PHƯƠNG DIỆN KHẮT KHE CỦA THIÊN CHÚA

Chúng ta có khuynh hướng hình dung sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Chúng ta thi hành điều này cả với Thiên Chúa

Bảy trăm năm trước khi Đức Giêsu giáng sinh, ở Hy Lạp có một ông thầy nổi tiếng là Aesop.  Một lý do khiến ông nổi tiếng là vì ông dùng nhiều câu chuyện để dậy bảo.  Ông kể một câu chuyện và từ đó rút ra một chân lý quan trọng.

Thí dụ, một trong những câu chuyện của ông là về sự tranh luận giữa con sư tử và con người về vấn đề ai mạnh hơn ai.

Con người quả quyết rằng loài người thì mạnh hơn.  Để minh họa điểm này, hắn đưa con sư tử ra một công viên và chỉ cho nó thấy bức tượng của một người đàn ông dùng đôi tay giang rộng hàm của con sư tử.  Con sư tử nhìn bức tượng và nói, “Điều đó chẳng có nghĩa gì cả!  Bức tượng này là do con người làm ra.”

Điểm mà ông Aesop muốn nói là: Loài người chúng ta có khuynh hướng miêu tả sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Nói cách khác, chúng ta thường bóp méo sự thật để nó trở thành điều mà chúng ta muốn, thay vì những gì đúng như vậy.

Một số thần học gia lo rằng các Kitô Hữu ngày nay cũng đang thi hành điều đó khi đề cập đến Thiên Chúa.  Họ lo rằng chúng ta đang bóp méo ý tưởng về Thiên Chúa trong Kinh Thánh.  Đó là họ lo rằng chúng ta đang biến Thiên Chúa thành một vị chúa mà chúng ta muốn.

Chúng ta thi hành điều này bằng cách chú trọng đến những đặc tính của Thiên Chúa mà chúng ta muốn trong khi lại coi thường những đặc tính mà chúng ta không thích.

Thí dụ, chúng ta nhấn mạnh đến tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa và coi thường sự thật rằng Thiên Chúa còn là một thẩm phán chính trực mà một ngày nào đó chúng ta phải trả lời với Người về đời sống của chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến dụ ngôn đáng kể của Đức Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay.  Tôi nói “đáng kể” vì chỉ có một vài dụ ngôn có tính cách dậy bảo như vậy.

Trước hết, nó tóm lược toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Để tôi minh họa thêm.

Vườn nho tượng trưng cho dân Israel, như bài đọc một hôm nay nói rõ.
Chủ vườn nho tượng trưng cho Thiên Chúa.
Các tá điền tượng trưng cho các thượng tế và người Biệt Phái, là những người mà Thiên Chúa giao cho trách nhiệm với dân của Chúa.
Các đầy tớ trong nhóm thứ nhất, những người mà chủ vườn sai đến gặp các tá điền để thu hoa lợi, là các ngôn sứ thời tiên khởi mà Thiên Chúa đã sai đến với dân Israel.
Các đầy tớ trong nhóm thứ hai là các ngôn sứ thời sau này.
Con của chủ vườn, bị các tá điền giết chết, là Đức Giêsu.
Các tá điền mới, những người mà chủ vườn cho thuê vườn nho, là các Tông Đồ của Đức Giêsu. Họ thế cho các thượng tế và Biệt Phái làm người lãnh đạo mới của dân Chúa.
Sau cùng, sự thuê mướn vườn nho lúc đầu tiên ám chỉ giao ước cũ.  Và sự thuê mướn vườn nho lần thứ hai ám chỉ giao ước mới.

Và vì thế dụ ngôn này là một tóm lược mỹ miều về toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Đó là một cuốn Kinh Thánh thu nhỏ trong bộ Kinh Thánh.

Ngoài việc đem cho chúng ta một tóm lược về câu chuyện cứu độ, dụ ngôn này còn đem cho chúng ta một cái nhìn tóm lược trong Kinh Thánh về Thiên Chúa.

Nó cho chúng ta thấy cả hai diện của Thiên Chúa: Thiên Chúa như một cha mẹ kiên nhẫn và Thiên Chúa là một thẩm phán chính trực.

Cũng như chủ vườn nho trong dụ ngôn, Thiên Chúa cho thấy sự kiên nhẫn vô bờ với các người lãnh đạo Israel.  Người đã cho họ cơ hội này đến cơ hội khác để thay đổi đường lối của mình.  Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ.

Tuy nhiên, khi hiển nhiên thấy rằng sự kiên nhẫn đều vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

Trong bài đọc một chúng ta cũng thấy như vậy.  Bài này cho thấy Thiên Chúa rất kiên nhẫn với dân của Người.  Nhưng khi thấy rằng sự kiên nhẫn này vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

Và vì vậy, các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa thì không chỉ như một người cha kiên nhẫn, luôn luôn yêu thương chúng ta, nhưng Người còn là một thẩm phán, buộc chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của chúng ta.

Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, phản ánh hai chiều kích này của Thiên Chúa.  Đôi khi chúng ta quên rằng Đức Giêsu, cũng như Thiên Chúa, cũng có một “phương diện khắt khe.”

Chính Đức Giêsu đầy lòng thương xót, là người từng nói với dân chúng, “Hãy đến với ta, tất cả những ai gánh nặng, và ta sẽ cho các ngươi nghỉ ngơi” (Mt 11:28) thì cũng nói với những ai không đếm xỉa đến người nghèo, “Hãy xa khỏi ta, hỡi những người bị Thiên Chúa nguyền rủa!  Hãy đi vào lửa đời đời” (Mt 25:41).

Và cũng chính Đức Giêsu nhân từ, là người từng nói với dân chúng, “Hãy học nơi ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29) thì cũng “lấy dây kết thành roi” (Gioan 2:15) và xua đuổi những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ.

Và cũng chính Đức Giêsu dễ thương, là người nói rằng “Những ai công khai tuyên bố thuộc về ta, ta cũng sẽ thi hành như vậy cho họ trước mặt Cha ta ở trên trời.  Nhưng ai công khai chối bỏ ta, ta sẽ chối bỏ họ trước Cha ta ở trên trời” (Mt 10:32-33).

Và vì vậy chúng ta thấy Đức Giêsu phản ánh hai chiều kích như Thiên Chúa.

Sự áp dụng những điều này vào đời sống chúng ta thì hiển nhiên.  Chúng ta cần biết rằng Thiên Chúa là một cha mẹ nhân từ.  Vì quá nhiều năm Thiên Chúa bị coi là người thích trừng phạt hơn là yêu thương.

Tuy nhiên, giờ đây, quả lắc đang nguy hiểm vung về phía trái ngược và đem cho chúng ta một hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa.  Tuy nhiên, những hình ảnh sai lầm này không phải là những gì chúng ta cần trong giây phút này của lịch sử.  Điều chúng ta cần là sự thật.

Và đó là điều chúng ta tìm thấy trong các bài đọc hôm nay: phúc âm chân lý về Thiên Chúa.  Thiên Chúa vừa là một cha mẹ kiên nhẫn và là một thẩm phán chính trực.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu của Đức Giáo Hoàng Clement XI.  Lời này có cả hai khía cạnh của Thiên Chúa:

Lậy Chúa, con tin ở Chúa; xin ban cho con đức tin vững vàng.
Con hy vọng nơi Chúa; xin ban cho con niềm hy vọng chắc chắn.
Con yêu mến Chúa; hãy giúp con yêu Chúa nhiều hơn.

Con tôn thờ Chúa như Khởi Đầu của con,
và con khao khát Chúa như Cùng Đích của con.
Con ngợi khen Chúa như Ân Nhân bất biến của con,
và con kêu cầu Chúa như Đấng Bảo Vệ độ lượng của con.

Xin hãy hướng dẫn con trong sự khôn ngoan của Chúa,
hãy cản trở con bởi sự công chính của Ngài,
hãy an ủi con bằng sự thương xót của Ngài,
hãy bảo vệ con bằng sức mạnh của Ngài.

Con dâng lên Chúa
các ý nghĩ của con, chỉ để hướng đến Chúa;
các lời nói của con, để Chúa là chủ đề các lời ấy;
hành động của con, để thi hành theo thánh ý của Ngài.

Lm. Mark Link, S.J.

NHỮNG HỮU THỂ KHÔNG GIAN DỐI

“Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối.”

Một em bé có người bạn qua đời; suốt mấy ngày, em đều sang nhà bạn.  Mẹ em hỏi, “Con giúp được gì cho họ?”  Em đáp, “Con ngồi vào lòng mẹ bạn con.”  Một câu nói nhỏ bé, nhưng trong suốt đến mức nỗi đau người khác có thể đi thẳng vào nó.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ các Tổng Lãnh Thiên Thần mở ra cho chúng ta hình ảnh những hữu thể hoàn toàn trong suốt trước Thiên Chúa – chuyển trao tình yêu, sự thật và thánh ý của Ngài – ‘những hữu thể không gian dối.’

Điều đáng kinh ngạc nơi các thiên thần không nằm ở quyền năng, nhưng ở sự “trong suốt” của các ngài trước Thiên Chúa.  Micae bảo vệ thánh ý Chúa mà không tìm vinh quang cho mình; Gabriel chuyển trao sứ điệp của Chúa mà không thêm bớt; Raphael chữa lành mà không giữ công trạng.  Các ngài hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa đến mức không còn gì “cong vẹo” nơi bản thân.  Có lẽ vì thế, vừa gặp Nathanael, Chúa Giêsu nhận ra ngay một trái tim “không gian dối” – một trái tim giống các thiên thần hơn giống thế gian.

Điều đáng sợ nơi con người không phải là yếu đuối, nhưng là một trái tim bị chia đôi.  Augustinô gọi đó là cor duplex – một trái tim vừa muốn Thiên Chúa vừa muốn chính mình.  Vì thế, gian dối không chỉ là nói sai, nhưng là sống không thật trước Thiên Chúa.  Đóng kịch trước mặt Trời cao là đỉnh cao của sự khờ dại!  Các thiên thần thì khác: không che giấu, không thương lượng với sự dữ, không sống hai mặt.  Có lẽ vì thế, trong thị kiến Đaniel, các ngài được đứng gần ngai Thiên Chúa – nơi mọi giả trá đều tan biến – bài đọc một.  Và cũng vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới reo lên, “Lạy Chúa, giữa chư vị thiên thần, này con xin đàn hát xướng ca!”

Đó cũng là lý do tại sao trình thuật Nathanael được chọn đọc hôm nay.  Điều làm Chúa Giêsu kinh ngạc nơi ông không phải sự thông minh hay đạo đức, nhưng là một trái tim “không gian dối” dù từng chê bai: “Tự Nazareth nào có cái chi hay!”  Chỉ ai đủ trong suốt mới có thể thấy “trời rộng mở” và nhận ra các thiên thần “lên lên xuống xuống trên Con Người.”  Bởi lẽ, thiên đàng không mở ra cho những kẻ hoàn hảo, nhưng cho những ai dám sống thật.  Theo Richard Rohr, sự minh bạch trong lòng là bước đầu của tự do nội tâm.  Trong suốt không phải là không có tì vết, nhưng là không có gì để giấu giếm!

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô chính là con người duy nhất hoàn toàn không gian dối.  Nơi Ngài không có khoảng cách nào giữa lời nói và trái tim, giữa thánh ý Cha và ý muốn bản thân.  Chính vì thế, Ngài trở thành chiếc “thang” nối trời với đất.  Và do đó, nên thánh không phải là nên giống thiên thần ở quyền năng, nhưng giống Đức Kitô và các thiên thần của Ngài với một trái tim không chia đôi – một trái tim của ‘những hữu thể không gian dối.’  Thế gian chê bỏ kẻ yếu đuối, nhưng Thiên Chúa khước từ kẻ giả hình.  “Sự cao cả của con người nằm ở việc biết mình khốn cùng!” – Blaise Pascal.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con mang quá nhiều mặt nạ; xin chữa nơi con mọi quanh co giả trá; cho con biết sống với một trái tim trẻ thơ!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

BƯỚC TỪ LỜI THƯA“VÂNG” ĐẾN VIỆC LÀM

Có những lời “vâng” được chúng ta nói ra thật dễ dàng, nhưng để biến lời “vâng” ấy thành hành động cụ thể lại là cả một hành trình.  Cũng có những lúc chúng ta nói “không” với Chúa, tưởng như đã khép lại cánh cửa của lòng mình; thế nhưng, nếu biết khiêm tốn nhìn nhận sai lầm và trở về, chúng ta vẫn có thể mở ra một con đường mới.

Phụng vụ Lời Chúa tuần này dẫn chúng ta đi vào một vấn đề rất gần gũi với đời sống đức tin: sự hoán cải: Thiên Chúa không chỉ nghe những gì môi miệng chúng ta nói, Ngài nhìn đến sự thật của con tim biết biến đổi được thể hiện qua chính cuộc sống và việc làm của chúng ta.

Tiếng gọi hoán cải

Qua miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en, Thiên Chúa khẳng định rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về điều mình lựa chọn.  Khi dân Ít-ra-en phải gánh chịu những hậu quả của tội lỗi và chứng kiến kẻ gian ác dường như vẫn sống bình an, họ đã than trách: “Đường lối của Chúa không chính trực” (Ed 18,25).  Nhưng Thiên Chúa cho họ thấy một sự thật khác.  Ngài không xét xử con người chỉ dựa trên quá khứ, cũng không quy trách nhiệm của người này cho người khác.  Chúa nhìn vào thái độ của mỗi người trong cuộc sống hiện tại.

Thiên Chúa là Đấng công minh, nhưng cũng là Đấng giàu lòng thương xót.  Ngài không tra vấn con người để tìm lý do kết án, nhưng để mở cho con người một con đường trở về.  Vì thế,: ” Chúa phán: ‘Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống’ ” (Ed 33, 11).  Đây chính là niềm hy vọng lớn lao cho nhân loại.  Không ai bị khóa chặt mãi mãi trong quá khứ của mình.  Người từng yếu đuối vẫn có thể đứng dậy.  Người sai lầm vẫn có thể bắt đầu lại.  Một tâm hồn từng xa Chúa vẫn có cơ hội trở về.  Nhưng muốn trở về, trước hết phải biết khiêm nhường.  Khiêm nhường chính là cửa ngõ để đón nhận ơn Chúa.

Lời Thánh vịnh gia cầu nguyện: “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con lối bước của Ngài” (Tv 25,4-9).  Lời ấy rất đơn sơ, nhưng thật sâu sắc.  Bởi nhiều khi chúng ta xa Chúa không phải chúng ta không biết đường, nhưng vì quá tự tin vào đường lối của mình, muốn Chúa làm theo ý mình hơn là xin cho mình sống theo ý Chúa.

Người khiêm nhường là người không ngại thưa với Chúa: “Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa.”  Và chính khi biết cúi xuống, con người lại được Thiên Chúa nâng lên.

Từ lời “vâng” suông đến hành động

Tin Mừng hôm nay kể Dụ Ngôn Hai Người Con được cha sai đi làm vườn nho.  Người con thứ nhất ban đầu trả lời: “Con không đi” (Mt 21,29), nhưng sau đó anh hối hận và đi.  Người con thứ hai thì thưa: “Thưa cha, vâng, con đi!” (Mt 21,30), nhưng rồi lại không đi.  Chúa Giê-su đặt một câu hỏi rất đơn giản: “Ai trong hai người đã làm theo ý cha mình?” (Mt 21,31).  Câu trả lời thật rõ ràng: người đã làm theo ý cha.

Dụ ngôn này chạm đến mỗi người chúng ta, bởi có lúc chúng ta giống người con thứ hai luôn nói những lời đẹp lòng Chúa: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa.”  Chúng ta đọc kinh, đi lễ, tham dự các việc đạo đức.  Nhưng trong đời sống hằng ngày, chúng ta lại dễ nóng giận, ích kỷ, xét đoán, thiếu tha thứ, hoặc làm ngơ trước nỗi đau của người bên cạnh.

Trái lại, có những người tưởng như đang ở rất xa Thiên Chúa, nhưng một ngày kia họ nhận ra sai lầm, sám hối, thay đổi và bắt đầu sống tốt hơn.  Vì thế, Chúa muốn chúng ta không chỉ là lời thưa “vâng” trên miệng, nhưng là cuộc đời biết thực thi ý Chúa.  Chính Chúa Giê-su tuyên bố: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21).

Người còn nói một điều khiến những người đương thời bấy giờ phải suy nghĩ: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21,23).  Lý do đơn giản vi họ đã tin vào lời Gio-an và thay đổi cuộc đời, trong khi có những người tưởng mình đạo đức lại không chịu hoán cải.  Điều đó cho thấy trước mặt Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là mình đã từng như thế nào, mà là hôm nay mình đang trở nên người nào.

Hoán cải trong đời sống hôm nay

Lời mời gọi trên không chỉ dành cho những người được coi là “tội lỗi”, mà dành cho tất cả chúng ta.  Trong đời sống đạo, chúng ta rất dễ tự mãn vì mình là người “đạo gốc,” siêng năng đi lễ đều, đọc kinh nhiều, giữ những tập tục đạo đức…  Những điều ấy đều quý giá, nhưng sẽ trở nên thiếu trọn vẹn nếu không biết yêu thương, phục vụ và thứ tha.

Có khi chúng ta thưa “vâng” với Chúa trong nhà thờ, nhưng lại nói “không” với người thân bằng thái độ lạnh lùng.  Chúng ta cầu xin Chúa tha thứ cho mình, nhưng lại không muốn tha thứ cho người khác.  Chúng ta xin bình an, nhưng chính mình lại đem sự bất hòa đến cho người khác.

Vậy, có lời “vâng” nào chúng ta đã nói mà chưa thực hiện không?  Có điều tốt nào Chúa đang mời gọi mà chúng ta cứ lần lữa không?  Có lỗi lầm nào chúng ta cần sửa đổi không?

Hoán cải không nhất thiết phải bắt đầu bằng những việc thật lớn lao.  Đôi khi chỉ là biết nói một lời xin lỗi; biết nhường nhịn, tha thứ cho người đã làm mình tổn thương; giúp đỡ một người đang cần; hay biến một lời kinh thành việc bác ái cụ thể.  Đó chính là lúc lời “vâng” của chúng ta trở thành một lời “vâng” có sức sống.

Điều Chúa mong đợi là chúng ta biết trở về.  Người con từng nói “không” vẫn có thể bước vào vườn nho.  Người đã từng lạc đường vẫn có thể tìm lại con đường.  Người từng sa ngã vẫn có thể đứng lên.  Điều quan trọng là đừng cố chấp ở lại trong cái sai, nhưng hãy khiêm tốn trở về với Chúa.

Xin cho mỗi người chúng ta không chỉ biết nói “vâng” bằng môi miệng, nhưng biết nói “vâng” bằng cả cuộc đời.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

NHỮNG BƯỚC CHÂN

Nói đi vào hoặc đi ra là nói đến những bước chân.  Nhưng khi vào đời, tôi không vào đời bằng chân vì tôi chỉ là hài nhi không biết đi.  Ra khỏi cuộc đời, tôi cũng chẳng ra khỏi bằng chân vì tôi chết.  Như thế, vào đời hay ra khỏi cuộc đời là những bước chân thiêng liêng.  Đó là những bước chân liên quan đến hạnh phúc và ơn cứu độ.

Trong khoảng thời gian từ lúc tôi mới sinh ra, không biết đi, đến khi tôi không thể đi vì tôi chết, là một hành trình thật dài.  Trong hành trình dằng dặc này của cuộc sống, tôi bước những bước chân.  Tôi đi.  Tôi đi rất nhiều.  Vì tôi vào đời đón sự sống bằng bước chân thiêng liêng.  Tôi từ giã cuộc đời, ra khỏi sự sống bằng vết chân thiêng liêng, nên những bước chân hàng ngày tôi đi trên mặt đất rất liên quan đến những ý nghĩa thiêng liêng.

Hướng chân đi

Đi, là đi đâu.  Đi không định hướng sẽ là cuộc đi thiếu năng lực.  Vì không có lí tưởng để tiến tới nên chân mỏi mệt lắm.  Rồi, cuộc đời là cuộc đi buồn bã.  Có bước chân ban sáng, có bước chân chiều tà.  Bước đi trong đời, ai cũng mang một trong hai bước chân đó.  Đức Kitô biết rõ những loại chân này, nên Ngài nói với các môn đệ: “Khi còn sáng ngày Ta phải làm việc của Cha Ta.  Đến tối không ai còn làm việc nữa” (Ga. 9:4).  Thời gian sẽ ngắn lại, bước chân ta chậm theo dòng đời.  Bình minh gọi, kẻ không bước đi sẽ muộn phiền hối tiếc khi chiều buông xuống.

Có người đi ban đêm.  Có kẻ đi ban ngày.  Có người đi trên đường.  Có kẻ đi dưới rãnh.  Có nhiều thứ đi.  Có nhiều thứ bước chân.  Khi Đức Kitô bị bắt thì có những bước chân chạy trốn mà cũng có những bước chân đến gần.  Khi Đức Kitô gọi, thì có những bước chân theo mà cũng có bước chân chối từ.  Có bước chân đi phân vân và cũng có bước chân dứt khoát.  Từ khởi điểm của vào đời và ra khỏi đời là trăm ngàn ngõ bước, lối đi, những bước chân khác nhau.

Điệu chân đi

Nói đến đi thì cũng  nói tới bước chân đi và lối ngõ để bước chân đi trên đó.  Có những lối ngõ khác nhau và phải bước theo cách thế của mỗi lối đi.  Không thể bước trên đường sỏi đá giống như bước trên đồi cỏ.  Rồi ngay mỗi người cũng có nhiều đoạn đường khác nhau trong một lối đường.  Bởi đó, người ta phải học cách bước của mỗi đoạn đường.  Đoạn đường Maria đi thăm chị họ mình để báo tin vui là bước chân đon đả, không giống đoạn đường trốn sang Ai Cập.  Cách Đức Kitô bước vào dinh tổng trấn Philatô chắc không giống cách Người bước vào nhà người thu thuế.  Thích nghi với hoàn cảnh, văn hóa trong công cuộc rao giảng Tin Mừng chẳng những là sáng tạo mà còn là một định luật.  Chọn cho mình một lối đúng mà không bước đúng cách cũng chưa là đi đúng.

Người ta nói: Bước vào yêu.  Thì nghe cũng như đúng vậy thôi.  Tình yêu ở đâu để mà bước vào?  Tình yêu tự nó không là thửa đất, không là cánh đồng.  Tình yêu không giống như một bản đồ vẽ sẵn.  Rồi ai nấy chọn một ngã.  Tình không chờ sẵn như căn nhà rồi ta vào ở.  Đức Kitô không bước vào yêu mà Ngài là Tình Yêu vào thế gian (Ga 3:16).  Như thế, bước vào yêu theo nghĩa đẹp nhất là tình yêu đưa ta bước tới.  Tình yêu nơi trái tim Đức Kitô đưa bước chân Ngài lên Núi Sọ.  Ngài không lên Núi Sọ tìm tình yêu mà là tình yêu thúc đẩy Đức Kitô gặp thập giá, để thập giá có tình yêu.

Tình yêu và bước chân

Trong cuộc đời sẽ có hai bước chân của hai lối đi khác nhau về tình yêu.  Một bước chân vào đời do tình yêu đưa lối.  Và một bước chân tìm lối đi của tình yêu trong đời.

– Bước chân do tình yêu đưa lối thì có năng lực và không bao giờ bước sai. “Bỏ lại chín mươi chín con chiên đó mà đi tìm con chiên lạc” (Mt.18:12-13).  Những bước chân này đi tới đâu là rộn rã yêu thương tới đó.  “Vì Cha quá yêu thế gian nên đã sai Con Một vào thế gian” (Ga 3:16).  Không là chân đi tìm tình yêu mà là tình yêu đẩy chân đi tìm.

– Còn lối bước thứ hai là bước chân đi tìm tình yêu.  Bước chân này rất dễ lầm đường lạc lối.  Tình yêu không có sẵn khơi khơi.  Bởi đó, làm sao tìm thấy tình yêu được.  Họ không thấy tình yêu mà chỉ  thấy cái họ thích yêu.

Khi tôi gặp người tôi thương mến, điều ấy có nghĩa là tôi bắt gặp điều làm tôi yêu thích.  Tôi phải để tình yêu trong tôi lên tiếng thẩm định cho sự gặp gỡ này.  Rạo rực của con tim khi gặp người tôi mến thương thúc đẩy tôi phải ôm giữ.  Rồi, từ đó tôi ngỡ rằng đó là tình yêu và tôi đã gặp tình yêu.  Khi trong tim tôi không có tình yêu thì sự ôm giữ này trở thành cuồng phong, vì tôi lầm lẫn cho đó là tình yêu.  Nếu trái tim tôi có tình yêu thì tình yêu sẽ lên tiếng thẩm định và câu trả lời có thể là không cho phép tôi bước tới.  Nếu bước tới, bước chân đó sẽ sai vì không nghe tiếng tình yêu nói mà chỉ là tìm cái tôi thích yêu.

Nếu nói gặp người tôi thương mến là gặp tình yêu thì làm sao có trung thành trong hôn nhân luôn luôn gặp những người yêu mới.

Đức Kitô không bao giờ đi sai vì chân Ngài được tình yêu thúc đẩy.  Trước giờ chết, trước kẻ có quyền kết tội, Ngài không chối từ, không trốn tránh vì Ngài có tình yêu làm sức mạnh.  Trên đường đời có những quãng vắng khắc nghiệt vì sỏi đá.  Tình yêu sẽ đẩy chân bước tới.  Còn bước chân đi tìm tình yêu sẽ phân vân ngại ngùng tránh né.  Bởi đó, trong hôn nhân, và người tu sĩ cũng thế, không có lạc lối trong tình yêu mà chỉ là không có tình yêu nên mới lạc lối.

Những bước chân riêng

Mỗi người có một lối nên không thể lấy bước chân kẻ khác làm bước chân của mình.  Sự nghèo khó, lý tưởng, con cái, giáo dục, thân xác, hoàn cảnh của mỗi gia đình không giống nhau.  Áng màu nào cũng đẹp nhưng nó phải phù hợp với ơn gọi của nó.  Bước lẫn sang lối đi của người khác là lạc lối.  Vì lối đi của người khác đúng với họ mà thôi nên khi lấy cái đúng của họ làm của mình nó dễ trở thành cái sai.  Khó mà nhận ra cái lạc lối của mình khi mình đi trong lối đi của kẻ khác, bởi vì cứ nghĩ rằng nó đúng với tha nhân thì cũng đúng với mình.

Những bước chân phải cùng nhau đi mà không đi cùng nhau là đi sai.  Những bước chân phải đi đơn lẻ mà cứ quyến luyến nhau cũng là đi không đúng.  Huyền nhiệm của những bước chân là thế.

Có những bước chân âm thầm.  Có những bước chân trong chiều mưa.  Là những bước chân riêng, nhưng bước chân nào thì cũng biết mỏi.  Đường ở đâu hay ở đó, hôm nay hay ngày mai, ở đâu và thời gian nào thì đường cũng có thể làm chân ê ẩm, gây thương tích đau đớn.  Đường đời dài lắm.  Nhất là đường sám hối, đường muốn tập nhân đức.  Bởi vậy, chân cần nghỉ ngơi, cần xoa dịu.  Là những bước chân riêng, nhưng cùng một ơn cứu độ.  Có phải vậy mà đường chiều thập giá là Simon vác thập tự cho Đức Kitô đỡ té ngã.  Có phải thế mà hôn nhân cùng nhau đi.

Lạy Chúa, khi biết mình sắp xa các môn đệ, Chúa đã rửa chân cho họ.  Nếu chỉ nhìn những bàn chân được rửa như một gương khiêm nhường Chúa đã làm thì con thấy chưa đủ.  Bỏ trời cao xuống trần chưa đủ là khiêm nhường sao.  Sinh ra trong nghèo khó đủ cho con thấy Chúa thế nào rồi.  Thái độ rửa chân cho chúng con là hình ảnh tuyệt vời ý nghĩ của những bước chân.  Cần thiết lắm.  Một ý nghĩ rất sâu của những bàn chân sẽ bước đi rất chơi vơi trong đời.  Sắp chết là Chúa sắp bước những bước chân vô cùng mầu nhiệm.  Ai có thể đi theo những bước chân gian nan khổ nạn ấy?  Phải là những bàn chân được Chúa rửa thì mới có năng lực bước theo Chúa vào khổ nạn được.  Rửa cho rơi đi những ươn hèn, gian dối, nhỏ nhen.  Bàn chân con phải được rửa bằng tình yêu của Chúa để bàn chân ấy có tình yêu thì con mới có thể bước đi trong đời mà không bước sai.

Vì hệ trọng, nên khi bước, chân phải biết mình đang đi đâu và bước như thế nào.

Chúa bảo chúng con rửa chân cho nhau.  Bởi, chân nào đi mà không mỏi.  Đường đời dài thăm thẳm.  Lối đi nào mà không nhiều lúc dẵm sang đời nhau.  Chúng con cần nâng đỡ cho đôi chân nghỉ ngơi, cần được nhắc nhở cho đôi chân tỉnh thức, cần thông cảm cho đôi chân khỏi chán nản.

Lạy Chúa, con phải suy tư như thế nào về bước chân của mình và của người anh em?

Những người nghèo là người phải đi bộ.  Và đi bộ thường phải đi bên lề đường.  Nếu họ đi bên lề đường chỉ vì nghèo để tránh rộng lối cho con đi, và nếu chỉ vì nghèo mà bước chân bên lề đường ấy làm họ phải bước bên lề cuộc đời thì con nghĩ sao về bước chân của mình.

Nguyễn Tầm Thường, sj.

ĐỦ NĂM MÀ CHƯA CHÍN

“Đó là những kẻ nghe, nhưng dọc đường bị… những khoái lạc cuộc đời làm cho chết ngộp và không đạt tới mức trưởng thành.”

“Suốt đời, tình yêu biến đổi và trưởng thành” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Năm tháng làm chúng ta già đi; nhưng tình yêu cần cả đời để lớn lên.  Vậy mà có khi tuổi cứ thêm, lòng vẫn không đổi.  Lời Chúa hôm nay chạm đến nỗi dang dở ấy: ‘đủ năm mà chưa chín.’

Giữa nảy mầm và chín tới, hạt giống phải đi hết một mùa.  Hạt giữa bụi gai đã gặp đất, mọc lên, mang trong mình lời hứa của mùa gặt; nhưng gai cũng lớn lên, và lời hứa ấy không thành.  Nỗi buồn của mảnh đất gai là đã đón hạt mà không nuôi được hạt đến cùng.  Luca gọi tên những gai góc: lo lắng, vinh hoa và khoái lạc cuộc đời.  Gai lớn lên ngay nơi Lời đã bén rễ, từng chút một, lấy hết chỗ của mùa sau.

Lo lắng muốn bảo đảm ngày mai; vinh hoa hứa một chỗ dựa; khoái lạc giữ lòng ở những điều dễ chịu.  Mỗi thứ níu một phần, đến khi Lời không còn dẫn dắt những chọn lựa.  Điều đáng sợ là chẳng có đổ vỡ nào rõ rệt để đánh thức lòng người.  Mảnh đất vẫn xanh; chỉ mùa gặt cứ xa dần.  Một đời có thể đầy những điều đang lớn lên, mà thiếu chính điều đáng nuôi đến cùng.  “Khởi đầu thôi chưa đủ nếu không bền đỗ!” – Angela Merici.

Phaolô đưa chúng ta đến một chiều sâu khác của hạt giống.  Giữ nguyên hạt trong tay, chúng ta giữ được dáng hình cũ, nhưng chẳng có mùa sau.  “Gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống” – bài đọc một.  Hạt gieo xuống đất còn trơ trụi; hình thể sẽ mọc lên vẫn là điều chưa thấy.  Phaolô nhìn hạt chết mà thấy niềm hy vọng: thân xác yếu đuối hôm nay sẽ được Thiên Chúa cho trỗi dậy.  Vì thế, ngay giữa đời mong manh, chúng ta vẫn có thể thưa: “Lạy Chúa, con sẽ bước đi trước mặt Ngài, trong ánh sáng dành cho kẻ sống!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Có khi điều giữ chúng ta lại là một hình ảnh đẹp về chính mình đã giữ quá lâu.  Một lời góp ý vừa chạm tới, chúng ta đã vội thanh minh; một rạn nứt kéo dài, chúng ta vẫn chờ người khác bước trước.  Lòng bắt đầu chín khi chúng ta thiết tha giữ tình nghĩa hơn giữ phần đúng, chịu nhận phần sai để người bên cạnh thôi phải trả giá cho sự cố chấp của mình.  Có những lời xin lỗi đến muộn, khi người từng chờ nghe đã rời xa chúng ta từ lâu.  “Ở đâu không có khiêm nhường, ở đó có chiến tranh, bất hòa, chia rẽ!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô trao mình như hạt giống gieo vào lòng đất.  Các môn đệ chối bỏ, chạy trốn; nhân loại đóng đinh Ngài, nhưng Ngài vẫn yêu họ đến cùng, chẳng đợi lòng họ chín mới hiến mình.  Phục Sinh, Ngài trở lại, trao bình an và sai các môn đệ đi vào thế giới.  Ngài giao đàn chiên cho người từng chối Ngài, để người từng vấp ngã học nâng đỡ những người yếu đuối.  Được Đức Kitô yêu thương và tín thác đến thế, chúng ta còn có thể để đời mình mãi ‘đủ năm mà chưa chín?’

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để năm tháng chỉ làm con già đi; cho con đủ khiêm nhường để đổi lòng, đủ yêu thương để đời có trái ngọt!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

THIÊN CHÚA CÔNG MINH

Thoạt đầu, khi mới đọc dụ ngôn những người thợ được mướn vào giờ thứ mười một, nhiều người cảm thấy khó chấp nhận, vì xem ra những nguyên lý thông thường về công bằng xã hội bị hủy bỏ.  Người ta thường nêu cao khẩu hiệu “hãy làm việc nhiều hơn để lợi nhuận nhiều hơn.”  Thú thực, chúng ta cũng đã từng có cái nhìn phê phán ông chủ giống như những người thợ đã đến làm việc từ giờ đầu tiên, khi chúng chỉ ta quan sát mọi việc theo cái nhìn trần tục.

Thiên Chúa không nhìn mọi việc cùng một cách như chúng ta.  Thánh ý của Ngài khác xa tư tưởng con người.  “Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Bài đọc I).  Con người nhận định theo tiêu chuẩn công bằng; Thiên Chúa lại nhìn mọi việc theo ánh mắt của tình thương.  Nơi Thiên Chúa, vừa có sự công bằng (trả lương như đã hứa), vừa có tình thương (trả lương người cho người đến sau cũng như người đến trước).  Ngài là Đấng công minh, tức là vừa công bằng vừa sáng suốt, hiểu thấu lòng con người và những nỗi niềm của họ.  Tác giả Mát-thêu đặt câu chuyện dụ ngôn này vào ngữ cảnh các bài giảng của Chúa Giê-su về Nước Trời như một thực tại đã gần đến.  Vì thế, nội dung dụ ngôn cũng hướng chúng ta về ngày cánh chung.  Người đến trước hay người đến sau, sẽ có lúc phải trình diện trước nhan Chúa, và phải trả lẽ về cung cách sống và làm việc trong vườn nho của Chúa là chính cuộc đời này.

Để giúp chúng ta hiểu thực tại Nước Trời, Chúa Giê-su đảo ngược lý luận của chúng ta về công bằng xã hội.  Một sự công bằng xã hội chỉ dừng lại ở những tính toán khắt khe không thể dẫn con người tới hạnh phúc và không thể xây dựng một xã hội huynh đệ, vì nó bỏ rơi những người không có khả năng làm việc và coi họ như không xứng đáng được hưởng những nhu cầu cần thiết.

Sự công bằng của Nước Trời cũng không giống quan niệm về công trạng nơi chúng ta.  Đó là sự công bằng xen lẫn với tình yêu, một tình yêu đi đến tận cùng và có thể bị coi như “bất công” theo cái nhìn nhân loại.  Đó là điều ông chủ vườn nho đã làm: ông là một người tốt.  Ông trả cho mỗi người, không phải theo công lao, nhưng theo nhu cầu của họ.  Ông cho đi với lòng rộng rãi bao la, tới mức “hoang phí.”  Ông không chỉ dựa trên sản phẩm người thợ làm ra, mà còn nghĩ tới sự công lao khó nhọc của họ.  Và, ai là người có thể phán xét và xác định được nỗi khó nhọc, nếu không đó là Vị Thầy nhân lành, khiêm nhường và dịu dàng trong lòng?  Đối với Thiên Chúa, mỗi cá nhân trong số những người đang làm việc vì Nước Trời đều xứng đáng nhận được thù lao Tình yêu.  Nếu Thiên Chúa công minh như thế, thì nơi Vương quốc của Ngài phải là một nơi không còn sự ghen tị, hiềm thù và cũng chẳng có ai bị lãng quên.

Hãy trở lại với lời mở đầu trình thuật của thánh Mát-thêu: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm trong vườn nho của mình.”  Sống trên đời, hết thảy chúng ta đều là những người thợ được ông chủ là Thiên Chúa trao cho công việc phải làm.  Chúng ta làm việc bởi công trình sáng tạo, tức là thế giới này, được trao cho chúng ta canh tác và giữ gìn.  Từ khởi thủy, con người đã ý thức được trách nhiệm này.  Tác giả sách Sáng thế đã viết: “Đức Chúa dẫn con người vào vườn Ê-đen để anh canh tác và giữ gìn” (St 2,15).  Chúng ta thường chỉ nhớ đến chữ “canh tác” mà quên chữ “giữ gìn”, nên chỉ biết khai thác mà không biết bảo vệ.  Như vậy, vấn đề làm lâu giờ hay ít giờ xem ra không quan trọng.  Đó là thời gian và cơ hội để con người vươn tới vĩnh cửu, trong khi chờ đợi Thiên Chúa, Đấng Cứu độ con người.  Cũng vậy, làm việc này hay việc nọ; ở nơi này hay nơi kia; được nhận biết hay quên lãng; được tôn vinh hay coi thường… cũng không quan trọng đối với người tín hữu.  Đối với thánh Phao-lô, điều quan trọng là được ở với Đức Ki-tô, và như thế, “anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Người.”

Nước Trời là quà tặng miễn phí.  Lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô biên.  Ân sủng của Chúa dồi dào như dòng suối.  Điều quan trọng là chúng ta có trân trọng đón nhận món quà Nước Trời Chúa ban, có tín thác nơi Lòng Thương Xót của Ngài và có chủ động đến kín nước thiêng liêng nơi dòng nước ân sủng chứa chan ấy.

“Không có người cha, người mẹ, người con, hoặc bất kỳ người nào khác có thể ấp ủ đối tượng họ yêu dấu bằng một tình yêu lớn lao như tình yêu Thiên Chúa ấp ủ một linh hồn.”
(Chân phúc Angela Foligno)

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

MẸ SẦU BI, NGƯỜI MẸ CỦA NIỀM HY VỌNG

Hôm nay, Giáo hội long trọng cử hành Lễ Đức Mẹ Sầu Bi, đưa chúng ta trở về khoảnh khắc linh thánh và đau thương nhất lịch sử nhân loại: đứng dưới chân Thập Giá Chúa Giê-su.  Các bài đọc trong ngày lễ hôm nay không dừng lại ở một bức tranh bi ai của tình mẫu tử tan nát, nhưng mở ra một chiều sâu thần học tuyệt mỹ về mầu nhiệm cứu chuộc.  Thư gửi tín hữu Do-thái khẳng định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời” (Dt 5, 8-9).  Sự vâng phục ấy tìm thấy tiếng xin vâng đồng điệu tuyệt hảo nơi trái tim người Mẹ.  Thánh Vịnh 30 vang lên như lời cầu cứu thẳm sâu: “Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài… Vận mạng con ở trong tay Ngài” (Tv 30, 2.16), phản ánh trọn vẹn tâm tình phó thác của cả Chúa Giê-su lẫn Đức Mẹ trong giờ phút tử nạn.

Đỉnh điểm của mầu nhiệm này được khắc họa qua đoạn Tin Mừng Gio-an (Ga 19, 25-27), nơi Đức Giê-su từ đỉnh cao Thập Giá đã trao ban sứ mạng làm Mẹ nhân loại: “Thưa Bà, này là Con Bà… Này là Mẹ con.”  Giữa lúc nhân loại chìm đắm trong bóng tối của tội ác và sự chết, Chúa Giê-su không để Mẹ Người trong sự cô độc tột cùng, nhưng thiết lập một dây liên huyết thống thiêng liêng hoàn toàn mới.  Tiếng gạt bỏ quan hệ ruột thịt trần thế để xưng hô là “Thưa Bà” gợi nhắc đến người “Nữ Tướng” đầu tiên trong Sách Sáng Thế (St 3, 15) và tiếng “Bà” tại Ca-na (Ga 2, 4), đánh dấu giờ khắc hoàn tất công trình cứu chuộc.  Việc trao phó Mẹ Ma-ri-a cho “môn đệ Chúa yêu” chính là lúc Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn và trái tim tan nát của Đấng Cứu Thế.

Hôm nay, trong bầu khí linh thánh của Lễ Đức Mẹ Sầu Bi, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm một trong những tuyệt tác của văn chương phụng vụ và thần học Ki-tô giáo: Bài ca tiếp liên Stabat Mater vang lên trước Tin Mừng, khúc ca này không chỉ diễn tả nỗi đau xé lòng của một người Mẹ dưới chân Thập Giá, mà còn là bản tuyên ngôn thần học sâu sắc về mầu nhiệm hiệp thông cứu chuộc, nơi nhân loại tìm thấy dung mạo xót thương của Thiên Chúa giữa đỉnh cao đau khổ.

Khởi đầu bài ca là khung cảnh tĩnh lặng nhưng nghẹn ngào: “Mẹ sầu bi tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây Thập giá, nơi Con Người đã bị treo lên” (st. 1).  Trong khi các môn đệ hoảng sợ tản mác, Mẹ Ma-ri-a vẫn hiên ngang đứng bên cây Thập giá.  Tư thế ấy không phải là sự chai đá vô cảm, mà là biểu tượng của một đức tin kiên vững tột độ, một sự hiệp thông triệt để với hy tế của Đức Ki-tô.  Khung cảnh ấy hiện thực hóa lời tiên tri của cụ già Si-mê-on năm xưa: “Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2, 35), được phơi bày qua những vần thơ đầy thổn thức: “Một lưỡi gươm nhọn đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang sầu khổ và đau đớn” (St 2).

Khi đọc mạch văn trên, Thánh Bê-na-đô (Bernard of Clairvaux) từng giảng rằng, tình yêu mãnh liệt đã kéo Mẹ lại gần Thập Giá, nơi Mẹ chịu một cuộc tử đạo nội tâm còn đau đớn hơn cả gươm giáo thể lý.  Công đồng Vatican II, trong Hiến chế Lumen Gentium (số 58), khẳng định Mẹ đã kiên vững bước qua cơn thử thách, hiệp thông sâu xa với cuộc khổ nạn của Con và kết hợp với hy tế của Người bằng một tâm hồn mẫu tử hiến tế. 

Điểm đặc biệt của Bài ca tiếp liên là từ khúc thứ 9 trở đi, tâm tình của bài thơ chuyển hóa từ việc ngắm nhìn sang việc cầu xin, biến lời ca thành một bản kinh nguyện cá vị cho mỗi tín hữu: “Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của đau thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ” (st. 9).  Tác giả linh mục Jacopo da Todi (hoặc truyền thống gán cho ngài) không xin cho mình được miễn trừ khỏi khổ đau, nhưng nài xin được mang lấy những vết thương của Đấng chịu đóng đinh: “Xin cho con được mang sự chết của Đức Ki-tô, được cùng Người thông phần đau khổ, và tôn thờ những thương tích của Người” (St 16).

Giữa một thế giới luôn tìm cách trốn chạy khổ đau, tôn vinh sự tiện nghi và dễ dãi, lời ca của Stabat Mater mời gọi chúng ta dám nhìn thẳng vào những “thập giá” của cuộc đời, dù đó là bệnh tật, khủng hoảng gia đình, sự cô đơn hay những bất công xã hội.  Sống linh đạo của Mẹ Sầu Bi không phải là chìm đắm trong bi lụy, mà là học lấy bản lĩnh “đứng vững – Stabat” bên cạnh những anh chị em đang chịu đau khổ.

Khi chúng ta dâng lên Mẹ lời nguyện: “Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu” (st. 10), chúng ta đang xin ơn biến đổi để biết kết hợp những giọt nước mắt, những thử thách hằng ngày của mình vào hy tế cứu chuộc của Chúa Giê-su.  Nhờ sự chuyển cầu và bàn tay chở che của Mẹ Sầu Bi, các tín hữu được mời gọi bước đi trên con đường lữ hành trần thế với niềm hy vọng vững vàng, để rồi khi lìa bỏ cõi đời này, nhờ công nghiệp ơn cứu độ của Con Mẹ, chúng ta cũng được lãnh nhận cành lá khải hoàn và vinh quang muôn đời trên thiên quốc. A-men.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

SỰ VÔ TẬN CỦA THIÊN CHÚA

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996.  Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton.  Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miên xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi!  Không gì có thể cứu vãn!  Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi!  Thật vô vọng!”

Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không?  Không nhất thiết là thế.  Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên.  Vậy hy vọng là gì?

Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng.  Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ.  Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào.  Nó chỉ là thuần ảo tưởng.  Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng.  Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy.  ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’  Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám.  Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ?  Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng.  Ông đúng.  Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp.  Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy.  Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục.  Tại sao lại thế?  Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.  Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt.  Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa.  Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình.  Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ.  Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi.  Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta.  Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa.  Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

Không bao giờ là quá trễ!  Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỰ THA THỨ PHỤC HỒI PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

Trong thế chiến II, Nhật Bản xâm chiếm một số quốc gia và họ bắt các binh lính người Anh giam ở Thái Lan để cưỡng bách lao động là làm đường xe lửa trên chiếc cầu bắc ngang qua sông Mae Klong.  Đường xe lửa này được mệnh danh là “Đường Rầy Tử Thần” (Death Railway) bởi vì quá nhiều tù nhân bị chết khi làm con đường này.

Một hôm khi nhóm tù nhân đi lao động trở về, họ phải đi qua hai trạm kiểm soát các dụng cụ.  Ở trạm thứ nhất, lính Nhật thấy số cuốc xẻng bị thiếu một chiếc.  Viên sĩ quan Nhật vô cùng tức giận và rút súng ra lệnh phải tìm cho bằng được chiếc cuốc bị thiếu hoặc một người phải chết thay.  Trong bầu khí nặng nề đó, một tù nhân bước ra chịu chết.  Viên sĩ quan Nhật lạnh lùng cầm lấy một chiếc xẻng đánh ông này thật tàn nhẫn cho đến chết.  Đám tù nhân còn lại kéo lê cái xác đẫm máu của đồng bạn đi qua trạm kiểm soát thứ hai để trở về nhà tù.  Nhưng ở trạm này, số cuốc xẻng lại không thiếu một chiếc!  Điều đó có nghĩa đã có sự đếm sai ở trạm thứ nhất.  Tin này sau đó được lan truyền khắp nhà tù: Một người vô tội đã chết để cứu những người khác!  Ý nghĩa của cái chết này ảnh hưởng thật sâu đậm đến tinh thần các tù nhân toàn trại.  Khi Đồng Minh chiến thắng nước Nhật, các tù nhân người Anh được giải thoát — bây giờ họ gầy gò như những bộ xương — đi ngang qua các binh lính Nhật, giờ đây là tù binh, nhưng thay vì đánh đập để trả thù, họ nói, “Không còn hận thù nữa.  Không còn giết hại nữa.  Điều chúng ta cần bây giờ là sự tha thứ.”

Câu chuyện này được kể lại và được dựng thành cuốn phim “Miracle on the River Kwai” (Phép lạ trên sông Kwai) giúp chúng ta có thể thấy được một vài điểm quan trọng mà Đức Giêsu đã đề cập đến trong bài phúc âm hôm nay về sự tha thứ.

Điểm thứ nhất, sự tha thứ chấm dứt hậu quả của một hành vi sai trái.  Khi ai đó lỗi phạm đến chúng ta, sự lỗi phạm đó có thật và gây thiệt hại.  Nếu chúng ta trả thù, hậu quả của hành vi sai trái đó vẫn tiếp tục.  Nếu các tù nhân Anh Quốc tiếp tục trả thù binh lính Nhật, sẽ có thêm người chết, sẽ gây ra đau khổ.  Nhưng khi họ tha thứ, hậu quả của hành vi sai trái đã ngừng tại đó.

Mục đích thứ hai của sự tha thứ là để biến sự dữ thành sự thiện.  Trả thù thì dễ nhưng đó là sự dữ, chỉ có sự tha thứ mới biến đổi sự dữ thành sự thiện.  Đó cũng là câu chuyện của cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Đức Hồng Y từng bị cộng sản cầm tù trong 13 năm.  Tuy bị đối xử cách bất công nhưng cố Hồng Y vẫn yêu thương người cộng sản, bởi vì theo lời cố Hồng Y, “Chúa Kitô đã dậy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, kể cả kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô Hữu.”  Làm thế nào cố Hồng Y có thể không thù hận người giam cầm mình?  Qua các sáng tác của cố Hồng Y, như cuốn Đường Hy Vọng, Năm Cái Bánh và Hai Con Cá, v.v…, chúng ta biết cố Hồng Y đã biến sự dữ thành sự thiện.  Thay vì dùng thời gian tù đầy để gậm nhấm sự đau khổ vì bất công và suy nghĩ cách trả thù, cố Hồng Y đã dùng thời gian đó để hoán cải những người canh tù, để suy nghĩ về lời Chúa và viết thành sách, để lại những tư tưởng quý giá cho hậu thế.  Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã bị cầm tù về thể xác nhưng người không để sự dữ giam hãm đời mình trong hận thù và cay đắng.  Người đã biến sự dữ thành sự thiện.

Mục đích thứ ba của sự tha thứ là để làm chủ chính mình.  Vào năm 2004, bà Jo Nodding, người Anh, bị một thiếu niên 19 tuổi, tên Darren, dùng bạo lực để hãm hiếp bà.  Sau phiên tòa xử, Darren đã bị kết án chung thân khổ sai.  Khoảng một năm sau, một tổ chức xã hội có tên Liên Lạc Các Nạn Nhân đã đến gặp bà và đề nghị một cuộc gặp gỡ giữa bà và Darren với mục đích hòa giải và xây dựng.

Làm thế nào bà Jo có thể gặp lại can phạm đã gây đau khổ cho mình?  Bà cho biết, sau khi bị hãm hiếp, bà luôn sống trong một tâm trạng sợ hãi, và hoang mang.  Tâm trạng bất an ấy làm chủ đời bà.  Bây giờ, việc gặp lại can phạm, bà cho đó là cơ hội để làm chủ tình hình, để lấy lại tâm trạng bình an mà can phạm đã cướp mất của bà.  Sau những chuẩn bị lâu dài, mãi đến sáu năm sau (tháng Giêng 2010) cuộc gặp gỡ mới xảy ra trong khuôn viên nhà tù.

Trong cuộc gặp gỡ, bà đã kể lại mọi chi tiết của vụ hãm hiếp, từ đầu cho đến cuối, cũng như cảm tưởng sợ hãi và xấu hổ của bà, và Darren đã khóc hối hận.  Trước khi cuộc gặp gỡ kết thúc bà nói với Darren, “Điều tôi sẽ nói với em là điều mà nhiều người rất khó hiểu, nhưng tôi tha thứ cho em về những gì em đã làm đối với tôi.  Sự hận thù chỉ tiêu diệt con người, và tôi muốn em hãy vươn lên và thành công trong đời.  Nếu em chưa tha thứ cho chính mình, thì tôi hy vọng trong tương lai em sẽ có thể.”

Sau đó bà Jo cho biết, “Tôi không nói như thế để bào chữa cho hành động sai trái của Darren, hoặc coi thường sự kiện đã xảy ra, nhưng vì tôi muốn chính tôi được thoát khỏi gánh nặng của sự muộn phiền, và tôi hy vọng Darren có thể học được điều gì đó để vươn lên, và tha thứ cho chính mình.”

Bà kết luận, “Khi rời căn phòng đó, tôi có cảm tưởng như mình bay bổng trên không.  Cuộc gặp gỡ đó đã chấm dứt một giai đoạn, bởi vì tôi đã nói những gì tôi muốn nói và đã làm chủ lại cuộc đời mình.  Tôi biết điều đó có ảnh hưởng mạnh đến Darren.  Tôi không còn là nạn nhân, tôi là người sống sót.  Tôi có thể biết chắc rằng từ một điều xấu xa đã xuất phát những điều tốt lành.” 1

Ba câu chuyện nói trên phản ánh nét đẹp của sự tha thứ, mà qua câu trả lời cho ông Phêrô, Đức Giêsu đã dậy chúng ta phải đối xử thế nào với những người xúc phạm đến mình.  Tha thứ không phải là sự hèn nhát bởi vì không dễ để tha thứ.  Cần phải dũng cảm mới có thể tha thứ, và nghĩ cho cùng sự tha thứ có lợi cho bản thân chúng ta.

Không những thế, trong dụ ngôn hôm nay còn có hai điểm quan trọng để khích lệ chúng ta hãy tha thứ: thứ nhất, những gì chúng ta có là do Thiên Chúa ban, nếu chúng ta có bị thiệt hại vì ai đó vay mượn mà không trả, nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không mất gì.

Ý nghĩa này được thấy qua hai con nợ và hai chủ nợ.  Một người nợ rất nhiều, nhiều đến độ nhà vua phải ra lệnh bán chính ông và vợ con ông để trả nợ.  Nhưng sau khi ông nài nỉ, nhà vua đã thương xót và không những tha cho ông mà còn tha cả số nợ của ông.  Ngược lại, một người khác nợ ông một món tiền rất nhỏ, nhưng ông lại không tha thứ mà nhất định đưa họ vào tù để trả nợ.  Hành động này đến tai nhà vua và ông vô cùng tức giận đến độ ra lệnh tra tấn người này cho đến khi trả hết số nợ.

Sự tức giận của nhà vua khiến chúng ta phải ngạc nhiên vì dường như thái độ của nhà vua đi ngược với sự tha thứ.  Nhưng chính sự mâu thuẫn đó khiến chúng ta phải nghĩ đến lý do.  Người nợ đầu tiên, khi là con nợ, ông muốn được nhà vua thương xót.  Nhưng khi là chủ nợ, ông lại muốn sự công bằng mà thực sự, số tiền ông cho vay mượn là tiền của nhà vua, chứ không phải của ông.

Tương tự, chúng ta nợ Thiên Chúa rất nhiều — từ mạng sống đến của cải và mọi ơn phúc.  Lẽ ra chúng ta phải sử dụng đời sống và của cải để phục vụ Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, nhưng chúng ta lại quan tâm đến chính mình nhiều hơn, và khi bị thiệt hại, chúng ta lại đòi hỏi sự công bằng.  Đó là điều vô lý đối với Thiên Chúa.

Vấn đề tội lỗi cũng vậy — đây là điểm thứ hai của dụ ngôn.  Khi phạm tội, chúng ta mắc nợ Thiên Chúa vì không sử dụng tốt những gì Chúa đã ban.  Nhưng thật may mắn, số nợ này đã được Chúa Giêsu đền trả bằng cái chết trên thập giá.  Chúng ta được tha tội là vì lòng thương xót của Chúa Giêsu.  Vì thế, khi chúng ta tha thứ cho người khác, chúng ta nhìn nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền xét xử trên chúng ta.  Ngược lại, khi không tha thứ cho người khác, điều đó có nghĩa chúng ta đòi hỏi sự công bằng và hành động đó có nghĩa chúng ta từ chối Chúa Giêsu là đấng xét xử.  Hậu quả là tội của chúng ta vẫn còn và phải đền trả trong sự đau khổ.  Đó là ý nghĩa của câu “… trong cơn thịnh nộ, nhà vua đã trao y cho quân lính hành hạ cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

Kitô giáo được tóm lược trong câu “Mến Chúa, yêu người,” và không có gì thể hiện sát thực câu nói này bằng sự tha thứ.  Khi tha thứ, chúng ta nhìn nhận lòng thương xót của Thiên Chúa và nhìn nhận bản tính yếu đuối của con người để thông cảm cho người khác.  Sự tha thứ rất quan trọng đối với Chúa Giêsu nên Người đã dậy chúng ta trong kinh Lậy Cha mà chúng ta đọc trong mỗi Thánh Lễ.  Khi tha thứ là khi chúng ta nâng đỡ nhau khôi phục lại phẩm giá con người.

Pt Giuse Trần Văn Nhật

1. http://theforgivenessproject.com/stories/jo-nodding/

MẸ TÊRÊSA CALCUTTA – NGƯỜI GẶP CHÚA NƠI NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐAU KHỔ

Toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Mẹ Têrêsa là một chứng từ sống động về niềm vui của tình yêu thương, cũng như giá trị của những việc nhỏ bé được thực hiện cách trung thành và với tất cả tình yêu. Ngày nay, dấu ấn và sự hiện diện của Mẹ vẫn tiếp tục được thể hiện qua đời sống và hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái, những người đang âm thầm phục vụ người nghèo và những người đau khổ tại nhiều nơi trên khắp thế giới.

Ngày 4 tháng 9 năm 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong Mẹ Têrêsa lên hàng hiển thánh.  Mẹ đã để lại cho thế giới gia sản của tình yêu Kitô giáo.  Ngày nay, gia sản và hoạt động của mẹ vẫn được tiếp tục trên khắp thế giới.

Mẹ Têrêsa… đã cúi xuống trên những người hấp hối bị bỏ mặc cho chết ở bên vệ đường vì mẹ nhận ra phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ….  Sứ vụ của mẹ ở những khu ngoại ô của thành phố và trong những cảnh đời bị gạt ra ngoài vẫn tồn tại đến ngày hôm nay là chứng tá hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo….  Tôi nghĩ rằng, có lẽ, chúng ta hơi có khó khăn khi gọi mẹ là thánh Têrêsa: sự thánh thiện của mẹ quá gần với chúng ta, quá dịu dàng và tích cực đến nỗi chúng ta ngay lập tức gọi mẹ là Mẹ Terêsa.”  Đó là những lời Đức Thánh Cha Phanxicô nhớ về Mẹ Têrêsa trong Thánh lễ tuyên phong mẹ lên hàng hiển thánh vào ngày Ngày 4 tháng 9 năm 2016.

Đến với người ở bên lề xã hội

Một nữ tu bé nhỏ với nụ cười tỏa sáng trong bộ áo sari trắng viền xanh, thường đến các khu phố tồi tàn xuống cấp của thành phố Calcutta để ở gần những người nghèo.  Mẹ luôn đến với tràng hạt Mân côi trong tay, để tìm kiếm và phục vụ Chúa nơi những người không được xã hội quý mến, yêu thương và chăm sóc.

Chiếm trọn tình yêu của thế giới

Thế giới nhớ hình ảnh của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nhỏ nhắn, mỏng manh trong bộ áo sari trắng viền xanh, nhưng sự vĩ đại của mẹ đã chiếm được trái tim của con người trên toàn thế giới, ngay cả những người không có tín ngưỡng.

Giải Nobel hòa bình

Tình yêu và sự ngưỡng mộ mẹ Têrêsa đã vượt qua các biên giới của tôn giáo, đến nỗi xã hội dân sự đã trao tặng mẹ giải Nobel hòa bình năm 1979 vì sự phục vụ người nghèo và với người nghèo.  Trong diễn văn cám ơn nhân dịp này, mẹ đã gửi đến thế giới sứ điệp về việc phá thai với câu nói nổi tiếng: “Nếu một người mẹ có thể giết chết con của mình thì ai có thể ngăn cản con người giết nhau?”  Mẹ đã dấn thân vì sự sống và chống phá thai.  Trong lễ tuyên phong mẹ lên bậc chân phước, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại lời của mẹ: “Nếu các con nghe có phụ nữ nào đó không muốn giữ lại đứa con của mình và muốn phá thai, các con hãy tìm cách thuyết phục cô ta trao cho mẹ đứa trẻ sơ sinh.  Mẹ sẽ yêu thương nó khi nhìn thấy nơi nó dấu chỉ tình yêu của Chúa.”

Thánh Têrêsa Calcutta

Không đầy hai năm sau khi mẹ qua đời, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở án phong thánh cho mẹ.  Ngày 19 tháng 10 năm 2003, mẹ được tuyên phong chân phước.  Trong bài giảng Thánh lễ, thánh Gioan Phaolô II nói: “Tôi biết ơn cách riêng người phụ nữ can đảm này, người tôi luôn cảm thấy ở gần bên tôi…  Mẹ đã đi bất cứ nơi đâu để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất giữa những người nghèo.  Ngay cả xung đột và chiến tranh cũng không thể ngăn cản mẹ…  Mẹ đã chọn không chỉ là người bé nhỏ nhất nhưng là nữ tỳ của những người bé nhỏ nhất…  Sự vĩ đại của mẹ ở nơi khả năng trao tặng mà không tính toán chi phí, trao tặng hết sức mình.  Cuộc sống của mẹ là một cách sống hết mình và là lời loan báo Tin mừng mạnh mẽ.”

Gia sản tình yêu Kitô giáo

Toàn cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa làm chứng về niềm vui yêu thương  và giá trị của những điều bé nhỏ nhưng được thực hiện cách trung thành và với tình yêu. Ngày nay, những dấu chỉ về sự hiện diện của mẹ tỏ hiện qua hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái đang thực hiện trên khắp thế giới.

Hồng Thủy – Vatican