7 ĐIỀU THÚ VỊ VỀ ĐỨC MẸ FATIMA NHƯNG ÍT ĐƯỢC BIẾT ĐẾN

Năm 2017 đánh dấu 100 năm kỷ niệm biến cố Đức Mẹ hiện ra với 3 trẻ chăn cừu làng Fatima (Bồ Đào Nha) là Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto.

Đức Mẹ đã hiện ra 6 lần từ ngày 13/5 tới ngày 13/10/1917.

Hẳn chúng ta đã biết về Phép lạ Mặt trời trong lần Đức Mẹ hiện ra ngày 13/10 với sự chứng kiến của ít nhất 70.000 người.  Chúng ta cũng biết Đức Maria đã nhận mình là Đức Mẹ Mân Côi, và kêu gọi mọi người cầu nguyện với kinh Mân Côi cho hòa bình thế giới.

Tuy nhiên có những điều thú vị về Đức Mẹ Fatima nhưng ít được biết đến hoặc bị lãng quên, giống như 7 sự kiện dưới đây (Bản gốc tiếng Anh có 10 sự kiện nhưng chúng tôi xin phép được chọn và dịch các sự kiện dưới đây).

Điều 1Trong lần hiện ra thứ hai vào ngày 13/6/1917, Đức Mẹ đã ra một chỉ thị cho riêng Lucia: “Ta muốn con đến đây vào ngày 13 của tháng tới, để đọc kinh Mân Côi mỗi ngày, và để học cách đọc. Sau đó, ta sẽ nói cho con những gì ta muốn.”

Đề nghị đó có vẻ bất thường bởi ở tầm 10 tuổi, các bé gái ở đây không được học đọc. Trong quyển sách, “Fatima cho ngày nay” (Fatima for Today), cha Andrew Apostoli giải thích. Sứ mệnh của Lucia là truyền bá thông điệp Fatima cho toàn thế giới, việc “Lucia phải học cách đọc và viết là quan trọng nhất.”

Các tác phẩm của sơ Lucia gồm Calls from the Message of Fatima (Tiếng gọi từ Fatima), Fatima in Lucia’s Own Words I, Fatima in Lucia’s Own Words II (Fatima theo lời của Lucia – phần II).

Điều 2. Hai em họ của Lucia – Francisco Marto 8 tuổi và Jacinta Marto 7 tuổi – thì không cần học đọc. Bởi bà đã xin Đức Mẹ cho hai người em này sớm hưởng thiên đàng.

Đức Mẹ nói với Lucia, “Ta sẽ sớm đưa Jacinta và Francisco đi, nhưng con phải ở lại một thời gian. Vì Chúa Giêsu muốn con làm cho ta được biết đến và yêu mến trên thế giới” với lòng sùng kính Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Francisco qua đời năm 1919, ở tuổi 11. Em ra đi an bình dù rất đau đớn bởi mắc dịch cúm vào năm 1918.

Điều 3. Jacinta cũng mắc cùng bệnh cúm với Francisco. Dù chỉ 9 tuổi, cô bé sẵn sàng chịu rất nhiều đau khổ. Tại sao?

Lucia kể lại trong quyển “First Memoir”, Đức Trinh Nữ đã hiện ra. Jacinta nói: “Mẹ hỏi tôi rằng tôi có muốn nhiều tội nhân được hoán cải không. Tôi nói có. Mẹ nói rằng tôi sẽ được chuyển đến một bệnh viện, nơi tôi phải chịu nhiều đau khổ để cho các tội nhân được hoán cải, để đền bù cho tội phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria, và đến tình yêu của Chúa Giêsu.”

Điều đó đã xảy ra ở tất cả các chi tiết Đức Mẹ của chúng tôi tiết lộ cho cô. Jacinta qua đời ngày 20/2/1920 tại bệnh viện ở Lisbon, chỉ vài tuần sau ngày sinh nhật thứ 10 của cô.

Điều 4. Xác của Jacinta không bị phân hủy. Thi thể của cô đã được rắc vôi khi chôn, vì luật pháp thời đó quy định bất cứ ai chết vì đại dịch cúm chủng Tây Ban Nha, đều phải làm như vậy.

Tuy nhiên, khi ngôi mộ của cô được khai quật ngày 13/9/1935, nhiều người đã ngạc nhiên khi thấy xác không bị phân hủy. Cô đã được cải táng để chôn bên cạnh người anh trai là Francisco ở nghĩa trang Fatima.

Điều 5. Trong lần hiện ra thứ ba ngày 13/7, Đức Mẹ đã cho các trẻ nhỏ xem thị kiến về hỏa ngục. Đức Mẹ nói: “Chiến tranh sẽ kết thúc; nhưng nếu con người không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tồi tệ hơn sẽ nổ ra dưới triều đại giáo hoàng của Đức Piô XI.”

Chúng ta biết Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc ngày 11/11/1918, một năm sau khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Cuộc chiến “tồi tệ hơn” mà Đức Mẹ ám chỉ đó là Chiến tranh thế giới lần II.

Đó là lời tiên tri, bởi năm Mẹ hiện ra là 1917, khi ấy Đức Benedict XV là giáo hoàng.

Đến 5 năm sau, ngày 6/2/1922, mới có Đức Giáo hoàng lấy danh xưng Piô XI. Ngài trị vì cho đến khi qua đời 10/2/1939. Chiến tranh thế giới lần hai cũng nổ ra vào năm 1939.

Đức Piô XI đã không sợ hãi và lên tiếng chống lại chủ nghĩa phát xít, phát xít Đức quốc xã trong thông điệp Mit Brennender Sorge .

Điều 6. Francisco và Jacinta nằm trong số những Chân Phước trẻ nhất, khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viếng thăm Fatima và tuyên chân phước cho họ ngày 13/5/2000.

Điều 7. Đức Mẹ nói sẽ trở lại 7 lần trong lần đầu hiện ra ngày 13/5. Mẹ nói: “Ta muốn các con trở về đây vào ngày 13 mỗi tháng trong 6 tháng tới, vào cùng một giờ. Sau đó ta sẽ nói cho các con biết ta là ai. Và ta sẽ trở lại đây 7 lần.”

Có nhiều tranh cãi về lần trở lại thứ 7. “Một số người nghĩ đó có thể là có một phép lạ khác.”

Trong quyển tiểu sử A Pathway under the Gaze of Mary (2013) [Con đường nhỏ dưới ánh nhìn Mẹ Maria], do một nữ tu Cát Minh Coimbra từng sống với sơ Lucia nhiều năm, viết lại.

Đó là ngày 15/6/1921, khi Lucia chuẩn bị rời khỏi Fatima để đến một nơi mà giám mục muốn gửi bà đi. Biết rằng có thể mình sẽ không bao giờ được nhìn lại nơi này hay gặp gia đình, Lucia đã đến cây sồi nơi Đức Mẹ hiện ra năm 1917, quỳ xuống và cầu nguyện trong nỗi đau đớn khủng khiếp.

Quyển tiểu sử viết “Một lần nữa Mẹ lại đến Trái đất; và con lại cảm nhận được bàn tay giúp đỡ cùng tình mẫu tử của mẹ trên vai. Con ngước lên và thấy Mẹ, chính là Mẹ Diễm phúc đang nắm tay và chỉ con thấy con đường. Đôi môi Mẹ nói những lời dịu ngọt, ánh sáng và an bình phục hồi trong tâm hồn con. ‘Ta đã ở đây với con lần thứ bảy. Đi đi, hãy đi theo con đường mà vị Giám Mục muốn con đi, đây là ý muốn của Thiên Chúa.’”

Đức Thiện lược dịch từ National Catholic Register

NGHE MỘT NGÔI VỊ

“Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn!”

Henry Scougal nói, “Đã từ lâu, Thiên Chúa đấu tranh với một thế giới cứng đầu; Ngài ban cho nó muôn phúc lộc, nhưng những món quà này không chiếm được trái tim nó.  Cuối cùng, Ngài ban chính Ngài như một quà tặng!  Lắng nghe Ngài là lắng ‘nghe một Ngôi Vị!’”  Ngôi Vị ấy đang sống, đang hoạt động và đang điều khiển lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi người chúng ta.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một; qua Người Con ấy, nhân loại được nghe Lời Ngài. Tin Mừng hôm nay làm sáng tỏ điều Scougal nói, ai nghe Người Con, là ‘nghe một Ngôi Vị’; họ là người “có phúc.”  Cụ thể, với Chúa Giêsu, đó là những ai làm hai điều: “nghe”, và “vâng giữ Lời!” Mặc dù điều này có vẻ khá rõ ràng khi đọc, nhưng thực tế, nó khó hơn tưởng tượng.

Để một cuộc sống được gọi là “có phúc”, trước hết, con người phải biết lắng nghe Đấng tác thành nên nó.  “Nghe” bao hàm nhiều điều hơn là chỉ quen thuộc với các Tin Mừng.  “Nghe” không chỉ là tôi nhận thức tất cả những gì Chúa Giêsu bày tỏ, nhưng còn là tôi đã thực sự nội tâm hóa Lời đã nghe, hiểu những gì Lời đòi hỏi; nói cách khác, tôi biết rõ mục đích đời tôi trong chương trình của Chúa và ra sức thi hành.  Điều quan trọng là hiểu rằng, Tin Mừng luôn sống động và luôn mời gọi.  Nói khác đi, đón nhận Lời không chỉ là đón nhận một số bài học từ các sách cổ; đúng hơn, nghe Lời, có nghĩa là ‘nghe một Ngôi Vị!’

Thứ đến, “vâng giữ Lời.”  Giêsu, Con Thiên Chúa đang nói với chúng ta; Lời Ngài hướng dẫn chúng ta từng bước trong cuộc sống; Lời đang nói trong mọi khoảnh khắc, truyền cảm hứng để chúng ta làm điều này, tránh điều kia.  Và như thế, việc nghe Lời được hoàn thành nhờ thói quen hiệp thông, cầu nguyện suốt ngày và suốt đời; đồng thời, đem áp dụng Lời vào cuộc sống.

Một khi ý thức “nghe Lời Chúa” là nghe chính Chúa Giêsu, Đấng còn có tên là “Ngôi Lời”, thì nhất thiết chúng ta phải thấu hiểu tất cả những gì Ngài muốn nói.  Trên thực tế, nếu không vâng giữ những gợi ý yêu thương liên tục và nhẹ nhàng của Ngài, chúng ta không thể nghe được tiếng Ngài.  Chúng ta trở nên rối bời và dễ dàng bị chi phối, hoặc định hướng bởi những tiếng nói khác trong thế giới, những tiếng nói vốn làm cho chúng ta không còn phân biệt con đường nào là con đường ngắn nhất để nên thánh, con đường nào là con đường vinh quang Chúa chọn cho mình.  Một khi biết nghe và vâng giữ Lời, chúng ta trở nên thiết thân với Chúa Giêsu, nên người nhà của Ngài, sống với Ngài trong mối tương quan còn hơn cả tương quan huyết tộc; đồng thời, trở nên anh chị em với nhau.  Đây cũng là điều mà Phaolô nói đến trong thư Galata hôm nay, “Bởi chưng, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa.”

Anh Chị em,

“Ai nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn!”  Maria, kiểu mẫu trong việc nghe và vâng giữ Lời.  Người phụ nữ trong Tin Mừng thốt lên, “Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú!”  Cô có một cái nhìn sâu sắc; cô sâu sắc, bởi cô đã cảm nhận được sự vĩ đại của Chúa Giêsu; từ sự vĩ đại đó, cô suy ra sự vĩ đại của Mẹ Ngài.  Với cô, rõ ràng, ai đã sản sinh ra kiệt tác của nhân loại này, phải là một kiệt tác của nhân loại; Maria là “kiệt tác của một Kiệt Tác.”  Và cô ấy đúng!  Lời Chúa mời gọi bạn và tôi gẫm xem, chúng ta có gặp khó khăn nào trong việc nghe và quan sát Lời?  Hãy nói với Chúa, chúng ta đã quá chú ý đến nhiều tiếng nói khác từ khôn ngoan thế gian, đang khi với Giêsu, chúng ta ngoảnh mặt và từ chối.  Phúc lộc dành cho bạn và tôi, là những người đang nghe Lời, ‘nghe một Ngôi Vị’; nhưng, chúng ta chỉ thật sự hưởng lấy phúc lộc đó, khi dám nuốt lấy Lời và để cho Lời trở thành kim chỉ nam cho cuộc sống mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, Thầy Dạy đức tin, xin giáo dục con như đã giáo dục Giêsu trong việc nghe và giữ Lời; nhờ đó, con cũng có thể trở nên ‘một kiệt tác’, dẫu là một ‘kiệt tác quèn!’”, Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÒNG BIẾT ƠN

Có một thời, người ta có khuynh hướng bỏ hẳn lời cám ơn trong mối tương quan hằng ngày.  Trong thời bao cấp, những nghi thức giao tế bị coi là những hủ tục và tàn dư của thời phong kiến.  Người ta chủ trương cuộc sống sòng phẳng, không ai mắc nợ ai, cho nên không ai phải cám ơn ai.  Hậu quả là những gương mặt khô như ngói ở những văn phòng hành chính, những cái nhìn lạnh nhạt ở nơi công cộng, và những lời nói trống không trong giao tiếp với những người lớn tuổi hơn mình.  Cuộc sống thiếu lời cám ơn sẽ trở nên khô khan, đơn điệu, giống như vườn thiếu cây xanh.  Lược bỏ phép lịch sự sẽ biến cuộc sống này thành sa mạc hoang dã.  Có lẽ vì đã nhận ra hậu quả đáng tiếc của quan niệm này nên gần đây, một số cơ quan mở những lớp dạy cười, dạy nói lời cám ơn, và chào hỏi cho nhân viên của mình.

Biết nói lời cám ơn nhau, con người cũng cần thể hiện lòng biết ơn đối với Thượng Đế.  Đó là một trong những mục đích quan trọng của các tôn giáo.  Đó cũng là nội dung của lời cầu nguyện Kitô giáo.  Thông thường, chúng ta đến với Chúa chỉ để xin ơn.  Ít khi chúng ta bày tỏ lòng khâm phục, tri ân và mến mộ đối với Chúa và các thánh.  Chúa Giêsu hôm nay khiển trách những người cùi đã được ơn mà không biết cảm tạ Thiên Chúa.  Trong mười người cùi được ơn chữa lành, duy nhất có một người quay lại tạ ơn Chúa Giêsu mà người đó lại là người ngoại.  Khi ghi lại lời phàn nàn của Chúa, chắc hẳn Thánh Luca cũng nhằm phê phán những người Do Thái luôn cậy mình là dân riêng của Chúa nhưng lại không sống đúng với danh dự cao quý đó.  Không những thế, họ lại coi thường những người ngoại.  Dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, một người ngoại lại mang một tâm hồn đạo đức và biết tạ ơn Chúa.  Và như thế, người ấy không còn phải là “người ngoại” nữa, vì đã biết dâng lời tạ ơn Chúa và nhận ra quyền năng của Ngài.  Ý tưởng này, chúng ta cũng thấy trong sách Các Vua quyển thứ hai, với trường hợp ông Naaman, một vị tướng của Syria.  Sau khi được chữa khỏi, dù là người ngoại, ông đã trở thành một “tín hữu” vì ông tuyên xưng Thiên Chúa của người Israel là Thiên Chúa thật: “Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Israel.”  Việc xin một khối lượng đất đủ hai con la chở được để đem về quê hương đã chứng minh niềm tin chân thành ấy.

Nhờ biết sống tâm tình tạ ơn Chúa, chúng ta luôn nhận ra Ngài hiện diện trong cuộc đời.  Việc tạ ơn Chúa cũng giúp chúng ta nhìn cuộc sống lạc quan hơn, bởi vì vũ trụ và cuộc sống này là do Chúa tạo dựng.  Ngài kêu gọi chúng ta bằng khả năng của mình, cộng tác với Ngài để tô điểm cho trần gian thêm tươi đẹp.  Nếu cuộc sống trần gian còn nhiều khiếm khuyết là do con người chưa thiện chí cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo của Ngài.  Thậm chí có người còn đi ngược với chương trình sáng tạo của Chúa, phá vỡ sự hài hòa của môi trường cuộc sống và gây tai họa cho đồng loại cũng như cho thiên nhiên.  Một khi sống tâm tình tạ ơn và tôn thờ Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban những ơn cần thiết phần hồn phần xác.  Thiên Chúa như người cha yêu thương con cái.  Ngài biết chúng ta cần thiết những gì.  Ngài cũng biết rõ những gì đem lại ích lợi đích thực và lâu dài cho chúng ta.  Chính Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn lành, theo ý của Ngài và nhằm đến những điều tốt đẹp cho mỗi chúng ta.  Cách đây vài ngày (ngày 4-10), chúng ta vừa mừng kính thánh Phanxicô thành Assisi, cũng gọi là thánh Phanxicô khó khăn.  Thánh nhân là người yêu thiên nhiên vũ trụ, vì qua thiên nhiên, ngài khám phá ra sự hiện diện quyền năng của Chúa.  Nếu những loài cỏ cây, những bông hoa vô danh nhỏ bé mà còn được Chúa trang điểm yêu thương săn sóc như thế, huống chi con người chẳng lẽ Chúa không thương.  Dưới cái nhìn của vị thánh nghèo, mọi vật mọi loài đều luôn cất tiếng ca tụng Chúa, làm thành một bản giao hưởng bất tận tuyệt vời.

Lòng biết ơn đối với Chúa không chỉ dừng lại ở ngôn từ nơi môi miệng, nhưng phải thể hiện qua việc tuân giữ giáo huấn của Người.  Cũng như trong mối tương quan trong gia đình, con cái không thể chỉ biết ơn cha mẹ bằng những lời khuôn sáo, mà lòng biết ơn và yêu mến cha mẹ cần phải được chứng tỏ bằng những việc làm đích thực.  Tuân giữ Lời Chúa là cách thể hiện lòng biết ơn tốt đẹp nhất.  Một khi chú tâm tuân giữ Lời Chúa, chúng ta mới có khả năng thông truyền Lời Chúa cho anh chị em mình.

Tin vào lòng thương của Chúa giúp chúng ta kiên vững trong gian nan đau khổ.  Thánh Phaolô, một tù nhân vì Chúa Giêsu, đã khích lệ con thiêng liêng của mình là Timôthê.  Ngài khẳng định: dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa luôn trung thành.

“Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng tôi.”  Lời cầu xin thống thiết kèm theo sự xác tín của những người cùi đã được Chúa nhận lời.  Họ đã được lành bệnh sau khi đi trình diện với các tư tế theo Luật ông Môisen đã quy định.  Người tín hữu khi đến với các linh mục là những tư tế của Tân Ước để thú nhận mọi tội lỗi nơi tòa giải tội cũng được Chúa tha thứ và chữa lành.  Qua hành động trung gian của các linh mục, chính Chúa Giêsu chúc lành và nâng đỡ chúng ta, nhờ đó, chúng ta có thể trở lại hòa nhập với đời sống cộng đoàn, nhất là chúng ta được nối kết trong mối tình thân thiêng liêng với Chúa, nhờ lòng yêu mến thiết tha mà chúng ta bày tỏ với Người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

7 ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ THÁNH FAUSTINA VÀ THỊ KIẾN CỦA THÁNH NỮ VỀ HOẢ NGỤC

Trong khi người Công giáo trên khắp thế giới đã quen thuộc với Thánh Faustina Kowalska và mối liên hệ của thánh nữ với Lòng Chúa Thương Xót, thì có thể nhiều người lại không biết về cách mà Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ về ơn gọi, hoả ngục và sứ mệnh của ngài trong việc rao truyền lòng thương xót của Thiên Chúa.  Dưới đây là bảy sự kiện quan trọng cần biết về vị thánh nổi tiếng này:

1. Tên thánh của thánh nữ là Helena.  Thánh Maria Faustina Kowalska Thánh Thể sinh ra tại Ba Lan với tên gọi Helena Kowalska vào ngày 25 tháng 8 năm 1905.  Thánh nữ qua đời vào ngày 05 tháng 10 năm 1938, sau khi được Chúa Giêsu và Mẹ Maria chọn để trở thành tông đồ đầy bất ngờ về Lòng Chúa Thương Xót.  Thánh nữ đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh vào ngày 30 tháng 4 năm 2000.  Ngày lễ của thánh nữ là ngày 05 tháng 10.

2. Thánh nữ vốn không định trở thành một nữ tu.  Cô gái trẻ Helena không có ý định bước vào đời sống tu trì, nhưng ở tuổi 19, trong khi tham dự một buổi khiêu vũ với chị gái Natalia ở Lodz, thánh nữ đã có được một thị kiến về Chúa Giêsu đau khổ, Người đã hỏi thánh nữ: “Ta sẽ chịu đựng con trong bao lâu nữa và con sẽ lảng tránh Ta trong bao lâu nữa đây?”  Sau khi cầu nguyện tại Nhà thờ Chánh toà, thánh nữ đã khởi hành đi Warsaw, nơi thánh nữ gia nhập Dòng các Nữ tu của Đức Mẹ Từ Bi (Congregation of the Sisters of Our Lady of Mercy).  Vào ngày 30 tháng 4 năm 1926, ở tuổi 20, thánh nữ được nhận tu phục và tên dòng của mình.

3. Chúa Giêsu đã mô tả cho thánh nữ bức hình Lòng Chúa Thương Xót của Người. Thánh Faustina đã viết rằng vào đêm Chúa Nhật, ngày 22 tháng 2 năm 1931, khi đang ở trong phòng riêng của mình ở Plock, Ba Lan, sau khi chưa hoàn toàn bình phục từ căn bệnh lao phổi, Chúa Giêsu đã hiện ra trong một trang phục màu trắng với những tia sáng đỏ và xanh nhạt phát ra từ trái tim của Người.  Theo nhật ký của thánh nữ, Chúa Giêsu bảo thánh nữ “Hãy vẽ một bức hình theo mẫu mà con nhìn thấy, với hàng chữ: ‘Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa’ [bằng tiếng Ba Lan: ‘Jezu, ufam Tobie.’]  Ta ước mong hình ảnh này được tôn kính, trước tiên là trong nhà nguyện của các con, và sau đó là trên toàn thế giới.  Ta hứa rằng linh hồn nào tôn kính bức hình này sẽ không bị hư mất.”

4. Thánh nữ đã nhìn thấy một thị kiến về hoả ngục.  Vào tháng 10 năm 1936, trong một cuộc tĩnh tâm kéo dài 8 ngày, thánh nữ đã được một thiên thần dẫn đến nơi mà ngài gọi là “những vực sâu hoả ngục”, nơi mà thánh nữ đã mô tả trong nhật ký của mình rằng đó là một nơi của những “hình khổ cùng cực” và “lửa sẽ xuyên qua linh hồn mà không hủy diệt nó – một sự đau khổ khủng khiếp.”  Hoả ngục này vốn tràn ngập bóng tối, và mặc cho bóng tối đó, “ma quỷ và các linh hồn bị đày đọa đều nhìn thấy nhau và nhìn thấy tất cả những điều tội lỗi, cả của người khác và của chính họ.”

5. Thánh nữ đã được cho thấy những mức độ khác nhau của hoả ngục.  Theo Paul Kengor, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Grove City và là một cộng tác viên của hãng tin National Catholic Register, thánh Faustina “đã quan sát thấy những tầng địa ngục giống như của Dante vốn dành riêng cho những đau đớn cụ thể đáng phải gánh chịu từ cái thế giới sa đọa này.”  Thánh Faustina cũng đã ghi lại trong nhật ký của mình rằng: “Có những hang hốc và hố sâu cực hình, ở đó hình thức đau khổ này khác với hình thức đau khổ kia.”  “Còn có những hình khổ đặc biệt dành riêng cho từng linh hồn.  Đây là những hình khổ về giác quan.  Từng linh hồn phải chịu những hình khổ kinh khủng không sao tả được, liên quan đến cách mà họ đã phạm tội.”

6. Hầu hết những linh hồn trong hoả ngục vốn đã không tin vào hoả ngục. Thánh Faustina đã nói rằng những gì mình đang chia sẻ chỉ là “một cái bóng mờ nhạt so với những gì tôi đã nhìn thấy.  Nhưng tôi xin lưu ý một điều: hầu hết các linh hồn trong hỏa ngục là những linh hồn đã không tin có hỏa ngục.”  Thánh nữ đã chứng thực trong nhật ký của mình rằng: “Tôi, nữ tu Faustina, theo lệnh của Thiên Chúa, đã xuống những vực thẳm hỏa ngục để có thể nói cho các linh hồn biết về hỏa ngục và chứng minh sự hiện hữu của nó.”

7. Thị kiến của thánh nữ là nhằm để cứu vớt các linh hồn.  Kengor nói rằng, “Những thị kiến đáng sợ này cũng vang vọng một tính cấp bách rõ ràng đối với lòng thương xót.  Thông qua những thị kiến này cùng với các sứ giả của chúng, Thiên Chúa đang cho chúng ta thêm một cơ hội nữa.  Chúng ta đang được cảnh báo rằng phải chỉnh đốn bản thân, phải ngừng việc phạm tội và phải cố gắng ăn năn đền tội, trước khi quá muộn.”

Alejandro Bermudez – Nguồn: Catholic News Agency (05/10/2021)
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

CON ĐƯỜNG NHỎ

Hầu hết trong chúng ta, ai cũng đã từng nghe nói về Thánh Têrêxa Hài Đồng, nhà thần nghiệm người Pháp qua đời năm 1897 ở tuổi 24 và có lẽ đây là vị thánh nổi tiếng nhất trong hai thế kỷ qua.  Thánh Têrêxa nổi tiếng vì nhiều chuyện, nhất là về con đường tâm linh được gọi là “con đường nhỏ” của ngài.  “Con đường nhỏ” là gì?

Suy nghĩ chung thường nhìn Thánh Têrêxa và “con đường nhỏ” của ngài là lòng mộ đạo đơn sơ không phải là công lý so với chiều sâu con người hay tâm linh của ngài.  Thường thường “con đường nhỏ” được đơn giản hiểu là, vì danh Chúa Giêsu, chúng ta làm những việc bác ái nhỏ bé, ẩn giấu, khiêm nhường cho người khác mà không mong đợi được đáp trả lại.  Trong cách giải thích phổ biến này, chúng ta đã gọt rửa, tẩy sạch các vết nhơ và tươi cười với những người khó chịu để làm vui lòng Chúa.  Chắc chắn ở một vài khía cạnh, điều này là đúng; nhưng “con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa cần được hiểu sâu rộng hơn.

Đúng, “con đường nhỏ” khuyên chúng ta nên làm những việc nhỏ, dễ thương với nhau nhân danh Chúa Giêsu, nhưng con đường này có những chiều kích sâu đậm hơn.  “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa dẫn đến sự thánh thiện dựa trên ba chuyện: nhỏ bé, ẩn danh và có động lực riêng.

Nhỏ bé: Đối với Thánh Têrêxa, “nhỏ bé” trước hết không phải là nhỏ bé trong các hành động chúng ta làm, rửa chén, gọt khoai hay tươi cười với người khó chịu.  Nhỏ bé trước hết là nói đến tình trạng thấp hèn của chính mình, tình trạng khó nghèo tận cùng của mình trước mặt Chúa.  Đứng trước Thiên Chúa, chúng ta nhỏ bé.  Chấp nhận mình nhỏ bé, hành động trong tinh thần nhỏ bé là khiêm nhường.  Chúng ta đến với người khác, đến với Chúa trên “con đường nhỏ” khi chúng ta làm các việc bác ái nhỏ cho người khác, chứ không bằng sức mạnh và đức tính mà chúng ta cảm nhận lúc đó, nhưng đúng hơn là qua cảm nhận mình khó nghèo, mình bất lực, mình trống rỗng để ân sủng Chúa làm việc qua chúng ta, để những gì chúng ta đang làm sẽ lôi kéo người khác đến với Chúa chứ không phải đến với mình.

Hơn nữa sự thấp bé của chúng ta làm cho chúng ta nghĩ, đa số chúng ta, chúng ta không làm chuyện gì lớn để thay đổi lịch sử nhân loại.  Nhưng chúng ta có thể thay đổi thế giới qua các việc thấp bé của mình, chúng ta gieo đây đó hạt mầm ẩn giấu, như một loại kháng sinh tiềm ẩn cho sức khỏe tâm hồn, phân chia nguyên tử tình yêu trong chính con người mình.  Và như thế, “con đường nhỏ” là làm những chuyện khiêm tốn, ẩn giấu.

Ẩn danh: “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa là con đường ẩn giấu, để những gì Cha thấy trong ẩn giấu sẽ được đền đáp trong ẩn giấu.  Và những gì ẩn giấu không phải là việc làm bác ái của chúng ta, nhưng là chính chúng ta, những người đang làm việc này.  Trong “con đường nhỏ”, các hành động bác ái nhỏ của chúng ta đa phần không được chú ý, dường như không có một tác động nào thực sự trên lịch sử nhân loại và nó cũng không mang lại cho chúng ta một lòng biết ơn nào.  Nó vẫn ẩn giấu, không ai biết nhưng bên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, những gì ẩn giấu, không vụ lợi, không ai biết, những gì bị xóa mờ, những gì không đáng kể, không quan trọng chính là chiếc xe quan trọng nhất của tất cả để ân sủng ở một mức độ sâu đậm nhất.  Giống như Chúa Giêsu, Chúa không cứu chúng ta bằng các phép lạ giật gân và các hành động đáng kể, nhưng Ngài cứu chúng ta qua sự vâng phục không điều kiện với Chúa Cha, và qua sự tử đạo thầm lặng, các việc làm của chúng ta cũng vẫn là những việc làm không ai biết, để cái chết và tinh thần chúng ta để lại mới làm cho chúng ta thực sự nên ơn ích.

Động lực riêng: Cuối cùng, “con đường nhỏ” dựa trên một động lực đặc biệt.  Chúng ta được mời gọi để hành động khởi đi từ sự thấp bé và ẩn danh của mình, làm các hành động yêu thương nhỏ, phục vụ người khác vì một lý do đặc biệt, theo nghĩa bóng, đó là lau gương mặt đang đau khổ của Chúa Kitô.  Bằng cách nào?

Thánh Têrêxa Lisiơ là người cực kỳ được ân phúc và có biệt tài.  Dù từ đầu đời, ngài đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng như ngài công nhận và theo chứng từ của nhiều người, Thánh Têrêxa được yêu thương một cách thuần khiết, sâu đậm và tuyệt vời đến nỗi làm cho nhiều người phải ao ước.  Ngài cũng là em bé rất dễ thương, được bao quanh bởi yêu thương và an toàn của một đại gia đình mà mỗi nụ cười, mỗi giọt nước mắt đều được chú ý, đều được yêu mến (và thường được chụp hình).  Nhưng khi ngài lớn lên, ngài nhanh chóng nhận ra, những gì có thật trong đời sống của mình không phải ai cũng có.  Nụ cười và nước mắt của họ không ai chú ý và cũng không được ai yêu mến.  Như thế “con đường nhỏ” của ngài xây dựng trên một động lực đặc biệt.  Và đây là lời của Thánh Têrêxa:

“Một ngày chúa nhật nọ, khi nhìn hình Chúa Giêsu trên thập giá, hình ảnh máu chảy ra từ bàn tay cực thánh của Ngài đã làm cho tôi xúc động mãnh liệt.  Tôi cảm thấy đau đớn tột cùng khi nghĩ, giọt máu này rơi xuống đất mà không ai vội đến thấm.  Tôi quyết tâm giữ tinh thần mình luôn ở dưới chân thập giá và nhận sương rơi của Ngài…  Ôi, tôi không muốn giọt máu này bị mất.  Tôi sẽ dành cả đời để lau thấm nó vì lợi ích cho các linh hồn.  Sống cho tình yêu, đó là lau khô khuôn mặt của bạn.”

Sống “con đường nhỏ” là để ý và yêu mến các giọt nước mắt không ai chú ý rơi từ khuôn mặt của những người đau khổ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỨC TIN KIÊN TRUNG

Hành trình Đức tin là một hành trình liên lỉ, suốt đời.  Tin vào Chúa là chọn Ngài làm lý tưởng tối thượng của cuộc đời.  Đức tin không giống như ghi danh vào một tổ chức xã hội, khi thích thì tuân thủ, khi không hài lòng thì bất mãn tiêu cực.  Gia nhập Giáo Hội không giống như xin việc ở một công ty, chỉ nhất thời tạm bợ và đòi hỏi quyền lợi.  Tin vào Chúa cũng là sự chọn lựa ưu tiên cho cả cuộc đời.  Chính vì vậy mà cần phải có lòng kiên trung, trong mọi biến cố hoàn cảnh.

Thánh Phaolô khuyên nhủ người môn sinh của ngài là Timôthê, hãy “khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa” Đặc sủng này, ông Timôthê đã đón nhận qua nghi thức đặt tay (tức là Bí tích Truyền chức thánh).  Đặc sủng, tức là ơn đặc biệt do Chúa ban.  Ơn này vẫn hiện hữu trong con người được lĩnh nhận các Bí tích, nhưng cần phải được khơi lại, vì nhiều khi đặc sủng này bị lớp bụi thời gian bao phủ.  “Khơi dậy đặc sủng”, tức là tái nhận ra quyền năng của Thiên Chúa hiện hữu nơi chúng ta, giúp chúng ta ý thức bổn phận của mình trong cộng đoàn Giáo Hội.  Thánh Phaolô lúc đó đang bị cầm tù.  Ông khuyên nhủ dặn dò người môn đệ của mình hãy vững tâm và hãy trung thành với sứ mạng loan báo Tin Mừng, đồng thời sống mẫu mực, để những lời giảng dạy có sức thuyết phục đối với người nghe.  Vị Tông đồ minh chứng về lòng trung thành của mình đối với Chúa, ngay cả trong tù ngục xiềng xích.

Trong bài Tin Mừng, một ngày nọ, các môn đệ xin Chúa ban thêm Đức tin, nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu xem ra không ăn nhập với câu hỏi của các ông.  Theo giáo huấn của Chúa, điều quan trọng không hệ tại ở việc chúng ta có nhiều Đức tin hay ít, nhưng là ở ý thức về Đức tin nơi chúng ta.  Đối với người tín hữu, Đức tin luôn hiện hữu từ ngày được thanh tẩy.  Qua Bí tích Thanh tẩy, Chúa ban cho chúng ta Đức tin, như một món quà vô giá.  Món quà ấy, luôn hiện diện trong tâm hồn chúng ta và để lại dấu ấn không thể xoá nhoà.  Có những người để cho lớp thời gian che phủ, đến nỗi Đức tin bị bóp nghẹt.  Như thế, theo Chúa Giêsu, mỗi người tín hữu phải khơi lên ngọn lửa Đức tin nơi cuộc đời mình, để ngọn lửa ấy soi sáng mọi hành động, sưởi ấm con tim và tăng cường sức mạnh nơi họ.

Đức tin Chúa ban là món quà quý giá đem lại niềm vui, đồng thời cũng là nguồn sức mạnh để chúng ta vươn lên giữa dòng đời.  Xã hội thời Đức Giêsu là chế độ nô lệ.  Vì thế, trong giáo huấn của Người, chúng ta vẫn thấy những hình ảnh ông chủ và người nô lệ hoặc người đầy tớ.  Chúa đã dùng những hình ảnh và quan niệm thời bấy giờ, để diễn tả nội dung giáo huấn của Người.  Những người đầy tớ, đương nhiên phải làm bổn phận của người đầy tớ.  Người đầy tớ không có quyền đòi hỏi nơi ông chủ.  Ông Chủ tối cao chính là Thiên Chúa.  Ngài dựng nên con người và cho họ hiện hữu trên trái đất này.  Của cải vật chất mà mỗi người đang sở hữu, thực ra cũng chỉ là tài sản Chúa trao cho quản lý và sinh lợi.  Có những người quản lý trung tín, nhưng cũng có những người quản lý bất trung.  Trong Tin Mừng thánh Luca, nhiều lần Chúa Giêsu đã mạnh mẽ lên án những người giàu có mà cậy tiền cậy của để khinh thường người khác, nhất là ích kỷ độc đoán và dửng dưng với người nghèo khổ.  Người quản lý trung tín vừa biết chăm lo để tài sản được sinh lợi, vừa biết phân phát để giúp đỡ người khác.  Con Thiên Chúa làm người đã trở nên đầy tớ (tức là người phục vụ) của mọi người.  Nhờ mầu nhiệm Nhập thể và Cứu cuộc, con người, vốn thấp hèn và tội lỗi, lại trở nên thánh thiện cao sang.

“Khi anh em đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng.  Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”  Lời dạy của Chúa có thể gây sốc đối với chúng ta!  Nhưng Chúa Giêsu muốn khẳng định, ở đời này, mỗi khi làm được việc gì, suy cho cùng, đó cũng làm những việc bổn phận mình mà thôi.  Người dạy ta khiêm tốn khi thành công, kiên trì khi thất bại, và nhất là đừng cậy mình ỷ thế, vênh vang tự đắc khi làm được những việc lớn lao.

Như trên đã nói, hành trình Đức tin là hành trình liên lỷ suốt đời.  Hành trình Đức tin cũng nhiều nỗi gian truân.  Ngôn sứ Kha-ba-khúc hoạt động dưới thời Giơ-hô-gia-kim.  Đây là giai đoạn đen tối của lịch sử Do Thái: luân lý suy đồi, tôn giáo pha tạp, vua quan lầm lạc và đi ngược lại với giáo huấn của Chúa.  Sách mang tên Kha-ba-cúc được viết khoảng từ năm 612 đến 597 trước Công nguyên.  Tác giả than vãn với Chúa, vì dân tộc suy đồi.  Ông phàn nàn vì cầu nguyện mãi mà Chúa không đáp lời.  Chính trong bối cảnh đó, Chúa đã trả lời ông.  Ngài hứa với ông, người công chính sẽ được Chúa bù đắp, kẻ gian ác sẽ phải diệt vong.  Ngài phán: “Này đây, ai không có tâm hồn ngay thẳng sẽ ngã gục, còn người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình.”  Lời hứa này đã tiếp sức cho vị ngôn sứ, để ông can đảm thực thi sứ vụ của mình, vì ông biết ông luôn có Chúa ở cùng.

Trong bối cảnh hiện tại, người tín hữu đôi khi bị cám dỗ chán nản, vì những người tin vào Chúa là một thiểu số quá ít.  Hơn nữa, những khuynh hướng và quan điểm tục hoá đang làm cho Đức tin phai nhạt.  Rồi bạo lực tràn lan trong xã hội.  Khi chứng kiến những bất công, hoặc khi phải đối diện với những khó khăn thử thách, nhiều khi chúng ta cũng thốt lên như ngôn sứ Kha-ba-cúc: “Cho đến bao giờ, lạy Đức Chúa, con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe, con la lên: “Bạo tàn!” mà Ngài không cứu vớt?”  Từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta.  Ngài khuyên chúng ta hãy kiên trung trước mọi thử thách.  Những ai sống công chính sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.  Lịch sử cứu độ và lịch sử cá nhân mỗi người đã chứng minh điều đó.

Khi gia nhập Giáo Hội qua Bí tích Thanh tẩy, mỗi chúng ta, dù còn nhỏ, đã tuyên xưng Đức tin và hứa từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những hành vi ám muội xấu xa để sống xứng đáng là con cái ánh sáng.  Nhiều người tín hữu không ý thức lời hứa ấy, thậm chí họ không biết là cha mẹ và người đỡ đầu đã thay họ để tuyên xưng những điều này.  Chính vì thiếu hiểu biết, nên đời sống Đức tin của họ mờ nhạt.  Lời thề hứa từ bỏ ma quỷ, từ bỏ tội lỗi vì thế mà không được tôn trọng giữ gìn.

Cũng có người quan niệm lệch lạc, cho rằng tuyên xưng Đức tin trong kinh Tin Kính là đủ.  Đức tin kiên trung thể hiện qua việc tuyên xưng Đức tin trong Phụng vụ và việc sống Đức tin trong cuộc đời.  Phụng vụ giúp ta tăng trưởng Đức tin.  Đời sống cụ thể là nơi chúng ta làm chứng cho Đức tin.  Đức tin tuyên xưng, phải đi đôi với Đức tin thực hành.  Tinh thần Đức tin phải thấm nhập cuộc sống gia đình cũng như mọi lĩnh vực của đời sống.  Một cách cụ thể, người tin Chúa phải tránh nói dối, tránh xúc phạm đến danh dự, tài sản và thân thể người khác.  Người tin Chúa phải luôn xác định rằng, mọi hành vi và tư tưởng của tôi, Chúa đều thấu hiểu.  Ngài biết rõ và Ngài sẽ xét xử tôi về những hành vi đó.  Nếu luôn tâm niệm như thế, người Kitô hữu sẽ cảm nhận được giá trị của cuộc sống và trân trọng từng phút giây cuộc đời.   Bởi lẽ mỗi phút giây ấy là cơ hội để chúng ta gặp Chúa và thực thi giáo huấn của Người.

“Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa. Người phán: các ngươi chớ cứng lòng.”  Lời Thánh vịnh nhắc nhở chúng ta về giây phút hiện tại của cuộc sống trần gian.  Hãy nghe tiếng Chúa.  Không bao giờ là muộn, vì Chúa bao dung và rộng lượng thứ tha.  Hãy xác tín nơi Ngài, dù tội lỗi đến đâu chăng nữa.  Tin vào Ngài sẽ không bao giờ thất vọng, vì Chúa là Đấng tín trung.

TGM Vũ Văn Thiên

TỔNG LÃNH THIÊN THẦN CỦA THIÊN CHÚA

Trong bức tranh vẽ trên trần nhà, tường vách thánh đường kính các Thiên Thần ở Palermo có hình cùng tên và chức vị của bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần:
  1. Michael – Victoriosus – Người chiến thắng
  2. Gabriel – Nuntius – Sứ giả
  3. Raphael – Medicus – Thầy thuốc
  4. Uriel – Fortis Socius – Người đồng hành mạnh mẽ
  5. Jehudiel – Remunerator – Người làm ơn
  6. Barachiel – Adjutor – Người trợ giúp
  7. Sealthiel – Oarator – Người bầu cử

Tổng lãnh Thiên Thần Michael

Đứng đầu bảy vị Tổng lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa.  Tiên Tri Daniel đã diễn tả Tổng lãnh Thiên Thần Michael đứng về phía Thiên Chúa: “Thời đó, Michael là đấng vẫn thường che chở dân người.” ( Daniel 12,1).

Tổng lãnh Thiên Thần Michael được xưng tụng với danh xưng bằng tiếng Latinh: Quis ut Deus? – Ai bằng Thiên Chúa?

Theo tương truyền:

Thiên Thần Michael được liệt vào hàng Thiên Thần quân đội chiến đấu đã đánh thắng Thiên Thần quỉ dữ Lucifer.

Thiên Thần Michael đã vâng lệnh Thiên Chúa cầm gươm đuổi Ông Bà nguyên tổ Adong-Evà ra khỏi vườn địa đàng, sau khi Ông bà phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa.

Thiên Thần Michael cũng là vị Thiên Thần thổi kèn Posaune đánh thức gọi những người đã qua đời sống lại ra khỏi mồ.

Tổng lãnh Thiên Thần Michael là vị Thiên Thần có sức mạnh khả năng đi đến quyết định dứt khoát mang lại chiến thắng cho Thiên Chúa, khi giết chết con rồng mãng xà ma quỷ, như sách Kinh Thánh thuật lại: “Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Mi-ca-en và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà.  Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến.  Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không còn chỗ trên trời nữa.  Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó.” Khải Huyền 12, 7-9).

Tổng lãnh Thiên Thần Michael, theo vâng mệnh Thiên Chúa, đã quyết định lằn ranh giữa Trời và hỏa ngục.  Vì thế , Vị Tổng lãnh Thiên Thần Michael được chọn là quan thầy bầu cử cho những người trong giờ phút cơn hấp hối.

Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel

Tên Gabri-El có ý nghĩa “sức mạnh của Thiên Chúa.”  Là Vị sứ giả của Thiên Chúa được sai đến báo tin cho thiếu nữ Maria ở làng Nazaret, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa sẽ đầu thai làm người trong cung lòng Maria: “Sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng sẽ phủ rợp bóng trên chị…” ( Lc 1,26/38).

Khi hiện ra với Ngôn sứ Dacharia trong đền thờ, vị Tổng lãnh Thiên Thần đã nói: “Tôi là Gabriel, hằng đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, tôi được sai đến nói với ông và loan báo tin mừng ấy cho ông.” ( Lc 1,19).

Hằng ngày trong đời sống đức tin của Hội Thánh, vào lúc 12.00 giờ trưa chuông thánh đường đổ hồi, kinh tuyền tin được xướng đọc lên.  Như vào mỗi ngày Chúa Nhật lúc 12.00 giờ trưa, Đức Thánh Cha từ trên cửa sổ văn phòng làm việc cùng đọc kinh truyền tin với mọi người Giáo dân đứng tụ tập ở quảng trường Thánh Pherô bên Vatican.

Tiếng chuông lúc 12.00 trưa và Kinh Truyền tin nhắc nhớ đến Tổng lãnh Thiên Thần Gabri-El, là Sứ Giả của Thiên Chúa mang loan báo tin vui Chúa Giêsu Con Thiên Chúa xuống trần gian làm người.

Tổng lãnh Thiên Thần Rafael

Tên Rafa-El mang ý nghĩa “Thiên Chúa chữa lành.”  Trong Kinh Thánh sách Tobia thuật lại Thiên Thần Rafael vâng mệnh Thiên Chúa chữa lành bệnh mắt cho Tobia:

“Ngay lúc ấy, lời cầu xin của hai người là Tô-bít và Xa-ra đã được đoái nghe trước nhan vinh hiển của Thiên Chúa.  Và thiên sứ Ra-pha-en được sai đến chữa lành cho cả hai.  Ông Tô-bít thì được khỏi các vết sẹo trắng ở mắt, để ông được ngắm nhìn tận mắt ánh sáng của Thiên Chúa.” (Tobia 3, 16)

Thiên Thần Rafael luôn hằng đồng hành che chở Tobia trên đường đi.  (Tobia 6, 10)

Tổng lãnh Thiên Thần Rafael trở thành bổn mạng phù hộ cho con người đi xa du lịch

Ông Bà Cha Mẹ nào ngay từ lúc con cháu còn nhỏ thơ bé cũng đều to nhỏ âm thầm cầu xin với các Thiên Thần phù hộ cho đời sống thể xác lẫn tinh thần của chúng.  Bằng an hồn xác là nhu cầu căn bản rất cần thiết cho đời sống.

Sống lòng bác ái giúp đỡ nhau, kính trọng sự sống, điều chân thật lẽ phải luôn là nhu cầu làm nên khung nền kiến tạo đường đời sống tình liên đới con người với nhau trong xã hội.

Sống thể hiện một đời sống trong tương quan tình liên đới với Đấng là nguồn đời sống, nguồn tình yêu và ơn tha thứ, luôn là nhu cầu khát vọng của tinh thần con người ở đời.

Nhu cầu tinh thần này không chỉ là nhu cầu thiêng liêng đạo giáo, nhưng đó là nhu cầu đời sống văn hóa của con người ở vào mọi thời đại.  Nhu cầu tinh thần văn hóa này cùng với những nhu cầu khác cho sự sống thể xác giúp đời sống có đầy đủ ý nghĩa, triển nở cùng mang đến niềm vui hạnh phúc.

Các Thiên Thần của Thiên Chúa là Sứ giả được Thiên Chúa gửi sai đến cùng đồng hành trợ giúp con người trong mọi hoàn cảnh đời sống thể hiện tình lòng thương xót bác ái vị tha.

Với người tín hữu Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa là Đấng của sự chân thật, sự tốt lành thiện hảo, là Thiên Chúa của lòng khoan dung tha thứ qua Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô.

Lòng tin vào Thiên Thần vượt quá khỏi sự suy hiểu cùng thắc mắc của trí khôn con người, thắc mắc thuộc về đời sống con người, và thắc mắc giúp con người tỉnh thức thêm ra.

Lễ kính các Tổng Lãnh Thiên Thần của Thiên Chúa, 29.09.

Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

ĐỪNG CHỈ LÀ NGƯỜI TỬ TẾ!

“Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm!”

Charles Hodge nói, “Một thế giới của những người tử tế, vốn hài lòng với sự tốt đẹp của chính họ, không nhìn xa hơn, quay lưng lại với Chúa… sẽ rất cần sự cứu rỗi như một thế giới khốn khổ – và thậm chí có thể khó cứu hơn!”

Kính thưa Anh Chị em,

Ai cũng mong làm người tử tế!  Nhưng thật bất ngờ, cùng với Charles Hodge, Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay yêu cầu chúng ta nhiều hơn, ‘đừng chỉ là người tử tế!’  Vì nếu chỉ là người tử tế, với Chúa Giêsu, xem ra vẫn không đủ!  Ngài sẽ tiết lộ sự thật này qua dụ ngôn người phú hộ giàu có và Lazarô nghèo khó, mà giữa họ là ‘một vực thẳm!’

Người phú hộ trong Tin Mừng được Amos, bài đọc thứ nhất, phác thảo là những con người chỉ biết có mình, họ sống an nhàn mà quên đi những người khốn khổ bên cạnh.  Thiên Chúa của Cựu Ước và của Tân Ước cũng chỉ là một, “Ngài là Vua các vua, Chúa các chúa” như Phaolô nhắn nhủ qua thư Timôthê, bài đọc hai; rồi đây, Ngài sẽ đứng ra hạch tội những kẻ vị kỷ.  Cũng chính Ngài sẽ nâng cao và phục hồi phẩm giá cho kẻ cô thế cô thân.  Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa!”, “Đấng trả lại quyền lợi cho người bị áp bức.”

Trở lại bài Tin Mừng, ai cũng biết người phú hộ trong dụ ngôn là người “tử tế”; ít là ông không ác tâm, không hại ai.  Kết thúc cuộc đời, ông cam phận cách hiền lành; ông không yêu cầu được rời khỏi địa ngục, nhưng chỉ xin một giọt nước để làm dịu cơn khát đang cháy bỏng.  Và khi không được đáp ứng ‘nhiều’ đến thế, ông xin một người đưa tin về gia đình, với hy vọng những người anh em của mình không chịu chung một số phận.  Ông, ít nhất, đã nghĩ đến phúc lợi của người khác.  Tuy nhiên, tất cả những điều tử tế đó vẫn không cứu được ông khỏi hình phạt đời đời.  Tôi có bao giờ suy nghĩ rằng, chỉ cần trở thành một người “tử tế”, tôi sẽ đạt thấu thiên đàng?  Có thể tôi đang sử dụng tiêu chí riêng của mình để đánh giá sự xứng đáng của bản thân, thay vì sử dụng những tiêu chuẩn của Chúa?

Người phú hộ dường như không bao giờ bận tâm đến sự có mặt của Lazarô.  Ông không đuổi, cũng không nhờ người khác đuổi; thay vào đó, ông ‘không thấy’ Lazarô.  Và đó là sai lầm của ông; tội của ông là tội thiếu sót.  Ông mất linh hồn không vì những gì ông đã làm, mà vì những gì ông đã không làm!  Tuy nhiên, dù đang bị lên án, ông lại tỏ ra quan tâm đến năm anh em còn ở nhà.  Có lẽ, họ đang sống một cuộc sống “tử tế” như ông trước đó; và rồi đây, chắc cũng có chung số phận với người anh em ruột thịt đi trước của mình.  Mối quan tâm của người phú hộ là đúng đắn, nhưng thời gian của ông đã quá muộn.  Giá mà ông thể hiện sự quan tâm đến linh hồn những người cật ruột khi ông còn sống, thì có thể ông đã tạo ra một sự khác biệt.

Anh Chị em,

“Giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm!”  Bỏ qua một người nghèo là tạo thêm một vực thẳm, phớt lờ người nghèo là coi khinh Chúa!  Nhiều người thường giả vờ như không nhìn thấy người nghèo!  Với họ, người nghèo không tồn tại.  Vậy mà, không một sứ giả nào, không một sứ điệp nào có thể thay thế những người nghèo mà chúng ta gặp trên hành trình cuộc đời; bởi chính trong họ, Chúa Giêsu đến gặp chúng ta!  Người phú hộ xem ra không có lỗi gì, ông chỉ quá bận tâm về mình; và hầu như cuộc đời ông chỉ biết tìm thoả mãn bản thân mà quên mất giới răn trọng nhất, “kính mến Chúa, yêu thương người!”  Bạn và tôi đừng quên, Lazarô có thể là người ở bên ngoài cánh cổng; nhưng Lazarô cũng có thể chính là người nhà trong gia đình chúng ta.  Hãy sống làm sao để đừng hối tiếc vì đã không làm nhiều hơn cho họ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa muốn con ‘đừng chỉ là người tử tế!’; đừng để con tạo thêm cho mình một vực thẳm giữa Chúa và con ngay hôm nay, điều sẽ khiến con bẽ bàng và vỡ vụn mai ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HAI CUỘC ĐỜI – HAI SỐ PHẬN

Cũng như Chúa nhật trước, Lời Chúa hôm nay lại nói với chúng ta về chủ đề tiền bạc.  Tiền bạc rất cần thiết cho con người.  Tiền bạc cũng là lý do xung đột và gây nhiều thảm họa.  Hai cuộc đời, hai số phận được Chúa Giêsu dùng trong câu chuyện dụ ngôn để gửi gắm một giáo huấn quan trọng.  Người khuyên các thính giả, hãy mở lòng quảng đại và hãy nghĩ đến đời sau khi còn đang sống.  Người cũng lên án những ai coi của cải thế gian là lý tưởng và cùng đích của cuộc đời.  Những người này sẽ phải ân hận.  Hai nhân vật chính trong dụ ngôn hoàn toàn khác nhau khi họ sống trên đời cũng như khi họ đã chết.

Hai cuộc đời: ông nhà giàu và Lagiarô là hai thái cực của cuộc sống vật chất.  Một người giàu sang, một người nghèo khó.  Sự giàu sang cũng như sự giàu có đều được diễn tả ở mức cao nhất.  Người giàu lắm bạn bè thăm hỏi; Lagiarô chỉ có con chó làm bạn.  Người giàu quần là áo lượt; Lagiarô chỉ có lở loét toàn thân.

Hai số phận: có điểm giống nhau giữa hai nhân vật, đó là cả hai người đều chết.  Dụ ngôn không nói rõ, nhưng chắc chắn Lagiarô chết trong âm thầm; còn ông nhà giàu chắc phải có đám tang rất linh đình, như chúng ta thường thấy trong xã hội mọi thời.  Cả hai đều chết, nhưng hậu phận lại khác nhau.  Người xưa kia giàu, nay trở thành khốn khó; Lagiarô xưa kia nghèo, nay hạnh phúc thảnh thơi.  Cả sự khốn khó và hạnh phúc của hai nhân vật này cũng được diễn tả ở mức cao nhất.  Trước đây Lagiarô mong ước đồ ăn thừa, mà chẳng có ai cho; bây giờ ông nhà giàu chỉ mong được chấm một giọt nước vào lưỡi cho giảm nhiệt do bị thiêu đốt, cũng không được.

Người phân xử ở đây không phải là Thiên Chúa, mà là ông Abraham.  Ông là Tổ phụ của dân Do Thái.  Lề luật mà ông Abraham nại đến, đó là ông Môisen.  Ông được tôn kính trong truyền thống dân tộc và là nhân vật biểu tượng cho lề luật.  Như thế, sống ở đời là tự chọn cho mình sự phán xét.  Hạnh phúc hay khốn khó, nhiều khi tự mình chọn cho mình.  Trả lời cho đề nghị xin cử Lagiarô về để cảnh báo người thân, Tổ phụ trả lời: Ai có số phận người ấy.  Đã có giáo huấn của ông Môisen và các ngôn sứ.

Trong tin mừng thánh Luca, dụ ngôn này được xếp liền với một chuỗi giáo huấn của Chúa Giêsu về cách sử dụng của cải. Qua hình ảnh hai nhân vật trong dụ ngôn, Chúa muốn răn dạy mọi người, hãy khôn ngoan và thận trọng khi sử dụng của cải.  Ông nhà giàu đáng trách không phải vì ông ta lắm của.  Giàu có không phải là một tội, cũng như nghèo nàn không phải là điều xấu.  Tội của ông nhà giàu là sự dửng dưng vô cảm trước nỗi khổ của người nghèo nằm ngay trước cổng nhà mình.  Khoảng cách từ bàn ăn đến cánh cổng chẳng bao xa, mà ông chẳng bao giờ vượt qua, vì ông thực sự không muốn.  Theo giáo huấn của Kinh Thánh, Thiên Chúa là Đấng cảm thương và bênh vực những người nghèo khó và bé mọn.  Nếu người đời hắt hủi họ, thì Thiên Chúa lại ôm họ vào lòng.  Ông Abraham chính là hình ảnh của Thiên Chúa.  Ngài luôn giàu lòng xót thương những người đau khổ, và bảo vệ những người bị ức hiếp.

Lời phê phán của Tổ phụ Abraham đối với ông nhà giàu cũng là lời ngôn sứ Amos (khoảng thế kỷ VII trước Công nguyên) lên án những người giàu mà bóc lột người nghèo (Bài đọc I).  Nếu sống ở thời đại chúng ta, ngôn sứ Amos sẽ lên án những quan tham gian lận của công, những con sâu mọt làm nghèo đất nước.  Một vị lãnh đạo của Việt Nam đã nói: “họ (bọn tham quan) ăn không từ thứ gì.”  Lưới trời lồng lộng, những kẻ tham nhũng có thể qua mắt người đời, nhưng không thể qua được mắt Thiên Chúa.  Ngôn sứ Amos đã tiên báo: giờ đây họ phải lưu đày và đi đầu các kẻ lưu đày; những buổi yến tiệc của các kẻ buông tuồng sẽ không còn nữa.”  Không những phải chấm dứt tiệc tùng xa hoa, mà tên tuổi của họ còn bị người đời lên án phỉ nhổ.  Lời của ngôn sứ Amos làm chúng ta liên tưởng đến những vụ đại án hiện nay tại Việt Nam, khi một số quan chức có địa vị cao trong xã hội lần lượt ra tòa.

Mối quan tâm hàng đầu của người tín hữu là gì?  Thánh Phaolô trả lời: hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành.  Đây chính là sự giàu sang thiêng liêng, không bị mối mọt với thời gian, nhưng bền vững và xứng đáng được Thiên Chúa ban thưởng.  Thánh Tông đồ khuyên Timôthê: hãy chiêm ngắm và noi gương Đức Giêsu.  Người vốn là Thiên Chúa cao sang, là Vua các Vua, Chúa các chúa, mà đã trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu sang.

Sống ở đời, ai cũng cần phải có tiền bạc.  Tuy vậy, không phải lúc nào tiền bạc cũng đem lại cho chúng ta hạnh phúc.  “Nhiều tiền mà làm gì?” trong khi gia đình tan vỡ, vợ chồng xung đột.  Trong cuộc sống của chúng ta, có cả ngàn câu chuyện buồn mà tiền bạc là nguyên nhân.  Xin Chúa cho chúng ta có một cuộc sống vật chất ổn định vừa đủ, đồng thời biết sử dụng của cải để sinh lợi thiêng liêng cho mình và những người xung quanh.

TGM Vũ Văn Thiên

KHÔNG THỂ GIÁP MẶT

Họ không thể giáp mặt Ngài, vì dân chúng quá đông.”

 Một nhà tu đức nói, “Ngài là Vua các vua, chói lọi vinh quang, Chúa vũ trụ vô tận, huyền ảo; toàn tri, toàn năng, toàn trị; thánh khiết không thể tả, không thể chạm tới, không thể giáp mặt, không thể đổi thay…  Ấy thế, Ngài được bao bọc trong thân xác một con người thấp hèn, sinh ra như một con cái Giuđa bị khinh dể, trong một hang lừa bẩn thỉu, từ lòng một phụ nữ giản dị và không phô trương. Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’”

Kính thưa Anh Chị em,

“Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’” Ngày xưa cũng như ngày nay, không ít người trong nhân loại khát khao giáp mặt Chúa Giêsu, một con người rất dễ gặp trên mọi nẻo đường cuộc sống của mỗi người; thế nhưng, Tin Mừng hôm nay cho thấy một điều xem ra ngược lại.  Nhiều lúc, gặp Chúa Giêsu không phải luôn luôn dễ!  Luca cho biết, “Mẹ và anh em Ngài đến tìm Ngài, nhưng họ ‘không thể giáp mặt Ngài, vì dân chúng quá đông.”

Mỗi người có lý do riêng của mình để tìm đến Chúa Giêsu!  Một số người cần được chữa lành, như Bartimêanh mù thành Giêricô, la hét cho đến khi được Ngài xót thương; một số vì tò mò, như Giakêu, người đã leo lên cây để xem cho được Ngài; một số muốn nghe Ngài, như đám đông chen lấn bên hồ Gênêzareth; một số muốn chăm sóc Ngài, như Mẹ Maria, chị em Matta Maria.  Bạn và tôi, chúng ta có muốn gặp Chúa Giêsu không; tại sao tôi muốn gặp Ngài; điều gì đang ngăn cản khiến tôi ‘không thể giáp mặt Ngài?

Rõ ràng, nhiều lúc, thật không dễ dàng để chinh phục Chúa Giêsu; thậm chí cũng không dễ gặp Ngài.  Mặc dù chúng ta có thể tìm kiếm Ngài với ý định thuần khiết nhất, nhưng không phải lúc nào cũng toại nguyện.  Chắc chắn sẽ có những trở ngại, và chúng ta phải chuẩn bị!  Satan luôn tìm cách đẩy chúng ta ra xa Thiên Chúa qua tội lỗi, thậm chí đặt ra nỗi sợ, để cản ngăn chúng ta đến với phép Giải Tội, khiến chúng ta không nhận được ơn thứ tha và chữa lành.  Thế giới ra sức lôi kéo chúng ta càng xa Thiên Chúa càng tốt; nó cung cấp hàng ngàn sự xao nhãng và thú vui khiến chúng ta rời bỏ việc cầu nguyện, hồi tâm và hoán cải.  Bản thân chúng ta cũng rất ít có khuynh hướng thiên về điều lành, phục vụ tha nhân và sống các nhân đức.  Ngay cả lười biếng và ươn ế cũng có thể dập tắt những gì tốt nhất nơi chúng ta.  Vì thế, bạn và tôi, cần để Chúa Giêsu biết chúng ta đang tìm Ngài; nói cho Ngài lý do chúng ta ‘không thể giáp mặt Ngài.

 Anh Chị em,

Họ không thể giáp mặt Ngài.”  Tại sao bạn và tôi ‘không thể giáp mặt’ Ngài?  Đó là một câu hỏi quan trọng!  Vậy mà, với Chúa Giêsu, thật thú vị, được nhìn Ngài hay gặp Ngài vẫn không quan trọng!  Quan trọng là làm sao ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’; nhờ đó, được chữa lành và biến đổi.  Tuyệt vời thay!  Tin Mừng hôm nay tiết lộ, có một cách khác để có thể thường xuyên ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’, đó là khi chúng ta trở nên những con người biết “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.”  Bấy giờ, như Mẹ Maria, chúng ta sẽ sống mối tương quan với Chúa Giêsu đến một mức độ thân thiết còn hơn cả quan hệ huyết tộc.  Đây chính là vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta đạt đến phẩm giá và sự thân mật ngày càng cao hơn với Ngài.  Càng yêu mến Chúa, chúng ta càng yêu thương anh chị em mình.  Sách Châm Ngôn hôm nay nói, “Thực hành công bình và bác ái, thì đẹp lòng Chúa hơn là hy lễ.”  Quý biết bao khi chúng ta sống Lời Chúa như Ngài mong ước; Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

Lạy Chúa, xin đẩy xa mọi áp lực của ma quỷ và sự uể oải thiêng liêng nơi con; vì nó, con ‘không thể giáp mặt’ Ngài.  Xin chạm vào con, cho con chạm được Ngài; để con được biến đổi!”  Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế