NGÀI VẪN ĐI TÌM

Soren Kierkegaard, một nhà triết và thần học người Đan Mạch, đã diễn tả cuộc đi tìm con người tội lỗi của Thiên Chúa như sau, và tôi xin tạm dịch từ đoạn văn của ông:

“Khi đặt câu hỏi về con người tội lỗi.  Thiên Chúa không chỉ đứng dang tay và nói, “Lại đây,” không, Ngài đứng đó và chờ, như một người Cha chờ sự trở về của đứa con hoang đàng, nhưng đúng hơn, Ngài không chỉ đứng đó chờ.

Ngài đi tìm kiếm, như người chủ chăn đi tìm con chiên lạc, như người phụ nữ đi tìm đồng bạc đã bị mất.  Ngài đi – còn hơn thế nữa, Ngài đã đi đoạn đường vô tận, xa hơn bất cứ người chăn chiên nào, hay người phụ nữ nào đi tìm đồng bạc.  Thật ra Ngài đã đi một quãng đường dài vô tận từ một Thiên Chúa hạ mình xuống làm một con người, Ngài đã chọn đi con đường đó để đi tìm người tội lỗi.”

Câu chuyện của ba chị em Mác-ta, Maria, và La-za-rô (Ga 11:1-45) là câu chuyện của những người đã từng biết Đức Giêsu và yêu Ngài.  Họ rất quen thân với Ngài và Ngài thường lui tới nhà của họ để dùng bữa (Lc 10:38-42).  Khi La-za-rô lâm bệnh nặng, họ cho người đi báo với Đức Giêsu, “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng,” nhưng khi Ngài đến thì La-za-rô đã chết.  Khi biết tin Đức Giêsu đến, Mác-ta và Maria ra gặp Ngài, và hai cô đã thốt lên một câu nói mang nhiều nuối tiếc và trách móc, “Thưa Thầy, nếu Thầy có ở đây, em con đã không chết.”  Có lẽ vì ở chỗ thân tình nên Mác-ta và Maria đã trách Đức Giêsu sao Ngài không đến ngay khi hai cô cho người đi báo tin về bệnh tình của La-za-rô.  Trong những năm qua, có lẽ hai chị em Mác-ta và Maria đã theo Đức Giêsu đi nhiều nơi, và tất hẳn đã chứng kiến những phép lạ Ngài đã làm trong sứ mạng rao giảng tin mừng của Ngài.  Vì vậy khi người em La-za-rô lâm bệnh nặng, họ đã cho người đi báo cho Đức Giêsu trong niềm tin tưởng Ngài sẽ chữa lành cho La-za-rô.  Nhưng khi Đức Giêsu đến thì La-za-rô đã chết được bốn ngày, và họ đã mất tin tưởng về sự hồi phục đời này của em họ.

Một điểm chúng ta cần để ý đến ở đây là Mác-ta và Maria vẫn tin tưởng vào quyền năng chữa lành của Đức Giêsu.  Họ đã thấy và tin, nhưng khi đến biến cố của chính họ, cái gì đó đã ngăn trở Mác-ta và Maria tin vào quyền năng của Đức Giêsu.  Ngay cả khi Đức Giêsu đến và nói với họ “Em chị sẽ sống lại”, Mác-ta đã thưa lại “Con biết em con sẽ sống lại ngày sau hết.”  Ngài biết Mác-ta vẫn chưa hiểu Ngài muốn nói gì, và Ngài ôn tồn nhắc cho Mác-ta biết Ngài là ai, “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống, những ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ chết.  Chị có tin thế không?”  Nhưng Mác-ta vẫn chưa hiểu ý Ngài và cô đã tuyên xưng đức tin của mình.  Ngay cả khi Đức Giêsu cùng các môn đệ đi với Mác-ta và Maria đến trước cửa mộ của La-za-rô, Ngài nói với họ “Đem phiến đá này đi,” Mác-ta vẫn chưa hiểu điều Ngài muốn làm, và Mác-ta vẫn chưa tin vào quyền năng làm cho kẻ chết sống lại của Đức Giêsu, và cô nói “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.”  Đã ba lần Đức Giêsu muốn cho Mác-ta và Maria thấy quyền năng cao cả của Ngài và Ngài muốn ban cho hai chị em là những người Ngài thương mến một phép lạ lớn hơn những gì họ đã từng thấy, nhưng ba lần Mác-ta đã không nhận ra điều đó.  Mặc dầu, Mác-ta không hiểu Ngài, nhưng vì yêu thương, Đức Giêsu vẫn tiếp tục ban cho Mác-ta và Maria một phép lạ chưa ai từng thấy bao giờ, đó là làm cho La-za-rô sống lại sau bốn ngày chôn trong mồ.

Trong cuộc hành trình nội tâm của mỗi người chúng ta với Đức Kitô cũng vậy.  Lắm lúc khi chúng ta theo Ngài, biết Ngài, và yêu Ngài từ lâu như hai chị em Mác-ta và Maria, và chúng ta cũng đã từng chứng kiến những phép lạ Ngài làm cho những người xung quanh và những người trong gia đình, nhưng khi chúng ta gặp những vấn nạn trong cuộc đời (tâm linh hoặc thể chất), những lúc chúng ta cần Ngài nhất, chúng ta lại quên đi quyền năng của Ngài.  Những lúc đen tối nhất trong cuộc đời của chúng ta, vì yêu thương Ngài đến và muốn ban cho chúng ta một cái gì đó lớn lao hơn và khác với những gì chúng ta đã từng quen thuộc, chúng ta lại sợ hãi.  Chúng ta lại có nhiều ưu tư, và những sợ hãi và ưu tư đó cản trở chính con người chúng ta biết mở lòng để đón nhận những món quà vô giá của Ngài. 

Chúng ta vô tình giới hạn Ngài trong cái khuôn nhỏ bé của mình, trong sự hiểu biết hạn hẹp của chúng ta.  Tuy Mác-ta và Maria không thấy món quà Ngài muốn ban cho họ, nhưng điều đó không cản trở Ngài làm điều Ngài muốn cho họ vì họ luôn ở với Ngài.  Cái mà Ngài muốn ban cho Mác-ta và Maria đều nằm trong sự quan phòng của Ngài vì thế Ngài đã lưu lại nơi Ngài ở thêm hai ngày nữa, “sau khi được tin anh La-za-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở.”  Trong trường hợp của chúng ta cũng vậy, lắm lúc chúng ta không hiểu những điều Ngài muốn làm trong cuộc sống của chúng ta, nhưng nếu chúng ta ở trong Ngài, thì Ngài sẽ làm những điều Ngài muốn nơi chúng ta trong sự quan phòng của Ngài.  Điều quan trọng là chúng ta phải xin ơn để luôn ở trong Ngài vì chúng ta biết lúc gặp mưa gió trong đời là lúc chúng ta dễ ra khỏi Ngài nhất.

Trong câu chuyện này, Đức Giêsu biết những sự dữ đang vây phủ Ngài ở Giêrusalem, nhưng vì yêu thương La-za-rô, và hai chị em Mácta và Maria, Ngài vẫn đến vì Ngài biết các chị em họ đang cần Ngài.  Trong cuộc hành trình của chúng ta với Ngài cũng vậy, những lúc chúng ta đau khổ và cần Ngài nhất, Ngài luôn ở đó bên ta và đồng cảm với chúng ta.  Khi chúng ta đi tìm chính mình, Ngài ở đó với chúng ta.  Khi chúng ta lo lắng về con cái, Ngài cũng ở bên ta chia sẻ niềm lo lắng đó.  Khi chúng ta đau ốm hay già nua, Ngài cũng bên ta và chịu đựng những hạn hẹp của thân xác và giới hạn của tuổi già.  Ngài khóc với chúng ta khi chúng ta khóc.  Ngài buồn khi chúng ta sầu khổ.  Ngài thương tiếc những sự mất mát của chúng ta như Ngài khóc thương sự mất mát của Mác-ta và Maria, và Ngài đã đến để xoa dịu những mất mát đó.  Mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể là thế đó.  Ngài chẳng bao giờ rời chúng ta vì Ngài đã đi đoạn đường dài vô tận để tìm, đến và ở với chúng ta, để cảm thông với nỗi khốn khổ của con người.

Lạy Chúa xin dạy con biết luôn ở bên Ngài mặc dầu lắm lúc con không hiểu Ngài dạy con điều gì.  Xin níu kéo con lại nếu con đi xa Ngài trong những lúc con chưa thấy được quyền năng và sự quan phòng của Ngài.  Xin dạy con mở lòng để đón nhận sự cao thượng của Ngài muốn ban cho con vì con hay thích đóng khuôn Ngài vào những sự hiểu biết hạn hẹp của con.  Mùa Chay Thánh này, xin cho con ơn được gặp Ngài vì Ngài đã đi đoạn đường dài vô tận để tìm con. Amen!

Củ Khoai 

ĐẤNG TRUNG TÍN

Một trong những phẩm tính của Thiên Chúa được Kinh Thánh nhấn mạnh, đó là sự trung thành của Ngài.  Thiên Chúa là Đấng tín trung.  Điều này đã được lịch sử chứng minh.  Kinh Thánh chính là cuốn sách về lòng tín trung của Thiên Chúa.

Tín trung, hay trung thành, là luôn giữ những gì mình đã hứa, trước sau như một, dù có phải thiệt thòi hệ luỵ.  Trong lịch sử, khi thiết lập mối tương quan với con người, Chúa đã khởi đầu bằng giao ước với ông Abraham.  Đây là giao ước đầu tiên Thiên Chúa ký kết với con người.  Một vị Thần linh cao cả mà lại đi ký giao ước với con người!  Đó là điều không tưởng theo suy luận trần thế, nhưng là một điều kỳ diệu của tình thương.  Bởi lẽ ở đời, người ta chỉ ký kết hợp đồng giữa các đối tác tương đương về khả năng tài chính hoặc ảnh hưởng quyền lực.  Một người có số vốn một ngàn tỷ đồng chẳng bao giờ ký hợp đồng làm ăn với người chỉ có vốn vài trăm triệu đồng.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã dùng ngôn ngữ của giới kinh doanh để nói rằng, Thiên Chúa đầu tư luôn luôn chấp nhận lỗ và thua thiệt.  Thiên Chúa là Đấng cao cả.  Abraham chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt, đến người nối dòng còn chẳng có vào lúc gần đất xa trời.  Ấy vậy mà Chúa lại ký kết giao ước với ông, đồng thời hứa hẹn với ông những điều ông không dám mơ ước: đó là một dòng dõi (Dân tộc) và một quê hương (Đất hứa).

Và thế là, từ đời nọ đến đời kia, Chúa luôn trung thành giữ giao ước của Ngài.

Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể đến trần gian để thiết lập giao ước mới.  Nói cách khác, Người đến trần gian để đưa giao ước này lên một tầm cao mới.  Qua Đức Giêsu, mối tương quan Thiên Chúa – Nhân Loại không còn phải qua trung gian như thời xưa nữa, tức là thời của ông Môisen và ông Êlia.  Con người có thể được gặp gỡ trực tiếp Thiên Chúa, “ai thấy Thầy là thấy Cha” (x. Ga 14,9).  Cuộc biến hình trên núi mà cả ba tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều kể lại, chính là một bằng chứng về lòng trung thành của Thiên Chúa.  Những gì Thiên Chúa trong Cựu ước đã ngỏ lời qua truyền thống Lề luật (ông Môisen) và truyền thống Ngôn sứ (ông Êlia) nay đã được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu nhân độ thế.  Đức Kitô vừa là Ngôn sứ vừa là Lề Luật.  Kitô giáo tách ra khỏi truyền thống Do Thái, nhưng không đi ngược lại với truyền thống đó.  Do Thái giáo, hay truyền thống Ngôn sứ và Lề luật nay đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử.  Hình ảnh ông Môisen và ông Êlia đàm đạo với Chúa Giêsu, như một gạch nối và chuyển giao giữa Cựu ước và Tân ước.

Nếu như Thiên Chúa là Đấng trung tín, thì con người lại dễ dàng phản bội.  Lịch sử Cứu độ ghi lại những bất trung của dân riêng.  Đã bao lần Thiên Chúa yêu thương bao bọc và chở che tha thứ, nhưng con người vẫn chống lại Ngài.  Không chỉ lịch sử Do Thái, mà là lịch sử nhân loại, là chính chúng ta, những con người sống ở mọi nơi mọi thời cũng đang có khuynh hướng chống lại Thiên Chúa, khi vô tình hay hữu ý phá vỡ chương trình của Ngài.  Con người từ khởi đầu luôn có khuynh hướng kiêu ngạo chống lại Thiên Chúa và có ý định phản loạn.  Tội lỗi chính là sự phản loạn ấy.  Tội lỗi cũng là sự bất trung.  Tội lỗi gây hậu quả huỷ diệt chính bản thân mình.

Ba môn đệ gần gũi với Thầy Giêsu, là ông Phêrô, Gioan và Giacôbê, đã trải qua kinh nghiệm biến hình.  Các ông được chiêm ngưỡng Chúa như Người là, tức là được chiêm ngưỡng Người trong chính vinh quang do bản tính Thiên Chúa của Người.  Những lúc thông thường khác trong cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đã ẩn vinh quang của Người.  Trên núi cao, Người đã tỏ bày vinh quang cho các ông thấy, như một lời hứa hẹn và khích lệ để khẳng định với các ông: nếu các ông trung tín với Thày, các ông sẽ được chia sẻ vinh quang với Thày.  Trên núi cao, một cuộc thần hiện (Epiphany) kỳ diệu đã diễn ra: lời Chúa Cha khẳng định: Đây là Con Ta yêu dấu, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người.”  Lời này đã vang lên lúc Đức Giêsu chịu phép Rửa ở sông Giordan, để dân chúng nghe thấy và nhận biết Đấng Messia (x. Mt 3,17).  Lời này hôm nay lại vang lên trên đỉnh núi, trong giờ phút Chúa Giêsu biến hình, như một nhắc nhở: hãy trung tín với Người.

Mùa Chay là thời điểm lắng đọng tâm hồn, để tôn vinh Thiên Chúa là Đấng tín trung trong lịch sử nhân loại và lịch sử cá nhân mỗi người.  Mùa Chay cũng là thời điểm tự vấn lương tâm, để soi xét về lòng trung thành của người tín hữu đối với Chúa và đối với tha nhân.  Thánh Phaolô đau lòng ứa lệ khi thấy có những tín hữu bất trung.  Họ không tìm Thiên Chúa, mà chỉ tìm những gì dễ dãi cho đời mình.  Vinh quang và lý tưởng của họ là những thứ chóng qua.  Người yêu mến Chúa sẽ tìm vinh quang thượng giới, là hạnh phúc vững bền.  Chính lòng yêu mến và trung thành sẽ giúp chúng ta biến đổi cuộc đời, trở nên con người mới, mặc lấy Đấng Phục sinh, sáng láng tinh tuyền và vinh quang thánh thiện, như Đấng đã biến hình trên núi năm xưa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

YÊU THƯƠNG KHI TRẺ BƯỚNG BỈNH

Hằng ngày người cha vẫn đứng tựa cửa, đăm chiêu nhìn xa xăm như tìm kiếm con trai mình.  Thất vọng.  Đau khổ.  Có vẻ như không phải hôm nay.  Không phải hôm nay.  Nhưng một ngày nào đó, có thể nó sẽ trở về.  Cứ thế, người cha cô độc vẫn chờ đợi.  Mong mỏi, cầu nguyện và hy vọng.

Dụ ngôn “đứa con hoang đàng” trong trình thuật Lc 15:11–32 bây giờ mang ý nghĩa mới đối với tôi. Dụ ngôn không gọi là “đứa con hoang đàng” nữa, mà là “người cha nhân hậu.”  Tôi không tập trung nhiều vào đứa con nữa.  Tôi tập trung vào người cha.  Theo dõi ông.  Học tập ông.  Noi gương ông.

Tại sao vậy?  Bởi vì hiện nay tôi đặt mình vào vị trí của người cha – mòn mỏi vì lo lắng, thắc mắc, và kiệt sức.  Đáng lo là đứa con mất đức tin, và không biết khi nào nó trở về.  Người cha mòn mỏi vì phải chờ đợi đứa con quá lâu!

Đọc lại câu chuyện này với cái nhìn mới đã giúp tôi phát hiện các nguyên tắc mà trước đây tôi không biết.  Thiết tưởng các nguyên tắc này cũng khả dĩ giúp ích cho những người cha đang mòn mỏi vì con.

1. Giải thoát (Lc 15:11–13)

Khi đứa con đòi chia tài sản, tôi đã cảm thấy khó chịu vì người cha không hề từ chối.  Ông cũng không phân tích điều hơn lẽ thiệt, mặc dù ông có thể làm vậy.  Ông dễ dàng chấp nhận điều kiện của đứa con.

Sau khi chấp nhận chia gia tài, ông cho đứa con ra đi cho thỏa chí tang bồng.  Ông giải thoát nó, để nó chịu trách nhiệm về tương lai và hệ quả mà nó đã tự chọn lựa – dù tốt hay xấu.  Một lúc nào đó, cha mẹ nào cũng cần cách giải thoát này.

Theo cách của người cha trong dụ ngôn, tôi chấp nhận cho con tôi đi theo lối riêng của nó (với sự khôn ngoan và mối quan tâm trong phạm vi cho phép).  Tôi đã phải để nó đi theo quyết định của nó – dù tốt hay xấu – và trải nghiệm cuộc sống, cả đau khổ và vui mừng.  Nó có thể khám phá cả cái đẹp và cái xấu, đồng thời cũng phải tự chịu trách nhiệm.

2. Chấp nhận (Lc 15:14–16)

Đứa con đã quyết định tồi tệ – rất tồi tệ.  Người cha cho phép nó, hoàn toàn tự do, làm gì tùy ý.  Nó đã sống buông thả, sa đọa, tội lỗi, trụy lạc, hư hỏng, gặp chăng hay chớ.  Cuối cùng, nó trắng tay và thất vọng.

Giống như đứa con hoang đàng, con cái của chúng ta cũng được tạo dựng có ý muốn.  Chúng có cách chọn lựa riêng, có cách phân biệt điều tốt và điều xấu, điều phúc và điều tội, Thiên Chúa và ma quỷ.  Thiên Chúa có quyền trên ý muốn của chúng, nhưng cha mẹ không có quyền đó.

Rất khó, nhưng tôi đã chấp nhận.  Tôi chấp nhận nó có tự do chọn lựa.  Tôi không thể làm khác, bởi vì tôi biết nó có thể, và hy vọng vào ơn Chúa, một ngày nào đó nó sẽ trở về, sống ngoan ngoãn và đạo đức.

3. Xác nhận (Lc 15:17–19)

Đứa con hoang đàng đã rơi xuống đáy cuộc đời, không biết thời gian lâu hay mau.  Nhưng tội lỗi của nó đã làm cho nó thất vọng và đau khổ.  Chỉ khi đó nó mới “biết mình là ai.”  Cuối cùng, nó đã thức tỉnh, bắt đầu nhớ nhà và khao khát cảnh gia đình êm ấm ngày xưa.

Khi biết nó sống xả láng, lãng phí tài sản và cuộc đời, có lẽ người cha đã quỳ gối cầu nguyện rất nhiều cho nó, và phó thác nó cho lòng thương xót của Thiên Chúa.  Tôi cũng cầu nguyện cho con tôi, xin cho nó hồi tâm và tỉnh ngộ.  Tôi cầu xin Chúa Thánh Thần đánh động nó và dẫn nó trở về đường ngay nẻo chính, để được tha thứ và được phục hồi.

4. Chờ đợi và đón nhận (Lc 15:20)

Hằng ngày người cha vẫn chờ đợi, trông mong, cầu nguyện và hy vọng.  Ước gì các bậc cha mẹ cũng kiên trì cầu xin Thiên Chúa và được tràn đầy Thần Khí.

Tôi lại cảm thấy “khó chịu” với cách phản ứng của người cha khi “thằng con trời đánh” kia trở về.  Lòng trắc ẩn đã đẩy người cha đi tới phía đứa con khi nó ở bước đường cùng.  Vòng tay ông rộng mở, đầy tình yêu thương.  Trái tim ông đập nhịp yêu thương dồn dập.  Không trách mắng nó, không chì chiết, không nguyền rủa, không giận dữ.  Còn chúng ta thì sao?  Chắc hẳn chúng ta trợn mắt và quát: “Tao tưởng mày đi luôn, không về đây nữa . Mày ngon mà!  Sao không đi luôn đi?  Ra khỏi nhà là thất nghiệp, vắng cha mẹ thì chết đói.  Cá không ăn muối cá ươn mà!”

Tôi cầu xin cho tôi biết phản ứng với lòng yêu thương, tha thứ và đón nhận.  Tôi phải bỏ đau khổ qua một bên trong lúc đó.  Nhờ ơn Chúa, tôi sẽ ôm con tôi trong vòng tay nhân hậu, tha thứ và yêu thương vô điều kiện.

5. Vui mừng (Lc 15:22–23, 32)

Đứa con hoang đàng trở về, ăn năn tội lỗi.  Nó được phục hồi ơn cứu độ mà nó đã đánh mất.  Nó đã chết mà được sống lại và trở về nhà.  Thực sự đó là điều đáng vui mừng lắm.  Làm sao có thể cư xử khác được chứ?

Thiết tưởng đây là thông điệp của dụ ngôn này: Vui mừng đón nhận chứ không kết án đối với một người lầm lạc trở về vì ăn năn sám hối, đó là tặng phẩm ân sủng nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô: “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2:8–9). Như vậy, họ đã tìm ra con đường về nhà qua vòng tay yêu thương và tha thứ của người cha, con chiên lạc đã trở về đúng ràn chiên.

Tôi có thể làm gì khi đứa con hối hận và trở về?  Tôi cũng sẽ vui mừng đón nhận với lòng tha thứ và yêu thương.  Không thể làm gì khác hơn nữa!

Denise Kohlmeyer
Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ DisiringGod.com)

THÂN CÁT BỤI

Mỗi dịp Mùa Chay, chúng ta lại có dịp chiêm ngắm mầu nhiệm về con người.  Con người được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh của Ngài, và với tình yêu nên con người mang nơi mình sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa, nghĩa là con người biết yêu thương và biết đáp trả tình yêu một cách ý thức và tự do.  Tuy nhiên, khi đặt mình vào sự bao la và mênh mông của vũ trụ, con người chỉ nhỏ nhoi như một hạt bụi.  Nghĩ cho cùng, tất cả mọi người cũng chỉ là những hạt bụi hoá thân thành kiếp nhân sinh.  Vì là thân cát bụi, chúng ta sẽ trở về cát bụi.

Tại sao con người lại được ví là bụi đất?  Bụi đất là một cái gì vô giá trị!  Thậm chí nó còn tượng trưng cho cái gì dơ bẩn, là biểu hiệu của cái gì hoang tàn và chết chóc.  Nó không có hình thù cụ thể, không có khuôn mặt; thường bị người ta chà đạp dưới chân.  Nó không tự làm chủ mình, nó bay theo mọi cơn gió; nó bay khắp nơi, đâu đâu cũng là chỗ của nó nhưng nó lại không có một chỗ cư ngụ ổn định.  Bụi đất là thế, nhưng con người thì đẹp đẽ, cao quý đến thế tại sao lại được ví như bụi đất.

Thực ra, hình ảnh tro bụi xuất hiện trong Kinh Thánh nhiều lần.  Trong sách Sáng Thế, Abraham đã nhận mình là thân tro bụi, ông đã thân thưa với Chúa rằng: “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa…”  Còn các Thánh Vịnh gia, khi ý thức được sự yếu hèn của phận người, đã thốt lên rằng: “Người quá biết ta được nhồi nắn bằng gì, hẳn người nhớ: ta chỉ là tro bụi.”

Vì mang thân phận tro bụi, con người yếu hèn và mong manh về mọi phương diện: Yếu đuối về thể lý, tâm lý cũng như tâm linh.  Chỉ cần một cơn gió nhẹ, cũng đủ để làm con người gục ngã.  Con người cũng dễ dàng bị chao đảo, dễ dàng sa vào vòng tội lỗi và hậu quả của tội là sự chết.  Mỗi ngày chúng ta sống nhưng cũng đồng thời chúng ta đang tiến gần đến sự chết.  Dường như cái chết chính là cùng đích của con người.

Tuy ý thức về thân phận bụi đất như thế, nhưng con người không bi quan về thân phận của mình.  Đối với chúng ta là những người Công Giáo, chúng ta tin rằng, chúng ta là hạt bụi, nhưng chúng ta được hóa thân nhờ tình yêu của Thiên Chúa, và theo giống hình ảnh của Ngài nên chúng ta cũng mang nơi mình sự vĩ đại của Ngài.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mặc dù không phải là người Công Giáo, nhưng khi gẫm suy thân phận của con người, ông đã không ngại ngùng để ca ngợi thân phận bụi tro của mình.  “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi…  Ôi, cát bụi tuyệt vời.”  Nó vẫn tuyệt vời ngay khi “lá úa trên cao rụng đầy,” chứ không phải chỉ tuyệt vời khi “vươn hình hài lớn dậy” mà thôi.

Vâng, dường như con người nhận ra thân phận bụi tro của mình, nhưng con người cũng cảm nhận được niềm hy vọng nơi mình.  Vì chính Ngôi hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người, và chấp nhận sự yếu đuối của phận người, nghĩa là Người đã chấp nhận mang lấy thân phận bụi đất của chúng ta, để rồi nhờ cái chết và sự phục sinh của Ngài, bụi đất của ta sẽ được lãnh nhận hơi thở sự sống của Thiên Chúa.  Như thế, bụi tro không còn là cùng đích của chúng ta, dẫu rằng chúng ta vẫn phải trở về bụi tro nhưng tro bụi không còn là điểm tới, nhưng là khởi điểm để đưa con người vào cuộc sống vinh quang bất diệt.

Lạy Chúa,
Trong Mùa Chay này,
Xin cho chúng con nhận ra
Sự nhỏ bé của chúng con.
Chúng con là thân cát bụi
Nhưng là cát bụi tốt lành,
Là cát bụi vô tri,
Nhưng được sống động nhờ sự sống của Chúa,
Là hạt bụi nhơ nhớp,
Nhưng lại được Chúa yêu,
Xin cho chúng con biết chết đi mỗi ngày,
Dám để cho mình được tan biến,
Để cùng được sống lại trong tình yêu vinh hiển của Ngài.

LM Nguyễn Minh Triệu, SJ

HỒI TÂM

Hồi tâm là một hành vi tâm lý, nhìn lại quá khứ để nhận ra những việc mình đã làm.  Có thể đó là những việc tốt, nhưng cũng có thể đó là những việc chưa tốt.  Việc hồi tâm đòi hỏi lòng can đảm và trung thực, vì có nhiều người rất sợ đối diện với lương tâm của chính mình.  Đó là lý do tại sao có những người, sau khi làm điều ác, uống rượu hoặc hút chích ma túy để quên đi quá khứ, để gạt bỏ lời khiển trách của lương tâm.  Hồi tâm giúp chúng ta nhận ra những lầm lỗi của mình, để rồi sửa chữa, uốn nắn và canh tân cuộc đời.

Lời mời gọi “Hãy trở về” cũng có nghĩa là “Hãy hồi tâm.”  Hồi tâm là một trong những thực hành quan trọng của Mùa Chay.  Việc hồi tâm phải được thực hiện trước mặt Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và với thiện chí chừa cải.

Hồi tâm cũng là ôn lại lịch sử đã qua.  Ông Môisen đã chỉ thị cho các tư tế Do Thái, mỗi khi dâng của lễ đầu mùa, phải nhắc lại quá khứ của dân tộc mình.  Quá khứ này vừa kể lại thuở hàn vi nghèo khổ, vừa ghi đậm dấu ấn quyền năng vô biên của Thiên Chúa.  Người Do Thái nhớ lại cha ông mình ngày xưa chịu cảnh lang thang phiêu bạt, nhờ quyền năng của Chúa, họ được định cư và phát triển đông đúc “như sao trên trời và như cát dưới biển.”  Quá khứ đã qua của dân riêng Thiên Chúa vừa huy hoàng, vừa đau khổ.  Lời cầu nguyện của tư tế cũng nhắc tới thời kỳ đen tối, dưới ách nô lệ của người Ai Cập.  Lại một lần nữa, Chúa giang cánh tay uy quyền để giải thoát họ, đưa họ về miền đất hứa.  Đó là lý do để người Do Thái, từ thế hệ này đến thế hệ khác, phải dâng của lễ để tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa (Bài đọc I).

Việc hồi tâm cũng giúp chúng ta lượng giá cuộc sống hiện tại, để nhờ đó, chúng ta luôn khôn ngoan thận trọng trước những cạm bẫy giăng đầy xung quanh.  Thánh Luca đã thuật lại việc Chúa Giêsu vào hoang địa.  Ở đó, Chúa cầu nguyện, ăn chay và chịu cám dỗ.  Tên cám dỗ là ma quỷ.  Nội dung cám dỗ là lời mời gọi ở ba khía cạnh: bánh ăn trong lúc đói; bổng lộc vinh hoa để quên sứ mạng thiên sai; làm những điều ngoạn mục (gieo mình từ nóc Đền thờ) để vui chơi giải trí.  Như chúng ta thấy trong trình thuật của Luca, Chúa Giêsu đã dùng Lời Chúa để đánh bại ma quỷ.

Ba cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã trải qua cũng luôn tồn tại trong cuộc sống của chúng ta.  Quả vậy, bất kể thời nào, lứa tuổi và bậc sống nào, chúng ta cũng bị cám dỗ về ăn uống, về vinh hoa, và thử thách Thiên Chúa.  Hồi tâm chính là nhận ra những cơn cám dỗ ấy, để khôn ngoan can đảm khước từ những lời mời gọi ngọt ngào nhưng chứa nọc độc.  Cám dỗ giống như những viên thuốc độc bọc đường, bên ngoài thì đẹp đẽ, nhưng dễ dàng đầu độc và giết chết chúng ta.

Sau khi thất bại, quỷ rút lui và chờ đợi thời cơ – Thánh Luca kết thúc trình thuật như thế.  Kể cả lúc chúng ta chiến thắng cám dỗ của ma quỷ, chúng ta vẫn phải luôn thận trọng.  Tâm tình cầu nguyện, gắn bó với Lời Chúa sẽ giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng những tấn công của Satan.  “Lời Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng.”  Sức mạnh của chúng ta đến từ Lời Chúa và vào lòng trông cậy vững vàng nơi Ngài.  “Tất cả những ai kêu cầu Danh Chúa sẽ được cứu thoát” (Bài đọc II).

“Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 15).  Giữa biển đời sóng gió phong ba, Chúa Giêsu biết chúng ta sẽ trải qua nhiều cám dỗ.  Người cầu xin Đức Chúa Cha, để Ngài gìn giữ các môn đệ và những ai tin vào Chúa Giêsu.  Người tín hữu không tách rời khỏi thế gian, nhưng sống giữa thế gian với sức mạnh diệu kỳ của Thiên Chúa, để rồi họ chiến thắng nhờ sức mạnh ấy.  Sống tinh thần Mùa Chay là sống tinh thần hoang địa.  Ở đó, giữa thinh lặng và trong tinh thần chay tịnh, chúng ta sẽ gặp Chúa và được đón nhận từ Ngài sức mạnh siêu nhiên, giúp chúng ta thắng cám dỗ đang vây bọc tư bề.

Sau cùng, hồi tâm giúp chúng ta hướng về tương lai, với lạc quan hy vọng.  Chúng ta tin vào tình thương của Chúa và vào lòng nhân hậu của Ngài.  Thiên Chúa là Đấng “không nỡ bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,2), có lẽ nào Ngài bỏ rơi chúng ta, khi chúng ta cậy trông phó thác nơi Ngài?

“Điều gì tốt anh em phải đạt cho bằng được, hãy chiến đấu nếu cần.  Vậy, anh em đừng sợ cám dỗ, nhưng hãy vui mừng, bởi vì chúng đưa đến thành tựu.  Thiên Chúa phù giúp và bảo vệ anh em” (Thánh Barsanuphius)

“Thiên Chúa như một người mẹ ẵm con trên tay bên bờ một vực thẳm.  Trong khi bà mẹ tìm cách giữ con cho khỏi nguy hiểm, thì đứa nhỏ lại cố sức để nhào xuống đó.

Xin Chúa giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng cám dỗ đang bao bọc vây quanh chúng ta, để sống giữa trần gian, mà lương tâm chúng ta vẫn thanh thoát, tâm hồn chúng ta vẫn gắn bó với Chúa trọn đời.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

BUÔNG BỎ THAM SÂN SI

Con người ta thường mệt mỏi là do tâm phiền muộn mà sinh ra nhiều hơn.  Cái tâm chứa đầy tham sân si nên dễ mệt mỏi, thất vọng khi không thỏa mãn điều mình muốn.  Càng tham ái, sân si nhiều càng mỏi mệt…  Chỉ khi con người biết buông bỏ những tham sân si lúc ấy mới thấy tâm bình an và hạnh phúc.

một tỷ phú sống trong căn biệt thự xa hoa.  Rồi một ngày kia mắc bệnh hiểm nghèo, ông chợt nhận ra rằng tất cả những gì là danh vọng, tiền tài và vật chất, thực ra đều hư vô như mây khói.

Vì lo sợ sẽ không sống được bao lâu nữa, ông bèn tìm đến một vị danh y để xin lời khuyên.  Sau khi bắt mạch, danh y nói với ông rằng: “Bệnh của ông ngoài cách này ra thì không thuốc nào có thể chữa khỏi.  Tôi sẽ kê cho ông ba đơn thuốc, ông cứ theo đó mà làm, hết đơn thứ nhất thì chuyển sang đơn tiếp theo.  Ba đơn thuốc đó là: Nghỉ ngơi, cho đi và buông xuống.

Nghỉ ngơi cho tâm hồn thanh thản.  Cho đi để tâm hồn hạnh phúc, và buông xuống để tâm hồn không còn lệ thuộc bởi danh lợi thú trần gian.

Nhưng xem ra muốn nghỉ ngơi, hay muốn cho đi thì con người phải biết buông xả mới có tâm bình an và lòng quảng đại.  Con người cần phải buông đi những lợi danh, buông đi những hận thù tranh chấp, những toan tính nhỏ nhoi thì lòng mới thanh thoát bình an.  Lòng buông xả thì tâm bình an.  Con người còn cần buông đi những đam mê mù quáng, buông đi những thói hư tật xấu mới tìm được hạnh phúc của tự do tâm hồn.

Nguồn gốc của tội lỗi là con người luôn chất chứa những tham sân si.  Con người luôn giữ cho mình những toan tính tham lam, những nóng giận cuồng điên và những mê muội cuồng si.

Khởi đầu mùa chay Giáo hội nhắc nhở chúng ta thân phận con người chỉ là bụi tro, một mai rồi cũng trở về tro bụi.  Lợi danh, quyền quý cũng chỉ là phù vân.  Không có chi tồn tại.  Không có chi vững bền.  Tất cả đều mong manh tan vỡ theo thời gian.  Vậy tại sao chúng ta phải bận lòng với những hư vô ấy?  Tại sao lòng ta lại chất chứa những tham sân si để mang phiền não cho cuộc đời?  Tại sao chúng ta cứ theo đuổi phù vân mà gây nên những bể dâu cho cuộc đời?

Hãy nhìn nhận tất cả chỉ là tro bụi để can đảm buông lòng mình cho Chúa gột rửa khỏi những toan tính trần thế, những hư danh phù phiềm, những đam mê thế tục.  Hãy buông bỏ những danh lợi thú để trở về với Chúa trong chay tịnh khiêm tốn ăn năn.  Khi con người buông bỏ những tham ái, sân si thì cuộc đời ta mới thanh thản, hạnh phúc, tươi vui.  Khi con người buông bỏ những toan tính của danh lợi thú thì cuộc đời ta sẽ không còn những tháng ngày tranh chấp, ganh đua, bon chen giành giật lẫn nhau. . .

Hôm nay ngày Lễ Tro, từng đoàn người lũ lượt lên xức tro, nhưng liệu có mấy ai đã dám buông bỏ mọi sự để trở về với Chúa?  Có mấy ai thực sự không bận lòng trước những bon chen danh vọng, quyền chức, tiền tài?  Có mấy ai thực sự buông bỏ những đam mê tội lỗi, những cuồng si thấp hèn?

Xức tro là biểu hiện lòng sám hối.  Xức tro chỉ đem lại sự tươi trẻ tâm hồn khi chúng ta quyết tâm từ bỏ tội lỗi, tránh xa cám dỗ và làm lại cuộc đời.  Xức tro lên đầu nói lên thân phận yếu đuối của con người và cần đến lòng thương xót của Chúa.  Chúng ta nại đến lòng thương xót của Chúa để được ơn thứ tha, đồng thời nhờ nguồn ân thánh của Chúa sẽ làm mới lại cuộc đời chúng ta.

Ước gì tâm hồn chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui khi biết sám hối ăn năn.  Xin đừng ở lì trong tội khiến tâm hồn chúng ta già nua, thiếu sức sống.  Xin đừng vì lối mòn tội lỗi mà đánh mất sự tươi trẻ trong tâm hồn.  Xin Chúa giúp chúng ta can đảm trở về tắm gội trong đại dương bao la tình Chúa.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

TỰ NHIÊN VÀ LÀNH MẠNH

“Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào!”

 Robert Fulghum viết, “Hầu hết những gì tôi thực sự cần biết về cách sống, điều phải làm và làm như thế nào, tôi đã học được ở trường mẫu giáo.  Trí tuệ không nằm trên đỉnh núi của các trường cao học, mà ở trong mấy hộp cát ở trường mẫu giáo. ‘Tự nhiên và lành mạnh’ biết bao!”

Kính thưa Anh Chị em,

‘Tự nhiên và lành mạnh’ cũng là những gì Lời Chúa hôm nay nói đến.  Thật thú vị, Chúa Giêsu dùng trẻ em để dạy người lớn!  Ngài chỉ ra cách chấp nhận Nước Thiên Chúa như trẻ em chấp nhận; không dè giữ, ngờ vực hay do dự, nhưng cởi mở, vui tươi và đơn sơ.  Hơn nữa, Tin Mừng còn tiết lộ một sự thật tinh tế khác, đó là sự cần thiết của một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh!’

Thế giới chúng ta đang sống ngày càng có xu hướng đồi trụy và ham muốn sai lầm của con người. Từ “Chiếm hữu và thống trị” được nhắc đến nhiều trong hai ngày qua, khi Nga đem quân tiến vào Ukraine.  Sự thèm muốn nhục dục có xu hướng thống trị nền văn hoá của chúng ta theo cách gần như bình thường, khi con người coi người khác là đối tượng của ham muốn.  Điều này nhan nhản trên các trang mạng và các ‘shows’ quảng cáo.  Tội lỗi do dục vọng tràn lan, ảnh hưởng đến con người tới mức ràng buộc nó, đến nỗi nạn nhân không thể thoát ra.  Kết quả đáng buồn là, có vẻ như con người ngày nay đã mất đi những tình cảm trong sáng và hồn nhiên đối với tha nhân, nhất là với người khác phái.  Trong một nền văn hoá bị ‘tình dục hoá’ quá mức như thế, chúng ta có thể dễ dàng bắt đầu nhìn mọi thứ qua lăng kính vọng tưởng và vọng động.  Kết quả là, sự hiểu biết về một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’ nơi con người bị đánh mất!

Chúa Giêsu nói, “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Thầy”; Marcô viết tiếp, “Rồi Ngài ôm chúng, đặt tay, chúc lành cho chúng.”  Như vậy, Tin Mừng đã tiết lộ một tình cảm thánh thiện, ‘tự nhiên và lành mạnh’ mà Chúa Giêsu đã dành cho những trẻ này cũng như cho mỗi người chúng ta.  Tuy nhiên, không chỉ trẻ em mới đến với Ngài; một người phụ nữ ngoại tình đã ‘bám lấy’ chân Ngài; một phụ nữ khét tiếng khác, “lấy nước mắt tưới ướt chân, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm đổ lên”; và Gioan tông đồ, người đã “tựa đầu vào lòng” Ngài trong Bữa Tiệc Ly. 

Tình cảm của con người phải được ‘thanh tẩy và cứu chuộc’ theo cách nó được dâng hiến cho người khác mà không một động cơ ích kỷ nào có thể len vào; và dĩ nhiên, không có những ham muốn tình dục rối loạn!  Một khi điều này được thực hiện, như Chúa Giêsu đã làm, thì cái ôm của cha mẹ đối với con cái, của một người bạn với một người bạn, vợ hoặc chồng với người phối ngẫu của mình… sẽ trở thành một biểu hiện thánh thiện, ‘tự nhiên và lành mạnh’ của một tình yêu trong sáng trong trái tim Chúa Kitô.  Để có được một tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’, thánh Giacôbê hôm nay nhắc nhở chúng ta phải cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh, cho mình và cho mọi người; cầu nguyện kiên trì như Êlia.  Chỉ có cầu nguyện mới có thể không dè giữ, ngờ vực hay do dự, nhưng cởi mở, vui tươi và đơn sơ trước mặt Chúa như trẻ nhỏ trước mặt cha mẹ, đúng như tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca, “Ước chi lời con nguyện, như hương trầm bay toả trước thánh nhan!” 

Anh Chị em,

Hôm qua, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đích thân đến toà Đại Sứ Nga tại Vatican; nghĩa cử này được xem là một diễn biến chưa từng có về mặt ngoại giao.  Dẫu báo chí có thể đoán già đoán non hoặc cắt nghĩa nội dung cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha cách này cách khác; nhưng chúng ta có thể tin chắc, với tình cảm ‘tự nhiên và lành mạnh’ của một người cha, một vị lãnh đạo tinh thần của thế giới, thay mặt Chúa Kitô, ngài đến để cầu xin hoà bình cho Ukraine.  Cũng thế, chúng ta hãy nghĩ đến những gì mỗi người chúng ta có thể làm để đem lại sự trong sáng và hồn nhiên cho môi trường của mình, một môi trường vốn đã bão hoà với một nền văn hoá quá nhiều tạp chất gây ra sự nhầm lẫn về cách nhìn nhận tha nhân.  Chúng ta hãy cầu nguyện để trở nên những sứ giả tiếp tục tặng ban một tấm lòng trong sạch; qua đó, chính Chúa Giêsu sẽ mời nhiều người đến với Ngài qua lòng nhân ái và tình cảm ‘thánh khiết’ của chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi mọi cám dỗ hưởng thụ, lây nhiễm từ một nền văn hoá thế tục; thay vào đó, cho con thể hiện một tình yêu vị tha ‘tự nhiên và lành mạnh’ như Chúa”, Amen. 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 KHÔN NGOAN VÀ BÁC ÁI

Trong kho tàng ca dao tục ngữ của Việt Nam, có rất nhiều lời căn dặn phải khôn ngoan trong lời nói.  Sở dĩ phải cẩn trọng, vì “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” – một lời nói ra, con ngựa Tứ khó đuổi kịp (lưu ý: tứ mã ở đây không phải là 4 con ngựa mà là con ngựa giống Tứ, chạy rất nhanh ở Trung Quốc).  “Rượu ngon uống mãi cũng say, người khôn nói mãi dẫu hay cũng nhàm.”  Lời nói tạo phong cách và tăng thêm giá trị của người, “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”  Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã vận dụng những câu ca dao tục ngữ đương thời để giáo huấn dân chúng.  Người muốn khẳng định: hãy cẩn trọng trong lời nói, hãy suy nghĩ trước khi nhận định và nhất là đừng lên án ai.  Chúng ta có thể dễ dàng thấy, những điều Chúa nói trong Tin Mừng rất quen thuộc và phù hợp với mọi người, mọi trình độ văn hoá.  Những lời dạy của Chúa Giêsu cũng mang nội dung giáo huấn của các bậc khôn ngoan thời Cựu ước, ví như bài đọc I, trích sách Huấn Ca.  Những lời này cũng có thể là những lời mẹ ru con trong nôi, để rồi những giá trị sống ấy thấm nhập nơi mỗi con người từ thuở sơ sinh, góp phần tạo nhân cách khi những em bé ấy đến tuổi trưởng thành.

Thánh sử Luca, trong Tin Mừng Chúa nhật này, đã ghi lại một chuỗi ba câu chuyện dụ ngôn.  Một lần nữa, Chúa Giêsu lại dùng những hình ảnh đi cặp đôi với nhau: người mù và người sáng; cái xà và cái rác; cây tốt và cây xấu.  Những hình ảnh này đều mang ý nghĩa giáo huấn rất sâu sắc, giúp người tín hữu suy tư và chọn lựa hướng đi cho đời mình.  Có thể nói ba cặp từ này mang ba giáo huấn riêng biệt.

–   Người mù mà dắt người mù được sao?  Mỗi người sống ở đời cần chọn cho mình một hướng đi hay một lý tưởng.  Người sống không có lý tưởng, giống như cây sậy phất phơ hoang dại, gió chiều nào thì theo chiều ấy.  Khi chọn lựa lý tưởng và mẫu mực cho đời mình, mỗi người đều phải khôn ngoan cân nhắc.  Không ai chọn một người mù làm người dẫn đường.  Khái niệm “người mù” ở đây không có nghĩa là người khiếm thị, nhưng là người thiếu hiểu biết, thiếu khôn ngoan hoặc là người không đủ tư cách.  Là tín hữu, chúng ta chọn Chúa Giêsu là lý tưởng.  Người đã tuyên bố: “Tôi là Đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14,6).

–   Cái xà và cái rác: con người sinh ra, đơn sơ mỏng manh như chiếc lá.  Phải cần có thời gian để trưởng thành.  Với sự dạy dỗ của cha mẹ và những người có trách nhiệm, chúng ta mới cứng cáp từng ngày.  Hiện diện trong cuộc sống, mỗi chúng ta có một cá tính, giống như mỗi người có tên gọi, có diện mạo và sở thích riêng.  Sự khác biệt làm nên tính phong phú đa dạng trong cuộc sống.  Vì vậy, không ai được lấy mình làm tiêu chuẩn để xét đoán phê phán người khác.  Sự chênh lệch giữa hai hình ảnh Chúa Giêsu dùng để so sánh, cho thấy khuynh hướng tự tôn: một bên là cái xà, rất to và rất nặng; bên kia là cái rác, đơn giản và nhẹ nhàng.  Vậy mà thông thường, người ta chỉ thấy cái rác trong mắt người khác mà không thấy cái xà nghiêm trọng hơn trong con mắt của mình.  Để thấy được cái xà trong mắt mình, cần có sự khiêm tốn và vị tha.

–   Cây tốt và cây xấu: mỗi người là một cây Chúa trồng trong vườn đời.  Lòng bao dung, quảng đại và nhân ái chính là hoa thơm trái ngọt chúng ta cần đem lại cho đời.  Lòng ích kỷ, gian tham và mưu mô mánh lới chính là những trái đắng, làm phương hại đến bản thân, trước khi gây hậu quả tai hại cho người khác.  Chất lượng của một cây không thể hiện ở dáng vẻ bên ngoài, nhưng hoa thơm trái ngọt mới đem lại giá trị của cây ấy.  Vì thế, lời nói tốt, việc làm thiện hảo và trái tim nhân hậu chính là bằng chứng nhân cách của một người tín hữu đích thực và là một cây tốt trong vườn đời.

Tội lỗi sinh ra nơi chúng ta những khuynh hướng xấu.  Đó là sự ích kỷ, tham lam và hận thù.  Đức Giêsu đã giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và tử thần.  Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy cậy dựa vào Chúa Giêsu để được chiến thắng.  Thay vì dùng thời gian và tâm huyết vào những chuyện vô bổ để đoán xét người khác, thì hãy “tích cực tham gia vào những công việc của Chúa, với xác tín rằng: trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (Bài đọc II).

Nền tảng giáo huấn của Chúa Giêsu dựa trên đức ái.  Đức ái là lòng yêu mến dành cho từng người và hết mọi người.  Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe Chúa mời gọi: hãy yêu thương cả kẻ thù và cầu nguyện cho họ.  Nhờ có đức ái mà chúng ta sống hài hoà nhân ái với người khác, không xét đoán và không lên án họ, bởi lẽ mỗi chúng ta cũng mang nhiều bất toàn và yếu đuối.  Thay vì dò xét bới móc người khác, chúng ta hãy cố gắng đào luyện bản thân.  Khi quan sát những điều bất toàn nơi người khác, ta tự nhắc mình phải cẩn trọng; khi thấy nơi người khác có những điểm tốt lành, ta coi đó như những mẫu gương, để học hỏi, phấn đấu và thăng tiến trong đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

XÉT ĐOÁN

Đừng tự xét đoán, tự nó đã nói lên phần nào tính chất mơ hồ rồi.  Xét đoán được ghép bởi hai động từ khác nhau là xét và đoán.   Xét là tìm hiểu.  Đoán là phỏng chừng.  Xét thì khó vì phải tìm hiểu hoàn cảnh, phải kiếm nguyên nhân, phải phân tích để có dữ kiện rõ ràng.  Đoán thì dễ hơn, chỉ cần ước lượng là thế, phỏng chừng như vậy.  Động từ đoán dựa trên những điều không đủ chắc, không rõ sự thật.  Khi nói xét đoán một người thì có phần xét và cũng có phần đoán.  Nhiều khi phần đoán lại nhiều hơn phần xét.  Sai lầm nẩy sinh từ đó.

Trước khi tìm hiểu Kinh Thánh nói về vần đề xét đoán, tôi muốn nhìn xét đoán trong một yếu tố liên hệ giữa con người trên bình diện tự nhiên.  Yếu tố đó là: phức tạp của vấn đề trong việc xét đoán.  Có hai thứ phức tạp.  Phức tạp nơi đối tượng bị xét đoán, chẳng hạn như hoàn cảnh, lương tâm của khách thể.  Và phức tạp nơi chủ thể xét đoán, chẳng hạn như giới hạn tri thức của chủ thể, ảnh hưởng tình cảm của chủ thể khi xét đoán.

Phức tạp nơi đối tượng

“Không ai tắm hai lần trên một dòng sông.”  Dòng nước chảy.  Đã đi.  Sẽ mất mãi.  Chẳng ai có được hai lần cái tâm tình lúc tuổi mười tám.  Hôm qua đứng bên dòng sông.  Hôm nay trở lại.  Dòng sông còn đó.  Tôi còn đây.  Nhưng không phải là tôi của ngày hôm qua.  Không phải là dòng sông hôm cũ.  Nước hôm qua của dòng sông đã mất.  Mây trên bầu trời hôm qua đã tan loãng.  Đâu rồi?  Và tôi, tâm tình cũng đã đổi thay.  Hôm qua gặp dòng sông thì tâm tình của tôi không thể là nhớ dòng sông được, vì đã xa cách đâu mà nhớ.  Hôm nay trở lại, vì có nhớ dòng sông tôi mới tìm đến.  Như vậy, trong tôi đã mang chất nhớ nhiều hơn hôm qua.  Tất cả đều biến chuyển.  Khi xét một vấn đề mà xét trong hoàn cảnh mọi sự đều thay đổi thì khó mà chính xác.  Trong tôi có thương, nhưng đồng thời cũng có giận.  Tôi ghét đó, nhưng tôi vẫn yêu.  Đâu là ranh giới mà phương pháp khoa học có thể vẽ lằn mức rõ ràng?

Khi xét một vấn đề phải xét trong bối cảnh của nó.  Mà hoàn cảnh của mỗi người là một thế giới chằng chịt những phức tạp chi ly.  Tôi cũng chưa biết rõ về tôi đủ thì làm sao có thể biết rõ về người?  Càng phức tạp thì càng dễ có sai lầm.

Xét một vấn đề lại phải có tiêu chuẩn để xét, nếu không có tiêu chuẩn người ta không thể đi đến kết luận.  Hai cộng với hai không phải là ba.  Vì tôi đã có tiêu chuẩn hai cộng với hai là bốn.  Sống trong tập thể, con người tuân theo tiêu chuẩn của xã hội.  Nhưng tiêu chuẩn luân lý sâu thẳm vẫn do chính Chúa trong tiếng nói lương tâm.  Câu chuyện người đàn bà ngoại tình trong Phúc Âm nói lên rõ điều này.  Với tiêu chuẩn của tập thể mà xét đoán thì bà phải bị ném đá chết vì những hành động tội lỗi.  Nhưng tiêu chuẩn của Chúa lại khác.  Trước mặt xã hội bà bị kết án.  Trước mặt Chúa bà được thứ tha (Gn 8,1-11).  “Ngươi chỉ nhìn thấy trước mắt còn Yavê trông thấy điều ẩn náu trong lòng” (1Sam 7).  Chính điều “ẩn náu trong lòng” này là yếu tố quyết định tối hậu cho việc xét đoán thì tôi lại không bao giờ biết được.

Điều “ẩn náu trong lòng” là lương tâm.  Đề cập đến lương tâm là đề cập đến vấn đề riêng tư nhất.  Đã là riêng tư thì làm sao tôi biết.  Mà không biết thì làm sao tôi định lượng giá trị.  Tôi có kinh nghiệm của riêng đời tôi.  Lương tâm người khác thì tôi đành chịu.  Thí dụ, một người ăn trộm một trăm đồng.  Hành động ăn trộm chưa phải là tội.  Nếu họ bị khủng bố, cưỡng bách thì sao có thể là tội?  Tôi thấy hành động ly dị, ngoại tình.  Nhưng nguyên do đưa đến?  Mức độ ý chí lương tâm của họ ra sao?  Tôi không thể biết.  Khi không xét được, không biết đủ sự kiện thì tôi đoán chừng.  Có đoán chừng là có sai lạc.

Hành động phạm tội chưa phải là tội cho đến khi có mặt của ý chí và lý trí.  Mà mức độ ý chí, khả năng lý trí, lương tâm kẻ khác thì tôi không biết.  Như vậy, xét đoán của tôi có thể dựa trên hành động ngoại tại.  Mà hành động bên ngoài, tự nó chưa có giá trị quyết định, thì công việc xét đoán của tôi có giá trị không?  Làm sao có thể có một giá trị vững chắc khi mà giá trị đó xây dựng trên một nền tảng không có giá trị vững chắc?  “Ngươi là ai mà xét đoán gia nhân người khác?  Nó đứng hay nó ngã, mặc chủ nó, song nó sẽ đứng vững, vì Chúa có đủ quyền năng cho nó đứng vững” (Rom 14,4).

Phức tạp nơi chủ thể

Cái phức tạp rõ ràng nơi tôi là sự giới hạn tri thức của tôi.  Có điều hôm qua nhớ, hôm nay đã quên.  Trí tuệ và sự hiểu biết không hoàn hảo thì không bao giờ tôi có một xét đoán hoàn toàn trung thực.  Muốn xét đoán đúng, tôi phải biết rõ, thông suốt.  Điều này chỉ có Chúa mới đủ khả năng mà thôi.

Tôi đã có hình ảnh không đẹp về một linh mục.  Gần một năm trời tôi nhìn linh mục với hình ảnh như vậy.  Mùa hè năm đó, linh mục mua cây về trồng chung quanh nhà xứ.  Việc đào hố trồng cây đã không được tính toán kỹ, nên phải làm đi làm lại nhiều lần.  Số tiền trả nhân công quá tốn.  Tôi thấy linh mục làm việc không có chương trình, kế hoạch rõ ràng.  Số tiền ấy để làm được bao nhiêu việc quan trọng khác?  Mùa hè năm sau, trở lại giáo xứ cũ, Chúa đã cho tôi một ân sủng, một kinh nghiệm về xét đoán tha nhân.  Đối với tôi, linh mục đã là người tiêu tiền của nhà xứ không tính toán.  Mùa hè lần này, trong lúc nói chuyện với cha già đã về hưu, tôi phàn nàn về việc cha xứ tiêu tiền như vậy.  Lúc đó, cha già cắt nghĩa cho tôi hiểu là trong giáo xứ có mấy gia đình nghèo quá không đủ gạo ăn.  Cha xứ thì tế nhị không muốn giúp đỡ họ bằng tiền bạc vì họ sẽ mang ơn.  Cha đã bày việc để gọi mấy đứa con của họ đến nhà xứ làm, hầu cha xứ lấy cớ trả công cho họ.  Hành động quá tế nhị đến nỗi họ không hề biết là cha xứ muốn giúp đỡ gia đình họ.  Cha muốn họ nghĩ là tiền lương do công của con họ làm để họ khỏi phải mang ơn ngài.

Nghe xong câu chuyện, tôi thấy như nắng chiều nhạt xuống.  Nặng nề trong hồn.  Đó là hình ảnh quá đẹp của một linh mục sống đức tin.  Tôi thấy mình đã nhỏ nhoi và tầm thường.  Gần một năm trời tôi đã giữ hình ảnh không đẹp về linh mục đó.  Bây giờ tôi mới hiểu những việc rất thường mà tiền công thì cha trả rất nhiều.  Đối với tôi, linh mục đã là người không biết tính toán để tốn tiền bạc.  Nhưng chính ngài đã tính toán rất cẩn thận để tìm lối giúp đỡ giáo dân của mình.  Tình thương bao giờ cũng có sáng kiến.

Nếu tôi đem câu chuyện linh mục tiêu phí tiền bạc của nhà xứ mà nói cho những người khác để họ cũng có hình ảnh xấu về linh mục như vậy thì tội nghiệp cho ngài biết bao.  Nếu tôi có nói xấu thì chắc ngài cũng không đính chính việc ngài làm.  Những tâm hồn cao thuợng là những tâm hồn dám âm thầm chấp nhận đau đớn cho một lý tưởng.  Những tâm hồn nhỏ nhen khi thấy người khác im lặng thường coi đó như một chiến thắng.  Những xét đoán sai lầm và nói cho người khác để rồi họ không hiểu đúng về một người, trước mặt Chúa có thể là lỗi rất nặng.  Phúc Âm thánh Gioan gọi những xét đoán đó là: “Các ngươi căn cứ vào xác thịt mà xét đoán” (Gn 8,15).

Tôi thiếu tri thức nhận diện dữ kiện để nhìn ra sự thật.  Tri thức nào có đủ khả năng để đi vào những chi ly, phức tạp như văn hóa, giáo dục, tập quán, gia đình, tâm lý, sức khỏe của cả chủ thể xét đoán và khách thể bị đoán xét?

Một nghịch cảnh thông thường, nhưng đáng sợ nằm ẩn kín trong tôi đó là tình cảm của mình.  Thương ai tôi muốn làm vừa lòng người đó.  Tôi nhớ.  Tôi mong.  Nếu nỗi nhớ càng sâu và nỗi mong càng cao thì những sai lầm mà tôi sẵn sàng làm để chiều lòng người đó càng nặng.  Tình cảm có sức ma thuật che mờ lý trí và đẩy ý chí vào hành động cuồng dại.  Nó quá nhẹ nhàng nên tôi không nghe tiếng động. Nó quá sắc nên tôi không thấy vết thương.  Xét đoán của tôi không sao tránh khỏi “căn cứ vào xác thịt mà xét đoán.”

Lạy Chúa, con không thể nhìn thấu suốt tâm hồn tha nhân được, vì thế xét đoán của con bao giờ cũng là xét đoán “căn cứ vào xác thịt.”  Căn cứ vào xác thịt thì có sai lầm.  Khi con xét đoán sai lầm là con gây bất công cho kẻ khác.  Xét đoán của con không làm tha nhân ra xấu thêm, nhưng hậu quả của nó là làm con mất bình an.  Tâm hồn con không còn thanh thản, tươi sáng nữa, mà vương vấn vì những ý nghĩ đen tối.  Con đã tự đem mảnh trời u ám mặc lấy hồn mình.

Từ ý nghĩ xấu về tha nhân sẽ làm con xa tha nhân.  Từ chỗ xa cho đến chỗ nói thêm về tha nhân những điều họ không có là một bước rất gần.  Từ đó, bức tường ngăn cách cứ thế mà xây cao.  Nghi kỵ loang ra như một vềt dầu, làm hoen ố tất cả hồ nước xinh đẹp của cuộc sống.  Khi con xây tường cũng ngăn cách chính mình.  Thí dụ, Phúc Âm đã thuật lại thái độ của Pharisiêu.  “Các người thu thuế cùng những kẻ tội lỗi thường lui tới bên Ngài để nghe Ngài.  Và Biệt Phái kêu trách.  Họ nói: ông ấy tiếp nhận quân tội lỗi và cùng ăn với chúng” (Lc 15,1-2).  Thái độ của những người Pharisiêu luôn luôn là xét đoán.  Xét đoán đem đến đối nghịch.  Pharisiêu đã tự tách biệt họ ra, nhưng sự tách biệt này lại cô lập chính họ với ân sủng thiêng liêng là chính Chúa.

Phúc Âm dạy về xét đoán

Chỉ có Chúa mới thấu suốt tâm hồn mọi người, nên Chúa Cha đã dành quyền xét xử cho một mình Chúa mà thôi: “Mọi việc xử án ban cho Con” (Gn 5, 22).  Như thế, khi con phán đoán để xét xử về một người là con giành quyền đó của Chúa.  Thánh Giacôbê cũng viết: “Xét đoán anh em là xét đoán Lề Luật.  Nếu ngươi xét đoán Lề Luật thì ngươi không còn là kẻ giữ Luật, mà là Thẩm Phán.  Chỉ có một Đấng lập Luật và là Thẩm Phán, Đấng có quyền cứu rỗi và tiêu diệt.  Ngươi là ai mà dám xét đoán đồng loại” (Gc 4, 11-12).  Con lấy quyền không thuộc về con là con đã tái lập lại tội của Adong, Evà ngày xưa là “muốn trở nên như Thiên Chúa biết cả tốt xấu” (Kn 3, 5).  Ý nghĩa sâu xa của tội xét đoán là ở đó, chứ không phải chỉ là gây bất công.

Với tiêu chuẩn của xã hội, khi thấy một người sa ngã, xã hội kết án ngay.  Kẻ bị kết án thì đau khổ một mình.  Nhưng nguyên nhân của sa ngã có thể là do một người khác đã rải gai xuống lối đi của họ.  Biết đâu những gai đó đã do chính con gây ra.

Hoàn cảnh, lương tâm của một người là vùng đất vô cùng thánh, con không thể dẵm chân vào được, chỉ có Chúa mà thôi.

Chúa đã căn dặn con trong Phúc Âm thánh Gioan rất chi tiết: “Ta không xét xử ai, và nếu ta có xét xử, thì án của Ta chân thật, vì Ta không chỉ một mình nhưng có Ta và Đấng đã sai Ta” (Gn 8,15-16).  Trong mọi biến cố, Chúa cầu nguyện với Chúa Cha, rồi thi hành ý của Chúa Cha.  Riêng việc xét xử, thì chẳng những Chúa xét xử theo ý Chúa Cha, hơn nữa, Chúa không xét xử một mình, mặc dù đã được Chúa Cha trao quyền, mà Chúa lại còn xin Chúa Cha xét xử cùng với mình.  Cách cư xử cẩn thận của Chúa làm con lo sợ vì đã bao lần con quá coi thường, xét xử tha nhân.

Thánh Phaolô cũng căn dặn con: “Chính điều ngươi xét đoán kẻ khác, ngươi kết án chính mình ngươi” (Rom 2,1).  Và khi con xét đoán người khác là con “khinh thường kho tàng phong phú là lòng nhân từ, kiên nhẫn và quảng đại của Chúa” (Rom 2,4).

– Nếu con cần lòng nhân từ của Chúa đối với con thì tại sao lại khinh thường lòng nhân từ của Chúa với người khác?

– Nếu con cần lòng kiên nhẫn của Chúa để con có thời gian làm lại cuộc đời sau khi lầm lỗi thì tại sao con lại khinh thường lòng kiên nhẫn của Chúa với người khác?

– Nếu con cần lòng quảng đại của Chúa đối với sa ngã của con thì tại sao con lại khinh thường lòng quảng đại của Chúa với người khác?

Lạy Chúa, con cần ơn Chúa rất nhiều để kìm hãm mình khi con muốn xét đoán kẻ khác, vì đây là lời mời gọi cám dỗ rất nguy hiểm, nó đã gây nên biết bao đổ vỡ, xa cách.  Một thứ cám dỗ rất nguy hiểm được bao bọc bằng những lý do hết sức tinh vi.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J
Trích trong “Nước Mắt và Hạnh Phúc”

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng.  Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không?  Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không?  Nhà hoạt động xã hội trẻ có thật sự yêu người nghèo không?  Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai?  Yêu người khác?  Yêu bản thân?  Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác?  Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó?  Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta?  Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này.  Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta.  Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật.  Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng.  Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm.  Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế.  Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng.  Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng.  Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu.  Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần.  Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế.  Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia.  “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều.  “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta.  Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không.

Ai nói đúng đây?  Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình?  Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu.”  Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật.  Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể.  Nó là một cảm giác hợp nhất…  Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu….  Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai.’”  Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều.  Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó.

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là.  Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu).  Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình.  Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra.  Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác.

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác.  Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự ti đều không vươn đến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

Rev. Ron Rolheiser, OMI