MẸ SẦU BI, NGƯỜI MẸ CỦA NIỀM HY VỌNG

Hôm nay, Giáo hội long trọng cử hành Lễ Đức Mẹ Sầu Bi, đưa chúng ta trở về khoảnh khắc linh thánh và đau thương nhất lịch sử nhân loại: đứng dưới chân Thập Giá Chúa Giê-su.  Các bài đọc trong ngày lễ hôm nay không dừng lại ở một bức tranh bi ai của tình mẫu tử tan nát, nhưng mở ra một chiều sâu thần học tuyệt mỹ về mầu nhiệm cứu chuộc.  Thư gửi tín hữu Do-thái khẳng định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời” (Dt 5, 8-9).  Sự vâng phục ấy tìm thấy tiếng xin vâng đồng điệu tuyệt hảo nơi trái tim người Mẹ.  Thánh Vịnh 30 vang lên như lời cầu cứu thẳm sâu: “Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài… Vận mạng con ở trong tay Ngài” (Tv 30, 2.16), phản ánh trọn vẹn tâm tình phó thác của cả Chúa Giê-su lẫn Đức Mẹ trong giờ phút tử nạn.

Đỉnh điểm của mầu nhiệm này được khắc họa qua đoạn Tin Mừng Gio-an (Ga 19, 25-27), nơi Đức Giê-su từ đỉnh cao Thập Giá đã trao ban sứ mạng làm Mẹ nhân loại: “Thưa Bà, này là Con Bà… Này là Mẹ con.”  Giữa lúc nhân loại chìm đắm trong bóng tối của tội ác và sự chết, Chúa Giê-su không để Mẹ Người trong sự cô độc tột cùng, nhưng thiết lập một dây liên huyết thống thiêng liêng hoàn toàn mới.  Tiếng gạt bỏ quan hệ ruột thịt trần thế để xưng hô là “Thưa Bà” gợi nhắc đến người “Nữ Tướng” đầu tiên trong Sách Sáng Thế (St 3, 15) và tiếng “Bà” tại Ca-na (Ga 2, 4), đánh dấu giờ khắc hoàn tất công trình cứu chuộc.  Việc trao phó Mẹ Ma-ri-a cho “môn đệ Chúa yêu” chính là lúc Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn và trái tim tan nát của Đấng Cứu Thế.

Hôm nay, trong bầu khí linh thánh của Lễ Đức Mẹ Sầu Bi, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm một trong những tuyệt tác của văn chương phụng vụ và thần học Ki-tô giáo: Bài ca tiếp liên Stabat Mater vang lên trước Tin Mừng, khúc ca này không chỉ diễn tả nỗi đau xé lòng của một người Mẹ dưới chân Thập Giá, mà còn là bản tuyên ngôn thần học sâu sắc về mầu nhiệm hiệp thông cứu chuộc, nơi nhân loại tìm thấy dung mạo xót thương của Thiên Chúa giữa đỉnh cao đau khổ.

Khởi đầu bài ca là khung cảnh tĩnh lặng nhưng nghẹn ngào: “Mẹ sầu bi tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây Thập giá, nơi Con Người đã bị treo lên” (st. 1).  Trong khi các môn đệ hoảng sợ tản mác, Mẹ Ma-ri-a vẫn hiên ngang đứng bên cây Thập giá.  Tư thế ấy không phải là sự chai đá vô cảm, mà là biểu tượng của một đức tin kiên vững tột độ, một sự hiệp thông triệt để với hy tế của Đức Ki-tô.  Khung cảnh ấy hiện thực hóa lời tiên tri của cụ già Si-mê-on năm xưa: “Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2, 35), được phơi bày qua những vần thơ đầy thổn thức: “Một lưỡi gươm nhọn đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang sầu khổ và đau đớn” (St 2).

Khi đọc mạch văn trên, Thánh Bê-na-đô (Bernard of Clairvaux) từng giảng rằng, tình yêu mãnh liệt đã kéo Mẹ lại gần Thập Giá, nơi Mẹ chịu một cuộc tử đạo nội tâm còn đau đớn hơn cả gươm giáo thể lý.  Công đồng Vatican II, trong Hiến chế Lumen Gentium (số 58), khẳng định Mẹ đã kiên vững bước qua cơn thử thách, hiệp thông sâu xa với cuộc khổ nạn của Con và kết hợp với hy tế của Người bằng một tâm hồn mẫu tử hiến tế. 

Điểm đặc biệt của Bài ca tiếp liên là từ khúc thứ 9 trở đi, tâm tình của bài thơ chuyển hóa từ việc ngắm nhìn sang việc cầu xin, biến lời ca thành một bản kinh nguyện cá vị cho mỗi tín hữu: “Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của đau thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ” (st. 9).  Tác giả linh mục Jacopo da Todi (hoặc truyền thống gán cho ngài) không xin cho mình được miễn trừ khỏi khổ đau, nhưng nài xin được mang lấy những vết thương của Đấng chịu đóng đinh: “Xin cho con được mang sự chết của Đức Ki-tô, được cùng Người thông phần đau khổ, và tôn thờ những thương tích của Người” (St 16).

Giữa một thế giới luôn tìm cách trốn chạy khổ đau, tôn vinh sự tiện nghi và dễ dãi, lời ca của Stabat Mater mời gọi chúng ta dám nhìn thẳng vào những “thập giá” của cuộc đời, dù đó là bệnh tật, khủng hoảng gia đình, sự cô đơn hay những bất công xã hội.  Sống linh đạo của Mẹ Sầu Bi không phải là chìm đắm trong bi lụy, mà là học lấy bản lĩnh “đứng vững – Stabat” bên cạnh những anh chị em đang chịu đau khổ.

Khi chúng ta dâng lên Mẹ lời nguyện: “Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu” (st. 10), chúng ta đang xin ơn biến đổi để biết kết hợp những giọt nước mắt, những thử thách hằng ngày của mình vào hy tế cứu chuộc của Chúa Giê-su.  Nhờ sự chuyển cầu và bàn tay chở che của Mẹ Sầu Bi, các tín hữu được mời gọi bước đi trên con đường lữ hành trần thế với niềm hy vọng vững vàng, để rồi khi lìa bỏ cõi đời này, nhờ công nghiệp ơn cứu độ của Con Mẹ, chúng ta cũng được lãnh nhận cành lá khải hoàn và vinh quang muôn đời trên thiên quốc. A-men.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

SỰ VÔ TẬN CỦA THIÊN CHÚA

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996.  Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton.  Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miên xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi!  Không gì có thể cứu vãn!  Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi!  Thật vô vọng!”

Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không?  Không nhất thiết là thế.  Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên.  Vậy hy vọng là gì?

Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng.  Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ.  Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào.  Nó chỉ là thuần ảo tưởng.  Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng.  Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy.  ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’  Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám.  Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ?  Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng.  Ông đúng.  Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp.  Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy.  Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục.  Tại sao lại thế?  Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.  Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt.  Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa.  Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình.  Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ.  Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi.  Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta.  Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa.  Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

Không bao giờ là quá trễ!  Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỰ THA THỨ PHỤC HỒI PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

Trong thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm một số quốc gia và họ bắt các binh lính người Anh giam ở Thái Lan để cưỡng bách lao động là làm đường xe lửa trên chiếc cầu bắc ngang qua sông Mae Klong.  Đường xe lửa này được mệnh danh là “Đường Rầy Tử Thần” (Death Railway) bởi vì quá nhiều tù nhân bị chết khi làm con đường này.

Một hôm khi nhóm tù nhân đi lao động trở về, họ phải đi qua hai trạm kiểm soát các dụng cụ.  Ở trạm thứ nhất, lính Nhật thấy số cuốc xẻng bị thiếu một chiếc.  Viên sĩ quan Nhật vô cùng tức giận và rút súng ra lệnh phải tìm cho bằng được chiếc cuốc bị thiếu hoặc một người phải chết thay.  Trong bầu khí nặng nề đó, một tù nhân bước ra chịu chết.  Viên sĩ quan Nhật lạnh lùng cầm lấy một chiếc xẻng đánh ông này thật tàn nhẫn cho đến chết.  Đám tù nhân còn lại kéo lê cái xác đẫm máu của đồng bạn đi qua trạm kiểm soát thứ hai để trở về nhà tù.  Nhưng ở trạm này, số cuốc xẻng lại không thiếu một chiếc!  Điều đó có nghĩa đã có sự đếm sai ở trạm thứ nhất.  Tin này sau đó được lan truyền khắp nhà tù: Một người vô tội đã chết để cứu những người khác!  Ý nghĩa của cái chết này ảnh hưởng thật sâu đậm đến tinh thần các tù nhân toàn trại.  Khi Đồng Minh chiến thắng nước Nhật, các tù nhân người Anh được giải thoát — bây giờ họ gầy gò như những bộ xương — đi ngang qua các binh lính Nhật, giờ đây là tù binh, nhưng thay vì đánh đập để trả thù, họ nói, “Không còn hận thù nữa.  Không còn giết hại nữa.  Điều chúng ta cần bây giờ là sự tha thứ.”

Câu chuyện này được kể lại và được dựng thành cuốn phim “Miracle on the River Kwai” (Phép lạ trên sông Kwai) giúp chúng ta có thể thấy được một vài điểm quan trọng mà Đức Giêsu đã đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay về sự tha thứ.

Điểm thứ nhất, sự tha thứ chấm dứt hậu quả của một hành vi sai trái.  Khi ai đó lỗi phạm đến chúng ta, sự lỗi phạm đó có thật và gây thiệt hại.  Nếu chúng ta trả thù, hậu quả của hành vi sai trái đó vẫn tiếp tục.  Nếu các tù nhân Anh Quốc tiếp tục trả thù binh lính Nhật, sẽ có thêm người chết, sẽ gây ra đau khổ.  Nhưng khi họ tha thứ, hậu quả của hành vi sai trái đã ngừng tại đó.

Mục đích thứ hai của sự tha thứ là để biến sự dữ thành sự thiện.  Trả thù thì dễ nhưng đó là sự dữ, chỉ có sự tha thứ mới biến đổi sự dữ thành sự thiện.  Đó cũng là câu chuyện của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Đức Hồng Y từng bị cộng sản cầm tù trong 13 năm.  Tuy bị đối xử cách bất công nhưng cố Hồng Y vẫn yêu thương người cộng sản, bởi vì theo lời cố Hồng Y, “Chúa Kitô đã dậy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô Hữu.”  Làm thế nào cố Hồng Y có thể không thù hận người giam cầm mình?  Qua các sáng tác của cố Hồng Y, như cuốn Đường Hy Vọng, Năm Cái Bánh và Hai Con Cá, v.v…, chúng ta biết cố Hồng Y đã biến sự dữ thành sự thiện.  Thay vì dùng thời gian tù đầy để gậm nhấm sự đau khổ vì bất công và suy nghĩ cách trả thù, cố Hồng Y đã dùng thời gian đó để hoán cải những người canh tù, để suy nghĩ về lời Chúa và viết thành sách, để lại những tư tưởng quý giá cho hậu thế.  Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị cầm tù về thể xác nhưng người không để sự dữ giam hãm đời mình trong hận thù và cay đắng.  Người đã biến sự dữ thành sự thiện.

Mục đích thứ ba của sự tha thứ là để làm chủ chính mình.  Vào năm 2004, bà Jo Nodding, người Anh, bị một thiếu niên 19 tuổi, tên Darren, dùng bạo lực để hãm hiếp bà.  Sau phiên tòa xử, Darren đã bị kết án chung thân khổ sai.  Khoảng một năm sau, một tổ chức xã hội có tên Liên Lạc Các Nạn Nhân đã đến gặp bà và đề nghị một cuộc gặp gỡ giữa bà và Darren với mục đích hòa giải và xây dựng.

Làm thế nào bà Jo có thể gặp lại can phạm đã gây đau khổ cho mình?  Bà cho biết, sau khi bị hãm hiếp, bà luôn sống trong một tâm trạng sợ hãi, và hoang mang.  Tâm trạng bất an ấy làm chủ đời bà.  Bây giờ, việc gặp lại can phạm, bà cho đó là cơ hội để làm chủ tình hình, để lấy lại tâm trạng bình an mà can phạm đã cướp mất của bà.  Sau những chuẩn bị lâu dài, mãi đến sáu năm sau (tháng Giêng 2010) cuộc gặp gỡ mới xảy ra trong khuôn viên nhà tù.

Trong cuộc gặp gỡ, bà đã kể lại mọi chi tiết của vụ hãm hiếp, từ đầu cho đến cuối, cũng như cảm tưởng sợ hãi và xấu hổ của bà, và Darren đã khóc hối hận.  Trước khi cuộc gặp gỡ kết thúc bà nói với Darren, “Điều tôi sẽ nói với em là điều mà nhiều người rất khó hiểu, nhưng tôi tha thứ cho em về những gì em đã làm đối với tôi.  Sự hận thù chỉ tiêu diệt con người, và tôi muốn em hãy vươn lên và thành công trong đời.  Nếu em chưa tha thứ cho chính mình, thì tôi hy vọng trong tương lai em sẽ có thể.”

Sau đó bà Jo cho biết, “Tôi không nói như thế để bào chữa cho hành động sai trái của Darren, hoặc coi thường sự kiện đã xảy ra, nhưng vì tôi muốn chính tôi được thoát khỏi gánh nặng của sự muộn phiền, và tôi hy vọng Darren có thể học được điều gì đó để vươn lên, và tha thứ cho chính mình.”

Bà kết luận, “Khi rời căn phòng đó, tôi có cảm tưởng như mình bay bổng trên không.  Cuộc gặp gỡ đó đã chấm dứt một giai đoạn, bởi vì tôi đã nói những gì tôi muốn nói và đã làm chủ lại cuộc đời mình.  Tôi biết điều đó có ảnh hưởng mạnh đến Darren.  Tôi không còn là nạn nhân, tôi là người sống sót.  Tôi có thể biết chắc rằng từ một điều xấu xa đã xuất phát những điều tốt lành.” 1

Ba câu chuyện nói trên phản ánh nét đẹp của sự tha thứ, mà qua câu trả lời cho ông Phêrô, Đức Giêsu đã dậy chúng ta phải đối xử thế nào với những người xúc phạm đến mình.  Tha thứ không phải là sự hèn nhát bởi vì không dễ để tha thứ.  Cần phải dũng cảm mới có thể tha thứ, và nghĩ cho cùng sự tha thứ có lợi cho bản thân chúng ta.

Không những thế, trong dụ ngôn hôm nay còn có hai điểm quan trọng để khích lệ chúng ta hãy tha thứ: thứ nhất, những gì chúng ta có là do Thiên Chúa ban, nếu chúng ta có bị thiệt hại vì ai đó vay mượn mà không trả, nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không mất gì.

Ý nghĩa này được thấy qua hai con nợ và hai chủ nợ.  Một người nợ rất nhiều, nhiều đến độ nhà vua phải ra lệnh bán chính ông và vợ con ông để trả nợ.  Nhưng sau khi ông nài nỉ, nhà vua đã thương xót và không những tha cho ông mà còn tha cả số nợ của ông.  Ngược lại, một người khác nợ ông một món tiền rất nhỏ, nhưng ông lại không tha thứ mà nhất định đưa họ vào tù để trả nợ.  Hành động này đến tai nhà vua và ông vô cùng tức giận đến độ ra lệnh tra tấn người này cho đến khi trả hết số nợ.

Sự tức giận của nhà vua khiến chúng ta phải ngạc nhiên vì dường như thái độ của nhà vua đi ngược với sự tha thứ.  Nhưng chính sự mâu thuẫn đó khiến chúng ta phải nghĩ đến lý do.  Người nợ đầu tiên, khi là con nợ, ông muốn được nhà vua thương xót.  Nhưng khi là chủ nợ, ông lại muốn sự công bằng mà thực sự, số tiền ông cho vay mượn là tiền của nhà vua, chứ không phải của ông.

Tương tự, chúng ta nợ Thiên Chúa rất nhiều — từ mạng sống đến của cải và mọi ơn phúc.  Lẽ ra chúng ta phải sử dụng đời sống và của cải để phục vụ Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, nhưng chúng ta lại quan tâm đến chính mình nhiều hơn, và khi bị thiệt hại, chúng ta lại đòi hỏi sự công bằng.  Đó là điều vô lý đối với Thiên Chúa.

Vấn đề tội lỗi cũng vậy — đây là điểm thứ hai của dụ ngôn.  Khi phạm tội, chúng ta mắc nợ Thiên Chúa vì không sử dụng tốt những gì Chúa đã ban.  Nhưng thật may mắn, số nợ này đã được Chúa Giêsu đền trả bằng cái chết trên thập giá.  Chúng ta được tha tội là vì lòng thương xót của Chúa Giêsu.  Vì thế, khi chúng ta tha thứ cho người khác, chúng ta nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền xét xử trên chúng ta.  Ngược lại, khi không tha thứ cho người khác, điều đó có nghĩa chúng ta đòi hỏi sự công bằng và hành động đó có nghĩa chúng ta từ chối Chúa Giêsu là đấng xét xử.  Hậu quả là tội của chúng ta vẫn còn và phải đền trả trong sự đau khổ.  Đó là ý nghĩa của câu “… trong cơn thịnh nộ, nhà vua đã trao y cho quân lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

Kitô giáo được tóm lược trong câu “Mến Chúa, yêu người,” và không có gì thể hiện sát thực câu nói này bằng sự tha thứ.  Khi tha thứ, chúng ta nhìn nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và nhìn nhận bản tính yếu đuối của con người để thông cảm cho người khác.  Sự tha thứ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu nên Người đã dậy chúng ta trong kinh Lậy Cha mà chúng ta đọc trong mỗi Thánh Lễ.  Khi tha thứ là khi chúng ta nâng đỡ nhau khôi phục lại phẩm giá con người.

Pt Giuse Trần Văn Nhật

1. http://theforgivenessproject.com/stories/jo-nodding/

MẸ TÊRÊSA CALCUTTA – NGƯỜI GẶP CHÚA NƠI NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐAU KHỔ

Toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Mẹ Têrêsa là một chứng từ sống động về niềm vui của tình yêu thương, cũng như giá trị của những việc nhỏ bé được thực hiện cách trung thành và với tất cả tình yêu. Ngày nay, dấu ấn và sự hiện diện của Mẹ vẫn tiếp tục được thể hiện qua đời sống và hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái, những người đang âm thầm phục vụ người nghèo và những người đau khổ tại nhiều nơi trên khắp thế giới.

Ngày 4 tháng 9 năm 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong Mẹ Têrêsa lên hàng hiển thánh.  Mẹ đã để lại cho thế giới gia sản của tình yêu Kitô giáo.  Ngày nay, gia sản và hoạt động của mẹ vẫn được tiếp tục trên khắp thế giới.

Mẹ Têrêsa… đã cúi xuống trên những người hấp hối bị bỏ mặc cho chết ở bên vệ đường vì mẹ nhận ra phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ….  Sứ vụ của mẹ ở những khu ngoại ô của thành phố và trong những cảnh đời bị gạt ra ngoài vẫn tồn tại đến ngày hôm nay là chứng tá hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo….  Tôi nghĩ rằng, có lẽ, chúng ta hơi có khó khăn khi gọi mẹ là thánh Têrêsa: sự thánh thiện của mẹ quá gần với chúng ta, quá dịu dàng và tích cực đến nỗi chúng ta ngay lập tức gọi mẹ là Mẹ Terêsa.”  Đó là những lời Đức Thánh Cha Phanxicô nhớ về Mẹ Têrêsa trong Thánh lễ tuyên phong mẹ lên hàng hiển thánh vào ngày Ngày 4 tháng 9 năm 2016.

Đến với người ở bên lề xã hội

Một nữ tu bé nhỏ với nụ cười tỏa sáng trong bộ áo sari trắng viền xanh, thường đến các khu phố tồi tàn xuống cấp của thành phố Calcutta để ở gần những người nghèo.  Mẹ luôn đến với tràng hạt Mân côi trong tay, để tìm kiếm và phục vụ Chúa nơi những người không được xã hội quý mến, yêu thương và chăm sóc.

Chiếm trọn tình yêu của thế giới

Thế giới nhớ hình ảnh của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nhỏ nhắn, mỏng manh trong bộ áo sari trắng viền xanh, nhưng sự vĩ đại của mẹ đã chiếm được trái tim của con người trên toàn thế giới, ngay cả những người không có tín ngưỡng.

Giải Nobel hòa bình

Tình yêu và sự ngưỡng mộ mẹ Têrêsa đã vượt qua các biên giới của tôn giáo, đến nỗi xã hội dân sự đã trao tặng mẹ giải Nobel hòa bình năm 1979 vì sự phục vụ người nghèo và với người nghèo.  Trong diễn văn cám ơn nhân dịp này, mẹ đã gửi đến thế giới sứ điệp về việc phá thai với câu nói nổi tiếng: “Nếu một người mẹ có thể giết chết con của mình thì ai có thể ngăn cản con người giết nhau?”  Mẹ đã dấn thân vì sự sống và chống phá thai.  Trong lễ tuyên phong mẹ lên bậc chân phước, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại lời của mẹ: “Nếu các con nghe có phụ nữ nào đó không muốn giữ lại đứa con của mình và muốn phá thai, các con hãy tìm cách thuyết phục cô ta trao cho mẹ đứa trẻ sơ sinh.  Mẹ sẽ yêu thương nó khi nhìn thấy nơi nó dấu chỉ tình yêu của Chúa.”

Thánh Têrêsa Calcutta

Không đầy hai năm sau khi mẹ qua đời, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở án phong thánh cho mẹ.  Ngày 19 tháng 10 năm 2003, mẹ được tuyên phong chân phước.  Trong bài giảng Thánh lễ, thánh Gioan Phaolô II nói: “Tôi biết ơn cách riêng người phụ nữ can đảm này, người tôi luôn cảm thấy ở gần bên tôi…  Mẹ đã đi bất cứ nơi đâu để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất giữa những người nghèo.  Ngay cả xung đột và chiến tranh cũng không thể ngăn cản mẹ…  Mẹ đã chọn không chỉ là người bé nhỏ nhất nhưng là nữ tỳ của những người bé nhỏ nhất…  Sự vĩ đại của mẹ ở nơi khả năng trao tặng mà không tính toán chi phí, trao tặng hết sức mình.  Cuộc sống của mẹ là một cách sống hết mình và là lời loan báo Tin mừng mạnh mẽ.”

Gia sản tình yêu Kitô giáo

Toàn cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa làm chứng về niềm vui yêu thương  và giá trị của những điều bé nhỏ nhưng được thực hiện cách trung thành và với tình yêu. Ngày nay, những dấu chỉ về sự hiện diện của mẹ tỏ hiện qua hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái đang thực hiện trên khắp thế giới.

Hồng Thủy – Vatican

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O’NEILL

Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào?

Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất… các con là ánh sáng thế gian…  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O’ Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm dù biết rằng không bị ai bắt gặp.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu… ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.”

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

Edmund Burke nói: “Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).

Lm. Mark Link, S.J.