THÁNH MICHAEL TỔNG LÃNH THIÊN THẦN

Thánh Michael Tổng lãnh thiên thần, một hậu vệ mạnh mẽ trong tất cả các trận chiến.

Vào lúc 19:49:10 tối, thứ Hai Phục Sinh năm 45, các linh mục đã thực hiện lễ trừ tà của một thanh niên tên là “Robbie” đã có một bước đột phá.  Được sở hữu bởi mười con quỷ, Robbie đã bị ám ảnh trong nhiều năm sau khi sử dụng bảng Ouija để liên lạc với người bà đã khuất của mình.  Sau nhiều tháng trừ quỷ, các linh mục đã cầu khẩn Thánh Michael để đuổi quỷ.  Đột nhiên, một giọng nói tự nhận mình là Thánh Michael ra lệnh cho lũ quỷ khởi hành.  Theo lời kể của những người chứng kiến, Robbie lên cơn co giật dữ dội và những con quỷ bỏ đi với một “âm thanh bùng nổ.”  (Các linh mục đang cầu nguyện Văn phòng Thần thánh trong một nhà thờ gần đó cũng nghe thấy tiếng “bùng nổ âm thanh” này và nhìn thấy một thứ ánh sáng lạ thường chiếu sáng cả nhà thờ.)  Khi Robbie thoát ra khỏi trạng thái mê man, anh ta kể lại việc anh ta đã nhìn thấy Thánh Michael đánh bại Satan như thế nào trong một trận chiến cho linh hồn của mình.  Mặc dù nhiều người biết câu chuyện này qua cuốn sách và bộ phim nổi tiếng năm 1970 dựa trên những sự kiện có thật này, nhưng vai trò của Thánh Michael phần nào bị tắt tiếng trong các tài liệu hư cấu.

Vì lý do này, lời cầu nguyện với Thánh Michael Tổng lãnh thiên thần là một phần thiết yếu của sức khỏe tâm linh của chúng ta.  Ban đầu được rút ngắn từ sáng tác mạnh mẽ hơn của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII mà ngài buộc phải chấp bút sau kinh nghiệm huyền bí rắc rối của mình với “làn khói của quỷ Satan,” lời cầu nguyện đơn giản này tạo ra sức mạnh và sự bảo vệ thiêng liêng năng động, cả trong cuộc sống của chúng ta và trong cuộc sống của Giáo hội.  Khi có rất nhiều cuộc đấu tranh trong cuộc sống của gia đình và nền văn hóa của chúng ta, sự bảo trợ của Thánh Michael sẽ kích hoạt toàn bộ nguồn lực của vật chủ trên trời.  Thánh Phao-lô nói rõ rằng mọi cuộc đấu tranh, dù trần tục đến đâu, đều có chiều kích thuộc linh (Ê-phê-sô 6:12).

Thế giới tâm linh, như một số người có thể nghĩ, không phải là một thế giới của ánh sáng và sự tốt lành rõ ràng.  Có một khía cạnh bất chính của thế giới tâm linh, nơi gieo mầm của hỗn loạn, bạo lực và bóng tối.  Cái ác thoát ra trước tiên, và chủ yếu, trong lĩnh vực tâm linh.  Dù chúng ta gặp khó khăn gì, Thánh Michael cho phép chúng ta linh hoạt các cơ tâm linh của mình và chúng ta cảm nhận được sự trợ giúp của ngài theo nhiều cách.

Một cách cụ thể là cách Thánh Micae giúp chúng ta vượt qua cám dỗ hàng ngày và trưởng thành trong nhân đức.  Hãy xem xét câu chuyện về nguồn gốc của Thánh Michael từ Kinh thánh và Truyền thống (Ê-sai 14:12, Khải Huyền 12).  Trong cuộc biến động vũ trụ đầu tiên giữa Đức Chúa Trời và sự sáng tạo của Ngài, khi Sa-tan thách thức Đức Chúa Trời và báng bổ Danh Thánh, người lãnh đạo của chủ nhà trên trời đáp lại: “Ai giống như Đức Chúa Trời?” bằng tiếng Do Thái, Mikha’el. 

Câu hỏi tu từ đầu tiên trong lịch sử là cái tên Michael.  Tên này cho thấy khả năng khiêm tốn khi nó được pha trộn với lòng dũng cảm.  Để chống lại sự kiêu ngạo bắt nguồn từ cái tôi (trung tâm của tội lỗi luôn là “Tôi”), Michael thể hiện sự khiêm tốn vốn là nền tảng của đức hạnh.  Khiêm tốn nhìn nhận rằng chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi sự sống và hạnh phúc.  Không có Chúa, chúng ta chẳng là gì cả.  Nếu chúng ta muốn hạnh phúc, khiêm tốn là bước đầu tiên dẫn đến chiến thắng của chúng ta trong trận chiến của lòng ích kỷ.  Ngoài ra, để chống lại một loại khiêm tốn giả tạo, Michael thể hiện một lời can đảm.  Sự khiêm tốn giả tạo cho rằng chúng ta bất lực trong các cuộc đấu tranh tinh thần.  Rốt cuộc, chúng ta là ai để chiến thắng ma quỷ, ai là người có sức mạnh vượt quá sức mạnh của chúng ta.  Tuy nhiên, lòng can đảm nhận ra rằng với Chúa, chúng ta có thể làm bất cứ điều gì.  Không có gì là không thể đối với Chúa, và Thánh Michael đã dứt khoát hạ gục các vật chủ của ma quỷ bằng sức mạnh thần thánh chảy qua người.

Nếu chúng ta muốn đứng vững để vượt qua những cám dỗ hàng ngày, nếu chúng ta muốn chiến thắng sự ích kỷ của mình, nếu chúng ta muốn quyền năng của Thiên Chúa phát triển trong chúng ta ngay cả khi đối mặt với những tình huống vô vọng nhất, thì lòng can đảm khiêm tốn của Thánh Michael đã mang lại cho chúng ta tên và sự bảo trợ, chúng ta nên gọi cho ai.  Khi ai đó yêu cầu tôi một cách đơn giản để họ có thể lớn lên trong sự thánh thiện và hạnh phúc, tôi luôn đề nghị cầu nguyện với Thánh Michael hàng ngày.  Thánh Michael rất mong muốn được đồng hành với chúng ta trong những cuộc đấu tranh hàng ngày, vì vậy chúng ta hãy mạnh dạn cầu xin!

Cha Michael Joseph Hurley, OP

Kinh Cầu Cùng Tổng Lãnh Thiên Thần Micae

 Lạy ơn Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin giúp chúng con trong cơn giao chiến, đánh phá sự hiểm ác mưu sâu quỷ dữ.  Chúng con sấp mình nguyện xin Chúa chế trị nó, cùng xin nguyên soái cơ binh trên trời, lấy quyền phép Chúa mà hạ Satan cùng các quỷ dữ, đang rong ruổi khắp thế giới làm hại các linh hồn, bắt chúng giam cầm trong hỏa ngục. Amen.

ÔNG SCHWEITZER VÀ NGƯỜI NGHÈO

Vào năm 1950, một ủy ban gồm đại diện của 17 quốc gia đã chọn ông Albert Schweitzer là “người của thế kỷ.”  Hai năm sau, 1952, ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình.

Ông Schweitzer được cả thế giới ca tụng là một thiên tài đa dạng.  Ông là một triết gia lỗi lạc, một thần học gia sáng giá, một sử gia đáng kính nể, một nhạc sĩ độc tấu, và là một bác sĩ truyền giáo.

Nhưng điều đáng kể là đức tin Kitô Giáo thật sâu đậm của ông.  Chính đức tin này đã ảnh hưởng đến từng góc cạnh của đời ông.

Khi 21 tuổi, Schweitzer tự nhủ là ông sẽ vui hưởng nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi.  Sau đó ông sẽ dành cuộc đời còn lại để làm việc cho những người nghèo dưới hình thức phục vụ trực tiếp nào đó.  Và vì thế vào ngày sinh nhật thứ 30, ngày 13-10-1905, ông bỏ vào thùng thư ở Ba Lê một vài lá thư.  Đó là thư gửi cho cha mẹ và các bạn thân, ông báo cho họ biết là ông sẽ theo học về y khoa.  Sau đó ông sẽ sang Phi Châu để làm việc cho các người nghèo với công việc của một bác sĩ.

Ngay lập tức các lá thư ấy đã tạo nên một chấn động.  Ông kể lại trong cuốn Out of My Life and Thought:  “Thân nhân và bạn hữu của tôi tất cả đều thành khẩn đưa ra các nhận định của họ về quyết định điên rồ của tôi.  Họ nói, tôi đang chôn vùi các tài năng thiên phú…  Một bà thật hăng say thuyết phục rằng tôi có thể đạt được nhiều kết quả cho việc giúp đỡ người nghèo qua các bài diễn giảng hơn là hành động trực tiếp mà tôi đang ấp ủ.”

Tuy nhiên, ông Schweitzer không thay đổi ý định.

Vào năm 38 tuổi, ông là một bác sĩ đầy đủ bản lĩnh.  Vào năm 43 tuổi, ông sang Phi Châu để mở một bệnh xá ở cạnh bìa rừng mà sau này được gọi là Equatorial Africa.  Ông từ trần ở đây năm 1965 khi được 90 tuổi.

Động lực nào đã khiến ông Schweitzer dám gạt bỏ danh vọng và tiền tài để làm việc cho người nghèo ở Phi Châu?

Ông cho biết, một trong những ảnh hưởng là khi ông suy niệm về đoạn phúc âm mà chúng ta vừa nghe hôm nay về người giầu và ông Lagiarô.  Ông nói:

“Thật không thể hiểu nổi khi tôi tự cho phép mình sống một cuộc đời sung sướng, trong khi quá nhiều người chung quanh tôi đang vật lộn với sự đau khổ.”

Và đó là điều đưa chúng ta đến câu chuyện phúc âm hôm nay.

Tội của người nhà giầu trong bài phúc âm hôm nay không phải là ông đã ra lệnh tống cổ Lagiarô ra khỏi khu vực của ông.  Cũng không phải là người nhà giầu đã đánh đập hay chửi rủa ông Lagiarô mỗi khi đi ngang qua.

Tội của người nhà giầu là ông không bao giờ để ý đến Lagiarô.  Ông coi Lagiarô như một phần đương nhiên của khung cảnh cuộc đời.  Tội của người nhà giầu là ông chấp nhận mà không bao giờ thắc mắc về sự kiện, Lagiarô thì nghèo và chính ông thì giầu.  Tội của người nhà giầu không phải là tội về một hành động, là thi hành một điều gì đó mà lẽ ra không nên làm.  Tội của người nhà giầu là một tội quên sót, đó là, không thi hành điều phải làm.  Tội của người nhà giầu là đắm mình trong của cải mà không động đến ngón tay để giúp ông Lagiarô khi cùng cực.  Tội của người nhà giầu cũng chính là tội đang được tái diễn ngày hôm nay.  Và chính tội này khiến chúng ta phải thực sự lưu tâm đến những gì cần phải thi hành không chỉ cho người nghèo nhưng còn cho xã hội.

Ông John F.Kennedy đã đề cập đến mối ưu tư này khi ông nói, “Nếu một xã hội tự do không thể giúp gì cho người nghèo thì nó cũng không thể cứu được một thiểu số giầu có.”  Nói cách khác, sự thiếu lưu tâm đến người nghèo không chỉ tiêu diệt người nghèo mà còn tiêu diệt luân lý của xã hội chúng ta.

Bài phúc âm hôm nay là một lời mời gọi để thi hành điều mà ông Albert Schweitzer đã làm.

Nó là lời mời để suy tư về câu chuyện của người nhà giầu và ông Lagiarô, và tự vấn lương tâm chúng ta câu hỏi mà chính ông Schweitzer đã thắc mắc: Làm thế nào chúng ta có thể sống sung sướng trong khi có quá nhiều người đau khổ?

Nó là lời mời chúng ta hãy suy tư lời của Tướng Dwight D. Eisenhower:

“Mỗi một khẩu súng được chế tạo, mỗi một tầu chiến được hạ thủy, mỗi một tên lửa được phóng đi, trong một ý nghĩa nào đó chúng là sự trộm cắp của người đói không có gì ăn, của người lạnh không có gì mặc.”

Nó là lời mời chúng ta hãy quý trọng lời của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.

Hãy kết thúc bài giảng bằng những lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong chuyến tông du Hoa Kỳ năm 1979, khi người giảng ở vận động trường Yankee Nữu Ước. Đức Giáo Hoàng nói:

“Chúng ta không thể ngồi đó bất động, vui hưởng sự giầu sang và tự do, nếu ở chỗ nào đó vẫn còn một Lagiarô của thế kỷ 20 đứng trước cửa nhà chúng ta.

“Dưới ánh sáng của bài dụ ngôn của Đức Kitô, giầu sang và tự do có nghĩa một trách nhiệm đặc biệt.  Giầu sang và tự do tạo nên một nhiệm vụ đặc biệt.

“Và vì vậy, nhân danh tình liên đới đã trói buộc chúng ta trong một bản tính nhân loại, tôi muốn nói lên phẩm giá của mỗi một con người.

“Người giầu và Lagiarô đều là con người, cả hai được dựng nên cách bình đẳng trong hình ảnh và giống như Thiên Chúa, cả hai đều được cứu độ bởi Đức Kitô với một giá đắt, là giá máu châu báu của Đức Kitô…

“Người nghèo của Hoa Kỳ và của thế giới là anh chị em của các bạn trong Đức Kitô.  Các bạn không thể lấy làm mãn nguyện khi để họ hưởng các mẩu vụn của bàn tiệc.

“Các bạn phải nhìn đến thực chất của mình chứ không chỉ sự dư dật của các bạn và giúp đỡ họ.  Và các bạn phải đối xử với họ như khách được mời đến dự tiệc trong nhà của mình.”

Lm Mark Link, S.J.

MONG GẶP

“Mẹ và anh em Chúa Giêsu đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được.”

“Địa ngục là lời khen tuyệt vời của Thiên Chúa đối với ‘thực tế tự do’ của con người!”  Có người nói, “Chết tiệt, đó là một lời khen?”  Vâng, bởi lẽ Chúa đang nói, “Bạn thật quan trọng.  Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn.  Chọn từ chối tôi, bạn hãy chọn địa ngục, nếu muốn.  Tôi sẽ để bạn đi!” – G. K. Chesterton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy không chỉ Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người; nhưng chính con người mọi thời luôn ‘mong gặp’ Ngài, Đấng nói, “Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn!”

Trình thuật Maria tìm thăm Chúa Giêsu đều có ở ba Tin Mừng nhất lãm; nhưng chỉ riêng Luca, sự kiện này xảy ra ngay sau dụ ngôn “Chẳng có ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi;” cũng thật khác biệt, chỉ mình Luca không có câu hỏi “Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi?”  Vậy mà thật độc đáo, Luca vẫn có câu trả lời, “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành!”  Cách nào đó, Chúa Giêsu muốn nói, để trở nên ánh sáng chiếu soi trần gian cũng như để trở nên nghĩa thiết với Ngài, người ta phải lắng nghe và sống Lời được gieo.  “Nghe mà không sống chính là che đèn dưới hũ!” – Thomas Merton.

Cần xác tín rằng, đức tin thể hiện bằng tình yêu, tình yêu thể hiện bằng hành động, hành động thể hiện bằng chứng tá.  Trong một thế giới nhá nhem, vắng bóng Thiên Chúa, ước gì qua chúng ta, ai cũng có thể nhận ra ánh sáng và khuôn mặt yêu thương với vẻ đẹp của tình yêu Ngài.  Vẻ đẹp đó còn phản ánh một điều đáng kinh ngạc hơn – rằng, Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người, khao khát trái tim, khối óc và tinh thần của con người; bởi lẽ, Ngài là tác giả và cội nguồn của tình yêu.  Không gì có thể khiến Ngài rút lại tình yêu; Ngài yêu chúng ta, ‘mong gặp’ chúng ta, dù chúng ta thế nào.  “Tình yêu Thiên Chúa không biết mệt mỏi; không gì bạn làm có thể khiến Ngài ngừng khát khao gặp gỡ bạn!” – Brennan Manning.

Anh Chị em,

“Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn!”  Tin Mừng mời gọi chúng ta như những vận động viên chạy về phía ‘Đấng mong gặp bạn’ với đuốc ‘vẫn sáng’ trên tay; mời gọi chúng ta sống Lời Chúa như phương thế tốt nhất phản ánh sự rực rỡ của Ngài; đồng thời, trở nên anh em, chị em và là mẹ của Đấng là Ánh Sáng.  Hãy đến trường học Maria, chuyên dạy kỹ năng nghe và sống Lời Chúa.  “Maria dạy rằng, sự cao cả thật nằm ở tình yêu chăm chú và sự vâng phục thinh lặng!” – Ann Voskamp.  Ước gì chúng ta trở nên thầy dạy đức tin cho con cái và những ai Chúa trao!  Chớ gì những hạt Lời gieo vào lòng bạn và tôi không như hạt hời hợt bên đường, nông cạn trên đá sỏi hay ngột ngạt trong một mảnh đất gai gốc!  Vì nếu như thế, thật tiếc, chúng ta chỉ còn là những cây đèn hết dầu, tim đèn nát mục hoặc vẫn mãi là người dưng với Chúa Giêsu – những kẻ khờ xây nhà trên cát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tình yêu đủ mạnh, vượt qua mọi cản trở, hầu con ‘mong gặp’ Chúa như Chúa ‘mong gặp’ con.  Và con sẽ dẫn người khác đến cuộc hẹn với Ngài!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

THINH LẶNG VÀ CẦU NGUYỆN

Nếu không biết cách cầu nguyện thì bạn sẽ khó mà cầu nguyện được.  Nên cần phải học cho biết cách cầu nguyện.  Trước hết là phải nhờ đến sự thinh lặng.  Chúng ta không thể đặt mình trước sự hiện diện của Chúa nếu chúng ta không tập luyện thinh lặng bên trong cũng như bên ngoài.

Không dễ mà đạt được sự thinh lặng nội tâm, nhưng đây là điều không thể thiếu.  Chỉ trong thinh lặng ta mới tìm được sức mạnh và được thực sự nên một với Chúa: sức mạnh của Chúa cần phải trở thành của ta để ta có thể hoàn thành mọi sự như ý Chúa muốn; cũng thế, mọi tư tưởng, mọi lời cầu nguyện, mọi hành động và toàn thể cuộc sống của ta cần phải được nên một với tư tưởng, lời cầu nguyện, hành động và cuộc sống của chính Chúa.  Sự hiệp nhất này là hoa trái của cầu nguyện, khiêm tốn và tình yêu.

Chúa chỉ có thể ngỏ lời với ta khi trái tim của chúng ta thinh lặng.  Nếu bạn tự đặt mình trước mặt Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Chúa sẽ nói với bạn.  Và khi đó bạn sẽ biết rằng bạn chẳng là gì cả.  Chỉ khi bạn biết mình chỉ là hư vô, là trống rỗng, thì Chúa mới có thể lấp đầy bạn bằng chính Ngài.  Những linh hồn cầu nguyện vĩ đại là những linh hồn biết thường xuyên thinh lặng thẳm sâu.

Sự thinh lặng giúp ta có cái nhìn khác về mọi sự.  Chúng ta cần có sự thinh lặng để có thể thấu hiểu các tâm hồn.  Điều cốt yếu không phải là những lời chúng ta nói, nhưng là những lời Chúa nói – những lời Ngài nói với chúng ta, và những lời Ngài nói qua chúng ta.  Trong sự thinh lặng như thế, Ngài lắng nghe chúng ta; trong sự thinh lặng như thế, Ngài nói với linh hồn ta, và chúng ta nghe được tiếng Ngài.

Hãy lắng nghe trong thinh lặng.  Khi trái tim bạn bị ngập tràn trong hàng triệu nỗi niềm, bạn không thể nghe được tiếng Chúa trong tim bạn.  Nhưng từ lúc bạn đặt mình lắng nghe được giọng nói của Chúa trong con tim bình an, con tim của bạn sẽ tràn ngập Thiên Chúa.  Điều này đòi hỏi nhiều hi sinh.  Nếu bạn đã nghĩ đến và muốn cầu nguyện, bạn phải sẵn sàng, không trì hoãn.  Ngay từ đầu, nếu bạn không quyết tâm, bạn sẽ không đạt đến tột đỉnh của sự cầu nguyện là chính sự hiện diện của Chúa.

Vì thế ngay từ đầu phải tập luyện cầu nguyện cách hoàn hảo: Phải đặt mình lắng nghe tiếng Chúa trong con tim; và trong sự tĩnh lặng của trái tim chúng ta, Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta.  Rồi khi con tim ta đã đạt được sự tròn đầy như thế, miệng lưỡi ta sẽ thốt ra những điều cần phải nói với Chúa.  Sự nối kết sẽ vận hành như thế.  Trong thinh lặng của con tim chúng ta, Thiên Chúa nói, và chúng ta chỉ lắng nghe Ngài nói thôi.  Khi trái tim bạn đã đạt được sự tròn đầy vào lúc nó thấy mình được tràn đầy Thiên Chúa, tràn đầy tình yêu, tràn đầy lòng thương xót, tràn đầy niềm tin, nó sẽ thúc đẩy môi miệng bạn lên tiếng nói với Chúa.

Hãy nhớ rằng, trước khi nói, bạn cần phải lắng nghe; và chỉ khi đó, từ tận đáy sâu của một con tim đang triển nở, chúng ta có thể nói với Chúa và Thiên Chúa lắng nghe chúng ta.

Những nhà chiêm niệm, những bậc tu hành của mọi thời đại, mọi tôn giáo, luôn tìm kiếm Thiên Chúa trong thinh lặng, trong sa mạc tịch liêu, trong rừng vắng, trên núi cao…  Chính Chúa Giêsu cũng đã sống 40 ngày trong tịch liêu trọn vẹn, dành những khoảng thời gian dài, lòng bên lòng với Chúa Cha, trong thinh lặng của đêm đen.

Chúng ta cũng được mời gọi dành riêng ra những khoảng thời gian đặc biệt để đi vào thinh lặng thẳm sâu trong cô tịch với Thiên Chúa.  Một mình với Chúa, không sách vở, dẹp qua mọi tư tưởng, mọi kỷ niệm, hoàn toàn trống rỗng để ở trong sự hiện diện của Chúa – chờ đợi Chúa trong thinh lặng, trống rỗng và bất động.

Chúng ta không thể tìm thấy Chúa trong ồn ào, náo động.  Hãy ngắm nhìn thiên nhiên: cây cối, hoa cỏ, những cánh đồng lớn lên trong tĩnh lặng; tinh tú, mặt trăng, mặt trời chuyển động trong tĩnh lặng.  Điều cốt yếu không phải là những gì chúng ta có thể nói, nhưng là những điều Thiên Chúa nói với chúng ta, những điều Thiên Chúa nói với người khác thông qua chúng ta.  Trong thinh lặng, chúng ta lắng nghe.  Trong thinh lặng, Chúa nói với linh hồn chúng ta.  Chúa ban cho chúng ta đặc quyền nghe được giọng nói của Ngài trong thinh lặng:

thinh lặng của con mắt,
thinh lặng của lỗ tai,
thinh lặng của môi miệng,
thinh lặng của tinh thần.
Trong thinh lặng của con tim chúng ta, Thiên Chúa lên tiếng nói.

Chúng ta cần có sự tĩnh lặng trong trái tim để có thể nghe được tiếng Chúa ở khắp mọi nơi: tiếng Chúa nơi cánh cửa khép lại, tiếng Chúa nơi những người đang yêu cầu chúng ta, tiếng Chúa nơi chim chóc, cây cối, muông thú…

Nếu chúng ta biết lắng nghe trong thinh lặng, chúng ta sẽ cầu nguyện cách dễ dàng.  Càng ngày càng có nhiều những điều bép xép, lải nhải, kể lể được nói ra, viết ra.  Đời cầu nguyện của chúng ta sẽ bị tổn thương mỗi ngày một nhiều hơn khi trái tim của chúng ta không có được sự thinh lặng.

Tôi cẩn thận gìn giữ sự thinh lặng trong tim tôi để từ trái tim thinh lặng, tôi nghe được những lời an ủi của Chúa.  Và trong sự tròn đầy của con tim, đến lượt tôi, tôi an ủi Chúa nơi những người nghèo khổ.

Vi Hữu
Chuyển ngữ từ: Il n’y a pas de plus grand amour (p. 22-25)
Nguồn: tgpsaigon.net

CHÚA GIÊSU DẠY TA CÁCH TIÊU TIỀN

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cập đến một thứ rất quen thuộc và được sử dụng hằng ngày trong cuộc sống đó là “tiền.”  Kết quả của việc làm, tương quan đổi chác là “tiền.”  Chẳng ai muốn nói tới tiền, vì đó là một chủ đề cấm kỵ.  Tiền vừa là thứ được yêu thích, và cũng là thứ gây mặc cảm.  Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta cách sử dụng đồng tiền khi kiếm được.

Tiền chỉ là một mảnh giấy, một vật làm bằng kim loại vô tri vô giác, nhưng nó đã được chọn làm tương giao đổi chác, chi phối chúng ta quá nhiều.  Tiền giữ một vị trí quan trọng, khiến nhiều bậc thang có giá trị bị đảo lộn.

Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây ra tội lỗi, nhưng thánh Phaolô nhấn mạnh rằng: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham thích tiền bạc” (1Tm 6,10).  Vì ham thích tiền mà một số người từ bỏ đức tin.  Lòng tham lam và thái độ tôn thờ tiền bạc khiến người ta trở thành kẻ bất lương.   Bất lương đưa đẩy người ta đến hành động bất chấp và bất chính, khiến anh em gia đình bất hòa, làm xã hội bất công.  Hậu quả là, mọi người chịu cảnh sống bất an, bất mãn, bất bình và bất hạnh, rồi nhanh bị… bất tỉnh!

Bài đọc trích sách tiên tri Amos cho thấy vì tiền mà người ta bất chấp tốt xấu.   Người ta sẵn sàng làm ăn bất chính lừa gạt mua thừa bán thiếu, coi thường giá trị con người, hạ xuống chỉ như món hàng, sánh bằng đôi giầy đôi dép, thậm chí có người còn coi tiền hơn cả những giá trị tôn giáo cao quí nên họ chỉ mong cho ngày lễ mau qua để còn kiếm tiền (x. Am 8, 4-7).

Bài Phúc Âm cho thấy vì tiền mà viên quản lý được chủ tín nhiệm đã trở thành kẻ bất lương, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, bất chấp sự thật, gian giảo đổi trắng thành đen, viết sai văn tự, miễn là có lợi cho mình. Đến ông chủ cũng phải thốt lên tay này thật khôn ngoan quỷ quyệt!

Cách sử dụng của cải gian dối

Chúa Giêsu đưa ra ví dụ này chắc chắn không phải để khuyến khích sự xảo quyệt hay bất lương, không cần sống trung thực.  Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta: Hãy khôn ngoan và trung thực, biết chọn điều tốt và không xấu.  Chúa muốn mời gọi chúng ta hãy sống khôn khéo!  Với trí thông minh và sự khôn khéo giúp chúng ta chiếm hữu được nước trời bằng những đồng tiền gian dối.

Anh quản lý có phần thông minh nhưng lại bất lương, anh bị tố cáo là đã phung phí tài sản của chủ, và sắp bị sa thải.  Ðối mặt với một tình cảnh bị đuổi việc, ý thức mình không thể làm được các việc khác, về nhà “cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi” anh tìm ra một lối thoát.  Với sự khôn ngoan nhưng xảo quyệt, anh quyết định lấy cắp lần cuối.  Anh đã làm gì?  Anh gọi các con nợ của chủ lại và giảm các khoản nợ mà họ đã nợ ông chủ trước đó.  Chính điều này giúp anh biến họ thành bạn bè và vì thế mà được đền ơn.  Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” (Lc 16,9).

Có người hỏi, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy dùng tiền của mà mua lấy bạn bè” có nghĩa là gì, và việc sử dụng của cải mà Chúa Giêsu đã nói liên quan gì đến “đời sống vĩnh cửu”?  Thưa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta kết bạn bằng tiền của.  Chúa chỉ cho chúng ta biết dùng tiền của để thương giúp tha nhân vì con người thì quí hơn mọi thứ mà chúng ta có thể chiếm hữu, dùng tiền mà mua lấy bạn hữu để chính họ sẽ đền ơn mà mời đón chúng ta vào nước trời, dùng tiền của sang giàu mà xây dựng tình huynh đệ và đoàn kết, thì sẽ không chỉ chiếm hữu được Thiên Chúa mà còn nối kết được với tha nhân trong tình sẻ chia những gì Chúa đặt để trong tay chúng ta.

Câu hỏi tự vấn lương tâm của viên quản lý bất lương “Mình phải làm gì đây?” (Lc 16, 3) khiến chúng ta suy nghĩ.  Ðối diện với những thiết sót, sai lầm và thất bại của chúng ta, Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta luôn có thời gian và cơ hội để sửa điều ác bằng cách làm điều thiện.  Ai đã từng làm cho người khác phải đau khổ, hãy làm cho ai đó hạnh phúc.  Ai đã từng chiếm đoạt hoặc tham ô, hãy giúp đỡ người thiếu thốn.  Làm như vậy, chúng ta sẽ được Chúa ca ngợi, bởi vì chúng ta đã hành động khôn khéo, nghĩa là với sự khôn ngoan của người nhận biết mình là con cái Thiên Chúa và dám đánh liều đời mình vì Nước Trời.

Vì thế, chúng ta hãy xin Ðức Trinh Nữ rất thánh cho chúng ta biết trở nên khôn ngoan lựa chọn những bảo đảm của sự sống đời đời, chứ không phải thành công thế trần; để đến ngày phán xét chung cục, những người đã từng cần đến sự giúp đỡ của chúng ta chứng thực rằng chúng ta đã chiêm ngưỡng và phục vụ Thiên Chúa.  Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU THỜI GIAN

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện.  Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không?”  Vị mục sư già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ.  Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha.  Nó không còn sức lực… Giờ cha vật lộn với Chúa.” “Với Chúa!” Kazantzakis kinh ngạc kêu lên.  “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?”  “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta.”

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời.  Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già.  Sự chín chắn luôn luôn tiến triển. Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau.  Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.

Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồ cốt yếu.”  Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta.

Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình.  Trong thời gian này, chúng ta gắng gỗ gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình.  Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu.  Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai?  Tôi sẽ làm gì với đời mình?  Ai thương yêu tôi?  Ai sẽ kết hôn với tôi?  Tôi nên sống ở đâu?  Tôi nên làm gì?  Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối.  Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi.  Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta.  Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.  Đây là những năm tháng sinh sôi và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu.  Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn?  Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín?  Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình?  Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ.  Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn.  Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình.  Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm?  Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác?  Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THƯƠNG XÓT VÀ NIỀM VUI

Đề tài lòng thương xót của Thiên Chúa rất phong phú, dễ đánh động con tim và tâm tình đạo đức của người tín hữu.  Vì thế mà từ khi Thánh Gioan Phaolô II khởi xướng và cổ võ hình thức cầu nguyện kính Lòng Chúa thương xót, trong Giáo Hội đã có biết bao người tham gia cầu nguyện và thực tế họ đã nhận được rất nhiều ơn lành.

Tuy vậy, trong quan niệm của nhiều người, cầu nguyện tôn vinh lòng thương xót Chúa đi liền với xin ơn chữa lành, cho nên người ta đến cầu nguyện chỉ với mục đích được chữa khỏi bệnh tật, nhất là những bệnh nan y.  Có người đã mất đức tin và bỏ cầu nguyện vì họ xin ơn chữa lành mà không được nhận lời.  Thực ra, việc tôn kính lòng thương xót của Thiên Chúa không dừng lại ở những lời kinh, mà phải giúp cho con người thương xót tha nhân, tức là thực thi lòng thương xót trong cuộc sống hằng ngày.  Nhận ra lòng thương xót của Chúa, mỗi chúng ta cũng phải có trái tim nhân hậu đối với đồng loại, để lòng thương xót như một dòng chảy yêu thương, đem an vui cho mọi người.

Thánh Luca đã tổng hợp ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa ở chương 15.  Mỗi dụ ngôn mang một sắc thái khác nhau, nhưng cả ba đều mang nội dung nói về tình thương bao la của Chúa.  Trong ba dụ ngôn này, dưới ngòi bút của tác giả, Thiên Chúa rộng rãi bao dung đến mức “phung phí” lòng thương xót.  Quả vậy, một con chiên lạc so với 99 con còn lại, một đồng bạc bị mất so với 9 đồng bạc vẫn còn thật chẳng đáng là bao, nhưng Chúa vẫn để ý tới và tìm cho bằng được.  Khác với lối suy nghĩ của chúng ta.  Nhiều khi chúng ta sẵn sàng bỏ đi những điều nhỏ mọn, nhưng Chúa lại quan tâm đến từng chi tiết.

Việc tìm thấy một con chiên hoặc một đồng bạc, xem ra đơn giản, mà lại là niềm vui lớn lao của người sở hữu chúng.  Đó không chỉ là niềm vui của cá nhân, nhưng là niềm vui của cả một tập thể.  Đó không chỉ là niềm vui dưới đất, nhưng là niềm vui trên trời.  Chúa Giêsu đã nói rõ, một người trở về không chỉ là niềm vui của con người, nhưng là niềm vui của Thiên Chúa và triều thần thánh trên trời.  Niềm vui ấy thật lớn lao, làm cho người mục tử quên hết mọi mệt nhọc trong việc tìm kiếm.  Cả ba trường hợp, người mục tử, người phụ nữ và người cha, đều mời hàng xóm láng giềng đến để chia vui.  Người cha trong dụ ngôn còn thết đãi cả làng với thịt con bê mà ông đã chăm sóc vỗ béo.  Ông tin chắc có ngày cậu con trai hoang đàng sẽ trở về.  Vì vậy, ông chuẩn bị sẵn nhẫn, giày, quần áo và những gì cần thiết cho một bữa tiệc.  Những đồ trang sức này thường được dùng cho một tiệc cưới.  Ngày cậu con trai trở về, cũng là một tiệc cưới, là niềm vui không chỉ cho người cha mà cho cả xóm làng.  Niềm vui được nhân lên khi được chia sẻ với người khác.

Tuy vậy, niềm vui ấy xem ra không được trọn vẹn, vì theo thói đời, vẫn luôn có những ghen tỵ thù ghét.  Đó là tâm trạng của người anh cả.  Anh nổi giận vì sự trở về của người em.  Có thể anh sợ người em sẽ chiếm gia tài.  Lòng thù hận và tư lợi ngăn cản không cho người khác phục thiện.  Con đường trở về, vừa phải gạt bỏ những mặc cảm thành kiến, vừa phải đối diện với những thù hận của chính những người thân.  Lộ trình phục thiện xem ra đơn giản mà cũng lắm gian truân.  Có những người vì lỡ lầm mà sa vào cảnh tù tội, sau khi mãn hạn tù, trở về quê hương muốn sống như một người bình thường cũng không được yên, vì con mắt dò xét và thành kiến của những người xung quanh.  Những ngôn từ của người anh cả trong Tin Mừng cho thấy anh đã nung nấu mối hận thù.  Anh không còn coi em mình là huyết nhục, mà như người dưng, thậm chí như kẻ thù.  Vì thế, việc người em trở về làm cho anh thấy khó chịu.

Thiên Chúa là Cha của người tốt cũng như của người xấu.  Ngài xót thương và không giáng phạt dân Do Thái phản nghịch (Bài đọc I).  Vòng tay của Ngài vừa giang rộng đón người con thứ, vừa choàng lên vai của người con cả để anh cảm nhận được lòng xót thương.  Ngài không muốn loại trừ ai, bất kể người đó như thế nào.  Nước mắt của người cha nhỏ xuống khi người con thứ ra đi.  Dòng lệ ấy cũng tuôn chảy khi người con cả bất bao dung với em mình.  Trước khi trở lại, Phaolô là người hăng say tìm giết các Kitô hữu.  Cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu trên đường đi Damas đã biến đổi cuộc đời của ông Phaolô là chứng nhân của lòng Chúa thương xót (Bài đọc II).  Ước chi mỗi chúng ta cũng hãy trở nên chứng nhân của lòng Chúa thương xót, để rồi, “nơi đâu có cộng đoàn tín hữu, là ở nơi đó có thành trì của lòng xót thương” (Đức Thánh Cha Phanxicô).

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THẬP GIÁ TRONG ĐỜI

Ở đời người ta vẫn thường nói: Tu là cõi phúc – tình là giây oan.  Thực ra, cuộc đời nào cũng có thập giá.  Thập giá như là lẽ sống của cuộc đời.  Có thập giá thoáng qua và cũng có những thập giá liên lỉ dài lâu.  Có thập giá nhẹ nhàng mà mình tự nguyện vác lấy nhưng cũng có thập giá nặng nề mà mình phải gánh giùm tha nhân.  Có thập giá khiến ta mệt mỏi nhưng cũng có thập giá khiến ta vui mừng.

Xem ra thập giá là tất yếu trong cuộc sống.  Con người không thể trốn chạy thập giá.  Và dường như chúng ta vẫn khuyên bảo nhau hãy can đảm đón nhận vì là ý Chúa, vì là điều tốt cho mình và cho tha nhân.

Tôi đã nghe người ta an ủi một người mẹ có đứa con duy nhất đang bị ung thư, với lời lẽ hết sức phó thác: “Thiên Chúa yêu thương chị lắm cho nên Ngài mới gởi Thánh Gía để thử thách chị đấy!”

Hoặc gặp một người bạn đang bị thất nghiệp, nợ nần chồng chất, vợ bệnh, con đau.  Chúng ta thường khích lệ họ: “Người càng giỏi thì Chúa lại càng gởi khó khăn để mình vượt qua.  Thế nên đừng sợ!”

Khuyên người thì dễ nhưng bản thân khi phải đối diện với thập giá lại không dễ dàng.  Vì thập giá là đau thương, là tủi hận, nên đâu dễ đón nhận.  Đón nhận thập giá là chấp nhận từ khước sự an nhàn, hạnh phúc cho bản thân để sống cho Chúa và đồng loại.  Đón nhận thập giá là đón nhận sự ô nhục, và khinh khi của đồng loại.

Có lẽ chúng ta vẫn nhớ hình ảnh Thầy Chúa Giêsu vác thập giá lên đỉnh đồi Calve và chấp nhận chết treo trên cây thập giá.  Quả thật Thập giá là “một ô nhục đối với người Do thái và; là điều điên rồ đối với dân ngoại giáo” (1Cr 1,23).

Thế mà Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta vác lấy cái ô nhục đó!  Vì đối với Thiên Chúa đó là dấu chỉ của sự chiến thắng “vì qua đau khổ mới tiến tới vinh quang.”  Và thập giá đối với Chúa còn có giá trị cứu độ vì “khi nào Ta bị giương cao lên, Ta sẽ kéo mọi người lên.”

Có lẽ chúng ta cũng thắc mắc: “Thiên Chúa gửi thập giá hay thử thách đến cho tôi để làm gì vậy?”  Điều này chúng ta cũng phải hỏi: “Tại sao người ta cứ phải trải qua những kỳ thi, những cuộc trắc nghiệm, khảo hạch,… rồi mới lãnh được bằng tốt nghiệp trung học, đại học, mới được công nhận là bác sĩ, giáo sư, luật sư?”

Như vậy, thập giá là nhịp cầu để cho ta tiến lên và chắc chắn sẽ trưởng thành hơn khi vượt qua thập giá.  Hơn nữa, thập giá còn cho ta được thông phần vào sự thương khó của Chúa để cứu độ bản thân và anh em.  Khi chúng ta đón nhận thập giá trong đời là dịp để chúng ta dâng đau khổ hầu xin Chúa tha thứ những hình phạt cho bản thân chúng ta.  Và dâng hy sinh đau khổ để xin Chúa nguôi cơn thịnh nộ giáng xuống địa cầu vì tội lỗi nhân loại.  Như vậy, chúng ta đón nhận thập giá là vì Chúa và vì nhân loại.  Và phải có cái nhìn như vậy chúng ta mới có thể vui vẻ lạc quan ngay cả khi khốn khó tư bề.

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta yêu mến người bên cạnh, người đồng hành luôn gây gỗ với chúng ta, có khi còn luôn thù ghét chúng ta?

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta hy sinh chu toàn bổn phận hằng ngày để đem lại hạnh phúc cho gia đình?

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta có thể đón nhận biết bao nghịch cảnh trái ngang đến với chúng ta như: bệnh tật, hiểu lầm, già yếu, ganh ghét, chê bai.

Mỗi người đều có thánh giá phải mang.  Nhưng Chúa sẽ không bao giờ trao thánh giá vượt khả năng của chúng ta.  Thế nên, chúng ta hãy tin tưởng đón nhận mọi khó khăn vì Chúa, nhất là hãy biết cậy dựa vào ơn Chúa để vượt qua.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn tìm ra ý Chúa trong cuộc sống và đón nhận theo thánh ý cho dù có vì đó mà phải vác thập giá hằng ngày theo chân Chúa.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

KHÔNG THỂ CHÌM

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.”

“Hãy xin Chúa đặt chúng ta trên đôi vai Ngài, bạn và tôi bám chặt chúng; và sau đó, xem Ngài giữ chúng ta nổi – ngay khi chúng ta nghĩ mình sắp chìm!” – Charlie Riggs.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhờ việc bám chặt đôi vai của Chúa Cha, cuộc sống của Chúa Giêsu dường như đã ‘không thể chìm!’  Tin Mừng hôm nay cho biết, trước khi chọn các tông đồ, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, Ngài “đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.”

Những lời giới thiệu như thế có thể không được chú ý trong việc đọc Tin Mừng hàng ngày của chúng ta; trong khi trên thực tế, chúng có một tầm quan trọng khôn lường!  Cuộc sống của Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện liên lỉ, tín thác tuyệt đối vào Chúa Cha và nhờ đó, luôn được hỗ trợ bởi Chúa Thánh Thần.  Bởi thế, Ngài đủ sức mạnh và ánh sáng cần thiết để tiếp tục thực hiện điều Chúa Cha muốn.  “Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, giữ cho nó sống khi mọi sự khác có thể nhấn chìm nó!” – Oswald Chambers.

Mặc dù đã dành suốt đêm để cầu nguyện với Cha trước khi chọn nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu vẫn bị phản bội.  Dâng quyết định của mình lên Thiên Chúa không có nghĩa là mọi việc sau đó sẽ xuyên suốt.  Tuy nhiên, khi mở lòng với Chúa trong cầu nguyện, chúng ta để Ngài trở thành trung tâm mọi quyết định và là trung tâm của tất cả những gì xảy ra kế tiếp – phản bội hay bất cứ gì – thì như Chúa Giêsu, chúng ta vẫn không bao giờ nao núng.  “Cầu nguyện không bảo đảm sự dễ dàng, nhưng bảo đảm rằng bạn sẽ không thể chìm!” – Charles Spurgeon.

Bên cạnh đó, một yếu tố cực kỳ quan trọng khác là – đừng bao giờ quên – điều nâng đỡ chúng ta nhất chính là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dành cho mỗi người.  Ngài xướng cả tên lẫn họ của từng người trước Chúa Cha, Ngài tỏ cho Chúa Cha thấy những thương tích của mỗi người là giá cứu rỗi Ngài sẽ trả.  “Niềm an ủi lớn nhất là biết rằng tên của bạn được mang trong lời cầu nguyện của ai đó!” – Richard J. Foster.  Thư Côlôssê hôm nay viết, “Anh em đã nhận Đức Kitô Giêsu làm Chúa, thì hãy tiếp tục sống kết hợp với Người!”  “Sống kết hợp với Người” là cầu nguyện và tạ ơn liên lỉ.  “Con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời,” vì “Chúa tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện.”  Ước gì, như Chúa Giêsu, cuộc sống của chúng ta luôn đắm mình trong cầu nguyện và được lời cầu nguyện dẫn dắt trong mọi sự; nhất là trước các quyết định quan trọng, khi phải ‘ra những vùng nước sâu’ mà bạn và tôi biết chắc, không có Chúa, chúng ta nhất định sẽ chìm.  Chính trong cầu nguyện, chúng ta mới có đủ sức mạnh và ánh sáng cần thiết để tiếp tục thực hiện điều Chúa muốn – cả khi ở giữa giông bão của phản bội và gian truân.  “Khi cầu nguyện, Thiên Chúa ban ánh sáng cho bước kế tiếp, chứ không phải cho cả con đường!” – Elisabeth Elliot.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con mỏi gối chồn chân và chao đảo vì những nghịch cảnh, cho con biết giữ chặt ‘đôi vai’ Chúa, để con ‘không thể chìm!’” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TIẾNG GÕ NHẸ CỦA THIÊN CHÚA TRONG TÂM HỒN CHÚNG TA

Sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn mỗi người và giữa thế giới này hiếm khi xuất hiện một cách kịch tính, choáng ngợp, hay gây chấn động đến mức không thể phớt lờ.  Thiên Chúa không hành động theo cách đó.  Thay vào đó, Ngài hiện diện một cách âm thầm, khiêm hạ, tưởng chừng bất lực nơi sâu thẳm lòng người.  Một sự hiện diện không ồn ào, không gây náo động.

Ta có thể nhận ra điều ấy ngay từ cách Con Thiên Chúa giáng sinh vào trần gian.  Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu sinh ra không kèn trống, không quyền thế – chỉ là một hài nhi bé nhỏ, nằm bất lực trên rơm cỏ, như muôn vàn trẻ thơ khác.  Không có điều gì lạ lùng hay ngoạn mục theo con mắt nhân loại.  Trong suốt sứ vụ công khai, Chúa Giêsu cũng không dùng phép lạ để chứng minh thần tính, mà chỉ như những hành động đầy lòng thương xót và để mạc khải tình yêu Thiên Chúa.  Ngài không tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà là để dạy chúng ta biết Thiên Chúa là ai, và yêu thương chúng ta thế nào – một tình yêu vô điều kiện.

Về cốt lõi, giáo huấn của Đức Giêsu về sự hiện diện của Thiên Chúa cho thấy: đó là một sự hiện diện âm thầm, ẩn giấu bên dưới bề mặt cuộc sống – như hạt giống âm thầm lớn lên khi người ta ngủ say, như men đang làm dậy bột trong âm thầm, như mùa xuân dần dần làm xanh một thân cây khô cằn, như hạt cải nhỏ bé bất ngờ vươn mình lớn mạnh, như người biết tha thứ cho kẻ thù của mình.  Thiên Chúa hành động trong âm thầm và nhẹ nhàng – một cách dễ dàng bị bỏ qua nếu ta không tỉnh thức.  Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải không phải là một Đấng thích gây ấn tượng hay ồn ào.

Và điều này dạy chúng ta một bài học rất quan trọng: Thiên Chúa hiện diện trong lòng ta – rất sâu, nhưng lại rất nhẹ, đôi khi khó cảm nhận, và dễ dàng bị lãng quên.  Tuy nhiên, dù không bao giờ áp đảo, sự hiện diện ấy vẫn mang một sức hút âm thầm nhưng mãnh liệt – như một tiếng gọi không ngừng nghỉ, mời ta hướng về Ngài.  Và nếu ta đáp lại, sự sống thiêng liêng sẽ tuôn trào – hướng dẫn, nuôi dưỡng và ban tràn đầy sức sống và năng lượng.

Điều này rất quan trọng để hiểu cách Chúa hiện diện trong chúng ta.  Sự hiện diện như một lời mời gọi luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta.  Thiên Chúa không áp đặt.  Ngài không rút lui, nhưng cũng không xâm lấn.  Ngài hiện diện nơi tâm hồn, như một hài nhi nằm bất lực trong máng cỏ – dịu dàng mời gọi ta bồng ẵm, nhưng hoàn toàn không cưỡng ép.

Tác giả C.S. Lewis từng kể về cuộc trở lại Kitô giáo của ông – rằng ông là “người trở lại không mong muốn nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Lewis vốn không mặn mà về mặt tình cảm và trí tuệ với đức tin, nhưng ông không thể tiếp tục phớt lờ một tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng dai dẳng bên trong mình.  Vì nó tôn trọng tự do, nên ông có thể bỏ qua nó trong một thời gian dài.  Nhưng điều đó không đồng nghĩa là tiếng gọi ấy biến mất.

Về sau, ông nhận ra tiếng nói ấy luôn ở đó – như một cú thúc nhẹ không ngừng, một lệnh truyền đầy yêu thương, một “sự thôi thúc” mà nếu nghe theo, sẽ dẫn đến sự giải thoát đích thực.

Ruth Burrows – một nữ tu dòng Cát Minh và cũng là một nhà huyền nhiệm người Anh – đã mô tả một trải nghiệm tương tự.  Trong cuốn hồi ký “Trước Nhan Thiên Chúa Hằng Sống,” bà kể về những năm tháng tuổi trẻ ít quan tâm đến tôn giáo.  Vậy mà cuối cùng bà không chỉ nghiêm túc với tôn giáo mà còn trở thành một nữ tu dòng Cát Minh và một nhà văn tâm linh tài năng.  Chuyện gì đã xảy ra?

Bị kích động bởi một loạt tình huống ngẫu nhiên, một ngày nọ, bà thấy mình đang ở trong một nhà nguyện, nơi mà, gần như trái với ý muốn của mình, bà đã để mình mở lòng đón nhận một tiếng nói bên trong mà cho đến lúc đó bà chủ yếu phớt lờ, chính xác là vì nó chưa bao giờ xâm phạm đến tự do của bà.  Nhưng một khi được chạm đến, nó trào dâng như điều sâu sắc và chân thực nhất bên trong bà và định hướng cuộc đời bà mãi mãi.

Giống như C.S. Lewis, một khi để cho tiếng gọi ấy vang lên trong lòng, bà cảm nghiệm nó như một mệnh lệnh nội tâm không thể lay chuyển – dẫn bà đến với sự tự do đích thực.

Tôi cũng đã từng trải nghiệm điều đó.  Năm mười bảy tuổi, khi tốt nghiệp trung học, tôi chẳng có chút ước muốn tự nhiên nào để trở thành linh mục Công giáo.  Thế nhưng, giữa sự kháng cự mạnh mẽ về mặt cảm xúc, tôi vẫn cảm thấy một tiếng gọi bước vào đời sống tu trì.  Dù trong lòng còn chống đối, tôi đã vâng theo tiếng gọi ấy – một sự thôi thúc sâu thẳm.  Giờ đây, sau sáu mươi năm, tôi nhìn lại quyết định ấy như là một trong những quyết định sáng suốt, vô vị kỷ, đầy đức tin và đem lại sự sống phong phú nhất mà tôi từng chọn.  Tôi hoàn toàn có thể đã phớt lờ tiếng gọi ấy – và tôi mãi mãi biết ơn vì đã không làm vậy.

Fredrick Buechner từng viết rằng: Thiên Chúa hiện diện trong ta như một dòng ân sủng tiềm ẩn.  Ân sủng ấy không phải như dàn kèn đồng chói lòa vang lên báo hiệu; nhưng nó đến, chạm vào và đánh động – nhẹ nhàng đến mức ta có thể chẳng nhận ra, hoặc lựa chọn quay lưng lại với nó.

Thiên Chúa không bao giờ tìm cách áp đảo chúng ta.  Hơn ai hết, Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta.  Ngài hiện diện khắp nơi – trong ta và quanh ta – âm thầm, nhẹ nhàng, dễ bị quên lãng: như một tiếng gõ nhỏ, một cú chạm nhẹ.  Nhưng nếu ta mở lòng ra, đó sẽ là dòng chảy không ngừng của tình yêu và sự sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI