TỪ BỎ ĐIỀU QUÝ ĐỂ CÓ ĐƯỢC ĐIỀU QUÝ HƠN

Lời Chúa Giê-su nói hôm nay thật không dễ nghe, thậm chí còn gây sốc nếu ta hiểu theo nghĩa đen. Chúa nói “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”

(Lc 14,26).  Lời mời gọi của Chúa Giê-su thật mạnh mẽ và dứt khoát.

Theo Chúa là một lựa chọn và hy sinh

Nghe lời tuyên bố của Đức Giê-su ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Đức Giê-su thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ tận căn, không những của cải, người thân, mà cả những tiện nghi, kế hoạch riêng, sự quyến luyến, những giao tiếp hợp pháp và thậm chí cả chính mạng sống mình nữa (x. Lc 14). Chúa yêu cầu phải “bỏ” cha mẹ, vợ con, anh em, chị em.

Có người hỏi: Phải chăng, điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giê-su, người ta phải thay thế tình yêu đối với người thân cận bằng sự từ bỏ đối với họ? Không phải thế, Đức Giê-su đòi hỏi người môn đệ phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Thiên Chúa là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Đức Giê-su yêu cầu con người dành cho Thiên Chúa một vị trí đặc biệt và cao nhất. Chúa Giê-su không cổ võ việc từ bỏ gia đình hay cắt đứt tình thân, mà Người đòi hỏi một sự đảo chiều trong ưu tiên của ta: Phải đặt Thiên Chúa làm trung tâm, hơn cả những điều quý nhất.

Chúa không xem thường cha mẹ, vợ con, nhưng Chúa biết rằng: nếu ta yêu mến Người hơn, thì ta sẽ yêu người thân một cách đúng đắn hơn, yêu với tình yêu vô điều kiện và không chiếm hữu.

Thánh Gio-an Kim Khẩu đã từng nói: “Đức Ki-tô không lấy đi khỏi chúng ta những gì là quý giá, mà Người dạy chúng ta đặt mọi sự vào đúng trật tự: yêu Chúa trước hết, để mọi tình yêu khác được thanh luyện.”

Theo Chúa là từ bỏ điều quý để đạt được điều quý hơn. Như người xây tháp hay vị vua sắp ra trận trong Tin Mừng hôm nay, ai cũng cần lượng giá, biết người, biết mình.

Xin ơn khôn ngoan

Tác giả sách Khôn Ngoan thốt lên: “Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa?” (Kn 9,13).

Đúng vậy, nhiều lúc con người tưởng mình khôn ngoan, thành công, sắp đặt được mọi sự, nhưng không biết rằng khôn ngoan đích thực là nhận ra điều Chúa muốn nơi mình, và sống theo đó. Vì thế, trong Hiến chế Gaudium et Spes, Công đồng Vaticanô II đã viết: “Con người chỉ thực sự là chính mình khi hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa” (GS 24).

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta xét lại: Tôi có đang chọn Chúa là nhất chưa? Tôi có sẵn sàng từ bỏ một chút tiện nghi, một chút thời gian, một chút tự ái… để sống theo thánh ý Chúa không?

Đón nhận tha nhân với niềm tin yêu

Trong thư gửi ông Phi-lê-môn, thánh Phao-lô nài xin ông đón nhận lại người đầy tớ tên Ô-nê-xi-mô không còn như một nô lệ, nhưng như một người anh em trong Chúa (Plm 16). Đây là một bằng chứng sống động rằng: theo Chúa không chỉ là lựa chọn cá nhân, mà còn là thay đổi cách ta nhìn người khác. Từ bỏ sự phân biệt, tự cao, thành kiến để đón nhận tha nhân với tình yêu mới.

Đến nhà thờ, chúng ta không chỉ gặp Chúa, mà còn gặp nhau. Và nếu gặp Chúa thật sự, thì ta cũng phải đối xử với anh em như những người cùng được Chúa yêu thương.

Chúa Giê-su chính là mẫu gương tuyệt đối của tình yêu tự hiến: Chúa từ bỏ vinh quang Thiên Chúa để mang lấy phận người. Từ bỏ sự sống để chết trên thập giá. Từ bỏ mọi quyền năng để ẩn mình trong tấm bánh nhỏ bé, một sự ẩn mình khó tin để ở lại với chúng ta.

Theo Chúa là một chọn lựa có hy sinh. Nhưng Chúa cũng hứa: “Ai bỏ mọi sự vì Thầy, sẽ được gấp trăm ở đời này, và sự sống đời đời” (x. Mc 10,29-30).

Ước chi mỗi người chúng ta, Lễ xong ra khỏi nhà thờ mà không kết thúc, nhưng kéo dài trong từng chọn lựa hằng ngày: Chọn nói lời yêu thương thay vì giận dữ. Chọn tha thứ thay vì chấp nhất. Chọn phục vụ thay vì đòi hỏi, và nhất là, chọn Chúa thay vì chính mình. Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Chúng ta hãy trở nên điều chúng ta lãnh nhận.”  Chúng ta đã rước Chúa Giê-su Thánh Thể, vậy chúng ta hãy trở nên “tấm bánh bẻ ra” cho gia đình, giáo xứ và xã hội hôm nay.

Theo Chúa không dễ vì đòi hỏi chúng ta từ bỏ điều quý. Nhưng nếu từ bỏ vì tình yêu, vì Chúa, thì ta đạt được điều quý hơn gấp bội. Chúa Giê-su hỏi từng người chúng ta: “Con có sẵn sàng chọn Thầy, chọn thánh ý Thầy, dù phải hy sinh điều gì đó không?”

Câu trả lời không nằm trong lời nói, mà trong chọn lựa sống mỗi ngày. Xin Thánh Thể Chúa giúp chúng ta can đảm chọn Chúa, vì chỉ có Chúa mới là kho tàng đích thực của đời ta.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

HỌC BIẾT SỐNG THINH LẶNG TRONG VIỆC CẦU NGUYỆN

Đối thoại trong cầu nguyện được hình thành từ sự thinh lặng và lắng nghe. Chúng ta nói chuyện với Chúa, thế nhưng chúng ta cũng cần lắng nghe Ngài.

Linh mục Emmanuel Albuquerque

Chúng ta đang sống trong một thời đại thích thể hiện bản thân. Người ta phô diễn hầu như tất cả mọi thứ. Món ăn mà chúng ta ăn, quần áo chúng ta mặc, quan điểm của chúng ta… tất cả đều trở thành một bài đăng trên mạng xã hội cách dễ dàng. Chúng ta thường phải đối mặt với tình trạng lộn xộn, ồn ào và những thứ đó cứ bủa vây chúng ta. Vì thế mà thinh lặng trở nên ít hơn, rụt rè hơn, lãng quên nhiều hơn. Để lắng nghe cần phải biết thinh lặng. Lắng nghe người khác, Thiên Chúa hay chính mình là một bài tập rất khó, vì nó buộc chúng ta phải rời xa ánh đèn sân khấu, nơi mà chúng ta chỉ thể hiện những gì mà người khác muốn thấy, để bước vào trong thâm sâu của con người mình.

Trong nền văn hóa âm thanh mà chúng ta đang sống, thinh lặng có thể làm chúng ta sợ, bởi vì sống trong thinh lặng là bước vào trong một mối tương quan khác, và điều này có thể ảnh hưởng đến mối liên hệ liên vị với nhau, cũng như ảnh hưởng đến mối quan hệ với Thiên Chúa.

Kinh nghiệm Kitô giáo cho thấy có ba trong số các nền tảng căn bản của cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là tùy thích nếu chúng ta muốn trưởng thành trong sự mật thiết với Thiên Chúa, trong việc nhận biết Ngài và chính mình. Cầu nguyện là một thực tại quý báu, nhưng bằng cách này hay cách khác chúng ta đã biết được điều đó. Tuy nhiên, một số người cảm thấy duy trì việc cầu nguyện cách trung thành, cảm thấy cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn này sao cho được hiệp nhất trong một cuộc đối thoại đầy yêu thương thật khó biết là dường nào.

Thinh lặng, cầu nguyện và đối thoại

Cầu nguyện là đối thoại. Nó phải là như vậy. Chính Chúa Giêsu đã chỉ dẫn về việc này trong Matthêu 6, 6 “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” Cầu nguyện là một cuộc gặp gỡ. Chúng ta mong đợi. Trong sự mong đợi này, Chúa muốn đón tiếp chúng ta để thiết lập một cuộc đối thoại, trong đó có người nói, có người nghe.

Trong cuộc gặp gỡ đó điều Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm là hãy cho thấy cách chúng ta có thể sống lời cầu nguyện của mình. “Đóng cửa lại…” Chúng ta nghĩ rằng Chúa nói chuyện với chúng ta từ cánh cửa của căn phòng chúng ta ra vào, nhưng nghịch lý là chúng ta có thể hiểu hành động đóng cửa giống như lời mời đóng cửa tâm hồn. Cái gì vậy? Cầu nguyện với tâm hồn khép kín sao?  Rõ ràng là không. Hãy đóng cửa tâm hồn trước những tiếng ồn ào đến từ bên ngoài, trước những lộn xộn đang bủa vây chúng ta. Và hãy bước vào sống trong sự thinh lặng hầu lấp đầy chúng ta bằng sự hiện diện của Đấng đang ở đó đợi chờ chúng ta.

Thinh lặng trong cầu nguyện Kitô giáo không được hiểu như là sự im lặng trống rỗng, hay dẫn chúng ta đến một sự trống rỗng hiện sinh. Chúng ta thấy Chúa Giêsu mời gọi chúng bước vào trong căn phòng đã có sự hiện diện của Chúa Cha ở đó. Thinh lặng trong cầu nguyện Kitô giáo là một sự thinh lặng trọn vẹn và hướng tới việc đưa chúng ta đến một sự viên mãn, bởi vì Thiên Chúa đang ở đó để lắng nghe và nói chuyện với chúng ta.

Thinh lặng để lắng nghe

Đối thoại trong cầu nguyện được tạo ra từ sự im lặng và lắng nghe. Chúng ta nói với Chúa, nhưng chúng ta cũng cần lắng nghe Ngài, và hầu như không xảy ra cách ồn ào hay bạo lực. Hầu như lúc nào cũng được nhận biết qua “một cơn gió thoảng nhẹ nhàng” (1V 19,12). Thinh lặng trong cầu nguyện trở thành một yếu tố nền tảng để có thể lắng nghe điều Thiên Chúa nói với chúng ta. Thường thì không dùng lời lẽ. Lắng nghe là chiêm nghiệm, thinh lặng tạo thành. Tạo ra những mối liên kết khác, nhịp cầu khác.

Để lắng nghe cần phải ở trong thinh lặng. Sống trong thinh lặng để lắng nghe những nỗi đau và nỗi buồn phiền của thế giới bị tổn thương. Hãy lắng nghe những gì đang diễn ra xung quanh cuộc sống của chúng ta. Và thinh lặng cho phép chúng ta lắng nghe vượt ra khỏi những tiếng ồn quanh quẩn để trở thành người sáng tạo, và những gì mà chúng ta nhận được trong sự thinh lặng trở thành chất dinh dưỡng cho lời cầu nguyện của chúng ta.

Học cách sống thinh lặng

Sống giữa một thế giới bị bao trùm bởi những tiếng ồn ào và tiêu khiển, tôi mời gọi các bạn hãy sống một lộ trình thân mật với Chúa. Sự thân mật với Thiên Chúa là con đường để thăng tiến nội tâm, để lắng nghe tiếng Chúa cách rõ ràng và để hiểu biết bản thân.

Chúng ta hiện đang lắng nghe điều gì? Và đâu là chất lượng của việc chúng ta lắng nghe? Làm sao để nuôi dưỡng cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Các bạn hãy bước vào căn phòng của mình. Đóng cửa lại và hãy cầu nguyện với Chúa Cha, Đấng đang đợi chờ các bạn. Cùng với Ngài để việc thinh lặng của chúng ta được trọn vẹn. Bởi đó sẽ là kết quả của việc lắng nghe.

G. Võ Tá Hoàng 

QUAN NIỆM CỦA THÁNH AUGUSTINÔ VỀ Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA BÌNH AN

Bình an thay thế sự bồn chồn khi cuộc đời chúng ta hướng về Thiên Chúa.  Chúng ta nên sống phù hợp với nhân đức mà thánh Augustinô định nghĩa là “trật tự của tình yêu” ( virtus est ordo amoris )…

Cách đây một thời gian, khi phong trào bình an trong trường đại học đang rất sôi nổi, tôi quyết định thực hiện một cuộc khảo sát giữa các sinh viên của mình để tìm hiểu xem liệu ý tưởng khiến họ say mê đó có phải là điều họ thực sự hiểu rõ hay không. Câu hỏi mà tôi đặt ra trong lớp học rất ngắn gọn: “Bình an là gì?” Một loạt các bàn tay lập tức giơ lên. Các bạn sinh viên tự tin rằng họ đã nắm đầy đủ thông tin về chủ đề này. Thật không may, tất cả các câu trả lời của họ đều được diễn đạt theo lối phủ định: “Bình an là không có chiến tranh; Bình an là tránh xa sự thù địch; Bình an là thoát khỏi sự hỗn loạn, rối ren; Bình an là chấm dứt sự lo lắng…”

Cuối cùng, để làm cho câu hỏi của tôi trở nên thực tế hơn, tôi đã hỏi những sinh viên hiện đang im lặng xem họ có thể làm gì để trải nghiệm được bình an, dù chỉ trong mười phút. Một sự im lặng đáng sợ bao trùm lớp học. Cuối cùng, một sinh viên dũng cảm đã thú nhận một cách khá thất vọng rằng với tất cả các bài tập mà cô ấy phải gánh và tất cả các deadline mà cô ấy phải đáp ứng, việc tìm kiếm sự bình an là điều không thể trong ít nhất vài tuần. Tôi nghĩ cô ấy đã nói thay cho nhiều người, nếu không nói là tất cả, những người bạn cùng lớp của cô ấy. Tôi nghĩ thật đáng buồn khi giáo dục chính quy lại là một sự gián đoạn của bình an. Liệu các bạn sinh viên có bình an sau khi tốt nghiệp không? Chúng ta có thể tìm thấy thời gian cho bình an không? Ngay cả trong giấc ngủ, chúng ta cũng có thể bị quấy rầy bởi những cơn ác mộng. Nếu chúng ta phải đợi cho đến khi không làm gì để tìm thấy bình an, thì không có gì làm nền tảng cho bình an, không có gì bình an có thể đụng chạm để mang lại cho cuộc sống của chúng ta một ý nghĩa cao cả hơn. Sự bình an như thế sẽ chìm vào hư vô. Đây không phải là bình an mà chúng ta hy vọng, mà chỉ là ảo tưởng về bình an.

Thánh Augustinô giải gỡ

Không có bất kỳ thánh Augustinô nào trong lớp của tôi. Nhưng tôi có thể chiêu mộ vị Tiến sĩ khôn ngoan này của Giáo hội vì lợi ích của sinh viên. Đối với vị Giám mục thành Hippo này, bình an là “sự yên tĩnh của trật tự” (Tranquilitas ordinis). Thánh Augustinô đề cập đến trải nghiệm cá nhân về bình an. Con người đã sống một cuộc sống không có trật tự kể từ khi bị tổn thương bởi Tội Nguyên Tổ. Tâm hồn họ trở nên “bồn chồn.” Sự bồn chồn (inquietum) này đã tạo ra niềm khao khát bình an. Nhưng bình an sẽ luôn khó nắm bắt chừng nào nó còn được coi là đối tượng trực tiếp của sự lựa chọn. Chúng ta không thể chọn bình an như cách hái một quả táo từ trên cây. Chúng ta phải chọn “điều gì đó khác” trước khi có đủ điều kiện để trải nghiệm bình an. Theo thánh Augustino, một “điều gì đó khác” chính là trật tự. Nhưng có nhiều loại trật tự khác nhau. Cụ thể trật tự mà vị thánh vĩ đại này nghĩ đến là gì? Đó là trật tự của những hành vi nhân đức dẫn đến Thiên Chúa. Câu nói nổi tiếng nhất của ngài xuất hiện ở phần đầu cuốn Tự thuật: “Tâm hồn con khắc khoải không ngừng cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa” (cor nostrum inquietum est donc requiescat in Te).

Bình an thay thế sự bồn chồn khi cuộc đời chúng ta hướng về Thiên Chúa. Chúng ta nên sống phù hợp với nhân đức mà thánh Augustinô định nghĩa là “trật tự của tình yêu” ( virtus est ordo amoris ). Bây giờ chúng ta thấy rõ hai điều: Tại sao chúng ta bồn chồn và khao khát bình an; và giải pháp cho sự bồn chồn của chúng ta. Nếu chúng ta muốn bình an, trước hết chúng ta phải hướng tình yêu của mình đến Thiên Chúa. Khi đó chúng ta sẽ trải nghiệm được sự yên tĩnh của trật tự, đó là sự bình an.

Vậy bình an là gì? Đó là sự tĩnh lặng mà chúng ta cảm nghiệm được khi chúng ta hướng tình yêu của mình, qua nhân đức, tới Thiên Chúa. Tình yêu này, một cách tự nhiên, bao gồm cả tình yêu tha nhân. Vì vậy, sự bình an tương thích với mọi hoạt động sống của chúng ta, trong đó có “gánh nặng” bài vở. Chúng ta không nên tìm kiếm bình an nhưng hãy yêu mến Thiên Chúa. Bình an là điều gì đó “xảy ra” với chúng ta khi chúng ta tìm thấy một điều gì đó khác. Nó rất giống với hạnh phúc, như Nathaniel Hawthorne đã nói: “Giống như một con bướm, khi theo đuổi, luôn nằm ngoài tầm nắm bắt của chúng ta, nhưng nếu bạn ngồi yên, nó có thể đậu xuống trên bạn.”

Dr. Donald Demarco
Chuyển ngữ: Kim Linh – Chuyển ngữ từ: Catholic Exchange

THIÊN CHÚA NÂNG CAO KẺ KHIÊM NHƯỜNG

Khi đề cập về Chúa Giêsu, người ta thường giới thiệu Người là Thiên Chúa Ngôi Hai cao cả, là Vua hoàn vũ, là Thẩm Phán tối cao, là Đấng quyền năng phép tắc… nhưng Chúa Giêsu còn có một phẩm chất cao đẹp khác ít được đề cập đến: Người là Đấng rất khiêm nhường!

Trong thư Philip (2, 6-11), thánh Phao-lô trình bày sự khiêm nhường sâu thẳm của Chúa Giêsu như sau:

Mặc dù Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa quyền năng, đồng hàng với Thiên Chúa Cha, nhưng Người đã hủy mình ra không! Từ tột đỉnh danh dự và vinh quang, Người đã gieo mình xuống cõi đời ô trọc, hoá thân thành một trẻ sơ sinh yếu đuối, được sinh ra trong nơi rốt hèn; khi lớn khôn thì sống bằng nghề mộc ngày ngày đổ mồ hôi đổi lấy áo cơm. Thiên hạ còn gọi Người là “bạn bè của quân thu thuế và phường tội lỗi”; rồi cuối cùng, Người đón nhận cái chết thấp hèn và đau thương trên thập giá cùng với hai kẻ bất lương.

Chúa Giêsu là Đấng rất khiêm nhường nên Người cũng muốn cho chúng ta trở nên khiêm nhường như Chúa. Chúa Giêsu không kêu mời chúng ta hãy học cùng Người vì Người thông thái, vì Người có tài hùng biện thu phục quần chúng, vì Người khôn ngoan… nhưng trước hết, Người kêu gọi chúng ta hãy học với Người, vì Người có lòng dịu hiền và khiêm nhường.” (Mt 11, 29)

Chúa Giêsu còn thuyết phục chúng ta sống khiêm nhường bằng một dụ ngôn rất cụ thể và thực tế như sau: “Khi anh em được mời dự tiệc, đừng chọn chỗ nhất, kẻo khi có người khách khác quan trọng hơn đến sau, chủ nhà sẽ đến nói với anh em: Mời anh xuống ngồi chỗ dưới nầy cho… Trái lại, khi được mời dự tiệc, anh em hãy chọn chỗ cuối…. Vì hễ ai nâng mình lên thì sẽ bị hạ xuống và ai tự hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên” (Lc 14, 8-11).

Cây cao, tàng lớn, đứng trên đỉnh cao thì nguy cơ bật gốc hay gãy đổ càng cao. Cây nhỏ, thân mềm như lau sậy, dù đứng ở vị trí nào cũng được an toàn trước cuồng phong bão tố.

Khi huấn dụ các chủng sinh về khiêm nhường, Đức Cố Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận nói: “Khi ta ngồi lên ngai cao, nhiều người muốn đạp ta xuống; khi ta nằm xuống sát đất, nhiều người muốn nâng ta lên.”

Nước mưa rơi xuống trên những đỉnh núi cao sẽ chảy tuôn đi hết chẳng đọng lại giọt nào. Rốt cuộc, mọi dòng nước đều tuôn về chỗ trũng. Chính thế người ta thường nói: “Biển cả là mẹ của tất cả sông ngòi vì biển hạ mình thấp hơn mọi con sông.”

Ai hiền lành khiêm nhượng, biết hạ mình xuống thì tình trạng tâm hồn của họ như là chỗ trũng, là lũng sâu. Ơn phúc của Thiên Chúa cũng như tình yêu của bạn bè sẽ chảy tuôn vào những con người ấy.

************************************

Một trong những hình tượng rất sinh động để diễn tả cuộc đời khiêm hạ là hình tượng về nước. Nước lúc nào cũng khiêm tốn. Nước luôn tìm chỗ rốt hèn. Nước luôn mềm mỏng dịu dàng không hề xô xát va chạm với ai.

Nước không hề kháng cự hay đối đầu nhưng rốt cục nước vẫn chiến thắng nhờ sự mềm mỏng của mình. Búa tạ giáng vào tường, tường đổ; búa đập vào đá, đá tan; nhưng nếu có ai quai búa đập mạnh vào vũng nước, nước không cần kháng cự, nhưng búa sẽ phải cắm xuống đáy bùn!  Đúng là “nhu thắng cương, nhược thắng cường”!

Nước luôn tìm chỗ rốt hết, tìm chỗ thấp mà chảy xuống, chẳng bao giờ muốn leo cao nên mới tạo ra thủy năng, một nguồn năng lượng phi thường!

Khi bị hỏa thần tấn công, nước nhẹ nhàng bốc mình lên cao thành những lớp mây trời và khi hỏa thần hừng hực thiêu rụi những cánh rừng tươi tốt, nước có thể gieo mình xuống dập tắt hỏa thần.

Tuy mềm mại nhưng nước có sức xói mòn tất cả; dù rắn như đá thì “nước chảy đá cũng phải mòn.”

Nhờ mềm mỏng, nước rửa sạch tất cả, cuốn trôi tất cả.

Nhờ biết hóa mình thành muôn hạt li ti, nước có thể len lỏi vào mọi ngõ ngách của các địa tầng, thấm nhập khắp muôn nơi.

Tuy hạ mình thấp hèn, nước đem lại sự sống cho mọi loài. Nơi đâu thiếu nước, ở đó chỉ còn là sa mạc, khô cằn. Nơi đâu nước ngấm đến, ở đó sự sống sẽ phong nhiêu.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng hiền lành khiêm nhượng, xin cho chúng con, những người môn đệ Chúa, biết chọn chỗ rốt hèn như nước, biết sống khiêm hạ như Chúa đã nêu gương.

Lm. Ignatiô Trần Ngà

THÁNH AUGUSTINO – GIÁM MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Việc kính nhớ thánh Augustin, một trong bốn tiến sỹ lớn của Giáo hội la tinh, qua đời tại Hippone ngày 28 tháng 8 năm 430, đã xuất hiện trong sách các phép thế kỷ thứ III, và ở Roma từ thế kỷ XI.

Aurelius Augustinus sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Thagaste (nay là Souk-Ahras, Algéric) ở Châu Phi thuộc Roma. Là công dân Roma, con một người cha không công giáo tên Patricius và một bà mẹ công giáo tên Mônica, Augustin trước học văn phạm ở Madanre, đến năm 371, đi sang Carthage thủ phủ châu Phi Roma để theo học triết lý – Mê say đọc Hortensius của Cicéron, Augustin khám phá triết học và đam mê đi tìm chân lý. Vì nhu cầu nuôi sống gia đình ông buộc lòng nhận dạy tu từ học ở Carthage. Thời gian đó ông theo lạc thuyết Manichée trong chín năm, mong tìm được chân lý nơi tôn giáo này. Trước tiên, ông bị mê hoặc bởi giáo thuyết này tưởng có thể giải thích sự tranh chấp giữa Thiện và Ác, cái đẹp và những điều lộn xộn nơi thế giới, nhưng rồi ông thất vọng. Năm 383, Augustin bỏ Carthage sang Roma trước khi đến Milan lúc đó là thủ phủ đế quốc Roma phương Tây, tại đây ông cũng dạy tu từ. Mẹ Ngài là bà Mônica đã đến tìm gặp ông ở đây, và cũng chính tại đây, đường chuyển biến tinh thần của Augustin kết thúc nhờ thánh giám mục Ambroise mở đường cho Ngài hiểu Kinh thánh và một thứ tân Platon thuyết có vẻ đáp ứng niềm khát mong chân lý nơi Ngài. Giờ đây Augustin đã sẵn sàng cho bước nhảy tới Chúa, tức là trở lại.

Một giai thoại nhiều người biết xảy ra trong vườn nhà Ngài ở Milan đã được thánh nhân kể trong quyển Tự Thuật: “Tâm hồn đau đớn, con tim tan nát, tôi đang khóc, bỗng tôi nghe từ nhà bên cạnh tiếng hát của một người con trai hay con gái không rõ. Tiếng hát không rõ nhưng nghe lặp nhiều lần: Tolles, lege.Tolles, lege (Cầm lên, đọc đi! Cầm lên, đọc đi!). Vậy nên tôi vội vã đến chỗ Alypius ngồi, tôi cầm lấy cuốn sách của Thánh Tông đồ, mở ra và im lặng đọc khúc đầu tiên bắt gặp: Đừng chè chén say sưa, đừng chơi bời dâm đãng, cũng đừng cãi cọ ghen tuông. Trái lại hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13,13)…. Chính lúc này, như có một luồng sáng tỏa lan hồn tôi phá tan mọi bóng tối nghi ngờ” (XIIII,12). Tám tháng sau, thánh Ambroise rửa tội cho Ngài trong đêm Phục sinh đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng tư năm 387.

Năm 388 sau khi mẹ qua đời tại Ostie, Augustin trở về Thagaste ở châu Phi cùng với ông bạn Alypius và Adeodat con trai. Mong ước cuộc sống chuyên tu, Augustin tập hợp một số bạn hữu lại và cùng sống đời dòng tu, chuyên nghiên cứu và cầu nguyện trong ba năm (388-391), sau đó, thể theo đề nghị của giáo dân Hippone, Augustin thụ phong linh mục để giúp đỡ Đức giám mục Valère. Năm 395 Ngài thụ phong giám mục và một năm sau, kế vị Đức giám mục Valère làm giám mục Hippone, thành phố lớn thứ hai châu Phi. Từ đây, trong suốt ba mươi lăm năm trong đại thánh đường An Bình, Ngài chú giải Thánh vịnh và các Sách thánh, ngồi tòa xử án, theo dõi việc quản trị tài sản Hội thánh, trả lời các thư tín đến từ khắp phương Tây, biện luận đả kích lạc giáo, đặc biệt là phái Donatus và Pélagius.

Cùng với các giáo sỹ của mình sống đời tu trì, thánh Augustin cũng sáng tác một số tác phẩm rất quan trọng, như Confessions (397-401), Giáo lý dự tòng (400), Giáo lý công giáo (394-416). Đối với phái Donatus vẫn tự phụ là Giáo hội của những người Trong Trắng, thánh thiện, Ngài dùng nhiều thái độ khác nhau liên tục, khi diễn thuyết, lúc tranh luận cho đến một cuộc tranh luận phản biện tại Carthage năm 411 dưới sự chủ tọa của một đại diện hoàng đế đã đến kết luận rằng người công giáo mà Augustin là phát ngôn nhân, thắng. Từ đó những người theo phái Donatus bị cảnh sát hoàng đế truy đuổi. Với phe Pélagius (bị Roma kết án năm 417), Augustin chứng tỏ là một tiến sỹ lớn về ân sủng và tiền định. Cũng trong thời gian đó một số tác phẩm khác ra đời: Đô thành Thiên Chúa (413-424), Chúa Ba Ngôi (399-422). Cuốn những lời phản biện (Rétractations) viết vào những năm cuối đời (426-427) là chứng tá đức khiêm tốn thánh Augustin: “Tôi đọc lại các tác phẩm thô hèn của mình và nếu có đoạn nào gây cho tôi hoặc có thể gây cho người khác khó chịu thì lúc đó tôi lên án nó, có lúc phải giải thích ý nghĩa cần có để biện minh cho nó.”

Những năm cuối đời của thánh Augustin nhuốm màu ảm đạm vì châu Phi Roma và Hippone, thành phố có toà giám mục của Ngài bị người Vandales vây hãm và xâm chiếm; lúc này đã bảy mươi sáu tuổi, thánh Augustin giám mục vẫn cần mẫn chu toàn bổn phận giáo huấn và quản trị, đồng thời lo cho rất nhiều người di cư đến tìm trốn tránh tại thành phố. Tháng thứ ba kể từ ngày thành phố bị vây hãm, Người bị bệnh và qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430, trối các sách vở của mình lại cho Giáo hội Hippone. Mười lăm tháng sau khi người Vandales chiếm thành phố, mộ và thư viện thánh Augustin vẫn được tôn trọng.

Các ảnh tượng về thánh Augustin rất nhiều chứng tỏ ảnh hưởng lan tỏa lạ thường của sự thánh thiện và giáo lý Người, đặc biệt là các tác phẩm của Fra Angelico và G.de Crayer (Louvre) và G.Coustou (Versailles).

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày van xin Thiên Chúa cho chúng ta được tràn đầy tinh thần của thánh Augustinô, chỉ khao khát mỗi mình Thiên Chúa và chỉ tìm Người vì Người là nguồn của sự khôn ngoan. Đề tài tìm kiếm chân lý là trọng tâm của đời sống thánh nhân; ngài nói với Cassiciacum: “Tâm hồn con xin nói Ngài: Con đã đi tìm nhan thánh Chúa! Lạy Chúa, cho đến bây giờ, con vẫn đi tìm nhan thánh Ngài !” (Tự thuật IX,3).

Trong bản văn Phụng vụ giờ kinh, vị thánh tiến sĩ thành Hippone ca tụng chân lý: “Chỉ có tình yêu mới có thể nhận ra chân lý. Ôi chân lý vĩnh hằng! Ôi tình yêu vĩnh cửu, Ôi sự đời đời đáng yêu! Ngài là Thiên Chúa của con, con khao khát Chúa đêm ngày… Cuối cùng con đã được ôm lấy Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người, Đức Giêsu Kitô!… Chính Người đã gọi chúng con và nói rằng: Ta là Đường, là sự Thật và là sự sống” (Tự thuật VII, 10.18). Bài đọc này trích đoạn nổi tiếng mà chúng ta gặp trong điệp ca Magnificat: “Ôi sự đẹp đẽ vừa cổ kính vừa mới lạ, Con đã yêu Người quá trễ! Nhưng bây giờ: Ngài ở trong con, trong khi con còn ở bên ngoài, và ở bên ngoài con lại đi tìm Chúa… Chúa luôn ở với con, còn con con không ở với Chúa… Ngài đã gọi con, đã kêu lớn tiếng, cuối cùng Chúa đã thắng sự điếc lát của con; Chúa tỏ sáng, Chúa bừng lên và Chúa đã xua đuổi sự tối mù của con…” (Tự thuật; Chúa tỏ sáng, Chúa bừng lên và Chúa đã xua đuổi sự tối mù của con…) (Tự thuật X,27).

Sự khôn ngoan của thánh Augustinô được nhận thấy trong Lề luật viện tư tưởng, xuất phát từ những giáo huấn trong một lá thư của thánh tiến sĩ, được phổ biến rộng rãi vào thời Trung Cổ.  Bản Luật này cũng ảnh hưởng trên thánh Bênêđíctô, sau đó là các kinh sĩ của thánh Phanxicô và thánh Đaminh. “Từ một trái tim duy nhất và từ một tâm hồn duy nhất, hướng về Thiên Chúa” luôn là luật căn bản, như lý tưởng của chính cộng đoàn tiên khởi (x. Cv 2,42-47).

Lời nguyện Hiệp Lễ lấy cảm hứng từ các Bài giảng của thánh nhân (57,7) làm nổi bật một khía cạnh khác của giáo lý thánh Augustinô: bí tích Thánh Thể giúp chúng ta đồng hình đồng dạng với Đấng mà chúng ta rước lấy. Vì thế chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho việc thông phần vào Bàn Tiệc thánh hóa chúng con, để một khi chúng con là chi thể của Nhiệm Thể của Người, chúng con thật sự trở thành điều chúng con đã lãnh nhận.”

Thánh Tiến sĩ Ân sủng, vì đã chống lại nhóm Pelagius, cũng là kẻ bảo vệ tự do của con người, vì sự tự do này không bị sự toàn năng của Thiên Chúa bóp nghẹt, nhưng ngược lại được nâng lên thật cao quí, vì Thiên Chúa một khi đội mão triều thiên cho công nghiệp của chúng ta (nhờ ân sủng) thì cũng đội triều thiên cho chính ân sủng của Người (sự tự do).

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tuyên bố về thánh Augustinô: “Tất cả phẩm chất của các Giáo phụ nổi bật trong thánh nhân ở mức độ tuyệt diệu nhất.”  Thật vậy, không ai trình bày về Hội Thánh như ngài. Say mê Thiên Chúa và con người, ảnh hưởng của ngài có thể nói là nổi bật nhất trong phạm trù công giáo.

Enzo Lodi

KHI KHÔNG CÒN GÌ CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC

Bạn sẽ làm gì khi một vết thương hay một mất mát khiến bạn tuyệt vọng đến tê liệt, và không có điều gì bạn có thể làm để thay đổi tình huống ấy?

Bạn sẽ nói gì hay làm gì khi cố gắng an ủi một người đang bị tê liệt vì đau buồn?

Chẳng hạn, bạn sẽ nói gì với ai đó đang túc trực bên giường bệnh của người thân sắp qua đời khi tuổi đời còn quá trẻ?  Bạn sẽ nói gì với một người vừa mất người thân vì tự tử?

Bạn sẽ làm gì hay nói gì khi bản thân hoàn toàn bất lực trong việc sửa chữa một tình huống đã đổ vỡ?

Nhà thơ Rainer Maria Rilke từng nhận được một bức thư từ một người đàn ông vừa mất người thân, đang chiến đấu với tuyệt vọng, và tuyệt vọng tìm kiếm điều gì đó để trái tim mình khỏi tan vỡ.

Rilke đã gửi lại cho ông những lời này: “Đừng sợ đau khổ — hãy lấy nỗi nặng trĩu trong lòng bạn mà trao lại cho sức nặng của trái đất; núi non thì nặng, đại dương cũng nặng.” (Sonnets to Orpheus). Những lời này như vang vọng lời trong Sách Ai Ca (3,29), nơi tác giả linh hứng viết: “Có lúc tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống bụi đất mà chờ đợi.”

Đúng vậy, đôi khi tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống đất mà chờ đợi. Đôi khi, ta cần trao trả nỗi đau trĩu nặng của mình cho chính mặt đất.

Thật kỳ lạ, chúng ta có thể chấp nhận những lời mời gọi này – và sự kiên nhẫn mà chúng đòi hỏi – khi nỗi đau chúng ta chịu là thể lý, chứ không phải tinh thần hay tâm lý. Thí dụ, nếu bị tai nạn và gãy chân nặng, ta sẽ đành chấp nhận, dù khó chịu đến đâu, rằng mình sẽ phải nằm một chỗ trong vài tuần hay vài tháng, và chẳng có cách nào khác ngoài việc để thời gian và tự nhiên chữa lành. Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta không thường áp dụng được sự chấp nhận đó khi vết thương là trong tâm hồn. Khi trái tim tan vỡ, chúng ta muốn có giải pháp ngay tức thì. Ta không muốn con tim mình phải “chống nạng” hay “ngồi xe lăn” suốt nhiều tuần hay nhiều tháng.

Dĩ nhiên, không phải mất mát nào hay nỗi đau nào cũng giống nhau. Có những mất mát tuy đau đớn nhưng không khiến ta hoàn toàn tê liệt, vì trong đó đã có sẵn yếu tố của sự an ủi và chữa lành. Chúng ta từng trải qua điều này khi dự tang lễ của một người thân yêu đã sống và ra đi trong bình an – dù đau lòng, sâu thẳm trong tâm hồn, ta vẫn cảm thấy sự thanh thản nào đó trong chia ly.

Nhưng cũng có những mất mát mà trong một khoảng thời gian sau đó, không có lời an ủi nào – dù là lời đầy đức tin – có thể xoa dịu được nỗi đắng cay và đau đớn trong tim. Chẳng hạn, tôi đã từng thấy điều này tại tang lễ của những người qua đời vì tự tử. Trong giây phút tột cùng của đau thương, không có lời nào – dù đúng đắn, dù đầy niềm tin – có thể vực dậy trái tim tan vỡ của những người ở lại.

Tôi nhớ một tang lễ mà tôi từng tham dự vài năm trước. Người phụ nữ mà chúng tôi tiễn đưa vừa qua đời vì ung thư, còn khá trẻ, mới ngoài năm mươi. Chồng cô, dĩ nhiên, vô cùng đau đớn. Tại buổi tiếp khách sau Thánh lễ, một người bạn thân cố gắng an ủi anh bằng cách nói: “Cô ấy đang ở với Chúa, ở một nơi tốt đẹp hơn.” Dù là một người có đức tin, và vừa bước ra khỏi nhà thờ nơi niềm tin ấy được cử hành cách công khai, anh chỉ đáp lại: “Tôi biết anh có ý tốt; nhưng đó là điều cuối cùng tôi muốn nghe hôm nay.”

Những lời nói đầy đức tin mà chúng ta trao nhau trong lúc tang thương là những lời chân thật. Người phụ nữ ấy, chắc chắn, đang ở một nơi tốt đẹp hơn. Nhưng trong khoảnh khắc đau buồn tột cùng, những lời ấy không mang lại hiệu quả cảm xúc hay tâm lý như ta mong.

Vậy, trong những hoàn cảnh như thế, chúng ta có thể trao nhau điều gì? Người khác có thể trao gì cho ta khi chúng ta tê liệt vì đau buồn?

Ta có thể trao cho nhau chính sự bất lực của mình – sự thinh lặng, sự không thể làm gì hay nói gì có thể cất đi nỗi nặng trĩu. Và có lẽ không điều gì có sức an ủi hơn trong những thảm kịch ngoài sự cảm thông phát xuất từ chính sự bất lực chung ấy. Ta vẫn có thể thầm thĩ những lời của đức tin, nhưng cũng cần chấp nhận rằng hoa trái từ những lời ấy chỉ chín muồi sau này.

Khi ta hiện diện với nhau trong thinh lặng, trong sự bất lực trước nỗi đau, chính sự hiện diện ấy đang nói lên điều mà cả Sách Ai Ca lẫn nhà thơ Rilke đã nói: Đôi khi tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống đất mà chờ đợi – và bằng cách đó, ta đang trao lại sức nặng của mình cho trái đất. Một cách nghịch lý, chính việc chấp nhận nỗi nặng ấy lại có thể là điều duy nhất nâng đỡ được tâm hồn ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TẦU KÉO HAY THUYỀN BUỒM?

Chủ đề: “Mỗi người chúng ta phải tự quyết định xem mình là loại Kitô Hữu tầu kéo, thuyền buồm hay bè trôi sông”

Một thanh niên viết thư cho một linh mục. Anh nói vị linh mục có thể tự do xử dụng lá thư của anh. Ngoại trừ một vài sửa đổi, sau đây là nguyên văn lá thư anh viết:

“Con là một trong những tay bơi lội có hạng ở Gia Nã Đại. Một ngày kia, con để chúng bạn lôi con vào đường ma tuý.

Con bị nghiện, và không lâu sau đó, sức khỏe tâm trí, thể xác và tinh thần đều xuống dốc cách thảm hại… Đời con đảo lộn tất cả. Con trở nên cô đơn và lo sợ khủng khiếp. Con không thể nói chuyện được với ai.

Tệ hơn nữa, con vẫn mắc nợ các tay đầu nậu trên $3,000. Con nghĩ, cách duy nhất để thoát khỏi là tự tử, do đó con về nhà và viết lá thư sau:

‘Cha mẹ yêu dấu,

Con xin lỗi đã làm cha mẹ đau lòng… Xin cha mẹ đừng buồn. Nếu con sống, con sẽ gây thêm nhiều đau buồn hơn là điều con vừa mới thi hành… Con thương cha mẹ và cả gia đình.

[ký tên] Kiệt’

Con uống rượu để khỏi sợ hãi khi chuẩn bị kết liễu cuộc đời. Và rồi, vào giây phút sau cùng, điều gì đó đã khiến con ngừng lại. Con lấy điện thoại và gọi cho trung tâm giúp đỡ khi khủng hoảng.

Lúc bấy giờ con không biết là mẹ con đã cầu nguyện cho con một cách cuồng nhiệt. Một vài ngày sau, con nhập viện cai trừ ma tuý. Không bao lâu con phục hồi sức khỏe thể xác cũng như tâm thần.

Chính lúc bấy giờ con mới bắt đầu đọc Kinh Thánh. Càng đọc con càng cảm thấy bình an và niềm vui. Điều đó khiến con càng tin tưởng vào Chúa hơn nữa.

Trong khi đó, con càng khao khát được biết Chúa Giêsu hơn.

Thật buồn cười. Con từng quỳ gối cầu nguyện tối thiểu trên mười lần – để xin Chúa đến trong đời con – trước khi con nhận ra rằng Người đã ở trong cuộc đời con từ lúc nào…

Tất cả những điều này xảy ra cách đây chừng năm năm. Kể từ đó, Thiên Chúa đã chúc phúc nhiều cho con. Con dạy học trong một trường Công Giáo và tích cực hoạt động trong giáo xứ…

Con cũng cố gắng mở lòng mình hơn nữa để đón nhận lòng thương xót và tình yêu của Chúa là Cha chúng ta.

Kính chào Cha
Kiệt”

*******************************

Lá thư trên cho thấy một trong những điểm của bài phúc âm hôm nay: Cửa vào nước Chúa thì quả thật chật hẹp.

Trong trường hợp của anh Kiệt, dường như cửa ấy thật là hẹp. Nhưng điều đó không làm anh nản lòng. Anh đã cố gắng và cố gắng cho đến khi vào được.

Tôi tự hỏi, không biết có bao nhiêu người cũng có can đảm để cố gắng như anh Kiệt.

Có người nói rằng, Kitô Hữu có ba loại người: loại tầu kéo, loại thuyền buồm và loại bè trôi sông.

Kitô Hữu tầu kéo là những người theo Chúa Giêsu không chỉ khi trời nắng đẹp nhưng cả khi trời giông bão.

Họ là những người theo Chúa Giêsu không chỉ khi thuận chèo xuôi mái nhưng còn khi gió cả sóng to.

Họ là những người tham dự Thánh Lễ không vì bó buộc nhưng vì Đức Giêsu đã nói trong bữa Tiệc Ly, “Hãy làm việc này để nhớ đến Thầy.”  Luca 22:19.

Họ là những người giúp đỡ người khác không chỉ vì cảm tình mà vì Đức Giêsu đã nói, “Hãy thương yêu nhau, cũng như Thầy yêu thương anh em.” Gioan 15:22.

Nói tóm, họ là loại người mà bài Phúc Âm hôm nay khuyến khích chúng ta hãy trở thành.

Kitô Hữu thuyền buồm, ngược lại, là những người theo Chúa Giêsu khi thuận buồm xuôi gió. Nhưng khi gió ngược họ lại để xuôi theo chiều gió.

Họ là những người tham dự Thánh Lễ khi gia đình và bạn hữu cùng đi. Nhưng để họ tự do thì thường họ quên lãng.

Họ là những người hay thắc mắc, “Tới mức nào thì được coi là tội?” thay vì “Tôi có thể làm gì vì yêu thương Thiên Chúa và tha nhân?”

Nói tóm, họ là những người theo Chúa Giêsu qua cánh cửa rộng nhưng lại do dự theo Người qua cánh cửa hẹp. Họ là những người theo đám đông hơn là theo Phúc Âm.

Sau cùng, có loại Kitô Hữu bè lênh đênh. Họ là Kitô Hữu chỉ có tên mà thôi. Họ không thực sự theo Chúa Giêsu, ngay cả khi thuận chèo xuôi mái. Nếu họ đi theo đường hướng của Người đó là vì có ai lôi kéo hay xô đẩy họ.

Họ là những người thực hành đạo không phải vì họ muốn mà là vì ép buộc.

Nói tóm lại, họ là Kitô Hữu chỉ có danh mà không có thực.

Điều này đưa chúng ta về với các bài đọc hôm nay. Vấn đề được nêu ra cho chúng ta là: Chúng ta là Kitô Hữu tầu kéo, Kitô Hữu thuyền buồm, hay Kitô Hữu bè lênh đênh?

Có phải chúng ta là Kitô hữu tầu kéo không? Chúng ta có theo Chúa khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan không?  Chúng ta có đi với Người không chỉ qua cửa rộng mà còn qua cửa hẹp không? Hay chúng ta là Kitô Hữu thuyền buồm? Có phải chúng ta chỉ theo Chúa khi thịnh vượng thôi? Có phải chúng ta chỉ theo Người qua cửa rộng?

Có những câu hỏi mà các bài đọc hôm nay đặt ra cho chúng ta. Không ai có thể trả lời thay cho chúng ta mà chúng ta phải tự trả lời.

Các bài đọc hôm nay mời chúng ta đối diện với các câu hỏi này với cùng một can đảm mà anh Kiệt đã có được khi đối diện với các khó khăn của anh. Nếu chúng ta đối diện với các vấn đề giống như anh, chắc chắn chúng ta sẽ có sự trợ giúp của Thiên Chúa như anh đã nhận được.

Hãy chấm dứt với bài thơ của thi sĩ John Oxenham:

“Mỗi người đều có một con đường trước mặt: đường cao, đường lưng chừng và đường thấp.

“Một linh hồn cao quý đi theo con đường cao; và linh hồn thấp hèn đi theo con đường thấp; phần còn lại trôi dạt đây đó trên con đường lưng chừng mù mờ.

“Mỗi một người đều có một con đường trước mặt: đường cao, đường lưng chừng và đường thấp.  Và mỗi một người phải quyết định cho mình một con đường để linh hồn đi theo.”

Lm. Mark Link, S.J.

BUÔNG

“Người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải!”

“Mỗi thế hệ đều có bụt thần riêng của nó. Với Israel, đó là Baal và vàng bạc; với chúng ta, chính là sự mê hoặc của cải, quyền lực và cái tôi. Tất cả đều ngăn cản chúng ta gặp được Thiên Chúa thật!” –

Timothy Keller.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến ‘bụt thần riêng’ của Israel và của người thanh niên đến với Chúa Giêsu, Đấng muốn hướng anh tới một điều gì đó cao cả hơn. Nhưng người trẻ ấy đã “buồn rầu bỏ đi,” vì anh ta không ‘buông’ nổi những gì anh có.

“Hồi ấy, con cái Israel đã làm điều dữ trái mắt Đức Chúa.” Chúa sai các thủ lãnh đến với họ, kêu gọi họ hãy ‘buông’ các bụt thần mà trở về với Ngài, “Nhưng rồi các thủ lãnh của họ, họ cũng chẳng nghe mà cứ đàng điếm với các thần ngoại lai và sụp lạy các thần đó.” Vậy là Chúa để họ rơi vào tay quân thù và lâm cảnh khốn cùng – bài đọc một.

Với câu chuyện Tin Mừng, xét về mặt con người, chàng thanh niên khá hoàn hảo; nhưng với Chúa Giêsu, những gì tối thiểu ấy xem ra không đủ – cũng không ổn – cho một người muốn nên trọn lành!  Ngài cho biết, anh cần ‘buông’ những gì đang cột chặt anh để bước tiếp trên con đường vốn sẽ đem đến cho anh kho tàng trên trời! “Buông không phải là phủ nhận, nhưng là chấp nhận có một điều gì đó lớn lao hơn đang chờ tôi khi tôi thả ra những gì mình đang níu giữ!” – Richard Rohr.

Có một mối quan hệ giữa nỗi buồn và khả năng ‘buông.’ Người thanh niên nắm giữ tài sản, vì ở một mức độ nào đó, anh cảm thấy nó mang lại hạnh phúc và an toàn. Cũng thế, bạn và tôi có thể bám víu vào một người, một hoàn cảnh với niềm tin rằng, hạnh phúc nằm ở đó. Trên thực tế, hạnh phúc, bình an và niềm vui thực sự nằm ở việc ‘buông’ bất cứ điều gì đang ngăn cản chúng ta đáp lại tiếng Chúa. Bi kịch của người thanh niên là anh ta yêu ‘của’ hơn yêu ‘người’; tài sản của anh ‘sở hữu’ anh chứ không ngược lại. “Nỗi buồn của việc buông không là dấu hiệu của yếu đuối, nhưng là ngưỡng cửa: một cửa hẹp mà trái tim phải bước qua để tìm thấy kho tàng vĩnh cửu!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

“Người thanh niên buồn rầu bỏ đi.” Trong cuộc sống, có lẽ không ít lần bạn và tôi cũng tiu nghỉu bỏ đi. Nhiều người xem ra thường hài lòng với những gì ‘tối thiểu,’, đơn giản là ‘ổn’; nhiều người có ý định tốt, nhưng xem ra rất ít người cam kết hoàn toàn với những gì cần thiết để thực sự đạt đến sự trọn lành – nói cách khác – nên thánh! Lời Chúa mời gọi chúng ta dám ‘buông’ để có thể đạt được điều tối thượng. Và mặc dù sẽ luôn thiếu sót, nhưng nhờ ơn Chúa, “Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con!” – Thánh Vịnh đáp ca – chúng ta cố gắng để nên thánh thiện hết mức có thể. “Sự thánh thiện không bao giờ đạt được bởi những ai dừng ở mức tối thiểu; nó dành cho những ai dám đi xa hơn sự dễ chịu để bước vào phó thác!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con buồn khi ‘buông’ những gì từng tưởng là hạnh phúc, xin biến nỗi buồn ấy thành khởi đầu của một niềm vui vĩnh cửu nơi Ngài!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐỨC MARIA – MỘT MẪU GƯƠNG TUYỆT HẢO

Cùng với toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta hân hoan mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời.  Quả thật, việc Mẹ được vinh thăng về thiên quốc không chỉ mang đến cho chúng ta niềm vui, nhưng còn cho chúng ta niềm tin yêu và hy vọng.

Chúng ta vui vì Mẹ đã về quê hương đích thực trên trời, nơi không còn khổ đau, không còn tang ma, khóc lóc. Chúng ta hy vọng, vì sẽ có ngày chúng ta cũng được cùng Mẹ hưởng vinh phúc với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nhưng bởi đâu Mẹ được những đặc ân cao cả đó? Phải chăng vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa? Phải chăng vì Mẹ được đặc ân vô nhiễm nguyên tội? Phải chăng Mẹ là Đấng đồng trinh trọn đời?

Vâng, đúng như vậy.  Nhưng Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 1, 39-56)  hôm nay còn cho chúng ta biết thêm, sở dĩ Mẹ được vinh phúc đó là vì Mẹ đã nhận ra tình thương của Thiên Chúa, như chính lời Mẹ ca lên trong bài Magnificat: “Phận nữ tì hèn mọn, Người đoái thương nhìn đến” (Lc 1, 48).  Và để đáp trả lại tình thương ấy, Mẹ đã biết mau mắn vâng theo những tác động của Chúa Thánh Thần.

Tin Mừng theo thánh Luca thuật lại rằng: “Trong những ngày ấy, Đức Maria vội vã lên đường đến một thành thuộc xứ Giuđa, vào nhà bà Elisabet” (Lc 1, 39).  Sự “vội vã” ở đây không phải là hấp tấp, nhưng thể hiện một sự mau mắn, ước muốn được chia sẻ. Chúng ta biết rằng, để đi đến được với người chị họ, Đức Mẹ đã phải vượt qua quãng đường gập ghềnh, hiểm trở, dài hơn một trăm cây số, với phương tiện giao thông hết sức thô sơ. Sự “vội vã” của Mẹ, còn thể hiện một niềm hân hoan, vì Mẹ được đem Chúa đến cho người khác.

Khi được người chị họ khen là người có phúc nhất trong những người phụ nữ, Đức Mẹ đã không tỏ ra kiêu căng, tự phụ, nhưng Mẹ đã cất cao lời ngợi khen Thiên Chúa qua bài ca bất hủ mà cho đến hôm nay, Hội Thánh vẫn giữ lại trong lời kinh của mình: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa. Thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi” (Lc 1,46-47). 

Cũng như biết bao thiếu nữ Do-thái cùng thời, Mẹ biết rõ lời ngôn sứ Isaia đã từng nói trước đó 8 thế kỷ: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai,” nhưng có lẽ, chưa bao giờ Mẹ nghĩ mình là người thiếu nữ “đầy ơn phúc” đó.  Chẳng thế mà khi nghe thiên thần truyền tin Con Thiên Chúa nhập thể, Mẹ đã tỏ ra hết sức ngạc nhiên: “Việc đó xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến người nam” (Lc 1,34).  Nhưng khi nghe thiên thần giải thích, Mẹ đã hiểu rằng, mình đã được Thiên Chúa chọn để thực hiện công trình cứu độ của Người.  Với tất cả sự khiêm tốn của một người tì nữ, Mẹ đã nói lời “xin vâng”: “Này tôi là nữ tì của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38).

R. Braunstein đã từng nói một câu rất nổi tiếng rằng: “Có thể người ta cho mà không thương, nhưng không thể thương mà không cho.” Mặc dù là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ đã không ngần ngại dấn thân phục vụ người chị họ mình đang mang thai trong lúc tuổi già. “Maria ở lại với bà Elisabet độ ba tháng, rồi trở về nhà mình” (Lc 1,56). Kinh Thánh chỉ diễn tả bằng mấy lời ngắn ngủi, nhưng chúng ta cũng có thể mường tượng ra sự vất vả của Mẹ khi phục vụ người chị họ sinh nở trong lúc tuổi già là như thế nào. Tuy nhiên, Mẹ đã không một lời phàn nàn, than trách.

****************************

Mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời hôm nay, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi biến đổi đời sống của mình để trở nên giống như Mẹ.

Trước tiên là bài học về sự khiêm tốn.  Mặc dù là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ chỉ nhận mình là “tì nữ thấp hèn của Thiên Chúa.” Quả vậy, nếu không có một tâm tình đơn sơ khiêm tốn, chúng ta khó có thể nhận biết được ơn Chúa ban. Chính thánh Phaolô Tông đồ đã có kinh nghiệm này khi ngài khẳng định rằng: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi… Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,9-10).

Thứ đến là bài học về tâm tình tạ ơn. Sở dĩ Mẹ vội vã ra đi đem Chúa đến cho người chị họ, vì Mẹ đã cảm nếm được những ân huệ cao cả mà Thiên Chúa đã thi ân cho Mẹ, cho dù Mẹ chỉ là một tì nữ thấp hèn.  Còn chúng ta, mặc dù đã nhận được rất nhiều ơn lành từ nơi Chúa, như ơn được sinh ra làm người, ơn được làm con cái Chúa và Hội Thánh, ơn sức khỏe, ơn bình an… nhưng chúng ta có biết tạ ơn Chúa cho tương xứng hay không?

Sau cùng là bài học về sự phục vụ. Có lẽ, lời tạ ơn đẹp lòng Chúa nhất không phải là những lễ vật chúng ta dâng, nhưng là tình yêu thương, như lời Chúa phán: Ta đã chán ngấy của lễ toàn thiêu, chiên bò. Ta chỉ muốn tình yêu chứ không cần hy lễ…

Noi gương Mẹ đi thăm viếng, chúng ta cũng hãy biết mở lòng ra để đến với muôn người. Cuộc sống quanh ta, có biết bao người đang cần đến chúng ta trợ giúp. Sự giúp đỡ ấy, có thể chỉ là một lời thăm hỏi, một cái bắt tay, một ánh mắt cảm thông…  Những sự chia sẻ tưởng chừng như đơn giản đó, đôi khi lại mang lại những kết quả to lớn.

Công việc tông đồ của chúng ta chắc chắn sẽ thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp nếu như chúng ta biết đặt dưới sự trợ giúp của Mẹ. Để chớ gì, qua đời sống chứng tá của chúng ta, mọi người sẽ nhận biết, chúng ta là con của Mẹ và là con của cùng một Cha trên trời.

****************************

Lạy Mẹ Maria, hôm nay, Mẹ đã được Thiên Chúa đưa lên trời cao cả hồn lẫn xác. Hợp cùng với triều thần thiên quốc, chúng con xin chúc mừng Mẹ. Chúng con tin rằng, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng Mẹ cũng là Mẹ của mỗi người chúng con. Với trái tim từ mẫu và đầy dịu hiền, xin Mẹ giúp chúng con cũng biết noi gương Mẹ, sống đơn sơ, khiêm tốn. Nhờ đó, chúng con có thể nhận ra những ơn lành của Thiên Chúa ban xuống trên cuộc đời mỗi người chúng con, để chúng con có thể sẵn sàng giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen!

Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

THÁI TỬ BÌNH AN MANG ĐẾN SỰ CHIA RẼ

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay chứa đựng những điều được cho là nghịch lý.  Giê-rê-mi-a cũng như Chúa Giê-su đều có những hành động, ngôn từ gây sốc.

Giê-rê-mi-a

Thời Giê-rê-mi-a, thành Giê-ru-sa-lem đang bị quân Ba-by-lon vây hãm.  Dân chúng và vua Sê-đê-kia mong đợi hòa bình, Giê-rê-mi-a lại công bố một sứ điệp “ngược dòng”: ông nói rằng cuộc kháng cự sẽ thất bại, và kêu gọi đầu hàng như một hình thức hoán cải và trở về với Thiên Chúa.  Nhưng dân chúng, đặc biệt là các thủ lãnh tâu vua rằng: “Chúng tôi xin bệ hạ cho lệnh giết người này, vì nó cố ý nói những lời làm lũng đoạn tinh thần chiến sĩ còn sống sót trong thành này và toàn dân.  Thực sự tên này không tìm hòa bình cho dân, mà chỉ tìm tai họa” (Gr 38, 4-6).

Các thủ lãnh phẫn nộ với Giê-rê-mi-a, cáo buộc ông làm nản lòng dân và gây nguy cho đất nước, họ xin vua xử tử ông.  Dù vua Sê-đê-kia nhu nhược không bảo vệ ông, nhưng lại để mặc cho các quan ra tay.  Họ ném Giê-rê-mi-a xuống một cái giếng bùn, không phải để giết ngay, mà là để ông chết dần chết mòn trong cô lập và tuyệt vọng.

Dân chúng đang tìm kiếm hòa bình mà ông lại mang đến tai họa.  Quả là bi thương và đầy kịch tính cho ơn gọi, sứ mạng và cuộc đời của ông.  Thiên Chúa sai Giê-rê-mi-a đến để kêu gọi dân Ít-ra-en sám hối, lại bị chính đồng bào lên án và hãm hại.  Giê-rê-mi-a là hình ảnh báo trước sứ mạng của Chúa Giê-su.

Sứ mạng của Chúa Giê-su

Đến lượt Chúa Giê-su, Người cũng tuyên bố những lời chưa bao giờ các môn đệ nghe thấy: “Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư?  Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51-52).

Vậy chúng ta nghĩ sao đây khi Chúa Giê-su được I-sai-a loan báo là Thái Tử Hòa Bình, và ngày sinh nhật của Người được các thiên thần chào đón với những lời ca tiếng hát: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm, (Lc 2, 14) và khi đi rao giảng, Người cũng đã từng công bố: “Phúc cho những ai xây dựng hoà bình” (Mt 5, 9).  Cũng chính Chúa Giê-su, khi bị bắt, đã truyền cho Phê-rô: “Hãy xỏ gươm vào bao!” (Mt 26, 52).  Nay lại tuyên bố: “Thầy đến để đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).  Chúng ta giải thích sự mâu thuẫn này như thế nào?

Lửa” là gì?  “Lửa” trong Thánh Kinh thường là biểu tượng của Thánh Thần, của sự thanh luyện, và của ơn soi sáng chân lý (x. Cv 2,3).  Đó là ngọn lửa thiêng liêng đốt cháy tội lỗi, bẻ gãy sự an toàn giả tạo, và làm bùng lên lòng mến Chúa.  Khi Chúa Giê-su nói “Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian” (Lc 12,49), Người nói đến công trình cứu độ, sự sống mới trong Chúa Thánh Thần, và tác động chuyển hóa sâu xa trong tâm hồn nhân loại.

Câu tiếp theo: “Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất” (Lc 12,50).  Nói đến cuộc Khổ nạn sắp đến.  “Phép rửa” ở đây không chỉ là nghi thức thanh tẩy, mà là dìm mình trong đau khổ, một sự tự hiến hoàn toàn trên Thập giá để khai lối mở đường đến ơn cứu độ.’

Thái Tử Bình An mang đến sự chia rẽ

Đoạn kết trong Tin Mừng hôm nay gây bối rối: “Vì từ nay năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, nàng dâu chống đối mẹ chồng” (Lc 12, 53).  Tuy nhiên, sự “chia rẽ” ở đây không phải là bạo lực hay thù địch, mà là hệ quả tất yếu của việc chọn lựa sống theo chân lý.

Không phải Đức Giê-su có ý đến để đem sự chia rẽ và chiến tranh, nhưng điều Người mang đến, không thể tránh được sự chia rẽ và sự chống đối, bởi vì Người đặt dân chúng trước một sự lựa chọn.  Và khi đối mặt với sự cần thiết phải lựa chọn theo ánh sáng hoặc theo bóng tối.  Chúng ta biết rằng sự tự do con người sẽ phản ứng nhiều cách khác nhau.  Và chính trong sự chọn lựa dứt khoát đó, những mối quan hệ thân thiết nhất, gia đình, bạn bè, có thể bị thử thách.  Không phải vì Chúa Giê-su mang đến sự chia rẽ, nhưng vì sự thật vốn gây xáo trộn nếu người ta không đón nhận.

Chúa Giê-su là “Thái Tử Hòa Bình“, nhưng bình an Chúa ban không phải sự yên ổn bề ngoài hay  đồng thuận cho qua chuyện.”  Đó là bình an dù phải chịu mất mát.

Một người chọn sống đức tin nghiêm túc, lại bị chính người thân hiểu lầm, cho là “cực đoan” hay “khác người.”  Người sống theo giá trị Tin Mừng, không tham nhũng, thì có thể bị mỉa mai.  Một người dấn thân sống công chính, có thể bị chống đối ngay trong cộng đoàn.

Người dám nói thật, sống liêm chính, chống lại sự bất công như Giê-rê-mi-a trong Bài đọc I sẽ bị loại trừ.  Ánh sáng luôn gây khó chịu cho bóng tối.  Đó là chia rẽ cần thiết để thanh luyện, hoán cải và sinh ơn cứu độ.

Chúng ta được mời gọi đừng sợ sự “chia rẽ vì Tin Mừng.”  Đôi khi, chính sự “bị tách ra” khỏi đám đông là bằng chứng ta đang đi đúng hướng.  Nhưng không ai bị bỏ rơi, ngọn lửa Thánh Thần vẫn đang hoạt động, và bình an thật vẫn đang được ban tặng, không phải là tránh khổ, mà là vượt thắng trong khổ.

Chúa Giê-su là Thái Tử Hòa Bình đem đến bình an nội tâm sâu xa, nhưng hành trình đến đó đi ngang qua thử thách, từ bỏ, và cả chia rẽ.  Bài Tin Mừng hôm nay là lời cảnh tỉnh nhưng cũng là lời mời gọi hy vọng: Hãy đón nhận ngọn lửa Thánh Thần, chấp nhận phép rửa đau khổ, và bước đi trên con đường hẹp, vì chính đó là con đường dẫn đến bình an vĩnh cửu trong Thiên Chúa.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ