CẦU NGUYỆN MÀ KHÔNG ĐƯỢC NHƯ Ý!

Sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, Đức Bênêđictô XVI đã có buổi tiếp kiến hàng ngàn người đồng hương người Đức của Ngài bên trong đại thính đường Phao-Lô.  Họ đã đến Roma để chúc mừng Ngài và cũng để tham dự lễ đăng quang Giáo Hoàng của Ngài. Nhưng trong buổi tiếp kiến, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đã cảm động thổ lộ tâm tình của Ngài như sau:

Trong mật nghị Hồng Y, đã nhiều lần cha cầu xin Thiên Chúa tha cho cha công việc này, vì cha chỉ hy vọng và mong muốn sống những năm cuối đời trong thầm lặng và bình an bên quê nhà, cha nghĩ rằng cha đã xắp sửa hoàn tất công việc mà Thiên Chúa đã giao phó cho cha, và giờ đây với tuổi già sức yếu, cha có thể sống những năm tháng cuối đời trong an bình, bên cạnh người anh ruột mà cha hằng thương mến, đó là đức ông George Ratzinger.

Thế nhưng khi cuộc đếm phiếu vào chiều thứ Ba (ngày19 tháng 4 năm 2005), từ từ lộ ra là cha được khá nhiều phiếu, cha bắt đầu cảm thấy choáng váng mặt mày vì đây là lưỡi chém rớt xuống cuộc đời của cha. Điều này chứng tỏ rõ ràng là Thiên Chúa không nhận lời cha cầu xin, Ngài không cất chén đắng cho cha.“

***

Bạn thân mến! Có phải cứ thành tâm cầu nguyện thì việc gì ta xin cũng được Thiên Chúa nhận lời?  Nếu không được nhận lời, thì ta phải hiểu thế nào? Nếu đứa con còn nhỏ của ta cứ năn nỉ xin ta cho con bọ cạp để chơi, xin ta cho cái xe hơi để lái, ta có cho nó không?

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng Chúa ban cho ta con bọ cạp, trong khi có thể chính chúng ta lại xin con bọ cạp mà không hay biết. Con cá Chúa cho, nhưng nhiều lúc ta lại tưởng là rắn. Chỉ có Chúa mới biết rõ điều gì là tốt, là cần thiết, là thích hợp cho ta. Hãy luôn tin tưởng và phó thác vào tình thương của Chúa.  Ngài luôn yêu thương chăm sóc cho ta nên luôn ban cho ta những điều “tốt và hợp”.

Trong những trường hợp khác, có người phải chịu những thử thách quá lớn trong cuộc sống, những đau khổ dồn dập khiến cho họ gần như mất đức tin, không còn tin rằng Thiên Chúa là người Cha nhân hậu. Họ đã kêu gào lên Chúa nhưng chỉ thấy Chúa thinh lặng. Đau khổ đã làm họ quên đi tiếng kêu xin của Đức Giêsu trên thánh giá “Lạy Cha! sao Cha bỏ con? ” Tiếng kêu xin ấy vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay. Thiên Chúa ở đâu? Ngài có nghe tôi nài xin không? Ngài có thấy nỗi khổ của tôi không?

Nhìn ngắm Đức Giêsu trên thánh giá giúp ta tìm lại được niềm tin, giúp ta hiểu được phần nào mầu nhiệm của thập giá và đau khổ: “Cha thương Con, nhưng Cha vẫn thinh lặng, vẫn không cứu Con khỏi đau khổ, khỏi sự chết. Cha muốn Con đi ngang qua con đường mà bao người đã đi, con đường tối tăm của niềm tin, của đau khổ và sự chết… Tình yêu của Cha chỉ bừng sáng khi Cha cho Con phục sinh. Cuối đường hầm là ánh sáng. Con phải đi hết đường hầm mới thấy ánh sáng.”

***

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, trong Mật Viện Hồng Y vừa rồi, Chúa đã không nhận lời cầu xin của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô. Trong vườn cây Dầu, Chúa cũng không nhận lời Đức Giêsu khi Ngài cầu xin cho khỏi uống chén đắng (Mt 26:39.42). Vậy mỗi khi con cầu xin và không được nhận lời, xin cho con biết noi gương Đức Giêsu; bắt chước Đức Giáo Hoàng Bênêđictô để giữ lòng bình tâm và tin tưởng vào tình yêu thương của Thiên Chúa, để nhận biết điều mình cầu xin không phải là ý Chúa, không nằm trong chương trình kế hoặch của Chúa, không mang lại ích lợi cho đời sống thiêng liêng của con. Xin cho con biết phó thác cuộc đời của con trong vòng tay thương yêu của Chúa, Amen .

Linh Xuân Thôn

NỖI LÒNG CHA

Trong Phúc Âm thánh Luca, dụ ngôn Chúa bỏ chín mươi chín con chiên trong hoang địa để tìm một con chiên lạc, có lối kết luận nghịch với tiền đề. Chúng ta hãy đọc toàn bản văn:

zzAi trong các ông, giả sử có trăm con chiên và lạc mất một con, há người ấy lại không bỏ chín mươi chín con ngay nơi hoang địa, để đuổi theo một con chiên lạc, cho đến khi tìm được nó ư? Tìm được rồi, há người ấy lại không mừng rỡ, quàng nó trên vai mình, và về đến nhà, mà lại không gọi cả bạn bè hàng xóm, mà phân phô với họ thế này sao: Bà con hãy chia vui với tôi, nay tôi đã tìm thấy con chiên lạc của tôi! (Lc.15:4-6)

Tiếp đó dụ ngôn được kết luận như sau:

Tôi bảo các ông: Cũng vậy, trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính, những kẻ không cần phải ăn năn (Lc.15:7)

Bản văn được chia làm 2 phần. Ta có thể vẽ thành họa đồ sau đây

Phần một diễn tả câu chuyện, có bốn chi tiết:

– Nói về con chiên đi lạc,

– Người chăn chiên đi tìm,

– Tìm thấy rồi ôm trên vai,

– Vui mừng khoe với bà con,

Phần hai kết luận:

– Nước Trời vui mừng vì một người sám hối.

Xét qua bản văn ta thấy kết luận rất lạ với tiền đề câu chuyện, vì cả câu chuyện không hề nói tới lòng sám hối. Có một con chiên lạc, rồi Chúa đi tìm. Người chăn chiên đi tìm chứ đâu có phải con chiên tìm lối trở về, như thế làm sao mà gọi là lòng sám hối được?

Xem ra lối kết luận trên đây không hợp luận lý. Tuy nhiên, thinh lặng một chút ta sẽ thấy có điều phải suy nghĩ lại trong lối viết văn của Luca. Luca không trình bày rõ lòng sám hối của con người, nhưng làm nổi bật lòng xót thương của Chúa. Ở Luca tôi thấy dựa vào lòng xót thương của Chúa mà ta có thể về, chứ không phải sự tốt lành của ta. Lối kết luận này vẫn hợp lý, và chỉ hợp lý khi ta giả sử là người chăn chiên tìm thấy, rồi con chiên đồng ý trở về. Sự đồng ý trở về ấy Chúa coi như lòng sám hối.

Một đêm dừng chân trên lưng núi, Chúa thao thức vì một tâm hồn. Giờ này con tôi ở đâu? Tiếng lòng vọng về đáp trả giữa đêm đen vẫn chỉ là một khoảng không cô tịch. Cũng trong tiếng lòng ấy, vọng về nỗi thương, Người phải đi tìm vì đó là con của Ngài. Rong ruổi cho đến khi gặp, nhưng vì còn tự do của nó, Ngài chỉ có thể thương yêu hỏi:

– Cha muốn con về.

Ánh mắt người chăn chiên có nỗi đau thương vì Satan đã lừa gạt con của Ngài. Nhưng khổ tâm, Satan cũng đã không cưỡng bách được sự tự do của con cái Ngài. Ra đi vẫn là một lựa chọn tùy ý. Trở về cũng thế, Ngài chỉ có thể hỏi đứa con ấy:

– Con có muốn trở về?

Trong cái gật đầu mệt mỏi của con chiên lạc, Ngài mừng rỡ vác lên vai mà đem về. Chỉ ở điểm này, gọi đó là lòng sám hối, ta mới có thể chấp nhận kết luận kia hợp lý.

***

Lạy Chúa! Một lần ra đi, một quãng đời nào của con vương trong bụi gai chẳng còn lối thoát.  Chúa thương tìm con về.  Bụi đất làm con xơ xác.  Chúa chẳng ngại, Chúa bế con rồi ôm trên vai. Chúa không sợ dơ áo của Chúa vì những vết thương của con lâu ngày mưng mủ.

Lối trình bầy Tin Mừng của thánh sử Luca cho con thấy rực lên lòng thương xót của Chúa đi tìm con, hơn là con sám hối ăn năn.

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.
(Trích tập sách “Con Biết Con Cần Chúa”)

NGƯỜI CHA

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là Tin Mừng của Tin Mừng. Tin Mừng vì Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.  Lòng thương xót của Thiên Chúa thực sự vô biên, thực sự dài, rộng, cao, sâu khôn lường, ta không thể nào hiểu thấu.

zzKhi chiêm ngắm Người Cha Nhân Hậu trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta khám phá ra khuôn mặt một Thiên Chúa yêu thương:

Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa khiêm tốn. Như người cha chấp nhận chia gia sản cho con, chấp nhận để con bỏ nhà ra đi. Thiên Chúa cũng tôn trọng tự do của con người. Đấng Toàn Năng đã tự giới hạn quyền năng của mình để ta có thể hiện hữu một cách tự do. Ngài như thể thu mình lại để nhường chỗ cho con người thụ tạo.

Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết chờ đợi. Thiên Chúa vẫn nuôi hy vọng khi con người lìa xa Ngài.  Người Cha vẫn luôn trông ngóng con từ bên cửa sổ.  Lòng Cha luôn hướng về con.  Bởi thế ngay khi con còn ở đàng xa, Cha đã nhìn thấy, Cha đã nhận ra con, dù con xanh xao tiều tụy. Thiên Chúa không thất vọng về con người. Ngài không bắt ép con người hoán cải, Ngài chỉ chờ, Ngài chờ vì Ngài tôn trọng tự do của ta.

Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết tha thứ.  Ngài là Cha yêu con bằng tấm lòng người mẹ. Rõ ràng người con thứ thật đáng trách, vì bất hiếu. Nhưng tình thương của Cha còn lớn hơn tội lỗi của anh. Cha thương anh vì anh đã lỗi phạm. Người cha không cần nghe con mình xin lỗi. Sự trở về của anh đã là lời thống hối ăn năn: “Con ta đã chết, nay đang sống; đã mất, nay lại tìm thấy.” Thiên Chúa không nhớ chuyện đã qua. Điều quan trọng là hiện tại: “con đang sống trong vòng tay Cha”.

Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa luôn chạy ra, như người cha chạy ra để đón đứa con thứ đi hoang trở về, như người cha đi ra để năn nỉ đứa con cả bớt giận để vào nhà ăn mừng người em trở về. Thiên Chúa dường như không yên tâm trong hạnh phúc của riêng mình, nếu có một người con còn đứng ngoài.  Người cha trong dụ ngôn chẳng sợ mất uy nghi, đạo mạo. Ông chạy đến với con, phá vỡ khoảng cách của quyền uy. Quyền uy của người cha là quyền uy của tình yêu, mà tình yêu thì có can đảm vượt qua mọi khoảng cách.

Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa biết nhảy mừng. Thiên Chúa đãi tiệc vì một người ăn năn sám hối. Nhưng Thiên Chúa nhảy mừng cũng là Thiên Chúa đã từng chịu đau khổ. Ngài đau vì người con cố tình xa Cha.

Thiên Chúa biết buồn vui với con người và vì con người. Hãy trở lại và ở lại trong nhà Cha, vì Cha muốn trao cho con tất cả những gì Ngài có. Tiệc đã sẵn, vào với Cha cũng là về với anh em.

***

Lạy Cha!  Nếu Ngài không tha thứ cho các tội nhân thì thiên đàng sẽ trống rỗng, và thế giới này chẳng có thánh nhân .

Lạy Cha là Đấng Nhân Lành và Bao Dung, xin kéo con trở về bên Cha. Xin giúp con vất bỏ những đam mê lầm lạc. Xin nâng con đứng lên trong niềm vui ơn tha thứ, vì nhận biết rằng tình Cha lớn hơn tội lỗi của con bội phần.

Ước gì những vấp ngã trên đường đời giúp con lớn lên, thấy mình mong manh, thấy Cha rộng lượng. Và ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, con biết cố gắng nỗ lực để trở nên giống Cha nhiều hơn, vì con đã biết tha thứ cho anh em của con. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Xuất Hành 32:7-11,13-14 – BĐ2: 1 Tm 1:12-17 – PÂ: Luca 15:1-32)

NGƯỜI TUYÊN ÚY THẦM LẶNG

Người đàn ông Mỹ với mái tóc trắng xoá và đôi mắt sáng quắc sau cặp kính trắng cứ chăm chú nhìn tôi như muốn dò hỏi một điều gì thầm kín.  Tóc ông bạc nhưng không hói như bao nhiêu người Mỹ tôi thường gặp.  Dáng vóc trông vừa mảnh khảnh lại vừa khác thường bởi bờ vai trái của ông xệ hẳn xuống như một kẻ tật nguyền.  Ông ngồi đó, đối diện với tôi nơi bàn cơm tối trong một nhà ăn tu viện ở Washington.  Qua ánh mắt, tôi dự đoán có lẽ trong thâm tâm ông đang thắc mắc: “Anh có phải là người Việt Nam không?”  Hoặc là : “Anh đến đất Mỹ này lâu chưa?  Tại sao anh lại ở nơi đây, nơi một cộng đoàn của người Mỹ?”

Thầm đoán vu vơ những câu hỏi đại khái như thế, rồi tôi cũng mạnh dạn nhìn thẳng vào ông như muốn phải ứng:

Không biết cái ông này đang thắc mắc gì vậy?  Ông muốn hỏi thăm về quê hương tôi, hay ông đang muốn tâm sự một nỗi niềm trong chiến tranh Việt Nam mà ông đang ấp ủ trong lòng như bao cựu chiến binh khác.

Trầm ngâm với dòng suy tư của người muốn hỏi cũng như kẻ đang sẵn sàng phản ứng.  Một không khí lặng lẽ giữa hai con người không cùng chủng tộc nhưng lại đang muốn thăm dò về nhau.  Bàn ăn có chừng tám người, nhưng những người ngồi quanh bàn hôm nay lại đang say mê với chuyện khủng bố ở Trung Tâm Thương Mại Thế Giới và của Lầu Năm Góc tuần qua.  Riêng người đàn ông này dường như chẳng quan tâm nhiều đến chuyện thời sự sốt dẻo.  Bất chợt, ông nhổm dậy, vụng về đẩy chiếc ghế ra khỏi bàn ăn và làm nó té sầm trên sàn nhà.  Cả phòng ăn nhớn nhác quay lại phía người đàn ông hơi vụng về ấy như xem thử có gì đã xảy ra.  Vì sau cuộc tấn công kinh hoàng ở New York, thì mỗi tiếng động, mỗi âm thanh lạ đều tạo nên một nỗi hoang mang, sợ hãi.  Có lẽ vì thế mà âm thanh của một chiếc ghế đổ trên sàn nhà cũng làm cho mọi người nhớn nhác.  Còn người đàn ông ấy thì lại nở một nụ cười nhẹ nhàng và dơ tay như thầm xin lỗi tất cả cho sự vụng về ấy.  Cúi xuống dựng chiếc ghế đổ dậy, ông ta tiến về phía chỗ tôi ngồi và mở đầu một câu hỏi đúng ngay như câu hỏi tôi đã dự đoán:

–    Anh có phải là người Việt Nam không?

–    Vâng, tôi là người Việt Nam.  Tôi tự tin trả lời.

–    Tôi là Philip Lucid, Father Lucid.  Ông ta tự giới thiệu.

–    Dạ, chào Cha Lucid, con là Thảo Nam.  Tôi bối rối chào ngài.

Rồi kéo một chiếc ghế trống của bàn bên cạnh, tôi lịch sự mời ngài ngồi.  Trong lòng hơi bối rối, hóa ra ông này là một Linh mục.  Vậy mà lúc nãy tới giờ tôi cứ nhìn vào ông với ánh mắt có vẻ nghi ngờ.  Vừa ngồi xuống, ông ta vào đề ngay:

– Anh có biết An Khê không?

Tôi hơi ú ớ, chắc ngài đang hỏi một từ Latinh nào chăng?  Rồi tôi hỏi lại:

–    Xin cha hỏi lại ạ, con nghe chưa rõ.

–    Anh có biết An Khê ở Việt Nam hay không?  Ông lập lại.

Tôi chợt hiểu, à thì ra ngài đang hỏi thăm một địa danh ở Miền trung Việt nam.

Tôi đáp ngay:

–    Dạ con có nghe về An Khê, nhưng chưa bao giờ đến đó.  Dường như đó là một vùng thuộc về Miền Trung Việt Nam.

–    Đúng rồi, có lẽ An Khê ở gần Đà Nẵng.  Đã quá lâu rồi nên tôi không còn nhớ rõ.  Tôi chỉ biết rằng mình đã ở đó hai năm và cũng là lúc tôi bị bắn gục trên chiến trường An Khê.

Ngài nói trong đôi mắt trầm buồn.  Mắt ngài trầm buồn, nhưng mắt tôi lại tròn xoe kinh ngạc nên bắt đầu tuôn một loạt câu hỏi dồn dập:

–   Tại sao Cha lại ở bên Việt Nam?  Ngày xưa Cha đi lính hả?  Cấp bậc là gì vậy?

zz–   Vâng.  Tôi mang lon đại úy, là Tuyên uý quân đội.  Tôi tình nguyện qua Việt Nam năm 1968, sau khi chịu chức.  Phục vụ tại An Khê hai năm.  Rồi trong một trận hành quân ở đó cùng những người lính Mỹ trẻ, họ chỉ mới 17-18 tuổi đầu, phần đông vừa xong trung học chưa biết đời là gì.  Tôi thương bọn trẻ nên xin phép ra ngay chiến trường vừa đi bên cạnh họ và vừa đi xức dầu trong lúc khẩn cấp cho những người bị thương và hấp hối.  Rồi trong một trận đánh quá căng với Việt Cộng, lính tráng ngã nhiều quá.  Tới phiên một cậu lính rất trẻ bị trúng đạn và ngã xuống, tôi vì cúi xuống bế cậu lên mong kéo qua nơi an toàn hơn để băng bó và xức dầu, thì một viên đạn xuyên qua bả vai tôi, và viên đạn thứ hai xuyên qua ngực cậu lính đang bị thương trên tay.  Tôi gục xuống, buông cậu lính trẻ ra khỏi tay và cố gượng sức dùng ngón tay viết một dấu Thánh Giá trên trán cậu, rồi nhìn cậu hấp hối, tắt thở!  Rồi tôi cũng lịm ngất trong cơn đau.

Hình ảnh ấy vẫn mãi ghi đậm trong tôi suốt cả một đời Linh mục.  Bây giờ nghĩ lại, đó cũng là những chuỗi ngày đẹp nhất, ý nghĩa nhất trong đời Linh Mục của tôi.  Đổ máu như Đức Kitô đã đổ máu.  Và quê hương Việt Nam vẫn là niềm khắc khoải trong tôi một đời.  Tôi vẫn mong có ngày trở lại trên mảnh đất thân yêu ấy.

Tôi lặng người khi nghe những dòng tâm sự thiết tha ấy.  Cả hai nhìn nhau thinh lặng, không phải cái thinh lặng ban đầu gặp gỡ với dò hỏi thắc mắc, mà là thinh lặng cảm thông, yêu mến và khâm phục.  Tôi nhìn thấy từng giọt nước mắt xúc động lăn dài trên đôi má gầy gò của ngài làm tôi cũng không cầm nổi xúc động.  Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy những giọt nước mắt của người Linh mục. Rồi cầm tay ngài tôi nói:

Cám ơn Cha vì những giọt máu đã đổ trên quê hương con.  Cám ơn Cha đã chia sẻ và cho con một mẫu gương của đời hiến dâng phục vụ thật ý nghĩa.  Lúc nào có dịp, con mời cha trở lại Việt Nam quê hương con, có lẽ bây giờ cũng đã thay đổi nhiều lắm rồi.

Ngài nhìn tôi trong ánh mắt thân tình trìu mến của đôi mắt Mục tử.  Gạt giọt nước mắt còn đọng lại trên má, Ngài mỉm cười khẽ nói:

Mỗi người có một nẻo đường phục vụ riêng, có một lối đổ máu riêng, miễn sao tình yêu của Đức Kitô được rao truyền, không những rao truyền trên bục giảng, nhưng còn đụng chạm đến trái tim của những người mà mình được sai đến.

Từng lời ấy thấm vào hồn tôi như một ánh than rực hồng, gợi cho tôi nhớ đến hình ảnh của một Linh Mục Giêsu trần trụi trên ‘‘bàn thờ’’ Canvê năm xưa: không đèn nến, không màu hoa, không hương khói, không vải vóc che phủ, không một lời thánh ca vang vọng, chỉ có tiếng rên của niềm đau nhức nhối và những giọt máu loang lỗ thấm đẫm ngọn đồi.  Rồi tôi cũng cố gắng hình dung một “bàn thờ” An Khê trần trụi, mịt mùng trong khói thuốc; tiếng bom đạn long trời và tiếng rên đau xót của bao con người với từng giọt máu loang lổ từ bờ vai Linh mục Giêsu thứ hai trong dáng dấp của người Tuyên úy thầm lặng.  Dù là một Canvê năm xưa, hay một An Khê ngày nay, vẫn vang vọng đâu đây điệp khúc của bài Tình Ca Thập Tự, khúc tình ca với dòng nhạc dâng hiến trao ban.

Còn hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh những giọt máu đã đổ vì chân lý, vì yêu thương.  Giọt máu nối dài từ ven đồi Canvê năm xưa, chảy dài trong dòng suối yêu thương của cuộc đời, và thấm đến quê hương tôi bởi những giọt róc rách ân tình từ trái tim người Linh Mục mà tôi gặp gỡ lần đầu tiên nơi bàn ăn bất ngờ ấy.

Xin cho những Thánh lễ Ngài dâng mỗi ngày hôm nay vẫn thấm đượm yêu thương và sốt mến như “Thánh lễ” đổ máu mà Ngài đã dâng trên chiến trường An Khê năm xưa.  Xin cho những nỗi đau của Việt Nam quê hương con cũng được hoà dâng trong hy lễ hiến tế ấy.  Nỗi đau của mất mát chia ly, nỗi đau của tật nguyền bom đạn một thời, và những nỗi đau của bất công trong hiện tại v.v…  Tất cả là những giọt máu của lễ dâng, dâng với Linh Mục Giêsu, dâng trong Giêsu và dâng nhờ Giêsu.

Xin gởi trao dòng yêu thương này vào lòng cuộc đời.  Xin gởi bức hình đẹp này đến với những trái tim đang rực lửa yêu thương, hiến dâng cho nhân loại khổ đau, và gởi đến cho tất cả những ai đang thầm lặng dấn thân cho yêu thương lan rộng, cho tình người nở tươi, cho những cuộc đời hiu quạnh gặp được ánh sáng của niềm tin và hy vọng trong bóng tối của đêm dài lữ hành.

Nguyễn Thảo Nam,S.J.

 

TRĂN TRỞ!

Em sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo, cha mẹ Em hầu như suốt ngày phải “bán lưng cho trời – bán mặt cho đất” để tìm kế sinh nhai.  Đại gia đình Em hình như chẳng ai biết Chúa chứ đừng nói gì đến chuyện tin vào Chúa.  Bỗng dưng một cơ may nào đó, “Chúa đến” và gia đình Em đã đi theo.

Niềm tin của Em, của gia đình Em, của xóm đạo nơi Em ở ngày mỗi ngày phát triển không chỉ về con số mà về chất lượng.  Bỗng đến một ngày kia, “mầm ơn gọi” lại nẩy lên trong Em.  Em quyết định sống đời tận hiến.

Tưởng chừng con đường Em đi đấy thật suông sẻ.  Nhưng không!  Cha mẹ Em đã chính thức ngăn cản con đường em đi.  Không chỉ ngăn cản mà còn buộc biệng nói rằng nếu Em đi tu thì gia đình sẽ bỏ đạo!?!?!?

Thế là hành trình theo Chúa một cách triệt để hơn nơi Em bị khựng lại.

Vấn đề cha mẹ không cho Em dấn thân cũng chẳng có gì là khó hiểu.  Em là lao động chính của gia đình, vậy mà nay em lại đi tu.  Em đi tu đồng nghĩa với chuyện mất đi một nguồn tài chính lớn cho gia đình vì thu nhập của Em tạm gọi là so nhiều với các bạn đồng trang lứa cũng như trong gia đình Em.  Niềm tin của Em thì sâu đủ để Em chọn lựa hướng đi cho đời mình, nhưng niềm tin của cha mẹ Em chưa sâu đủ như Em.

Cái nhìn, cái nghĩ và cái quyết định của cha mẹ Em không phải là xấu nhưng họ chưa hiểu ra sự cao quý của những tấm lòng tận hiến.  Cha mẹ Em trăn trở về tài chính, về nguồn sống cho gia đình là chính đáng nhưng cha mẹ Em chưa khám phá ra một Thiên Chúa luôn luôn yêu thương và luôn luôn quan phòng cho những gia đình can đảm tận hiến con mình sống con đường ơn gọi.  Hy vọng một ngày nào đó cha mẹ Em sẽ hiểu và ủng hộ cho ý định thánh thiện của Em.

Và, điều thực tế nhất trong cuộc sống đó là kinh tế!  Đúng như vậy!  Giữa một cuộc sống mà sức ép của cơm – áo – gạo – tiền như hiện nay thì không chỉ có cha mẹ của Em nhưng nhiều người nghĩ đến lối sống thực dụng hơn là lối sống tinh thần và đời sống thiêng liêng.  Tôi chẳng dám trách ai, cũng chẳng dám trách cha mẹ Em vì rằng gia đình của Em còn quá nhiều lắng lo.

Chỉ biết nói với Em rằng nếu quả thật Em muốn tận hiến cho Chúa thì Em cứ cầu nguyện và kiên trì. Con người có cách của con người và Thiên Chúa có cách của Ngài.  Nếu Em kiên nhẫn, nếu Em yêu mến Chúa thật sự và quảng đại tận hiến cho Chúa thì Chúa sẽ không bao giờ từ chối.

Đây cũng chỉ là những “trở ngại” ban đầu của đời tận hiến, của ơn gọi.  Còn và còn nhiều “trở ngại” khác mà Thiên Chúa sẽ đặt ra đây đó trong suốt chặng đường của những người tu, trong đó có Em. Nếu ban đầu Em gặp trở ngại này mà Em chùn bước thì hơi bị uổng.

Ở cái vùng nghèo ấy, những linh mục phụ trách mang nhiều trăn trở.  Chẳng có cái trăn trở nào giống trăn trở nào.  Lúc thì lo cho người nghèo, lúc thì lo cho người bệnh, lúc thì lo cho các em nghèo hiếu học, lúc thì lo cho các em kém may mắn, lúc thì lo cho người già neo đơn…  Nay lại thêm những trăn trở mới nơi những mầm ơn gọi như Em, nơi các em đang muốn dấn thân cho Chúa nhưng nhà quá nghèo.

Các cha cũng trăn trở nhiều về lòng tin nơi những người mới trở lại như gia đình Em.  Đành biết là vật chất, kinh tế rất cần cho gia đình nhưng cần hơn đó chính là lòng tin.  Và rồi, trước những giờ kinh lễ, các cha cũng thân thưa với Chúa những trăn trở nơi vùng đất nghèo.

Theo tôi, các vị ấy có thể là âm thầm, có thể là công khai vẫn luôn đứng về phía Em để vun trồng ơn gọi cho Em.  Các vị ấy rất trân trọng mầm ơn gọi đang nẩy sinh nơi Em.  Các ngài sẽ cố gắng hết sức của mình để giúp Em.

Phần còn lại là của Em.  Nếu em can đảm theo Chúa thật sự thì không chỉ những linh mục đang phụ trách vùng quê nghèo nơi Em, những tấm lòng yêu quý ơn gọi sẽ lo cho Em.  Em cứ yên tâm mà tận hiến vì còn và còn nhiều tấm lòng quảng đại khác luôn sẵn sàng mở ra để lo cho những tâm hồn tận hiến như Em.

Cầu chúc Em can đảm để bước theo Chúa một bước nữa.

Tôi luôn tin tưởng rằng Chúa luôn ở cùng Em, Chúa luôn đồng hành cùng Em trên bước đường ơn gọi.

Thánh Lễ sáng hôm nay, lại một lời nguyện dâng lên Thiên Chúa niềm trăn trở về Em.

Nguyện xin Chúa thương vun trồng, gìn giữ và nâng đỡ những tấm lòng muốn tận hiến cho Chúa nơi vùng đất nghèo Em đang sinh sống.

Lm Anmai, DCCT

MỜI GỌI ĐỂ TỪ BỎ

Trên đời chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường. Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn lựa nào lại không phải từ bỏ!  Sống là chấp nhận từ bỏ. Có những điều xấu phải từ bỏ như việc nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc… Cũng có điều tốt cần phải bỏ để chọn một điều tốt hơn: chọn nghề, chọn trường học, chọn chỗ làm, chọn bậc sống…

Từ bỏ vì yêu thương sẽ không bao giờ cảm thấy thiệt thòi, mất mát. Từ bỏ vì yêu thương sẽ làm ta nhẹ nhàng hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn:  Người mẹ hy sinh giấc ngủ, thức suốt đêm để lo lắng săn sóc cho con khi con yếu bệnh. Người cha hy sinh ngày nghỉ cuối tuần để làm thêm giờ, kiếm tiền lo cho gia đình con cái…

Từ bỏ đã trở thành quy luật để sống và lớn lên. Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Đứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó cứ sống mãi bằng sửa mẹ.

Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u. Có nhiều người không có can đảm từ bỏ, nên suốt đời bị giằng co, ray rứt.

***

zzBạn thân mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu cũng nhắc đến hai chữ  TỪ BỎ: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14:26).  Và Ngài nói thêm trong đoạn cuối bài Tin Mừng: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14:33).

Điều kiện để làm môn đệ Đức Kitô là phải biết từ bỏ, từ bỏ không ngừng, từ bỏ mỗi ngày cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay.

Điều kiện để làm môn đệ Đức Kitô là phải biết đặt Ngài lên trên mọi giá trị khác. Ngài đòi buộc ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên hết mọi sự, trên những người thân yêu, trên của cải vật chất, trên mạng sống mình, trên cả hiện tại và tương lai của mình nữa.

Người Kitô là người sống từ bỏ như Đức Giêsu, là đi vào con đường hẹp như Đức Giêsu: Người đã từ bỏ trời cao để xuống đất thấp. Người đã từ bỏ địa vị làm Thiên Chúa để xuống thế làm người. Sự từ bỏ được thấy rõ qua việc Chúa tự nguyện sống nghèo khổ, tự nguyện nhận lấy tội lỗi của loài người và tự nguyện chết thay cho loài người. Khốc liệt nhất là Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng theo ý Thiên Chúa Cha.

Trung tâm điểm của đời sống người Kitô là Chúa Giêsu. Mọi giá trị trở nên tương đối trước Đấng Tuyệt Đối. Tiền bạc, của cải là một giá trị. Cha mẹ, vợ con, gia đình là những giá trị khác.  Mạng sống là một giá trị trổi vượt hơn cả.  Nhưng tất cả những giá trị đó phải được hy sinh khi cần, để ta chọn Đức Giêsu là “Giá Trị Tuyệt Đối” của mọi giá trị. Các thánh tử đạo đã chọn lựa như thế.

Dĩ nhiên ta luôn yêu gia đình , yêu bạn bè, yêu trái đất nâng đỡ ta, yêu bầu trời che chở ta, yêu cuộc sống làm người với bao niềm vui và hạnh phúc. Nhưng ta phải yêu tất cả những điều đó trong Chúa và dưới Chúa, để khi phải chọn lựa một trong hai, ta luôn luôn chọn Chúa.

Ước gì ta biết vui mừng và hạnh phúc khi chọn “viên ngọc quý” là Đức Giêsu, dám bán tất cả, từ bỏ tất cả để thấy mình giàu có. Và ước gì ta tự cởi trói mình mỗi ngày, và nhờ ơn Chúa, ta được tự do và bình an thanh thản trong suốt cuộc đời.

***

Lạy Chúa Giêsu!  Sống cho Chúa thật là điều khó. Thuộc về Chúa thật cũng là một thách đố. Chúa đòi buộc con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa. Chúa muốn lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa mà thôi. Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cuộc đời con sinh thêm nhiều hoa trái. Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con trọn vẹn thuộc về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi chính mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan của cuộc đời, để sống theo những đòi buộc của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt ở đời này.

Ước gì con cảm nghiệm được rằng: “trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa, thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu lắm rồi”. Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Khôn Ngoan 9:13-18b  – BĐ2: Philemon 9b-10,12-17 – PÂ: Luca 14:25-33)

CẬU BÉ DƯỚI BÓNG CÂY

Trong mùa hè giữa năm thứ nhất và năm thứ hai đại học, tôi được mời vào làm phụ trách một trại hè cho học sinh trung học thuộc một trường đại học ở Michigan.  Tôi đã từng tham gia rất nhiều hoạt động của trại nên tôi nhận lời ngay lập tức.

Một giờ sau khi tôi bắt đầu ngày đầu tiên ở trại hè, giữa một đám ồn ào hỗn loạn các anh phụ trách và học sinh, tôi nhận ra một cậu bé ở dưới bóng cây.  Cậu rất nhỏ bé và gầy guộc.  Rõ ràng việc cậu đang mất tự nhiên và xấu hổ rụt rè càng làm cho cậu trở nên yếu đuối, mỏng manh.  Chỉ 50 bước gần đó, 200 trại viên đang hăm hở rượt đuổi, chơi đùa, và gặp gỡ lẫn nhau như đã thân nhau từ lâu lắm chứ không phải chỉ mới quen.  Nhưng cậu bé dưới bóng cây dường như đang ở một thế giới khác.  Vẻ cô đơn đến tột độ của cậu đã làm tôi khựng lại, nhưng nhớ lại lời những anh chị phụ trách lớn tuổi hơn rằng phải chú ý đến các trại viên có vẻ tách biệt ra, thế là tôi bước đến.

zzĐến gần cậu bé, tôi nói “Chào em, anh tên là Kevin.  Anh là một trong các phụ trách ở đây.  Anh rất vui được gặp em.  Em khỏe không vậy?”  Với một giọng nói run run bẽn lẽn, cậu bé cố sức trả lời, “Dạ em bình thường.”  Tôi nhẹ nhàng hỏi cậu rằng cậu muốn tham gia những sinh hoạt và gặp các bạn bè mới không.  Cậu trả lời nhỏ “Dạ không, em không thích lắm.”

Tôi có thể cảm nhận được rằng cậu đang ở trong một thế giới hoàn toàn riêng tư.  Trại hè quá mới, quá xa lạ đối với cậu.  Nhưng bằng cách nào đó, tôi cũng biết rằng cũng không nên ép cậu bé.  Cậu không cần một lời cổ vũ, cậu cần một người bạn.  Sau một lúc lâu im lặng, câu chuyện của chúng tôi chấm dứt.

Sau bữa trưa ngày thứ hai, tôi hét bể cuống họng để điều khiển cả trại hát.  Tất cả trại đều tham gia hăm hở.  Ánh mắt tình cờ xuyên qua đám đông ồn ào lộn xộn và thấy hình ảnh cậu bé đó đang ngồi một mình, nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi suýt nữa đã quên mất lời bài hát đang phải hướng dẫn.  Khi lại có cơ hội gặp cậu bé, tôi cố thử một lần nữa, với những câu nói hệt như trước “Em có khỏe không?  Em có sao không?”  Và cậu bé lại trả lời “Dạ vâng, em khỏe.  Em chỉ chưa quen thôi.”  Khi tôi rời nơi cậu bé ngồi, tôi hiểu rằng để cậu bé hòa đồng phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn tôi tưởng – dù tôi không biết rằng tôi và cậu bé có thể cởi mở được với nhau hay không nữa.

Vào buổi tối hôm đó khi họp với những người phụ trách của trại, tôi kể ra những điều lo lắng của mình về cậu bé.  Tôi giải thích cho các bạn phụ trách ấn tượng của tôi về cậu bé, yêu cầu họ chú ý và dành thêm thời gian cho cậu nếu có dịp.

Những ngày ở trại trôi qua nhanh hơn tôi tưởng.  Thật là tiếc, nhưng rồi đêm cuối cùng ở trại cũng đến và tôi đang theo dõi “bữa tiệc chia tay.”  Các học sinh đang tận hưởng những giây phút cuối cùng của mình với các “bạn tốt nhất” của họ – những người bạn mà có thể họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại.

Ngắm nhìn các trại viên cùng nhau chia sẻ những giây phút cuối bên nhau, tôi bất ngờ thấy được một hình ảnh mà sẽ lưu mãi trong cuộc đời tôi.  Cậu bé mà từng ngồi một mình dưới gốc cây đó đang làm một điều kỳ diệu.  Cậu đang chia xẻ cùng hai cô bé khác những món quà lưu niệm.  Tôi nhìn cậu đang có nhưng giây phút thân mật đầy ý nghĩa với những người mà cậu chưa bao giờ gặp chỉ mấy ngày trước đó.  Tôi không thể tin nổi đó chính là cậu bé dưới bóng cây.

Vào một đêm tháng 10 năm đó, tiếng chuông điện thoại kéo tôi ra khỏi cuốn sách hóa học.  Giọng một người lạ, rất nhẹ nhàng và lịch sự hỏi tôi “Dạ có phải là anh Kevin không ạ?”

“Dạ chính là tôi, xin lỗi ai đầu giây đó ạ?”  “Tôi là mẹ của Tom Johnson.  Cậu có nhớ Tommy từ trại hè không?”  Cậu bé dưới bóng cây!  Làm sao tôi có thể quên được?  “Dạ cháu nhớ rồi,” tôi nói. “Cậu bé rất dễ thương.  Bây giờ cậu bé ra sao?”

Lặng đi một hồi lâu, sau đó bà Johnson nói,” Tuần này trên đường từ trường về, Tommy của tôi đã bị một chiếc xe đâm phải… Tommy đã không còn nữa rồi.”

Bàng hoàng, tôi chia buồn cùng bà mẹ.

“Tôi muốn gọi cho cậu,” bà ta nói, “bởi vì Tommy nhắc đến cậu nhiều lần.  Tôi muốn cậu biết rằng nó đã trở lại trường mùa thu rồi như một con người mới.  Nó đã có nhiều bạn mới.  Kết quả học tập lên cao.  Và nó còn hò hẹn với bạn gái vài lần nữa.  Tôi chỉ muốn cám ơn cậu đã làm cho Tom thay đổi như vậy.  Những tháng cuối cùng là khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời nó.”

Vào lúc đó tôi đã nghiệm ra: hãy dành sự quan tâm, đồng cảm, sẻ chia với mọi người quanh bạn.  Bạn sẽ không thể ngờ được mỗi cử chỉ ần cần, chân thành của bạn có thể sẽ có ý nghĩa với người khác đến như thế nào đâu.  Tôi kể lại chuyện này mỗi lần có dịp, và khi tôi kể xong, tôi thôi thúc người khác nhìn ra bên ngoài và tìm cho mình một “cậu bé dưới bóng cây.”

http://www.inspirationalstories.com/7/761.html

********************************

Lạy Chúa,

Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…

Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.

Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…..

Jean Dozolme

NHỮNG CHỖ NGỒI DANH DỰ

Một lần nọ, ông thị trưởng của một thành phố mời tất cả dân chúng của thành phố đến dự tiệc.  Trong số những người đến dự, có một người rất lỗi lạc có tên là Daniel.  Ông Daniel là một học giả lớn và là một người khôn ngoan.  Dĩ nhiên, ông rất khiêm nhường và không thích được tôn vinh khi ông đến, dĩ nhiên ông thị trưởng mời ông ngồi ở đầu bàn.  Ông Daniel cám ơn ông thị trưởng và nói rằng ông thích ngồi ở giữa những người nghèo ở cái bàn gần cửa nhất.  Và ông đã làm như thế.

Khi những người khách mời danh giá khác đến, ông thị trưởng mời họ ngồi bất cứ nơi nào họ thích.  Dĩ nhiên họ đã chọn ngồi ở bàn đầu.  Phòng tiệc đã đầy ắp và tình cờ chỗ duy nhất còn lại ở bàn cuối. Thế mà vào phút chót con người danh giá ấy đến.  Ông thị trưởng không có chọn lựa nào khác hơn là dẫn ông này đến chỗ trống.

“Nhưng đây là chỗ ở bàn cuối” người khách phản đối,

“Không, đây là chỗ bàn đầu”, ông thị trưởng đáp.

“Tôi không hiểu” người khách nói.

“Nơi nào có ông Daniel ngồi thì chỗ ấy là bàn đầu”.  Ông thị trưởng đáp.

**********************************************

Bài học luân lý của câu chuyện: không phải chỗ ngồi làm vinh dự cho người khách, nhưng người khách làm vinh dự cho chỗ ngồi.  Chúng ta không biết Chúa Giêsu ngồi ở chỗ nào trong suốt bữa ăn, nhưng dù Người ở nơi nào thì nơi ấy là một chỗ vinh dự.

Bữa tiệc là một biểu tượng của Nước Trời.  Chúng ta không nên quan tâm đến việc tìm kiếm chỗ ngồi vinh dự trong Vương Quốc.  Chúng ta hãy coi việc mọi người chúng ta đều được mời là một đặc ân. Dù trong tình huống nào, mọi chỗ trong Vương Quốc đều là một chỗ danh dự.

Đức Giêsu được mời đến nhà của một người lãnh đạo nhóm Pharisêu để dùng bữa.  Khi Người đến, Người cảm thấy những người Pharisêu dò xét Người.  Vì thế Người quyết định dò xét lại họ đôi chút. Cảnh quan mà đôi mắt Người bắt gặp không có tính cách xây dựng.  Những người Pharisêu là những người rất mộ đạo, và tự coi mình là những người gương mẫu.  Tuy nhiên, ở đây họ tranh giành những chỗ ngồi danh dự, điều đó chỉ chứng tỏ thực ra họ rất tự mãn, phù phiếm và ích kỷ.  Họ không ở đó để làm vinh dự cho chủ nhà nhưng để làm vinh dự cho chính họ.  Không có đời sống tâm linh chân thật nếu không có sự khiêm nhường.  Đức Giêsu nói “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng cao”.

Khi chúng ta bước vào một ngôi nhà thờ lớn, lập tức chúng ta cảm thấy phải khiêm cung.  Chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé và vô nghĩa.  Chúng ta nhận thấy mình lệ thuộc vào những điều tầm thường giả tạo.  Nhưng một cách lạ lùng, chúng ta cũng được nâng cao.  Bởi lẽ khi chúng ta hạ mình xuống và buông bỏ những sự vật đã cho chúng ta một cảm thức giả tạo về tầm quan trọng và cao siêu của mình, khiến chúng ta cách biệt với những người khác, lúc đó chúng ta thấy mình được nâng cao.  Chúng ta bắt đầu nhận thức sự cao cả thật của chúng ta không ở trong chính mình, mà ở trong sự kiện chúng ta là con cái của Thiên Chúa.

Mỗi Chúa Nhật, chúng ta được mời đến dự tiệc – bữa tiệc Thánh Thể.  Ở đây Đức Giêsu là chủ, còn chúng ta là khách của Người. Ở đây không có những chỗ ngồi đặc biệt – bạn có thể ngồi vào chỗ nào mà bạn muốn.  Ở đây đặc quyền, địa vị, tầng lớp không còn ý nghĩa gì.  Sự khác nhau không đáng kể. Đó là vì trước mặt Thiên Chúa tất cả chúng ta đều bình đẳng.

Không phải vì chúng ta đã bị hoá đồng mẫu số.  Đúng hơn vì tất cả chúng ta đều được nâng cao. Chúng ta giống những người đang ở trên đỉnh núi.  Trên đỉnh núi mà nói chỗ đầu, chỗ cuối hoặc chỗ cao hơn, chỗ thấp hơn thì thật là ngớ ngẩn.  Điều đó cũng được áp dụng cho ngôi nhà của Thiên Chúa. Ở đây, mọi chỗ đều là chỗ danh dự.  Bước vào đây làm cho mọi người được bình đẳng.  Khi chúng ta bước qua ngưỡng cửa này, mọi đặc quyền bay đi như làn khói, và tất cả chúng ta đều trở nên khiêm hạ nhưng cũng được nâng cao lên. T rước hết, chúng ta phải hạ mình xuống để được tôn lên.  Sau đó chúng ta phải mang theo tinh thần này vào đời sống với chúng ta.

McCarthy

****************************************

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế gọi được Người là tất cả của tôi

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng là gì,
Nhờ thế cảm thấy Người ở mọi chốn, mọi nơi,
đến với Người trong mọi thứ, mọi điều
và dâng Người tình tôi lúc nào cũng được.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế không bao giờ tôi lẩn tránh được Người!

Chỉ mong ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
Nhờ thế trói được thân mình vào ý Người muốn,
Nhờ thế thực hiện ý Người trong suốt đời tôi
Ý ấy là tình yêu Người ràng buộc thân tôi.

R.Tagore

KHIÊM NHƯỜNG VÀ TỰ HẠ

Nếu liệt kê những vật dụng mà con người cần đến trong cuộc sống, chắc hẳn ta không thể bỏ qua những chiếc ghế: Ghế ngồi nơi phòng khách, ghế ngồi trong bàn tiệc, ghế ngồi trong nhà thờ, ghế ngồi nơi công viên ..v..v..Ngoài ra còn có những chiếc ghế vô hình nhưng khá quan trọng: Ghế của chức vụ, ghế của quyền lực, ghế của danh dự tiếng tăm… Những chiếc ghế này đã tạo ra những tranh chấp và thù hận trong cuộc sống.  Bởi thế, con người luôn tranh đấu để có chiếc ghế cao, luôn giành giật để có chiếc ghế đẹp, và luôn nỗ lực cố gắng bảo vệ chiếc ghế của mình.

***

zzBạn thân mến! Con người vẫn bị ám ảnh bởi những chiếc ghế.  Bởi thế cho nên khi thấy khách đi dự tiệc cứ chọn ghế cao trọng nhất mà ngồi, Chúa Giêsu đã lên tiếng khuyên bảo họ trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay:“Hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến và nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho”. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn“(Lc.14:10).

Trong cuộc sống hôm nay, giữa một thế giới tự cao tự đại và xâu xé nhau.  Đức Giêsu mời gọi ta vượt qua thói háo danh để sống tự hạ và khiêm nhường.

Nhiều khi chúng ta hiểu sai về khiêm nhường.  Khiêm nhường không có nghiã là tự coi mình không có giá trị gì. Trái lại, khiêm nhường là nhìn nhận mình được Thiên Chúa nuôi dưỡng bằng những ân sủng, là biết mình đã lãnh nhận tất cả từ Thiên Chúa và lớn lên mỗi ngày nhờ tha nhân, là được Ngài ban cho những khả năng chuyên biệt, và rồi biết dùng những món qùa này để phục vụ tha nhân.

Khiêm nhường không phải là khinh rẻ bản thân, cũng không phải là thụ động, không dám nhận trách nhiệm, trách nhiệm làm người ở trên đời và làm con của Thiên Chúa.  Khiêm nhường lại càng không phải là một mặt nạ để lôi kéo sự chú ý của người khác: tôi hạ mình xuống để được tôn lên.

Hôm nay Chúa Giêsu cũng khuyên bảo ta: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc.14:11).  Ai tôn mình lên, dù lộ liễu hay kín đáo, sẽ bị Thiên Chúa hạ xuống.  Ai thực tâm hạ mình xuống qua việc phục vụ, sẽ được Thiên Chúa tôn lên.  Ai tự nâng mình lên thì không có giá trị gì. Ai được người khác nâng lên, tuy có giá trị đó, nhưng rất mong manh. Ai được Thiên Chúa nâng lên, giá trị đó mới thực cao quý và bền vững. Mà Chúa chỉ nâng cao những người tự hạ và khiêm tốn mà thôi.

Hôm nay, Đức Giêsu cũng nhắn nhủ ta trong việc chọn khách để mời ăn. Ngài khuyên ta nên mời những kẻ nghèo khó, tật nguyền, hơn là mời những người ruột thịt, thân quen, giàu có. Ngài đưa ta vượt qua óc tính toán vụ lợi, để đi vào thế giới của những người bất hạnh.

Thông thường ta thường thích giao du với người có thế giá, có học thức, có của cải, để dễ nhờ vả khi cần. Chính vì thế mà xã hội vẫn còn nhiều người bị bỏ rơi, vì nghèo túng, vì kém cỏi về mọi mặt.

Ước gì ta biết ra khỏi thế giới quen thuộc của mình, để đến với những người nghèo khó tật nguyền, vì họ đang cần ta nhiều hơn.

***

Lạy Chúa Giêsu!

Giữa một thế giới chạy theo tiện nghi, hưởng thụ, xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống.

Giữa một thế giới còn nhiều người nghèo đói, xin cho con biết cho đi và đừng thu tích

Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp, xin cho con biết quý trọng phẩm giá con người.

Giữa một thế giới không tìm thấy hướng đi của cuộc sống, xin cho con biết xây lại niềm tin.

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Hc 3: 17-21, 30-31 – BĐ2: Dt 12: 18-19, 22-24 – PÂ: Lc 14: 1, 7-14)

TRUYỆN CÂY NHO

zzCó cây nho xinh, lá mịn màng.  Người làm vườn chờ nắng lên, tiễn ngày đi, bên vườn nho ấp ủ một mùa sai trái.  Ngồi bên luống nho như ngồi bên dòng đời.  Người làm vườn nhìn màu lá dập dờn trong nắng như màu hạnh phúc đổ xuống tâm hồn. Bình an và chờ đợi.  Thời gian và nôn nao.

Chúa bảo mỗi người là một cành nho trong vườn nho thiêng liêng Nước Trời.  Trên màu nắng vỗ, lá non bóc vỏ mình xanh tươi theo ngày tháng.  Lời gọi của Chúa cũng vậy, muốn kẻ theo mình bước dần về Jêsusalem cùng lãnh ơn cứu rỗi, cùng lên phục sinh.  Trong vườn nho thiêng liêng, có nhánh nho kể chuyện đời mình:

Cành nho kể chuyện

Ngày xưa, tôi là một cành nho xinh.  Tôi xin kể chuyện những gian nan đời tôi.  Trong những ngày tháng ấy, người làm vườn nói với tôi nhiều lắm.  Chúng tôi tâm sự với nhau bên những chiều úa nắng, những bình minh.  Có hy vọng, có đau đớn, có mệt mỏi, có lừa dối.  Tôi xin kể lại những tâm sự ấy như một đoạn đời thiêng liêng.

Không biết tôi vào đời lúc thời gian đang là xuân, hạ, hay thu.  Từ một mầm non nhỏ, tôi chào nắng. Nắng ấm làm tôi nôn nao, rồi sức sống như bùng vỡ trong tôi, bao nhiêu mầm non khác trong da thịt tôi vỡ vỏ chào nắng theo.  Tôi thành một cành nho xinh đẹp, rũ lá xuống vườn nho.  Người làm vườn rất vui, nhìn tôi mơ một mùa nho sai trái.

Rồi một ngày bất ngờ, có cơn gió vô tình từ đâu bay tới, làn gió như nghịch như đùa, nó làm chùm lá đập vào nhau, rách rơi xuống đất ẩm.  Tôi đâu biết trên đời lại có gió như thế.  Lần đầu tiên tôi gặp gió. Tôi thua cuộc trong cái thờ ơ không biết chuẩn bị đề phòng.  Người làm vườn thương tôi, đến bên tôi, và người làm vườn ấy dâng một lời kinh:

“Lạy Chúa, đời sống thiêng liêng của mỗi tâm hồn, mỗi gia đình, mỗi tu viện cũng giống như cành nho.  Người ta nói về những chùm nho đẹp, nhìn những cành lá xanh mà ươm mơ.  Nhưng gió đến, lá xanh có thể rách, chùm nho càng sai thì càng dễ rơi xuống.  Cành nho vững được trước gió là nhờ những sợi dây nho nhỏ cuốn vào hàng rào.  Chính những sợi râu nhỏ không ai để ý, chả ai nói tới, lại mang một trách nhiệm lớn như thế.  Gió có thể làm chính những cành lá đập vào nhau mà rách.  Giống như cuộc đời vậy, lúc gió bão cuộc đời xẩy ra thì chính anh em trong nhà, người trong cùng tu viện, kẻ trong một Giáo Hội, vợ chồng với nhau có thể xâu xé nhau.  Những sợi râu nhỏ kia là hình ảnh của những giây phút cầu nguyện và xét mình.  Nó nhỏ và âm thầm, nhưng thiếu nó, đời sống thiêng liêng sẽ sụp đổ.  Chùm nho có đẹp, lá có xinh, nhưng không có những sợi râu bám chặt vào thân rào, gió sẽ làm nó tan tác.  Bao nhiêu công trình tông đồ đẹp như mùa nho sai trái, nhưng thiếu cầu nguyện và xét mình, nên chúng trở thành ghen tị, hiềm khích chống đối lẫn nhau.  Những sợi râu nhỏ ấy có thể là những tối hồi tâm chung giữa vợ chồng, gia đình đọc kinh chung.  Nó có thể là xét kỹ xem đâu là căn tính hướng đi của Tin Mừng mà một người có trách nhiệm trong Giáo Hội phải đặt tiêu chuẩn.”

*************************************

Sau lời nguyện của người làm vườn, sau trận phong ba ấy, tôi dè dặt hơn vì biết gió đến bất chợt.  Tôi khôn ngoan hơn trong những cái nhìn.  Tôi không tự hào lắm về những cành lá xanh nữa.  Tôi biết, không có những sợi râu nhỏ kia, gió sẽ tàn phá chúng tôi.  Từ đó, tôi có cái nhìn thiết tha hơn với những gì mà tôi coi là nhỏ bé tầm thường trên giàn nho gia đình chúng tôi.  Chắc là trong cuộc sống của loài người cũng thế phải không, biết đâu những đóng góp kín đáo bằng cầu nguyện, hy sinh của những người mà xã hội coi thường đã giữ cho cộng đoàn sức sống?  Biết đâu những người tôi cho là quê mùa, những gì tôi coi thường là nhỏ bé, trước mặt Chúa lại là những viên đá nền tảng cho Giáo Hội?

Nhờ nắng ấm, nhờ sương hiền của trời, cành nho tôi hôm nay bắt đầu có trái.  Ôi! tôi còn nhớ sáng ấy, người làm vườn vui làm sao.  Ông ta cứ loanh quanh bên gốc nho, xoa từng màu xanh, săn sóc từng đốm hồng trên chùm lá.  Ông nhìn vườn nho, mà tôi biết trong tim ông vui lắm.  Ông đang nghĩ tới một năm được mùa.  Nhưng bạn ạ, cuộc đời có những gian nan không ngờ.

Trên cành nho, có một tàn lá rất xinh.  Màu vàng của nắng, màu xanh của mình, chùm lá đẹp làm sao! Người ta nhìn vườn nho, cứ dựa vào màu lá mà khen vườn nho.  Úa vàng là vườn nho bệnh hoạn, xanh tươi là vườn nho hy vọng.  Trong chùm lá ấy, “ẩn mình một cánh lá chờ chết.”  Cánh lá giấu mặt đằng sau một tổ sâu!  Nó chỉ khoe màu xanh mặt trước mà che kín một màu tang tóc phía sau.  Từ cánh lá “ẩn mình chờ chết ấy”, vết chân sâu bò dần sang những cánh lá khác, đi tới đâu là rải xuống mầm hoang vu.  Sâu không bao giờ chịu xây tổ dưới một cọng lá, sớm muộn rồi nó cũng lan qua, tàn phá những tàn lá chung quanh.  Vết chân sâu tiêm vào chùm nho đang giữa mùa chín tới.  Người làm vườn đâu có ngờ trái nho chua rồi, nó chỉ còn màu xanh vẻ đẹp bên ngoài thôi.  Rồi thời gian cũng đến.  Xót xa trong tim người làm vườn.  Rồi tôi cũng nghe như nỗi buồn từ từ rơi xuống hồn tôi.  Thấm thía.  Xa vời.  Lời rất sâu trong trái tim người làm vườn ấy, vào một ngày ủ dột, dạy tôi lời kinh nguyện:

Lạy Chúa, tội lỗi là những sa ngã kín đáo, ai cũng sợ người khác biết.  Che dấu là cảm dỗ ngọt ngào xúi đẩy nhiều tâm hồn trở thành lừa dối.  Cuộc sống chung là một liên hệ hòa hợp, tình trạng thánh thiện hay tội lỗi của người này có ảnh hưởng tới đời sống thiêng liêng của linh hồn kia.  Khi một gia đình, một tu viện mà có những người thánh thiện, giữ tâm hồn sạch tội thì hạnh phúc sẽ chan hòa sang nhau.  Như những nhánh sông chảy bên rễ vào nhau, dòng nước sẽ trong nếu có nhiều nhánh sông trong, dòng nước sẽ đục nếu những nhánh sông đó đục.  Tội lỗi của một cá nhân trong gia đình, trong tu viện ấy có thể giấu kín, nhưng sức sống thiêng liêng trong gia đình ấy sẽ bị mất, niềm vui trong tu viện ấy thành nhạt.  Xin Chúa cho con can đảm để Chúa bắt những con sâu tội lỗi ấy qua bí tích giải tội.  Vì như những con sâu đó, tội trong con sẽ phát sinh ra những xét đoán thiếu công bình.  Khi mất bình an, con sẽ dễ cay nghiệt, dễ nóng giận.  Ðiều đó làm cho những chùm nho thiêng liêng thành chua chát, mất vẻ đẹp của linh hồn con, gia đình con, tu viện con.

Tâm sự người làm vườn

Tôi là người làm vườn.  Tôi quý vườn nho của tôi.  Từ ngày trồng đến mùa nho chín là một hành trình dài.  Dài ngày tháng bằng khoảng đo mặt trời lên xuống.  Dài ngày tháng bằng nỗi mong đến mùa hái. Dài ngày tháng bằng nỗi sợ có thể bị mất mùa.  Thời gian trong tâm hồn làm tôi ngột ngạt.  Nếu biết chắc chắn mùa tới, nho sẽ chín, trái sẽ ngọt thì cái dài của ngày tháng chỉ là chờ đợi niềm vui.  Nhưng phân vân không biết rồi mùa sẽ thế nào, sẽ ra sao là một khắc khoải lớn lắm.  Cứ nhìn tay người làm vườn mà định giá nỗi thao thức trong tim người làm vườn ấy.  Không người làm vườn nào mà có bàn tay trắng trẻo.  Tôi không ngại mưa nắng sớm hôm.  Tôi không sợ xước tay vì gai, vì đá sỏi.  Tôi chỉ mong được mùa.

*************************************

Lạy Chúa, bàn tay của Chúa trên thánh giá trong mỗi nhà thờ nhắc nhở con điều gì?  Khi con muốn xuống vườn nho, đi làm với Chúa, con cũng phải hỏi mình về đôi bàn tay.  Nếu con sợ bàn tay rám nắng, nếu con không muốn nhặt cỏ, cuốc đất, thì con không phải là người làm vườn, con chỉ xem người khác làm vườn thôi.

Cuốc đất, nhặt cỏ ấy là từ bỏ sự ươn lười, là chiến thắng sự thiếu nhiệt thành, là phấn đấu không dấn thân nửa chừng, là tha thiết với công việc giáo xứ, là xây dựng cộng đoàn huynh đệ.  Muốn giữ cho bàn tay không mệt mỏi có thể là những cám dỗ chỉ muốn đưa ý kiến nhưng ngại hy sinh, muốn ra chỉ thị hơn là thi hành.

Ðôi tay Chúa đã mang đầy thương tích.

Con đã thấy những người lao động ở vùng kinh tế mới.  Trưa nắng quá sức mà họ cứ hì hục rẫy cỏ. Tay họ cháy nắng.  Mồ hôi họ nhễ nhãi.  Nhưng khi nói chuyện với họ, băn khoăn sau cùng của họ vẫn là: “Rồi, không biết năm nay có được mùa không.”  Nhìn nương khoai, tay quệt mồ hôi, nheo mắt trong trời chói nắng, họ không phàn nàn vì phải lao động vất vả, họ chỉ có một băn khoăn: “Rồi, không biết năm nay có được mùa không.”

Phải chăng đó cũng là băn khoăn của Chúa khi nhìn linh hồn con.  Chẳng còn điều gì có thể làm mà Chúa không làm cho con để cứu chuộc linh hồn con.  Sau cùng, khi bàn tay đã tả tơi trên thập tự thì cũng chỉ còn lại trong tim Chúa một ước mơ thôi, đó là linh hồn con thuộc về Chúa.

Nếu con yêu Giáo Hội thì nỗi băn khoăn ấy cũng phải là của con nữa.  Nếu con không thao thức với nhịp sống của Giáo Hội thì con sẽ không tha thiết trong việc tông đồ, điều ấy làm con mất đi năng lực cộng tác với ơn Chúa để thánh hóa chính mình.

Xin Chúa cho con phải nhắc nhở, thôi thúc tự hỏi chính con về tình trạng linh hồn mình và lòng nhiệt thành với Giáo Hội là một vườn nho chung. Trong vườn nho ấy, xin cho con quý bí tích giải tội, có lẽ nào một cành lá cứ giấu ẩn đàng sau những con sâu đo xấu xí.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J.