VÁC VỀ

“Người ấy vui mừng vì con chiên đó!”

“Tình yêu không hỏi tại sao ai đó lạc đường, nó chỉ hỏi làm sao để đưa họ về!” – Max Lucado.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ khá bất ngờ khi Tin Mừng hôm nay không nói nhiều về việc con chiên lạc đường; nhưng nói về mong mỏi của người mục tử những chỉ muốn giành lại nó để ‘vác về!’.

Thật dễ dàng để đi lạc!  Khi một linh hồn lạc khỏi Thiên Chúa, nó cảm thấy trơ trọi và trống vắng; đó là thực tế của thân phận con người.  Có bao linh hồn đang lang thang lạc lối, hoang mang cần được đem về.  Có rất nhiều lý do dẫn đến sự lầm lạc; đó có thể là những cám dỗ của đam mê xác thịt, tiền bạc; cám dỗ của sự kiêu ngạo, giận dữ, ích kỷ và mê muội.  Rõ ràng, “Những lạc lối nguy hiểm nhất không xảy ra trên bản đồ, mà xảy ra trong tâm hồn!” – Henri Nouwen.

Một trong những trở ngại lớn nhất để một linh hồn biết hối cải tội lỗi và quay trở về với Thiên Chúa là sự kiêu ngạo!  Thật khó để thừa nhận tội lỗi mình; khó để thừa nhận chúng ta đã lạc đường; khó để thừa nhận những sai lỗi đã làm; và cũng thật khó để hướng về Chúa, nhận ra lòng thương xót và sự trắc ẩn của trái tim Ngài.  “Kiêu ngạo biến trái tim thành pháo đài, nhưng cũng biến nó thành nhà tù!” – C.S. Lewis.

Thực tế là tội lỗi thật đáng sỉ nhục, và đối mặt với sỉ nhục là điều khó khăn nhất.  Thế nhưng, sỉ nhục luôn mang tính thanh luyện, vì nếu bạn sẵn sàng chấp nhận sự sỉ nhục khi thú nhận tội lỗi mình, thì vô số tự do đang chờ đón bạn.  Tự do đặc biệt khi bạn cho phép Thiên Chúa vui mừng ‘vác về’ cả thân xác và linh hồn.  “Sự sỉ nhục là lửa thử, đốt cháy cái tôi để cái thật được lộ ra!” – Henri Nouwen.

Tin Mừng hôm nay đặc biệt dành cho những hối nhân.  Nó trình bày hình ảnh một Thiên Chúa có sức mời gọi đặc biệt; đó là một Thiên Chúa Mục Tử ra đi tìm chiên.  “Khi Thiên Chúa tìm bạn, không phải là để phơi bày vết thương của bạn, mà để băng bó nó!” – Brennan Manning.  Phải nhận ra rằng, vì Thiên Chúa tìm kiếm chúng ta, đến với chúng ta, nên chúng ta đừng bao giờ để cho mình phải xấu hổ.  Ngài không lên án con chiên đang tổn thương; thay vào đó, Ngài vui mừng xốc lên linh hồn nó và ‘vác về’.

Anh Chị em,

“Người ấy vui mừng vì con chiên đó!” Hãy suy ngẫm về hình ảnh thánh thiện và nhân ái của Mục Tử Nhân Lành Giêsu đang miệt mài tìm kiếm bạn.  Hãy nhìn thấy ước muốn yêu thương của Ngài để vượt qua bạn, đoàn tụ với bạn, tha thứ cho bạn và âu yếm vác bạn về.  Hãy để cho nỗi sợ phán xét tiêu tán nhưng hạ mình để nhìn nhận tội lỗi.  Hãy thừa nhận bạn không có khả năng tự mình vượt qua nó.  Nếu bạn làm được như vậy, tấm lòng Mục Tử của Ngài sẽ vui mừng biết mấy khi Ngài nâng bạn lên và mang bạn đến sự tự do.  “Niềm vui lớn nhất của tình yêu là khi tìm lại được điều nó từng mất!” – Paulo Coelho.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin vác con về trên đôi vai tình yêu không mỏi của Chúa, và dạy con biết vác người khác về cùng Ngài như chính con đã được ‘vác về!’” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

SỨC MẠNH CỦA THINH LẶNG TRONG ĐAU KHỔ

“Chúa Giêsu không trả lời gì thêm, khiến ông Philatô ngạc nhiên.”

Có một sự khác biệt rõ rệt giữa thái độ của Đức Giêsu và đám đông cùng với Người tiến vào thành Giêrusalem.  Đám đông trong sự ồn ào, náo nhiệt tung hô Đức Giêsu là Đấng nhân Danh Thiên Chúa mà đến, nhưng rồi họ lại bất trung với lời ca khen này.  Họ không trung tín với lời ca ngợi “Hoan hô” Đức Giêsu nhưng đã phản bội và lăng mạ Người bằng sự hô hoán “đóng đinh nó” trong hành trình cuộc khổ nạn.

Đối lại với đám đông, Đức Giêsu vẫn luôn giữ thinh lặng và tín trung trong sứ mạng của mình.  Khi tiến vào thành Giêrusalem bên cạnh đám đông náo nhiệt, Ngài vẫn luôn giữ thinh lặng, không hòa với đám đông trong những bài ca chiến thắng và bỏ mình ra khỏi sự hồ hởi, phấn khích của họ.

Cũng thế, ngay cả khi bị các thượng tế kết án, Ngài vẫn luôn giữ im lặng dù rằng Ngài vô tội.  Ngài không một lời bác bỏ hay bào chữa cho mình khi bị các thượng tế và hàng kỳ mục buộc tội về nhiều điều.  Thậm chí quan Philatô cũng đổi ngạc nhiên về sự im lặng của Ngài: “Ðức Giêsu không trả lời gì nữa, khiến ông Philatô phải ngạc nhiên.”

Khi bị treo trên cây thập giá, Đức Giêsu vẫn giữ im lặng dù bị người ta buông lời xúc phạm, nhạo báng rằng: Kẻ phá đền thờ Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày: hãy tự cứu mình xuống khỏi thập giá đi… Nó đã cứu được những kẻ khác mà không tự cứu mình.  Dù trong hoàn cảnh nào, Ngài vẫn không thốt ra một lời hay hành động nào làm bẽ mặt đám đông.

Đức Giêsu đã đối diện với mọi đau khổ bằng sự thinh lặng.  Sự thinh lặng này chính là lòng đầy tin tưởng vào Chúa Cha.  Ngài chọn im lặng sau khi đã thi hành theo ý Cha: “Chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.” (Ga 5,36).  Đức Giêsu im lặng vì Ngài hằng hiệp thông với Chúa Cha, Ngài mở lòng đón nhận và thi hành ý Cha trên hết mọi sự, “người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy.” (Ga 5, 19).  Ngài im lặng không phải vì họ đã làm đau Ngài, hay im lặng vì để trả thù họ.  Nhưng Ngài im lặng vì sự cứng tin của họ dù đã được chứng kiến những phép lạ và lời dạy Ngài đã làm.

Thái độ khác biệt giữa chúng ta và Đức Giêsu khi đối diện với đau khổ là ta nói quá nhiều.  Ta luôn cằn nhằn, phàn nàn khi mọi thứ không như ý muốn.  Ta lo nghĩ đến những việc xấu mà người khác đã làm để gây đau khổ cho ta.  Ta ghim và nhắc đi nhắc lại những khổ đau mà người khác tạo ra cho mình.  Và mau lẹ đổ lỗi cho ai mà ta nghĩ chính họ là nguyên nhân gây đau khổ cho ta.  Thậm chí, ta còn hành động và buông lời nhục mạ họ.  Ta để cho những tư tưởng bừa bãi này xuyên suốt và thống trị tâm trí, rồi kiểm soát lý trí ta đến mức mất đi nhận thức về sự có mặt và hành động đầy yêu thương của Thiên Chúa trong đời ta.

Hỡi anh chị em thân mến của tôi trong Đức Kitô, chúng ta chẳng bao giờ có thể thực sự thấu hiểu mầu nhiệm về đau khổ trong cuộc đời ta.  Không có một cuộc trao đổi, tư tưởng, hình ảnh, kí ức hay sự suy xét nào có thể giải đáp thỏa đáng tại sao đau khổ lại đến trong đời ta.  Đức Giêsu đã dạy ta thấy rằng, nếu ta tiến vào sự thinh lặng với lòng tín thác nơi Thiên Chúa, thì sau mọi nỗ lực của ta, Ngài sẽ nâng đỡ ta trong sự trung tín của ta với Ngài đến cùng.

Bài học đầu tiên nơi Đức Giêsu là ta phải biết giữ thinh lặng trong đau khổ của mình.  Trong đau khổ, khi biết thinh lặng, ta sẽ cảm nhận được sự hiện diện luôn luôn của Thiên Chúa ở đó, và ta sẽ không đơn độc dù trong những lúc tăm tối nhất.  Ta cũng sẽ lắng nghe được lời an ủi của Ngài khi ta thinh lặng cõi lòng trước sự hiện diện của Ngài, và dâng lên Ngài những suy nghĩ, ký ước, trí tưởng, kế hoạch và khát khao của ta.

Chỉ khi đối diện với đau khổ bằng sự thinh lặng, thì ta mới thực sự cầu nguyện với Chúa bằng con tim mình.  Thánh Têrêsa Calcutta nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự thinh lặng khi ngài nói, “Thinh lặng là hạt giống của lời cầu nguyện.  Cầu nguyện là hạt giống của đức tin.  Đức tin là hạt giống của sự phục vụ.”  Chúng ta càng tiến sâu vào thinh lặng, chúng ta càng có thể cầu nguyện, yêu thương, phục vụ và vâng lời Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã làm, tức là “cho đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá.”

Sống trong thế giới ồn ào hôm nay, chúng ta có nhiều dự tính.  Hầu như ta ít khi ngừng lại để ngẫm xem những dự tính và ước muốn trong ta bắt nguồn từ đâu.

Nếu lần tới, khi chúng ta trải qua những đau đớn và thống khổ trong cuộc đời, trước tiên chúng ta hãy đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng yêu thương ta vô tận và không ngơi nghỉ.  Tôi thấy khoảnh khắc tham gia cử hành Bí tích Thánh Thể là hữu ích nhất vì Chúa Giêsu thực sự hiện diện ở đó, trong thân xác của Ngài chịu đau khổ, chết và sống lại từ cõi chết để cứu rỗi chúng ta.  Đơn giản chỉ cần giữ thái độ dễ đón nhận, tin tưởng rằng Ngài chắc chắn sẽ hành động và soi sáng cho ta về bước tiếp theo mà chúng ta phải làm trong đau khổ của mình.

Bài học tiếp theo, chúng ta hãy hướng về Mẹ Maria, Đức Mẹ Sầu Bi của chúng ta.  Mẹ là người đứng dưới chân Thập giá, hoàn toàn im lặng và đón nhận giữa tất cả những ồn ào và lăng mạ xung quanh Mẹ.  Mẹ đã sẵn sàng đón lấy những lời của Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, này là con Bà.” (Ga 19, 26).  Mẹ im lặng và tin tưởng chờ đợi Sự sống lại của Ngài vào lễ Phục Sinh.  Chúng ta cũng xin Mẹ giúp chúng ta tĩnh lặng và sẵn sàng đón nhận bất cứ điều gì Đức Giêsu muốn gửi đến với chúng ta ngay lúc đau khổ và tổn thương.  Là Mẹ của chúng ta, Mẹ Maria biết và hiểu tất cả những sự ồn ào và bất trung của chúng ta ra sao.

Với sự hiện diện của Đức Giêsu trong Thánh Thể và chia sẻ trong thinh lặng của Mẹ Diễm Phúc ở bên cạnh, chúng ta chắc chắn sẽ nhận được những ân sủng và tình yêu mà Chúa Giêsu luôn trao ban.  Đây là cách duy nhất để chúng ta có thể trung thành với Thiên Chúa ngay cả khi đối diện với mầu nhiệm khó hiểu về đau khổ trong đời.

Ngợi khen Đức Giêsu
Tung hô Mẹ Maria

Đức Hữu chuyển ngữ từ: https://catholicexchange.com/the-power-of-being-silent-in-our-suffering/

KHÔNG CÓ GÌ TỒN TẠI MÃI

Chủ đề: “Chúng ta có chuẩn bị tốt đẹp cho đời sau không?”

Frank Kendig và Richard Hutton viết một cuốn sách có tựa đề Quãng Thời Gian Sự Sống, hoặc Những Đồ Vật Tồn Tại Bao Lâu.  Trong đó, bạn sẽ khám phá ra nhiều sự thật thú vị.

Chẳng hạn, bạn sẽ biết rằng tuổi trung bình của đôi giày bóng chày (baseball) của một cầu thủ chuyên nghiệp chỉ lâu khoảng hai tháng.

Bất ngờ hơn nữa, tuổi trung bình của cây gậy khúc côn cầu (hockey) mà cầu thủ chuyên nghiệp sử dụng chỉ sau hai trận đấu.

Bạn cũng thấy rằng đôi giày của một người lính trong thời bình là mười lăm tháng, nhưng trong thời chiến nó chỉ còn ba tháng.

Trong khi tuổi thọ của một số thứ ngắn hơn chúng ta tưởng, những thứ khác lại tồn tại rất lâu.

Thí dụ, một lon bia bị bỏ quên trên núi bởi người cắm trại thì vẫn còn nguyên sau đó 80 năm.  Và chiếc giày da để lại ở cùng nơi đó sẽ vẫn còn sau 50 năm.

Sau cùng, một tảng đá nhô ra khỏi mặt đất sẽ vẫn còn nguyên sau một nghìn năm.

Nhưng dù là thứ gì – gậy khúc côn cầu, lon bia, hay tảng đá – các tác giả Kendig và Hutton khẳng định rằng mọi thứ rồi cũng sẽ biến mất.  Không có gì tồn tại mãi mãi.

Và điều đúng với gậy khúc côn cầu, lon bia và tảng đá thì cũng đúng với loài người.  Chúng ta rồi cũng sẽ biến mất.  Không ai trong chúng ta sẽ sống mãi.

Và đó chính là điểm mà Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng hôm nay.  Đó là lý do vì sao Người cảnh báo chúng ta:

Hãy sẵn sàng… với đèn cháy sáng trong tay… vì Con Người sẽ đến vào giờ các con không ngờ.

Dù ở đây Chúa Giêsu đang nói về lần Quang Lâm Thứ Hai, các nhà thần học quả quyết rằng lời của Người có thể hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa hẹp, là ngày tận thế.  Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, chúng ám chỉ ngày cuối cùng của cuộc đời chúng ta.

Và chính vì ngày kết thúc cuộc đời – hay cái chết – mà chúng ta phải đặc biệt chuẩn bị.  Tất cả chúng ta đều biết là nó sẽ xảy đến.  Chúng ta không sống mãi.

Sigmund Freud, nhà thần kinh học người Áo nổi tiếng và là người khai sinh ngành phân tâm học, qua đời ngay trước Thế Chiến II.

Freud có một câu chuyện thú vị rất phù hợp với ý nghĩa của sự chuẩn bị.

Câu chuyện kể về một người thủy thủ bị đắm tàu và dạt vào một hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương.

Anh ta được dân bản địa tiếp đón nồng nhiệt.  Họ vỗ tay, hát ca, rước anh ta lên vai, đưa về làng và đặt anh ngồi lên một ngai bằng vàng.

Từ từ, người thủy thủ hiểu được những gì đang xảy ra.

Người bản địa có một tập tục là thỉnh thoảng đặt một người làm vua trong một năm.  Trong năm đó, ông vua có thể ra lệnh cho dân làng thi hành điều gì đó trong khả năng, và họ sẽ tuân lệnh mà không thắc mắc.

Người thủy thủ thật vui sướng vì được chọn làm vua.  Anh không thể tin được sự may mắn của mình.  Nhưng một ngày kia, anh bắt đầu tự hỏi điều gì xảy ra cho một ông vua khi vương quyền của ông chấm dứt.

Đó là khi sự phấn khởi và hăng hái của anh đột ngột chấm dứt.

Anh khám phá rằng vào cuối vương quyền, anh sẽ bị trục xuất đến một hoang đảo, được gọi là Đảo Vua.  Ở đó anh sẽ bị bỏ mặc cho chết đói như một vật hiến tế cho các thần linh.

Sau khi người thủy thủ bừng tỉnh sau tin chấn động này, từ từ anh bắt đầu đưa ra một kế hoạch.

Là vua, anh ra lệnh cho thợ mộc trên đảo đóng một đoàn tàu nhỏ.  Khi đoàn tàu đã sẵn sàng, anh ra lệnh cho các nông dân đào gốc cây ăn quả và rau củ, mang theo ra Đảo Vua để trồng lại.

Cuối cùng, anh ra lệnh cho thợ xây dựng một căn nhà bằng đá trên Đảo Vua.

Bằng cách đó, người thủy thủ đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho ngày mà vương quyền kết thúc và khi anh bị đày ra Đảo Vua.

Câu chuyện đó là một minh họa thật hay cho điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay.

Ở nơi khác trong Tin Mừng, Chúa Giêsu dạy: “Hãy tích trữ kho báu trên trời, nơi không mối mọt hay kẻ trộm nào có thể lấy mất.” (Lc 12,33)

Người nói với chúng ta hãy làm như người thủy thủ kia.

Tin Mừng hôm nay mời chúng ta tự hỏi chúng ta có chuẩn bị tốt đẹp cho ngày mà cuộc sống trần thế của chúng ta sẽ chấm dứt như người thủy thủ kia không.

Nó mời chúng ta hãy tự hỏi, “Nếu đêm nay chúng ta lìa đời, chúng ta có sẵn sàng gặp Chúa chưa?”

Và nếu câu trả lời vẫn còn điều gì đó đáng ao ước, thì chắc chắn Chúa đang nói với mỗi người chúng ta một cách đặc biệt qua Tin Mừng hôm nay.  Người nói:

Hãy như những đầy tớ luôn tỉnh thức chờ chủ về… Và các con cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì Con Người sẽ đến vào lúc các con không ngờ.” (Lc 12:35–40).

Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta trong Tin Mừng hôm nay.  Đó là sứ điệp mà Người muốn chúng ta ghi lòng tạc dạ trong phụng vụ này.

Chúng ta hãy kết thúc bằng một đoạn trong tác phẩm Kèn của Chúa (God’s Trombones) của nhà văn James Weldon Johnson.

Trong đoạn văn, Johnson mô tả cái chết của một phụ nữ đã sống đúng như lời Chúa dạy trong Tin Mừng hôm nay, và đã sẵn sàng khi giờ chết đến.  Ông viết:

“[Chị Caroline] đã thấy điều mà chúng tôi không thể thấy;
chị đã thấy Tử Thần xưa.
Chị thấy Tử Thần đến như một ngôi sao băng.
Nhưng cái chết không làm chị Caroline sợ hãi;
nó hiện ra như một người bạn thân quen.
Và chị thì thầm với chúng tôi:
‘Tôi đang về nhà.’
Rồi chị mỉm cười và nhắm mắt lại.”
Chị Caroline đã sẵn sàng về nhà.

Lm. Mark Link, S.J.

XÉT LẠI ĐỘNG CƠ CỦA CHÚNG TA

Nhân vật chính trong vở kịch Murder in the Cathedral của T.S. Eliot là Thomas a Beckett – một giám mục, người theo mọi vẻ bề ngoài đều là một vị thánh.  Ông cực kỳ trung thực, rộng lượng đến mức hy sinh, và là người bảo vệ đức tin đã chịu chết vì đạo.  Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó trước khi tử đạo, ông nhận ra rằng có thể mình chưa phân biệt rõ giữa cám dỗ và ân sủng.

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với lời diễn tả nổi tiếng của ông:

Cám dỗ cuối cùng là sự phản bội lớn nhất:
Làm điều đúng vì lý do sai…
Vì những ai phục vụ cho đại nghĩa
Có thể biến đại nghĩa thành công cụ cho chính mình.
Vậy đâu là cám dỗ có thể dễ bị nhầm lẫn với ân sủng?

Nói đơn giản, chúng ta có thể đang làm rất nhiều việc tốt – nhưng với động cơ sai.  Hơn nữa, điều này có thể rất tinh vi, đặc biệt nơi những người phục vụ cho “đại nghĩa,” bởi như T.S. Eliot nhấn mạnh, chúng ta rất dễ biến đại nghĩa ấy thành phương tiện phục vụ chính mình.

Làm thế nào chúng ta lại có thể khiến đại nghĩa phục vụ mình?  Làm sao lại có thể làm điều tốt nhưng vì lý do sai?

Ví dụ: Tôi có thể đang làm rất nhiều điều tốt – giúp đỡ người khác, phục vụ mục đích của Thiên Chúa nơi trần gian.  Tôi có thể quảng đại đến mức chấp nhận hy sinh như một vị tử đạo.  Nhưng nếu lý do chính tôi làm tất cả những điều đó là vì chúng khiến tôi được ngưỡng mộ, cảm thấy đạo đức và chính trực, được khen ngợi, để lại một cái tên tốt đẹp sau này – thì sao?

Những câu hỏi ấy đi sâu vào ranh giới giữa cám dỗ và ân sủng.  Tôi có thể làm điều đúng đắn, và dù không phải vì lý do xấu, tôi vẫn chủ yếu đang làm cho bản thân mình.  Tôi có thể đang khiến đại nghĩa phục vụ tôi nhiều hơn là tôi phục vụ đại nghĩa.

Cha Dòng Tên quá cố Michael J. Buckley – một trong những người hướng dẫn tâm linh quan trọng trong đời tôi – từng thúc giục chúng ta phải can đảm xét mình một cách đau đớn: Tôi làm điều này để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân – hay đang làm để mình cảm thấy và trông có vẻ tốt đẹp?

Trong quyển sách Bạn Tìm Gì Thế? – Những Câu Hỏi của Đức Giêsu Như Một Thách Đố và Lời Hứa, Buckley viết:

“Bằng hàng ngàn cách khác nhau, những người phục vụ cho đại nghĩa có thể khiến đại nghĩa ấy quay lại phục vụ họ.  Điều này có thể vô cùng tinh tế.  Đôi khi chỉ một sự lệch nhẹ ở bước khởi đầu của một hành động hay một đời sống cũng có thể dẫn đến một chuyển hướng sâu sắc nhưng không được nhận ra: lòng nhiệt thành che giấu một tham vọng ngấm ngầm nhưng tàn nhẫn.  Tham vọng ấy được giấu kỹ vì ban đầu nó có vẻ giống với lòng nhiệt thành – dù thật ra hai điều này hoàn toàn đối lập.  Khao khát đạt được một điều gì đó có thể trộn lẫn giữa giá trị nội tại của một dự án với hào quang phản chiếu từ thành quả đạt được.”

Là một linh mục đã phục vụ hơn 50 năm, tôi thấy đây là một lăng kính đầy thách thức để nhìn lại chính mình và hành trình mục vụ ấy.  Tôi đã phục vụ cho đại nghĩa bao nhiêu – và tôi đã, trong vô thức, biến nó phục vụ cho chính mình bao nhiêu?  Ai là người “được lợi” hơn: Thiên Chúa và Hội Thánh – hay tôi và danh tiếng của mình?

Tất nhiên, động cơ là điều rất khó nhận diện, và trong cuộc đời này, động cơ hiếm khi nào hoàn toàn thuần khiết.  Ta là một hỗn hợp phức tạp của nhiều động lực – có cái phục vụ người khác, có cái phục vụ chính mình – và như Buckley nhấn mạnh, ban đầu chúng trông rất giống nhau.  Hơn nữa, có những lời dạy của Đức Giêsu dường như cho thấy rằng đôi khi việc làm đúng điều còn quan trọng hơn động cơ rõ ràng đằng sau nó.

Chẳng hạn, Đức Giêsu nói: “Không phải những ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21).  Và trong bài học về việc phán xét cuối cùng, Đức Giêsu dạy rằng chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên cách ta đối xử với người nghèo – “Điều gì các con làm cho một trong những người bé mọn nhất này, là làm cho chính Ta” (Mt 25).   Điều đáng chú ý là cả nhóm được thưởng lẫn bị phạt đều không ý thức rõ việc mình làm.  Họ được xét xử hoàn toàn dựa trên hành động.

Vậy, liệu ta có thể đang làm điều đúng với lý do sai?  Và nếu đúng là ta làm như vậy – vì muốn được ngưỡng mộ, được kính trọng, được tiếng tốt hay cảm thấy tự hào – thì điều đó có nghiêm trọng không?  Nó có làm giảm hoặc phá hủy giá trị của điều tốt ta đang làm?  Khao khát được công nhận, có danh tiếng tốt và cảm thấy dễ chịu về bản thân – có thật sự đối nghịch với lòng vị tha?  Hay cả hai có thể đồng hành?  Thiên Chúa đánh giá ta nhiều hơn dựa vào động cơ – hay dựa vào hành động?

Tôi đang phục vụ cho đại nghĩa – hay đang khiến đại nghĩa phục vụ mình?

Đó là một câu hỏi sống còn để tự xét mình.

Tại sao?  Vì chúng ta rất dễ mù quáng trước sự giả hình của chính mình – cũng như rất dễ khắt khe quá mức với bản thân.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN

Đã bao nhiêu lần bạn nghe nói rằng cầu nguyện chẳng có tác dụng gì?  Người ta thường chế nhạo vì khi điều bất hạnh xảy ra, cách duy nhất chúng ta thường làm đó là cầu nguyện.  Thực tế cho thấy rằng, nhiều khi chúng ta chẳng thể thay đổi tình hình, chẳng hạn như: chúng ta chẳng thể chữa khỏi ung thư, chẳng thể cho kẻ chết sống lại, và cũng chẳng thể ngăn ngừa tác hại của một trận hỏa hoạn, lũ lụt, …

Nhưng rõ ràng là, dù chạm đến sự giới hạn cuối cùng đó, chúng ta vẫn có thể thưa chuyện với Chúa, nài xin lòng thương xót, sự phù trợ, giúp giảm bớt phần nào đau khổ mà con cái Ngài đang phải chịu đựng. Trích dẫn lời của Thánh Gioan Damascene, Sách Giáo lý Công giáo dạy rằng: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp” (GLCG 2590).

Cầu nguyện là một điều tuyệt vời và cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Không cầu nguyện, chúng ta không có mối tương quan với Thiên Chúa.  Không cầu nguyện, chúng ta sẽ lạc lối.  Cầu nguyện là cách thế tốt nhất để chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa, nhờ đó, chúng ta có thể và sẽ tạo ra sự khác biệt trong thế giới.

1. Cầu nguyện củng cố quyết tâm của chúng ta

Chúng ta có thể nhận được sức mạnh lớn lao từ cầu nguyện.  Chỉ cần dành thời giờ thân thưa với Chúa về điều khiến chúng ta vui, buồn và tạ ơn Ngài vì những ơn lành chúng ta đã lãnh nhận sẽ mang lại cho chúng ta tầm nhìn quan trọng về cuộc sống và về những gì chúng ta được mời gọi để làm cho người khác.  Trong thực tế, chúng ta dễ cảm thấy chán nản khi mọi việc không như ý mình, nhưng với một chút thời gian yên tĩnh ở một mình với Chúa có thể giúp chúng ta cảm nhận được sự thanh thản, nhìn mọi việc theo một nhãn quan khác và tăng thêm sức mạnh để làm điều tốt cho người khác.

2. Cầu nguyện mang lại cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc

Thời gian cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể biến đổi tâm hồn khi chúng ta biết suy tư về cuộc sống, hành vi của mình, và quyết tâm thay đổi theo chiều hướng tích cực.  Chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa về những gì Ngài muốn dành cho chúng ta và Ngài muốn chúng ta tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của mình và người khác như thế nào.  Việc ngồi tĩnh lặng thưa chuyện với Chúa hoặc đọc Kinh thánh giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về cách thế Thiên Chúa muốn chúng ta hành động khi chúng ta có thể noi theo gương của các Thánh và của những người nam nữ tốt lành trong Kinh Thánh.

3. Cầu nguyện thúc đẩy chúng ta hành động

Hành động bắt đầu bằng việc cầu nguyện.  Chúng ta thưa chuyện với Chúa và Ngài lắng nghe.  Chúng ta có thể hỏi Thiên Chúa rằng Ngài muốn chúng ta ở đâu, Ngài muốn chúng ta làm gì và làm sao để chúng ta có thể làm theo ý muốn của Ngài.  Chắc chắn Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta, mặc dù nhiều khi chúng ta không nghe được tiếng nói trực tiếp của Ngài.  Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận ý muốn của Thiên Chúa được đặt vào lòng chúng ta và khi Ngài giúp chúng ta đưa ra những quyết định vì lợi ích của chúng ta hoặc của người khác.

4. Cầu nguyện đưa người khác đến gần Chúa hơn

Khi người khác thấy chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang làm gương về cách hành động.  Và khi cầu nguyện cho người khác, chúng ta có thể tin chắc rằng Thiên Chúa lắng nghe chúng ta. Chúng ta có mẫu gương của Thánh Monica, người đã cầu nguyện ròng rã nhiều năm cho người con trai là Augustino được ơn hoán cải, và bà đã được toại nguyện.  Noi gương thánh nữ Monica, chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chúng ta yêu thương và khi cảm thấy mệt mỏi, buồn bã vì lời cầu nguyện của mình không được nhậm lời, sự kiên trì của thánh nữ là nguồn khích lệ lớn lao.

Cầu nguyện không chỉ củng cố mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa mà còn biến đổi con người chúng ta.  Cầu nguyện uốn nắn chúng ta thành người trung thành hơn, quảng đại hơn để giúp đỡ người khác, và dấn thân hơn để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Thiên Chúa là Cha và Ngài yêu thương chúng ta sâu xa hơn những gì chúng ta có thể hình dung.  Hãy dành thêm thời gian để thân thưa với Ngài, và xây dựng mối tương quan mà cả Thiên Chúa và chúng ta đều khao khát.

Susan Ciancio
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP Chuyển ngữ từ: catholicworldreport.com (15. 04. 2024)

MONG MANH KIẾP NGƯỜI

Nếu chúng ta may mắn được sống trong một xã hội phát triển không ngừng trong mọi lãnh vực, nhất là y tế, thì chúng ta lại cảm nhận dễ dàng một điều này: đó là cuộc sống con người càng ngày càng trở nên hết sức mong manh.  Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi cục diện thế giới, đồng thời khiến con người đặt lại vấn đề về các giá trị sống.  Cách đây hai tuần, vụ lật tàu du lịch ở Hạ Long, cướp đi sinh mạng của gần bốn mươi người, đã để lại một nỗi kinh hoàng, không chỉ cho thân nhân gia đình các nạn nhân, mà cho mỗi chúng ta.  Cứ nghĩ chuyến du lịch ngoài vịnh vài tiếng đồng hồ chẳng có chi đáng lo, vậy mà lại là một chuyến đi định mệnh không có ngày về.  Những nguy hiểm như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thiên tai lũ lụt, ngộ độc thực phẩm, thuốc men giả… luôn rình rập quanh ta và làm cho con người bị ám ảnh một nỗi sợ thường trực.  Nếu cuộc sống mong manh vô thường như thế, thì chúng ta phải làm sao để sống ý nghĩa hơn, có trách nhiệm với bản thân và xây dựng những mối tương quan thấm đậm tình người hơn.  Ngoài những điều vừa kể, Ki-tô hữu còn phải chọn lựa hướng đi cho đời mình.  Bởi lẽ có những điều trên đời vốn được coi là bền vững, thì lại hết sức mong manh.  Càng ngày chúng ta càng nhận ra, không phải lúc nào vật chất, quyền lực và sức mạnh cũng đem lại cho con người hạnh phúc.

Từ vài năm trở lại đây, hai từ “Sống chậm” được nhiều người nhắc tới và áp dụng trong cuộc sống thường ngày.  Vậy sống chậm là gì?  Có người đã định nghĩa như sau: “Sống chậm là một lối sống hướng tới sự tập trung vào chất lượng hơn là số lượng, chú trọng vào việc trải nghiệm cuộc sống một cách chậm rãi, ý thức và có chiều sâu.  Nó không chỉ là việc thay đổi nhịp sống mà còn là việc thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn nhận và cách tương tác với thế giới xung quanh, giúp ta tìm thấy sự bình yên, niềm vui và ý nghĩa đích thực trong từng khoảnh khắc.”

Thì ra, giữa cuộc sống ồn ào bon chen tính toán này, con người được mời gọi tỉnh ngộ để “sống chậm hơn,” để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống và lòng nhân ái của những người xung quanh, nhờ đó chúng ta được thôi thúc làm những điều tốt đẹp cho bản thân và cho mọi người.

Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh tới sự mỏng giòn của kiếp người.  Thực ra kiếp người vốn rất mong manh ngay từ ngàn xưa, nhưng nhiều lúc chúng ta lại quên điều đó.  Những tham vọng về quyền lực, những tính toán mưu mẹo trong làm ăn, những đam mê và ích kỷ… tất cả dễ làm chúng ta quên rằng: cuộc sống này vô cùng ngắn ngủi.  Tác giả Thánh vịnh đã thốt lên: “Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 16-17)

Người phú hộ trong Tin Mừng cứ nghĩ mình sẽ sống mãi.  Anh ta tìm mọi cách để tích trữ của cải cho mình.  Việc anh ta giàu có chẳng phải là một tội.  Những gì anh làm ra là thu nhập chính đáng.  Điều Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh trong dụ ngôn này, đó là anh ta coi của cải như lý tưởng và cùng đích đời mình.  Anh ta tìm mọi cách để làm ra nhiều tài sản và quản lý nó, trong khi xung quanh luôn có những người nghèo thì anh ta không hề quan tâm.  Anh rất giàu về vật chất, nhưng lại rất nghèo về nhân đức.  Câu kết của Chúa Giê-su đã nói lên thông điệp của câu chuyện: “Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12,21).

Cổ nhân đã dạy: “Có đức mặc sức mà ăn.”  Điều đó có nghĩa, làm gì cũng phải đặt đạo đức làm đầu.  Khi có lòng đạo đức, thì những dự tính kế hoạch sẽ thực hiện một cách tốt đẹp và mang lại nhiều hiệu quả như mong muốn.

“Phù vân, quả là phù vân.  Tất cả chỉ là phù vân.”  Phù là gió thổi; Vân là mây.  Phù vân là mây bị gió cuốn đi.  Mỗi khi nhìn lên bầu trời, chúng ta thấy mây luôn chuyển động vì có gió.  Mọi sự ở đời này rồi cũng như gió thổi mây bay vậy.  Tác giả sách Giảng viên như một chàng lãng tử, nhìn nhận cuộc đời chỉ như một giấc mộng chóng tan.  Nhiều người sống trong ảo tưởng, đánh giá bản thân một cách lệch lạc và trao gửi tương lai cuộc đời nơi những của cải chóng qua.  Chỉ có tình yêu và lòng nhân ái mới tồn tại vĩnh cửu.

Anh em hãy giết chết những gì thuộc về hạ giới trong con người anh em, đó là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu xa và tham lam.” (Cl 3,5).  Thánh Phao-lô đã mời gọi các tín hữu Cô-lô-xê tránh xa những thứ phù vân, để sống phù hợp với đời sống mới trong Đức Ki-tô.

“Tạ ơn Trời (hay Đời) mỗi sớm mai thức dậy; ta có thêm ngày mới để yêu thương!”  Cuộc sống này quá mong manh.  Hãy sống chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp của cuộc sống, để yêu thương và để tâm sự với Thiên Chúa, Đấng đang ngự nơi sâu thẳm trong tâm hồn ta.  Sống chậm cũng là để trân trọng những gì mình đang có, để tập trung vào những gì quan trọng trong đời, và nhất là để đổi mới bản thân chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

THÁNH MÁC-TA, MA-RI-A VÀ LA-DA-RÔ

Hôm nay, Giáo hội kính nhớ các thánh Mát-ta, Ma-ri-a và La-da-rô là 3 chị em ở làng Bê-ta-ni-a. Lễ này đã được Đức Thánh Cha Phan-xi-cô thêm vào lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo Rô-ma, ngày 2/2/2021.  Ngày này trước đây, chỉ được sử dụng để kính nhớ duy nhất thánh Mát-ta.

Sắc lệnh của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã giải thích rằng Đức Thánh Cha thêm ba vị thánh vào lịch phụng vụ chung của Giáo hội Công giáo Rô-ma “vì chứng tá Phúc âm quan trọng của họ trong việc đón rước Chúa Giê-su vào nhà họ, chăm chú lắng nghe Người, tin rằng Người là sự sống lại và là sự sống.”

Sắc lệnh khẳng định: “Trong ngôi nhà ở Bê-ta-ni-a, Chúa Giê-su cảm nghiệm tình gia đình và tình bạn của Marta, Maria và La-da-rô, và vì lý do này, Phúc âm thánh Gio-an khẳng định rằng Chúa yêu thương họ.  Bà Mát-ta đã rộng lượng tiếp đãi Người, bà Ma-ri-a ngoan ngoãn lắng nghe lời Người và ông La-da-rô nhanh chóng đi ra khỏi mộ theo lệnh của Đấng đã chiến thắng sự chết.”

Bài Phúc âm trích đọc trong thánh lễ này (Lc 10, 38-42) minh chứng tình cảm mà chị em nhà này đã dành cho Chúa.  Họ tận tình tiếp đãi Chúa mỗi người một cách thế.  Dầu vậy, Bài Phúc âm cũng mời gọi chúng ta suy nghĩ về trật tự của những việc chúng ta làm cho Chúa.

Mát-ta đón thầy trong tư cách chị cả.  Chị tất bật trong bếp lo bữa ăn để tiếp đãi Thầy, chị lo lắng phải làm sao để tiếp đón Thầy cho xứng.  Còn Ma-ri-a đón tiếp Chúa bằng cách thanh thản, lặng lẽ ngồi bên chân Thầy để lắng nghe.

Mát-ta là người đảm đang, thạo việc, nhanh nhẹn.  Nhưng chị không muốn khách phải chờ đợi lâu, và chị cũng muốn đãi khách một bữa ăn tương đối thịnh soạn.  Nhưng trong tình thế này, chị thấy rất cần sự giúp đỡ của cô em.

Chị đề nghị: “Xin Thầy bảo em giúp con một tay!”  Ước mơ của Mát-ta rất đỗi bình thường.  Tiếc thay, Thầy Giê-su lại đang kể chuyện cho Ma-ri-a, và cô này đang lắng nghe một cách thích thú.  Nhờ Thầy kêu em xuống bếp là phá vỡ câu chuyện còn dang dở của Thầy.  Mát-ta bị mối lo về bữa ăn chi phối khiến chị quên cả lịch sự cần có.  Chị quên rằng Thầy Giê-su không chỉ cần bữa ăn, mà còn cần tình bạn.  Và tiếp khách cũng là một cách phục vụ không kém giá trị.

Thầy Giê-su nhìn thấy sự căng thẳng, lúng túng của Mát-ta, và nhận ra lòng tốt của chị, khi chị muốn dọn một bữa ăn xứng đáng.  Thầy gọi tên chị hai lần cách trìu mến: Mát-ta, Mát-ta.  Ngài nhẹ nhàng trách chị vì đã lo lắng băn khoăn về nhiều chuyện quá.  “Chỉ cần một chuyện thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt hơn.”

Thầy Giê-su không bảo rằng điều Mát-ta làm là điều không tốt.  Nhưng ngồi nghe Thầy vẫn là điều tốt hơn, cần hơn.

Cuộc sống hôm nay dễ làm chúng ta bị cuốn vào chọn lựa của Mát-ta, bị đè nặng bởi công việc.  Chúng ta quên mất: điều cần hơn là dành thời giờ để gặp Chúa, ở bên chân Chúa mà lắng nghe.

Đời sống của người Ki-tô hữu là kết hợp hài hoà giữa chọn lựa của Mát-ta và Ma-ri-a.  Vừa làm việc của Chúa, vừa gặp gỡ chính Chúa.

Lm. Giu-se Vũ Công Viện

ĐẤU TRANH VỚI TÍNH TỰ ĐẠI

Chúng ta sống trong một thế giới mà mọi thứ đều kích động mạnh đến thói tự đại của chúng ta, trong khi đó thì càng ngày càng ít công cụ để cự lại với nó.

Vài năm về trước, Robert L. Moore đã viết một quyển sách rất ý nghĩa, với tựa đề Đối diện Con Rồng [Facing the Dragon].  Moore tin rằng con rồng đe dọa chúng ta nhất, chính là con rồng của tính tự đại trong chúng ta, nó khuấy động nội tâm chúng ta khiến chúng ta tin rằng mình đặc biệt phi thường và mang số mệnh cao cả.  Tình trạng này bủa vây tất cả chúng ta.  Nói đơn giản, mỗi người chúng ta, mỗi một trong bảy tỷ người trên trái đất, không thể nào không cảm thấy mình là trung tâm của vũ trụ.  Và bởi điều này gần như vô thức, đồng thời chúng ta lại thiếu khí cụ để giải quyết nó, nên nó gây ra một tình trạng đáng lo sợ.  Tự đại không phải là công thức cho hòa bình và hòa hợp, mà là cho ghen tương và xung đột.

Mà tình trạng này không phải lỗi của chúng ta, và tự nó cũng không phải là là một khiếm khuyết đạo đức trong bản tính của chúng ta.  Sự tự đại của chúng ta phát xuất từ cách Thiên Chúa tạo thành chúng ta.  Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa.  Đây là chân lý giáo điều căn bản nhất trong nhận thức Do Thái – Kitô giáo về nhân thể.  Tuy nhiên, không thể hiểu nó theo kiểu đơn giản hóa, như kiểu một biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu vào linh hồn chúng ta.  Đúng hơn, cần phải hiểu thế này: Thiên Chúa là lửa, lửa bất diệt, một sinh lực không ngừng tìm kiếm để ôm trọn và thổi bùng mọi tạo vật.  Và ngọn lửa đó có trong chúng ta, khơi lên trong chúng ta những cảm thức thần linh, một trực giác rằng chúng ta cũng có sinh lực thần thiêng, và cũng là một áp lực muốn trở nên đặc biệt phi thường và đạt được một sự cao cả nào đó.

Có thể nói, được tạo thành theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, nghĩa là có một con chíp thần thiêng bên trong chúng ta.  Nó thiết lập cho chúng ta phẩm giá cao cả nhất nhưng cùng lúc tạo nên những vấn đề lớn lao nhất.  Sự vô hạn không nằm yên trong cái hữu hạn.  Bởi có sinh lực thần thiêng bên trong, nên chúng ta không dễ bình yên trong thế giới này, những khao khát và mong mỏi của chúng ta quá vĩ đại.  Chúng ta không chỉ sống trong sự bất an triền miên mà thánh Augustine nêu bật trong châm ngôn lừng danh: “Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”  Mà sự tự đại bẩm sinh này còn khiến chúng ta không ngừng nuôi dưỡng một niềm tin rằng chúng ta đặc biệt, có số mệnh độc nhất vô nhị, và được sinh ra để trội vượt, được công nhận, được biết đến với những sự phi thường của mình.

Và do đó tất cả chúng ta đều được một mã di truyền thần thiêng điều hướng để, có thể nói là tạo lập một cáo thỉnh trong đời, tạo lập sự bất tử cho riêng mình, và tạo nên một giả tượng phi thường mà thế giới phải để mắt đến.  Đây không phải là một khái niệm trừu tượng, nó tuyệt đối thực tế.  Chúng ta có thể thấy bằng chứng cho chuyện này trên mọi bản tin, trong mọi vụ đánh bom, trong mọi mưu đồ xấu xa táo tợn, và trong mọi tình huống khi ai đó muốn mình trội vượt.  Chúng ta cũng thấy nó trong sự đói khát danh vọng, trong khát khao được nổi tiếng, và trong nhu cầu muốn được nhìn nhận là độc nhất vô nhị và đặc biệt.

Nhưng sự tự đại này, tự nó không phải là lỗi lầm của chúng ta, và cũng không nhất thiết là một khiếm khuyết đạo đức.  Nó đến từ cách chúng ta được tạo thành, thật nghịch lý thay, nó đến từ những gì cao cả và tốt đẹp nhất trong chúng ta.  Vấn đề là, ngày nay, chúng ta thường không có khí cụ để vận dụng nó sao cho sinh sôi những điều tốt đẹp.  Vì nhiều lý do, chúng ta ngày càng sống trong một thế giới kích động quá đáng tính tự đại của mình, ngay cả khi chúng ta không nhận ra tình trạng này và nhất là khi chúng ta ngày càng ít công cụ tôn giáo và tâm lý để xử lý nó.  Những công cụ này là gì?

Về tâm lý, chúng ta cần những hình ảnh con người cho phép mình hiểu bản thân một cách lành mạnh, nhưng cũng bao gồm cả việc chấp nhận những giới hạn, những sự nản lòng, sự vô danh của chúng ta, và cả việc cuộc sống chúng ta phải dành không gian cho cuộc sống người khác nữa.  Về mặt tâm lý, chúng ta phải có những công cụ để hiểu cuộc đời mình, thừa nhận rằng mình đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhưng vẫn là một trong số hàng tỷ cuộc đời đặc biệt và độc nhất vô nhị khác.  Về mặt tâm lý, chúng ta cần những công cụ tốt hơn để vận dụng tính tự đại của mình.

Về tôn giáo, đức tin và giáo hội chúng ta cần phải đem lại một nhận thức về nhân thể sao cho chúng ta có thấu suốt và khuôn khổ để có thể sống sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của mình, trong khi biết bình an với tinh thần, những giới hạn, những thất bại, sự vô danh, và dành không gian cho sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của cuộc đời người khác.  Về căn bản, tôn giáo phải cho chúng ta những công cụ để nắm bắt cách lành mạnh ngọn lửa thiêng bên trong bản thân mình, và hành động lành mạnh với những tài năng và thiên tư mà Chúa ban cho chúng ta, nhưng là trong khuôn khổ đi kèm để khiêm tốn nhận biết các thiên tư này không phải của chúng ta, mà là của Chúa, và tất cả những gì chúng ta là, và những gì chúng ta đạt được đều là ơn Chúa.  Chỉ khi đó, chúng ta mới không gục ngã vì thất bại và tự đắc vì thành công.

Robert Lax cho rằng, bổn phận trong đời không phải là tìm được lối mòn trong khu rừng, cho bằng đi tìm một nhịp điệu để bước đi.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?

Maria Mađalêna có một ảnh hưởng bền bỉ lâu dài, gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ, tội nhân lẫn các thánh và cả những môn đệ của Đức Kitô qua nhiều thời đại.  Tiếng tăm này không thể dễ dàng giải thích dựa vào các thông tin về bà trong Kinh Thánh.  Điều Tân Ước nói về bà thật ít ỏi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố.  Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.

Có điều gì đó bí ẩn và hấp dẫn về người phụ nữ này trong các Tin Mừng.  Một người phụ nữ mà tên riêng không đi kèm với tên một người đàn ông nào khác ngay trong Tân Ước thì đó là điều thật có ý nghĩa.  Khi xếp bà riêng ra thì hoặc bà là một nhân vật ngoại thường hoặc có vấn đề gì ở đây.  Có lẽ chính vì thế mà óc tưởng tượng bình dân đã “điền vào chỗ trống” và gán ghép bà với những phụ nữ khác trong Tân Ước, tạo nên một khối tù mù.  Trước khi xem các Tin Mừng nói gì thì chúng ta hãy xem thử những gì mà các Tin Mừng không hề nói.

Bà không phải là ai

Thỉnh thoảng Maria Mađalêna bị đồng hóa cách sai lầm với người phụ nữ xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu.  Sự đồng hóa này lại càng thêm phức tạp bởi vì người ta thường nhầm lẫn câu chuyện xức dầu với một người phụ nữ tội lỗi, một cô điếm.  Và góp phần khiến vấn đề trở nên tệ hại hơn là hình ảnh của Maria Mađalêna và một người phụ nữ bị cáo buộc ngoại tình trong Tin Mừng Thánh Gioan lại nhập nhằng với nhau.

Trong câu chuyện Khổ Nạn, dầu mục đích sử dụng câu chuyện khác nhau, cả bốn Tin Mừng đều nói về một phụ nữ xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Mc 14, 3-9; Mt 26, 6-13), Thánh Marcô và Matthêu đưa trình thuật nói về một phụ nữ vô danh xức dầu cho Chúa Giêsu có ý nói về cuộc mai táng của Ngài.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang ở nhà của ông Simon người phung hủi, ở Bêthania gần Giêrusalem.  Thánh Gioan cũng thuật lại câu chuyện xức dầu chân Chúa Giêsu không lâu trước cái chết của Ngài, xác định người phụ nữ là Maria thành Bêthania, bà làm thế để tỏ lòng biết ơn Chúa Giêsu đã làm cho em bà là Lazarô sống lại.  Maria là một tên gọi rất thông dụng và có lẽ chính vì thế mà hai bà tên Maria đã bị hòa lẫn vào nhau trong truyền thống Kitô giáo sau đó.

Thánh Luca kể về một phụ nữ vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu khi Ngài đang ngồi bàn ăn trong khi đang thực hiện sứ vụ (Lc 7, 36-50) chứ không phải lúc cuối đời.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang dùng bữa tối tại nhà ông Simon người Pharisiêu.  Có lẽ Maria Mađalêna đã bị nhầm lẫn với người phụ nữ này bởi vì Maria Mađalêna lần đầu tiên được gọi đích danh trong câu chuyện tiếp liền ngay sau trình thuật xức dầu của Thánh Luca (Lc 8, 2).  Góp phần để tạo thêm nhầm lẫn là người phụ nữ này đôi khi được miêu tả là người tội lỗi công khai (một cái tên thanh tao để gọi nghề làm điếm), người đã đổ nước mắt vì thống hối và hành động vì lòng hối hận.  Thế nhưng người phụ nữ xức dầu chân Chúa Giêsu là một phụ nữ vô danh trong Tin Mừng Thánh Luca, và nếu bà được ghi nhớ chỉ vì “tội lỗi” của mình hơn là tình yêu đưa dẫn đến hành động xức dầu chân Chúa, thì điều đó vừa trái với ý nghĩa của dụ ngôn mà Chúa Giêsu vừa mới nói đến trong dịp này lại vừa không phải là mục đích của Thánh Luca khi kể lại câu chuyện.

Vấn đề càng thêm phức tạp khi có một vài thủ bản Tin Mừng Thánh Gioan (7, 53 – 8, 11) nói về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và gán ghép chị này với Maria Mađalêna.  Một truyền thống lâu đời trong văn chương và nghệ thuật Kitô giáo đã vẽ nên một Maria Mađalêna là người tội lỗi ăn năn, sau khi gặp được Chúa Giêsu thì bà đã trải hết phần đời còn lại để khóc than tội lỗi mình.  Thế nhưng các Tin Mừng không hề gán ghép Maria Mađalêna với người phụ nữ tội lỗi, hoặc tệ hơn nữa là một cô điếm.

Các Tin Mừng nói gì

Trong các Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca, bà được gọi là Maria Mađalêna hay “Maria Magđala” (xem Mt 27, 56.61; 28, 1; Mc 15, 40.47; 16, 1,9; Lc 8, 2; 24, 10).  Thánh Gioan gọi bà là “Maria thành Magđala”, một thành phố vô danh trong Kinh Thánh (xem Ga 19, 25; 20, 1.18).  Vài người cho rằng đó là thành phố Magađan (xem Mt 15, 39; Mc 8, 10), một thành phố nằm bên bờ Tây của Biển hồ Galilê, giữa Tiberia và Capharnaum.

Maria thành Magđala được ghép với một địa danh chứ không phải với tên của bất kỳ người đàn ông nào bên cạnh Chúa Giêsu.  Trong thế giới Tân Ước, người phụ nữ thường gắn liền với chồng, cha, con trai hoặc anh em của họ.  Như vậy, người phụ nữ vô danh đã theo Chúa Giêsu và hiện diện dưới thập giá đơn giản chỉ được gọi là “bà mẹ của các con trai ông Zêbêđê.”  Tên gọi Zêbêđê xuất hiện ở đây không phải vì ông hiện diện dưới chân thập giá cùng với vợ con ông, những người đã theo Chúa Giêsu từ Galilê cho đến Giêrusalem.  Song chính ông được nêu tên chứ không phải bà vợ đầy lòng tin của ông.

Maria thành Nazareth, Maria và Martha thành Bêthania được gắn liền với thành phố quê hương của họ nhưng đồng thời cũng được gắn liền với người đàn ông:  Maria với Giuse, Maria và Martha với Lazarô.  Còn Maria Mađalêna chính là môn đệ và tông đồ của Chúa Giêsu.  Không có hàng chữ nào nói lên vai trò này của bà trong Tân Ước.  Đúng ra, các Tin Mừng chỉ phác họa Chúa Giêsu là người thâu nhận “những người học việc” (“môn đệ”).  Sau thời gian học tập với vị Tôn Sư, các môn đệ này được “sai đi” (ý nghĩa của từ “tông đồ”) để rao giảng và hành động với thẩm quyền của Chúa Giêsu.  Từ các Tin Mừng, chúng ta biết rằng các môn đệ được kêu gọi. Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng họ phải làm nhân chứng, tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Giêsu đã khởi đầu.  Các môn đệ được đòi hỏi phải theo Chúa Giêsu và kiên trì cho đến chết.  Họ đã tin và rao giảng sự phục sinh.

Ơn gọi của Maria

Có vài môn đệ được kêu gọi từ bỏ cuộc sống đang đà thuận lợi.  Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan đã “bỏ mọi sự” mà theo Chúa Giêsu (Mc 1, 18).  Lêvi (hay Matthêu) là người thu thuế đã lập tức đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (Mc 2, 13-14; Mt 9, 9).  Những người khác đã bỏ lại bệnh tật và khiếm khuyết của mình và “ơn gọi” của họ thật sự là một phép lạ đúng nghĩa.  Người mù gặp được Chúa Giêsu và được chữa lành.  Kể từ đấy ông đã “đi theo Người trên con đường người đi” (xem Mc 10, 52).  Tương tự như vậy, Maria Mađalêna sau khi được trừ “bảy quỷ,” đã đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 8, 2; Mc 16, 9).  Thánh Luca kê tên bà trong số mấy phụ nữ được trừ quỷ và chữa lành bệnh tật đã đi theo Chúa Giêsu từ Galilê đến Giêrusalem, chăm sóc cho Ngài.

Các chứng nhân làm chứng cho điều họ thấy và nghe.  Các môn đệ được kêu gọi làm chứng cho Nước Trời đã đến trong lời nói và hành động của Chúa Giêsu.  Họ được trao ban nhiệm vụ (xem Mt 10; Lc 9 – 10) và được sai đi để làm điều Chúa Giêsu đã làm (Lc 10, 1.3.9).  Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải trở nên đất tốt để “khi nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, họ nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả” (Lc 8, 15).  Lời dạy này phù hợp với những miêu tả về Maria Mađalêna, sau khi được trừ quỷ, đã kiên trì và trung thành theo Chúa Giêsu cho đến khi Ngài chết trên thập giá, ngoài ra còn lấy nguồn lợi tức của riêng mình để chăm sóc cho Ngài và các môn đệ khác với tình chân thật và lòng quảng đại.

Theo Thánh Marcô, lời dạy cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước cuộc Khổ Nạn là “Hãy tỉnh thức!” (Mc 13, 36).  Họ đã chứng kiến sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu và cuối cùng là sự phục sinh của Ngài.  Thế nhưng các tác giả Tin Mừng nhìn nhận rằng các đấng môn đệ nam nhi đã không thể “tỉnh thức” với Chúa Giêsu dầu chỉ một thời gian ngắn ngủi trong Vườn Cây Dầu.  Vậy mà bà Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã “tỉnh thức” để trông xem cuộc đóng đinh và rồi nán lại để “nhìn xem” xác Ngài được đặt ở đâu.  Thánh Matthêu nói rằng Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã ra mộ từ sáng sớm ngày Phục Sinh để “trông chừng” ở đấy (xem Mt 27, 55-56.61; 28, 1.8-10).  Họ đã “xem thấy” ngôi mộ trống.  Cuối cùng, theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, những phụ nữ này đã nghe sứ điệp phục sinh và về thuật lại cho những người khác.  Họ đã được “sai đi” làm sứ giả hay tông đồ cho các môn đệ khác.

Chứng nhân và sứ giả

Marcô đã xếp đặt bà Maria Mađalêna và những phụ nữ khác đứng dưới chân thập giá (Mc 15, 40-41).  Sử dụng Tin Mừng Marcô, Thánh Luca đã đặt ngay tâm điểm sứ vụ của Chúa Giêsu đoạn văn nói về những phụ nữ đi theo Ngài từ Galilê cho đến Giêrusalem để nói lên đức tin và sự kiên trì của họ (Lc 8, 1-3).  Còn theo Thánh Luca, tại Bữa Ăn Tối Cuối Cùng, Chúa Giêsu nhắc đến các môn đệ như là những người cùng đứng với Ngài trong cơn thử thách, “một lòng gắn bó với Thầy giữa lúc gian nan” (Lc 22, 28).  Maria Mađalêna chắc chắn là một trong số người đó.

Bất kỳ khi nào được nêu tên (ngoại trừ Ga 19, 25-27), Maria Mađalêna đứng đầu danh sách những phụ nữ đi theo và hầu hạ Chúa Giêsu.  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, các phụ nữ này đã rời bỏ tuyến hậu phương để xuất hiện dưới chân thập giá.  Chỉ trong Tin Mừng Thánh Gioan thì nhóm phụ nữ này gồm có cả “thân mẫu Chúa Giêsu,” cùng với chị của thân mẫu Chúa Giêsu là bà Maria vợ ông Clopas, và Maria Magđala” (Ga 19, 25).  Được sự tháp tùng của các phụ nữ này cũng như người Môn đệ Chúa yêu (theo chứng từ của Tin Mừng thứ tư), “thân mẫu Chúa Giêsu” đến sát cây thập giá đủ gần để nghe Chúa Giêsu trăn trối mình cho người môn đệ ấy chăm sóc.  Maria Mađalêna cũng đứng gần đấy, chứng kiến cái chết và lắng nghe Ngài như bà đã từng làm trong suốt cuộc đời mình.

Trái hẳn với các môn đệ nam nhi đã bỏ Chúa Giêsu mà chạy trốn, Maria Mađalêna cùng những người đồng hành phụ nữ không chỉ chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu mà còn nán lại để xác minh nơi chôn cất.  Và các bà đã quay trở lại ngôi mộ để xức dầu thơm xác Ngài vào lúc sáng sớm sau ngày Sabbath.  Sau khi được Chúa Giêsu hiện ra, Tin Mừng Nhất Lãm nói rằng bà Maria Mađalêna đã đi và nói cho các môn đệ khác biết sự việc đã xảy ra thế nhưng họ không tin phụ nữ (Mc 16, 20; Lc 23, 49).  Dường như các môn đệ không tin vì họ xưa nay vốn chẳng tin chuyện phụ nữ.

Trong Tin Mừng Gioan, Maria Magđala đi ra mồ “từ lúc sáng sớm khi trời còn tối.”  Thấy tảng đá che cửa mồ đã lăn sang một bên, bà chạy đi báo cho Simon Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu (Ga 20, 1-2).  Cả ba chạy trở lại ngôi mộ rồi các môn đệ trở về (Ga 20, 9).  Maria vẫn ở lại, khóc lóc (Ga 20, 11).  Cuối cùng, Chúa Giêsu hiện ra và nói chuyện với bà (20, 11-18).  Bà đã về và báo cho các môn đệ rằng: “Tôi đã thấy Chúa” và kể lại những gì Ngài nói với bà (Ga 20, 18).  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, không thấy có ám chỉ nào nói rằng Phêrô và những môn đệ khác không tin Maria hoặc bà là một chứng nhân không đáng tin vì là phụ nữ.  Gioan chỉ nói rằng Phêrô và Môn đệ Chúa yêu đã chạy ra mộ để nhìn tận mắt, và người môn đệ Chúa yêu đã tin.  Gioan dường như bóng gió rằng Phêrô không tin ngay lập tức.  Maria Magđala đã thấy chính Chúa Giêsu và lòng tin của bà được khẳng định trong nhiệm vụ được giao là nói cho những người khác biết về sự phục sinh của Chúa.

Vài kết luận

Các Tin Mừng đã phản ảnh một tranh luận trong xã hội ở thế kỷ đầu tiên về giá trị chứng từ của những người phụ nữ.  Sự chắc chắn và nhất quán của các Tin Mừng về tính đáng tin cậy của những phụ nữ và đặc biệt của Maria Mađalêna cho thấy rằng các cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu đã có một nhãn quan mới về phụ nữ và chỗ đứng của họ trong một xã hội mới và trong Giáo Hội.  Một cách rất có ý nghĩa, các Tin Mừng đã ghi lại sự thất bại thảm hại của các đấng môn đệ nam nhi trong “giờ khắc” gay cấn nhất, rồi tiếp theo đó là họ đã không tin Maria Mađalêna cùng những phụ nữ khác đã vội vã chạy về loan tin Chúa Giêsu phục sinh cho họ.

Kinh Thánh thoát thai trong một nền văn hóa gia trưởng phụ quyền.  Trong nền văn hóa như vậy, người ta nói về phụ nữ không mấy tích cực. Để vượt qua bối cảnh này, cần phải thẳng thắn khi nói về các đấng môn đệ nam nhi cư xử như thế nào vào thời khắc cao điểm trong cuộc tự hiến của Đức Giêsu và giải thích vai trò cần thiết của các phụ nữ cũng trong thời điểm ấy. Trong suốt Tân Ước, đặc biệt là các Tin Mừng, hình ảnh tích cực của các phụ nữ vẫn còn là một tiếng nói muốn được giải thích và trả lại tính xác thực.

Maria Mađalêna đã bị đánh giá sai thậm chí bị khinh khi, qua nhiều thế kỷ chúng ta đã đánh mất hoặc bỏ qua vai trò của bà như là người tông đồ đầu tiên.  Mặc dầu các bình luận về bà vẫn còn dè dặt để chỉ nói điều ít nhất, cả bốn Tin Mừng đều đồng ý rằng bà Maria Mađalêna đã ở dưới chân thập giá, nơi ngôi mộ trống và là một trong những chứng nhân đầu tiên về sự phục sinh của Chúa Giêsu.  Bà đã trở thành người mà phụng vụ mùa Phục Sinh gọi là “Apostola Apostolorum” (Tông đồ của các Tông đồ).

Mary Ann Getty
LM Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

LỜI MỜI GỌI ĐẾN VỚI ĐIỀU CAO HƠN

Tội là gì?  Không đi lễ ngày Chúa nhật là tội ư?  Gian lận thuế là tội?  Say xỉn là tội?  Nuôi thù hận là tội?  Thủ dâm là tội?  Không chung thủy trong hôn nhân là tội?

Trong một thời gian quá dài, các nhà giảng thuyết, các nhà giáo lý, giáo lý viên, hàng giáo phẩm và các thần học gia luân lý đã quá tập trung vào tội lỗi.  Quả thật là có tội, nhưng nó không nên là trọng tâm của chúng ta khi muốn hiểu ý nghĩa của việc sống đời sống người tín hữu Kitô đạo đức.  Chúng ta nên nắm bắt từ lời của Chúa Giêsu.

Trong Bài giảng trên núi (Mt 5) Chúa Giêsu giảng, “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.”  Về cơ bản, ý Chúa Giêsu là: Thầy không đến để loại bỏ Mười Điều răn, Thầy đến để mời gọi anh em đến với một điều cao hơn.

Tiếc là chúng ta có khuynh hướng nghĩ về đời sống đạo đức theo kiểu giữ Mười Điều răn và tránh tội.  Cái mà chúng ta gọi là “thần học luân lý” tập trung vào các vấn đề luân lý, về đúng và sai.  Nhưng Chúa Giêsu, thầy dạy luân lý, lại không nói như vậy.  Trong Bài giảng trên núi (có lẽ là bộ luật luân lý lớn nhất) chú trọng vào lời mời gọi đến với một điều cao hơn.  Bài giảng trên núi giả định chúng ta đã sống những điều căn bản của luân lý là Mười Điều răn rồi, thế nên Bài giảng mời gọi chúng ta đến với một điều gì đó vượt trên những điều căn bản này, cụ thể là trở nên người lớn và giúp thế giới gánh vác sự căng thẳng của nó.

Chúa Giêsu không cho chúng ta một thần học luân lý theo kiểu kinh điển hay phổ biến.  Thay vào đó, Ngài mời gọi chúng ta vào một tinh thần môn đệ sâu sắc hơn nữa (vốn là mục tiêu của thần học luân lý, giáo lý học và việc học giáo lý).

Đây là ví dụ của một lời mời nằm ở trung tâm Bài giảng trên núi.  Chúa Giêsu mời chúng ta đến với “một nhân đức sâu sắc hơn của kinh sư và Biệt phái.”  Chúng ta dễ bỏ lỡ ý chính ở đây, hầu như chúng ta luôn có khuynh hướng cho rằng Chúa Giêsu đang nói đến sự giả hình của kinh sư và Biệt phái.  Không phải.  Hầu hết kinh sư và Biệt phái là những người tốt, lương thiện thành tâm, thực hành đức hạnh.  Với họ, sống đạo đức và ngoan đạo là giữ Mười Điều răn (không sót điều nào) và trở nên người vô cùng công bằng với mọi người, là nên người chính nghĩa.

Vậy họ thiếu điều gì?  Nếu tôi là một người giữ hết các Điều răn, công bằng và chính nghĩa khi ứng xử với tha nhân, vậy tôi thiếu gì về mặt luân lý?  Tại sao như vậy vẫn chưa đủ?

Câu trả lời của Chúa Giêsu đưa chúng ta vượt xa hơn Mười Điều răn và các yêu cầu về chính nghĩa. Ngài mời gọi chúng ta đến với một điều vượt cao hơn.

Ngài chỉ ra rằng yêu cầu của chính nghĩa vẫn cho phép chúng ta ghét kẻ thù, nguyền rủa ai nguyền rủa chúng ta, và giết người (mắt đền mắt).  Ngài mời gọi chúng ta đến với một điều vượt lên trên, cụ thể là yêu thương người ghét ta, chúc phúc cho ai nguyền rủa ta, và tha thứ cho ai làm tổn thương ta.  Đây là thực chất của thần học luân lý.  Và hãy nhớ, nó đến với chúng ta như lời mời, mời gọi chúng ta luôn đến với điều cao hơn.  Nó không bận tâm đến chuyện cái gì là tội và cái gì không. Thay vào đó, nó là lời mời gọi tích cực vẫy gọi chúng ta đến với một điều cao hơn, vượt ngoài những xung động tự nhiên, vượt lên trên một người chỉ giữ các điều răn và tránh tội.

Tôi nhớ có lần nghe bài giảng của Michael Hines quá cố, ông cho chúng ta một hình ảnh về Thiên Chúa luôn mãi mời gọi chúng ta đến với một điều cao hơn: Cứ hình dung một người mẹ đang mời gọi đứa con tập đi.  Bà ngồi xổm trên nền trước mặt đứa trẻ, cách một sải tay, những đầu ngón tay của bà chỉ cách đầu ngón tay con mình mấy phân, bà nhẹ nhàng dỗ đứa trẻ mạo hiểm tiến tới một bước, khi đứa trẻ đi bước đó rồi, bà rụt tay lại mấy phân, lại nhẹ nhàng dỗ đứa trẻ mạo hiểm tiến thêm bước nữa.  Thế là đứa trẻ đi qua hết phòng.

Đây là hình ảnh chúng ta cần cho tinh thần môn đệ Kitô hữu và thần học luân lý.  Bận tâm trên hết của chúng ta không nên là chuyện “đây có phải là tội hay không.”  Không đi lễ ngày Chúa nhật là tội ư?  Có những suy nghĩ dâm dục là tội?  Nuôi thù hận là tội ư?

Thay vào đó, câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra cho mình là tôi được mời gọi đến với điều gì?  Tôi cần vươn lên đến với điều cao hơn trong chuyện gì?  Tôi có yêu thương vượt quá những xung động tự nhiên của mình không?  Và cụ thể hơn: Tôi có yêu thương những người ghét tôi không?  Tôi có chúc phúc cho người nguyền rủa tôi không?  Tôi có tha thứ cho kẻ giết người không?

Thầy không đến để loại bỏ Mười Điều răn, Thầy đến để mời gọi anh em đến với một điều cao hơn – và cứ thế từng bước Ngài đưa chúng ta như đứa trẻ tập đi đi qua hết phòng.

. Ron Rolheiser, OMI