THỜI GIỜ ĐÃ GẦN ĐẾN (có Youtube)

Mùa Chay về.  Tiếp theo là Tuần Thánh và mùa Phục Sinh.  Đây là Mùa Hồng Ân, là Mùa Cứu Độ.  Bạn đã xưng tội chưa?  Có vẻ như không thể mùa Chay nào cũng trọn vẹn nếu không xưng tội.  Nhiều nơi thường xuyên có giải tội, nhất là vào mùa Chay.  Xưng tội và rước lễ trong mùa Chay cũng là giáo luật: “Xưng tội trong một năm ít là một lần” và “rước Mình Thánh Chúa mùa Phục Sinh”.

Kinh thánh xác định: “Dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, dù như vải điều thẫm cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18).

Có nhiều lý do khiến người ta trì hoãn hoặc từ chối xưng tội.  Có lẽ đây là vài lý do phổ biến:

  1. Tôi không cần xưng tội. Thật vậy không? Chắc chắn là nói dối, vì “ai cũng phạm tội” (x. Rm 5:12), đúng như người ta thường nói: “Nhân vô thập toàn.”  Mới sinh ra người ta đã có tội nên mới cần rửa tội.  Hằng ngày, mỗi khi dâng lễ, ai cũng thú nhận: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.”  Và rồi tiếp tục “xin Chúa thương xót chúng con” ba lần (đối và đáp thành sáu lần) và “lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con” hai lần nữa.  Chúa không muốn chúng ta “nói nhỏ” với riêng Ngài mà muốn chúng ta công khai thú tội: “Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát.  Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5:16).  Công khai thú tội để được công chính hóa: Lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực. Như vậy xưng thú tội lỗi là điều cần thiết, vì đó là một phần không thể thiếu trong đời sống của người Kitô giáo.
  1. Tôi ngại vì bỏ xưng tội lâu rồi. Đừng quên lời thánh Phaolô: “Ở đâu nhiều tội lỗi thì ở đó nhiều ân sủng” (Rm 5:20). Hãy cầu nguyện bằng kinh Ăn Năn Tội để có thể cảm nghiệm được Hồng Ân Chúa dành cho chúng ta.  Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định: “Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18:11), và Ngài nhấn mạnh: “Cha của anh chị em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:14).  Có lẽ chúng ta chưa đủ tin nên mới thấy ngại.  Tuy nhiên, đừng coi xưng tội chỉ là một nghi thức, vấn đề là thành tâm.  Nghĩa là tội lỗi chúng ta có được Thiên Chúa tha thứ hay không là do chúng ta, vì “nhờ đức tin mà được cứu” (x. Mt 9:22; Mc 5:34; Mc 10:52; Lc 7:50; Lc 8:48; Lc 17:18; Lc 18:42) và “người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1:17).  Biết vậy rồi thì đừng ngại gì hết!
  1. Tôi không có thời gian và không thuận tiện. Người muốn thì tìm ra phương tiện, người không muốn thì tìm ra lý do. Đó là loại triết lý dễ hiểu.  Chúa Giêsu thiết lập chức linh mục để hối nhân có thể dễ dàng giao hòa với Thiên Chúa, đồng thời cũng để chúng ta có Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28:20).  Có những xứ có linh mục giải tội hàng ngày trước hoặc sau giờ phụng vụ, có những nhà dòng giải tội cả sáng và chiều các ngày trong tuần.  Như vậy, nếu không tiện giờ này thì xưng tội giờ khác, không tiện ở nơi này thì xưng tội ở nơi khác.  Có nhiều nơi để chọn lựa, đừng viện cớ mà biện hộ cho sự lười biếng của mình.  Chúa luôn mong chờ tội nhân ăn năn sám hối, vì Ngài sẵn sàng bỏ 99 con chiên ngoan mà đi tìm 1 con chiên lạc (x. Mt 18:12-14; Lc 15: 4-7).  Chúng ta có thời gian rảnh rỗi hoặc làm những thứ khác, sao lại không có thời gian giao hòa với Thiên Chúa?
  1. Tôi không có tội trọng nên không cần xưng tội. Có những vị thánh xưng tội hằng ngày. Đã đành chỉ phải xưng những tội trọng, nhưng đó là “điều kiện ắt có và đủ.”  Đối với những tâm hồn đạo hạnh, tội nhẹ cũng khiến người ta cảm thấy “xa cách” Thiên Chúa.  Tội trọng là những tội “nặng ký” thì dễ hiểu và dễ thấy, nhưng nhiều tội nhẹ cũng có thể làm tăng trọng lượng.  Hãy tưởng tượng tội nhẹ như trái bong bóng hoặc nắm bông, một vài trái bóng hoặc một vài nắm bông không thấm vào đâu, nhưng nhiều trái bóng hoặc nhiều nắm bông có thể làm thay đổi trọng lượng rất rõ.  Một bên là 1kg sắt và một bên là 1kg bông, có người có thể nghĩ ngay là sắt nặng hơn, nhưng thực sự hai bên bằng nhau vì đều là 1kg.  Không thể nói hết thần học về tội lỗi, nhưng có những thứ tội “nổi cộm” như làm tổn thương người khác, tự dễ dãi với mình với những tư tưởng xấu, xem phim ảnh “đen”, bỏ lễ Chúa nhật, kiêu ngạo, tự ái thái quá, lạm dụng Thánh Danh Chúa, từ chối bác ái với người nghèo,…  Nhiều thứ trong số đó có thể là tội trọng hoặc biến thành tội trọng.  Tục ngữ cổ nói: Nemo judex in sua causa (không ai là thẩm phán trong vụ án của chính mình).  Chúng ta thường không thấy cái đà trong mắt mình mà lại thấy cái rác trong mắt người (x. Mt 7:3-5; Lc 6:41-42).  Ca dao Việt Nam cũng có câu:
          Chân mình còn lấm bê bê
          Lại cầm bó đuốc mà rê chân người

    Thật là nhiêu khê!  Nhưng đừng lấy cớ “tôi không có tội trọng” mà thoái thác.  Xưng tội thường xuyên (hàng tuần hay hàng tháng) là động thái khiêm nhường, đem lại lợi ích cho chúng ta là nhận lãnh thêm hồng ân và tránh được dịp tội trong tương lai.

  1. Tôi không biết xưng tội gì. Ngày nay, đây là vấn đề phổ biến, vì việc đào tạo luân lý trong văn hóa của chúng ta, thậm chí cả những người Công giáo, không được chú trọng và có vẻ mơ hồ. Vả lại, ngày nay người ta muốn loại bỏ Chúa ra khỏi cuộc đời mình nên không còn cảm giác tội lỗi.  Nếu thẳng thắn và nghiêm túc xét mình thì chúng ta sẽ thấy mình phạm nhiều tội hằng ngày.  Vì không xét mình rõ ràng nên mới cảm thấy “không có tội gì để xưng.”  Cơ bản là xét mình theo Mười Điều Răn và Sáu Điều Răn Hội Thánh, nếu cần thì dùng Kinh thánh – chẳng hạn đoạn Kinh thánh này:

Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em: Đó là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam, mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng.  Chính vì những điều đó mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên những kẻ không vâng phục.  Chính anh em xưa kia cũng ăn ở như thế, khi anh em còn sống giữa những người ấy.  Nhưng nay, cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó: nào là giận dữ, nóng nảy, độc ác, nào là thoá mạ, ăn nói thô tục.  Anh em đừng nói dối nhau, vì anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn thông hiểu.  Vậy không còn phải phân biệt Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người.  Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.

Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia.  Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.  Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: Đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.  Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó.  Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân.  Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú.  Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan.  Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng.  Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha (Cl 3:5-17).
Chắc hẳn chúng ta không thấy “thoải mái” khi đọc những đoạn Kinh thánh như vậy, do đó mà cảm thấy… ngại xưng  tội!  Chúa Giêsu nói: “Ai phạm tội là làm nô lệ cho tội” (Ga 8:34).  Không ai muốn mình làm nô lệ cho người khác, huống chi là làm nô lệ cho tội lỗi!

Vậy hãy quyết tâm dành thời gian đi xưng tội, càng sớm càng tốt.  Hãy quyết tâm sống mùa Chay theo lời thánh Phaolô: Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy.  Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa.  Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.  Quả thật, Chúa nói: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ.”  Vậy, đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ (2 Cr 5:20-21; 2 Cr 6:2).
Đến với Bí tích Hòa giải là đến với Tình Yêu của Thiên Chúa, đến ẩn náu trong Thánh Tâm Chúa Giêsu, được tắm gội trong Nguồn Hồng Ân của Lòng Chúa Thương Xót.  Đừng chần chừ, đừng lần lữa, vì “thời giờ đã gần đến!” (Kh 1:3; Kh 22:10).  Nếu chúng ta “hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, Chúa sẽ mửa chúng ta ra khỏi miệng Ngài” (x. Kh 3:16).

Trầm Thiên Thu

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

IM LẶNG LÀ VÀNG (có Youtube)

Im lặng là vàng.  Đó là câu châm ngôn mang nhiều ý nghĩa và được coi như là một triết lý sống.  Triết lý sống ấy, phần lớn do người ta ngao ngán với “nhân tình, thế thái”.  Mặt khác,  cũng có một số người nghĩ  im lặng sẽ đảm bảo cho sự an toàn của bản thân trong mọi lúc, mọi nơi.  Rồi từ chỗ ít nói, ngại nói, không dám nói  những điều mình đang trăn trở, nghĩ suy, người ta trở nên dửng dưng trước mọi biến động của xã hội.  Dẫn đến tình trạng tôn thờ chủ nghĩa MAKENO, dửng dưng với những bất hạnh của tha nhân.  Im lặng là vàng cũng rất cần thiết để mình cân nhắc sự việc, để mình suy tính, không vội vã mà hành động khôn ngoan hơn.

Im lặng là vàng đôi khi còn là cơ hội để đón nhiều sự may mắn và niềm vui.

Người ta kể rằng: Edison vừa phát minh một dụng cụ điện tử, ông muốn bán phát minh này với giá 3.000 USD, và tự nhủ nếu các thương gia chỉ trả 2.000 USD cũng được.  Lúc gặp nhau, họ hỏi ông về giá cả, Edison lúng túng im lặng chưa biết phải nói như thế nào.  Một người trong số họ đành phải bắt đầu trước:

– Chúng tôi không trả cao đâu, ông nghĩ sao với cái giá 40.000 USD?

Đúng là “Im lặng là vàng”.  Ở đời người ta chỉ cần học được chữ nhẫn, chữ nhịn trong im lặng sẽ mang lại biết bao niềm vui của chiến thắng hân hoan.

Hôm nay, chúng ta chiêm ngắm một con người đã làm nên chuyện phi thường trong im lặng.

Trước  mọi vấn đề Ngài đều im lặng để tìm hiểu, để suy xét và đón nhận.  Sự im lặng của Ngài không phải là của kẻ khiếp nhược trước sự dữ của cuộc đời.  Sự im lặng của ngài thể hiện lòng phó thác tin yêu trong sự quan phòng của Thiên Chúa.

Ngài im lặng để tìm kiếm ý Chúa.  Ngài im lặng để lắng nghe tiếng nói của con tim luôn rung nhịp yêu thương.  Ngài im lặng để cho tiếng Chúa vang lên trong tâm hồn của mình mà nhờ đó Ngài đã hết lòng phụng sự theo thánh ý Chúa.

Đó chính là thánh cả Giuse.  Một vị đại thánh không để lại một lời huấn dụ nào nhưng lại được cả Giáo hội qua bao thế hệ yêu mến, tôn kính.  Ngài không để lại di ngôn nhưng để lại một đời sống nội tâm thật phong phú.

Phúc âm ghi lại trước mỗi biến cố xảy đến ngài thường chọn im lặng để lắng nghe tiếng Chúa.  Ngài đã im lặng khi biết tin Maria đã mang thai, nhờ đó mà ngài nghe được tiếng Chúa bảo ngài đón nhận Maria về nhà làm bạn mình.  Ngài im lặng trước biết bao phong ba bão tố trong cuộc đời hài nhi, nhờ đó mà ngài đã làm cho mọi sự nên trọn khi ngài gìn giữ hài nhi Giê-su vượt qua giông tố cuộc đời.  Ngài đã im lặng khi tìm kiếm con bôn ba suốt ba ngày trời, nhờ đó mà ngài đã vâng theo thánh ý Chúa dù rằng ngài chưa hiểu hết những gì đang xảy ra.

Lý do cho sự im lặng của ngài không phải là do sợ hãi hay nhu nhược mà là ngài tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa.  Thử hỏi, nếu ngài không tin vào Thiên Chúa có lẽ ngài đã ngã lòng trước biết bao biến cố xảy ra trong cuộc đời hài nhi Giê-su?  Từ khi nhập thể cho đến khi chào đời, khôn lớn phải trải qua biết bao sóng gió.  Nhờ đức tin ấy mà ngài đã dẫn dắt gia đình sống trong bình yên.  Nhờ đức tin ấy mà ngài đã chu toàn mọi sự theo thánh ý Thiên Chúa.

Cuộc đời luôn có biết bao điều xảy ra ngoài dự định của chúng ta, và đôi khi còn vượt lên trên trí hiểu của chúng ta.  Xin cho chúng ta biết im lặng để tìm ra ý Chúa trong từng biến cố cuộc đời.  Xin cho chúng ta biết noi gương thánh Giu-se luôn tận tụy với bổn phận của mình trong niềm phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa.  Ước gì chúng ta cũng học bài học im lặng để khôn ngoan cân nhắc trước mọi biến cố xảy ra.  Amen

LM Jos Tạ Duy Tuyền

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CHỈ CÓ CHÚA MỚI LẤP ĐẦY ĐƯỢC (có Youtube)

Có đi cả ngày trời trong sa mạc khô cháy, trên đầu là nắng lửa, dưới chân là cát nung như đoàn dân Do-Thái ngày xưa trong hoang địa mới cảm nhận được cái khát hành hạ người ta như thế nào và nhu cầu được uống cho đã cơn khát mới bức xúc làm sao.  Thế nên khi bị cơn khát dày vò, họ đổ lỗi cho Mô-sê đã đưa họ vào nơi hoang địa khô cháy, và đòi đem vị lãnh tụ nầy ra mà ném đá.  (Bài đọc I, sách Xuất Hành 17, 3-7)

Thế nhưng ngoài cơn khát tự nhiên là khát nước, con người luôn có những khao khát mà không có gì trên thế gian có thể làm cho họ được no thoả.  Người ta gọi đây là khát vọng vô biên.  Đây là cơn khát về mặt tâm linh nên chẳng có thứ nước nào trên đời có thể làm dịu bớt.

Người phụ nữ xứ Samari trong Tin Mừng hôm nay (Ga 4,4-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự.  Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải chia tay để tìm hạnh phúc với người thứ sáu; mà cũng chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời.  Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi múc nước.  Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp.

Chính vì thế mà Chúa Giêsu khẳng định với người phụ nữ Samari: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại.”  Ngài muốn nói không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.

Triết gia người Đức, ông Schopennauer khám phá: “những lạc thú mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói hôm nay, rồi ngày mai lại đói.”

Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao – thoả mãn, thoả mãn – khát khao… cứ tiếp diễn mãi không cùng”… lại càng ngày càng tăng “đô” hơn.  Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình.

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho người phụ nữ Samari cũng như cho chúng ta một Nguồn Suối mang lại hạnh phúc: “Ai uống nước nầy sẽ lại khát, còn ai uống nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.  Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4,13-14)

Augustinô là người mải mê tìm kiếm lạc thú trần gian suốt nhiều năm trường nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy trái tim khao khát của ngài, mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mônica, Augustinô mới tìm được Thiên Chúa là Đấng đem lại cho ngài niềm hoan lạc vô biên.  Bấy giờ lòng đầy hoan hỉ, Augustinô thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong tay Ngài”.

Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy.  Quả đúng như Lời Chúa Giêsu nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa.  Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4,13-14)

Lạy Chúa Giêsu, chúng con sung sướng được đón nhận Chúa là Mạch Suối thiêng liêng làm tươi mát đời chúng con.  Chúng con như những lùm cây trồng bên suối nước.  Chúng con được xanh tốt là nhờ giáo huấn của Chúa đem lại sức sống thiêng liêng cho chúng con.  Chúng con thật sự hạnh phúc vì có Chúa ở cùng.  Chúng con cảm thấy bình an và hoan lạc vì Chúa đã lấp đầy trái tim khao khát của chúng con.  Nhưng chúng con biết rằng còn rất nhiều người đang khát Chúa mà vẫn chưa tìm thấy Chúa.  Xin thương đến với họ như xưa Chúa đã đến với người phụ nữ Samari.  Xin cho chúng con, như người phụ nữ Samari xưa, sau khi nhận được Mạch Suối Chúa ban, thì cũng giới thiệu cho cả thành ra gặp Chúa, để họ cũng được no thoả nơi Chúa là Mạch Suối mang lại sự sống đời đời. Amen.

LM Ignatiô Trần Ngà (trích từ “Cùng Đọc Tin Mừng”)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

HỐI HẬN (có Youtube)

Hối hận là tâm trạng của một người, sau khi đã làm điều không tốt, cảm thấy day dứt lương tâm về điều sai trái mình đã làm.  Một người hối hận thường mong muốn sửa lại lỗi lầm của mình, hoặc muốn bù đắp những thiệt hại về danh dự cũng như vật chất mình đã gây ra cho người khác.  Hối hận là sự thức tỉnh lương tâm và là khởi đầu của hành trình trở về, để sám hối và canh tân đổi đời.

Dân gian ta có câu: “Đánh người chạy đi, ai nỡ đánh người chạy lại.”  Điều này cho thấy cuộc đời rất bao dung đối với những ai lầm lỗi.  Một khi họ đã nhận ra sai lầm của mình và quyết tâm đoạn tuyệt với quá khứ, trở về hoàn lương, thì không ai nỡ chối từ.  Họ là những người can đảm “chạy lại” để hòa nhập với cộng đồng xã hội.  Tuy nhiên, để được đón nhận và tha thứ, người lầm lỗi phải chứng minh thiện chí của mình.  Họ cũng phải can đảm vượt lên những thành kiến mặc cảm, quyết tâm sửa đổi hạnh kiểm.  Cuộc đời sẽ dang rộng vòng tay đón nhận và quên đi quá khứ của những ai đã trót lầm lỗi mà hối hận ăn năn.

Có những khi niềm hối hận lại trở nên quá muộn màng, không còn cơ hội để sửa chữa lầm lỗi.  Đó là trường hợp những người phạm pháp và phải ra trước vành móng ngựa.  Đó cũng là những đứa con bất hiếu mà khi tỉnh ngộ thì cha mẹ đã qua đời, hoặc những anh em trong gia đình, vì mâu thuẫn xung đột, quyết đoạn tuyệt tình thân mà nay sự chết không cho họ gặp lại để hòa giải.  Còn biết bao trường hợp khác nữa, khi mà sự ích kỷ, ghen ghét làm cho người thân trở thành kẻ thù, người thiết nghĩa coi nhau như người dưng.  Một lúc nào đó, khi thức tỉnh lương tâm, họ muốn người nằm xuống sống lại chỉ một giây để họ nói lời xin lỗi và tỏ bày niềm hối hận, nhưng đã quá muộn màng.

Có những người làm điều xấu mà không hề hối hận, vì lương tâm họ đã trở nên chai đá, khiến họ sống khép kín với những người xung quanh, hoặc cố tình làm điều sai trái.  Sự thù hận hoặc lợi ích cá nhân đã làm cho họ mù quáng, không nhìn thấy lẽ phải.  Không biết hối hận, cuộc sống sẽ lan tràn bạo lực, con người ngày càng trở nên hoang dã đối với nhau.  Có những người vì lòng tham mà đang tiếp tay cho kẻ ác giết hại chính đồng bào mình.  Đó là những trường hợp tàng trữ và tiêu thụ thực phẩm nhiễm độc, thuốc chữa bệnh giả, hóa chất gây độc hại đến thực vật và môi trường.  Những hành động này gây thiệt hại nghiêm trọng và lâu dài đến tương lai của một dân tộc.  Nếu biết hối hận, họ sẽ thức tỉnh lương tâm, chấm dứt những hành động độc ác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mạng sống và môi trường.

Hối hận là tâm trạng của người con thứ trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” được Thánh Luca ghi lại trong Tin Mừng (x. Lc 15).  Người con thứ thức tỉnh sau khi anh đã phung phí hết tiền của vào những cuộc ăn chơi trác táng.  Anh đã tỉnh ngộ sau một cơn ảo tưởng kéo dài.  Anh vỡ mộng, vì cuộc đời này nghiệt ngã, không giống như anh tưởng tượng.  Những bữa tiệc xa hoa thâu đêm suốt sáng, những cô chân dài đầy quyến rũ… tất cả đã trở thành quá khứ vì anh hết tiền bạc.  Cùng với niềm hối hận, là sự nhục nhã ê chề và thất vọng đau đớn.  Điều may mắn còn lại nơi anh, đó là tiếng nói của lương tâm nhắc bảo cho anh biết những gì đã làm là sai trái, là “đắc tội với trời và đắc tội với cha.”  Niềm hối hận là bước khởi đầu dẫn đưa anh trở về, giúp anh đón nhận lòng bao dung nhân hậu của cha mình và được hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Mùa Chay giúp chúng ta trở về với Chúa, khiêm tốn nhìn nhận những tội lỗi và xin Ngài tha thứ.  Những thực hành sám hối của Mùa Chay không dừng lại ở tâm trạng hối hận, mà còn dẫn tới việc giao hòa với Chúa qua bí tích Giải tội. Giáo lý vẫn phân biệt hai hình thức ăn năn tội, gọi là “ăn năn tội cách trọn” và “ăn năn tội cách chẳng trọn.”  Những bản văn giáo lý trước kia viết là “ăn năn tội Con-tri-xong (bởi chữ Contrition, nghĩa là hành động sám hối được thúc đẩy bẳng lòng mến – tức là ăn năn tội cách trọn) và ăn năn tội A-tri-xong (bởi chữ Attrition – có nghĩa là do đau buồn, mệt mỏi, sợ hãi – tức là ăn năn tội cách chẳng trọn)”.  Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo giải thích như sau:

“Khi sự ăn năn tội xuất phát từ lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, thì được gọi là ăn năn tội “cách trọn” (ăn năn do đức mến).  Cách ăn năn tội này xóa bỏ các tội nhẹ; và cũng đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nếu hối nhân quyết tâm đi xưng tội càng sớm càng tốt” (số 1452).

“Ăn năn tội “cách chẳng trọn” (hoặc hối hận) cũng là một hồng ân của Thiên Chúa, một thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.  Nó phát sinh khi thấy sự xấu xa của tội lỗi hoặc vì sợ bị luận phạt đời đời và sợ các hình phạt khác mà kẻ tội lỗi phải chịu (ăn năn do sợ hãi).  Sự khích động lương tâm như vậy có thể là khởi đầu của một tiến trình nội tâm, tiến trình này sẽ được hoàn tất dưới tác động của ân sủng nhờ ơn xá giải bí tích.  Việc ăn năn tội cách chẳng trọn tự nó không đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nhưng chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn tha tội trong bí tích Thống Hối” (số 1453).

Mùa Chay cũng giúp chúng ta mở rộng tấm lòng tha thứ và đón nhận anh chị em, mặc dầu họ còn nhiều khiếm khuyết bất toàn.  Chúa Giêsu dạy chúng ta: “Nếu có anh em con lỗi phạm, con hãy răn bảo nó, và nếu nó hối cải, thì hãy tha thứ cho nó; cho dù một ngày nó phạm đến con bảy lần, và bảy lần nó trở lại nói cùng con rằng: ‘Tôi hối hận’, thì con hãy tha thứ cho nó” ( Lc 17,5).

Khởi đi từ một yếu tố tâm lý, hối hận giúp ta nhìn lại mình trong mối tương quan với Chúa và với anh chị em, từ đó chúng ta sửa mình, canh tân bản thân, mở lòng đón nhận tình thương của Chúa.  Thiên Chúa bao dung nhân hậu và luôn chờ đón chúng ta trở về.  Những ai thành tâm và khiêm tốn sẽ được Ngài đón nhận, để được sống trong niềm vui và ân sủng dồi dào.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

MÙA PHỤNG VỤ CỦA GIA ĐÌNH (có Youtube)

Mùa Chay không đơn giản chỉ là một nghệ thuật màu tím phụng vụ, cũng chẳng phải cứng ngắc định luật lặng thinh trong tôn giáo, với tôi mùa Chay còn là mùa phụng vụ của gia đình.  Hầu như gia đình Thánh Gia, gia đình có Chúa Giêsu, mẹ Maria và Thánh Giuse thông thường được nhắc nhiều trong bối cảnh Noel.  Hôm nay, vài gợi ý xin cùng quí độc giả chiêm ngưỡng Thánh Giuse và Mẹ Maria trong không gian mùa Chay; hy vọng với không gian mới sẽ mang đến góc nhìn mới và những cảm nghiệm mới.

Gia đình bình dân, người cha thông thường là lao động chính nuôi sống cả nhà.  Phải chăng cũng vì âm thầm góp nhặt của người cha: “bữa trưa chưa no đã lo bữa tối” nên ít người để ý!  Cứ hiển nhiên làm cha là làm “ôsin” lo kiếm từng đồng từng cắc cho mọi nhu cầu ăn uống, học hành, thuốc men.  Giuse cũng không ngoại lệ.  Trang Tin Mừng Matthêu trao vào tay Giuse sứ mạng chăm sóc hai Mẹ Con Maria mà chẳng hứa hẹn gì về nguồn kinh tế, tài chính.  Sứ thần hiện đến cùng Giuse trong giấc mơ hết lần này đến lần khác, truyền tin cho Giuse làm cha nuôi Chúa Cứu Thế, rồi khăn gói trốn Hêrôđê nơi Ai Cập, cuối cùng lại phải vượt biên về lại quê nhà, hoàn toàn kín tiếng chuyện tiền nong, y tế, giáo dục…  Phải chăng Giuse gặp ác mộng ngay đêm sứ thần mạc khải chuyện thai nghén của Maria, để rồi từ đó cuộc đời Giuse phải vác thánh giá hằng ngày?  Chẳng biết ngẫu nhiên hay cố ý, Tin Mừng ấy lại truyền cho Giuse trong giấc mơ.  Hiển nhiên, chuyện mơ mộng thì chẳng cần chú ý, chẳng cần bận tâm, nhưng khi Giuse đón nhận và thực thi, đó không còn là “vớ vẩn”, mà thật sự là một sự tự quyết.  Thánh Giuse đón nhận sứ điệp của sứ thần với tinh thần tự nguyện, hoàn toàn tự do trong hành vi, và cũng tự chủ trong từng hành động.

Không thể phủ nhận chuyện lo lắng cơm ăn áo mặc là thánh giá trong cuộc đời Thánh Giuse, nhưng như những người cha khác, gia trưởng Giuse không ích kỷ chỉ vun vén cho riêng mình: Ngài cho đi chính Ngài để vun xới tình cảm gia đình.  Việc chăm lo gia đình là gánh nặng, nhưng nơi ấy lại là nôi ấm của hạnh phúc, đã là hạnh phúc thì đêm ấy không thể gọi là ác mộng.  Một người bố hàng ngày mót từng vụn cao-su phế thải ở nông trường đã có lần tâm sự với tôi: “vui lắm khi con mình học hành tấn tới, chỉ bấy nhiêu thôi, mọi cực khổ như mất tiêu.”  Thánh Giuse không vác thánh giá này thì mầu nhiệm cứu độ phải trầy trụa nhiều hơn nữa mới đến được với nhân loại và bản thân Thánh nhân cũng bỏ mất cơ hội ngụp lặn trong hạnh phúc sứ mạng làm cha.  Giuse đáp trả thông điệp của Thiên Chúa không phải bằng lời “Fiat – Xin vâng” trong khung cảnh đẹp đẽ như mẹ Maria với sứ thần Gabriel, nhưng bằng chính sự kín đáo.  Nhờ việc đáp lời ấy, mà Con Thiên Chúa có “visa” nhập cảnh vào trần gian với một danh phận rõ ràng: “Ông (thánh Giuse) đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1,25b).  Tuy kín đáo, nhưng lại là một hành động âm thầm trong một sứ mạng lớn: sứ mạng chăm lo và giáo dục Con Thiên Chúa.  Cũng chính vì kín đáo, lại phải vác thánh giá của sự tín thác: chẳng biết nói cùng ai những nỗi khổ không tên trong từng biến cố cuộc đời.  Ấy vậy, cũng nhờ kín đáo mà Thiên Chúa dễ dàng sử dụng Thánh nhân như khí cụ bình an trong chương trình cứu độ của Người.

Đời Thánh Giuse có Chúa có phải là “êm trôi, êm trôi” không?  Đúng: đời vẫn là đời, đời vẫn cứ “êm trôi” nhưng “có sóng ở trong lòng”.  Cuộc sống của Giuse bị Thiên Chúa làm đảo lộn ngay từ giây phút truyền tin ấy, để từ đó lớn lên trong thử thách, bền tâm trong khổ đau và trưởng thành trong tình mến.  Chúng ta hiệp thông cùng cầu nguyện cho mọi gia trưởng trong đời sống hôn nhân gia đình, lẫn đời tu tôn giáo và cả định chế xã hội: ngày một ướm mình sát cạnh Thánh Giuse.  Một mặt xin Thánh Giuse chuyển cầu cùng Chúa; mặt khác mong rằng kinh nghiệm của chính Ngài trở nên bài học mỗi ngày của từng gia trưởng.

Ai là người nắm giữ chìa khóa hạnh phúc gia đình?  Có câu ngạn ngữ “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, trong gia đình Thánh Gia, Mẹ là người “xây tổ ấm” vậy Mẹ sử dụng “chìa khóa hạnh phúc gia đình” bằng cách nào?  Chính Mẹ, Mẹ cũng chẳng biết!  Ngày gặp sứ thần Gabriel, Mẹ thưa rằng: “Việc ấy được xảy đến thế nào vì tôi không biết…”, ngày ấy Mẹ quả thật chẳng biết làm thế nào để cưu mang Đấng Cứu Thế.  Đến đây, tôi nhớ đến những gia đình khao khát một lần làm bố, làm mẹ.  Vác thánh giá đời hôn nhân son sẻ không thể đổ lỗi do bên nam hay bên nữ, nhưng do sự xếp đặt của ông Trời. Họ mong ước việc thụ thai, nhưng không còn cách nào cả.  Hoàn cảnh khác, như là một sự đối nghịch, tôi nhớ đến những sản phụ muốn bỏ đi giọt máu đang mang trong dạ chỉ vì “vỡ kế hoạch”.  Họ cho rằng đây không phải là thời điểm để sinh con vì lỡ “ăn cơm trước kẻng”, hoặc vì kinh tế gia đình chưa thật sự ổn định, hay vì biên chế không cho phép có thêm con thứ ba, lắm khi vì thai nhi không hoàn hảo…  Họ thật sự không muốn loại bỏ mầm móng ấy, nhưng với họ: không nghĩ rằng còn cách nào khác.  Lại có những gia đình lo lắng làm sao để thai nhi là con trai, hoặc thai nhi là con gái, muốn chọn giới tính cho đứa trẻ sắp chào đời.  Họ tham khảo hết kiểu này đến phương pháp kia, nhưng không biết được đâu là cách tốt nhất để “sản phẩm như ý muốn”.  Ngày trước, Đức Maria đáp lời “Xin Vâng ý Chúa” cũng là lúc Mẹ gác sang một bên những hoạch định và ý riêng của Mẹ.  Khó khăn lắm!  Lại là cụm từ vác thánh giá cuộc đời ngay buổi đầu truyền tin.  Chính hành vi đón nhận ý Chúa là hành vi vác thập giá cuộc đời, mà cũng là hành vi sử dụng chìa khóa hạnh phúc gia đình: bắt đầu xây tổ ấm Nazareth.  Ngay cả thời nay, khoa học chẳng thể hiểu được thế nào là thai phụ đồng trinh lẽ tự nhiên, huống chi là thôn nữ miền sơn cước Galile tên Maria?  Trinh nữ ấy tín thác vào Thiên Chúa, đơn giản vì Thiên Chúa là gia tài duy nhất mà cô có.  Lời thưa “Xin vâng” của Mẹ không phải vì Mẹ hiểu cách Chúa thực hiện qua lời giải thích cao siêu của Sứ thần, cho bằng Mẹ hiểu rằng Chúa muốn Mẹ như thế. Ước mong trong gia đình của các đôi bạn hiếm muộn, hay các thai phụ “bất đắc dĩ”, và cả những gia đình đang có ý định chọn giới tính cho con cái: thử một lần hoặc thêm một lần nữa thưa “Vâng” với ý Chúa, cứ để mọi việc tiếp tục xảy ra theo lẽ tự nhiên.  “Xin Vâng” không phải vì muốn hiểu cách Chúa hóa giải mọi âu lo, nhưng vì biết rằng chính họ đang lặp lại những ngày tháng khó khăn mà Mẹ đã gặp phải ngày truyền tin ấy.  Mẹ đã nhờ ơn Chúa mà tìm sống ý Chúa thế nào, thì xin Mẹ cũng giúp để ý Chúa được tìm sống trong họ thể ấy.

Ngày dâng Con vào Đền Thánh, “Việc ấy được xảy đến thế nào vì tôi không biết…”, Mẹ không biết phải phản ứng thế nào với lời tiên báo của cụ Simeon và Anna.  Lời tiên báo bao gồm sứ mạng của con trẻ Giêsu, lẫn mũi gươm đâm thấu tâm hồn người mẹ.  Mẹ Maria xử lý thế nào với biến cố tiên báo lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn Mẹ, hay nói cách khác Mẹ vác thập giá này bằng cách nào?  Cách Mẹ vác đẹp lắm: “Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ.  Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 39.51).  Mẹ không buông xuôi để chỉ thẫn thờ suy niệm, cũng chẳng sống theo kiểu tới đâu thì tới.  Mẹ trở lại với cuộc sống thường ngày và lòng Mẹ phó thác các biến cố ấy trong tay Thiên Chúa.  Lặp lại cùng một nhận định trong trường hợp của Thánh Giuse vừa suy niệm bên trên: cuộc sống của Mẹ bị Thiên Chúa làm đảo lộn ngay từ giây phút sứ thần truyền tin, để từ đó lớn lên trong thử thách, bền tâm trong khổ đau và trưởng thành trong tình mến.  Mẹ và Thánh Giuse đã “lớn lên, bền tâm và trưởng thành” thể nào thì xin cũng giúp chúng con “lớn lên, bền tâm và trưởng thành” trên con đường vác Thánh Giá cuộc đời thể ấy.

Liên tục và xuyên suốt bài suy niệm này, tôi đặt mình trong bối cảnh vác Thánh Giá từ giây phút truyền tin cho Mẹ Maria và Thánh Giuse, đến đây như thể kết thúc chặng đàng Thánh Giá: Mẹ dưới chân thập tự.  Mẹ đứng đó, dưới chân thập giá, nghe không biết bao những lời chua chát từ miệng đời. Trong trường hợp của Mẹ, tôi đã tự mình chất vấn hay chưa: “Sao con người lại để chuyện này xảy ra, SAO CON NGƯỜI ÁC THẾ”?  Cuối chặng đường thương khó của Chúa Con, “Việc ấy được xảy đến thế nào vì tôi không biết…”, Mẹ không biết làm thế nào để hiệp thông cùng Con trong giây phút thương khó ngoại trừ việc chẳng làm gì cả: Mẹ đứng nhìn và sau đó theo Gioan về nhà.  Mẹ Maria có bí quyết để vượt qua đỉnh điểm của đau khổ, giờ đây bạn và tôi cùng rước Mẹ về nhà, để trong sự lặng thinh đau khổ, tôi cũng như bạn chia sẻ nỗi khổ với Mẹ và Mẹ chia sẻ nỗi khổ với chúng ta.  Đã một lần Mẹ rơi vào cảnh tang tóc thương tâm ấy, chỉ có Mẹ mới thấu hiểu con cái của Mẹ đang cảm thấy thế nào.  Mẹ và chúng ta cùng chung một dòng máu: thân mình Chúa Kitô.  Chỉ khi cùng một loại máu mới truyền được cho bệnh nhân, thì Mẹ cũng truyền cho tôi sinh lực trong ơn Chúa để vượt qua những nỗi đau của đời tôi thể ấy.

Lúc này Mẹ Maria và Thánh Giuse cùng chia sẻ niềm vui trong Chúa vinh quang.  Nói thì dễ, nhưng thật sự để có được hạnh phúc ấy, Mẹ và Thánh Giuse đã phải vác Thánh giá từ thuở truyền tin.  Thánh giá cuộc đời của Mẹ và Thánh Giuse sẽ mãi mãi là thánh giá khổ đau nếu Chúa Giêsu không hiến tế chính bản thân và sống lại: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.  Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người” (1Cr 15,20.23).  Mùa Chay trong nhịp sống phụng vụ hôm nay diễn tả con đường Thánh Giá, không chỉ là Thánh Giá của Chúa Giêsu, nhưng còn là Thánh Giá của Mẹ Maria và Thánh Giuse và có cả Thánh Giá của từng gia đình, của từng người, do đó tôi không đơn côi trên hành trình vác Thánh giá. “Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, ta sẽ cùng sống lại với Người” (2Tm 2,11). Amen.

A servant of the Paraclete

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

DÕI THEO BƯỚC CHÚA (có Youtube)

Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu Chai-san đã được bố cho đi theo một đoàn lữ hành phải vượt cao nguyên trùng điệp với những đỉnh đồi, những ngọn núi vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.  Đêm đến đoàn lữ hành trú ngụ trong những chiếc lều vải thô sơ.  Một đêm nọ cậu bé Chai-san cảm thấy có một sức mạnh từ bên trong thúc đẩy cậu trốn ra khỏi lều.  Và kìa, giữa miền núi cao, bầu trời đầy trăng sao lấp lánh như bao trùm lấy cậu.  Một cảm giác hạnh phúc nhẹ nhàng xâm chiếm tâm hồn Chai-san.  Cậu có cảm tưởng như cả vũ trụ xinh đẹp này đã được tạo dựng để ban tặng cho cậu, và nó đang nâng tâm hồn cậu lên với Đấng Tạo Hóa.

Bỗng chốc bầu khí yên tĩnh và an bình bị xáo trộn vì tiếng gọi của người cha: “Chai-san, mày trốn đi đâu rồi?  Trở vào lều đi”.  Chai-san miễn cưỡng trở vào lều và tiếc nuối nói với cha: “Bố ơi, bầu trời trăng sao đẹp quá chừng!”.

Thưa anh chị em,

Trong truyền thống Thánh Kinh cũng như trong hầu hết các tôn giáo, núi cao thường được xem như là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa Thần Linh và con người.  Những mạc khải quan trọng trong Kinh Thánh đều diễn ra trên núi cao.  Môsê đã được kêu mời lên núi Sinai để gặp gỡ Giavê Thiên Chúa và đón nhận lề luật cho Dân Chúa.  Êlia đã ròng rã 40 đêm ngày lên núi Horeb để gặp Chúa.  Êlisê cũng lên núi Carmel để gặp Chúa.  Và Chúa Giêsu cũng khởi sự đời công khai bằng 40 đêm ngày chay tịnh trên núi cao, rồi trong ba năm sứ vụ, Ngài vẫn thường lặng lẽ một mình lên núi để cầu nguyện cùng Cha Ngài.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ba môn đệ thân tín nhất lên núi Thabor để tỏ vinh quang của Ngài cho các ông.  Từ trên núi cao, Phêrô, Giacôbê, Gioan đã nhận ra được con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu.  Từ trên đỉnh cao, các ông thấy vinh quang của ngài như một lời hứa được thực hiện, như thành tựu của một sứ mệnh, như đích điểm của một con đường, con đường thập giá dẫn đến vinh quang.

Thế nhưng, người ta không lên núi cao để ở lại đó, mà là để nhìn rõ hơn con đường phải đi.  Đối với Chúa Giêsu, con đường phải đi đó chính là con đường lên Giêrusalem với cuộc tử nạn đang chờ đợi Ngài.  Và Ngài đã xuống núi để giáp mặt với cuộc đời, để tiếp tục hành trình xuyên qua khổ nạn và cái chết thập giá.  Từ trên núi cao, Chúa Giêsu cũng muốn đưa ba môn đệ thân tín của Ngài trở lại cuộc đời, trở lại với những thử thách, chống đối đang chờ đợi trước mắt các ông.

Thật vậy, cuộc tỏ vinh quang của Chúa Giêsu trên núi đã xảy ra sau khi Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.  Lời tuyên xưng này lại gắn liền với lời Chúa Giêsu loan báo cuộc Thương Khó của Ngài và kèm theo lời mời gọi: “anh em hãy bỏ mình, vác thập giá đi theo Thầy” (Mt 16,24).  Vậy là đúng vào lúc các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Đấng Cứu Thế, thì trước mắt các ông hình ảnh một Đấng Cứu Thế oai hùng lẫm liệt theo các ông quan niệm, bắt đầu tan biến, để hiện ra một Đấng Cứu Thế đau khổ, bị đày đọa, bị khai trừ, bị giết chết.  Hình ảnh đó thật là khó hiểu đối với các môn đệ, vì lòng tin của các ông còn mộc mạc, phàm tục.  Cho nên, chẳng lạ gì, Phêrô đã lên tiếng khuyên can Chúa Giêsu đừng đi theo con đường đau khổ đó làm gì.  Nhưng thật không may cho ông, vì Chúa Giêsu cứ khăng khăng một mực, lại còn quay sang mắng ông: “Satan, cút đi!”  Vì ông đã tự đồng hóa với Satan cám dỗ Chúa trong sa mạc.

Rồi bây giờ thì lại cũng chính Phêrô đã dám đề nghị cắm lều ở lại trên núi Thabor, vì ở đây sướng quá, khỏi phải đi qua con đường đau khổ mà ông đã khuyên can Thầy.  Nhưng rồi, mở mắt ra, ông thấy chỉ còn một mình Chúa Giêsu trên đỉnh núi.  Ánh sáng rực rỡ đã tan biến, và Chúa Giêsu còn đánh thức các ông dậy, giục các ông xuống núi, đi lên Giêrusalem với Ngài để chịu tử nạn như Thầy đã báo trước.

Chính trong giờ phút biến hình rực rỡ vừa rồi, ông Môsê và ngôn sứ Elia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về “cuộc ra đi” Ngài sắp hoàn thành tại Giêrusalem, và tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.  Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài”.  Lời đó chính là để công nhận, để tán thành bước đường vượt qua đau thương của Chúa Giêsu, và mời gọi các môn đệ hãy đi theo Thầy.  Vì thế, mấy Thầy trò lại xuống núi.  Và Phêrô cũng như các môn đệ khác phải đi theo sau Thầy qua con đường khổ nạn thập giá mới đến ánh sáng vinh quang Phục Sinh.

Không phải không có lý do mà phụng vụ năm nào cũng đặt bài Tin Mừng Chúa hiển dung sáng láng hôm nay vào giữa Mùa Chay.  Giáo Hội muốn đưa chúng ta lên núi, hé mở cho chúng ta chiêm ngưỡng một chút vinh quang phục sinh của Chúa Giêsu, để chúng ta thêm tin tưởng vào Ngài, để chúng ta có những giây phút nghỉ ngơi lấy sức trước khi xuống núi, trở về với cuộc sống bình thản trên các nẻo đường phẳng lặng hay đầy sóng gió đưa đến núi Can-vê.  Chúng ta cần được Chúa đến gần, đưa tay đập vào người như “đã đến gần, vỗ vào người các môn đệ”, để thức tỉnh chúng ta, để chúng ta biết chuẩn bị sẵn sàng đón nhận mọi gian nan đau khổ trên đường đời.

Con đường Thương Khó của Chúa khởi đầu từ khi Ngài xuống núi.  Rồi đây, Ngài cũng sẽ biến hình “không còn hình tượng người ta nữa”, để dạy chúng ta biết phải đi qua con đường thập giá mới đến vinh quang khải hoàn sống lại.  Trong ngôn ngữ La-tinh, người ta chơi chữ: “Per crucem ad lucem”, nghĩa là “qua thập giá đến ánh sáng”.  Qua Thứ Sáu Tử Nạn mới đến Chúa Nhật Phục Sinh.  Đường thánh giá không dừng lại ở nấm mồ, nhưng mở ra trong niềm vui tưng bừng của ngày sống lại.  Đó là quy luật của muôn đời.

Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta, cũng có những giây phút chúng ta được đưa lên núi cao để gặp Chúa, núi cao của Thánh lễ, núi cao của những giờ phút dành cho việc cầu nguyện.  Nhưng chúng ta không lên núi để ở đó mãi, mà là để trở lại với cuộc đời với muôn thử thách, đắng cay, với những gặp gỡ từng ngày.  Chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, chấp nhận chiến đấu mà không buông xuôi bỏ cuộc, sống như thể là tiếp tục con đường Chúa Giêsu đã đi qua.  Chấp nhận những người anh em chúng ta gặp gỡ trên đường đi, chấp nhận những khác biệt, những bất toàn của người anh em cùng đồng hành, sống như thể là dõi bước theo đường Chúa đã đi qua.

Xin ánh sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn bước chúng ta trên đường, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn từng phút giây cuộc sống.  Xin ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô chiếu dọi và hướng dẫn cuộc hành trình đức tin của chúng ta được tiếp tục trên dấu chân của Ngài.

R. Veritas
Trích từ “Niềm Vui Chia Sẻ”

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐI VÀO MÙA CHAY (có Youtube)

Biết căn nguyên của một từ đôi khi rất hữu ích.  Theo ngôn ngữ học, trong tiếng Anh cổ, mùa chay có nghĩa là mùa xuân.  Theo tiếng La-Tinh, mùa chay có nghĩa là chầm chậm.  Như vậy, theo từ nguyên học, mùa chay báo gọi mùa xuân đến và mời gọi chúng ta giảm nhịp sống để nhìn lại cuộc đời mình.

Dù qua cách nghĩ thông thường, mùa chay mang một vài nét cổ truyền nhưng mùa chay chính là thời gian kêu gọi chúng ta chay tịnh, gạt qua những thú vui thông thường và lành mạnh nào đó để chuẩn bị tốt hơn cho đại lễ Phục Sinh.

Một trong những hình ảnh giúp ích cho điều này là ý niệm về Sa Mạc trong Kinh Thánh.  Qua Kinh Thánh chúng ta biết rằng, để chuẩn bị cho việc rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đi vào sa mạc bốn mươi đêm ngày để chay tịnh và, theo Phúc Âm thánh Mác-cô, Đức Giêsu còn chịu Xa-tan cám dỗ, sống với thú hoang, và được các thiên thần che chở.

Mùa Chay luôn được hiểu là thời gian chúng ta noi theo Đức Giêsu, một cách ẩn dụ Đức Giêsu trải qua bốn mươi ngày trong sa mạc, không sống bằng thực phẩm thông thường, để có thể đối diện với “Xa-tan,” “thú hoang” và thấy “các thiên thần” hiện đến, che chở khi chúng ta không còn tự lo cho mình được nữa.

“Xa-tan” và “thú hoang” ám chỉ đặc biệt đến các xáo trộn trong tâm hồn mà chúng ta thường hay phủ nhận hoặc đơn giản không dám đối diện – đó là các chứng hoang tưởng, nổi giận, ghen tương, xa lánh mọi người, ảo tưởng, tự kiêu, ham muốn, những tổn thương chưa lành, rắc rối trong đời sống tình dục, không có khả năng cầu nguyện, kém lòng tin, và các che giấu về mặt đạo đức.  Thực phẩm thông thường làm sao nhãng cuộc sống, nó che không cho chúng ta đối diện với các xáo trộn sâu kín núp bóng dưới bề mặt cuộc sống.

Mùa chay kêu gọi chúng ta ngưng dùng các thực phẩm này, các thực phẩm ngăn không cho chúng ta đối diện với cô tịch trong tâm hồn.  Mùa Chay kêu gọi chúng ta đối diện với bé mọn, yếu mềm, e sợ của mình, và mở lòng để thấy cái xáo trộn của sa mạc, để các thiên thần có dịp nuôi sống chúng ta.  Đó là lý tưởng Ki-tô giáo về mùa chay, đối diện với chính những xáo trộn của mình.

Để bổ sung, tôi đề nghị ba hình ảnh đầy tính thần thoại, mỗi hình ảnh giúp giải thích một khía cạnh của mùa chay và việc giữ chay:

Trong mỗi nền văn hóa đều có các câu chuyện cổ, các huyền thoại dạy chúng ta lúc này lúc kia trong đời, phải biết ngồi giữa tro tàn.  Chẳng hạn, ai cũng biết chuyện Cô Bé Lọ Lem.  Theo nghĩa đen Cinderella có nghĩa là cô bé (puella) ngồi trong tro tàn (cinders).  Bài học rất rõ ở đây là: Trước khi trở nên xinh đẹp, trước khi có thể kết hôn với hoàng tử hay công chúa, trước khi đi dự tiệc, trước hết bạn phải nếm trải thời gian ở một mình giữa tro tàn nhem nhuốc, hèn mọn, quay về với với bụi đất và chờ đợi.  Mùa chay là mùa dành thời gian ngồi trong tro tàn.  Không ngẫu nhiên khi chúng ta bắt đầu Mùa Chay bằng việc xức tro lên trán.

Thứ hai là hình ảnh ngồi dưới sao Thổ, làm đứa con của sao Thổ.  Người xưa tin rằng sao Thổ là sao của buồn chán, u sầu.  Do đó không ngạc nhiên khi thấy ai đó rơi vào bùa mê của nó, chính xác khi họ cảm thấy buồn và thất vọng.  Thật vậy, người xưa tin rằng trong đời, ai cũng phải trải qua một khoảng thời gian nào đó làm đứa con của sao Thổ, nghĩa là, ngồi trong buồn chán, nặng nề, kiên nhẫn chờ đợi để một điều quan trọng nào đó tự biến chuyển trong tâm hồn mình.  Thỉnh thoảng những người lớn tuổi hay các vị Thánh cũng tự nguyện đặt mình ngồi dưới sao Thổ, như Đức Giêsu đi vào sa mạc, họ sẽ ngồi trong tình trạng buồn chán, nặng nề, hi vọng rằng, nỗi u sầu này có một ý nghĩa đưa họ đến một chiều sâu nội tâm mới mẻ nào đó.  Đó cũng là chức năng của mùa chay.

Cuối cùng một hình ảnh quý giá, lưu truyền trong những thần thoại cổ xưa, hình ảnh các giọt nước mắt nối kết chúng ta lại với dòng chảy cuộc đời, với nguồn mạch sự sống.  Nước mắt, như chúng ta biết, là nước muối mặn.  Không phải không có ý nghĩa sâu sắc.  Đại dương là nước muối mặn và, như chúng ta biết, tất cả sự sống đều bắt nguồn từ đó.  Vì vậy, trong ý tưởng nhiệm mầu và nên thơ, nước mắt nối kết chúng ta lại với nguồn mạch sự sống, nước mắt tái sinh, thanh lọc chúng ta trong sự tận hiến cuộc đời, và nước mắt làm tâm hồn sâu đậm, để tâm hồn nếm trải nguồn mạch sự sống.  Với sự thật đó, và khi tất cả chúng ta đều trải nghiệm sự thật đó, nước mắt chính là đi vào sa mạc để chay tịnh, là vật dẫn truyền đến chiều sâu mới mẻ của tâm hồn.

Sự cần thiết của mùa chay được trải nghiệm khắp nơi: Nếu không được thăng hoa thì có thể chúng ta sẽ không bao giờ đạt được cái siêu phàm.  Để thật sự đi vào đại tiệc trước hết phải có chay tịnh.  Để đi vào Phục Sinh một cách đúng đắn trước hết phải có một khoảng thời gian của sa mạc, tro tàn, buồn chán và nước mắt.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

BA MÓN ĂN MÙA CHAY (có Youtube)

Không biết từ bao giờ, trong ngôn ngữ nhà đạo, hai quy định về ăn chay và kiêng thịt đã đứng chung với nhau trong một cụm từ và trở thành nét thực hành đạo đức tiêu biểu của các tín hữu Việt Nam trong Mùa Chay.  Nhưng chỉ biết đích xác rằng kể từ ngày 16 tháng 6 năm 1934, tại Sàigòn, Đức cha Dumortier đã ra một kinh bổn bằng thơ lục bát hẳn hòi hai mươi hai câu, quy định tên những loại chim, không chỉ được phép ăn trong dịp chay kiêng, mà xem ra còn gợi ý khuyến khích: “Đặt làm một bổn ra đây, Những ngày kiêng thịt, chim này nên ăn.  Ai ai cũng phải siêng năng, Đọc cho thuộc lảu kẻo ăn mà lầm”.

Kể cũng vui.  Bốn mươi mốt thứ chim nêu ra trong bổn kinh ấy thật đa dạng: con có (con cót); thằng có (thằng cộc, thằng nông, thằng bè, thằng chài); già có (già đây); lão có (lão nhược).  Thôi thì đủ cả.  Song những thứ chim ấy hiện nay không còn nhiều, có loại đã từ lâu vắng bóng trên cánh đồng Việt Nam, có loại đã trở thành quý hiếm, chỉ xuất hiện trên thực đơn của các nhà hàng quý tộc.

Không sao.  Dù chẳng còn chim trên bàn ăn trong những ngày kiêng, nhất là sau dịch cúm gia cầm, tín hữu vẫn cứ bước vào Mùa Chay với Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh “ăn chay kiêng thịt” theo Giáo luật quy định đường hoàng.  Để bù lại sự thiếu vắng ấy, xin đề nghị ba món ăn khác, là đặc sản đồng thời cũng là nhu yếu phẩm bổ dưỡng của Mùa Chay.

  1. Món thứ nhất: Ăn chay cầu nguyện

Tất nhiên, Mùa Chay phải có “ăn chay”, nhưng ăn chay như thế nào mới là chuyện đáng nói.  Ngày xưa, quan niệm về ăn chay thường đặt nặng chữ “ăn” đến nỗi quy định rạch ròi cả giờ giấc lẫn liều lượng như “sáng sơ, trưa no, chiều đói” hoặc tổng quát hơn như “một bữa no, hai bữa đói”, khiến đám trẻ cứ ngẩn tò te thòm thèm ăn vụng, và cánh người lớn xem ra cứ phải kiếm việc gì đó để làm cho qua cơn vật vã. Ngày nay, cách nhìn về ăn chay đã khác, không đặt nặng chữ “ăn” nữa, nhưng nhấn tới chữ “chay” nhiều hơn.  Người ta vẫn giữ chay theo quy định từ xưa, nhưng “văn hóa ẩm thực” ấy đã được lồng trong “văn hoá tình thương”.  Người ăn chay không giảm bớt khẩu phần để có dư một chút mà bỏ vào quỹ tiết kiệm sinh lời, nhưng đơn giản hóa bữa ăn thường ngày để thực tập đời sống khổ hạnh mà thông phần vào cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và để chia sẻ một phần đời sống của mình cho những anh chị em đang gặp phải cảnh túng quẫn cơ hàn.

Không phải vô tình mà món “ăn chay kiêng thịt” đã được đưa ra ngay từ đầu Mùa Chay, mà hữu ý cho thấy đây là món ăn cần có cho một bữa tiệc tâm hồn.  Người ta ăn chay không nguyên vì giá trị thực tiễn của việc ăn chay, mà vì khởi đi từ việc ăn chay ấy, sẽ nhận ra tiếng gọi đi sâu hơn nữa vào trong đời sống tiết chế, để nhìn lại bản thân mà gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân một cách mới mẻ hơn.  Chả thế mà cụm từ “ăn chay kiêng thịt” đã dần dà nhường bước cho những cụm từ “ăn chay hãm mình” hoặc “ăn chay cầu nguyện”, vốn là những kiểu nói diễn tả sinh hoạt tâm linh hơn là những sinh hoạt bên ngoài. Nghe thanh tao hơn và ý nghĩa cũng thanh thoát hơn.

Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai bằng việc ăn chay trong tinh thần chiến đấu và cầu nguyện ấy (Lc 4,1-4).  Người vào sa mạc giữa không gian cát đá, chịu đói khát để kiểm nghiệm thân phận yếu đuối loài người.  Người cắt đứt với những thói quen thường nhật để rút lui từ cõi tĩnh lặng cầu nguyện.  Người trút bỏ mọi nhu cầu ăn uống để chỉ nhận thấy một nhu cầu chính đáng là đói khát sự vô biên.  Không bận vướng điều gì bên ngoài, Người chỉ còn một bận tâm duy nhất là chu toàn thánh ý: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).  Như vậy, “ăn chay cầu nguyện” chính là điều kiện để bước sang cuộc sống mới mẻ hơn, không phải là để đổi món ăn cho hợp khẩu vị thời thượng, cũng không phải là để có vóc dáng thon thả theo yêu cầu thẩm mỹ “người mẫu thời trang”, mà là để gặp gỡ Thiên Chúa một cách tròn đầy hơn theo cung cách “người mẫu Tin Mừng”.

  1. Món thứ hai: Ăn năn sám hối

Nếu “ăn chay cầu nguyện” được xem là món chính, nặng về đời sống tâm linh, thì “ăn năn sám hối” phải được nhìn như món chuyên trị đời sống luân lý.  Ngày xưa các thánh ẩn tu thường kết hợp hai món ăn này để có sản phẩm “ăn chay đánh tội” vừa cầu kỳ, vừa ly kỳ khó có ai theo nổi.  Ngày nay cách chế biến có vẻ khéo hơn, nên người ta đã quen với loại thực phẩm tổng hợp mang tên “ăn chay lánh tội”, và vì thế mới dễ dàng đưa vào thực đơn Mùa Chay một món thiết yếu, chính là món “ăn năn sám hối”.  “Ăn năn sám hối” cũng là món ăn đấy thôi: món ăn màu tím.  Âm thanh có vẻ gợi đến một thức ăn loại củ như “củ năn củ khoai, củ mài củ sắn”, nhưng ý nghĩa lại vượt quá tầm vóc của hoa màu ruộng đất để trở thành lời tuyên xưng vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, “Đấng tìm kiếm và cứu chữa những gì đã bị hư đi” (Lc 19,10).

Không biết chữ nghĩa tự điển giải thích ra sao, nhưng từ góc độ Mùa Chay, “ăn năn sám hối” là một động từ bao gồm hai động tác không thể tách rời của một người chân thành kiểm điểm lại đời sống của mình trước mặt Thiên Chúa.  “Ăn năn” là động tác nhìn vào chính mình để nhận ra những tội lụy của một đời xa vắng, đã dẫn tới sa ngã và xa lìa tình thương của Chúa; còn “sám hối” là động tác nhìn lên Thiên Chúa để khám phá nơi Ngài một tình yêu như trái tim người cha, như tấm lòng người mẹ bao dung thương xót, cho ta được tin yêu mà hy vọng đổi đời.  “Ăn năn” giục ta nhìn lại quá khứ, “sám hối” dìu ta đến với tương lai.  Thiếu một trong hai động tác này, món ăn sẽ kém bổ dưỡng.  Chỉ  đăm đăm nhìn vào tội mình mà quên đi tình thương Thiên Chúa, sẽ có nguy cơ rơi vào thất vọng.  Cũng là hối hận, nhưng xem ra hối lỗi thì ít mà hận mình lại nhiều.  Ngược lại, chỉ hơn hớn nhìn lên Thiên Chúa mà chẳng màng chi đến lời nói “không” với tội lỗi mình, sẽ dẫn tới thái độ ỷ lại đeo bám.  Tiếng là hối cải, nhưng không biết hối lỗi, làm sao có thể cải thiện đời sống?

Nếu “không thánh nhân nào lại không có quá khứ, cũng như chẳng tội nhân nào mà không có tương lai”, thì ăn năn sám hối đã trở thành địa chỉ hội ngộ đổi đời.  Nói theo kiểu đong đưa của thánh Augustinô, ăn năn sám hối là điểm gặp gỡ giữa sự khốn cùng của tội lỗi con người với sự khôn cùng của tình yêu Thiên Chúa, giữa nỗi miseria của nhân loại với lòng misericordia của Thiên Chúa luôn sẵn sàng cứu độ.

Trong thực tế mục vụ Mùa Chay, món “ăn năn sám hối” được gặp thấy nơi tòa Giải Tội vốn là Bí tích của lòng thương xót, để nghe vẳng bên tai lời dịu dàng của Chúa Giêsu dành cho ông Giakêu năm nào: “Hôm nay Ta muốn ở lại nhà ông” (Lc 19,5); và “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ” (Lc 19,9).

  1. Món thứ ba: Ăn ngay ở lành

Hai món “ăn chay cầu nguyện” và “ăn năn sám hối” chỉ có thể phát huy tác dụng khi được phối hợp chặt chẽ với món “ăn ngay ở lành”, vốn là thực phẩm đời thường của bất cứ ai, nhưng lại là món ăn đạo giáo chẳng sai chút nào.  Thực ra, trong “ăn năn sám hối” đã  hàm chứa quyết định “dốc lòng chừa cải”, nhưng chính khi thực thi đổi đời bằng việc ăn ngay ở lành trước mặt Thiên Chúa và trước mắt loài người, tín hữu mới đi đến cùng trong những thực hành đạo đức Mùa Chay, Mùa Chay có xức tro trên đầu tỏ lòng sám hối và cũng có xức dầu thơm xây dựng nếp sống mới giữa cộng đoàn.  Đây không phải là thứ “tùy chọn” theo kiểu chọn thêm tính năng nơi các điện thoại di động hay gia giảm phụ tùng cho các đời xe, có thì sang hơn mà không có cũng chẳng kém cạnh gì.  Ngược lại, “ăn ngay ở lành” phải được xem như món ăn chính “nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” (x. Đỗ Trung Quân, Quê Hương).

Trong thường nghiệm, người ta sống không bằng những gì mình ăn vào, mà bằng những gì mình tiêu hóa được;  trong cuộc sống đức tin, người ta cũng chỉ minh chứng được sức khỏe tâm hồn khi thực hiện những nét đổi đời cụ thể như canh tân đời sống, hay đổi tính hạnh, định hướng lại cách cư xử cho mới đẹp hơn, tốt lành hơn, sáng trong hơn, thánh đức hơn… Có mấy lần người Giuđêa đến nhận phép Rửa, Gioan Tẩy Giả đã khuyên họ rất rõ rằng: “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối” (Mt 3,8).  Thiết nghĩ đó cũng chính là định hướng cho món ăn thứ ba ở đây.

Về mặt xã hội, “ăn ngay ở lành” là phẩm chất của một cuộc sống ngay thẳng, chẳng những không xâm phạm gì đến quyền lợi của bất cứ ai, vì biết trọng lẽ công bình; mà còn hiền lành trong cách cư xử, sẵn sàng thực thi bác ái liên đới với mọi kẻ xung quanh.  Vì thế, ăn chay cũng đồng nghĩa với ăn ngay ở lành, nếu không, thà “ăn mặn nói ngay” còn hơn!  Về mặt tôn giáo, “ăn ngay ở lành” còn là một chứng tá đức tin của những con người biết lấy đời sống trong sáng ngay lành của mình để chứng minh cho những người khác về sự hiện diện của một Thiên Chúa tốt lành đã thương kêu gọi mọi người đến với tình thương cứu độ.  Ăn ngay ở lành, theo nghĩa này, đã bỏ xa quy định “ăn chay kiêng thịt” để trình làng cả một biến tấu “kiêng ăn” kể ra không xiết: kiêng ăn gian ăn tham, ăn quỵt ăn bẩn, ăn trộm ăn cắp…

Với món “ăn ngay ở lành”, đạo không còn bị đóng khung trong khuôn viên nhà thờ nữa, mà đã thực sự mở ra với đời cho thênh thang sánh bước về nguồn cứu độ.  Cùng trong ý tưởng ấy, có lạc quan lắm không khi nghĩ rằng: một người nếu thiện tâm ăn ngay ở lành mong ơn cứu độ, sẽ có những điều thuận lợi để gặp được chính Chúa đúng thời đúng lúc, như cụ Simêon (Lc 2,25-32)?

Tóm lại, Mùa Chay mà chỉ nói chuyện ăn uống thì coi chừng bị quở “chước mốc, ma quỷ cám dỗ”, nhưng đề cập tới ba món đặc sản Phúc Âm quả cũng rất nên.  Của đáng tội, chỉ tại ngôn ngữ Việt Nam phong phú quá không thể không móc nối ghi nhận.  Song nói đi cũng cần nói lại.  Ba kiểu nói đều có chữ “ăn” thật đấy, nhưng không ăn bằng miệng mà ăn bằng lòng!  Ba món ăn nhưng chỉ một tấm lòng chân thành của người tín hữu tìm về trong Mùa Chay trước tấm lòng yêu thương ngàn đời của Thiên Chúa, để quyết tâm xây dựng một cuộc sống mới.  Cuộc sống ấy dù không khác với cuộc sống này nhưng theo một tinh thần khác, tinh thần của Phúc Âm.

Khi ăn khẩu vị sẽ đến.  Cầu chúc mọi người khi nhấm nháp những món ăn trên sẽ cảm nghiệm được khẩu vị thánh đức.  Và lòng hẹn lòng:

Ăn chay cầu nguyện đêm ngày,
Ăn năn sám hối giải bày tâm can,
Ăn ngay hợp với ở lành.
Mùa Chay ba món thực hành từ nay.

ĐGM Vũ Duy Thống (trích trong cuốn “Từng Bước Một Thôi”)
Nguồn: http://gpphanthiet.com

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

THỬ THÁCH VÀ LỰA CHỌN (có Youtube)

Trình thuật về các lần cám đỗ được coi như phần mở đầu giúp người tín hữu hiểu được điều sâu kín nhất trong tâm hồn Đức Giêsu.  Đó là một bản Tin Mừng thu gọn, một thứ hướng dẫn.  Những ai muốn hiểu rõ về cuộc đời công khai của Đức Giêsu, cần phải để ý điều này: nếu muốn hiểu biết điều gì trong đó, hãy luôn nhớ lại ba lựa chọn căn bản này của Đức Giêsu.

Cuộc thử thách và lòng trung thành

Thời gian 40 đêm ngày Đức Giêsu trải qua trong sa mạc đánh dấu việc khởi đầu một cuộc phiêu lưu, cuộc phiêu lưu của Giao Ước Mới.  Cuộc phiêu lưu này tái hiện quãng thời gian 40 năm dân Do-thái đã trải qua trong cuộc Xuất hành, đồng thời nhắc lại 40 ngày đêm ông Mô-sê đã ở trên núi Xi-nai.

Còn hơn thế nữa, khoảng thời gian này không chỉ là một cuộc khởi đầu, nhưng còn là một cuộc sáng tạo với những yếu tố như cuộc sáng tạo vũ trụ: sa mạc (miền đất trống rỗng, hoang vu), và sự thử thách.

Trong cuộc sáng tạo, A-đam đã phải chịu thử thách, đã đứng trước một lựa chọn, trong đó ông phải bày tỏ tự do của mình.  Cũng vậy, với biến cố hôm nay, với cuộc thử thách và lựa chọn trong sa mạc, Đức Giêsu đã bày tỏ tự do của mình, đã thể hiện sự gắn bó với Thiên Chúa, và cho thấy bản tính sâu xa của Người: Con Thiên Chúa và Con Loài Người.

Thực vậy, sa mạc và thử thách luôn là những cơ hội để bày tỏ lòng trung thành hay thái độ bất trung (A-đam, sự kiện con bò vàng …).  Lần đầu tiên trong suốt lịch sử cứu độ, Đức Giêsu thực hiện điều mà trước đây, cả A-đam lẫn ÍT-RA-EN không thể thực hiện: lòng trung thành với Thiên Chúa.

Nhờ sự trung thành với căn tính Con Người và Con Thiên Chúa, Đức Giêsu mở ra con đường cho Giao ước Mới, con đường đặt nền tảng trên lòng trung thành, một yếu tố mà con người có thể thực hiện được với nỗ lực và tự do của mình.  Và lòng trung thành này được biểu hiện qua việc nhìn nhận Lời Chúa là của ăn, nhìn nhận thánh ý Chúa Cha có giá trị ưu tiên tuyệt đối, nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất.

Một cuộc chiến đấu

Con người vẫn thường nghĩ về Đức Giêsu như Đấng có uy quyền, Đấng bày tỏ các mầu nhiệm và thực hiện những điều lạ lùng.  Về phần mình, Đức Giêsu lại đề ra một cuộc chiến đấu.

Quả thực, qua các cám dỗ tại sa mạc, Đức Giêsu đã thể hiện trọn vẹn tính cách con người.  Mặc dù có thể, Người đã không sử dụng các phép lạ cho riêng mình để loại bỏ đi những yếu tố vẫn gắn liền với thân phận con người.

Đức Giêsu muốn uống lấy chén đắng, Người muốn cứu nhân loại chứ không cứu lấy bản thân mình.  Chính ý tưởng này còn đưa đến cho Người nhiều thử thách khác, không kém phần cam go, nhưng Người đã vượt qua.  Thử thách cuối cùng là cái chết, Người cũng đã đón nhận, bởi vì Người hiểu rằng, chính trong tâm tình tự hiến vì yêu thương, Người nhận lấy vinh quang của cuộc chiến đấu, đồng thời đem lại vinh quang cho tất cả những ai bền lòng vững chí.

Suốt cuộc đời của Đức Giêsu là một cuộc chiến đấu liên lỉ chống lại sự dữ, chống lại quyền lực xấu xa đang đè nặng trên cuộc sống của con người.  Người muốn giải phóng họ khỏi những quan niệm, những cách sống đang làm vướng bận mối tương giao của họ với Thiên Chúa, hay làm cho mối tương giao đó không được trong sáng, không đạt tới ý nghĩa thâm sâu.  Chẳng hạn như sau khi chứng kiến phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng đã muốn tôn Người làm vua, nhưng Người đã lánh đi (Ga 6,15), hoặc khi Phê-rô lên tiếng can ngăn Đức Giêsu, xin Người đừng lên Giê-ru-sa-lem, Người đã không xiêu lòng trước thử thách, nhưng đã quyết liệt khước từ và nặng lời trách móc Phê-rô (x. Mt 16,23).

Như thế, Đức Giêsu không muốn sống an toàn, trái lại, Người lao vào một cuộc đấu tranh, chấp nhận những mất mát thua thiệt về phía mình, kể cả sự sống.  Người hiểu rằng, để khai sinh một nhân loại mới, một ý nghĩa mới cho cuộc sống của con người, cần phải chiến đấu, phải hy sinh, phải liều lĩnh.  Nếu không có can đảm vượt lên trên cái nhìn bình thường, vượt lên trên sự an toàn cho riêng mình, thì nhân loại không thể nào được cứu vớt, được giao hoà với Thiên Chúa.

Cuối cùng, cuộc chiến đấu này đã dẫn đưa Người tới cái chết trên thập giá, và Người đã chiến thắng nhờ sự Phục sinh.  Sự kiện này cho thấy rằng cuộc chiến đấu của Người không phải là vô nghĩa, và con người có thể đạt tới chiến thắng vinh quang nhờ lòng trung thành, nhờ thái độ tuân phục thánh ý Thiên Chúa.

Vì vậy, xét theo cái nhìn bình thường, Đức Giêsu đã hành động như là không yêu mến con người; Người đã mở ra một cuộc chiến và mời gọi họ dấn thân, chứ không đem đến cho họ sự an toàn.  Tuy nhiên, chính cuộc chiến do Đức Giêsu khởi đầu lại là con đường duy nhất để đạt tới vinh quang đích thực.  Trong cuộc chiến đấu của mình, Đức Giêsu đã liên đới với tất cả những người đau khổ, liên đới với thân phận làm người của nhân loại; Người hành động như thế vì yêu mến họ, yêu mến cách tận tình, muốn đưa họ tới sự sống chân thật.  Bình an do Đức Giêsu đem đến là bình an được chiếm đoạt bằng sức mạnh, bằng sự trung tín với Lời Chúa.

Chiến dấu từng ngày và suốt đời

 Ba cám dỗ, hay ba chọn lựa, vẫn thường xảy ra trong suốt dòng lịch sử.  Mỗi người sẽ gặp phải những thử thách và họ sẽ ngã gục như A-đam và dân It-ra-en, nếu họ không nhìn vào Đức Giêsu, và không noi theo gương của Người.

Cuộc chiến đấu ấy, thử thách ấy vẫn diễn ra cách này cách kia theo nhiều hình thức khác nhau; mỗi thời mang một vẻ khác, mỗi giai đoạn lại có vẻ tế nhị hơn, quyết liệt hơn, nhưng bao giờ cũng vẫn là sự chọn lựa giữa Thiên Chúa và trần gian.  Đó là một cuộc chiến đấu dài, rất dài, không bao giờ chấm dứt; người ta phải chiến đấu đến giây phút cuối cùng, mà không được quyền bỏ cuộc, rút lui.

Vậy, đâu là những thử thách vẫn thường xảy ra mà không khi nào Đức Giêsu nhượng bộ?

Thứ nhất: Con người được dựng nên không phải chỉ vì những lương thực trần gian.  Họ còn có những lương thực thiêng liêng và chính thứ lương thực này mới cần thiết.

Thứ hai: Con người được dựng nên không phải để cảm nghiệm về Thiên Chúa mà thôi.  Họ cần phải hiệp thông với Người, như một đứa con, với lòng tin tưởng tuyệt đối.  Đó không phải là mối tương giao đặt nền tảng trên lòng yêu mến.  Họ ở trong Người, không một chút nghi ngờ, không một khoảng cách.

Thứ ba: Con người được dựng nên không phải để thống trị anh em mình, không phải để bắt người khác thần phục mình.  Trái lại, mọi người đều là con một Cha; tất cả đều quy hướng về Thiên Chúa.  Hơn nữa, họ không được dựng nên để phục lạy các ngẫu tượng, nhưng là để thờ phượng Thiên Chúa:

Như vậy, vấn đề được đặt ra chính là căn tính của con người.  Họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi và Ba Ngôi Chí Thánh không ngừng làm cho họ nên giống hình ảnh của Người.  Đó là chương trình đã có từ thời sáng thế, và hôm nay vẫn đang được thực hiện.  Chương trình này vẫn đang bị đe doạ vì những ham muốn chống đối của con người, và Thiên chúa không ngừng bày tỏ lòng yêu thương của Người:

Chính trong việc cử hành Thánh Thể,
Đức Kitô ban mình làm lương thực để nuôi sống con người.
Đức Kitô xoá tan mọi khoảng cách và nghi ngờ,
Ngài đến ở với chúng ta qua việc rước lễ.
Đức Kitô quỳ gối trước mặt chúng ta,
rửa chân cho chúng ta,
biến chúng ta thành một dân biết phục vụ,
sắn sàng quỳ gối để rửa chân và giúp đỡ người khác.

Con người không được dựng nên cho riêng mình.  Cộng đoàn ngày Chúa Nhật là cơ hội để chúng ta thấy rõ căn tính của mình.  Trong cộng đoàn này, chúng ta chia sẻ với nhau những thành quả do cuộc chiến đấu của Đức Kitô, đồng thời trở nên hình ảnh của Thiên Chúa.

Đi vào Mùa Chay
là cùng với Đức Kitô
lao vào cuộc chiến đấu.
để bày tỏ lòng trung thành
đặt nền tảng trên Lời Chúa.

G. Nguyễn Cao Luật

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

BƯỚC VÀO MÙA TẬP LUYỆN CHIẾN ĐẤU THIÊNG LIÊNG (có Youtube)

Lễ Tro, khai mạc Mùa Chay Thánh, bằng nghi thức làm phép tro và mỗi người nhận tro trên đầu, cùng lúc đó sẽ nghe được một trong hai câu Lời Chúa: Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng, hoặc: Ta là thân cát bụi sẽ trở về cát bụi (SLRM).

Mỗi khi Mùa Chay về, chúng ta nghe văng vẳng bên tai lời Chúa mời gọi: “Các ngươi hãy thật lòng trở về với Ta trong chay tịnh, nước mắt và than van” (Joel 2,12).

Như thế, hai ý tưởng trong Mùa Chay Thánh luôn song hành với nhau, thứ nhất: chúng ta là những con người yếu đuối, tội lỗi; thứ hai: Thiên Chúa là Người Cha giàu lòng thương xót, Ngài luôn yêu thương chúng ta, Ngài sẵn sàng tha thứ và ban cho chúng ta sức mạnh với tình thương.  Vì yếu đuối nên cần đến ơn Chúa, vì tội lỗi nên muốn được Chúa thứ tha, nhưng để lãnh nhận được ơn tha thứ thì cẩn phải trở về với Thiên Chúa trong cầu nguyện, trong chay tịnh và nước mắt, hướng tới tha nhân.  Đó là ba việc phải làm trong Mùa Chay Thánh:

Ăn chay
Cầu nguyện
Và bố thí

Là ba việc cần phải làm trong Mùa Chay, vì nó diễn tả ba chiều kích, ba mối tương quan giữa đương sự với Thiên Chúa và với anh em.  Tương quan với Thiên Chúa là cầu nguyện, với tha nhân là bố thí và với chính mình là ăn chay.  Ba tương quan này đồng hành với nhau và thể hiện cùng một lúc trong đời sống thường nhật của người kitô hữu.

Để ba tương quan này gắn kết với nhau, điều kiện đã được Chúa Giêsu nói rõ đó là: nội tâm.  Những việc chúng ta làm trong Mùa Chay xuất phát từ sâu thẳm của tâm hồn hướng lên Thiên Chúa và hướng đến anh em, chứ không phải là hình thức bên ngoài.  Vì thế, ăn chay, cầu nguyện cũng như bố thì là những việc được làm vì đẹp lòng Chúa, chứ không phải cho người ta thấy.

Trước hết phải khiêm nhường

Ăn chay, tiếng La tinh là jejunium, nghĩa là: “tự nhịn bất kỳ thức ăn nào.”  Khi nhịn chay, con người nhận ra mình lệ thuộc vào Thiên Chúa, “hạ mình” trước mặt Chúa, vì cảm thấy mình mỏng giòn, yếu đuối  như tác giả Thánh vịnh nói: “Phần tôi, những ngày chúng đau yếu, tôi đã từng khoác áo nhặm vào thân, lại ăn chay để hãm mình phạt xác, lòng tôi ấp ủ câu kinh lời nguyện” (Tv 34, 13).

Khiêm nhường khi ăn chay còn để Chúa thấy rằng chúng ta chẳng là gì nếu không có Chúa và thiết tha kêu cầu Chúa: “Bấy giờ tất cả con cái Ít-ra-en và toàn dân đã lên Bết Ên; họ ngồi khóc tại đây trước nhan Ðức Chúa.  Hôm ấy họ ăn chay cho đến chiều.  Rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an lên trước nhan Ðức Chúa” (x. Tl 20, 26); “Vua Ða-vít cầu khẩn Thiên Chúa cho đứa trẻ, vua ăn chay nhiệm nhặt, và khi về nhà ngủ đêm thì nằm dưới đất; Vua trả lời: “Bao lâu đứa bé còn sống, ta ăn chay và khóc lóc vì ta tự bảo: “Biết đâu Ðức Chúa sẽ thương xót ta và đứa bé sẽ sống!” (2 S 12, 16.22), nhất là nhận biết mình là tội lỗi, là hư vô và cầu xin ơn Chúa thứ tha: “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Dn 9, 3).  Việc giữ chay thể xác chỉ có ý nghĩa khi nhịn ăn đi kèm với việc tránh xa tội lỗi: “Chúng nói: “Chúng tôi ăn chay, sao Ngài không thấy, chúng tôi hãm mình, sao Ngài chẳng hay?”…  Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế?  Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Ðức Chúa?  Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? ” (x. Is 58, 1-12), nếu không nó chỉ là phô trương.

Đừng phô trương

Chính Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Các người hãy cẩn thận, đừng phô trương công đức trước mặt người ta để cho thiên hạ trông thấy… khi các người bố thí, thì đừng thổi loa báo trước, như bọn giả hình làm ở nơi hội đường và phố xá, để cho người ta ca tụng…  Các ngươi có bố thí thì làm sao đừng để tay trái biết việc tay phải làm, để việc ngươi bố thí được giữ kín.  Và Cha ngươi, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, sẽ trả công cho ngươi” (Mt 6, 1-6).

Trong Kinh Thánh, Chúa tố cáo mạnh nhất cái vẻ bề ngoài, hay là giả hình.  Vi khi giả hình, con người giáng cấp Thiên Chúa, họ đặt Ngài xuống hàng thứ hai, đặt tạo vật, công chúng lên chỗ nhất: “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (1 Sm 16, 7).  Trau dồi dáng vẻ bên ngoài của chúng ta hơn tâm hồn chúng ta có nghĩa là coi người phàm trọng hơn Thiên Chúa.

Như vậy, vẻ bề ngoài hay sự giả hình tự bản chất là một sự thiếu đức tin: nhưng đó cũng là một sự thiếu đức bác ái đối với tha nhân theo nghĩa nó có xu hướng qui những con người thành những kẻ say mê.  Sự giả hình không công nhận phẩm giá thích đáng của họ, nhưng thấy họ tùy thuộc hình ảnh của chính mình.  Thiếu đức tin và thiếu đức bác ái, việc làm sẽ trở nên vô ích, nên không có được công phúc gì.

Sống cậy trông vào Chúa

Sai lầm lớn nhất của nền văn hóa hiện nay là tin rằng con người có thể có hạnh phúc mà không cần Thiên Chúa.  Như thế khi loại bỏ điều sâu thẳm trong con người, người ta chối bỏ điều liên kết con người với Thiên Chúa là Đấng ban sự sống… theo Đức Thánh Cha Phanxicô, đó là một tội ác, vì tước mất của người nghèo sự hiện diện của Thiên Chúa, mà cũng vì xem rằng con người có thể sống như thể không có Thiên Chúa, phủ nhận chiều kích thụ tạo và sự lệ thuộc của con người vào Thiên Chúa, không cậy dựa vào Chúa (x. Sứ điệp Mùa Chay 2014).

Người nghèo bị tước mất Thiên Chúa, và người giầu không cần đến Thiên Chúa, cả hai hạng người này đều được Giáo hội quan tâm.  Giáo hội nhìn đến những ai đang thiếu thốn, không chỉ do nỗi khốn khổ về tâm linh, vốn thường ẩn chứa trong lòng mọi người và làm cho họ day dứt, dù họ có nhiều của cải…  Khốn khổ vật chất là sống trong điều kiện không xứng với phẩm giá con người.  Khốn khổ luân lý là nô lệ cho thói xấu và tội lỗi, có thể dẫn đến khốn khổ vật chất, và luôn đi đến chỗ khốn khổ tâm linh, đó là khi người ta xa rời Thiên Chúa, khước từ tình yêu của Ngài.

Đó là lý do mùa chay năm nay Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi chúng ta suy tư lời của thánh Phaolô : “Thực vậy, anh chị em biết lòng quảng đại của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta: Ngài giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo vì anh chị em, để anh chị em trở nên giàu sang nhờ cái nghèo của Ngài” (2 Cr 8,9).  Sự giàu có đích thực của Chúa Giêsu là phận làm Con Thiên Chúa, đã nên người nghèo khó để chúng ta được làm con Thiên Chúa, trở nên giàu có nhờ sự khó nghèo của Ngài.  Con người giầu vì được làm con Thiên Chúa theo bản tính.  Con Thiên Chúa thấy cái nghèo của chúng ta, nên đã thi hành ý Chúa Cha, hạ mình nhập thể, chịu chết, sống lại để cứu chuộc chúng ta.  Chúng ta cũng thế, làm sao để cái nghèo của anh em chạm đến con tim chúng ta, hầu chúng ta có th giúp người anh em ta đang khao khát ơn cứu độ (x. Sứ điệp Mùa Chay 2014).

Xin Chúa Thánh Thần nâng đỡ những quyết tâm của chúng ta trong suốt hành trình của Mùa Chay Thánh này cho nên.  Amen.

Antôn Nguyễn Văn Độ

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.