết nói lời cám ơn đối với kẻ hại mình, vì kẻ hại mình chưa giết mình.  Lòng quảng đại của ông Kelly dường như là một điều vượt quá khả năng của chúng ta.  Nhưng thực ra, vẫn có những con người đã thực hiện như thế.

Vào ngày 13 tháng 5 năm 1983, Đức Giáo Hoàng John Paul II bị  Mehmet Ali Agca ám sát. Sau khi bình phục, Đức Giáo Hoàng đã vào nhà tù để thăm người đã giết hại mình, và đồng thời Ngài đã tha thứ cho anh ta.

Các bạn thân mến, lòng quảng đại và sự tha thứ của ông Kelly và của Đức Giáo Hoàng John Paul II làm cho chúng ta phải cúi đầu suy gẫm, ngưỡng phục.  Vậy nếu những con người xương thịt như chúng ta cũng đã tha thứ cho kẻ cố ý hãm hại mình – là những con người hoàn toàn xa lạ, thì chúng ta còn ngần ngại gì nữa mà không tha thứ cho những người thân của mình – những người mà chỉ xúc phạm đến chúng ta qua những lời nói vì thiếu suy nghĩ, dại dột, và vụng về?  Chẳng lẽ chúng ta không thể tha thứ cho những người từng chung sống dưới một mái nhà, từng chia sẻ một bàn ăn, và có khi cùng chung một giòng máu hay sao?

Sự sống của mỗi con người là vô giá và không có gì có thể thay thế được.  Nhận ra giá trị chân thật này sẽ giúp chúng ta yêu thích sự sống hơn.  Những ai đã từng đối diện hay chứng kiến người thân mình trong giây phút lâm chung chắc đã hiểu rõ giá trị của sự sống.  Chính giây phút lâm chung ấy, chúng ta đối diện với sự bất lực của con người.  Trong giây phút lâm tử đó, không ai có thể níu kéo sự sống của người thân chúng ta lại được cả.  Hiểu như thế, chúng mới thấy được giá trị của hạnh phúc, của sự xum họp, của tình anh em bạn hữu.  Hiểu thân phận ngắn ngủi của chính mình để chúng ta có thể sống đại lượng hơn, bao dung hơn và sẵn sàng tha thứ dễ dàng hơn.

***********************************

Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra giá trị sự sống mà Chúa ban cho chúng con.  Vì chính khi nhận ra giá trị này, chúng con sẽ dễ dàng tha thứ hơn cho chính mình và cho anh em mình.  Amen!

Br. Huynhquảng
[1] G. Curtis Jones, 1000 Illustrationgs for Preaching and Teaching (Broadman Press, 1986), 223.

MẸ ƠI, CON VỀ ĐÂY!

zzDù ngày nay nhạc sĩ Phạm Duy có thể có nhiều thay đổi về cuộc sống hoặc lập trường, thì không ai có thể phủ nhận những bản dân ca của ông thấm vào lòng người Việt.  Đằm thắm, da diết, nhất là những bài hát về hình ảnh “Bà Mẹ Quê”: vất vả trăm chiều, nuôi một đàn con chắt chiu…  Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già, Bà bà mẹ quê! Đêm sớm không nề hà chi…  Ngày tháng không ao ước gì. Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui”.  Hoặc khi con què cụt trở về từ chiến tranh: “Mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ.  Tiếc rằng ta đôi mắt đã loà, vì quá đợi chờ” (Ngày trở về).  Với mẹ, không đứa con nào là lớn cả, dù có làm đến ông nầy bà nọ, vẫn luôn cần đến những lời an ủi chia sẻ hay đơn thuần chỉ là bóng dáng còm cõi theo năm tháng của mẹ hiền. Mẹ luôn bênh vực che chở cho con.  Không ai không thấy lòng bồi hồi khi nghe những câu hát bài “Lòng Mẹ” của Y Vân.  Hôm nay chúng ta mừng lễ Mẹ lên Trời Vinh Hiển.  Ngày mai, rằm tháng Bảy, là lễ Vu Lan, khiến nhiều người nhớ đến tập sách mỏng của nhà sư Nhất Hạnh “Bông Hồng Cài Áo” và bài hát sáng tác dựa theo ý tưởng ấy: Bông hồng trắng cài lên áo cho những người không còn mẹ.  Bông hồng đỏ cho những ai còn mẹ.  Người Công giáo luôn cài bông hồng đỏ, vì Mẹ Maria linh hồn và xác vẫn luôn sống giữa con cái Mẹ.  Hạnh phúc ngập tràn ấy, nếu ai không ý thức từng phút giây để tận hưởng tình thương và sự chăm sóc vỗ về, mà chỉ sống như người mồ côi, thì quả là bất hạnh, quả thật đáng thương hại.  “Một bông hồng cho em. Một bông Hồng cho anh và một bông hồng cho những ai cho những ai đang còn Mẹ” (Bông Hồng Cài Áo).  Biết bao người Công giáo sống như những người mồ côi Mẹ.

Có người nói rằng giáo dân Việt Nam quá uỷ mị khi chỉ thích hát những bài ca về Mẹ Maria tha thiết, nỉ non, nhưng nhiều khi sai thần học.  Làm sao khác được!  Làm sao định nghĩa được tình yêu!  Có ngôn từ nào đủ hay, đủ đẹp, để diễn tả tình yêu của một người mẹ, của Người Mẹ trên mọi người mẹ là Đức Maria?  Những lúc nguy nan, Mẹ luôn hiện diện ngay bên, ở La Vang, ở Trà Kiệu, ở Tà Pao, ở Măng Đen…  Giáo Hội Việt Nam tồn tại và phát triển không nhờ những thần học rườm rà, cao xa, và chỉ dừng lại ở lý thuyết.  Tín hữu Công giáo Việt Nam bày tỏ lòng yêu mến, tôn sùng Mẹ bằng cử chỉ và hành động thiết thực: qùy gối, cầm chuỗi mân côi đọc, hát những lời ca tụng, cảm tạ, chan hoà nước mắt mừng vui và sầu buồn, nhưng tràn đầy tâm tình tri ân, tin tưởng và cậy trông.  Thấm thía hơn ai hết câu “xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp, mà Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời” (Kinh Hãy Nhớ).  Cái “gien” mà: Lòng yêu mến sùng mộ Mẹ Maria đã thành máu và di truyền!  Mẹ Maria gần gũi người dân Việt với hình ảnh tần tảo, âm thầm, quên mình, hy sinh cho hạnh phúc gia đình.

Tín điều “Đức Mẹ Linh Hồn và Xác Lên Trời” mà Đức giáo hoàng Piô XII đã định tín ngày 01.11.1950 chỉ xác nhận điều mà con cái Mẹ luôn xác tín.  Đối với tín hữu Công giáo, giấc miên-du (Dormition), giấc ngủ ngọt ngào của Mẹ, chỉ là một khoảnh khắc để xoá đi biên giới không gian và thời gian và trả về cho Mẹ con người thật mà Thiên Chúa dựng nên: tinh tuyền, không vướng tội truyền, khắc tinh của ma qủy và sự dữ.

Mẹ không chỉ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, mà còn là Máng Thông Ơn Thiên Chúa, nghĩa là mọi ơn sủng, phúc lành Thiên Chúa ban, đều qua Mẹ, điều mà Giáo Hội đã muốn tuyên bố thành một tín điều.  Trong niềm tin của mọi tín hữu, đó là điều không cần bàn cãi!

Khi nói “phía sau người đàn ông thành đạt, có bóng người phụ nữ”, người ta hay nghĩ tới người vợ. Thực ra, đó còn – và nhất là – người mẹ: sự hình thành nhân cách, nghề nghiệp, và thành công hôm nay, phần lớn đều do người Mẹ ngay từ tuổi thơ.  Điều đặc biệt mà chúng ta vui mừng cảm tạ hôm nay, ngày lễ Chúa cho Mẹ linh hồn và xác về trời, cũng tỏ rõ lòng hiếu thảo của Chúa Giêsu và vai trò quan trọng của Mẹ Maria trong chương trình tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa.  Đó là sự hiện diện của Mẹ, không chỉ như “một bóng dáng”, mà là một nhân tố không thể thiếu, hoạt động tích cực và đầy quyền năng bên cạnh Thiên Chúa.  Trong khi hầu như đằng sau hay bên cạnh các vĩ nhân trong các tôn giáo, trong giới kinh doanh, chính trị, đều không thấy bóng dáng các bà mẹ hoặc chỉ “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” (Cung Oán Ngâm Khúc).  Ngoài ra, tuyệt đại đa số ơn gọi tận hiến, ơn thiên triệu linh mục là do người mẹ, không chỉ ngày đêm gợi ý, khuyến khích, cầu nguyện, không chỉ khi chọn lựa, mà cả trong những giờ phút quyết định và suốt trong cuộc đời làm linh mục.  Người ta nhớ đến thân mẫu của Thánh Giáo hoàng Piô X, thân mẫu của Thánh Gioan Bosco.  Nhiều người hẳn chưa quên lời của Đức cố hồng y Nguyễn Văn Thuận khi nói về thân mẫu ngài: “Tôi nhớ những lời thân mẫu của tôi, vì đối với tôi như những lời khuyến cáo tôi trong cuộc đời linh mục”.

Nói về Mẹ Maria thì bao giờ cho đủ, bao nhiêu cho vừa!

Dù ở nơi đâu, bất cứ khi nào, trong an vui hay lúc sóng gió, những khi mệt mỏi trên đường lữ thứ trần gian, con nhìn về Mẹ, lòng ngập tràn hân hoan cảm mến và hét to lên rằng : “Mẹ ơi, con về đây!”.  Con muốn dùng những câu hát trong bài “Bông Hồng Cài Áo” của Phạm Thế Mỹ để thưa với Mẹ:

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
– Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”

CVK Nguyen The Bai

NIỀM AN ỦI

zzHôm nay, chúng ta mừng kính tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời.  Mẹ là tạo vật đầu tiên đã được khải hoàn và bước vào quê hương nước trời. Mừng kính tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời nhắc nhở ta một ngày kia ta cũng sẽ về trời với Mẹ.

Bầu khí phụng vụ hôm nay mang một sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Nơi Thiên cung, Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất: vai trò Nữ vương trời đất. Mẹ cũng mang lấy một địa vị cao cả nhất, thật gần gũi với Thiên Chúa và trổi vượt trên mọi tạo vật, địa vị làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Thực vậy, sau những ngày tháng khổ đau nơi trần thế, giờ đây Mẹ được vui hưởng niềm hạnh phúc bất diệt như lời thánh Phaolô đã diễn tả: ” Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe và trái tim chưa một lần cảm nhận được những gì Thiên Chúa đã sắm sẵn cho những người yêu mến Ngài.”

Trong ngày mừng kính Mẹ hồn xác về trời, chúng ta không phải chỉ ngợi khen và chúc tụng, mà còn phải tìm lấy cho mình một niềm vui mừng và hy vọng.

Thực vậy, kể từ khi Mẹ bước vào quê hương Nước Trời, chúng ta cảm thấy được an ủi và khích lệ rất nhiều, bởi vì tình mẫu tử, một thứ tình cảm đẹp đẽ và tinh ròng nhất của trái tim con người, đã được cụ thể hoá nơi Mẹ Maria trước ngai tòa Thiên Chúa.  Nhờ đó Mẹ sẵn sàng ra tay nâng đỡ và trợ giúp chúng ta trên đường lữ thứ trần gian.

Đúng thế, trên đỉnh đồi Canvê, Đức Maria đã trở nên Mẹ của nhân loại, cũng như trở nên Mẹ của mỗi người chúng ta, qua lời trăn trối của của Chúa Giêsu: “ Này là Mẹ con… và này là con Mẹ.

Qua lời xin vâng, Mẹ đã cưu mang chúng ta. Đồng thời, qua những đau khổ phải chịu, nhất là khi đứng dưới chân thánh giá, Mẹ đã sinh chúng ta trong đời sống ân sủng. Và bây giờ ở trên trời, với tước hiệu là Mẹ nhân loại, Mẹ vẫn nhớ đến từng người trong chúng ta . Mẹ sẽ dùng tình thương của một người mẹ và uy quyền của một vị nữ vương để bầu cử và giúp đỡ chúng ta trước mặt Thiên Chúa.

Chúng ta có thể nói được rằng: “ Mẹ nắm giữ số phận của mỗi người chúng ta trong lòng bàn tay yêu thương và quyền năng của Mẹ.”

Vì thế, chúng ta hãy chạy đến với Mẹ trong những phút giây hạnh phúc để cảm tạ, ngợi khen, và cũng hãy chạy đến với Mẹ trong những tháng ngày đau khổ để xin Mẹ chở che, bênh đỡ. Nếu chúng ta chạy đến với Mẹ, kêu cầu Mẹ, chắc chắn Mẹ sẽ ra tay trợ giúp và dẫn dắt chúng ta đến cùng Chúa.

Chúng ta vốn thường đọc: “Xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời.”

Phải chăng đó là chính là niềm an ủi và khích lệ chúng ta gặp được khi mừng kính Mẹ hồn xác lên trời ngày hôm nay.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Rv 11:19,12:1-6,12:10 – BĐ2: 1Cor 15:20-26 – PÂ: Luca 1:39-56)

TIỀN CỦA LÀ CON DAO HAI LƯỠI

zzCô Xuân mồ côi cha từ thuở niên thiếu.  Nhờ sự tận tụy làm việc của mẹ trong nghề giáo viên tiểu học, Xuân đã học xong bậc trung học, kế đó, vào ngành trung học thư ký, và được thâu nhận và một công ty lớn.  Mỗi buổi sáng, hai mẹ con cùng ra khỏi nhà một lúc, mỗi người với công việc của mình và chiều lại trở về cùng một giờ như nhau.  Sau một tháng làm việc, chiều ngày lãnh lương, cô Xuân trở về sớm hơn sung sướng chờ đợi mẹ về, cô muốn dành cho mẹ một sự ngạc nhiên vui mừng lớn.  Cô đặt những tờ giấy bạc 100 trên bàn, tất cả là 16 tờ 100 đồng.  Cô mỉm cười nhìn những tờ giấy bạc đó và bắt đầu tưởng tượng đến nỗi vui mừng của mẹ cô lúc về nhà, chắc là mẹ cô sẽ hãnh diện vì con gái của mình.  Đó là kết quả của những ngày chăm chỉ làm việc.  Cô ôn lại tất cả trong tâm trí tất cả những lá thư, những giấy tờ cô đã đánh máy, những hồ sơ cô đã cẩn thận thu xếp lại.  Đang lúc cô Xuân vui sướng nhìn những tờ giấy bạc trên bàn và tưởng nghĩ lại những công việc đã làm, thì cô giật mình khi cánh cửa hé mở và mẹ cô bước vào nhà.  Xuân thấy mẹ về và sung sướng nói:

– Mẹ ơi, mẹ xem kìa, đây là số lương đầu tiên của con 1,600 đồng, mẹ nghĩ có lớn không mẹ.

Rồi Xuân đứng chờ xem phản ứng của mẹ như thế nào.  Tiếc thay, phản ứng của bà không pahi là phản ứng mà cô vẫn mơ tưởng và mong đợi.  Bà cởi khăn trùm đầu ngồi xuống cạnh bàn, mở xách tay lấy ra lương tháng của bà mà bà cũng vừa mới nhận được ở trường.  Bà buồn rầu đặt số tiền lương lên bàn rồi gục đầu vô hai bàn tay rồi nức nở khóc.  Từ 18 năm qua, bà đã tận tụy dạy cho một trường tư và hôm nay bà cũng chỉ nhận có 8 tờ giấy bạc 100 đồng.  Chẳng bao lâu nữa, bà sẽ phải nghỉ dạy học, vì đã đến tuổi về hưu.  Thế mà, số tiền lương cuối cùng cao nhất của bà chỉ bằng phân nửa tiền lương đầu tiên của con gái bà.

*************************************

Tiền của là con dai hai lưỡi.  Tiền có thể là dụng cụ để xiết chặt tình nhân đới, để biểu lộ tình tương thân tương ái.  Tiền bạc kết quả là mồ hôi nước mắt cha cha mẹ, là biểu hiện tình thương của cha mẹ đối với con cái, để lo cho nhu cầu hạnh phúc tương lai con cái.  Khi chúng ta tự tặng ai món quà nào, nếu được mua từ giá hy sinh của tình thương thì vẫn là món quà đáng quí trọng hơn là món quà đắt tiền nhưng lại trống rỗng tình thương.  Tiếc thay, nhiều lúc chúng ta chỉ dừng lại nơi những giá trị bên ngoài của quà tặng, đánh giá nó như cái nhìn nông cạn của cặp mắt trục lợi, mà quên đi giá trị sâu xa của nó.  Chúng ta đặt lượng vấn đề vật chất hơn là phẩm chất tinh thần của nó.  Đó là lý do của biết bao sự hiểu lầm ngay cả với những người thân thương trong gia đình, là lý do làm sứt mẻ nhiều mối tình bằng hữu và đưa tới những thảm cảnh đổ vỡ gia đình.  Tiền bạc có thể làm mù quáng trí khôn và sự phán đoán để rồi nhường chỗ cho các đam mê và dục vọng thống trị, chẳng hạn như tính kiêu ngạo, lòng ích kỷ ghen ghét, thù hận.  Cũng vì một chút tiền bạc mà chúng ta không còn biết nhìn nhận cái hay cái tốt một cách khách quan để thông cảm, chung vui và cộng tác với nhau, để rồi chỉ đóng kín trong cái nhìn thiển cận của cái nôi ích kỷ, và gặm nhấm những cay đắng của thái độ than thân trách phận.

*************************************

Lạy Chúa, Chúa nhìn thấy những tờ giấy bạc, những đồng tiền trong tay con đây, chỉ có Chúa mới nhìn thấy rõ những bí ẩn chứa đựng trong đó và quãng đường chúng đã trải qua, đến những gì còn ẩn giấu sau những tờ giấy bạc này.  Những tờ giấy bạc có thể tạo ra hạnh phúc hay khổ đau, sức khoẻ hay chết chóc, là kết quả của sức lao động mồ hôi nước mắt hay là của bất công gian dối.  Này đây con xin dâng lên Chúa những tờ giấy bạc, những đồng tiền này với tất cả mầu nhiệm vui mừng, cũng như mầu nhiệm đau thương của con.  Con cám ơn Chúa, vì món quà của sự sống, của niềm vui mà Chúa ban tặng cho chúng con.  Với tiền bạc, con cũng xin Chúa thứ tha những điều gian dối, những khổ đau đã phát sinh bởi đồng tiền.  Hơn nữa, con xin dâng lên Chúa những tờ giấy bạc này, như biểu hiện bởi lao công khó nhọc của mồ hôi nước mắt, của tình thương con người, là những điều mà tiền bạc sẽ không thể nào làm cho ra mục nát, nhưng sẽ được biến đổi thành sự sống muôn đời.  Amen!

Trích Suy Niệm Mỗi Ngày, Nhóm Tác Giả – Vietnam

 

SỐNG LÀ CHUẨN BỊ CHẾT

người bi quan bảo rằng: “Sống là chuẩn bị chết”.  Mỗi ngày sống là một nhịp cầu tiến gần đến cái chết hơn nữa.  Cái chết nó đến cũng thật bất ngờ.  Bất ngờ như tên trộm đột nhập vào nhà và lấy đi sự sống của chúng ta.  Cái chết nó cũng không chờ đợi lứa tuổi để mà có thể sống theo tuần tự: sinh – bệnh – lão – tử.  Cái chết đến với người già cũng như người trẻ ngang nhau.  Có người chết trẻ. Có người chết già.  Có người chết bất thình lình.  Có người chết từng giờ vì cơn bệnh nan y. 

zzVào ngày 10/04/2010 cả thế giới cũng ngỡ ngàng trước sự ra đi đột ngột của vợ chồng tổng thống Ba Lan cùng đoàn tùy tùng gần 200 người.  Họ đã tử nạn trong một chuyến bay đến Nga để dự lễ kỷ niệm 70 năm ngày khoảng 22.000 binh sĩ Ba Lan bị sát hại.  Chiếc máy bay đã không đưa họ đến nơi dự định mà đã đưa họ về với trời cao vào lúc 11g00 trưa cùng ngày.  Họ đã kết thúc cuộc đời vào lúc mà họ không ngờ, và chắc chắn họ vẫn chưa chuẩn bị cho chuyến đi định mệnh một cách vĩnh viễn này.

Mỗi ngày chúng ta cũng chứng kiến biết bao cái chết tức tưởi bởi đột quỵ hay bởi tai nạn giao thông.  Trung bình ở Việt Nam mỗi ngày có hơn 32 người chết bởi tai nạn giao thông.  Mỗi năm thiên tai lũ lụt cũng gây nên biết bao cái chết oan khiên đắng cay.  Pakistan mới trải qua cơn lũ kinh hoàng đã cướp đi hơn 1500 sinh mạng. Sự chết dường như không kiêng nể ai.  Sự chết có thể đến với bất cứ ai và ở mọi nơi, mọi lúc.

***********************************************

Xem ra sự sống và sự chết không nằm trong những toan tính dự định của chúng ta.  Chúng ta không có quyền chọn lựa để tiếp tục sống hay chết.  Không có quyền chọn lựa về cách chết.  Và càng không có quyền chọn lựa thời gian để chết.  Sự chết dường như vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.  Sự chết sẽ chấm dứt mọi sự nơi dương gian của chúng ta.  Công danh, sự nghiệp.  Giầu có hay khó nghèo cũng kết thúc như nhau với nấm mồ nhỏ bé bốn tấc đất như nhau.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức.  Tỉnh thức để chờ đợi chủ trở về.  Sự chờ đợi khôn ngoan là chăm chỉ làm việc bổn phận của mình.  Sự chờ đợi tích cực là tích luỹ kho tàng không bao giờ bị hao hụt hay mối mọt phá hoại là những việc lành phúc đức.  Sự chờ đợi trong kiên nhẫn, dầu là lúc đêm khuya hay lúc bình minh sắp ló rạng vẫn luôn tỉnh thức vì không biết chủ về vào lúc nào.  Chủ về với hàm ý chính Thiên Chúa sẽ đến viếng thăm mỗi người chúng ta qua các ơn lành, qua các bí tích . . . Chủ về cũng có nghĩa là ngày Chúa đến để đưa linh hồn chúng ta ra khỏi thế gian. Chủ về cũng có nghĩa là ngày cánh chung, ngày đó sẽ khép lại toàn bộ lịch sử của nhân loại.  Chủ sẽ vui mừng thấy chúng ta tỉnh thức hay chủ sẽ giận dữ thấy chúng ta đang u mê lười biếng.  Chủ sẽ thưởng công hay luận phạt tùy theo thái độ sống của chúng ta.

Thế nên, sự khôn ngoan mời gọi chúng ta hãy sống giây phút hiện tại một cách tích cực.  Hãy sử dụng thời gian một cách hợp lý.  Đừng dùng giây phút hiện tại để phạm tội.  Đừng lao vào những đam mê mù quáng.  Hãy sống tích đức để mua lấy Nước Trời mai sau.  Nhưng đáng tiếc cho nhân loại hôm nay vẫn còn đó những người sống thiếu tỉnh thức bằng đời sống lười biếng và thiếu trách nhiệm trong bổn phận của mình, vẫn còn đó những người sống ngụp lặn trong đam mê tội lỗi, vẫn còn đó những người sống tham lam bất chính hơn là tích đức cho đời sau.  Họ sẽ mất cơ hội tham dự tiệc của tình yêu mà chính Thiên Chúa sẽ thiết đãi họ.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy sống giây phút hiện tại như là giây phút cuối cùng của đời mình để chúng ta sống có trách nhiệm hơn, sống tỉnh thức hơn.  Ước gì mỗi người chúng ta cùng được chủ vui mừng đón tiếp trong bữa tiệc vĩnh cửu nơi quê hương trên trời.  Amen!

Lm.Jos Tạ duy Tuyền

NGƯỜI QUẢN LÝ TRUNG TÍN VÀ KHÔN NGOAN

Trong một thời gian ngắn các nước Á Châu đã phải chứng kiến sự ra đi của nhiều lãnh tụ. Trước hết là việc chạy trốn của ông Fujimori. Ông Fujimori đã làm tổng thống nước Peru đến nhiệm kỳ thứ 2. Nhưng vì tham nhũng, ông đã phải trốn chạy về Nhật. Tiếp đến là ông Estrada, tổng thống nước Philippin. Ông đã thắng cử với số phiếu áp đảo. Nhưng cuối cùng phải từ chức cũng vì tội tham nhũng. Gần đây là ông Wahid, tổng thống Inđônêsia. Ông đã ra nước ngoài  tị nạn cũng vì tham nhũng. Tất cả chỉ vì họ đã làm sai nhiệm vụ. Họ chỉ làm nhiệm vụ quản lý chứ không làm chủ đất nước. Dân mới làm chủ. Nhưng họ đã không làm tốt nhiệm vụ quản lý. Nên họ đã bị sa thải.

***

Bạn thân mến! Chúng ta cũng là người quản lý của Thiên Chúa. Thật vậy, sự sống, tài năng, trí thông minh, sức khoẻ sắc đẹp, tất cả đều là ơn Chúa ban. Nói tóm lại, tất cả những gì ta có, tất cả những gì ta là, đều là của Chúa.  Chắc chẳng có ai dám tự hỏi: Tại sao tôi không cao hơn, không mập hơn? Tại sao tóc tôi không vàng hoe, mắt tôi không xanh biếc?  Tại sao tôi không có tài hội họa, có giọng ca hay? Ta không thể hỏi như vậy, vì ta không có quyền gì trên đó. Tất cả đều là của Chúa ban. Chúng ta chỉ là quản lý. Chúa trao sự sống, tài năng, trí thông minh cho ta gìn giữ trong một thời gian. Nói theo ngông ngữ Trịnh Công Sơn tất cả những thứ đó chỉ “ở trọ” nơi ta.

Con chim ở trọ cành tre,
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn…
Môi xinh ở trọ người xinh,
Duyên dáng ở trọ đôi chân Thuý Kiều…
Tôi nay ở trọ trần gian
Mai sau về chốn xa xăm với Người.

Một ngày kia Chúa sẽ đòi ta tính sổ. Lúc đó ta phải nộp cho Chúa cả vốn lẫn lời.

Là người quản lý, ta phải có những đức tính nào? Thưa, Chúa muốn ta là người quản lý trung tín và khôn ngoan.

Là quản lý trung tín, ta phải biết sinh lợi những tài sản Chúa trao.  Phải biết phát triển sao cho thân xác ngày càng khoẻ mạnh, trí thông minh ngày càng sáng suốt, những tài năng ngày càng đạt đến mức tinh vi hoàn hảo.

Là quản lý trung tín, ta phải biết chia sẻ.  Chúa ban sức lực, tài năng không phải để ta ích kỷ vun quén cho bản thân, nhưng để ta dùng mà phục vụ. Người có của mắc nợ người nghèo. Người có tài mắc nợ xã hội. Nghệ sĩ mắc nợ khán giả. Giám đốc mắc nợ công nhân. Bác sĩ mắc nợ bệnh nhân. Linh mục mắc nợ giáo dân. Cha mẹ mắc nợ con cái.

Là quản lý trung tín, ta không được phản bội.  Không được dùng những ơn Chúa ban để chống lại Chúa. Đừng dùng sức mạnh mà áp bức người khác. Đừng dùng tài năng phục vụ lợi nhuận riêng mình. Đừng dùng trí thông minh gieo rắc nọc độc tư tưởng. Đừng biến thân xác thành món hàng mua bán. Nhưng dùng tất cả để phục vụ Chúa. Dùng tất cả để làm cho Chúa được yêu mến, được vinh danh hơn.

Là quản lý khôn ngoan, ta phải biết nhìn xa.  Sự sống, tài năng, sức lực, trí thông mình chỉ ở trọ nơi ta một thời gian.  Phải làm cho chúng biến thành vĩnh cửu. Nhiều lần Chúa Giêsu đã dạy ta: “Hãy dùng tiền của chóng qua ở đời này mà mua lấy bạn hữu. Để sau này họ sẽ đón rước ngươi vào chốn đời đời”. Hôm nay Người dạy ta: “Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt, là kho tàng ở trên trời, nơi không có trộm cắp bén mảng, cũng không có mối mọt đục phá” (Lc. 12:33).  Lạ lùng hơn nữa, cách gây dựng kho tàng trên trời khác hẳn với cách gây dựng kho tàng trần gian. Để gây dựng kho tàng trần gian, ta phải hà tiện, ích kỷ, thu tích cho mình. Trái lại, để gây dựng kho tàng trên trời, ta phải biết cho đi. Càng cho đi lại càng giàu có. Càng phân phát lại càng dư thừa. Càng ban tặng lại càng phong phú.

Là quản lý khôn ngoan, ta phải tỉnh thức. Cuộc đời ở trọ mau qua. Chúa lại hay đến bất ngờ. Nên ta phải tỉnh thức đợi chờ. Đợi chờ không phải là thụ động ngồi đó khoanh tay. Đợi chờ là phải tích cực làm việc. Thắt lưng vào, thắp đèn lên để làm việc cho mình chính như giữa ban ngày. Để phục vụ không bao giờ ngừng. Dù Chúa có đến lúc nào, Chúa cũng thấy ta đang mặc quần áo công nhân phục vụ. Dù có bất ngờ như kẻ trộm, Chúa cũng thấy quản lý đang phục vụ anh em, phân phát lúa thóc cho họ.

***

Lạy Chúa, xin nhắc nhở  con luôn luôn nhớ rằng con là người quản lý của Chúa, để dù ở đâu, dù làm gì, con cũng luôn chăm lo làm việc cho Chúa, luôn tỉnh thức sống dưới ánh mắt của Chúa. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt
(BĐ1: Sách Khôn Ngoan 18:6-9 – BĐ2: Do Thái 11:1-2,8-19 – PÂ: Luca 12:32-48)

ĐÀNG THÁNH GIÁ TRONG NGÔI NHÀ NGUYỆN MỄ TÂY CƠ  

Trong một chuyến đi Chicago, tôi đã đặt chân vào ngôi nhà nguyện ấy.

Đó là ngôi nhà nguyện trong một cao ốc tối tăm vùng Nam Chicago, nơi được dùng làm trụ sở của tổ chức Catholic Charities.  Mặt tiền của cao ốc này là con đường tấp nập xe cộ; cửa sau cao ốc thông ra một khu đậu xe, với con đường đất dẫn vào, gập ghềnh, lồi lõm.  Ngay trên đầu lối xe vào là chiếc cầu xi măng, trên đó xe điện chạy rầm rập suốt ngày đêm.

Rõ ràng, đây không phải là một cao ốc khang trang, tráng lệ.  Nó hợp với khung cảnh của vùng Nam Chicago, nơi có nhiều người da đen và người Mễ, những người nghèo, thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội.  Tầng trệt của cao ốc này là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của những người Mễ Tây Cơ.

Có lẽ trong tầng trệt của cao ốc này, ngôi nhà nguyện là căn phòng đẹp nhất, với những bờ tường cẩn đá cuội to bên dưới, một bàn thờ làm bằng một phiến gỗ mộc, một nhà tạm bên góc trái với ngọn đèn dầu leo lét, và một giàn đèn màu hắt ánh sáng từ trên trần xuống.

Tôi quì trong nhà nguyện, tĩnh tâm một lúc rồi ngó lên bốn bức tường tìm kiếm một hình ảnh thân quen: mười bốn chặng đàng thánh giá.  Trong bất cứ một thánh đường hay nguyện đường Công giáo lớn nhỏ nào, đều có hình ảnh của mười bốn chặng đàng thánh giá.  Đó là những hình ảnh ghi lại những biến cố quan trọng trong đoạn đường khổ nạn của Chúa Kitô, bắt đầu từ sự kiện Ngài bị đưa đến dinh quan tổng trấn Philatô luận tội và kết thúc ở sự kiện xác Ngài được táng trong huyệt đá. Người giáo dân, khi muốn tưởng nhớ đến công ơn cứu chuộc của Chúa Ki tô thì đứng trước mỗi chặng đó, đọc kinh, suy niệm, gọi là ”đi đàng thánh giá”.

Điều làm tôi kinh ngạc là ngôi nhà nguyện trang trí theo nghệ thuật Mễ Tây Cơ này không có mười bốn chặng đàng thánh giá.  Tôi đã từng đến những ngôi nhà nguyện rất nhỏ hẹp, rất đơn sơ nghèo nàn, nghèo đến độ không có nổi hình ảnh của mười bốn chặng đàng thánh giá; nhưng thay vào đó, người ta đã cắt mười bốn hình thánh giá nhỏ bằng giấy, gắn lên tường, tượng trưng cho mười bốn chặng đàng thánh giá.  Ở đây, hình ảnh không có, thánh giá bằng nhựa, bằng giấy cũng không có, tường vách trống trơn.  Thay vào đấy, họa sĩ nào đó đã dùng màu, vẽ dày đặc trên bốn bức tường.  Hình ảnh những người đa đen, người Mễ, những cảnh gồng gánh, cảnh làm việc tại công trường… trông hết cả vẻ trang nghiêm của một nơi thờ phượng.  Tự nhiên tôi thấy giận giận trong lòng.  Cái tật vẽ tùm lum tà la trên tường nhà, đường phố, cầu cống của người Mễ xâm nhập cả vào nơi cầu nguyện.

Tại sao lại có một sự vô ý thức đến như thế!

Vì công việc, tôi phải ở lại trung tâm sinh hoạt tôn giáo của người Mễ này vài ngày.  Và cũng vì trách nhiệm, mỗi ngày tôi phải vào ngôi nhà nguyện đó nhiều lần.  Lần nào cũng vậy, thay vì tìm thấy sự bình an trong tâm hồn thì tôi chỉ cảm thấy… mất bình an.  Càng mất bình an bao nhiêu thì tôi càng có cảm tưởng những hình ảnh trên tường đó càng nhảy múa, trêu ghẹo tôi bấy nhiêu.  Hóa ra, thay vì được ”tĩnh tâm” thì tôi lại bị ”động tâm”.  Nguyên do cũng chỉ vì ngôi nhà nguyện không có mười bốn chặng đàng thánh giá, lại thêm nữa là tường vẽ đầy những hình ảnh kì quái làm mất vẻ trang nghiêm.

Cho đến buổi sáng kia, một vị hình mục đến dâng Thánh lễ trong ngôi nhà nguyện này.  Trong phần giảng thuyết, ngài khai triển chủ đề ”Chúa ở trong tha nhân ”.  Ngài nói: ”Chúng ta không nhìn thấy Chúa, nhưng nhìn thấy anh em chung quanh ta cũng chính là thấy Chúa, vì Chúa ở trong những người anh em đó.  Chúng ta cũng không trực tiếp phục vụ Chúa, nhưng khi chúng ta phục vụ những người anh em cũng là chúng ta phục vụ chính Chúa, vì Chúa ở trong những người anh em đó.

Tôi ngồi nghe, hơi thờ ơ.  Những tư tưởng này tôi cũng đã được nghe nhiều lần, không có gì mới lạ.  Nhưng tôi bắt đầu chú ý khi vị linh mục đề cập tới những bức tường trong ngôi nhà nguyện.  Bằng một giọng đều đặn nhưng không thiếu sự rung cảm, ngài nói:

Anh em thử nhìn lên bốn bức tường trong nhà nguyện này.  Anh em không thấy mười bốn chặng đàng thánh giá, cũng không thấy Chúa đâu. Nhưng có Chúa đó, và cũng có cả mười bốn chặng đàng thánh giá đó.

Tôi kinh ngạc, chú ý nghe.  Và vị linh mục nói tiếp:

Anh em hãy nhìn bức hình thứ nhất: một người da đen bị trói hai tay, đứng trước những người khác.  Anh em không nhìn thấy Chúa đâu, nhưng có Chúa trong người da đen ấy.  Chúa Ki tô đang bị đưa ra trước tòa quan tổng trần Philatô đó…  Anh em hãy nhìn bức hình thứ hai, anh em không thấy Chúa đâu, chỉ thấy một người đang vác những vật rất nặng trên vai, lưng anh ta còng xuống.  Chúa đó, Chúa Ki tô vác thánh giá trong người anh em đang mang nặng đó…  Anh em hãy nhìn bức hình thứ ba, anh em không thấy Chúa đâu, chỉ thấy một người bị đè dưới một đống gạch.  Chúa đó, Chúa Ki tô bị ngã xuống đất dưới sức nặng của cây thánh giá…  Anh em hãy nhìn bức hình thứ tư, anh em không thấy Chúa đâu, chỉ thấy một phụ nữ đẹp sầu muộn đang nhìn một người đang bị đánh đập.  Chúa Kitô đó, trên đường khổ giá, Ngài đã gặp Đức Mẹ sầu bi.

Lần lượt, vị linh mục giảng giải trọn vẹn mười bốn chặng đàng thánh giá vẽ trên tường.  Tôi và những người ngồi trong nhà nguyện chăm chú lắng nghe.  Nghe mà cảm thấy trong lòng sung sướng. Đây là lần đầu tiên, tôi cảm nghiệm bài học “Chúa ở trong tha nhân ” một cách thật mãnh liệt và sống động.

Buổichiều, tôi gặp vị linh mục yà tỏ ý cảm phục vì sự ngài nhìn ra ý nghĩa của những hình ảnh ”kì quái” trên tường.  Ngài cười nhẹ đáp:

Tôi nghĩ đó là sự nhạy cảm văn hóa.  Buổi sáng sớm nay, tôi vào nhà nguyện, ngồi suy niệm.  Bất chợt, nhìn lên tường, ngắm những bức tranh ấy, tôi tìm ra được ý nghĩa của chúng.

Tôi không có được sự ”nhạy cảm văn hóa ” của vị linh mục kia.  Nhưng qua sự giải nghĩa của ngài, tôi học được một bài học còn quan trọng hơn sự ”nhạy cảm văn hóa”.  Chuyện xảy ra là, sau buổi sáng hôm ấy, mỗi lần vào nhà nguyện Mễ Tây Cơ đó, tôi không còn cái tâm trạng ”giận giận ” và ”mất bình an ” nữa; trái lại, lòng tôi thấy bình an thư thái và chan chứa yêu thương.  Tôi thấy ngôi nhà nguyện đẹp và dễ thương, những giờ cầu nguyện trong ngôi nhà nguyện ấy thật là ý nghĩa.

Trước đây, tôi thấy ngôi nhà nguyện dễ ghét, vì tôi không hiểu được ý nghĩa những bức tranh vẽ trên tường.  Bây giờ, ngôi nhà nguyện dễ thương, vì tôi đã hiểu được ý nghĩa những bức tranh ấy.  Bài học tôi học được chính là ở chỗ đó: ngôi nhà nguyện cũng y như một con người và những bức tranh vẽ trên tường cũng giống như tâm hồn của người ấy.  Có những người, khi mới thoạt gặp, tôi đã thấy ”mất cảm tình” ngay, nơi họ có cái gì kì cục, khó ưa và tôi tìm cách xa tránh họ, không muốn tiếp xúc với họ.  Tình cờ gặp họ, dù họ không làm gì đụng chạm đến tôi, tôi cũng thấy ghét, thấy bực mình.  Thế nhưng, nếu có cơ hội nào, tôi đi được vào cõi lòng của người ấy, tôi biết được tâm trạng, sự suy nghĩ, niềm vui nỗi buồn, niềm đau và sự hạnh phúc của người ấy, tôi sẽ thấy người ấy có những điểm dễ thương và tâm hồn người ấy có nhiều điều đáng quí.

Hi vọng rằng từ nay, khi tiếp xúc với một người, tôi sẽ không vội ưa hay không ưa, mà cố gắng tìm hiểu tâm hồn họ.  Và tôi tin rằng nơi tâm hồn bất cứ một ai cũng có những điểm đáng quí, dễ thương.

Nhà văn Quyên Di

TIẾNG NÓI CỦA THINH LẶNG

zzTruyện kể rằng:

Trước khi ông Moisê dẫn dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, người phải qua một thời gian huấn luyện dưới sự chỉ giáo của một thầy dạy.  Kỷ luật đầu tiên mà Moisê phải tuân giữ, là sự im lặng tuyệt đối trước bất cứ điều trái ý nào.

Một hôm, hai thầy trò đi du ngoạn tại một miền quê có đồi núi hùng vĩ, cây cối xanh tươi, hoa cỏ muôn màu muôn sắc, sông nước trong mát.  Nhưng Moisê cũng phải im lặng không dám mở miệng khen ngợi.

Ðến gần bờ sông, Moisê thấy một đứa bé đang chìm dần xuống nước, trong khi đó người mẹ trên bờ sông không biết làm gì hơn là khóc than thảm thiết.

Moisê không cầm lòng được trước cảnh tượng đáng thương đó, liền buột miệng nói:

Thầy không thể làm gì để cứu đứa bé được chăng?

Thầy giáo bảo Moisê hãy giữ im lặng.

Moisê cắn lưỡi giữ yên, nhưng cảm thấy áy náy trong tâm hồn.  Ông tự nghĩ, không lẽ thầy mình lại có tấm lòng chai đá như vậy hay sao?  Hay là chỉ vì bất lực không thể cứu giúp người gặp cảnh khó khăn được?  Mặc dù Moisê không dám nuôi những tư tưởng xấu về thầy mình, nhưng lại rất khó mà xua đuổi những tư tưởng ấy đi.

Hai thầy trò lặng lẽ tiếp tục tiến về phía biển.  Ðứng trên bờ biển, Moisê thấy chiếc thuyền nhỏ lao đao, vật lộn với sóng lớn và đang chìm dần với cả nhóm thủy thủ.  Moisê kêu lên:

Lạy thầy, xin hãy nhìn xem kìa, chiếc thuyền nhỏ đang chìm dần.

Một lần nữa thầy giáo ra hiệu cho Moisê phải giữ im lặng.  Moisê không dám nói gì thêm nữa, nhưng trong lòng không khỏi phân vân lo lắng.

Khi hai thầy trò trở về nhà, Moisê liền đem sự việc đến bàn hỏi cùng Chúa.

Chúa phán: thầy con làm như vậy là có lý, đứa bé chết đuối trong nước sông, nếu không chết, lớn lên nó sẽ là tên tướng giặc gây chiến giữa hai quốc gia, và hàng ngàn người vô tội sẽ phải chết thảm thương.  Còn chiếc thuyền nhỏ ngoài biển kia đang chở theo một bọn cướp hung dữ, chúng đang dự bị tấn công một làng nhỏ gần vùng biển.  Nếu chúng không bị đắm thuyền, thì chúng sẽ cướp phá và giết hại dân làng vô tội.

*************************************

Các bạn thân mến!

Các bạn đã nghe được tiếng nói của im lặng bao giờ chưa?  Nó không phải là điều nghịch nghĩa.  Sự thầm lặng nói với tiếng nói thâu suốt tâm lòng con người.  Lời lẽ của nó thân tình và quan trọng.  Quan trọng, bởi vì những lời lẽ đó dẫn đưa chúng ta đến chỗ suy tư với chính mình, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên, của vạn vật và của Chúa trong tâm hồn ta nữa.

Tiếng nói của thầm lặng thúc đẩy chúng ta tìm hiểu sự chân thật, đồng thời cũng chỉ bảo chúng ta cách đối thoại với thực tại đang chờ đón ta.  Sự thầm lặng sẽ giúp ta không bị hoa mắt trước những ảo mộng hão huyền, không bị mỏi mệt vì tiếng ồn ào huyên náo.

Thỉnh thoảng chúng ta cũng cần phải rút lui và chính mình trong chốc lát, cho dù chỉ một vài phút để nghỉ ngơi tinh thần, để khám phá ra sự thật trong thinh lặng, để định hướng đi và đi vững vàng hướng dẫn bánh lái của cuộc đời ta.

*************************************

Lạy Chúa, này đây con xin ở im lặng trước nhan thánh Chúa, con nhìn Chúa và con biết rằng Chúa cũng đang nhìn con.  Chúa thấu tỏ mọi sự, xin hãy nói và con sẽ lắng nghe với tất cả tâm hồn, tất cả trí khôn con.  Xin hãy truyền cho sóng gió của dục vọng, của ham muốn trong đời con, phải lặng tĩnh để tâm hồn con trở nên phẳng lờ, trong sáng có thể phản ảnh dung nhan Chúa, để con biết nhìn mọi sự việc với cái nhìn của Chúa, cái nhìn của lòng tin yêu Chúa, phó thác trong sự quan phòng đầy khôn ngoan của Chúa. Amen.

R. Veritas