CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU (có Youtube)

Linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng có chia sẻ về một lần cha đến bệnh viện thăm một người đang hấp hối vì bệnh ung thư.  Người này còn khá trẻ và là một người rất năng động, làm nhiều việc sinh hoa kết trái.  Ông là người cha chăm lo tốt cho gia đình mình.  Ông là giám đốc điều hành một công ty lớn chăm lo tốt cho cả công ty lẫn các nhân viên của mình.  Hơn nữa, ông còn đóng góp trong nhiều tổ chức khác, kể cả giáo xứ, và với năng lực lãnh đạo, ông thường là người phụ trách, người đứng đầu.  Nhưng bây giờ, con người một thời rất năng động, con người đã từng điều hành mọi sự, lại đang nằm trên giường bệnh chờ chết, không thể tự lo cho các nhu cầu căn bản tự nhiên của mình.

Và khi cha Nouwen đến bên giường bệnh, ông cầm lấy tay cha. Tôi thấy cần phải nhấn mạnh đến sự nản lòng quá đỗi của ông: “Cha ơi, cha phải giúp con!  Con đang chết, và con đang cố bình tâm với chuyện này, nhưng còn có một điều khác nữa: Cha biết con mà, con luôn là người phụ trách, con chăm lo cho gia đình mình.  Con chăm lo cho công ty.  Con chăm lo cho giáo xứ.  Con chăm lo hết mọi chuyện!  Mà giờ con nằm đây, trên giường này, và con không thể tự lo cho mình.  Con không thể tự đi vệ sinh.  Chết là một chuyện, nhưng đây là chuyện khác nữa!  Con bất lực!  Con không thể làm được gì nữa!”

Dù rất giỏi trong việc mục vụ, nhưng cha Nouwen cũng như bất kỳ ai trong chúng ta ở trong hoàn cảnh này, đều bất lực trước lời van lơn của người đàn ông này.  Ông đang trải qua tình trạng bị động đau đớn khổ sở.  Ông bây giờ là một bệnh nhân.  Ông đã từng rất năng động, là người đứng đầu, và bây giờ, như Chúa Giêsu trong những giờ hấp hối, ông bị hạ xuống thành một bệnh nhân, một người để cho người khác làm gì thì làm.  Về phần mình, cha Nouwen cố gắng giúp cho ông thấy mối liên kết giữa những gì ông đang trải qua với những gì Chúa Giêsu chịu trong cuộc thương khó, đặc biệt là ý nghĩa của thời gian bất lực, yếu đuối, và bị động này chính là thời gian để chúng ta có thể trao cho những người quanh mình một điều gì đó thâm sâu hơn.

Cha Nouwen đọc to trình thuật Thương khó trong Tin mừng cho ông nghe, vì những gì ông đang trải qua tương đồng rất rõ với những gì Chúa Giêsu chịu trong những giờ sắp chết của Ngài, mà Kitô hữu chúng ta gọi là “Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu.”  Chính xác thì Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu là gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta cả đời sống lẫn cái chết của Ngài. Nhưng, chúng ta lại quá thường không phân biệt được giữa hai điều này.  Chúa Giêsu trao ban đời sống của Ngài cho chúng ta theo một cách tích cực và chủ động hành động, nhưng Ngài trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta theo một cách khác, là qua sự bị động, và thương khó của mình.

Chúng ta thường dễ hiểu lầm ý nghĩa của Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu.  Khi dùng từ Thương khó (Passion) để nói đến đau khổ của Chúa Giêsu, chúng ta tự nhiên liên kết Thương khó với đau đớn, nỗi đau bị treo trên thập giá, bị hành hạ, bị đánh đòn, bị đóng đinh và bị sỉ nhục trước đám đông.  Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu có nói đến những điều này, nhưng chúng ta cần hướng từ “Thương khó” đến một trọng tâm khác nữa. Thương khó (Passion) có gốc La Tinh là passio, nghĩa là bị động, và đây chính là ý nghĩa thực sự.  Từ bệnh nhân (patient) cũng từ gốc này mà ra.  Do đó, trình thuật Thương khó mô tả lại sự bị động của Chúa Giêsu, mô tả việc Ngài trở nên một “bệnh nhân.”  Ngài trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động của Ngài, cũng như trước kia Ngài trao ban đời sống cho chúng ta qua sự chủ động của Ngài.

Thật vậy, Tin mừng theo thánh Matthêu, Máccô, và Luca đều có thể chia thành hai phần riêng biệt: Trong mỗi Tin mừng, chúng ta có thể chia tất cả mọi chuyện trước khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Giếtsêmani về một bên, và gọi phần Tin mừng này là: Sự chủ động của Chúa Giêsu Kitô.  Rồi phần còn lại mà chúng ta gọi là “cuộc Thương khó” có thể gọi là: Sự bị động của Chúa Giêsu Kitô.  Điều này thực sự sẽ giúp làm rõ một đặc nét quan trọng là: Chúa Giêsu trao ban đời sống của mình cho chúng ta qua sự chủ động, nhưng lại trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động.  Do đó: Cho đến trước khi bị bắt, Tin mừng mô tả Chúa Giêsu chủ động, làm mọi sự, là người dẫn dầu, rao giảng, dạy dỗ, làm các phép lạ, an ủi dân chúng.  Nhưng từ sau khi bị bắt, tất cả mọi động từ đều chuyển sang thể bị động: bị lôi đi, bị giới cầm quyền hành hạ, bị đánh, được vác đỡ thập giá, và cuối cùng là bị đóng đinh vào thập giá.  Sau khi bị bắt, như một bệnh nhân trong phòng nan y liệt giường, Chúa không còn làm gì nữa, nhưng là người khác làm cho Ngài và làm với Ngài.  Ngài bị động, là một bệnh nhân, và trong sự bị động đó, Chúa Giêsu trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta.

Trong chuyện này, có nhiều bài học cho chúng ta, trong đó có một sự thật rằng: sự sống và tình yêu được trao ban không chỉ trong những gì chúng ta làm cho người khác, nhưng có lẽ thâm sâu hơn, còn là trong những gì chúng ta nhận lấy những khi chúng ta bất lực, khi chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài là một bệnh nhân, một người bị động.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CHẾT NHƯ CHÚA GIÊSU – ĐỨC TIN VÀ NỖI SỢ (có Youtube)

Một người lính thường chết mà không sợ hãi, còn Chúa Giêsu chết trong sợ hãi.  Iris Murdoch đã viết những dòng này và sự thật này có thể khiến bạn thấy khó chịu.  Tại sao lại thế?  Nếu ai đó chết với đức tin sâu đậm, không phải người đó chết với một sự điềm tĩnh và tin tưởng nhất định nhờ đức tin hay sao?  Chẳng phải ngược lại cũng hợp lý, chẳng phải một người chết mà không có đức tin thì sẽ chết với tâm hồn sợ hãi hơn sao?  Và có lẽ bối rối nhất là: Tại sao Chúa Giêsu, mẫu mực của đức tin, lại chết trong sợ hãi, kêu lên trong đau đớn như thể mất đức tin?

Vấn đề nằm ở trí hiểu của chúng ta.  Có lúc chúng ta có thể rất ngây thơ về đức tin và động lực của đức tin, nghĩ rằng tin vào Chúa là tấm vé cho sự bình an và hân hoan đời này.  Nhưng đức tin không phải là con đường đến với sự êm đềm dễ dãi, cũng không bảo đảm rằng chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này trong êm đềm.  Và điều này có thể làm chúng ta bối rối lung lay. Một ví dụ là:

Ngòi bút thiêng liêng trứ danh, Henri Nouwen, trong quyển sách “Trong Ký ức” đã chia sẻ một câu chuyện quay quanh cái chết của mẹ ngài.  Cha Nouwen, một người gốc Hà Lan, đang dạy học ở Hoa Kỳ, thì được tin mẹ ngài đang hấp hối ở quê nhà.  Trên chuyến bay từ New York về Amsterdam, ngài suy ngẫm về đức tin và đức hạnh của mẹ mình, và kết luận bà là một phụ nữ Kitô nhất mà ngài từng biết.  Với suy nghĩ đầy khuây khỏa đó, ngài hình dung mẹ sẽ chết thế nào, những giờ cuối đời của bà sẽ đầy đức tin và êm đềm, và đức tin êm đềm đó sẽ là lời chứng cuối cùng của bà cho gia đình.

Nhưng, sự thật không phải vậy.  Không những không êm đềm không sợ hãi, những giờ cuối cùng của mẹ ngài dường như bị kìm kẹp trong một bóng tối không giải thích được, một sự bất an nội tâm sâu sắc, và một đều gì đó có vẻ như đối lập với đức tin.  Điều này khiến cha Nouwen quá bối rối.  Tại sao lại thế?  Tại sao mẹ ngài lại bất an trong khi cả cuộc đời mẹ là người với đức tin quá mạnh mẽ?

Ban đầu điều này khiến ngài hoang mang sâu sắc, cho đến khi một nhận thức sâu sắc hơn về đức tin mở ra.  Mẹ ngài là một phụ nữ đã cầu nguyện mỗi ngày, xin Chúa ban ơn để bà sống như Chúa đã sống, và chết như Chúa đã chết.  Vâng, có vẻ như lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe.  Bà đã chết như Chúa Giêsu. Dù có đức tin vững như đá, nhưng Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến cái chết của mình, và trên thập giá, Ngài đã kêu lên thống thiết, cảm giác rằng Chúa Cha đã bỏ mình.  Nói tóm lại, lời cầu nguyện của bà đã được nhậm lời.  Bà đã xin Chúa Giêsu cho bà chết như Ngài đã chết, và với sự mở lòng đón nhận của bà, lời nguyện xin của bà đã được nhậm lời, dù cho gia và bạn bè cảm thấy thật bối rối vì họ tưởng mọi chuyện sẽ khác thế kia.  Đây cũng là cách mà Chúa Giêsu đã chết, và cũng là những gì mà gia đình và các môn đệ của Chúa cảm thấy.  Đây không phải là những gì mà người ta tưởng tượng về cái chết của một con người đầy đức tin.

Nhưng một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin lại đảo ngược cái lập luận ấy của con người. Nhìn vào cái chết của mẹ cha Henri Nouwen, câu hỏi đặt ra không phải là, làm sao chuyện này lại xảy đến với bà như vậy?  Vấn đề nằm ở chỗ khác kia.  Tại sao điều này lại không xảy ra với bà chứ?  Đây là những gì bà đã cầu nguyện xin, và là một đấu sĩ thiêng liêng xin Chúa gởi đến cho mình thử thách cuối cùng, vậy tại sao Chúa lại không ban cho bà cơ chứ?

Điều này cũng tương tự như những hoài nghi đau khổ của Mẹ Teresa.  Khi nhật ký của mẹ được xuất bản và cho thấy đêm tối linh hồn của mẹ, nhiều người đã bị sốc mà hỏi nhau: Làm sao chuyện này lại xảy ra với mẹ chứ?  Tôi tin rằng, một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin sẽ hỏi khác đi: Tại sao điều này lại không xảy đến với mẹ chứ, bởi mẹ có đức tin và hoàn toàn mong mỏi được đi vào những cảm nghiệm của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn?

Nhưng, vẫn có những phức tạp khác.  Có lúc, một người có đức tin sâu sắc lại không chết như thế, mà ra đi trong êm đềm không sợ hãi, được đức tin nâng đỡ như chiếc phà che chở trong cơn bão.  Tại sao điều này lại xảy đến với một số người, số khác thì không?  Chúng ta không có câu trả lời.  Đức tin không đặt tất cả chúng ta vào cùng một băng chuyền.  Có lúc những người với đức tin sâu sắc, chết như Chúa Giêsu đã chết, trong bóng tối và sợ hãi, và có lúc người có đức tin sâu sắc chết trong bình an và êm đềm.

Elizabeth Kubler-Ross cho rằng mỗi một người chúng ta đi qua năm giai đoạn rõ ràng của hấp hối, cụ thể là: chối bỏ, giận dữ, thương lượng, khủng hoảng, và chấp nhận.  Kathleen Dowling Singh lại cho rằng những gì mà Kubler-Ross gọi là sự chấp nhận, cần có một sắc thái sâu hơn nữa.  Theo Singh, phần gay go nhất của sự chấp nhận này, là một sự quy phục hoàn toàn, và trước sự quy phục đó, một số người sẽ trải qua bóng tối nội tâm thâm sâu mà người ngoài nhìn vào sẽ thấy như sự tuyệt vọng.  Chỉ sau khi đó, họ mới cảm nghiệm niềm vui và hân hoan.

Tất cả chúng ta đều cần học bài học mà cha Nouwen đã học được bên giường hấp hối của mẹ mình.  Cũng như đức mến, đức tin có nhiều thể thức, và có lẽ không thể phán định đơn giản từ bên ngoài.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

 

LƯỠI HÁI HAY CHÌA KHÓA VÀNG? (có Youtube)

Thánh Charles Borrômê sống ở Italia trên 400 năm trước đây (1538-1584).  Khi còn trẻ, Borrômê đầy những tước vị, danh vọng.  Nhưng một lúc Borrômê đã nhận ra ngày nào đó, Ngài sẽ phải bỏ tất cả.  Ngài muốn ghi khắc điều đó, nên nhờ một họa sĩ nổi tiếng vẽ bức bích họa trong tư thất để diễn tả cái chết.  Bức họa hoàn thành: họa sĩ trình bày thần chết theo lối cổ điển: một bộ xương người nắm chặt lưỡi hái trong tay.

Borrômê ngạc nhiên: “Tại sao họa sĩ hình dung cái chết bằng chiếc lưỡi hái?”

Họa sĩ đáp: “Vì thần chết cắt hái mọi cuộc sống.  Cái chết hủy hoại mọi cuộc đời.”

“Đồng ý”, Borrômê nói, “nhưng thần chết cũng mở cửa Nước Trời nữa chứ.  Cái chết là cửa ngõ vào đời sống tốt đẹp hơn.  Vì thế, tôi đề nghị họa sĩ xóa chiếc lưỡi hái đi và đặt vào tay thần chết chiếc chìa khóa vàng.”

Phải, Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Thập giá là chìa khóa Nước Trời. Thần chết đã buông lưỡi hái và cầm lấy chiếc chìa khóa vàng. Cửa Trời đã mở ra cho con người vào Nhà Cha.

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là sự sống lại và là sự sống”.  Lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Lagiarô sống lại là một trong những lời “lạ tai” nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Thiên Chúa giáo và những người không tin ngày nay.  Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó chính là nền tảng và hy vọng của cuộc đời.

Chúa Giêsu tuyên bố: “Tôi là sự sống.  Ai đang sống mà tin tôi sẽ không bao giờ chết.”  Chúa không nói đùa.  Chúa không thể đùa với sự chết, vì nó hoàn toàn trái nghịch với Ngài.  Là sự sống và đến để đem lại sự sống, Chúa không thể muốn sự chết cho con người.  Phép lạ cho ông Lagiarô sống lại làm chứng rằng Ngài có quyền ban sự sống.  Không phải sự sống như đám đông bao quanh Ngài thầm nghĩ – sống một thời gian rồi chết – cũng không phải sống lại ngày tận thế mà thôi, như Matta tin tưởng, mà là sống ngay bây giờ và sống đời đời, như Ngài đã nói: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống” (Ga 5,24).

Vậy là có một sự sống khác.  Có một sự sống thật.  Sự sống ấy đã bắt đầu từ bí tích Rửa Tội và tiếp tục mãi đến đời đời.  Sự sống thật này không mất đi khi con người chết, nhưng chỉ mất đi bởi tội lỗi (Ga 8,21).  Tội lỗi mới là cái chết thật.  Và ngược lại, cái mà chúng ta coi là sống chưa hẳn là sống.

Chỉ khi nào sống bằng chính sự sống của Chúa thông ban cho, lúc đó mới là sống thật và bảo đảm sống đời đời ngang qua cái mà chúng ta gọi là chết.

Thánh Phaolô, trong bài đọc 2 hôm nay (Rm 8,8-11) đã nói đến tình trạng những người “sống mà như chết” và “chết mà vẫn sống” đó: “Ai sống theo xác thịt, tội lỗi, thì dù có sống cũng như chết; ngược lại, ai sống theo Thánh Thần thì dù có chết cũng vẫn sống; hơn nữa, một ngày kia, Đấng đã cho Đức Kitô phục sinh cũng sẽ cho thân xác của những kẻ sống theo Thánh Thần được sống lại”.

Một người nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời này được coi là chết.  Nhưng nhiều người đang sống vẫn tự coi mình đã chết.  Vì sống mà không có hy vọng, sống không tình thương, sống mà bị đời bạc đãi, phản bội, sống không ra con người, và nhất là sống trong tội ác.  Sống như vậy, con người không cần đợi đến chết mới là chết.  Chúng ta khóc thương người chết, nhưng biết đâu người sống lại chẳng đáng khóc thương hơn?

Bất cứ ai đã thoát khỏi tội lỗi và sống trong ân sủng thì đang sống trong sự sống đời đời rồi.  Sự chết thể xác không làm gián đoạn được sự sống thân thiết với Thiên Chúa trong Nước Trời.  Sự sống lại ngày tận thế, sự sống vinh quang đời sau đã bắt đầu ở hiện tại như cây trái đã bắt đầu trong hạt giống.

Từ Lời Chúa hôm nay, chúng ta mới có được một cái nhìn lạc quan hơn về thân phận con người chúng ta.  Là tội nhân, là loài người phải chết, nhưng chúng ta đã được Con Thiên Chúa xuống thế làm người mạc khải tình yêu thương của Thiên Chúa cho chúng ta và Ngài đã thực hiện công việc cứu chuộc của Thiên Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta.  Cuối cùng, bằng chính cái chết và cuộc Phục Sinh của Ngài, Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi chết đời đời và cho chúng ta được tham dự vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa.

Như thế, đối với chúng ta, những người đã tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế và đang cố gắng sống Lời Chúa dạy, thì sống hay chết, không thành vấn đề, mà chỉ có một thực tại duy nhất là sống, sống trong Chúa, sống cho Chúa, sống thuộc về Chúa.  Cái chết chẳng qua chỉ là bước vượt qua từ đời sống trần gian đến đời sống vinh quang vĩnh hằng với Chúa Cha trên trời.  Chính vì có sự liên tục giữa hai cuộc sống mà đời sống trần gian này mới có ý nghĩa và mới quan trọng, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải sống làm sao cho cuộc sống trần gian này là khởi điểm, là bảo đảm, là dấu chứng cho cuộc sống mai sau.

Trước khi bước vào Tuần Thánh là đỉnh cao của mầu nhiệm Khổ Nạn Phục Sinh, Giáo Hội đọc bài Tin Mừng hôm này nhằm kêu gọi chúng ta tin vào Đấng là sự sống lại và là sự sống.  Niềm tin ấy thắp sáng lên trong chúng ta một hy vọng mà trần gian này dù đen tối đến đâu cũng không thể nào dập tắt được.  Đức tin không chuẩn chước cho chúng ta khỏi những tang chế đau thương, những chia ly mất mát hay sự sợ hãi khi đối diện với cái chết.  Nhưng đức tin là chấp nhận hiểu và sống các biến cố hiện tại dưới ánh sáng của sự sống siêu việt mà Đức Giêsu Kitô, Đấng là nguồn cội sự sống đã loan báo.

“Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Tôi sẽ không chết bao giờ.”  “Matta, con có tin điều đó không?”  Chúa Giêsu hỏi.

“Vâng, thưa Thầy, con tin.”  Matta nói lên niềm tin của chị cũng là niềm xác tín của chúng ta: “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”

Chớ gì khi tuyên xưng: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”, trong kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc, niềm tin ấy không chỉ được phát biểu cách máy móc ngoài môi miệng, nhưng sẽ trở nên sức mạnh giúp chúng ta đứng vững trước mọi đau khổ thử thách, ngay cả cái chết.  Đồng thời niềm tin ấy thúc đẩy chúng ta đến với anh em, để góp phần mang lại sự sống dồi dào cho anh em.

R. Veritas.
Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

40 THỨ CÓ THỂ TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY VÀ SUỐT CẢ ĐỜI (có Youtube)

Thứ Tư Lễ Tro là khởi đầu Mùa Chay.  Mùa Chay tới, nhiều người nghĩ phải cố gắng từ bỏ điều gì đó để bước theo Đức Kitô.  Tuy nhiên, những điều này lại thường ít ảnh hưởng đến cuộc sống, chúng ta “khôn lỏi” lắm !

Dưới đây là 40 thứ có thể từ bỏ để sống Mùa Chay.  Không phải là những thứ liên quan việc ăn uống, nhưng chúng thực sự cần từ bỏ.  Mùa Chay kéo dài 40 ngày, mỗi ngày cố gắng từ bỏ 1 điều.  Trong 40 điều này, có những điều không chỉ từ bỏ trong Mùa Chay mà phải từ bỏ suốt cả đời.

  1. SỢ THẤT BẠI– Bạn không thành công nếu chưa trải qua thất bại. Đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Thất bại là mẹ thành công”.
  2. VÙNG AN TOÀN– Đó là “vùng thoải mái”, sợ khó. Dám ra ngoài “vùng” này thì chúng ta mới có thể khám phá những điều mới lạ.
  3. CẢM THẤY HOÀI NGHI– Có lúc chúng ta nghi ngờ rằng không biết Tạo Hóa có tạo dựng nên mình hay không. Hãy xác định như tác giả Thánh Vịnh: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.  Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!  Hồn con đây biết rõ mười mươi.  Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.  Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 139, 13-16).
  4. THIẾU KIÊN NHẪN– Thời giờ của Thiên Chúa là thời giờ hoàn hảo. Mọi thứ đều đúng hẹn, đúng kỳ theo ý Ngài tiền định và quan phòng.
  5. SỐNG ẨN DẬT– Còn hít thở, chúng ta còn sống với người khác và tương tác với họ vì Đức Kitô. Công việc của chúng ta luôn ảnh hưởng người khác.
  6. LÀM VUI LÒNG NGƯỜI KHÁC– Không ai có thể làm vừa lòng mọi người, nhưng chúng ta phải luôn cố gắng làm vui lòng người khác, còn họ có vừa lòng hay không là phần của họ.
  7. SO SÁNH– Một là cảm thấy mình kém cỏi hơn người khác, hai là cảm thấy mình “ngon lành” hơn người khác. Dạng nào cũng không được.
  8. TRÁCH CỨ– Chúng ta có xu hướng không dám nhận lỗi, và luôn muốn đổ lỗi cho người khác.
  9. PHẠM TỘI– Nhân vô thập toàn. Mặc dù chúng ta là tội nhân, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta, và Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta.  Hôm nay là ngày mới, hôm qua đã không còn.
  10. MẤT TỰ CHỦ– Do đó chúng ta khó có thể hoàn tất công việc và làm tốt hơn.
  11. THIẾU DỰ ĐỊNH– Các quyết định khôn ngoan hiếm khi trở thành vô ích.
  12. KHÔNG MINH BẠCH – Một là không minh bạch về điều này hoặc điều nọ (khuất tất), hai là không trong sạch (nhân đức).
  13. TỰ QUYỀN– Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta điều gì, thế giới cũng chẳng mắc nợ chúng ta điều gì. Hãy cố gắng sống trong ân sủng và khiêm nhường.
  14. LÃNH ĐẠM– Cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ. Không quý mến nhau thì cũng đừng kèn cựa nhau.  Tranh chấp nhau, giành giật nhau, hơn thua nhau làm gì?
  15. GHEN GHÉT– Hãy cảnh giác kẻo mắc lừa ma quỷ, bởi vì chúng rất ranh mãnh. Kinh Thánh căn dặn: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12, 21).
  16. TIÊU CỰC– Hãy cố gắng quan hệ hòa nhã với mọi người. Tránh né người khác là tiêu cực, mà cũng chỉ vì chúng ta không coi trọng người khác nên mới tránh né họ.
  17. MÊ VẬT CHẤT– Hãy nhớ rằng có Thiên Chúa là có tất cả, mất Thiên Chúa là mất tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì”(Tv 23, 1).
  18. SỐNG MÁY MÓC– Càng đầu tư nhiều thì càng có lợi nhiều. Về tinh thần và tâm linh cũng vậy.
  19. THAN PHIỀN– Đừng cằn nhằn, khó tính, than thân trách phận hoặc trách móc người khác, hãy cố gắng xử lý và giải quyết vấn đề cho thấu đáo.
  20. BẤT CẦN– Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc cả đời này và đời sau. Đó là niềm vui sống. Đừng buông xuôi, bất cần đời !
  21. GAY GẮT – Đó là tự làm khổ mình, và tất nhiên cũng làm khổ người khác. Tâm bất an thì không thể nào sống vui và sống khỏe, bệnh tật phát sinh từ đó.
  22. CHIA TRÍ– Cuộc sống có nhiều thứ khiến chúng ta chia trí, vì thế cần phải tập trung vào mục đích của mình.
  23. MẶC CẢM – Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ chúng ta, dù chúng ta xấu xa và tội lỗi: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì hãy còn có Chúa đón nhận con”(Tv 27, 10).
  24. TẦM THƯỜNG– Cuộc đời chúng ta có thể không ai biết đến, không có gì khác thường, sống rất bình thường, nhưng tuyệt đối đừng sống tầm thường.
  25. GÂY CHIA RẼ – Chia rẽ là chết, đoàn kết mới sống. Khuyến khích nhau là điều cần thiết, mọi nơi và mọi lúc:“Phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần”(Dt 10, 25).
  26. BẬN RỘN– Đó là “huy hiệu danh dự” của người mê công việc mà bỏ bê những thứ cần thiết khác.
  27. CÔ ĐỘC – Có Chúa Giêsu, chúng ta sẽ không cô độc. Ngài luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta.
  28. BẤT HÒA – Xung đột là mối nguy cho cuộc sống, cả đời thường và tâm linh. Xung đột xảy ra thì không thể hợp tác. Sự cộng tác và đồng tâm nhất trí rất cần: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18, 19).
  29. VỘI VÀNG– Dục tốc bất đạt. Dù to hay nhỏ, cái gì cũng cần có thời gian, không thể một sớm một chiều.
  30. LO LẮNG– Thiên Chúa kiểm soát mọi sự, chúng ta có lo lắng cũng chẳng thay đổi được gì: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( Mt 6, 33-34 ).
  31. THẦN TƯỢNG HÓA – Đừng thần tượng hóa bất cứ ai, bắt chước là ngu xuẩn, hãy cứ là chính mình! Chỉ có Thiên Chúa là Đấng hoàn hảo mà thôi.
  32. CỐ CHẤP– Cuộc sống luôn phải thay đổi để thích nghi mọi thứ. Cố chấp là ích kỷ, là hèn nhát.
  33. KIÊU NGẠO– Thiên Chúa hạ bệ kẻ kiêu ngạo, nhưng nâng cao người khiêm nhường (Lc 1, 51-52).
  34. NÔNG CẠN – Đừng nói rằng vấn đề khó quá, chính vấn đề khó đó cho chúng ta biết Thiên Chúa vĩ đại.“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(Nguyễn Thái Học).
  35. ĐỐ KỴ– Người Pháp có câu nói chí lý: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối người khác.” Mọi người đều là anh em và là con một Cha trên trời.
  36. VÔ ƠN BẠC NGHĨA– Cuộc sống là những ngày tháng chúng ta mắc nợ Thiên Chúa, chúng ta cũng mắc nợ tha nhân và xã hội nhiều thứ. Do đó, chúng ta không thể không biết ơn Thiên Chúa và cuộc đời.
  37. THAM LAM– Thiên Chúa có kế hoạch riêng dành cho mỗi người: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta”(Is 45, 4).  Hãy cố gắng làm trọn công việc Ngài giao phó.
  38. TỰ MÃN – Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta:“Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết”(Pl 4, 13). Có Ngài thì chúng ta mới làm được công kia việc nọ, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì đâu: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).
  39. ƯU SẦU – Buồn thì cứ khóc, xong rồi thôi. Đừng giam mình trong vòng ưu sầu. Mọi sự sẽ qua, cứ tín thác vào Thiên Chúa: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người” (Tv 30, 5b).
  40. CUỘC ĐỜI– Thế gian là cõi tạm, rồi sẽ qua đi. Đừng coi nặng vật chất, kể cả cuộc sống của chúng ta, tất cả chỉ là bụi tro mà thôi.  Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 25).

Trầm Thiên Thu, theo Greater Things Today, Mùa Chay 2017

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐỤNG CHẠM

Giữa đám đông chen lấn và sô đẩy chung quanh Ðức Giêsu, có người đã đụng vào áo Ngài. Chiếc áo của Đức Giêsu đã chạm vào bàn tay người ấy.  Đây là một cái đụng chạm cố ý, đụng chạm lén như sợ bị bắt quả tang. Ðó là cái đụng chạm của một người phụ nữ, mười hai năm mắc bệnh băng huyết, mười hai năm tìm thầy chạy thuốc mà không khỏi, mười hai năm bị xã hội coi như người ô uế tội lỗi: không được tiếp xúc với người khác, không được tham dự nghi lễ ở Ðền thờ.

Người phụ nữ đã đụng chạm vào áo Ðức Giêsu bằng tay và bằng lòng tin của mình, một lòng tin tuy đơn sơ nhưng rất mạnh mẽ. “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu” (Mc.5:28). Cái sờ của bàn tay đã giúp bà khỏi bệnh, cái đụng chạm của lòng tin đã cứu chữa bà.

Trong đời sống thiêng liêng, đã nhiều lần ta đụng chạm vào Đức Giêsu. Ðụng đến Lời Ngài, chạm đến Mình Máu Thánh của Ngài. Ðụng bằng tay, chạm bằng miệng, bằng rung động của con tim.

Có những lần ta đụng chạm đến Ngài một cách hời hợt vì thói quen, không để lại một âm vang nào, không đem lại một biến đổi nào trong cuộc sống. Nhưng cũng có lần, như người phụ nữ trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta run rẩy đụng vào Ngài, dù biết mình bất xứng, dù biết mình nhơ nhớp tội lỗi. Chính vì nhận biết mình nhơ nhớp tội lỗi mà ta “cả dám” đụng vào Ngài. Ðụng vào Ðấng Thánh để được Ngài thanh tẩy cho trong sạch, để được Ngài cứu chữa bệnh tật linh hồn và nhất là để được Ngài cho ta được thông phần tham dự vào bản tính thiêng liêng của Ngài, cho ta được trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.

Ta cần đụng đến Ðức Giêsu mỗi ngày và ta cũng cần được Ngài chạm đến mỗi ngày. Như ông trưởng hội đường xưa kia đã van xin Ngài đặt tay trên con gái của mình. Ngài đã đến nhà ông và đã cầm tay cô bé để kéo cô ra khỏi cái chết. Hôm nay, ta cũng cần được Chúa cầm tay ta và bảo: “Talithakum – Hãy chỗi dậy.” (Mc.5:41). Chỗi dậy khỏi bệnh tật và cái chết. Chỗi dậy khỏi nhơ nhớp tội lỗi của tâm hồn. Chỗi dậy khỏi những đam mê yếu đuối của thân phận con người. Chỗi dậy và sống vui tươi, tự do như con cái Thiên Chúa.

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật hai phép lạ xảy ra nhờ lòng tin. Ðức Giêsu xác nhận lòng tin vững vàng của người phụ nữ: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mc.5:34). Ngài cũng nâng đỡ lòng tin đang chao đảo của ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi” (Mc.5:36). Cần có lòng tin khi đụng chạm đến Đức Giêsu. Đụng chạm vào Thân Mình Ngài nơi bí tích Thánh Thể giúp ta thêm sức mạnh để bước đi trên đường đời. Đụng chạm đến Lời của Ngài nơi những trang Tin Mừng giúp ta tìm gặp chân lý, bắt gặp an bình và hy vọng…Chỉ cần để Chúa đụng chạm đến ta một lần thôi, đời ta sẽ hoàn toàn biến đổi; sẽ tràn đầy ân phúc và bình an.

***

Lạy Chúa Giêsu! Xin cứu giúp con, vì con là kẻ có tội…

Như người đàn bà bị bệnh băng huyết xưa kia, xin cho con được đụng chạm đến áo của Ngài.  Xin cứu chữa con khỏi đam mê yếu hèn của kiếp người.

Như em bé con ông trưởng hội đường xưa kia, xin Ngài cầm lấy tay con, nâng đỡ con và kéo con đứng dậy…Đứng dậy để giã từ con người yếu đuối tội lỗi; đứng dậy để bước đi trong tình yêu và ân sủng Ngài ban. Amen .

Tổng hợp từ R. Veritas

XUỐNG NÚI

Hiện giờ cảm giác xuống núi của tôi là “sốc”! Sốc như con nghiện sốc thuốc.  Tôi nhận ra mình đã nghiện, nghiện thinh không.

Tôi chán ghét cuộc sống bon chen, ồn ào của đất Sài thành!

Lên núi như sống trong một thế giới tiên thánh, thì xuống núi là trở về với những cám dỗ và cạm bẫy của ma quỉ.  Lên núi để gạt bỏ những sân si của cuộc sống thường nhật, thì xuống núi lại cáng đáng những chuyện lo-nay-chưa-xong-lại-lo-ngày-mai.  Lên núi để cảm thấy những tình cảm đời thường đều là thứ phù du, thì xuống núi lại trở về với cảm giác tạm bợ đó.

Xuống núi thì trước sau gì cũng xuống vì thế tôi đã quyết định về sớm hơn dự định, mặc dù trong thâm tâm luôn muốn ở lại.  Ở lại để học cách phục vụ trong âm thầm như cậu bé Khoan khiếm thính, để học cách ân cần giúp đỡ người lạ như bác bảo vệ mà tôi quên hỏi tên và quên một lời từ biệt.  Bác cũng là người dạy cho tôi biết có ơn gọi độc thân nhưng không nhất thiết phải là thầy tu, một huyền nhiệm mà không có người thứ ba, chỉ có bác và Đấng đã chọn bác, mới hiểu rõ.  Và trên hết, ở lại để tâm tịnh, lòng ngay mà hướng về Nguồn như các đan sĩ khiêm cung, hèn mọn nhốt mình trong những hốc ghế của nhà nguyện lạnh lẽo mà kinh kệ, “thần tụng” – ca ngợi, chúc tụng Thiên Chúa và cầu nguyện cho nhân loại bê tha.

Xuống núi vì nhận ra sứ vụ của tôi nơi tôi đã thuộc về và phải thuộc về. Nhờ Thánh Thần soi sáng, tôi nghiệm ra Cha muốn tôi thực hiện những kế hoạch mà Lời hằng chỉ bảo: “Hãy sửa đường cho thẳng”.

Có những con người…

Có những con đường…

Có những con đường phải đi một mình

Có những con đường không thể một mình đi (Nguyễn Tầm Thường, SJ.)

Tôi đi con đường nào?  Đường phải đi một mình?  Đường không thể một mình đi?

Quyết định tại thời điểm này, nên đi con đường nào, không còn là ưu tư của tôi nữa.  Bạn cũng đừng hỏi tôi “theo Chúa hay theo ai”.  Chuyện đó đã được Đấng Thấu Suốt đả thông cho tôi trong hai ngày sống đời ẩn sĩ.  Thật ra chọn con đường nào không quan trọng.  Điều cần lưu tâm là con đường đó có phải mang tên Giêsu hay không.  Tôi không thể bước đi trên con đường nào khác ngoài đường Giêsu, dẫu rằng con đường đó là Đường-Thập-Giá, lắm chông gai và thử thách, nhưng chắc rằng đường đó sẽ dẫn về Nguồn.  Vì “chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống; không ai đến với Cha mà không qua Thầy”.

Xác quyết như vậy thì mọi hoang mang trong khi chọn con đường để đi chẳng nghĩa lý gì.

http://blog.360.yahoo.com/blog-O1LhLLU8eq8jawkcsdu87ho-?cq=1&p=447

 

 

TRỞ VỀ 

Có kiến thức và học vị cao tôi may mắn “gặp thời” để làm ăn và cơ hội làm giám đốc một công ty tư nhân vốn nước ngoài, xã hội đã ưu đãi tôi với nhiều tiền tài, địa vị và danh giá.  Đi đến đâu tôi cũng được đón tiếp trang trọng, tôi hay có khách đến thăm, nhờ vả và tất nhiên quà biếu, bổng lộc cũng phát sinh từ những việc giúp đỡ.  Thời gian đối với tôi là vàng ngọc, ngoài công việc chính ở công ty, tôi còn được mời giảng trong khóa, ngoại khóa cho sinh viên, giảng chuyên đề cho một số công ty, tham gia làm ủy viên cho một số tổ chức có liên quan đến công việc.  Trong vị thế giám đốc, tôi luôn được mời tham dự hội thảo, hội nghị, tổng kết… và cả những chuyến du lịch, những buổi tiệc lớn, bé sang trọng với rượu ngoại, đặc sản bổ dưỡng đắt tiền…

Trước đây, trong thời kỳ còn khó khăn, vợ chồng chúng tôi cũng an phận với cuộc sống thu nhập qua ngày.  Sau này do công việc của tôi ngày càng có vị thế, hơn nữa thu nhập của tôi cũng trang trải đầy đủ cho gia đình, nên bà xã đã nghỉ ở nhà lo nội trợ, phục vụ chăm sóc chồng con, phục vụ những buổi tiệc của gia đình với cả khách nước ngoài và nhất là vai trò ông lớn của tôi trong xã hội.

Bước sang tuổi 45, có đôi lần sau khi dự tiệc về hơi chếnh choáng men rượu, tôi cảm thấy nhức đầu hơn mọi khi.  Một vài lần cảm cúm, viêm họng kéo dài, có những lần bụng lình sình, bao tử khó tiêu, huyết áp hơi thất thường.  Tôi giật mình nghĩ đến sức khỏe, nghĩ đến thời gian, nghĩ đến những hạn hẹp của con người…  Nhiều lần vợ và con gái lo lắng, phiền trách tôi uống rượu bia hơi nhiều, nhưng tôi thanh minh….  Tôi đâu có thích uống, vì công việc mà!….  Thời gian trôi qua, các con cũng đã khôn lớn và thành đạt ngoài xã hội.  Dưới mắt thế gian, gia đình tôi vào tầm trí thức danh giá, là niềm mơ ước ganh tị cho bao người.

Nhưng vào một buổi sáng định mệnh ở tuổi 59, khi thức dậy tôi thấy trong người mệt hơn.  Như mọi khi vợ tôi giục đi bộ tập thể dục, hôm nay sau khi đi được một quãng đường, tôi thấy bước chân mình cứ hụt hẫng, bước thấp, bước cao, cảm giác lâng lâng khó tả.  Hít thở mãi mà cái mệt lúc thức dậy cũng không tan đi, tôi cố đi thêm một quãng và giục vợ đi về.  Sau đó tôi vẫn ăn sáng và đi làm.  Vào bàn làm việc, cái mệt ấy vẫn đeo đuổi cho đến 11giờ trưa.  Có cảm giác chẳng lành, tôi quyết định gọi thư ký đưa đi bệnh viện, chẳng biết các bác sĩ cao cấp của bệnh viện đã làm gì, nhưng tôi thì cứ lịm dần, lịm dần mọi cảm giác….  Ôi, Tai biến rồi!  Mọi người vào thăm tôi ở bệnh viện lo lắng, xôn xao, rộn ràng, nào quà, nào bì thư, nào sữa, trái cây… tôi bàng hoàng, mê man chìm vào cõi hư vô.  Rồi một tuần, hai tuần, một tháng trôi qua…, ông giáo sư cao cấp âm thầm trở về nhà không bằng một đứa trẻ lên 2 tuổi.

 *************************

Nhìn vợ đã chăm sóc tôi cả tuổi xuân, nay lại hằng ngày chăm sóc tôi với lau mặt, thay đồ, đút ăn, và những câu dỗ dành “Nào ngoan nhé há miệng ra… thôi đừng khóc nhè nữa…. giỏi nào giơ tay trái lên… đúng rồi, đưa chân phải lên”….  Ôi còn gì là Ông lớn danh giá cho bà xã tôi sánh vai làm Bà lớn nữa.  Đứa con gái út sắp lấy chồng nhìn tôi mà thất vọng, đám cưới của nó sẽ bị mất đi cái danh giá sang trọng của gia đình.  Nhìn đứa em trai giờ cũng già rồi, lo lắng đến thăm tôi, cùng một mẹ sinh ra nhưng nó lại chậm chạp, thật thà, nên nghèo, thấy thương nó quá.  Trong thâm tâm đã bao lần cứ hẹn sẽ làm gì đó cho nó, nhưng….. nước mắt tôi lại ứa ra.  Nhớ lại lúc chưa xây nhà ở riêng, mỗi lần phường khóm có yêu cầu làm vệ sinh đường phố, thì nó là đứa phải thay mặt đi làm, và cả những việc tầm thường khác, chứ danh giá bận rộn như tôi sao lại đi làm vệ sinh đường phố được.  Một số bà con trong khu phố đến thăm, những khuôn mặt mà hàng năm vào tháng 10, bất đắc dĩ tôi phải mở cổng đón họ đến đọc kinh Mân Côi liên gia, còn tôi ông giáo sư danh giá bận rộn “xin kiếu” với bà con, giờ đâu mà đến nhà họ đọc kinh… còn bao người lao động phục vụ kính nể tôi nữa.  Ngẫm nghĩ lại, hình như trong địa vị danh giá của mình, tôi chẳng làm gì không công cho ai cả, có khi còn tận dụng sức lao động của họ.  Tôi nợ nhiều người quá, từ kinh Kính Mừng của các em nhỏ, đến bao người kính nể phục vụ tôi.

Ôi! thời gian là vàng ngọc của tôi, tôi đã sử dụng thời gian cho những giá trị nào rồi???  Giật mình ngẫm nghĩ: Tôi có đạo mà như bị bỏ bùa mê, vô tình mà đắm đuối, trung thành dành mọi thời gian công sức cho những giá trị trần thế, cho danh giá, địa vị, tiền tài.  Đối mặt với ông chủ trần thế ông nói rằng “sòng phẳng” nhé, có khi thế gian còn cho nhiều tiền hơn công sức mi bỏ ra.  Mi đã được người ta phục vụ kính nể trong địa vị ông giáo sư, ông giám đốc, mọi việc mi làm đã được người ta trả dư, nào lương cao, nào bổng lộc, nào là quà biếu đắt tiền, nào là những bữa tiệc sang trọng, nào là biệt thư, xe hơi…. và cả những cơ hội làm ăn béo bở.  Nhớ lại những khuôn mặt đến thăm tôi ở bệnh viện, nhờ tôi giúp đỡ mà được lên chức ông này bà nọ, vẻ mặt họ toát lên sự hài lòng, một số chị em đến thăm an ủi tâm sự với vợ tôi rằng cái tuổi của chị phải hai lần đò….

*********************************

Chúa ơi, phũ phàng quá, thân xác con còn nguyên đây, chỉ đứt cái mạch máu bằng sợi tóc thôi, mà thân con đã ra thừa thãi, vô dụng.  Danh giá gì nữa, con vốn là bụi cát hư vô, mà lâu nay cái mác ông Giáo sư, ông Giám đốc đã tâng bốc con lên, chiếm hết thời gian, tâm trí, linh hồn của con và làm con xa dần Chúa.  Bây giờ con trở về với Chúa bằng hai bàn tay trắng, thông minh, lanh lợi, tài khéo Chúa ban, con đã sử dụng hết cho mộng ước tương lai, cho tiền tài và danh giá cả rồi.

Giờ đây, Chúa vẫn cho con còn cơ hội sống đúng nghĩa một thân xác phàm hèn của con, nhưng biết ăn năn, biết bằng lòng đáng chịu những đau khổ và được biết rằng mọi đau khổ của con khi kết hợp với đau đớn của Chúa trên thập giá, có giá trị cầu xin cho những người yêu mến mà con đã thiếu sót, cho những người đau khổ, cho những người lầm đường, mê đắm…

Con vẫn còn có ích cho người khác được sao???    Lạy Chúa nhân từ, xin xót thương con, vì bao tháng năm qua, trần thế hão huyền đã nhận chìm con trong bể đắm phù hoa.

Chiều Thu

 

VƯỢT QUA THỬ THÁCH

John Newton là con trai một đại uý hải quân người Anh. Khi John lên 10 tuổi, mẹ cậu qua đời. Từ đó cậu bé thường theo bố đi biển. Nhờ vậy mà cậu rành rẽ đường lối ngoài biển khơi. Tuy nhiên vào năm cậu 17 tuổi, cậu bé bất mãn với bố. Cậu bỏ thuyền ra đi lao vào cuộc đời gió bụi. Cuối cùng cậu nhận được việc làm trên chiếc tàu hàng buôn nô lệ từ Phi Châu đến Mỹ Châu. Cậu thăng quan tiến chức rất lẹ và chẳng bao lâu đã trở thành thuyền trưởng. Chẳng bao giờ Newton bận tâm suy nghĩ đến việc buôn nô lệ là đúng hay sai. Cậu chỉ làm công việc của mình nhằm mục đích kiếm tiền mà thôi. Thế nhưng một biến cố quan trọng đã xẩy đến thay đổi tất cả cuộc đời cậu.

Trong một đêm tối, một cơn bão dữ dội xuất hiện trên mặt biển. Sóng dâng cao như thác núi xô đẩy và quay vòng chiếc thuyền của Newton như món đồ chơi trẻ con. Mọi người trên thuyền vô cùng kinh khiếp. Lúc bấy giờ bỗng dưng Newton buột lời cầu nguyện. Đây là điều cậu không hề làm kể từ khi rời khỏi thuyền của bố cậu, cậu kêu to: “Lạy Chúa, Xin cứu vớt con, con nguyện sẽ mãi mãi làm nô lệ cho Ngài”.

Chúa nhận lời cầu xin của cậu và cứu vớt con thuyền. Thế rồi sau khi vào được bờ, Newton đã giữ lời hứa và bỏ nghề buôn nô lệ.  Sau đó cậu đi tu, và một thời gian sau trở thành mục sư coi sóc một nhà thờ nhỏ ở vùng Olney, nước Anh. Ở đây vị mục sư trở nên một nhà giảng thuyết kiêm nhà soạn thánh ca lừng danh. Một trong những bản thánh ca cảm động nhất mà Newton đã sáng tác là bản nhạc ca ngợi Hồng Ân Bao la của Chúa. Đó là bài “Amazing grace – Hồng Ân Tuyệt Vời”

***

Bạn thân mến! Giống như Newton, các Tông đồ trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng gặp phải giông bão dữ dội ngoài biển khơi. Giống như Newton, các ông đã kêu cầu cùng Chúa: “Xin cứu chúng con”.(Mc.4:38) Giống như Newton, các ông cũng đã được biến đổi hoàn toàn sau khi Chúa nhận lời các ông cầu xin. Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Ông này là ai, mà cả đến gió và biển cũng phải tuân lệnh?”. (Mc.4:41)

Cuộc đời ví như mặt biển cả mênh mông. Mỗi người là một con thuyền lênh đênh trên mặt nước. Sóng gió là những thử thách trong cuộc đời. Vì yêu thương ta, vì muốn rèn luyện ta nên Chúa gửi những thử thách tới cho ta.

Thử thách giúp ta biết yêu mến và cậy trông vào Chúa hơn. Có thử thách ta mới biết sức mình, biết có những việc ở ngoài tầm tay của mình, chẳng ai có thể giúp mình ngoài Chúa. Vì thế gặp nhiều thử thách giúp ta biết cậy trông phó thác vào Chúa hơn. Gặp thử thách ta mới biết chẳng ai yêu thương ta bằng Chúa. Chúa sẽ không để ta bị thử thách quá sức chịu đựng, nên ta sẽ biết yêu mến Chúa hơn.

Thử thách giúp đức tin vững mạnh. Chẳng có thử thách nào kéo dài mãi mãi. Chúa chỉ cho thử thách một thời gian. Rồi Chúa lại can thiệp để sóng yên biển lặng. Khi sóng yên biển lặng rồi, các môn đệ càng vững tin nơi Chúa hơn. Để từ nay các ngài không còn cuống quít lo sợ mỗi khi gặp gian nan nữa. Đời sống mỗi người chúng ta cũng thế. Ai càng gặp nhiều thử thách thì càng trở nên từng trải hơn, vững vàng hơn.

Đời sống không thể thiếu thử thách. Hãy biết rằng Chúa cho phép thử thách  xảy ra vì yêu thương ta, để rèn luyện ta nên người. Hơn nữa Chúa luôn ở bên ta. Vì thế ta hãy vững tin, hãy cậy trông phó thác và hãy biết tận dụng những khó khăn để đức tin thêm vững mạnh.

Ước gì mọi thử thách ta gặp trong đời đều biến thành cơ hội cho ta được thêm lòng tin, lòng cậy và lòng mến Chúa nhiêu hơn.

***

Lạy Chúa!  Xin giúp con luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những biến cố của đời con . Xin ban ơn giúp sức cho con để con vượt thắng mọi thử thách trên đường đời.  Quyền năng và tình thương của Chúa luôn làm cho con vững dạ an tâm (Tv.23:4). Amen

Tổng hợp từ R. Veritas

ĐỐI THOẠI TRUYỀN TIN (có Youtube)

Thiên Sứ Gabriel truyền tin cho Đức Maria là một cuộc đối thoại.  Để thấy được sự trang trọng, độc đáo của cuộc đối thoại Truyền Tin, cần so sánh khung cảnh truyền tin của Thiên sứ Gabriel cho Ông Zacaria và cho Đức Maria.

Về địa điểm: Thiên sứ hiện ra với Zacaria ở đền thờ Giêrusalem, trung tâm tôn giáo của Israel, giữa làn khói hương nghi ngút.  Với Đức Maria, Thiên sứ đến gặp Mẹ tại Nazareth, một thôn làng chẳng mấy ai biết đến (Ga1,46; 7,41).  Nazareth thuộc miền đất Galilê, gần vùng dân ngoại (Is 8,23; Mt 4,14).

Về nhân vật: Zacaria là tư tế thuộc giòng Abia, Isave thuộc giòng Aaron.  Cả hai ông bà thuộc thành phần có địa vị xã hội.  Hai ông bà tuân giữ lề luật chu đáo (Lc 1,6).  Họ tượng trưng cho người công chính theo Cựu ước.  Còn Maria chỉ là một thôn nữ tầm thường, một người nghèo của Giavê.

Đi vào nội dung đối thoại thì hoàn toàn đảo ngược.

Thái độ của Thiên sứ: Với Zacaria: Thiên sứ coi mình như chủ nhà.  Giọng nói Thiên sứ như ra lệnh, thị oai.  Thiên sứ phạt Zacaria khi ông tỏ dấu nghi ngờ.  Với Maria: Thiên sứ là khách, đi đến nhà của Maria, một làng quê hẻo lánh.  Thiên sứ tỏ vẻ kính cẩn vì nhìn thấy nơi thôn nữ mộc mạc dáng vẻ oai nghi của “Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng”

Công trạng và ân huệ: Với Zacaria: Thiên sứ bảo rằng: Lời cầu nguyện của ông đã được Chúa chấp nhận, vợ ông sẽ thụ thai (Lc 1,13).  Như vậy tất cả đều dựa trên công trạng phúc đức của con người, đúng theo hình ảnh Cựu ước.  Với Đức Maria: Tất cả đều là Ân huệ của Chúa.  Thiên sứ chào Maria là “người được Thiên Chúa yêu thương chiếu cố” (Lc 1,28), tất cả đều là ân huệ và tình thương của Chúa.

Kết quả: Zacaria bị quở trách vì “không chịu tin vào Lời Chúa” (Lc 1.20).  Maria được ca ngợi vì “đã tin rằng Lời Chúa sẽ thực hiện” ( Lc 1,45.38).  Isave được cưu mang Gioan “sẽ làm lớn trước mặt Chúa” (Lc 1,15).  Maria cưu mang “Con Đấng Tối Cao” (Lc 1,32); “Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Đức Maria, ta thầy rằng: công cuộc vĩ đại của Thiên Chúa là cứu chuộc nhân loại, thiết lập Nước Trời được bắt đầu một cách rất âm thầm.  Một cuộc đối thoại Truyền Tin tại một làng quê, giữa Thiên Sứ với một thôn nữ chẳng mấy người biết.  Chúa Giêsu đã diễn tả sự khởi đầu bé nhỏ nhưng thành quả lại lớn lao qua dụ ngôn hạt cải: “Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.  Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng” (Mc 4,31-32). Thiên Chúa thường khởi sự những việc hết sức lớn lao bằng những việc hết sức bé nhỏ, với những con người cũng hết sức nhỏ bé.  Như thế người ta mới thấy quyền năng của Ngài, mới thấy Ngài là một Thiên Chúa vĩ đại: “Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh”(1Cr 1,27).

Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Maria, ta thấy Thiên Chúa chọn những ai sống đẹp lòng Ngài.  Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ.  Ngài chọn Maria vì Ngài muốn chọn, theo sự tự do của Ngài (x. Rm 9,12.16), và cũng vì Maria đẹp lòng Thiên Chúa.  Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận.  Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ân huệ nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.  Thiên sứ nói với Đức Maria: “Quyền năng của Đấng tối cao sẽ bao trùm lên bà, vì thế Đấng Thánh con của bà sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc.1, 35).  Tiếng quan trọng ở trong câu đó là “bao trùm lên” hay “bao phủ lên.”  Lều tạm nơi dân Do Thái để hòm Giao Ước.  Câu Xh 40,34 nói rằng bao lâu đám mây còn bao phủ lều tạm thì “lều tạm có Thiên Chúa hiện diện”.  Việc Luca chọn và dùng từ “bao trùm lên” có ý nghĩa thâm sâu.  Luca so sánh thân thế Đức Maria với lều tạm nơi đặt Hòm Giao Ước của Thiên Chúa.  Luca so sánh cung lòng Đức Maria nơi Đức Giêsu sẽ tới cư ngụ với Hòm Giao Ước nơi đặt hai phiến đá có ghi 10 điều răn của Thiên Chúa.  Như vậy nghĩa là khi quyền năng của Thiên Chúa bao trùm lên Đức Maria, thì có “Thiên Chúa hiện diện” trong Mẹ.  Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Maria thì vô cùng phong phú hơn sự hiện diện của Ngài trong “lều tạm.”  Sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria chính là sự hiện của Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Maria, ta thấy Đức Maria đã tự do đáp tiếng “Xin vâng”. Trong Hiến Chế Lumen Gentium số 56, Công Đồng Vatican II đã giải thích ý nghĩa quan trọng của câu chuyện Truyền Tin và sự ưng thuận tự do của Đức Maria: “Các thánh Giáo Phụ đã nghĩ rất đúng rằng: Thiên Chúa đã không thu dụng Đức Maria một cách thụ động, nhưng đã để Ngài tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Ngài.  Thực vậy, Thánh Irênê nói : “Chính Ngài, nhờ vâng phục, đã trở thành nguyên nhân ơn cứu độ cho bản thân Mẹ và cho toàn thể nhân loại.”  Và cùng với thánh Irênê còn có rất nhiều thánh Giáo Phụ thời xưa cũng không ngần ngại giảng dạy rằng: “Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân phục của bà Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria; điều mà trinh nữ Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, thì Trinh Nữ Maria đã tháo ra nhờ lòng tin.”  Và so sánh với Evà, các Giáo phụ gọi Đức Maria là “Mẹ các sinh linh” và thường quả quyết rằng: “Bởi Evà đã có sự chết, thì nhờ Maria lại được sống.”  Trong Sứ điệp Ngày Quốc Tế Giới Trẻ Lần Thứ 18 năm 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói với giới trẻ rằng: Trong biến cố Truyền Tin, Đức Maria trao ban bản tính nhân loại cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ với lời tự do chấp nhận: “Này tôi là tôi tớ Chúa.”  Dưới chân Thánh Giá, nơi thánh Gioan, Đức Maria đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn mình: “Hỡi bà, này là con bà.”  Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố Nhập Thể, Mẹ đã trở thành Mẹ loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, Con Mẹ.  Cuộc đối thoại Truyền Tin là khoảnh khắc Thiên Chúa “bật mí” cái bí mật từ ngàn đời.

Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi muốn trở thành một con người giữa nhân loại.  Và Thiên Chúa đã chọn Mẹ Maria là để Ngài sai Con Một Ngài đến giữa chúng ta, thực hiện chương trình cứu độ của Ngài đối với trần gian.  Giây phút Mẹ tự do đáp lời “Xin vâng” là khởi đầu bình minh ơn cứu độ cho thế nhân.

Mẹ Maria đã đáp “Xin vâng” không chỉ một lần mà còn nhiều lần trong đời.  Mẹ Maria mãi mãi là tấm gương cho chúng ta soi trong cuộc đối thoại lắng nghe Lời Chúa và đáp trả Lời Chúa.  Thiên Chúa đã chứng tỏ nơi Mẹ điều không thể để trở nên điều có thể.  Vì “cái gì cũng có thể đối với người có lòng tin” (Mc 9,23).

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

BÂY GIỜ TÔI ĐÃ THẤY (có Youtube)

“Bí tích rửa tội cất đi sự mù loà tâm linh của chúng ta và mở mắt cho chúng ta được nhìn thấy Chúa Giêsu.”

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng quanh miền Nam.  Ông muốn trực tiếp cảm nghiệm được sự kiện phải làm người da đen trong những năm ầm ĩ về vấn đề chủng tộc này.  Griffin mô tả lại cảm nghiệm của mình trong một cuốn sách nhan đề Black Like Me (đen như tôi).  Cuốn sách này về sau được dựng thành phim.

Tuy nhiên còn một khía cạnh khác trong cuộc đời của John Howard Griffin mà rất ít người biết đến: trong thế chiến thứ hai, John đã bị mù trong một vụ nổ máy bay suốt 12 năm sau đó, ông không trông thấy gì cả.  Một hôm, trong khi bước xuống con phố cạnh nhà bố mẹ ông ở Texas, thình lình John bỗng thấy được “cát đỏ” (red sand) trước mắt ông.  Thị giác của ông đã phục hồi trở lại mà chẳng hề báo trước.  Về sau, một bác sĩ chuyên khoa mắt cắt nghĩa cho ông là vết máu tụ thần kinh thị giác do vụ nổ gây ra được khai thông, vì thế thị giác ông phục hồi trở lại.  Khi bình luận về kinh nghiệm này, Griffin đã kể lại cho một phóng viên báo chí như sau:

“Quí bạn không cảm nghiệm được những gì mà một ông bố cảm nghiệm khi nhìn thấy con cái mình lần đầu tiên đâu.  Cả bố với con đều tuyệt vời hơn tôi nghĩ rất nhiều”

Giai đoạn bi đát trong đời Griffin giúp anh ta đánh giá sâu sắc hơn câu chuyện của bài Phúc âm hôm nay, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảm giác người mù từ lúc mới sinh khi anh ta được Chúa Giêsu chữa lành thật kỳ diệu như thế nào.

Tuy nhiên, trong câu chuyện người mù trên còn có một phép lạ thứ hai.  Phép lạ này còn tuyệt diệu hơn: đó là đức tin hay còn gọi là ánh sáng thiêng liêng mà Đức Giêsu ban cho người mù ấy, chính phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin đã khiến cho anh quì gối xuống nói với Đức Giêsu với tư cách là “Chúa”.  Thánh Gioan đã nhấn mạnh phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin một cách thâm thuý trong bài Phúc âm hôm nay.

Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về điểm này.

Điều đầu tiên chúng ta để ý đến trong phép lạ này là phép lạ ấy diễn ra từ từ không xảy ra ngay tức khắc.  Chẳng hạn, phản ứng đầu tiên của anh mù đối với Đức Giêsu là anh ta xem Đức Giêsu cũng giống như người bình thường khác.  Vì thế, khi vài người hỏi anh ta về sự lành bệnh của mình, anh liền trả lời: “Cái ông có tên là Giêsu ấy lấy một ít bùn bôi lên mắt tôi và bảo tôi tới hồ Silôê rửa mặt.  Thế là tôi đi và ngay khi rửa xong tôi liền được trông thấy.”

Đầu tiên gã mù chỉ coi Đức Giêsu như một người tuy khá đặc biệt nhưng dầu sao cũng chỉ là một con người.

Thế rồi anh ta bước qua nhận thức thứ hai về Đức Giêsu khi đám Pharisêu điều tra anh: “Mày bảo ông Giêsu chữa cho mày khỏi mù à! Vậy mày cho rằng ông ấy là ai?” anh ta liền đáp: “Ông ấy là một tiên tri”.  Câu trả lời trên đây chứng tỏ rõ ràng nhận thức của anh mù về Đức Giêsu đã nhảy vọt một bước vọt khổng lồ về phía trước.  Càng suy nghĩ đến sự kiện xảy ra, gã ta càng xác tín Đức Giêsu không chỉ là một người như những người khác mà Ngài còn là một vị tiên tri.  Điều này dẫn chúng ta đến nhận thức sau cùng của anh mù về Đức Giêsu.

Cuối ngày anh mù mới được gặp mặt đối mặt với Đức Giêsu, vì khi anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôê về, thì Đức Giêsu, không còn quanh quẩn đó nữa.  Lúc này, khi gặp lại anh mù, Đức Giêsu nhìn thẳng vào mắt và nói: “Anh có tin vào CON NGƯỜI” không?  Anh ta trả lời: Thưa Ngài, xin nói cho tôi biết vị ấy là ai để tôi tin.  Đức Giêsu trả lời: “Anh đã thấy vị ấy rồi, vị ấy chính là kẻ hiện đang nói chuyện với anh”.  Anh đáp ngay: “Lạy Chúa, con tin!” vừa nói anh vừa quì gối xuống trước mặt Đức Giêsu.

Như thế, nhận thức của anh về Chúa Giêsu đã nhảy bước cuối cùng về phía trước.  Anh nhận ra Đức Giêsu không phải chỉ là một người bình thường hoặc một vị tiên tri, mà Ngài còn là Thiên Chúa, vị Chúa mà “muôn loài trên trời dưới đất, cả trong địa ngục phải quì gối” (Pl 2: 10).  Ân sủng đức tin, hay “ánh sáng tâm linh” mà Đức Giêsu ban cho anh mù còn kỳ diệu hơn sự phục hồi thị giác cho anh nữa.

Không cần bàn bạc quá nhiều về ân sủng đức tin nơi anh mù nọ, chúng ta nên nhớ lại chúng ta cũng đã nhận được ân sủng đức tin này do Đức Giêsu ban cho trong bí tích rửa tội.

Trước khi thanh tẩy trong nước rửa tội, chúng ta cũng bị “đui mù tâm linh” như anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Nhưng sau khi được rửa tội, Đức Giêsu trở nên quí báu hơn nhiều đối với chúng ta.  Ngài trở thành một kẻ hết sức thân mật đối với chúng ta.

Điều này dẫn đến điểm tương tự thứ hai giữa chúng ta và anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Ngoài việc nhận lãnh ân sủng đức tin, nhận thức của chúng ta về Chúa Giêsu cũng dần dần lớn lên giống như nơi anh mù ấy.  Chẳng hạn khi còn rất bé chúng ta thường mường tượng Đức Giêsu là một con người phi thường.  Đến lúc lớn lên.  Nhận thức của chúng ta về Ngài cũng trưởng thành hơn.  Cuối cùng nhận thức ấy đạt được hình thức viên mãn nhất: chúng ta nhận ra Ngài đúng như bản chất thực sự về Ngài, là Con Thiên Chúa.  Điều thú vị là khi chúng ta càng học hỏi về Đức Giêsu thì Ngài càng trở nên cao cả hơn đối với chúng ta.  Thông thường, có sự kiện đáng buồn trong các mối tương giao khác là càng tìm hiểu về kẻ khác chúng ta càng nhận khiếm khuyết của kẻ ấy.  Nhưng trong trường hợp Đức Giêsu thì không như thế.  Càng hiểu biết về Ngài, chúng ta càng thấy Ngài tuyệt diệu và vinh hiển hơn.

Để kết thúc, chúng ta hãy trích lại lời Albert Schweitzer ở cuối cuốn sách của ông nhan đề The Quest for The Historical Jesus (Tìm kiếm Giêsu Lịch sử) Schweitzer từng là nhạc sĩ dương cầm thính phòng ở Âu Châu.  Ông đã từ bỏ nghề nghiệp âm nhạc của mình để trở thành một bác sĩ, và ông đã đến sống ở Phi châu với tư cách một thừa sai.  Schweizer viết: “Chúa Giêsu đến với chúng ta như một người vô danh, chẳng khác nào thưở xưa người đến với các tông đồ trên bờ biển.  Ngài nói với chúng ta cũng chính những lời Ngài đã từng nói với họ: “Hãy theo Ta!”  Và bất cứ ai chấp nhận lời mời gọi của Ngài thì dù họ thông thái hay tầm thường, trẻ trung hoặc già nua, Chúa Giêsu đều mạc khải chính Ngài cho họ ngay trong những truân chuyên và đau khổ của họ.  Và qua kinh nghiệm riêng của mình, họ sẽ biết được “NGÀI là ai?”

Mark Link

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.