NIỀM TIN SẮT SON

Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!  Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm”.(Mt.15:22)

Bạn thân mến! Trên đây là lời năn nỉ nài van của người phụ nữ Canaan nói với Đức Giêsu.  Bà là một người mẹ có đứa con gái bị quỷ ám.  Bà là dân ngoại đến cầu xin Đức Giêsu là một người Do Thái .  Lời cầu xin của bà trao đi nhưng không một lời lên tiếng đáp trả.  Im lặng bao trùm.  Sự im lặng đến khó hiểu.  Nhưng biết làm sao được.  Bởi mục đích bà tìm gặp Đức Giêsu và năn nỉ Ngài ra tay cứu giúp chính là cô con gái yêu quý của bà đang ngày đêm khổ sở vì bị quỷ ám.  Tình mẫu tử đã hối thúc bà,  đã giúp bà có thêm can đảm để vượt qua mọi cản ngăn để đến gặp Đức Giêsu với hy vọng Ngài sẽ cứu giúp con bà.

Nhưng  Đức Giêsu đã chẳng mặn mà gì với bà.  Còn các môn đệ của Ngài xem ra cũng khó chịu khi có sự hiện diện của bà.  Họ đã hối thúc thầy mình đuổi bà ấy về cho khỏi chướng tai gai mắt.  Mặc dù vậy, bà vẫn kiên trì nài van, vẫn một lòng tin tưởng.  Bà chẳng ngã lòng trước sự thinh lặng và chối từ của Ðức Giêsu. Bà cứ đi sau mà kêu, kêu hoài, kêu mãi.  Rồi bà trực tiếp giáp mặt Ngài, và nài xin Ngài cứu giúp.

Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”.  Một lần nữa tiếng của bà lại vang lên và toàn thân bà phủ phục bái lạy Đức Giêsu với hy vọng Ngài sẽ đoái thương.  Nhưng thật phũ phàng .  Câu trả lời của Đức Giêsu như gáo nước lạnh xối vào mặt bà. “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con”. (Mt.15:26)

Bàng hoàng trước sự thật phủ phàng, người phụ nữ Canaan không mảy may dao động hoặc tức giận tháo lui. Trái lại, bà còn dùng ngay chính sự thật phũ phàng này để trả lời Đức Giêsu một cách hết sức khôn khéo và tế nhị. “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. (Mt.15:27)

Người phụ nữ Canaan ơi ! Lời nói của bà không chỉ là câu nói hay nhất, tế nhị và khôn khéo nhất mà còn là một lời tuyên xưng niềm tin của bà đối với Đức Giêsu, Người mà bà đang đối diện và cầu xin.  Chính niềm tin sắt son và mãnh liệt của bà đã làm cho Chúa Giêsu kinh ngạc:

Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt.15:28). Đó là lời nói của Chúa Giêsu dành cho bà, đó không chỉ là lời tán thưởng,  lời ban bình an và xua đuổi tà thần mà đó còn là lời xoá bỏ mọi ngăn chia cách trở, là lời phá đi mọi thứ lề luật nhỏ nhen thấp hèn do con người tạo nên.

Sức mạnh của lòng tin ở nơi sự khiêm tốn. Tin không phải là đòi hỏi. Tin là chờ đợi tất cả từ tay Chúa, và đón lấy tất cả như hồng ân nhưng không.

* * * * *

Lạy Chúa! Trong cuộc sống trần thế đầy khó khăn vất vả.  Con chạy đến với Chúa để tìm nguồn an ủi đỡ nâng, để nài van tình thương yêu của Chuá … Nhưng nhiều lúc con chỉ thấy thinh lặng …  và cũng nhiều lúc con khắc khoải tự hỏi : Chúa có nghe gì không? Chúa có thấy gì không?

 Xin cho con biết noi gương bắt chước người phụ nữ Canaan,  biết luôn kiên trì cầu nguyện, luôn khiêm tốn nài van và vững tin vào tình thương yêu của Chúa.  Amen.

Trích R. Veritas

NÓI VỚI CHÚA

Trời đã về khuya.  Tiếng quạt máy chạy rì rì vỗ giấc ngủ hai cậu con trai nhỏ.  Cuối một ngày hè, khí trời mát dịu lại, tâm hồn tôi cũng bắt đầu lắng xuống, dịu đi, phẳng lặng hơn.  Một ngày của tôi bây giờ thường thì quanh quẩn với cơm nước, nấu cháo cho con, giặt giũ, rửa chén bát, rửa bình sữa, ủi quần áo, chợ búa, tã sữa… và cầu nguyện.  Thiết tưởng vài phút đồng hồ ngắn ngủi bên Chúa ấy chẳng là bao, nhưng đó lại là sức mạnh để tôi sống tiếp một ngày rồi một ngày nữa.

Sanh cậu con trai thứ hai mới được một tuần lễ, tôi đã phải dậy làm việc nhà.  Phụ nữ nào gặp tôi cũng khuyên và lấy làm lo ngại vì tôi đi lại sớm và chạm nước nhiều, sau này sẽ đau lưng và bị nổi gân tay.  Tôi biết, nhưng chẳng làm gì hơn được ngoài việc đeo bao tay vào mà rửa.  Xa bố mẹ, không anh chị em bên cạnh lúc sanh nở, tôi bắt đầu có triệu chứng “buồn hậu sản” những tuần lễ sau khi sanh xong.  Những buổi chiều đến thật buồn, tôi bắt đầu ôm con khóc và nhớ nhà khủng khiếp.  Tôi thấy mình sắp nổ tung và có thể ngã quỵ bất cứ lúc nào mỗi khi ông xã nặng nhẹ một chút, mỗi khi cơm không lành canh không ngọt… Và tôi dần phát hiện ra rằng chẳng ai có thể gánh vác công việc chăm hai con dại của tôi lúc này, chẳng ai nấu cơm rửa chén cho tôi ngủ thêm một tẹo hay làm nhẹ đi những cực nhọc của mình.  Những lời như “Tội nghiệp quá, sau này yếu lắm cho coi, giá mà tôi giúp được cho em…” càng làm tôi thấy tinh thần mình xuống, càng làm tôi muốn chạy trốn cái mà người có đạo hay gọi: “Thập giá Chúa gởi.”  Và thay vì gọi phone than thở, khóc lóc tỉ tê để được nghe những lời xoa dịu của người thân và bạn bè, tôi quyết định bỏ xó cái phone vì cảm thấy nó chẳng giúp ích gì được cho tôi lúc này cả.  Tôi nói với Chúa.

Nói với Chúa đi!  Đó luôn luôn là lời mà Chúa mời gọi tôi, mỗi ngày.  Trong những cực nhọc của mình, tôi dần nghiệm ra một điều:  Càng khổ Chúa càng thương.  Và tôi bắt đầu nhớ lại hình ảnh bà nội tôi.  Bà đã chín mươi ba tuổi vậy mà ngày nào cũng dậy sớm để sắt hành hương cay xè cả mắt, nấu xôi để bán nuôi con, nuôi cháu.  Rồi mẹ tôi, một nách sáu đứa con, bị người ta túm tóc đè đầu bôn ba trên những chuyến tàu Nha Trang – Sài Gòn để chị em tôi có cơm ăn trong những năm bố đi tù.  Và cứ nhìn gương Chúa Giêsu thì thấy, không mảnh vải che thân, không nơi gối đầu, nhục nhã ê chề…  Tôi đọc Phúc âm và phát hiện ra rằng, sống trên đời này tôi phải sống làm sao mà đến khi về gặp Chúa, với thân thể xấu xí, ngực xệ teo tóp do cho con bú, tay chân gân guốc chai cứng, hay mắt mờ, lụm khụm, run rẩy… tất cả, tất cả đều như một món quà thật đẹp, một của lễ thật đắt giá để tôi hãnh diện trao lên cho Chúa và nói rằng, “Chúa ơi, con đã sử dụng hết thân xác xinh đẹp mà Chúa ban cho con, giờ đây con xin trao lại cho Chúa, thân xác này, hơi tả tơi.”  Phụ nữ ai mà chẳng muốn đẹp, muốn trẻ, nhưng giờ đây tôi thấy cái đẹp ở tấm lòng mình khi tôi biết xả thân, biết hi sinh, biết chết đi cái tôi to tướng của mình và biết yêu người hơn yêu mình mới là cái mà tôi phải vươn đến, là điều mà Thiên Chúa mong đợi nơi tôi.

Tôi thấy khó khăn của mình giờ đây nhỏ tẹo và thật cỏn con so với cực nhọc mà bà tôi, mẹ tôi đã trải qua.  Đặc biệt cứ mỗi lần nhìn hình ảnh Chúa Giêsu trên Thánh giá, tôi lại thấy cái mà trước nay tôi gọi là cực khổ, thật hèn hạ và chẳng thấm thía gì.  Và tôi quay ngược lại, khùng khùng xin Chúa ban cho tôi nhiều khó khăn hơn nữa, xin Chúa cho tôi khổ thêm, để tôi hiểu được, cảm nghiệm được chút nào đó Thánh giá của thầy Giêsu.

***************

Nói với Chúa đi!
Những khi đêm về
Trời khuya,
Trăng sáng,
Và bầu trời đầy sao…

Nói với Chúa đi!
Chúa ngay đây thôi,
Trong tiếng thở dài,
Trong giọt nước mắt
Hay nỗi cô đơn …
Dòng đời xuôi ngược,
Chúa vẫn lặn lội,
Tìm con mãi hoài

Nói đi con ơi!
Cả khi té ngã, va vấp đường đời
Cả khi sỏi đá, vướng mắc chông gai
Cả khi mắt mờ, răng rụng, sói đầu…
Gian lao trần thế
Chúa biết hết mà…

Nói với Chúa đi!
Trang thánh kinh mở…

Bạch Thu Hiền

CHÂN LÝ VỀ CUỘC ĐỜI

Nữ ca sĩ Madona (nữ hoàng nhạc pop) đã gửi lên mạng lưới Internet một bức thư trong đó cô tâm sự về những nỗi nghi ngại và sự thiếu an toàn mà cô phải hứng chịu từng ngày.  Madona khẳng định như sau: “Thật là sai lầm khi cho rằng tôi là một người may mắn”.

Sau đây là nguyên văn lời tâm sự của Madona:

“Mọi người dựng nên một thế giới màu hồng ảo tưởng rồi nghĩ rằng tôi hẳn là nhân vật chính trong đó.  Cũng đúng thôi, bề nổi cho thấy tôi rất nổi tiếng và giàu có.  Tôi kết hôn với một người đàn ông tài năng và hoàn hảo.  Tôi sinh được hai đứa trẻ xinh xắn.  Nhưng đàng sau bề nổi ấy, cuộc sống của tôi rất mong manh, tựa như chỉ một cơn gió thị phi thoảng qua cũng đủ để làm sụp đổ hoàn toàn.  Lúc nào tôi cũng phải phấn đấu gồng mình để tồn tại.  Mọi người bình phẩm về tôi cho nên tôi phải cố gắng, mỗi lần chuẩn bị cho một cuộc trình diễn tôi phải cố gắng, mỗi lần làm phim với chồng tôi phải cố gắng, cứ bình thản đi dạo phố tôi cũng phải cố gắng.  Dường như chẳng bao giờ tôi được thả lỏng tâm hồn cũng như cơ thể của mình.  Lý do tôi viết thư này cho các bạn là muốn nhận được sự cảm thông từ phía những người hâm mộ và đồng thời qua đây tôi cũng muốn chia sẻ kinh nghiệm sống của tôi.  Trải qua nhiều sóng gió, tôi cảm nhận được rằng điều làm ta thanh thản nhất chính là hãy cho đi chứ đừng bao giờ mong đón nhận lại điều gì.  Khi bị tuyệt vọng hoặc bế tắc, hãy làm điều tốt cho bạn bè và người thân của mình.  Ðó chính là liều thuốc hữu hiệu để xóa tan sự u buồn lo lắng và ám ảnh”. 

***************

Những lời khuyên thốt ra từ miệng của một người đã từng trải qua không biết bao nhiêu sóng gió trong cuộc đời như Madona hẳn có giá trị.  Có người khuyên chúng ta hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống.  Kỳ thực, dễ gì trút bỏ được gánh lo của cuộc đời.

Cuộc đời của chúng ta chẳng khác nào một giếng nước.  Một giếng nước không còn được người ta đến kín múc nước sẽ không chóng thì chày trở nên khô cạn.  Có biết bao nhiêu mạch nước nhỏ tiếp tế cho cái giếng, càng múc nước thì nước càng tuôn chảy vào giếng, nếu nước giếng không còn được múc lên nữa thì mạch nước ắt sẽ bị bịt kín và tắt nghẽn và phần nước còn lại trong đáy giếng sẽ dần dần bị bốc hơi, và như vậy giếng sẽ khô cạn.

Chúa Giêsu chính là giếng nước không bao giờ cạn mà Thiên Chúa đã mở ra cho nhân loại. Từ cạnh sườn Ngài khi bị một người lính La Mã chọc thủng, nước hằng sống đã tuôn trào để xoa dịu bao nỗi khát khao của con người.  Mạch nước có được mở ra để trao ban thì nguồn nước mới tuôn trào.

Cái chết của Chúa Giêsu là tuyệt đỉnh của một cuộc đời hướng về tha nhân và tiêu hao vì tha nhân. Ðó cũng là chân lý về cuộc đời.  Càng trao ban, càng dốc cạn, càng được múc lấy càng tiêu hao, càng mất chính mình con người càng trở nên phong phú, con người càng trở nên chính mình.  Gánh lo của cuộc đời sẽ không tự nhiên mà vơi đi.  Nó chỉ có thể nhẹ bớt khi con người biết ra khỏi bản thân và tìm đến với người khác.

***************

Lạy Chúa,  Chúa biết chúng con đang khao khát sự bình an trong tâm hồn. Xin cho chúng con luôn xác tín rằng chỉ khi nào chúng con biết ra khỏi bản thân tìm đến với tha nhân và sống cho tha nhân, chúng con mới có được sự bình an đích thực ấy.

R. Veritas

LẠY THẦY! XIN CỨU CON

Giữa lúc dân chúng định tôn Ðức Giêsu làm Vua,  và sau khi mọi người đã được no nê bánh và cá, thì Ngài lại giải tán họ, và buộc các môn đệ phải chèo thuyền qua bờ bên kia. Yên lặng trở lại với nơi hoang vắng.  Chỉ còn lại một mình Ðức Giêsu, Ngài chìm sâu trong cầu nguyện.  Ngài  gặp gỡ trong thân mật với Thiên Chúa  Cha.  Nhưng Ðức Giêsu không quên các môn đệ.  Ngài biết họ một mình đang vật lộn với sóng gió.  Mãi gần sáng, Ngài mới đi trên mặt nước mà đến với họ.  Các môn đệ tưởng Ngài là ma, nên kêu la sợ hãi.  Ðức Giêsu trấn an họ: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ.”

Tuy còn ngờ vực, Phêrô đã dám liều lĩnh đề nghị: “Nếu quả là Thầy, thì xin cho con được đi trên mặt nước mà đến với Thầy.” ( Mt 14,28 ).  Thật là một lời đề nghị làm ta ngạc nhiên.  Thật là một đề nghị đầy nguy hiểm.  Nhưng Phêrô đã chấp nhận nguy hiểm, đã dấn thân nghiêm túc để được gần Thầy mình.  Nếu đó không phải là Thầy mình, thì thật là dại dột.  Nhưng nếu đúng là Thầy, thì ông tin mình cũng đi được trên mặt nước như Thầy.

Ðức Giêsu nói với Phêrô: “Cứ đến”. Thế là Phêrô bước ra khỏi thuyền, ông đi trên mặt nước mà đến với Ðức Giêsu.  Thật không thể tưởng tượng nổi,  mặt nước trở nên cứng như đá, hay con người có đức tin trở nên nhẹ bổng.  Phêrô đi được bao xa, ta không rõ,  nhưng lòng ông thì cứ reo lên sau mỗi bước đi: “Ðúng là Thầy rồi!”  Phải tin thì mới dám xin đi trên mặt nước,  nhưng phải dám đi trên mặt nước, thì niềm tin mới được trọn vẹn.

Cần ngắm nhìn những bước chân của Phêrô, những bước chân của lòng tin mạnh mẽ.  Nhưng khi gió lồng lên dữ dội, nỗi sợ hãi ùa vào, lòng tin bị chao đảo với sóng gió, lúc đó Phêrô thấy mình bị hút xuống lòng biển.  Ông chỉ kịp kêu lên: “Lạy Thầy, xin cứu con.”  Bàn tay Chúa đưa ra nắm lấy bàn tay của ông và đưa ông về thuyền. “Người kém tin, tại sao lại hoài nghi!” ( Mt 14,31 ).  Hoài nghi và sợ hãi đã làm Phêrô trở nên nặng nề, và nhận chìm ông xuống.  Phêrô hăng say đó, nhưng lại xìu đó và tỏ ra nhát đảm vì thiếu tin tưởng vào Chúa Giêsu.

Cuộc đời của mỗi người là một cuộc vượt biển đầy cam go, cho dù đi bằng thuyền hay bằng tàu, không ai có thể nói là tuyệt đối bằng an.  Còn bơi trong sóng nước thì vô phương.  Phêrô, một người sành sỏi về bơi bội, sông nước là nghề nghiệp của ông. Thế mà khi bị thụp xuống, lại cuống cuồng la lên: “Lạy Thầy! Xin cứu con“.

Muốn vượt biển đời bình an, thơ thới, chỉ có một cách là cậy trông vào Ðức Giêsu Kitô, chỉ mình Ngài mới có quyền năng đạp sóng, và làm bão tố tan biến đi.  Đưa tay cho Ngài dắt, chúng ta sẽ đi trên bão tố đường đời như đi trên thảm cỏ xanh êm dịu tươi mát.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu! Sống đức tin giữa lòng cuộc đời chẳng khác nào đi trên mặt nước:

Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.  Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.  Sự nặng nề của thân xác cũng kéo ghì con xuống.  Ði trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng. Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

Xin cứu con khi con gần chìm.  Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.  Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con, để con trở nên nhẹ nhàng mà bước những bước dài hướng về Chúa.  Amen.

Trích từ R. Veritas

CON CẦN CHÚA

Tôi chối từ Thiên Chúa,
Thiên Chúa vẫn hiện diện. Vì Ngài là Thiên Chúa.
Thiên Chúa không cần tôi chứng minh có Thiên Chúa.
Thiên Chúa cũng không cần kẻ khác chứng minh cho tôi biết về Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa thì không cần chứng minh.
Như mặt trời không cần ai chứng minh về ánh sáng cho người mù.
Như người dưới căn hầm, mặt trời không hiện diện với đôi mắt ấy mà thôi, mặt trời vẫn hiện diện với vũ trụ.

Từ đó,
Lạy Thượng Đế, xin cho con biết kêu lên: Con biết con cần Ngài.

***************

Trong các kinh Tiền Tụng của thánh lễ, lời Tiền Tụng Chung IV là kinh rất ít khi giáo dân nghe linh mục đọc.  Hầu hết các thánh lễ chỉ dùng Kinh Tạ Ơn II.  Lời Tiền Tụng Chung IV đọc như sau:

Lạy Cha chí thánh
là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc,
thật là chính đáng, phải đạo
và sinh ơn cứu độ cho chúng con.

Thật ra,
Cha không cần chúng con ca tụng,
nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả,
vì những lời ca tụng của chúng con
chẳng thêm gì cho Cha
nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời,
nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Vì thế hiệp với các thiên thần và các thánh
chúng con ca ngợi Cha muôn đời vinh hiển,
và đồng thanh tung hô rằng:

Thánh! Thánh! Chí Thánh.

Qua lời Kinh Tiền Tụng này, Giáo Hội chỉ rõ cho ta biết bản chất Thiên Chúa như thế nào.

Một thần linh là Thượng Đế thì không cần tiếng ca tụng của người phàm. Vì là Thượng Đế nên lời ca tụng của phàm nhân chúng ta chẳng thêm gì cho Ngài.

Trong ngôn ngữ con người, chúng ta hay nói, hãy ca tụng Chúa để Thiên Chúa được vinh danh, là lời nói có thể làm hiểu sai lạc về bản chất Thiên Chúa.  Chính Sách Lễ Roma của Giáo Hội đã xác định như trên.

Vậy chúng ta chỉ còn một cách hiểu chính xác theo Sách Lễ Roma là:

Được tạ ơn Chúa là hồng ân cao cả cho chính tôi.
Lời ca tụng của chúng tôi không thêm gì cho Chúa,
nhưng đem lại cho chúng tôi ơn cứu độ.

Từ Lời Tiền Tụng trên, chúng ta hãy xin cho mình lời nguyện là:

– Lạy Thượng Đế, con biết con cần Ngài.

Nhiều người nghĩ rằng mình làm “vinh danh” Chúa bằng lời ca tụng của mình, nên khi bất mãn với Giáo Hội thì ngừng ca tụng Chúa.
Có người nghĩ rằng Chúa cần mình, nên khi “bất mãn” với Chúa thì không ca tụng để Thiên Chúa bị thiệt thòi.
Có ai cứ nhắm mắt lại để mặt trời bớt ánh sáng không.
Có ai xuống hầm tối cho mặt trời thiệt thòi không.

Khi chúng ta hiểu rõ lời ca tụng của chúng ta không thêm gì cho Chúa nhưng lại thêm cho chính mình. Khi chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không cần ai ca tụng, nhưng ca tụng Chúa lại là hồng ân cho chính mình thì chúng ta phải nghiêm chỉnh đặt vấn đề về những lời ca tụng của chúng ta.

Thái độ thứ nhất: Ao ước được ca tụng.

Lạy Chúa từ bi và nhân hậu,
Người thanh niên giàu có trong Phúc Âm đến hỏi Chúa đâu là con đường siêu thoát.  Chúa cho anh ta một hồng ân là đến theo Chúa. Anh không muốn từ chối. Nhưng lòng anh quá nặng nề, sau cùng anh cúi mặt bước đi buồn rầu. Rất tội nghiệp cho anh. Tại sao Chúa không năn nỉ anh? Hình ảnh siêu bạo ở đây là Chúa không năn nỉ. Phải chăng vì theo Chúa là một hồng ân đem lại ơn cứu độ cho chính anh. Hôm nay, rất nhiều cha mẹ phải “năn nỉ” con cái đi lễ. Rất nhiều linh mục “năn nỉ” giáo dân đến nhà thờ. Trong các thánh lễ, có rất nhiều thứ “năn nỉ”. Năn nỉ đóng tiền. Năn nỉ làm việc tông đồ. Bởi đâu, lạy Chúa, chúng con có những não trạng như thế. Phải chăng chúng con đã không hiểu rằng những lời ca tụng kia là cần thiết cho chính chúng con.

Thái độ thứ hai: Khiêm tốn trong lời ca tụng.

Vì Chúa là thần linh không cần lời ca tụng của phàm nhân, nên con phải xin Chúa cho con được ca tụng. Lời của phàm nhân tội lỗi, tâm trí phàm nhân u mê, sao chúng con dám ca tụng thần linh. Bởi đó, được ca tụng Chúa là hồng ân, nên chúng con phải khiêm tốn trong mọi công việc tông đồ. Biết đâu có linh mục hôm nay rất tự hào về những công trình của mình. Từ đó, cũng biết đâu, nhiều tín hữu thấy mình quan trọng trong lời ca tụng, và việc dâng cúng. Tất cả chúng con đều lầm lẫn. Xin Chúa từ bi và nhân hậu thương xót chúng con.

Thái độ thứ ba: Chờ đợi được ca tụng.

Lạy Chúa từ bi và nhân hậu,
Vì lời ca tụng Chúa mang ơn cứu độ cho chính chúng con, nên chúng con phải khiêm tốn, ao ước và chờ đợi được ca tụng. Nhiều lần trong Phúc Âm, Chúa gọi các môn đệ theo Chúa.  Chúa truyền cho các ông làm việc này, việc kia. Đấy là hồng ân cao cả chứ không phải Chúa thiếu thốn. Cái thiếu thốn của chúng con là thiếu Chúa.  Cái nghèo của chúng con là không được Chúa sai đi. Khi hiểu thế, chúng con phải hạnh phúc biết bao khi được Chúa kêu mời.

Lạy Chúa từ bi nhân hậu,
Xin cho con biết lắng nghe Chúa sai bảo thật tha thiết, chờ đợi như kẻ cắp rình mồi. Vì con nghèo lắm nếu Chúa không sai con đi. Nếu không được ca tụng Chúa con lấy đâu hồng ân cho hạnh phúc của con.

***************

Bạn thân mến,

Công việc mục vụ của tôi là đi giúp tĩnh tâm.  Có người hỏi tôi, Phúc Âm thì lần nào đọc cũng giống nhau.  Đọc mãi Cha có chán không.

Lời Phúc Âm chỉ có vậy, nhưng tùy cách nghe mà lời đó khác.

Một lần kia, vì lối nói của tôi, phút đầu khai mạc làm một người bất mãn.  Họ không muốn đi tĩnh tâm.  Nhưng vì bị “năn nỉ” quá, sau cùng có mặt trong cuối tuần linh thao.  Một cuối tuần đến retreat house – nhà tĩnh tâm như thế, ít ra cũng hết một trăm năm mươi đô la một đầu người.  Hầu hết những người ngại đi tĩnh tâm là không có thời giờ, và tiếc tiền.  Hầu hết cha mẹ nói với con cái, linh mục nói với giáo dân là “hy sinh” dâng cho Chúa một cuối tuần tĩnh tâm để ca tụng Chúa.  Đối với tôi đấy không phải là hy sinh.  Hy sinh là chịu thiệt về mình cho người khác phần lợi.  Vì cách nói của tôi làm họ bực bội.

– Thưa Cha, nếu không hy sinh, con không đến đây chiều nay được. Còn biết bao công việc ở nhà nếu không hy sinh làm sao bỏ được.

Họ bực với tôi, bực luôn với những ai đã “năn nỉ” họ đi.  Tôi không ngờ buổi tối khai mạc mà bầu khí không êm ả chút nào, tôi cố gắng đưa mọi người vào giờ kinh tối, rồi đi ngủ.  Qua một ngày thinh lặng, tối hôm sau, trước giờ kinh tối:

– Thưa cha, con xin có đôi lời.

Người này cất tiếng.  Rồi tiếp:

– Tôi xin lỗi anh chị em những gì tôi nói tối qua. Sau một ngày thinh lặng, tôi thấy có một cái gì đang xảy ra nơi tâm hồn tôi.  Tôi chưa có bình an, chưa thấy Chúa đâu, nhưng có một chút gì đó làm tôi suy nghĩ.

Nhìn bóng đèn trên trần nhà. Tâm sự với mọi người:

– Có tôi hay không, thì chiều nay bóng đèn này vẫn sáng. Đâu phải thiếu tôi mà bóng đèn bớt sáng đâu.

Rồi quay nhìn ra sân tối:

– Tôi cũng xin lỗi những ai tôi xúc phạm, những ai đã khuyến khích tôi đi khóa linh thao này. Nếu tôi bỏ lò sưởi ra sân đứng thì tôi lạnh, chứ đâu phải thiếu tôi, tôi làm cho lò sưởi bớt sức nóng đâu.  Thiên Chúa là như vậy.  Tôi đến thì tôi ấm, tôi xa Ngài, tôi lạnh, Thiên Chúa cho tôi sức ấm chứ tôi làm sao cho Ngài thêm lửa nóng được.

***************

Bạn thân mến,
Sau cùng, người này đã có những ngày tĩnh tâm – nghỉ ngơi với Chúa rất đẹp.
Chớ gì chúng ta hiểu rõ và thưa với Chúa:  Lạy Chúa, con biết con cần Chúa.

Riêng với bạn đang đọc dòng này, không cùng tôn giáo với tôi.  Tôi cầu chúc bạn hãy nói:

– Lạy Thượng Đế, lạy Trời Phật, con biết con cần Ngài.
Bởi, đó là con đường đi rất đẹp của một phàm nhân.

Lm Nguyễn Tầm Thường, S.J.
Trích tập suy niệm ĐƯỜNG ĐI MỘT MÌNH

YÊU CHO ĐẾN PHÚT CUỐI CÙNG

Triết lý sống của tôi là không những bạn phải có trách nhiệm với cuộc sống của mình, mà với mỗi việc tốt nhất mà bạn làm được bây giờ, bạn sẽ có được chỗ đứng tốt nhất trong tương lai.
Oprah Winfrey

Khoảng tám năm trước, vợ tôi được chuẩn đoán đã mắc phải một căn bệnh ung thư ngực hiếm gặp, đó cũng là lúc tôi học cách cầu nguyện.  Tôi vẫn kiên trì cầu nguyện cho vợ tôi có thể khỏe lại, mặc dù những dự đoán chết tiệt của ngành y tế không thể nào dự đoán Lois sẽ còn sống được bao lâu.

Khi vợ tôi khuyên tôi tham gia vào hội giúp đỡ “những người chồng có những người vợ đang chống chọi với bệnh ung thư ngực”, ban đầu tôi hơi lưỡng lự.  Tôi không muốn chịu đựng nỗi đau này nữa.  Nhưng cuối cùng, khi hiểu đây là điều Lois muốn và hiểu được nỗi đau mà những người chồng như tôi đang mang, tôi đã bằng lòng.

Người ta thường hỏi: “Anh làm việc này như thế nào? Anh không cảm thấy chán nản sao?  Một số người phụ nữ sẽ không qua khỏi.  Anh định sẽ làm gì hay nói gì để tạo nên sự khác biệt?”

Tôi trả lời họ với một câu hỏi khác: “Thế các anh có chịu đựng được khi nhìn vợ, chị, mẹ hay con gái các anh đang chống chọi với căn bệnh quái ác này một cách đơn độc, không có ai trò chuyện và động viên hay không?”

Khi tham gia vào hội giúp đỡ này, tôi được nhiều hơn là mất, được nhận lấy nhiều hơn là cho đi và nhận ra rằng niềm hy vọng luôn tỏa sáng trong một thế giới mà sự tuyệt vọng đang xâm chiếm.

***************

Vài năm trước đây, Sandy, một người phụ nữ năm mươi tuổi hấp dẫn, hỏi vợ tôi liệu bà có thể nói chuyện với tôi trước khi sinh hoạt hội không.  Tôi biết Sandy và chồng bà ta trong những lần gặp trước của hội.  Sandy trông như một người mẫu, hoàn toàn khác với hình ảnh mọi người vẫn nghĩ về một người đang bị ung thư ngực.

Mặc dù Sandy được điều trị bằng phẫu thuật mà không sử dụng hóa trị liệu, bà vẫn phải chịu đựng đau đớn do những cuộc phẫu thuật, của liệu pháp hoóc-môn và sự thật về cái chết của mình.  Bà đã đối mặt với chúng khá tốt, nhưng tôi biết, Mike – chồng của bà, thì không như thế.

Sandy muốn nói chuyện với tôi vì bà đang buồn Mike.  Dạo này ông hay đi ra ngoài hàng giờ sau khi tan sở mà không có một lời giải thích.  Cứ mỗi lần bà tìm cách nói chuyện với ông, ông chỉ nhún vai lạnh lùng và bỏ đi trong im lặng.  Bà lo rằng chồng của bà không thể chấp nhận bà sau khi phẫu thuật, và họ đang dần mất nhau.  Cùng với những giọt nước mắt đau khổ, bà tâm sự:

– Tôi nghĩ anh ấy đang ngoại tình.

– Tôi sẽ cố kéo Mike ra vào cuộc gặp tối nay với ông ấy, tôi hứa, và thêm vào, nhưng nếu ông ấy có kể tôi nghe chuyện gì, tôi sẽ buộc phải giữ bí mật.

Sandy nói rằng bà ấy hiểu và hy vọng tôi có thể giúp ông ấy.

Buổi tối hôm đó, tôi tụ tập năm người đàn ông vào phòng họp của chúng tôi, trong khi vợ của họ theo một tình nguyện viên khác vào phòng riêng.  Sau khi năm người bạn của tôi ngồi thành một nửa vòng tròn lớn, tôi hỏi họ đang sống thế nào.  Mọi người đều có thể bộc lộ cảm xúc của họ thành lời và kể về hoàn cảnh của mình, mọi người trừ Mike, ông vẫn ngồi im.

Tôi đưa ra đề nghị của cá nhân tôi cho cả nhóm về việc làm thế nào tôi vượt qua với căn bệnh của vợ tôi:

– Có những lúc tôi đã bật khóc mà không có lý do gì, như lúc tôi đang lái xe đi làm chẳng hạn. Một lần, tôi đã đãng trí, lái xe đến phòng triển lãm trong khi mình không có ý định tới đó.  Tôi đã bị quấn chặt với những ý nghĩ tuyệt vọng đến nỗi mất cả sự cảm nhận về thời gian.

Sau khi lắng nghe chăm chú, họ bắt đầu kể về sự cố gắng của họ.  Một vài người kể họ đã muốn bỏ nhà đi thật xa như thế nào bởi vì họ không thể đối diện với nó.  Đa số những người đàn ông ấy chấp nhận bị tấn công bởi những nỗi buồn kinh khủng khiến họ phải khóc một mình trong nhiều giờ.  Số khác thì nói về sự tuyệt vọng đang dày vò đến nỗi khiến họ quên cả trách nhiệm đối với những việc trong nhà khi người vợ không còn khả năng làm được chúng.

***************

Mike luôn cúi đầu trong suốt buổi nói chuyện, hai bàn tay siết chặt vào nhau trước vạt áo.  Khi cuộc nói chuyện tiếp tục, tôi hướng câu hỏi về Mike:

– Chúng tôi vẫn chưa nghe anh nói gì, Mike à. Anh đã từng trải qua những điều mà chúng tôi đang nói tới không?

Khi Mike nhìn lên, chúng tôi thấy những vệt nước đọng lên má ông.  Mike nhanh chóng chùi chúng đi, như không muốn mọi người biết rằng ông đã khóc.  Mike nói:

– Tôi không biết nên làm gì nữa. Tôi chỉ lái xe lang thang trong hàng giờ.

Tôi nghĩ: À, có lẽ đây là lý do tại sao anh ấy lại bỏ đi.  Và anh sẽ kể cho chúng tôi nghe chuyện gì nữa đây?  Tôi hỏi:

– Mike à, anh thường làm gì khi lái xe lòng vòng như vậy? Anh có đi ra và khóc, đi uống bia, hay là đến một nơi nào đó và suy nghĩ không?

Dường như Mike đang muốn trả lời, nhưng có cái gì đó đã giữ ông lại.  Cuối cùng, Mike đứng dậy và hét to:

– Tôi đi ra ngoài và gào thét lên. Tôi lái xe đi và gào thét hàng giờ liền, cho đến khi tôi về nhà, tôi không thể nói được nữa vì cổ họng đã khản đặc.

Tôi choáng váng và cố hiểu được những gì mình vừa nghe thấy.  Tôi nói:

– Mike, anh phải kể tất cả những chuyện này cho Sandy biết. Chị ấy rất lo lắng cho anh.  Anh không biết được đâu, nhưng tôi nói thật đấy.  Khi chúng ta ra về, anh cần kể cho Sandy những gì anh đã kể cho tôi.

Khi cả hai nhóm đã kết thúc, tôi thấy Mike tiến đến Sandy.  Ông nói với bà ấy trong một lúc, và sau đó Sandy gục đầu vào ngực Mike khóc.  Tôi biết Mike cũng muốn khóc, nhưng ông vẫn cố tỏ ra cứng rắn như một người đàn ông mẫu mực.  Dù sao, tôi vẫn thấy tự hào về Mike.

Cuối cùng Sandy cũng hiểu là lỗi không phải ở bà ấy, mà là sự bất lực của Mike để phá tan nỗi buồn ghê gớm và không có cách giải quyết về căn bệnh của vợ mình.  Đó là một khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng rực rỡ khi Lois nép mình bên cạnh tôi, và chúng tôi thấy Mike và Sandy khoác vai nhau đi chầm chậm về hướng hành lang yên tĩnh nơi bãi đỗ xe.

***************

Trong những tháng tiếp theo, chúng tôi thấy họ thường xuyên sinh hoạt ở những buổi gặp gỡ của nhóm.  Rồi đột nhiên họ không đến nữa.  Qua những người bạn thân, tôi được biết bệnh ung thư của Sandy đã di căn đến bộ phận khác của cơ thể, và bà đã không thể chống đỡ nổi.  Mike đã ở bên cạnh bà đến tận giây phút cuối cùng.

Mọi thứ vẫn còn rõ ràng như chỉ vừa mới xảy ra hôm qua, và tôi vẫn còn thấy Sandy và Mike nắm tay nhau đi trên hành lang.  Ký ức này đã cho thấy và giúp tôi đoan chắc rằng ngay cả trong những ngày quý giá cuối cùng còn ở bên nhau, họ vẫn có thể yêu, chia sẻ và động viên cho nhau.

George S.J.Anderson – Dàng tặng cho Mike và Sandy Sexton
Đông Khê lược dịch

BẺ RA, TRAO ĐI RỒI SẼ HÓA RA NHIỀU

Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê.(Mt.14:19)

Bạn thân mến!  Trên đây là tường thuật việc Chúa Giêsu thấy dân chúng vất vả, đói khát.  Chạnh lòng thương, Ngài làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi dân chúng.

Tin Mừng kể rằng:  Sau một ngày đi theo Chúa, dân chúng đã bắt đầu đói khát.  Khi trời đã ngả về chiều, các môn đệ xin Đức Giêsu cho đám đông được giải tán để dân chúng đi vào các làng mạc mua đồ ăn.  Nhưng Ðức Giêsu đã nhắc nhở các ông về trách nhiệm của người môn đệ trước những nhu cầu của dân chúng .  Ngài nói với các ông: “Anh em hãy cho họ ăn.”  Chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá trong tay, làm sao các Môn Đệ có thể cho đám đông 5 ngàn người ăn no đủ? Kiếm đâu ra thức ăn cho đám đông dân chúng này đây ? Quả thật, đây là một khó khăn thiếu thốn khó gỉải quyết.

Nhưng Chúa đã ra tay, Ngài đã lấp đầy những khó khăn của con người, đã biến những thiếu thốn của con người thành dư đầy … Chúa đã ra tay,  nhưng Ngài  không muốn làm việc một mình, Ngài chỉ làm phân nửa và Ngài tế nhị mời gọi con người cộng tác trong phân nửa còn lại.  Ngài để công việc còn phân nửa cho chúng ta tiếp tục.  Cái “phân nửa” là chỗ trống để cho tôi bước vào tham dự. Cái “phân nửa” của Chúa thật là huyền nhiệm, sâu thẳm.  Thiếu cái “phân nửa” này tôi thiệt thòi biết bao!!!

Hãy đem lại đây cho Thầy.”  Ngài cầm lấy bánh và cá từ tay các môn đệ, nâng lên cao để dâng lên Thiên Chúa Cha,  rồi  bẻ ra trao cho các môn đệ, các môn đệ cũng bẻ ra trao cho dân chúng, và cuối cùng, chính dân chúng cũng bẻ ra và trao cho nhau.  Chúng ta tự hỏi phép lạ đã xảy ra ở trên tay ai? Bánh và cá hoá ra nhiều trên tay người nào?  Tin Mừng không nói Ðức Giêsu đã làm phép lạ để có một đống bánh và cá thật to, rồi các môn đệ cứ đến lấy mà phân phát. Tin Mừng chỉ nói Ngài bẻ bánh trao cho các môn đệ, rồi các môn đệ bẻ ra trao cho dân chúng.  Chẳng mấy chốc, ai cũng có bánh ăn.  Như thế, những tấm bánh từ tay Ðức Giêsu đã được “Bẻ ra, trao đi rồi sẽ hoá ra nhiều”.  Ðó là cốt lõi của phép lạ.

Vậy đừng sợ phải bẻ ra và trao đi sẽ làm hao hụt, sẽ  bị thiếu thốn.  Nếu giữ lại thì 5 chiếc bánh vẫn chỉ là 5 chiếc bánh, và 2 con cá vẫn chỉ là 2 con cá.  Nhưng hãy “Bẻ ra, trao đi rồi sẽ hoá ra nhiều.”  Đó là lời mời gọi mà Chúa Giêsu gởi đến tôi và bạn trong bài Tin Mừng hôm nay.

Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy nhìn đến những người xung quanh, họ đang đói:  đói cơm bánh, đói sự thật, đói tự do, đói công bằng, đói yêu thương, đói cảm thông và tha thứ… Hôm nay Chúa mời gọi ta hãy “Bẻ ra, trao đi rồi sẽ hoá ra nhiều” để mọi người được no đủ.

Hiến trao chẳng những không làm ta nghèo đi, mà còn làm ta được thêm giàu có, phong phú và trưởng thành.  “Bẻ ra, trao đi rồi sẽ hoá nhiều”.  Hãy luôn tin tưởng như vậy bạn nhé !

* * * * *

Suy niệm về phép lạ hoá bánh ra nhiều.  Tôi tự hỏi lòng mình: Tôi là ai trong bài Tin Mừng hôm nay ? Là khách bàng quang trong đám đông?  Là người dân khát khao lời Chúa?  Là môn đệ lãnh nhận bánh từ tay Đức Giêsu để trao lại cho dân chúng?  Thực phẩm nào đã và đang nuôi dưỡng tôi ?  Là tiền bạc cơm bánh?  Là danh vọng chức tước?  Là Lời Chúa và các Bí tích? Và thực phẩm nào đã giúp tôi được no thỏa, không còn đói khát nữa ?

Lạy Chúa!  Ước gì con biết lắng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Ngài truyền dạy:  “Bẻ ra, trao đi rồi sẽ hoá nhiều”.  Amen

Trích từ R. Veritas

ĐÔI MẮT

“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn” người ta thường nói như thế để ca ngợi đôi mắt.  Tôi vốn sở hữu một đôi mắt đen khá to hơi sâu, thêm cặp chân mày rậm và đôi lông mi dài hơi cong.  Đủ chuẩn để được gọi là đôi mắt đẹp.  Tôi vẫn thường được nghe khen về đôi mắt ấy, thậm chí có người còn bảo đó là đôi mắt của con gái (vì tôi là một nam nhi chính cống).  Và bản thân tôi cũng thầm tự hào về “đôi mắt đẹp” ấy cho đến ngày tôi gặp anh, trong giờ cầu nguyện Lòng Chúa Thương Xót mỗi chiều thứ năm ở nhà thờ Chí Hoà.  Anh tên là Phú, một thanh niên mù ở Trung Tâm Bừng Sáng lên làm chứng cho mọi người về Lòng Thương Xót Chúa.

Thoáng nhìn, anh cũng bình thường như mọi người, cặp kính đen trên khuôn mặt khá đẹp trai, nhưng khi anh gỡ kính ra, mọi người mới biết anh…không có đôi mắt.  Trên khuôn mặt ấy, chỗ của đôi mắt chỉ là mảng da liền không có con ngươi!

Với giọng trầm buồn, anh kể về cuộc đời mình.  Ngay khi lọt lòng mẹ, anh đã không nhìn thấy ánh sáng.  Cha anh đến bệnh viện thăm con lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, vì ông đã nhẫn tâm bỏ rơi mẹ con anh từ cái nhìn đầu tiên ấy.  Người mẹ cố gắng cứu mang anh cho đến năm 4 tuổi rồi cũng bỏ rơi anh đi với một người đàn ông khác.  Từ đó anh mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng may còn có ông bà ngoại chăm sóc đứa cháu tật nguyền côi cút.

Cuộc sống của anh là một chuỗi ngày dài đau thương buồn tủi vì mặc cảm và cô đơn.  Anh chưa từng biết đến ánh sáng, chưa từng được nhìn ngắm những kỳ công tuyệt vời Chúa đã tạo dựng nên.  Anh thiếu thốn mọi thứ, mọi sự trên đời nhưng anh hơn tôi và những bạn trẻ khoẻ mạnh khác vì anh có được một sức mạnh kỳ diệu của niềm tin và tình yêu.  Anh đã phấn đấu để trở thành một con người bình thường như bao người khác.  Anh lại là một người Kitô hữu chính danh, một người có thể giúp ích cho người khác chứ không cam chịu phận tăm tối, sống kiếp tầm gởi, hoặc ngồi than thân trách phận.

Hiện anh đang là sinh viên năm thứ II Đại Học Xã Hội Nhân Văn.  Ngoài giờ học ở trường, anh còn dạy kèm vi tính miễn phí cho các bạn khuyết tật, để những bạn đó có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua mạng tin học.  Chưa hết đâu, anh còn có thể đánh đàn guitar, hát và chơi trống nữa.  Đôi mắt mù loà đã không cản trở anh tiến tới phía trước với đầy niềm tự tin.  Bóng tối không ngăn cản được bước chân anh.  Vì ánh sáng của niềm tin luôn rực cháy trong tâm hồn anh.  Ánh sáng của Đức Kitô Phục Sinh chói sáng trong tâm trí anh.

Tôi và cả cộng đoàn chiều hôm đó ngất ngây khi thấy anh ôm cây đàn guitar cất tiếng hát ca ngợi lòng thương xót của Chúa: “Chúa ghi vào hồn con dấu ấn của Ngài. Chúa đi vào hồn con êm ái tuyệt vời, mấy cung đàn tơ, tấu lên trìu mến.  Khúc ca cuộc đời con thơm ngát hương trời.” Anh tật nguyền thế mà lại can đảm tuyên xưng rằng : “Hồng ân Chúa, tràn trề thánh ân. Tay con nhỏ bé đón sao cho vừa…”  Còn tôi thì sao nhỉ?  Có cảm nghiệm hồng ân Chúa trong đời mình và can đảm làm chứng cho tình yêu Chúa không?

Khi cha linh hướng hỏi anh có còn mặc cảm hay phiền trách Chúa vì đã không cho anh có đôi mắt như những người bình thường khác không?  Anh cười nhẹ đáp một câu mà ai nghe cũng giật mình: “Thưa cha, lúc đầu thì có, thậm chí đến mức tuyệt vọng không muốn sống nữa.  Thế nhưng từ ngày con nhận biết Chúa và có niềm tin thì không còn ý nghĩ đó nữa.  Con tạ ơn Chúa đã tạo dựng nên con như thế này.  Vì nếu sáng mắt biết đâu con lại có dịp để phạm tội làm mất lòng Chúa nhiều hơn?”

Nhìn lại mình, nghĩ đến đôi mắt đẹp của tôi, chợt giật mình.  Tôi đã làm gì với đôi mắt Chúa ban cho?  Tôi đã sử dụng chúng như thế nào?  Tôi đã được tận hưởng những vẻ đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên vũ trụ, của con người, của vạn vật.  Tôi có nhận ra đó là ân huệ Chúa dành cho tôi không?  Hay tôi cho đó là điều tự nhiên?  Đã bao lần tôi đã dùng đôi mắt đẹp này để lướt vào những trang Web đen, để nhìn những điều tệ hại, tội lỗi, để đọc những điều có thể làm băng hoại tâm hồn.  Đã bao lần tôi thấy những điều sai trái nhưng tôi ngoảnh mặt làm ngơ.  Đã bao lần tôi chứng kiến những điều thương tâm nhưng tôi che mặt quay gót.  Đã bao lần tôi chỉ trau chuốt vẻ bề ngoài mà chưa một lần ngó vào chiều sâu.  Đã bao lần tôi chỉ đánh giá qua hình thức mà chưa hề ngắm kỹ đến nội dung.

Tham dự buổi cầu nguyện và làm chứng của anh Phú, là dịp để tôi nhìn lại chính bản thân mình để suy nghĩ sâu hơn về những gì tôi đã được hưởng, về những gì tôi đã trải qua, về những gì tôi đã, đang và sẽ làm.

Cảm tạ Chúa đã cho tôi có dịp tham dự những giờ cầu nguyện Lòng Thương Xót Chúa và Đức Mẹ ở nhà thờ Chí Hoà.  Chính nhờ “ĐIỂM HẸN GIÊSU” này mà những người trẻ như tôi nhận thức được nhiều điều kỳ diệu.  Chúa đã dùng “đôi mắt tâm hồn” của anh Phú, để mở “đôi mắt xác thịt” của tôi. Chúa đã dùng ánh sáng mầu nhiệm niềm tin của anh để soi sáng ánh mắt đức tin mù tối của tôi.

Những nhân chứng của Lòng Thương Xót Chúa là ánh sáng Chúa gửi đến cho mỗi người trẻ chúng tôi, để mãi là những lời nhắc nhở chúng tôi biết phấn đấu trở thành những Kitô hữu chính danh.  Tôi ao ước mình có thể trở thành một chứng nhân cho Lòng Thương Xót của Chúa ngay trong cuộc sống này, ngay trong môi trường tôi đang sống, đang sinh hoạt, để nhiều người nhận biết được tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa.  Lời ca của anh còn âm vang mãi trong tôi: “Hồng ân Chúa tràn trề tháng năm, tay con nhỏ bé đón sao cho vừa.  Hồng ân Chúa vô biên vô tận, tim con nhỏ bé nhưng hãy còn vơi.”

Những ngày mưa tháng Sáu 2008
Phượng Thái

NAY ANH MAI TÔI (có Youtube)

Người ta nói: “đời như hoa trước gió” chẳng sai!  Nó sớm nở chiều tàn.  Nó mong manh như kiếp cỏ hoa.  Nó phù du như mây hợp rồi tan.  Theo thống kê của chính phủ thì trong đợt mưa lớn ngày 09 – 10/10 xảy ra ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh miền Bắc, gây nên lũ quét và sạt lở đã cướp đi hàng trăm sinh mạng, phá hủy hàng ngàn ngôi nhà và hàng ngàn gia súc trôi dạt trên dòng nước mênh mông.

Nhìn vào những cái chết tức tưởi ấy ta mới thấy kiếp người thật mong manh.  Cái chết không có tuổi.  Không hẳn tuổi già cái chết mới đến, mà tuổi trẻ cũng có thể phải ra đi, vì “sinh hữu hạn, tử bất kỳ.”  Có khi người trẻ lại ra đi trước người già như trong ca dao xưa đã nói:

Lá vàng còn ở trên cây,
Lá xanh rụng xuống, có hay hỡi trời.

Sự thật này nói lên tính cách mong manh của kiếp sống con người.  Thật mong manh như hoa cỏ đồng nội mà thánh vịnh 102 cũng từng nói tới:

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong,
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
(Tv 102,15-16)

Nghĩ đến thân phận mỏng dòn của kiếp người, trong tâm hồn tôi chợt vang lên giai điệu bài hát “Nay anh mai tôi” của Tuấn Kim.  Lời bài hát đã bóc trần sự phù du của kiếp người hòa với giai điệu du dương khi trầm khi bổng như xé nát tâm can vì nó diễn tả quá đúng về kiếp người “nay anh mai tôi” sẽ lần lượt đi qua con đường hẹp là sự chết.

Giai điệu bài hát như dội vào tim, khiến tôi cũng muốn cất lên lời hát:

“Nay anh mai tôi, chung đường chung lối,
xuôi tay ra đi giã từ cuộc đời”.

Nhưng cuộc ra đi này cũng có phần an ủi cho kiếp người lắm truân chuyên nhiều nước mắt, vì nó mở ra cho chúng ta một chân trời mới trong ngôi nhà Cha trên trời tràn đầy an vui.

“Vì trong tiếng cười có nước mắt rơi
Về nơi quê trời, bên Chúa an vui”.

Qua bài hát này ta thấy một chân lý đã được khẳng định:

“Ngày con sinh ra, Chúa đã biết rõ, ngày con qua đời Chúa không cho hay”.

Phận số cuộc đời không tùy thuộc vào ta.  Sự sống hay chết đều nằm trong kế hoạch đầy yêu thương của Thiên Chúa.  Nhưng có sinh có tử dường như là lẽ trời mà ai cũng phải chấp nhận “nay anh mai tôi” mà thôi!

“Dòng đời ngày qua bao kẻ chia xa, mà lòng thầm suy nay người mai ta, thế gian phù hoa.”

Thế nên, sự khôn ngoan như mời gọi ta hãy sống thanh thoát với cuộc đời, đừng quá bon chen thú vui hay lợi danh, vì khi chết có mang theo được gì đâu?

“Cuộc sống mong manh chớ ham lợi danh, ngày mai chết đi sẽ mang được gì?”

Tháng 11 là tháng để nhớ và cầu nguyện cho những người đã chết.  Họ đã về với Chúa, với họ là niềm vui, vì được chuyển đổi từ sự sống tạm trần gian qua sự sống vĩnh cửu quê trời, được chuyển đổi nơi trần đời bi ai đầy nước mắt để tiến vào thiên đàng vĩnh phúc.  Có lẽ, nếu được nghe thì họ sẽ đang nói với chúng ta như nhà văn John Bun-y-an đã nói: “Các bạn đừng than khóc cho tôi.  Tôi sẽ về nhà đời đời nơi Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kytô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội nhân bởi công lao cứu chuộc của Con Ngài.  Tôi tin rằng, chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống hạnh phúc trong cõi đời đời.”

Thế nhưng, trong thân phận con người ai cũng có yếu đuối cần được ân hưởng máu cứu chuộc của Con Thiên Chúa, vì “ai nên khôn mà không dại một lần.”  Ai cũng cần được thanh luyện trong tình thương của Chúa.  Vì thế, trong tình liên đới giữa người với người, và nhất là trong đạo hiếu Việt Nam luôn mời gọi con cái hãy biết đền ơn đáp nghĩa mẹ cha qua những thánh lễ cầu nguyện cho những người đã khuất, qua những hy sinh bác ái để lập công đền tội cho các tiền nhân.  Nhớ đến công lao cha mẹ không chỉ bằng những giọt nước mắt nuối tiếc mà cần phải tỏ lòng hiếu thảo qua lời kinh cầu hằng đêm và qua những việc lành phúc đức chúng ta làm cho cha mẹ mới là tấm lòng hiếu thảo mà tổ tiên đang cần nơi con cháu chúng ta.

Ước mong khi nhìn về kiếp người mong manh ta hãy cầu nguyện cho những người đã khuất hôm nay để ngày mai sẽ gặp nhau trên quê trời.  Chúng ta hãy tín thác ông bà cha mẹ và những người thân hữu đã qua đời nơi tình thương quan phòng của Chúa.  Amen!

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TÌM….

Mỗi lần nói đến Nước Trời người ta nghĩ ngay đến ở một nơi, một chỗ, một góc nào đó trên bầu trời xa tít mênh mông.  Nơi đó, đầy hoan lạc, đầy sung sướng, đầy thỏa thuê…

Nước Trời không phải là chuyện mua bán kinh doanh đổi chác “mua viên ngọc ấy”.  Nước trời không phải là gian tham lừa lọc “gặp được thì liền chôn giấu lại”.  Nước Trời cũng không phải là chuyện sợ hãi kinh khiếp “chiếc lưới thả xuống”.  Bài Tin Mừng muốn nói lên tâm trạng vui mừng hân hoan của người gặp kho báu, của người thương gia, của ông thuyền chài….

Nước Trời tìm kiếm ở đâu?  Có phải chậy bôn ba tìm kiếm lùng sục hết chỗ này đến chỗ kia, lang thang thơ thẩn hết cửa hàng này sang cửa hàng nọ mãi không mua được thứ mình cần dùng?  Nước Trời có phải bán hết mọi của cải đồ vật trong nhà để đi ra hè phố, công viên ngủ nhờ, rình chờ ai bán thì mua?  Nước Trời có phải thơ thẩn vào các cửa hiệu bán tranh ảnh tượng chọn lấy một khuôn mẫu nào mà mình ưng ý nhất về trưng trên bệ cho mọi người cùng chiêm ngưỡng sít soa?  Nước Trời có phải đi dự các lễ nghi sầm uất đình đám ồn ào đông đúc tấp nập tưng bừng hoa nến?  Nước Trời có phải là đi vào các thư viện miệt mài tìm kiếm trong những pho sách cổ điển, hiện đại để đào bới nhiều ý tưởng thật hay, nhiều tâm tình cảm sốt?  Nước Trời có phải gồng mình lên giữ nề nếp khắt khe, ăn chay hãm mình phạt xác kiêng khem đến phát bệnh ra?

***************

Không phải thế đâu !

Nước Trời, một tình thương yêu âu yếm, một niềm vui hạnh phúc tuyệt vời ở ngay trong lòng, ngay trong mạch máu con tim mỗi người.  Một Tình Yêu đi bước trước không đòi một điều kiện nào. Vậy thì tại sao ta phải lo tìm kiếm?  Tìm kiếm Nước Trời, không phải bôn ba xa gần mà hãy ở yên tại chỗ; không phải bán hết của cải mà hãy cứ giữ lấy; không cần thiết phải đến những nơi ồn ào đình đám, đến cửa hiệu trưng bày tranh ảnh tượng, đến thư viện mở những pho sách dày cộm….  Tìm kiếm là nỗi lòng khao khát khôn nguôi, là đáp lại của lời mời gọi, là sự chọn lựa khôn ngoan.  Khao khát để được gặp gỡ, khao khát để được sống tương quan, khao khát để khám phá ra một tình thương yêu âu yếm đã có sẵn, khao khát để xác tín được một hạnh phúc niềm vui có một không hai.

Ai đã cảm nghiệm được “ân ban” sống với Chúa mọi nơi mọi lúc, sự kết hiệp sâu xa mật thiết với Chúa trong từng hơi thở thì người đó đã cảm nếm phần nào Nước Trời ngay từ hôm nay, sự sống đời đời bắt đầu từ lúc này (“Và cho chúng con được nếm trước những ân huệ Cha sẽ ban cho chúng con ở đời sau” Lời tiền tụng các thánh Trinh Nữ và các thánh Tu Sĩ).  Trong Thánh Lễ mỗi ngày, mỗi người được đụng chạm tới Đấng giới thiệu Nước Trời và như thế cũng là được đụng chạm tới Nước Trời hằng ngày.  Thế nhưng mỗi người có cảm nhận được niềm vui hạnh phúc Nước Trời như trong dụ ngôn Tin Mừng (vị thương gia, người cày ruộng, ông thuyền chài) không?  Hay vẫn còn mơ mộng niềm vui hạnh phúc ở một cõi xa xăm nào đó?  Ở ngoài tầm tay?

Vị thương gia tìm được viên ngọc quý, người cầy ruộng gặp được kho báu…  lúc đó họ bán hết tất cả những gì mình có.  Và cũng như thế, nếu chúng ta cảm nếm được Nước Trời, một tình thương yêu âu yếm, niềm vui hạnh phúc vỡ bờ… lúc này mới nói đến được sự từ bỏ của cải danh vọng địa vị với những ham hố trần gian.  Bởi bao lâu con người chưa cảm nếm thì họ còn đi tìm những niềm vui hạnh phúc nho nhỏ trần gian cung cấp cho…

Đức Kitô xuất hiện, Người giới thiệu Nước Trời với một Thân Thể bầm dập đẫm máu và chết tủi nhục, thế thì có gì hấp dẫn đâu?  Vâng, đến với Thập Giá để sống Nước Trời, bởi nơi dáng vẻ hình hài bên ngoài thô ráp sần sùi đó thì bên trong vẫn ẩn chứa sự dịu ngọt nồng nàn, sức sống mãnh liệt.  Cuộc sống của người khao khát Nước Trời không thể tránh những thử thách sóng gió chao đảo chênh vênh nhưng nếu cứ biết kiên trì trung thành bám chắc vào Tình Yêu thì người đó vẫn luôn đứng vững trong mọi tình huống.

Nước Trời, trong đó Thiên Chúa và những người con thân cận luôn luôn ở ngã ba, ngã tư đường để kêu gào cách thống thiết sự sám hối, hoán cải, quay trở về… bao lâu còn có thể.  Hôm nay lúc này ở đây thời gian cơ hội còn cho phép, đừng chần chừ, ái ngại, so đo tính mà hãy liều lĩnh vùng dậy tung áo choàng đứng thẳng và bước đi.  Đi ra khỏi những ảo tưởng, những vỏ ốc chặt hẹp, những thói quen máy móc buồn tẻ để đi vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu nghìn trùng và như thế để biết thế nào là phó thác, gắn chặt.

***************

Lời tâm sự: Con Thiên Chúa đã hy sinh tất cả vì loài người chúng ta (2 Cor 8,9 ; Pl 2,6-11).  Có thể nói được rằng trần gian hay mỗi người chúng ta là viên ngọc quý, Đức Giêsu cất công đi tìm.  Thế nhưng, thưa các bạn, tôi vẫn cứ tránh né ẩn nấp, nhõng nhẽo làm eo (vì còn mải mê trần thế) không chịu chừa cái mặt… mít ra cho Người gặp.  Cứ để cho Người đào bới đẫm mồ hôi mướt máu ; cứ để Người bôn ba ngược xuôi mòn mỏi, thân xác bải hoải, tay chân rời rã; cứ để người thả lưới cực nhọc dầm sương thâu đêm, dãi nắng cả ngày… và như thế niềm vui mừng nơi Người không có, Nước Trời vẫn chìm lặng trong đăm chiêu.

Có những lúc tôi cũng muốn nếm thử, cũng muốn nhìn coi cho biết Chúa ngọt ngào dường bao, nhưng tôi chỉ thấy quay quắt với chính mình, đối diện với cõi lòng tăm tối nặng nề của mình và cuộc đời tôi như bước vào ngõ cụt, tưởng chừng như sự khao khát, lòng cảm nếm vượt quá sức cố gắng của tôi. Tôi lại buông bỏ, chán nản…

Thế nhưng tôi có trốn chạy mãi được đâu…. Cho đến lúc chẳng còn thấy mình bám víu vào trần gian được nữa, một tiếng nói mạnh mẽ trong tôi là tôi cóc cần mọi sự.  Và tôi đã lấy hết can đảm để đứng lại, diện đối diện, mở mắt thật to mà nhìn, tai vểnh lên để nghe trước Chúa Giêsu Thánh Thể…. lúc đó tôi thấy mình bị nắm bắt “bởi lẽ chính tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt”(Pl 3,12)

Mong Manh