MƯỜI BÀI HỌC THIÊNG LIÊNG TỪ THÁNH NỮ TÊRÊSA AVILA

Chỉ cách nhau hai tuần trong Lịch Phụng Vụ, chúng ta kính nhớ hai vị thánh tuyệt vời, đầy cảm hứng và đáng mến, những người thật sự yêu thương chúng ta và cũng mong chúng ta đáp lại tình yêu của họ: thánh Têrêsa Lisieux và thánh Têrêsa Avila.

Chúng ta mừng kính thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu ngày 1 tháng 10; còn ngày 15 tháng 10 là lễ nhớ thánh Têrêsa Avila.  Vậy điểm chung giữa hai vị thánh này là gì?  Cả hai đều là phụ nữ, đều thuộc số ít nữ Tiến sĩ Hội thánh, đều là những nhà chiêm niệm tuyệt vời, đều là những nữ tu dòng kín Cát Minh, nhưng điều quan trọng nhất là họ đều đã, đang, và sẽ mãi đến muôn đời là những hiền thê vĩ đại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ ta.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi muốn tri ân thánh Têrêsa Avila và nêu bật mười đóng góp vĩ đại của thánh nữ cho Giáo hội Công giáo và cho mỗi người chúng ta, như một mẫu gương về sự thánh thiện mà tất cả chúng ta đều được mời gọi noi theo.  Hãy nhớ lại những lời của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ ta, đã nói trong Bài giảng trên núi: “Anh em hãy nên thánh, như Cha anh em trên trời, là Đấng thánh.” (Mt 5, 48)

Nên thánh và đạt tới một đời sống thánh thiện không phải một điều kiện phụ thuộc, một ước muốn viễn vông, càng không phải là điều chỉ riêng một số ít được mời gọi, mà là điều dành cho tất cả chúng ta.  Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đặt ra cho ta một thách thức với những lời đánh động này: “Nên thánh không phải là đặc ân của thiểu số, mà là bổn phận của tất cả mọi người.”

Bây giờ, hãy cùng hướng nhìn lên thánh Têrêsa Avila, người sẽ dẫn dắt ta đến với Đức Giêsu, Đấng là Chúa, là Đấng Cứu Thế, và là Người Bạn trung tín của chúng ta.

1. Cầu nguyện

Một trong những điểm nổi bật về các mức độ thiêng liêng sâu xa của thánh Têrêsa Avila là tầm quan trọng của việc cầu nguyện.  Dù gặp không ít khó khăn trong nhiều năm dài, thánh nữ vẫn dạy ta một chân lý thiêng liêng căn bản nhưng không thể thiếu: Hãy kiên trì trong việc cầu nguyện!  Hãy suy ngẫm và ghi nhớ những lời bất hủ đầy khôn ngoan này của thánh nữ: “Chúng ta phải có một quyết tâm vững chắc để không bao giờ từ bỏ việc cầu nguyện.”

Đức Giêsu đã dạy chúng ta chân lý tối quan trọng này qua dụ ngôn bà góa kiên trì và quan tòa bất chính.  Nhờ lòng kiên trì và bền chí, người đàn bà góa cuối cùng cũng nhận được sự giúp đỡ từ vị quan tòa vô tâm lạnh lùng (Lc 18, 1-8).  Thánh Têrêsa nhấn mạnh rằng chúng ta không bao giờ được từ bỏ việc cầu nguyện.  Nếu bạn cần một phép ví von: không khí cần thiết cho phổi thế nào thì cầu nguyện cũng cần thiết cho linh hồn như thế.  Một lá phổi khỏe mạnh cần nguồn khí trong lành và liên tục; một linh hồn khỏe mạnh cũng cần hít thở không ngừng bằng việc cầu nguyện liên lỉ— nguồn ôxy của linh hồn!

2. Định nghĩa việc cầu nguyện

Thánh Tôma Aquinô cho chúng ta một lời khuyên đơn giản nhưng vô cùng chắc chắn: hãy định nghĩa một chủ đề thật rõ ràng trước khi nói về điều đó.  Bằng cách này, ta có thể tránh được nhiều hiểu lầm.  Thánh Têrêsa Avila đã đưa ra một trong những định nghĩa kinh điển về cầu nguyện trong lịch sử Giáo hội: “Cầu nguyện không gì khác hơn là dành thời gian dài lâu một mình bên Đấng mà tôi biết là Ngài yêu tôi.”

Một đúc kết ngắn gọn?  Hai người bạn yêu thương nhau!  Chính Đức Giêsu đã gọi các tông đồ là bạn hữu – và chính chúng ta cũng được mời gọi để nên bạn hữu với Thầy Giêsu!

3. Tình yêu với Chúa Giêsu

Thánh Têrêsa cho chúng ta một gợi ý để thăng tiến trong đời sống cầu nguyện.  Vị nữ Tiến sĩ Hội thánh này từng nói rằng ngài nhận được rất nhiều ân sủng khi suy ngẫm về nhân tính của Chúa Giêsu.  Dành thời gian cùng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, và bước vào cuộc trò chuyện với Người là con đường vững bền để thăng tiến trong cầu nguyện.  Hãy thử xem!  Trong tập sách Linh Thao, thánh Inhaxiô Loyola nhấn mạng việc cầu xin ân sủng này: “Ơn hiểu biết sâu sắc về Chúa Giêsu để chúng ta yêu Ngài cách nồng nhiệt hơn và bước theo Ngài cách gần gũi hơn.”

4. Yêu mến Chúa Giêsu trong những đau khổ của Người

Dường như giữa các vị thánh có một mẫu số chung – lời mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu của Đức Giêsu qua cuộc thương khó đau khổ của Người – thánh Piô Năm Dấu, thánh nữ Catarina thành Siêna, thánh nữ Faustina và thánh nữ Têrêsa Avila.  Phần thánh Têrêsa, thánh nữ đã có một trải nghiệm thần bí về Chúa Giêsu Chịu Khổ Nạn (Ecce Homo: này là Người); ngài đã nhìn Đức Giêsu đầu đội mạo gai, và điều này đã thúc bách thánh nữ yêu mến Chúa Giêsu nhiều hơn.

5. Chúa Thánh Thần: Vị Thánh Sư trong cầu nguyện

Có một lần, thánh nữ gặp khó khăn trong việc cầu nguyện và đã tìm đến một linh mục Dòng Tên để xin lời khuyên về cách vượt qua khó khăn này.  Lời khuyên của vị linh mục rất đơn giản và đi thẳng vào trọng tâm, nhưng nó đã làm thay đổi đời sống của thánh nữ!  Cha đã nhấn mạnh việc cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.  Kể từ đó, khi nghe theo lời khuyên này mà cậy dựa nơi Chúa Thánh Thần, đời sống cầu nguyện của thánh Têrêsa đã cải thiện đáng kể.  Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô cũng nhắc lại điều tương tự: “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả.” (Rm 8, 26).  Hãy để chúng ta được dẫn dắt bởi Thầy Dạy tốt nhất trong các thầy, Bậc Thầy nội tâm của việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần.

6. Hướng dẫn thiêng liêng

Để thăng tiến không ngừng trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cần một hình thức hướng dẫn thiêng liêng nào đó.  Chúng ta ai cũng từng kinh nghiệm về sự mù tối trong đời sống thiêng liêng.  Ma quỷ có thể trá hình hoặc giả trang thành thiên thần ánh sáng.  Và ta càng tiến xa trên con đường thiêng liêng, những chiêu trò và cám dỗ của ma quỷ càng tinh vi – “như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5, 8-9).

Trong suốt cuộc đời mình, thánh nữ Têrêsa Avila đã tìm đến sự hướng dẫn từ nhiều vị linh hướng, và một số trong đó hiện nay đã được phong thánh: thánh Gioan Thánh Giá (dòng Cát Minh), thánh Phanxicô Borgia (Dòng Tên), thánh Phêrô thành Alcantara (dòng Phan Sinh), và cuối cùng là cha Jerome Gracian – một học giả và nhà thần học nổi tiếng dòng Đa Minh.  Đúng là không phải ai trong chúng ta cũng có ba vị thánh và một thần học gia dòng Đa Minh làm người hướng dẫn, nhưng chúng ta có thể và phải tìm một hình thức hướng dẫn thiêng liêng định kỳ nào đó.  Thánh Gioan Thánh Giá đã nói rất thẳng thắn: “Ai tự mình làm người hướng dẫn thì sẽ có một kẻ ngốc làm môn đệ.” Rất chuẩn!

7. Hoán cải và Canh tân

Một dấu ấn nổi bật trong cuộc đời Thánh Têrêsa Avila nằm ở toàn bộ phạm trù hoán cải và canh tân.  Cùng với Thánh Gioan Thánh Giá, ngài là khí cụ chính mà Thiên Chúa chọn để cải tổ dòng Cát Minh.  Tuy nhiên, thánh Têrêsa luôn ý thức rõ một điều: để hoán cải người khác, ta phải bắt đầu từ chính bản thân mình trước – và đó cũng là điều thánh nữ đã làm trong suốt cuộc đời trần thế của mình.  Lời đầu tiên của Chúa Giêsu khi rao giảng đã là: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 15).

Nguyện cho chúng ta luôn không ngừng hoán cải cách sâu sắc hơn nữa qua lời cầu thay nguyện giúp của thánh nữ Têrêsa Avila.

8. Những kiệt tác thiêng liêng – Các tác phẩm của thánh nữ

Chắc chắn, một trong những đóng góp lớn nhất của thánh Têrêsa Avila cho Giáo hội cũng như cho toàn thế giới chính là những tác phẩm, hay những kiệt tác thiêng liêng của ngài.  Một trong những chủ đề chính yếu mà thánh nữ nhấn mạnh là tầm quan trọng của cầu nguyện, và việc nỗ lực tiến sâu xa hơn trong cầu nguyện cho đến khi hồn ta đạt tới sự hiệp nhất huyền nhiệm với Chúa Giêsu, Đấng Tình Quân Thiên Quốc.

Ai thật sự nghiêm túc với đời sống cầu nguyện của mình đều nên biết đến những tác phẩm của thánh Têrêsa và dành thời gian đọc những trang viết đầy tràn ơn Chúa của thánh nữ.  Những tác phẩm kinh điển của ngài là gì?  Đây là một số trong số đó: “Tự Thuật” (Her life), “Đường Hoàn Thiện” (The Way of Perfection), “Lâu Đài Nội Tâm” (The Interior Castle), “Các Nền Tảng” (Foundations).  Ngoài những sách này, thánh nữ còn để lại nhiều bức thư đầy truyền cảm.  Bạn muốn trở thành một vị thánh?  Hãy đọc và tận hưởng nguồn ơn thiêng từ những trang viết của các thánh, nhất là các thánh Tiến sĩ Hội thánh!

9. Thập giá – con đường vào Nước Trời

Chúa Giêsu từng nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”  Một điểm chung khác trong cuộc đời của các thánh là sự hiện diện của thập giá.  Thánh Luy Maria Montfort thường chúc lành bạn hữu mình như thế này: “Nguyện xin Chúa chúc lành cho anh và ban cho anh nhiều thập giá nhỏ!”

Thánh nữ Têrêsa đã sống trọn đời mình với người bạn chí thiết là thập giá của Thầy Giêsu.  Sức khỏe của thánh nữ luôn rất yếu, và ngài từng suýt chết khi còn rất trẻ.  Hơn nữa, để thực hiện việc cải tổ dòng Cát Minh, thánh nữ còn chịu đựng nhiều chống đối và bách hại từ các nữ tu khác trong nhà dòng, những người ưa thích một đời sống dễ dãi hơn, từ các linh mục (dòng Cát Minh), và từ các đấng bậc khác trong Giáo Hội.  Thay vì nhụt chí hay nản lòng, thánh nữ càng hân hoan tín thác hơn nữa vào Thiên Chúa – dù sao đi nữa, đây chính là công trình do tay Người thực hiện.

10. Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse

Trong suốt đời tu trì của mình, thánh Têrêsa Avila đã luôn hết lòng yêu mến Đức Trinh Nữ Maria – một lòng sùng kính thường thấy ở các vị thánh, và hy vọng cả nơi bạn cũng vậy!  Tước hiệu Đức Mẹ mà thánh nữ sùng kính cách đặc biệt là Đức Mẹ Núi Cát Minh.  Khi tỏ lòng yêu mến Mẹ, đừng ai quên mang Áo Đức Bà Camêlô.  Đây sẽ là dấu chỉ bề ngoài của các con cho việc tận hiến dành cho Đức Maria.

Hơn nữa, thánh Têrêsa Avila còn lấy lòng con thảo mà kính yêu Thánh Cả Giuse.  Thánh nữ tin rằng sự bình phục sau một cơn bệnh hiểm nghèo gần như đã kết thúc cuộc đời mình là nhờ lời cầu bầu quyền năng của Thánh Giuse.  Ngài cũng đặt tên cho tất cả các tu viện mới thành lập của dòng là San Jose – Thánh Giuse!

Kết lại, nguyện xin cho vị nữ Tiến sĩ Hội thánh – Tiến sĩ của cầu nguyện – thánh Têrêsa Avila luôn là nguồn khích lệ cho bạn trên đường hành hương của linh hồn tiến về cõi Thiên Quốc.  Nguyện xin thánh nữ nâng đỡ để ta biết cầu nguyện nhiều và sâu sắc hơn, đạt tới sự hoán cải con tim sâu xa hơn, và đến cùng vẫn luôn yêu mến Chúa Giêsu là trọng tâm và là nguồn sống của đời ta!

Lm. Ed Broom, OMV
Chuyển ngữ: Nam Anh – Từ: https://catholicexchange.com
Nguồn: dongten.net

LÒNG NHÂN LÀNH CỦA ĐỨC MẸ FATIMA

Tôi – phụ nữ Đức – kết hôn với một tín hữu Công Giáo Bồ Đào Nha.  Sau khi hiền phu qua đời, bà con bên chồng mời tôi mang đứa con gái nhỏ 5 tuổi, trở về Bồ Đào Nha, để cô bé học biết ngôn ngữ của thân phụ.  Tôi hân hoan chấp nhận lời mời.

Tại quê chồng, tôi được gia đình tử tước De Caleiro tiếp đón nồng hậu trong dinh thự ở Donro.  Bà chị họ chồng tôi có 4 đứa con – tuổi tác suýt soát con gái nhỏ tôi – nên cô bé học tiếng Bồ rất nhanh, nhờ chơi đùa với mấy anh chị em họ.  Nhưng cuộc sống êm đềm tốt đẹp không kéo dài lâu.  Bệnh đậu lào đổ ập trên vùng, gieo chết chóc trong các gia đình.

Dinh thự gia đình chúng tôi xem ra an toàn cho đến ngày đứa con gái nhỏ của tôi mắc chứng bệnh khủng khiếp ấy.  Chúng tôi tức tốc dời cô bé đến căn phòng biệt lập gần nhà nguyện của dinh thự.  Không thể nào tìm ra y tá, vì ai ai cũng sợ lây phải chứng bệnh hiểm nghèo!  Tôi đành một mình săn sóc cho con, túc trực ngày đêm bên giường con.  Nhờ ơn THIÊN CHÚA, tôi không ngã bệnh.  Con bé mỗi ngày một kiệt sức.  Bằng mọi cách, tôi phải cứu sống con.  Tôi cho mời một bác sĩ trẻ tuổi nhưng nổi tiếng người Pháp, từ thủ đô Paris đến.

Bà chị họ nói với tôi là chị cùng mấy đứa con làm tuần chín ngày kính Đức Mẹ Fatima, xin Đức Mẹ MARIA cứu sống con bé.  Chị mời tôi cùng hiệp ý với gia đình chị.  Tôi không tin mà cũng không hề để ý đến Đức Mẹ Fatima, nhưng tôi chấp nhận đề nghị và bằng lòng làm tuần chín ngày nơi nhà nguyện cạnh phòng con tôi.  Trong khi đó thì sức khoẻ của con bé bước vào tình trạng vô cùng tuyệt vọng.  Các ngón tay đã tím xanh.  Con bé không ăn uống gì và nằm im bất động.  Cả hai bác sĩ chữa chạy cho cô bé cũng bó tay và khuyên tôi chuẩn bị đón nhận một thử thách nặng nề.  Trước khi từ biệt, cả hai vị hứa sẽ trở lại sáng hôm sau, nhưng không chắc cô bé có qua khỏi đêm nay không!

Quý vị có thể đoán được tâm tình rối loạn của tôi khi nghe câu tuyên bố này!  Tôi đã mất một người chồng yêu dấu, một người chồng có quả tim vàng!  Giờ đây đứa con gái duy nhất – bảo ảnh, bảo chứng tình yêu của chồng – đang lâm nguy!  Trong cơn tuyệt vọng, tôi liền chạy đến nhà nguyện.  Bấy giờ là mùa đông.  Tôi quỳ sụp xuống và tha thiết kêu xin Đức Mẹ MARIA cứu đứa con gái nhỏ.  Tôi hứa với Đức Mẹ là nếu con bé khỏi bệnh, tôi sẽ dâng hiến con cho Đức Mẹ và sẽ đi hành hương về đồi Cova-da-Ira, nơi Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ chăn chiên làng Fatima.  Tôi ở lại nhà nguyện thật lâu, không biết mấy tiếng đồng hồ, cho đến khi toàn thân rã rời thấm lạnh, tôi mới rời nhà nguyện.

Tôi trở về phòng của con.  Vừa mở cửa phòng, tôi ngạc nhiên thấy con bé đang nhảy nhót trên giường.  Con bé nói:

– Má đi đâu mà lâu dữ vậy?  Con đói quá, Má cho con cái gì để ăn đi!

Tôi tìm cách đặt con bé nằm xuống, bụng nghĩ thầm:

– Con bé gần chết nên nói sảng đây!

Nhưng con bé tiếp tục nói:

– Con lành bệnh rồi!  “Mẹ THIÊN CHÚA Fatima” bảo con như thế!

Sáng hôm sau, tôi nhờ bà chị họ mời hai bác sĩ đến.  Vừa trông thấy họ, Margarida – tên con gái tôi – vui vẻ chào hai người, đặc biệt, cô bé nói với vị bác sĩ của gia đình:

– Bây giờ Bác nhớ cho cháu con búp bê mà Bác hứa, nếu cháu lành bệnh.  Cháu muốn đi chơi với mấy anh chị em họ của cháu.  Cháu khỏi bệnh rồi.  “Mẹ THIÊN CHÚA Fatima” nói với cháu như thế, khi Má cháu bỏ cháu một mình trong phòng.

Vị bác sĩ già nghiêm khắc nhìn tôi và nói:

– Bà phải nói thật bà đã làm gì cho con bé đêm vừa rồi?  Bà mời một tên phù thủy đến chữa bệnh phải không?

Nghe thế, tôi nổi giận hét lớn:

– Sao bác sĩ lại có tư tưởng lạ kỳ đối với một người Đức như tôi?  Những người Bồ Đào Nha đồng hương của bác sĩ, có bao giờ ngây thơ đến độ đi cầu cứu với các tên phù thủy không?  Hẳn là không, phải không?

Vị bác sĩ lão thành lắc đầu nói:

– Con của bà hấp hối, giờ đây bỗng dưng trở lại bình thường.  Một sự kiện không thể giải thích theo khoa học!

Nghe thế, tôi kể lại tất cả những gì xảy ra trong đêm vừa qua.  Nghe xong, vị bác sĩ già, quỳ sụp xuống, vừa khóc vừa nói:

– Một phép lạ cả thể đã xảy ra.  Chúng ta hãy cùng dâng lên Đức Mẹ Fatima lòng biết ơn sâu xa của chúng ta!

… “Đức Chúa là Vua, là Đấng cứu chuộc Israel, và là Đức Chúa các đạo binh, Người phán thế nầy: Ta là khởi nguyên, Ta là cùng tận; chẳng có thần nào hết, ngoại trừ Ta.  Ai được như Ta, người ấy cứ lên tiếng, cứ kể ra và trình bày cho Ta xem những gì đã xảy ra từ thời cổ đại, khi Ta tạo dựng loài người.  Và những gì sẽ xảy đến, cứ kể ra đi.  Đừng run, đừng sợ.  Ta đã chẳng cho ngươi nghe từ thưở nào, đã chẳng báo cho ngươi biết đó sao?  Chính các ngươi là nhân chứng của Ta.  Hỏi có thần nào khác, hỏi có núi đá nào khác, ngoại trừ Ta?  Ta biết chắc là không” (Isaia 44,6-8)…

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
(Albert Pfleger, ”FIORETTI DE LA VIERGE MARIE”, Mambré Editeur, Paris 1992, trang 41-44)

BIẾT ƠN

Bà Dorothy Day là một người trở lại Công Giáo khi đã lớn tuổi.  Cuộc đời bà đáng được Hollywood dựng thành phim.  Khi bà từ trần năm 84 tuổi, tờ New York Time đã không do dự gọi bà là người có ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ.

Sau cái chết của bà, đã có một phong trào vận động để tuyên thánh cho bà, nhất là vì những gì bà đã làm cho người nghèo và người tuyệt vọng ở Nữu Ước.

Cách đây không lâu, tờ America đã phỏng vấn bà Eileen Egan, một người bạn thân của bà Dorothy.  Một trong những câu hỏi mà người phóng viên đặt ra với bà Eileen là “Điều gì đặc biệt nhất khi bà nghĩ đến bà Dorothy?”

Không chút do dự, bà Eileen đáp, “Đó là tinh thần biết ơn.” Và bà đã đưa ra một thí dụ.

Vào một ngày trời lạnh, cả hai đang ở trên chiếc xà lan.  Bà Dorothy chỉ khoác chiếc áo mỏng.  May mắn, bà có mang theo tờ báo nên bà lấy quấn quanh người bên dưới áo khoác.  Khi làm như vậy, bà mỉm cười và nói, “Tôi cảm ơn những người vô gia cư đã dạy tôi cách này để giữ ấm thân thể.”

Bà Eileen nói thêm, “Bất cứ ở đâu, bà Dorothy đều tìm lấy lý do nào đó để cảm tạ.  Thí dụ, có lần bà nói, tôi biết ơn Chúa Giêsu đã đến sống trên mặt đất này đến độ đôi khi tôi cảm thấy muốn quỳ xuống hôn đất, chỉ vì chân của Chúa đã chạm đến nó.”

Trên mộ bia của bà Dorothy ở Staten Island, hai chữ đi liền với tên của bà là: Deo Gratias, đó là “Tạ ơn Chúa.”  Chính bà đã yêu cầu khắc dòng chữ này.

Câu chuyện của bà Dorothy đã dẫn chúng ta đến câu chuyện của mười người phong hủi trong bài Phúc Âm hôm nay vì câu chuyện của bà nhấn mạnh đến hai điểm quan trọng về sự biết ơn.

Thứ nhất, nó phải chân thành.  Thứ hai, nó phải được thành tâm bày tỏ.  Thái độ biết ơn người vô gia cư của bà Dorothy vì họ đã dạy bà cách giữ ấm thân thể, và bà biết ơn Chúa Giêsu vì đã xuống thế làm người, cả hai đều chân thành và được thành tâm bày tỏ.

Trong Phúc Âm hôm nay sự biết ơn của chín người phong hủi không trở lại cám ơn có lẽ thành tâm.  Chúng ta không biết.

Nhưng chúng ta biết chỉ có một người trở lại bày tỏ sự biết ơn trong một phương cách chân thành.  Ông ta phủ phục dưới chân Chúa Giêsu.

Một lớp học sinh trung học đang chuẩn bị thảo luận về bài Phúc Âm hôm nay.  Để bắt đầu, thầy giáo yêu cầu họ trả lời trên giấy hai câu hỏi sau:

Thứ nhất, đã bao lâu bạn chưa cám ơn cha mẹ vì điều gì đó?

Thứ hai, bạn cám ơn các đấng vì điều gì?

Tôi muốn chia sẻ với các bạn hai câu trả lời của hai học sinh.  Câu trả lời thứ nhất viết:

Lần sau cùng tôi nhớ đã cám ơn cha mẹ vào khoảng một tuần trước đây.  Tôi cám ơn mẹ tôi đã giúp tôi làm bài tập.  Tôi nhớ là bà đã tốn vài giờ đồng hồ.  Một tuần sau khi tôi đã nộp bài, bà còn đem về nhà các tài liệu liên quan đến đề bài và nói, “Những cái này cốt để cho con biết thêm.”

Câu trả lời của học sinh thứ hai như sau:

Tôi nhớ lần sau cùng cám ơn cha mẹ thì cách đây vài tuần.  Tôi sửa soạn đi chơi tối thứ Bẩy và để cha tôi ở nhà một mình, vì mẹ tôi đã từ trần hồi mùa hè qua.  Trước khi rời nhà, tôi đến với ông và đặt tay lên vai ông một cách thân mật.  Tôi không nói gì, nhưng tôi biết ông hiểu là tôi cám ơn ông vì đã cho phép tôi đi chơi.

Tôi không biết các bạn nghĩ sao, nhưng tôi thấy hai câu trả lời này thật cảm động.

Cả hai trường hợp, sự biết ơn của các học sinh thật chân thành.  Và trong cả hai trường hợp, sự biết ơn được bầy tỏ trong một phương cách nồng hậu và thành tâm.

Điều đó đưa chúng ta đến việc cử hành Thánh Lễ hôm nay.

Các câu chuyện của bà Dorothy Day, của các học sinh, và mười người phong hủi đã mời gọi chúng ta kiểm điểm lại thái độ biết ơn của chúng ta và cách bày tỏ sự biết ơn ấy.

Thí dụ, có một chi tiết đáng kể trong câu chuyện Phúc Âm khiến chúng ta phải để ý.  Đó là nhận xét của Chúa Giêsu về người phong hủi trở lại cám ơn lại là người Samaritan.

Qua chi tiết này, Chúa Giêsu muốn nói chín người kia là Do Thái.  Có thể nói, họ là người đồng hương của Chúa.  Bạn mong đợi họ tỏ lòng biết ơn nhau, nhưng họ đã không làm như vậy.

Điều này cũng thường đúng với chúng ta.  Khi cần phải biết ơn gia đình, chúng ta thường cho đó là hành động đương nhiên khỏi phải nói lên.  Và, thật không may, chúng ta cũng thường hành động như vậy khi đối với Thiên Chúa.

Có người nói khi coi sự biết ơn là đương nhiên – không bày tỏ ra bên ngoài – thì cũng giống như chúng ta nháy mắt ra hiệu cho nhau trong bóng tối.  Bạn biết khi bạn nháy mắt với họ, nhưng họ không thấy điều đó.

Và vì thế, khi chúng ta trở về với bàn thờ, có lẽ chúng ta cần dành thời giờ để cảm tạ Thiên Chúa vì đã sai Con của Người xuống trần gian.

Và chúng ta có thể tỏ lòng biết ơn qua việc cử hành Thánh Lễ một cách sốt sắng, một cách thành tâm.

Chúng ta hãy kết thúc bài giảng hôm nay với lời của Ngôn Sứ Isaia:

Hãy cảm tạ Thiên Chúa!…
Hãy nói với mọi dân tộc về những điều Người đã thực hiện.
Hãy nói với họ Người thật vĩ đại dường bao!
Hãy hát lên ca tụng Thiên Chúa vì những việc trọng đại Người đã thực hiện
.”
Is 12:4-5

Lm. Mark Link, S.J.

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI

Bước vào Tháng Mười, Tháng Mân Côi, chúng ta thấy một hình ảnh truyền thống tuyệt đẹp về Ðức Bà Mân Côi, một tay bồng Chúa Giê-su Hài Ðồng, còn tay kia thì trao Tràng Chuỗi Mân Côi cho thánh Ða-minh, chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đa-minh, để con cái Chúa nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một hơn.

Ma-ri-a đầy ơn phúc

“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc” là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc.  Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gáp-ri-en chào Đức Ma-ri-a lúc truyền tin: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Ê-li-sa-bét: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Bà gồm phúc lạ.”

Những lời của sứ thần Gáp-ri-en và của bà Ê-li-sa-bét trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Mẹ.  Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử.”

Quả Phúc Giê-su

Hằng ngày, khi đọc lại lời chào của thiên thần và lời chào của bà Ê-li-sa-bét chúng ta khám phá ra Quả Phúc nơi cung lòng Đức Mẹ là Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Đây chính là hoa trái mà tiên tri I-sai-a đã báo trước: “Ngày đó, chồi non Đức Chúa cho mọc lên sẽ là vinh quang và danh dự, và hoa màu từ ruộng đất trổ sinh sẽ là niềm hãnh diện và tự hào” (Is 4,2).  Người Con ấy thuộc miêu duệ Abraham, đã xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít, được đầy tràn Thần Khí Chúa.  Thiên Chúa đã đặt nơi Người muôn phúc lành và muôn dân nhờ Người mà được chúc phúc, như có lời chép: “Như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61,11).

Kinh Kính Mừng trong Tháng Mân Côi

“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc.” “Mẹ đầy ơn phúc” (Lc 1, 28), vì từ đời đời Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế và gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, nên nơi Mẹ không có chỗ cho tội lỗi.  Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a (x. Ga 1,14).  Chúng ta cũng được kêu gọi lắng nghe Chúa nói và đón nhận ý Chúa vào trong cuộc đời Mẹ để trở nên người có phúc như Mẹ.

Đức Chúa Trời ở cùng Bà

Chúng ta ca tụng Đức Ma-ri-a là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần chào.  Phúc của Mẹ thật cao vời khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận: “Em thật có phúc” (Lc 1,42).  Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng.  Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy đầy ơn phúc.

Trong Cựu Ước, có bao người được Thiên Chúa ở cùng, để rồi được Ngài sai đi phục vụ Dân Chúa.  Nhưng Thiên Chúa ở cùng Đức Mẹ một cách độc nhất vô nhị.  Khi được đầy tràn Thánh Thần và cưu mang Ngôi Lời, Mẹ trở nên như Hòm Bia, như Ðền Thánh, nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện giữa loài người.

Điều đã xảy ra nơi Đức Mẹ Đồng Trinh khi có Thiên Chúa ở cùng, thì cũng xảy ra nơi chúng ta trong mức độ tâm linh.  Chúng ta đón nhận Lời Chúa bằng con tim vui vẻ, chân thành và biết đem ra thực hành.  Chúa Giê-su đã cư ngụ nơi lòng Mẹ, Người cũng đến và ở trong những ai yêu mến và tuân giữ lời Người, đón rước Người khi chịu lễ.  Thế nên Giáo Hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” để tôn vinh Mẹ.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

Phúc nơi Mẹ trổi vượt hơn hết mọi người nữ vì Mẹ đã đầu tư vốn liếng cả cuộc đời cho thánh ý Thiên Chúa.  Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Ma-ri-a là người hạnh phúc hơn hết vì được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Phúc của Mẹ thật khôn ví, vì tâm hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa.  Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin như lời bà Ê-li-sa-bét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45).

Và Chúa Giê-su Con lòng Bà gồm phúc lạ

Ở mức độ tự nhiên, Mẹ đón nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần rồi dâng hiến máu thịt mình cho Con Thiên Chúa để Người được hình thành nơi Mẹ. Xét về mặt thiêng liêng, Mẹ đón nhận ân sủng và đáp lại điều đó bằng đức tin của mình”. Về điều này thánh Au-gút-ti-nô giải thích rằng: Đức Trinh Nữ “trước hết đã thụ thai trong tâm hồn và sau là trong cung lòng Mẹ. Mẹ đã thụ thai trước là đức tin và sau là Thiên Chúa”.

Bằng việc đón nhận hài nhi Giêsu để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Thánh Tử, Đấng là Hồng Phúc ngay trong lòng mình.  Mẹ trở nên người gồm phúc lạ.  Mẹ có phúc vì được làm Mẹ Đức Giêsu.  Mẹ của chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người (x. Ga 1,14; Mt 1,23).  Mẹ hạnh phúc hơn vì đã trở thành môn đệ Chúa, như lời Chúa Giêsu Con Mẹ đã đáp lại lời một phụ nữ khen ngợi người mẹ đã có công sinh thành nuôi dưỡng Người: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời.  Chỉ Thiên Chúa là Ðấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện.  Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời, vì Mẹ được chọn làm Mẹ Ðức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và vì chẳng ai thực thi ý Chúa trọn vẹn như Mẹ.  Chúng ta chẳng được diễm phúc sinh ra Ðức Giêsu, nhưng chính Chúa Giêsu lại mời gọi ta làm mẹ của Người: “Mẹ tôi và anh em tôi là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).

Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử

Hành trình tiến về quê Trời của Đức Maria đã bắt đầu “từ tiếng thưa “vâng” ở Nazareth, khi đáp lại lời của Sứ thần Gabriel, người đã loan báo cho Mẹ biết ý muốn của Thiên Chúa.  Và thực sự là như thế, mỗi khi chúng ta thưa “xin vâng” theo ý Thiên Chúa là chúng ta tiến một bước về quê Trời, tiến về cuộc sống vĩnh cửu.”  Chúng ta hãy phó thác cho Đức Ma-ri-a cuộc sống hiện tại và tương lai.  Chẳng có gì Ðức Ma-ri-a được hưởng mà chúng ta lại không được dự phần.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

BỐN ĐIỀU THÁNH FAUSTINA DẠY TÔI VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Thánh Maria Faustina Kowalska là một khí cụ khiêm nhường của Chúa, thánh nữ đã khát khao đời sống tu trì từ khi chỉ mới bảy tuổi.

Có thể bạn sẽ nghĩ: Lúc bảy tuổi, tôi còn đang đổi bánh Nilla Wafers lấy Oreo ở sân chơi, chứ chưa hề nghĩ về ơn gọi của mình.  Nhưng với Faustina, vai trò trong gia đình đã khiến cô trưởng thành sớm.  Đến năm 16 tuổi, Faustina đã chăm sóc và hỗ trợ cho chín người em như một quản gia của gia đình.

Dù rất vâng lời theo mong muốn của cha mẹ là ở nhà, Faustina thường tìm kiếm Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, mang trong lòng khát khao gia nhập tu viện từ khi còn trẻ.  Năm 1924, Faustina có thị kiến đầu tiên về Chúa Giê-su, Người đã bảo Faustina rời nhà để vào tu viện ở Warsaw, Ba Lan.  Faustina sau đó đã gia nhập Hội Dòng Nữ Tử của Đức Mẹ Thương Xót và tuyên khấn lần đầu làm nữ tu vào năm 1928, khi mới 22 tuổi.

Thánh Faustina nổi tiếng với việc ghi chép lại những thị kiến của mình về Chúa Giê-su trong một cuốn nhật ký.  Bạn có thể đã quen thuộc với hình ảnh Chúa Giê-su là Vua của Lòng Thương Xót, mặc áo trắng với những tia sáng đỏ và nhạt phát ra từ trái tim.  Hình ảnh này lấy từ một trong những thị kiến của thánh Faustina.  Từ các thị kiến này, Lễ Kính Lòng Thương Xót cũng đã được thiết lập (khi Chúa Giê-su cho biết Người muốn hình ảnh Lòng Thương Xót được “làm phép trọng thể vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh”), cùng với Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót, một kinh nguyện chuyển cầu dùng trên tràng hạt Mân Côi để tưởng nhớ đặc biệt cuộc Khổ nạn của Chúa.

Học theo đường thương xót

Nhờ có các thánh như Faustina, chúng ta hiểu rõ hơn về trái tim đầy thương xót của Chúa Giê-su và tìm cách thực hành lòng thương xót ấy trong cuộc sống của mình.  Tôi muốn chia sẻ với mọi người cách mà câu chuyện nhỏ của thánh Faustina đã biến đổi trái tim bình thường của tôi ra sao, với hy vọng rằng câu chuyện cũng sẽ truyền cảm hứng cho nhiều người.

1. Thiên Chúa không bủn xỉn với lòng thương xót của Ngài

Lòng thương xót của Thiên Chúa được ban tặng cách nhưng không, chứ không phải là điều chúng ta xứng đáng đạt được.  Lựa chọn của Thiên Chúa khi khiêm nhường sai Con của Ngài xuống trần gian, chịu chết trên thập giá vì chúng ta, là minh chứng rõ ràng nhất cho trái tim đầy thương xót của Ngài.  Hết lần này đến lần khác, Ngài tự hiến mình mỗi khi chúng ta tham dự bí tích Thánh Thể trong Thánh lễ.

Lần tới khi bạn dự Lễ, hãy đếm xem có bao nhiêu lần bạn đọc các lời nguyện xin Chúa thương xót.  Mặc dù Ngài luôn ban tặng lòng thương xót ấy, chúng ta vẫn ý thức rằng lòng thương xót của Ngài là cần thiết và vô cùng quan trọng cho đời sống thiêng liêng của mình.

2. Đau khổ có thể làm cho chúng ta trở nên thánh thiện hơn

Trong một đoạn nhật ký của mình, Thánh Faustina viết: “Đau khổ là một ân sủng lớn lao; qua đau khổ, linh hồn trở nên giống Đấng Cứu Thế; trong đau khổ, tình yêu trở nên trong sáng; đau khổ càng lớn, tình yêu càng tinh khiết” (#57, trang 29).

Nói cách khác, khả năng chịu đựng đau khổ, dù lớn hay nhỏ, đang giúp chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su hơn.  Thật lòng mà nói, không ai muốn đau khổ.  Nhưng, thánh Faustina mời gọi chúng ta xem những thử thách này như cơ hội để dựa vào tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Chúa Giê-su mong muốn ở gần chúng ta.  Ngài mời gọi ta mở rộng trái tim để đón nhận sự gần gũi ấy và tin tưởng rằng Ngài đang hoạt động trong tâm hồn ta, bất kể hoàn cảnh nào.  Thánh Faustina cũng chia sẻ: “Khi thấy gánh nặng vượt quá sức mình, tôi không suy xét hay phân tích nó, mà chạy đến với Thánh Tâm Chúa Giê-su như một đứa trẻ và chỉ thốt lên một lời: ‘Ngài có thể làm mọi sự’” (#1033, trang 392).

3. Lòng thương xót là cốt lõi của cộng đoàn

Lần đầu tiên tôi đọc Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót là cách đây vài năm, cùng với nhóm các nhà truyền giáo của chương trình Life Teen.  Một trong các nhà truyền giáo có ý cầu nguyện cho người thân bị bệnh.  Không chút do dự, tất cả chúng tôi đã cùng nhau vào nhà nguyện với tràng hạt trong tay để cầu nguyện.

Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót thường được đọc trong những lúc cầu nguyện cho người bệnh và người hấp hối.  Chuỗi Kinh cũng thường được đọc sau khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể trong Thánh lễ.  Qua nhiều lần tỏ mình, Chúa Giê-su đã khẳng định rằng Chuỗi Kinh này không chỉ dành cho người đang đọc mà còn dành cho toàn thế giới.  Thánh Faustina kết thúc lời nguyện trong một đoạn nhật ký bằng câu “vì cuộc khổ nạn đau thương của Ngài, xin thương xót chúng con” (#475), và đoạn tiếp theo được sửa đổi thành “xin thương xót chúng con và toàn thế giới” (#476).

Tôi suy ngẫm về sự thay đổi này và vì sao Chúa Giê-su nhấn mạnh đến điều đó.  Dù lời cầu nguyện chung này chủ yếu dành cho những ai sắp lìa đời, tôi nghĩ rằng Chúa Ki-tô có ý dành cho bất kỳ ai cần đến lòng thương xót của Chúa (tất cả chúng ta!).  Cùng nhau cầu nguyện bằng những lời kinh này sẽ mang lại sức mạnh và lòng can đảm, xin ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn không chỉ cho riêng chúng ta mà cho toàn thế giới.

4. Sự tha thứ của chính chúng ta là cần thiết cho lòng thương xót

Nói thì dễ hơn làm, phải không?  Đối với tôi, lời dạy khôn ngoan này của thánh Faustina thực sự là một thử thách lớn.  Cũng như Thiên Chúa ban cho chúng ta lòng thương xót vô tận của Ngài, ta cũng được mời gọi thực hành lòng thương xót đó với người khác.  Điều này có thể thể hiện qua lòng kiên nhẫn với đứa em đang làm ta khó chịu, tha thứ cho một người bạn mà ta cảm thấy đã làm mình tổn thương, hoặc thậm chí là lòng thương xót đối với chính bản thân mình khi ta nhận ra những thiếu sót trong tình yêu và niềm tin vào Chúa Giê-su.

Thành thật mà nói, tôi không nghĩ mình luôn là một người bạn tốt.  Đôi khi, tôi chìm đắm trong sự tự trách và đổ lỗi cho bản thân về mọi điều mình có thể đã nói hay làm sai.  Lúc khác, tôi đổ hết trách nhiệm lên người khác.  Nhưng chính trong những lúc như vậy, tôi được mời gọi không chỉ đón nhận lòng thương xót của Chúa mà còn được mời gọi chia sẻ lòng thương xót ấy: “Ai biết tha thứ sẽ chuẩn bị cho mình nhiều ân sủng từ Thiên Chúa.  Mỗi khi nhìn lên thập giá, tôi sẽ tha thứ với cả trái tim mình” (#390, trang 175).

Bước theo đường thương xót

Cuộc đời của Thánh Faustina chứng minh rằng Chúa Giê-su có thể biến điều bình thường thành phi thường.  Dù chúng ta có thể không trải nghiệm những hình ảnh sâu sắc như vậy về Chúa Giê-su trong cuộc sống hàng ngày, nhưng chúng ta có thể nhìn vào thánh Faustina như một khí cụ của sự khiêm nhường và lòng tín thác hoàn toàn vào Chúa.

Nếu bạn thấy cuộc đời của Thánh Faustina khó hiểu hoặc thậm chí quá khó tin, hãy tự hỏi tại sao.  Hãy mời Thánh Faustina cầu nguyện cùng bạn và xin Chúa mở tâm trí bạn cho những tiềm năng về lòng thương xót và tình yêu của Ngài.  Như Thánh Faustina nhắc nhở chúng ta, tất cả những gì ta cần làm là chạy đến với Chúa như một đứa trẻ và chỉ thốt lên một lời: “Ngài có thể làm mọi sự.”

Maddy Bass
Joseph Nguyễn Tro Bụi chuyển ngữ từ https://lifeteen.com

ĐỨC TIN CHÂN THẬT

Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay có thể làm chúng ta hoang mang: trong thực tế, chúng ta không có khả năng để lệnh cho cây dâu bật rễ để đến mọc dưới biển.  Vậy phải chăng chúng ta chưa có đức tin?  Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều ghi lại giáo huấn này của Chúa, và đều nằm trong ngữ cảnh khuyên bảo các môn đệ hãy kiên trung và cầu nguyện (x. Mt 17,20 và Mc 11,22).

Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số Ki-tô hữu chưa có một khái niệm chính xác về đức tin Ki-tô giáo.  Có hình thức đức tin vụ lợi, tức là theo Đạo để được may mắn, để khỏi ốm đau bệnh tật và khỏi gặp khó khăn thất bại trong cuộc sống.  Có hình thức đức tin giống như một nếp sống văn hóa truyền thống, tức là cha ông tôi có Đạo thì tôi cũng là người có Đạo, và tôi tuân giữ những gì cha ông truyền lại cho tôi, vậy là đủ rồi.  Lại có hình thức đức tin hời hợt, tức là tôi vẫn tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi nghe và đọc trong nhà thờ chẳng tác động gì đến cuộc sống của tôi.  Những hình thức đức tin kể trên, rất dễ bị mai một khi gặp khó khăn thử thách.  Chúa mời gọi chúng ta hãy thanh lọc để có một đức tin tinh tuyền và chân thật.

Đức tin không dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài hay ở những hình thức phô trương bóng bẩy.  Đức tin cũng không phải sự trấn an tâm lý, để làm dịu đi cảm thức tội lỗi mình đã phạm.  Đức tin cũng không phải là sự ủy mị tình cảm lãng mạn, như thi thoảng chúng ta nghe những bài hát được gọi là “thánh ca” mang nội dung thuần túy tình cảm ướt át.

Đức tin trước hết là quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta khi chúng ta lĩnh nhận bí tích Thanh tẩy.  Đức tin phải được ăn rễ sâu và xây dựng vững chắc nơi tâm hồn và cuộc đời mỗi cá nhân chúng ta.  Đức tin ấy lớn lên mỗi ngày, nhờ cố gắng kiên trì của bản thân, với thiện chí và lương tâm ngay thẳng, nhằm mục đích rập khuôn đời mình theo gương Chúa Giê-su.

Khi so sánh đức tin với hạt cải, là thứ hạt rất nhỏ bé so với các loại hạt khác, Đức Giê-su muốn dạy chúng ta: đức tin vào Chúa không được đo bằng dung lượng to nhỏ hay trọng lượng nặng nhẹ, nhưng ở sự gặp gỡ Chúa trong tâm hồn mình.  Theo thánh nữ Tê-rê-xa A-vi-la, mỗi chúng ta, dù tin vào Ngài hay không, đều có Chúa hiện diện.  Nên thánh là hành trình khám phá sự hiện diện của Chúa mỗi ngày một rõ hơn trong cuộc đời mình, để rồi được gặp gỡ Chúa và kết hợp thâm sâu với Người.  Những tâm hồn đạo đức càng ngày càng tiến sâu vào lâu đài nội tâm là tâm hồn mình, để gặp gỡ Chúa và cảm nhận được sự ngọt ngào Chúa ban.

Nếu Chúa Giê-su đã dùng hình ảnh hạt cải để nói về đức tin, thì thực ra đức tin của chúng ta là vô hình, không thể đong đếm và đo lường.  Tin là thái độ, là sự tín thác trao gửi cuộc đời và tương lai mình nơi sự dẫn dắt quan phòng yêu thương của Chúa.  Dầu là vô hình, đức tin lại có sức mạnh phi thường đến nỗi cảm hóa bản thân và môi trường xung quanh, nếu chúng ta có đức tin chân thật.

Khi có đức tin trưởng thành, tín hữu ý thức mình chỉ là đầy tớ có Chúa là Ông Chủ.  Bổn phận người đầy tớ là đoán trước Chủ muốn gì để làm theo ý của Chủ mình.  Khi tự nhủ: “Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng” là thể hiện sự tín thác và phụ thuộc hoàn toàn vào Chúa.  Tất cả những gì mình làm được là do Chúa và nhằm để tôn vinh Người.  Người tín hữu đạt tới mức hoàn thiện sẽ có thể nói như thánh Phao-lô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Tin là gặp gỡ, nhưng là gặp gỡ Đấng Vô Hình.  Vì thế, người tín hữu thường bị thử thách về đức tin, nhất là trong lúc bệnh tật hoặc khó khăn thất bại.  Tác giả sách ngôn sứ Kha-ba-cúc đã nhập vai một người đau khổ cùng cực, và ông kêu lên cùng Chúa.  Lời kêu van kèm theo ý trách móc của ông phản ánh tâm trạng của chính chúng ta, khi cầu nguyện mà không thấy Chúa nhận lời.  Trong trường hợp của Kha-ba-cúc, Chúa đã đáp lời ông.  Ngài hứa sẽ ra tay cứu chữa những người công chính, tức là người trung thành với Chúa và sống hài hòa với anh chị em mình.  Hôm nay Chúa cũng đang nói với chúng ta như thế.

Được đón nhận hồng ân đức tin, sứ mạng của tín hữu là góp phần mình để xây dựng Giáo Hội của Chúa Ki-tô giữa trần gian.  Thánh Phao-lô đã khuyên người môn sinh của mình là ông Ti-mô-thê: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (Bài đọc II).   Nếu chúng ta chưa có thể khiến cây dâu bứng rễ để trồng dưới biển, thì chúng ta lại có thể gieo mầm những đóa hoa của lòng nhân ái yêu thương xung quanh chúng ta.  Khi nhiệt thành sống đức tin, chúng ta sẽ làm cho cuộc đời bóng đêm bao phủ này được ngập tràn ánh sáng và bình an của Chúa.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TRUYỆN MỘT TÂM HỒN – THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU

Chị thánh Têrêsa nổi bật lên như là một trong những khuôn mặt tiêu biểu của sự thánh thiện Kitô giáo.  Nơi Chị, sự thánh thiện Kitô giáo không còn là một điều mơ hồ, trừu tượng hay xa vời với đời sống con người, trái lại, được biểu lộ thật cụ thể và rõ nét.  Để làm sáng tỏ điều đó, tôi muốn trình bày đôi nét về đời sống thiêng liêng độc đáo của thánh nhân.  Những điều đó được khởi đi từ một tác phẩm hết sức gần gũi khi nhắc đến thánh nữ, tác phẩm “Truyện Một Tâm Hồn.”

Chị thâm thuý một cách dịu dàng và dịu dàng một cách thâm thuý

Như có tác giả đã nói rằng: “Chị thánh rất sành sỏi về đời sống nội tâm của mình.”  Tuy ở một độ tuổi còn khá trẻ nhưng Chị đã có một đời sống nội tâm sâu sắc.  Chị cảm nếm được điều mà bao thánh nhân hằng tìm kiếm“Sự thánh thiện của người Kitô hữu hệ tại ở đâu?”  Têrêsa nói rằng: “Sự thánh thiện hệ tại chỗ thực hiện ý của Chúa và sống sao cho vừa ý Ngài…”[1].

Thánh nhân đã khám phá được thế đứng của con người trong tương quan với Thiên Chúa, dẫu những con người đó có là thánh nhân đi chăng nữa.  Dù là những vị thánh lớn hay những vị thánh nhỏ đều ví tựa như những bông hoa trước mặt Thiên Chúa trong vườn hoa của Người.  Tất cả những bông hoa đó đều chẳng làm nhiệm vụ gì khác hơn là “được dựng nên để làm vui cái nhìn của Thiên Chúa nhân lành khi Người đặt họ xuống dưới chân Người”[2], còn giữa những con người ấy có khác chăng là mỗi người – một loài hoa.  Nếu như các vị thánh lớn có thể sánh ví với các bông huệ và bông hồng thì các vị thánh kia cũng bằng lòng làm những bông cúc mùa xuân hay những bông hoa tím.

Một cái nhìn đức tin đầy sự dịu dàng trong chiều kích tương quan với Thiên Chúa, thánh nhân đã cảm nhận được trong vườn hoa ấy, Thiên Chúa đã “cúi xuống” để vun xới mảnh đất, để chăm tỉa… để rồi những bông hoa ấy mới được triển nở và trở nên “những bông hoa đơn sơ làm Người say đắm.”  Một sự hạ mình để biểu lộ tình yêu của Người.  Thánh nhân đã thốt lên rằng: “Bởi lẽ đặc tính của tình yêu là hạ mình xuống.”  Tình yêu vô biên của Thiên Chúa nhân lành được thánh nữ cảm nghiệm và diễn tả qua những cử chỉ yêu thương đầy dịu dàng nhưng không kém phần sâu sắc.  Trong kinh nghiệm thần bí của mình, thánh Gioan Thánh Giá cũng đồng ý với cảm nghiệm đó khi Ngài viết: “Tình yêu muốn hoàn toàn thoả mãn thì phải hạ mình xuống, hạ mình tới tận hư vô.”[3]  Thật chẳng dễ gì để có được một kinh nghiệm tâm linh như vậy, hơn hết, đó là “quả ngọt” của một đời sống gắn bó mật thiết trong Đức Kitô của thánh nữ.

Chị tinh tế một cách ngây thơ và ngây thơ một cách tinh tế

Chị thánh say sưa và cảm thấy chẳng có chút ngần ngại nào khi thưa chuyện cùng Chúa Giêsu.  Chị thân thưa với Chúa tất cả, từ những niềm vui khi được nhận những món quà hay lúc Rước Lễ lần đầu… cho đến những nỗi buồn của sự mất mát, xa rời những người thân yêu; chị thân thưa với Chúa những khoảnh khắc ân sủng trong tình Chúa và cả những lúc thấy mình yếu đuối, bị cám dỗ bủa vây; chị chia sẻ với Chúa những cảm nếm trong đời sống thiêng liêng nhưng cũng không giấu giếm những kinh nghiệm đời thường nơi tu viện, dẫu đó là những kinh nghiệm bị chị em, Bề Trên hiểu lầm…  Tất cả những điều đó chị đã nói với Chúa bằng một sự đơn sơ lạ kỳ, một sự đơn sơ đến mức “tinh tế.”

Trái lại, những điều mà chị thưa chuyện hay “thỉnh ý” Chúa lại tế nhị làm sao. “A!  Tại sao Chúa Nhân Lành lại cho con ánh sáng này?  Tại sao Người đã cho một đứa trẻ còn quá nhỏ thấy được một điều mà nó không thể hiểu…  Đây là một trong các mầu nhiệm mà chúng ta chắc chắn sẽ hiểu khi ở trên Trời để đời đời làm chúng ta thán phục vĩnh viễn!…[4].  Thánh nhân trình bày với tất cả niềm đơn sơ, đơn sơ của một tâm hồn biết chân nhận “Mọi thứ con có là do Chúa.”

Chị táo bạo một cách tế nhị và tế nhị một cách táo bạo

Thánh nhân đã chọn Đức Kitô làm tất cả, làm đối tượng duy nhất và rồi Đức Kitô trở thành điểm quy chiếu cho đời sống của Ngài.  Như trên đã nói, thánh nữ ý thức được sự thánh thiện, sự trọn lành của đời mình hệ tại ở đâu.  Thế nên, lời mời gọi của Thầy Chí Thánh: “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Ðấng trọn lành” (Mt 5,48) có lẽ đã được Ngài suy gẫm rất nhiều.  Thánh nhân cũng nói trong tự thuật của Ngài: “Con hiểu rằng muốn làm thánh thì phải chịu đau khổ nhiều, luôn tìm kiếm điều hoàn hảo nhất và quên mình; con hiểu rằng sự trọn lành có nhiều cấp độ và mỗi linh hồn được tự do đáp lại các đề nghị của Chúa… tóm lại là chọn lựa giữa những hy sinh mà Người đòi hỏi”[5].  Thánh nữ dường như hiểu rõ được hành trình nên trọn lành sẽ như thế nào.

Thế nhưng, ở độ tuổi của mình, thánh nữ đã không ngần ngại thân thưa cùng Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, con chọn tất cả những gì Chúa muốn… con không muốn làm thánh nửa vời”[6].  Điều đó thực sự quá sức tưởng tượng.  Một sự táo bạo của một người trẻ.  Dĩ nhiên, sự táo bạo đó không khởi đi từ một sự bồng bột, nóng vội hay bộc phát nhưng là “tuyên ngôn” sau một hành trình dài ấp ủ ngay từ thuở ấu thơ cho đến lúc bấy giờ.  Điều đó có lẽ cũng là hợp lý, bởi đó là điều đến sau một thời gian đắm chìm trong tình yêu của Thiên Chúa, nhưng cũng phải thừa nhận đó là một sự táo bạo của thánh nhân.

Một sự táo bạo cần thiết cho tình yêu, như Ngài đã viết trong tự thuật: “…Nhất là con bắt chước thái độ của Madalena (x. Lc 7, 36-38), sự táo bạo đáng ngạc nhiên hay đúng hơn đầy tình yêu của bà làm rung động Trái Tim của Giêsu[7].  Với Ngài, Ngài bị lôi cuốn bởi điều đó và Ngài cảm nhận được điều đó.

“Sau khi chết, con sẽ làm mưa hoa hồng.  Từ thiên đàng, con sẽ tiếp tục làm phúc xuống cho trần gian!”[8] tâm tình trước khi lìa đời của thánh nữ sau những ngày tháng chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo cũng toát lên sự táo bạo của một tình yêu dành cho con người.  Sự táo bạo ấy được diễn tả không “rầm rộ” hay “ồn ào” nhưng được thỏ thẻ tâm tình với Thầy Giêsu trong những lời cầu nguyện của thánh nhân.  Thế rồi, điều đó được Chúa Giêsu vui lòng đón nhận.  Sự táo bạo của một thiếu nữ nhưng đã trở nên phương thế hữu hiệu cho những ai muốn chạy đến cùng Chúa Giêsu.  Ở trên trời, thánh nhân chắc hẳn vẫn hằng chuyển cầu cùng Chúa cho Giáo hội, cho các linh mục, cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội cũng như cho những người muốn bước theo Chúa như thánh nhân đã nhắc đến nhiều lần trong các bức thư của mình.

Nhiều tác giả lớn không ngần ngại gọi thánh nhân với những danh xưng thật đẹp.  John Wu[9], một tác giả nổi tiếng đã trình bày về thánh nhân như là một trong những gương mặt tiêu biểu của sự thánh thiện Kitô giáo.  Sự thánh thiện mà John Wu trình bày thật đẹp biết bao.  Sự thánh thiện nơi thánh nữ đã được John Wu trình bày từ những cảm nghiệm riêng tư của ông, bởi chính cuốn sách “Truyện Một tâm hồn” đã đưa John Wu gia nhập đạo Công giáo.  Ông bị lôi cuốn bởi sự thánh thiện của Kitô giáo được toát lên qua gương mẫu của thánh nữ.  Ông bị chinh phục bởi một cuộc sống hoàn toàn thống nhất nhờ gắn bó với Đức Kitô nơi thánh nữ: “Sự quan tâm đến những điều nhỏ bé nhất, với một sự tự do nội tâm lớn nhất, với sự thoát ly triệt để nhất”[10].  Trong một tác phẩm của mình, ông viết:

“Nếu Kitô giáo đã làm thoả mãn lý trí tôi chính là vì đã giới thiệu cho tôi một Thượng đế vừa rộng rãi, vừa có ngôi vị.  Còn chị Têrêsa đã củng cố niềm tin tôn giáo của tôi bằng tâm hồn thanh khiết, thoát tục của chị…[11]

“Đối với tôi, Thánh Têrêsa là một tiêu biểu rõ nét về đời sống thiêng liêng trong thời đại chúng ta, bởi chị rất sành sỏi về đời sống nội tâm của mình…  Ngày mai dù chị đã làm những phép lạ phi thường, nhưng chị vẫn giữ tâm hồn bé nhỏ như một mầm non.  Vì thế, chúng ta biết rằng, trong đời sống thiêng liêng, không gì quan trọng bằng lòng chân thành[12]

Sau cùng, xin mượn lời của Đức giáo hoàng Piô XII, lúc còn là Hồng y Pacelli, đã nói năm 1925 khi ngài là đại diện Tòa Thánh sang Pháp nhân dịp phong Thánh cho Chị Têrêsa và làm phép đền thờ Lisieux người ta xây cất kính Thánh nữ, làm lời cầu nguyện và cũng là lời kết cho bài viết:

“Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm, ngay lúc này đây, từ đầu thế giới này sang đầu thế giới kia, con cái của Người nhiều như cát biển sao trời.  Bốn vị Giáo hoàng đã quỳ cầu khẩn dưới chân Người…  Xin Người hãy mưa hoa hồng xuống nữa, xuống thế giới chúng tôi…  Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm”[13].

Thầy Giuse Nguyễn Đình Trường – Học Viện Ngôi Lời

[1] Hoa Trắng Cát Minh, Truyện Một Tâm Hồn, nxb Tôn giáo (2016), tr. 40.

[2] Sđd, tr. 40

[3] Sđd, tr. 40

[4] Sđd, tr. 87.

[5] Sđd, tr. 59.

[6] Sđd, tr. 59.

[7] Sđd, tr 461.

[8] “When I die, I will send down a shower of roses. From the heavens, I will spend my heaven by doing good on earth.”

[9] John Wu (Gioan Trịnh Xuân Vũ) (1899 – 1986), một trong những nhân vật nổi bật của Công giáo Trung Hoa ở thế kỷ XX. Ông du học Hoa Kỳ và trở thành một nhà luật học danh tiếng, được mời đi giảng thuyết nhiều nơi trên thế giới. Ông đã dịch Đạo Đức Kinh ra tiếng Anh. Ông trở lại Công giáo năm 1937. Năm 1947, ông được cử làm Đại sứ của Trung Hoa tại Toà Thánh.

[10] Lm Phêrô Trần Ngọc Anh, Nhân học Kitô giáo, Tập Một, nxb Đồng Nai (2018), tr. 369.

[11] Sđd, tr. 371.

[12] Sđd, tr. 370.

[13] http://www.vietcatholicnews.net/News/html/246885.htm

THÁNH MICHAEL TỔNG LÃNH THIÊN THẦN

Thánh Michael Tổng lãnh thiên thần, một hậu vệ mạnh mẽ trong tất cả các trận chiến.

Vào lúc 19:49:10 tối, thứ Hai Phục Sinh năm 45, các linh mục đã thực hiện lễ trừ tà của một thanh niên tên là “Robbie” đã có một bước đột phá.  Được sở hữu bởi mười con quỷ, Robbie đã bị ám ảnh trong nhiều năm sau khi sử dụng bảng Ouija để liên lạc với người bà đã khuất của mình.  Sau nhiều tháng trừ quỷ, các linh mục đã cầu khẩn Thánh Michael để đuổi quỷ.  Đột nhiên, một giọng nói tự nhận mình là Thánh Michael ra lệnh cho lũ quỷ khởi hành.  Theo lời kể của những người chứng kiến, Robbie lên cơn co giật dữ dội và những con quỷ bỏ đi với một “âm thanh bùng nổ.”  (Các linh mục đang cầu nguyện Văn phòng Thần thánh trong một nhà thờ gần đó cũng nghe thấy tiếng “bùng nổ âm thanh” này và nhìn thấy một thứ ánh sáng lạ thường chiếu sáng cả nhà thờ.)  Khi Robbie thoát ra khỏi trạng thái mê man, anh ta kể lại việc anh ta đã nhìn thấy Thánh Michael đánh bại Satan như thế nào trong một trận chiến cho linh hồn của mình.  Mặc dù nhiều người biết câu chuyện này qua cuốn sách và bộ phim nổi tiếng năm 1970 dựa trên những sự kiện có thật này, nhưng vai trò của Thánh Michael phần nào bị tắt tiếng trong các tài liệu hư cấu.

Vì lý do này, lời cầu nguyện với Thánh Michael Tổng lãnh thiên thần là một phần thiết yếu của sức khỏe tâm linh của chúng ta.  Ban đầu được rút ngắn từ sáng tác mạnh mẽ hơn của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII mà ngài buộc phải chấp bút sau kinh nghiệm huyền bí rắc rối của mình với “làn khói của quỷ Satan,” lời cầu nguyện đơn giản này tạo ra sức mạnh và sự bảo vệ thiêng liêng năng động, cả trong cuộc sống của chúng ta và trong cuộc sống của Giáo hội.  Khi có rất nhiều cuộc đấu tranh trong cuộc sống của gia đình và nền văn hóa của chúng ta, sự bảo trợ của Thánh Michael sẽ kích hoạt toàn bộ nguồn lực của vật chủ trên trời.  Thánh Phao-lô nói rõ rằng mọi cuộc đấu tranh, dù trần tục đến đâu, đều có chiều kích thuộc linh (Ê-phê-sô 6:12).

Thế giới tâm linh, như một số người có thể nghĩ, không phải là một thế giới của ánh sáng và sự tốt lành rõ ràng.  Có một khía cạnh bất chính của thế giới tâm linh, nơi gieo mầm của hỗn loạn, bạo lực và bóng tối.  Cái ác thoát ra trước tiên, và chủ yếu, trong lĩnh vực tâm linh.  Dù chúng ta gặp khó khăn gì, Thánh Michael cho phép chúng ta linh hoạt các cơ tâm linh của mình và chúng ta cảm nhận được sự trợ giúp của ngài theo nhiều cách.

Một cách cụ thể là cách Thánh Micae giúp chúng ta vượt qua cám dỗ hàng ngày và trưởng thành trong nhân đức.  Hãy xem xét câu chuyện về nguồn gốc của Thánh Michael từ Kinh thánh và Truyền thống (Ê-sai 14:12, Khải Huyền 12).  Trong cuộc biến động vũ trụ đầu tiên giữa Đức Chúa Trời và sự sáng tạo của Ngài, khi Sa-tan thách thức Đức Chúa Trời và báng bổ Danh Thánh, người lãnh đạo của chủ nhà trên trời đáp lại: “Ai giống như Đức Chúa Trời?” bằng tiếng Do Thái, Mikha’el. 

Câu hỏi tu từ đầu tiên trong lịch sử là cái tên Michael.  Tên này cho thấy khả năng khiêm tốn khi nó được pha trộn với lòng dũng cảm.  Để chống lại sự kiêu ngạo bắt nguồn từ cái tôi (trung tâm của tội lỗi luôn là “Tôi”), Michael thể hiện sự khiêm tốn vốn là nền tảng của đức hạnh.  Khiêm tốn nhìn nhận rằng chỉ một mình Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi sự sống và hạnh phúc.  Không có Chúa, chúng ta chẳng là gì cả.  Nếu chúng ta muốn hạnh phúc, khiêm tốn là bước đầu tiên dẫn đến chiến thắng của chúng ta trong trận chiến của lòng ích kỷ.  Ngoài ra, để chống lại một loại khiêm tốn giả tạo, Michael thể hiện một lời can đảm.  Sự khiêm tốn giả tạo cho rằng chúng ta bất lực trong các cuộc đấu tranh tinh thần.  Rốt cuộc, chúng ta là ai để chiến thắng ma quỷ, ai là người có sức mạnh vượt quá sức mạnh của chúng ta.  Tuy nhiên, lòng can đảm nhận ra rằng với Chúa, chúng ta có thể làm bất cứ điều gì.  Không có gì là không thể đối với Chúa, và Thánh Michael đã dứt khoát hạ gục các vật chủ của ma quỷ bằng sức mạnh thần thánh chảy qua người.

Nếu chúng ta muốn đứng vững để vượt qua những cám dỗ hàng ngày, nếu chúng ta muốn chiến thắng sự ích kỷ của mình, nếu chúng ta muốn quyền năng của Thiên Chúa phát triển trong chúng ta ngay cả khi đối mặt với những tình huống vô vọng nhất, thì lòng can đảm khiêm tốn của Thánh Michael đã mang lại cho chúng ta tên và sự bảo trợ, chúng ta nên gọi cho ai.  Khi ai đó yêu cầu tôi một cách đơn giản để họ có thể lớn lên trong sự thánh thiện và hạnh phúc, tôi luôn đề nghị cầu nguyện với Thánh Michael hàng ngày.  Thánh Michael rất mong muốn được đồng hành với chúng ta trong những cuộc đấu tranh hàng ngày, vì vậy chúng ta hãy mạnh dạn cầu xin!

Cha Michael Joseph Hurley, OP

Kinh Cầu Cùng Tổng Lãnh Thiên Thần Micae

 Lạy ơn Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin giúp chúng con trong cơn giao chiến, đánh phá sự hiểm ác mưu sâu quỷ dữ.  Chúng con sấp mình nguyện xin Chúa chế trị nó, cùng xin nguyên soái cơ binh trên trời, lấy quyền phép Chúa mà hạ Satan cùng các quỷ dữ, đang rong ruổi khắp thế giới làm hại các linh hồn, bắt chúng giam cầm trong hỏa ngục. Amen.

ÔNG SCHWEITZER VÀ NGƯỜI NGHÈO

Vào năm 1950, một ủy ban gồm đại diện của 17 quốc gia đã chọn ông Albert Schweitzer là “người của thế kỷ.”  Hai năm sau, 1952, ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình.

Ông Schweitzer được cả thế giới ca tụng là một thiên tài đa dạng.  Ông là một triết gia lỗi lạc, một thần học gia sáng giá, một sử gia đáng kính nể, một nhạc sĩ độc tấu, và là một bác sĩ truyền giáo.

Nhưng điều đáng kể là đức tin Kitô Giáo thật sâu đậm của ông.  Chính đức tin này đã ảnh hưởng đến từng góc cạnh của đời ông.

Khi 21 tuổi, Schweitzer tự nhủ là ông sẽ vui hưởng nghệ thuật và khoa học cho đến năm 30 tuổi.  Sau đó ông sẽ dành cuộc đời còn lại để làm việc cho những người nghèo dưới hình thức phục vụ trực tiếp nào đó.  Và vì thế vào ngày sinh nhật thứ 30, ngày 13-10-1905, ông bỏ vào thùng thư ở Ba Lê một vài lá thư.  Đó là thư gửi cho cha mẹ và các bạn thân, ông báo cho họ biết là ông sẽ theo học về y khoa.  Sau đó ông sẽ sang Phi Châu để làm việc cho các người nghèo với công việc của một bác sĩ.

Ngay lập tức các lá thư ấy đã tạo nên một chấn động.  Ông kể lại trong cuốn Out of My Life and Thought:  “Thân nhân và bạn hữu của tôi tất cả đều thành khẩn đưa ra các nhận định của họ về quyết định điên rồ của tôi.  Họ nói, tôi đang chôn vùi các tài năng thiên phú…  Một bà thật hăng say thuyết phục rằng tôi có thể đạt được nhiều kết quả cho việc giúp đỡ người nghèo qua các bài diễn giảng hơn là hành động trực tiếp mà tôi đang ấp ủ.”

Tuy nhiên, ông Schweitzer không thay đổi ý định.

Vào năm 38 tuổi, ông là một bác sĩ đầy đủ bản lĩnh.  Vào năm 43 tuổi, ông sang Phi Châu để mở một bệnh xá ở cạnh bìa rừng mà sau này được gọi là Equatorial Africa.  Ông từ trần ở đây năm 1965 khi được 90 tuổi.

Động lực nào đã khiến ông Schweitzer dám gạt bỏ danh vọng và tiền tài để làm việc cho người nghèo ở Phi Châu?

Ông cho biết, một trong những ảnh hưởng là khi ông suy niệm về đoạn phúc âm mà chúng ta vừa nghe hôm nay về người giầu và ông Lagiarô.  Ông nói:

“Thật không thể hiểu nổi khi tôi tự cho phép mình sống một cuộc đời sung sướng, trong khi quá nhiều người chung quanh tôi đang vật lộn với sự đau khổ.”

Và đó là điều đưa chúng ta đến câu chuyện phúc âm hôm nay.

Tội của người nhà giầu trong bài phúc âm hôm nay không phải là ông đã ra lệnh tống cổ Lagiarô ra khỏi khu vực của ông.  Cũng không phải là người nhà giầu đã đánh đập hay chửi rủa ông Lagiarô mỗi khi đi ngang qua.

Tội của người nhà giầu là ông không bao giờ để ý đến Lagiarô.  Ông coi Lagiarô như một phần đương nhiên của khung cảnh cuộc đời.  Tội của người nhà giầu là ông chấp nhận mà không bao giờ thắc mắc về sự kiện, Lagiarô thì nghèo và chính ông thì giầu.  Tội của người nhà giầu không phải là tội về một hành động, là thi hành một điều gì đó mà lẽ ra không nên làm.  Tội của người nhà giầu là một tội quên sót, đó là, không thi hành điều phải làm.  Tội của người nhà giầu là đắm mình trong của cải mà không động đến ngón tay để giúp ông Lagiarô khi cùng cực.  Tội của người nhà giầu cũng chính là tội đang được tái diễn ngày hôm nay.  Và chính tội này khiến chúng ta phải thực sự lưu tâm đến những gì cần phải thi hành không chỉ cho người nghèo nhưng còn cho xã hội.

Ông John F.Kennedy đã đề cập đến mối ưu tư này khi ông nói, “Nếu một xã hội tự do không thể giúp gì cho người nghèo thì nó cũng không thể cứu được một thiểu số giầu có.”  Nói cách khác, sự thiếu lưu tâm đến người nghèo không chỉ tiêu diệt người nghèo mà còn tiêu diệt luân lý của xã hội chúng ta.

Bài phúc âm hôm nay là một lời mời gọi để thi hành điều mà ông Albert Schweitzer đã làm.

Nó là lời mời để suy tư về câu chuyện của người nhà giầu và ông Lagiarô, và tự vấn lương tâm chúng ta câu hỏi mà chính ông Schweitzer đã thắc mắc: Làm thế nào chúng ta có thể sống sung sướng trong khi có quá nhiều người đau khổ?

Nó là lời mời chúng ta hãy suy tư lời của Tướng Dwight D. Eisenhower:

“Mỗi một khẩu súng được chế tạo, mỗi một tầu chiến được hạ thủy, mỗi một tên lửa được phóng đi, trong một ý nghĩa nào đó chúng là sự trộm cắp của người đói không có gì ăn, của người lạnh không có gì mặc.”

Nó là lời mời chúng ta hãy quý trọng lời của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.

Hãy kết thúc bài giảng bằng những lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong chuyến tông du Hoa Kỳ năm 1979, khi người giảng ở vận động trường Yankee Nữu Ước. Đức Giáo Hoàng nói:

“Chúng ta không thể ngồi đó bất động, vui hưởng sự giầu sang và tự do, nếu ở chỗ nào đó vẫn còn một Lagiarô của thế kỷ 20 đứng trước cửa nhà chúng ta.

“Dưới ánh sáng của bài dụ ngôn của Đức Kitô, giầu sang và tự do có nghĩa một trách nhiệm đặc biệt.  Giầu sang và tự do tạo nên một nhiệm vụ đặc biệt.

“Và vì vậy, nhân danh tình liên đới đã trói buộc chúng ta trong một bản tính nhân loại, tôi muốn nói lên phẩm giá của mỗi một con người.

“Người giầu và Lagiarô đều là con người, cả hai được dựng nên cách bình đẳng trong hình ảnh và giống như Thiên Chúa, cả hai đều được cứu độ bởi Đức Kitô với một giá đắt, là giá máu châu báu của Đức Kitô…

“Người nghèo của Hoa Kỳ và của thế giới là anh chị em của các bạn trong Đức Kitô.  Các bạn không thể lấy làm mãn nguyện khi để họ hưởng các mẩu vụn của bàn tiệc.

“Các bạn phải nhìn đến thực chất của mình chứ không chỉ sự dư dật của các bạn và giúp đỡ họ.  Và các bạn phải đối xử với họ như khách được mời đến dự tiệc trong nhà của mình.”

Lm Mark Link, S.J.

MONG GẶP

“Mẹ và anh em Chúa Giêsu đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được.”

“Địa ngục là lời khen tuyệt vời của Thiên Chúa đối với ‘thực tế tự do’ của con người!”  Có người nói, “Chết tiệt, đó là một lời khen?”  Vâng, bởi lẽ Chúa đang nói, “Bạn thật quan trọng.  Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn.  Chọn từ chối tôi, bạn hãy chọn địa ngục, nếu muốn.  Tôi sẽ để bạn đi!” – G. K. Chesterton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy không chỉ Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người; nhưng chính con người mọi thời luôn ‘mong gặp’ Ngài, Đấng nói, “Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn!”

Trình thuật Maria tìm thăm Chúa Giêsu đều có ở ba Tin Mừng nhất lãm; nhưng chỉ riêng Luca, sự kiện này xảy ra ngay sau dụ ngôn “Chẳng có ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi;” cũng thật khác biệt, chỉ mình Luca không có câu hỏi “Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi?”  Vậy mà thật độc đáo, Luca vẫn có câu trả lời, “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành!”  Cách nào đó, Chúa Giêsu muốn nói, để trở nên ánh sáng chiếu soi trần gian cũng như để trở nên nghĩa thiết với Ngài, người ta phải lắng nghe và sống Lời được gieo.  “Nghe mà không sống chính là che đèn dưới hũ!” – Thomas Merton.

Cần xác tín rằng, đức tin thể hiện bằng tình yêu, tình yêu thể hiện bằng hành động, hành động thể hiện bằng chứng tá.  Trong một thế giới nhá nhem, vắng bóng Thiên Chúa, ước gì qua chúng ta, ai cũng có thể nhận ra ánh sáng và khuôn mặt yêu thương với vẻ đẹp của tình yêu Ngài.  Vẻ đẹp đó còn phản ánh một điều đáng kinh ngạc hơn – rằng, Thiên Chúa ‘mong gặp’ con người, khao khát trái tim, khối óc và tinh thần của con người; bởi lẽ, Ngài là tác giả và cội nguồn của tình yêu.  Không gì có thể khiến Ngài rút lại tình yêu; Ngài yêu chúng ta, ‘mong gặp’ chúng ta, dù chúng ta thế nào.  “Tình yêu Thiên Chúa không biết mệt mỏi; không gì bạn làm có thể khiến Ngài ngừng khát khao gặp gỡ bạn!” – Brennan Manning.

Anh Chị em,

“Tôi coi trọng bạn, mong gặp bạn!”  Tin Mừng mời gọi chúng ta như những vận động viên chạy về phía ‘Đấng mong gặp bạn’ với đuốc ‘vẫn sáng’ trên tay; mời gọi chúng ta sống Lời Chúa như phương thế tốt nhất phản ánh sự rực rỡ của Ngài; đồng thời, trở nên anh em, chị em và là mẹ của Đấng là Ánh Sáng.  Hãy đến trường học Maria, chuyên dạy kỹ năng nghe và sống Lời Chúa.  “Maria dạy rằng, sự cao cả thật nằm ở tình yêu chăm chú và sự vâng phục thinh lặng!” – Ann Voskamp.  Ước gì chúng ta trở nên thầy dạy đức tin cho con cái và những ai Chúa trao!  Chớ gì những hạt Lời gieo vào lòng bạn và tôi không như hạt hời hợt bên đường, nông cạn trên đá sỏi hay ngột ngạt trong một mảnh đất gai gốc!  Vì nếu như thế, thật tiếc, chúng ta chỉ còn là những cây đèn hết dầu, tim đèn nát mục hoặc vẫn mãi là người dưng với Chúa Giêsu – những kẻ khờ xây nhà trên cát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con tình yêu đủ mạnh, vượt qua mọi cản trở, hầu con ‘mong gặp’ Chúa như Chúa ‘mong gặp’ con.  Và con sẽ dẫn người khác đến cuộc hẹn với Ngài!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế