ĐỀN THỜ TÂM HỒN

Kỷ niệm ngày cung hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, là chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21).  Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại.  Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa.

a. Giới thiệu Đền Thờ Latêranô

Vương cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô là một trong những thánh đường đầu tiên được xây cất sau những cuộc bách đạo ban đầu.  Thánh đường được Hoàng Đế Constantinô xây và được ĐTC Sylvester thánh hiến năm 324.  Thánh Đường này tiếp tục là Nhà Thờ Chánh Tòa của Giám Mục Rôma, Đức Thánh Cha.  Thánh Đường này được gọi là ‘Mater Ecclesiae Romae Urbis et Orbis’, Mẹ của tất cả các thánh đường ở Rôma và trên thế giới.

Năm 313, sau khi ra chiếu chỉ ở Milano cho Giáo hội được tự do hành đạo, Hoàng Đế Constantine cho xây đền thờ ở Laterano trong thời gian 313-318 để dâng kính Chúa Cứu Thế.  Thời Đức Giáo Hoàng Gregorio I (590-604) đền thờ được dâng kính cả Thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Gioan Tông Đồ.  ĐGH Lucio II đã ấn định tên đền thờ như hiện nay, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano, năm 1144.  Từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14, đền thờ này là trung tâm của giáo hội Roma, trụ sở và biểu tượng của Đức Giáo Hoàng.

Như các đền thờ khác, Đền Thờ Thánh Gioan ở Laterano nhiều lần bị tàn phá, hỏa hoạn, hoang tàn sau hơn 73 năm vắng chủ khi giáo triều dời về Avignon, Pháp, được xây lại như ngày nay thời ĐGH Sisto V (1585-1590).

Thánh đường dài 130m, có 5 gian.  Gian chính dài 87m, rộng 16m, có tượng 12 Thánh Tông Đồ bằng đá cẩm thạch trắng.  Bước vào đền thờ, bên phải có đàn phong cầm vĩ đại với hai ngàn ống.  Sau tòa giám quản có Giếng Rửa Tội (theo truyền thuyết, chính Hoàng Đế Constantine được ĐGH Silvestro rửa tội nơi đây).  Ngoài nhà thờ, bên hông trái, có tháp bút cao nhất (47m) và cổ kính nhất ở Roma bằng đá hoa cương đỏ của Ai Cập có từ thế kỷ 14 trước Chúa KiTô.  Là Mẹ của các nhà thờ và là nhà thờ chánh tòa của giáo phận Roma, đền thờ Thánh Gioan ở Laterano nhắc nhở các tín hữu “hồng ân rửa tội” với tất cả ý nghĩa của ơn này và mời gọi các tín hữu cảm tạ Thiên Chúa bằng chính cuộc sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. (x.BGCN 2008).

b. Chúa Giêsu thánh tẩy đền thờ

Đối với Do thái giáo, Lễ Vượt Qua là một đại lễ, tưởng niệm cuộc vượt qua Biển Đỏ tiến về Đất Hứa.  Lễ Vượt qua được tổ chức vào ngày 15 tháng Nissan, tức là tháng 4 dương lịch.

Mọi người trong đất nước Palestin đều về Giêrusalem dự lễ.  Cả những người tản mác khắp thế giới không bao giờ quên tôn giáo, tổ tiên cũng về dự đại lễ quan trọng nhất này.

Dầu sống ở xứ nào, người Do thái vẫn ước mơ và hy vọng được dự lễ Vượt Qua tại Giêrusalem ít nhất là một lần trong đời.

Trong dịp này Chúa Giêsu cùng đi dự lễ Vượt qua với các môn đệ.

Thuế Đền Thờ là một sắc thuế mà mỗi người Do thái từ 9 tuổi trở lên đều phải đóng.  Tiền thuế là ½ siếc-lơ, tương đương với 2 ngày công nhật.

Trong việc giao dịch thương mại, mọi loại tiền đều có giá trị tại Palestin.  Nhưng tiền thuế Đền thờ phải nộp bằng đồng siếc-lơ Galilê hoặc siếc-lơ của Đền Thờ.

Khách hành hương đến Đền Thờ phải đổi tiền siếc-lơ.  Vì vậy trong sân Đền Thờ có nhiều người làm nghề đổi tiền.  Tiền huê hồng khi đổi là ¼ ngày công cho 1 đồng.  4 đồng siếc-lơ thì người đổi được lợi một ngày công.  Do đó số tiền thuế Đền thờ và lợi tức đổi tiền thật là lớn.

Điều khiến Chúa Giêsu nổi giận là khách hành hương phải chịu những tệ nạn của bọn đổi tiền bóc lột với giá cắt cổ.  Thật là bất công và càng tệ hơn nữa khi người ta nhân danh Tôn giáo để trục lợi.

Bên cạnh bọn đổi tiền còn có một số người bán bò, chiên, bồ câu để khách hành hương mua làm lễ vật toàn thiêu.  Điều hết sức tự nhiên và tiện lợi là có thể mua đựơc các con vật ở sân Đền Thờ.  Luật quy định các con vật làm của lễ phải lành lặn không tỳ vết.  Có những chức sắc kiểm tra khám xét con vật.  Mỗi lần khám xét phải trả 1/12 siếc-lơ, không được mua vật ở ngoài Đền thờ.  Khốn nỗi, mỗi con vật mua trong đền thờ đắt gấp 15 lần ở bên ngoài.  Khách hành hương nghèo bị bóc lột trắng trợn khi muốn dâng lễ vật.  Sự bất công này lại càng tệ hại thêm vì nó làm dưới danh nghĩa tôn giáo.

Chính vì những điều ấy đã làm Chúa Giêsu bừng bừng nổi giận.  Chúa lấy dây thừng bện thành roi đánh đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.

Trong Phúc âm hiếm khi ta thấy Chúa Giêsu nổi giận.  Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa; lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội; xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình vì họ không biết việc họ làm.  Chính Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta học lấy nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhường.  Vậy mà ở đây, Chúa đã nổi giận đùng đùng, lật tung bàn ghế, lấy dây thừng làm roi xua đuổi tất cả.

Khung cảnh đền thờ phải là nơi yên tĩnh, thánh thiêng.  Thế mà nay lại ồn ào huyên náo, mua bán đổi chác, tranh giành, cãi cọ, đôi co như là một cái chợ buôn bán sầm uất.  “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” (Ga 2,16).  “Nhà của Ta là nhà cầu nguyện, còn các ngươi làm thành hang trộm cướp” ( Mt 21,12-13).  Chúa Giêsu thất vọng biết bao trong tiếng than thở ấy.  “Nơi buôn bán”, “Hang trộm cướp”, Đền thờ nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa, nay lại quá bất kính, quá bát nháo khiến Chúa Giêsu phải đau lòng.  Lời ngôn sứ Giêrêmia quở trách dân Do thái xưa đã nên ứng nghiệm ( x Gr 7,11).

Thế là Chúa Giêsu thực hiện một cuộc thanh tẩy Đền thờ vì Ngài yêu mến Đền thờ.  “Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” (Tv 69,10).  Lòng nhiệt thành với Đền thờ sẽ dẫn Đức Giêsu đến chỗ bị người đời bách hại (x Ga 15,5).

c. Tại sao Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ?

– Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ vì nhà Thiên Chúa đã bị xúc phạm.

Trong sân đền thờ có thờ phượng mà không có lòng tôn kính.  Thờ phượng mà không có lòng tôn kính là việc bất xứng.  Đó là việc thờ phượng hình thức chiếu lệ.  Trong sân Đền thờ người ta cãi vã về giá cả, tiếng ồn ào huyên náo tạo thành một cái chợ chứ không phải là Đền thờ.

– Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ để chứng minh rằng việc dâng thú vật làm lễ tế không còn thích đáng nữa.

Các ngôn sứ đã loan báo: “Đức Chúa phán, ngần ấy hy lễ của các ngươi đối với Ta nào có nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta chán ngấy.  Máu chiên dê Ta chẳng thèm.” (Is 1,11).  “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận” (Tv 50,16).

Thái độ thanh tẩy Đền thờ của Chúa Giêsu chứng tỏ Chúa đòi hỏi lòng thành kính.  Lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa là tấm lòng chân thành.

– Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ vì “Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện”

Đền thờ là nơi Thánh, là chốn Thiên Chúa hiện diện tiếp nhận phụng tự của người dâng lễ và thông ban cho họ sự sống và các ân huệ của Người.

Các chức sắc Đền thờ, các con buôn người Do thái đã biến Đền thờ thành nơi huyên náo, nổi loạn.   Tiếng bò rống, tiếng chiên kêu, tiếng rao hàng, lời qua tiếng lại mặc cả, cãi cọ mua bán làm cho khách hành hương không thể cầu nguyện được.

d. Xây dựng đền thờ tâm hồn.

Chúa Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem.  Chúa muốn chúng ta thanh tẩy Đền thờ tâm hồn mình.

Đền thờ tâm hồn không xây dựng bằng vật liệu cao cấp của các thứ kim loại, bằng những loại gỗ quý giá.  Đền thờ tâm hồn được xây bằng các bí tích, các việc lành thánh thiện, những hy sinh, lòng yêu mến Thiên Chúa.

Trong Đức Kitô, chúng ta đã trở nên đền thờ sống động và đã được cung hiến ngày lãnh nhận phép Thánh Tẩy.  Thánh Phaolô minh định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong đền thờ ấy.”  Đó là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa dành cho mỗi tín hữu qua Đức Giêsu Kitô.  Thiên Chúa yêu thích ngự nơi đền thờ tâm hồn chúng ta hơn là đền thờ bằng gỗ đá, dù là gỗ thơm đá quý.  Bởi lẽ đền thờ bằng gỗ đá, dẫu có xinh đẹp và đồ sộ như đền thờ Latêranô đi chăng nữa thì một ngày kia, cũng sẽ tiêu tan.  Không có đền thờ nào đẹp bằng đền thờ Giêrusalem.  Một công trình nguy nga tráng lệ xây cất ròng rã 46 năm.  Khi đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Chúa Giêsu thấy sự huy hoàng của Đền thờ, nhưng Người lại nói rằng: sẽ có ngày không còn hòn đá nào trên hòn đá nào.  Khi người Do thái chất vấn: Ông lấy quyền nào mà làm như vậy?  Chúa Giêsu bảo: cứ phá Đền thờ này đi, trong 3 ngày Ta sẽ xây dựng lại.  Chúa ám chỉ đến cái chết và sự phục sinh của Người.  Đền thờ ở đây chính là thân thể Đức Giêsu mà mỗi người Kitô hữu là một viên đá sống động xây dựng nên đền thờ ấy.  Thân thể phục sinh của Chúa là đền thờ mới, nơi con người thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực, trong tinh thần và trong chân lý.  Chỉ có Thân thể Chúa Kitô và tâm hồn chúng ta mới là đền thờ vững bền.

Kỷ niệm ngày cung hiến Vương cung thánh đường Latêranô là dịp suy nghĩ về đền thờ đích thực, là chính thân thể Đức Giêsu Kitô (Ga 2,21).  Chính nơi đền thờ này, Thiên Chúa đã thi thố tất cả quyền năng cứu độ nhân loại.  Cũng chính nơi đền thờ này sự thờ phượng đích thực mới được dâng lên Thiên Chúa.  Quả thế, Thánh Linh đã phục sinh thân thể Đức Giêsu.   Chúa Cha đã đặt Người làm Trung gian duy nhất để chuyển cầu cho nhân loại (x. 2 Tm 2:5; Dt 9:15; 12:24).  Tất cả mọi giá trị và ý nghĩa của vương cung thánh đường Latêranô cũng như mọi thánh đường khác đều phải bắt nguồn từ đền thờ này.  Thật vậy, “không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô.” (1Cr 3,11).  Máu và nước từ cạnh sườn Đức Giêsu tuôn chảy như giòng sông.  “Sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.” (Ed 47,9).  Người được phúc đón nhận sự sống đó là Kitô hữu.  Vì họ là “thân thể Đức Kitô.” (2 Cr 12, 27).  Bởi đó, họ cũng là “Đền Thờ của Thiên Chúa.” (1 Cr 3,16).

Lạy Chúa Giêsu Kitô,

Chúa đã đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ vì họ đã đem đền thờ biến thành nơi buôn bán, đổi chác.  Xin Chúa xua đuổi những thói hư tật xấu ra khỏi tâm hồn chúng con, để tâm hồn chúng con xứng đáng là đền thờ sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị.  Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

SỰ CHẾT

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai.  Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy.  Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì?  Đâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm?  Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Đức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi.”

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng!  Hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải.”

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Đoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta: Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó: Đồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả.  Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Đấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Đấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa.  Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn.  Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an.  Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa.  Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Để khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.

Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá.  Con không biết con can đảm đến đâu.  Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi.  Đi xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết.  Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J – Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

MẦU NHIỆM CÁC THÁNH CÙNG CẦU THÔNG

1. NGUỒN GỐC LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN

–   Theo lịch sử Hội thánh: Thánh ODILO (962- 1048) là viện phụ của đan viện Cluny trong đế quốc Germany, là một tu sĩ rất có lòng đạo đức.  Người luôn tưởng nhớ cầu nguyện kèm ăn chay hãm mình và dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời.  Một hôm, một đan sĩ Dòng của người đi hành hương Đất thánh.  Trên đường trở về, tàu chở vị đan sĩ đã bị bão đánh giạt vào một hòn đảo, và tại đây đan sĩ đã gặp gỡ và trao đổi với một vị ẩn sĩ.  Trong buổi trò chuyện, ẩn sĩ cho biết: “Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều linh hồn người chết thường bị hành hạ, đánh đập đau đớn.  Có lần tôi nghe được mấy tên quỉ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng Cluny mỗi ngày đều giải thoát được một số linh hồn ra khỏi hang lửa nói trên.  Vì thế, xin thầy hãy về nói với cha Odilo và các anh em trong Dòng tiếp tục cứu giúp các linh hồn đang chịu đau khổ.  Việc này làm cho các thánh trên trời vui mừng và cũng làm cho ma quỷ trong hỏa ngục phải buồn sầu tức giận.”  Sau khi nghe tu sĩ kể lại sự việc, cha Odilo đã chọn ngày 2 tháng 11 hằng năm để cử hành lễ cầu hồn trong đan viện Cluny của người.  Về sau lễ cầu hồn này đã truyền sang nước Pháp, và Đức Giáo hoàng Gio-an 14 đã thiết lập lễ cầu Cho Các Linh Hồn trong Hội Thánh Công Giáo Rô-ma từ giữa thế kỷ 11.

–   Giáo lý Hội Thánh Công giáo do Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II ban hành năm 1992 có 3 số nói về luyện ngục như sau:

Số 1030: Cần có Luyện ngục: “Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.”

Số 1031: Luyện ngục để thanh tẩy: “Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt.  Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (xem DS 1304) và Trentô (xem DS 1820; 1580).  Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (Chẳng hạn 1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7), truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện: “Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Người nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau” (Mt 12,31).  Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau” (Th. Gregoriô Cả, Dial. 4,39).

Số 1032: Người sống cứu người chết: Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: “Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình” (x. 2 Mcb 12,46).

–   Ngày 10 tháng 8 năm 1915: Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ cầu cho các linh hồn: 1 cầu như ý người xin, được lấy bổng lễ, 1 cầu theo ý Đức thánh cha (không bổng), và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng).  Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 để cầu cho các linh hồn trong luyện ngục.

–  Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai “viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13).

2. GIÁO LÝ VỀ MỘT HỘI THÁNH BA TÌNH TRẠNG

Chúa Giê-su thiết lập Nước Trời là Hội Thánh.  Hội Thánh ấy hiện nay gồm có ba tình trạng: Một là Hội Thánh “Lữ Hành,” hai là Hội Thánh “Vinh Thắng,” ba là Hội Thánh “Đau Khổ” như sau:

–  Hội Thánh “Lữ Hành” trần gian: Gồm các tín hữu đang còn sống, đang bước đi trên con đường của Chúa Giê-su.  Như Dân Israel xưa, Hội thánh sẽ phải vượt qua sa mạc trần gian tiến về Đất Hứa Nước Trời là Thiên Đàng đời sau.  Các tín hữu trong Hội thánh lữ hành trần gian còn phải chiến đấu với ba thù là ma quỷ, thế gian và xác thịt của mình.  Họ được Chúa ban cho hai thứ bánh thiêng liêng là Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể.  Nhờ đó họ sẽ đủ sức vượt qua sa mạc trần gian để tiến về miền Đất Hứa là Thiên Đàng đời sau.

–  Hội Thánh “Vinh Thắng” trên trời: Gồm các tín hữu đã qua đời trong niềm tin cậy vào Chúa.  Khi còn sống ở trần gian, các Người đã thực hành Hiến Chương Nước Trời là Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giê-su, nên ngày nay các Người đang được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Chúa.

–  Hội Thánh “Đau Khổ” thanh luyện: Gồm các tín hữu tuy đi theo con đường của Chúa Giê-su, nhưng khi chết vẫn đang ở trong tình trạng còn nhiều sai lỗi, chưa xứng đáng được vào Nước Trời.  Họ cần tiếp tục chịu đau khổ trong ngọn lửa tin yêu để được thanh luyện sạch mọi vết nhơ.  Rồi khi hoàn toàn trở nên thánh thiện, họ sẽ được về hưởng hạnh phúc Thiên Đàng.

3. TÍN ĐIỀU CÁC THÁNH THÔNG CÔNG

Ngọai trừ các người theo quỷ phải sa hỏa ngục để chịu hình phạt lìa xa Chúa đời đời, còn các tín hữu tin vào Chúa Giê-su dù còn sống hay đã qua đời, dù đã được lên trời hay đang được thanh luyện cũng đều được thông hiệp với ơn cứu độ của Chúa Giê-su và cầu nguyện cho nhau.  Đó là mầu nhiệm các thánh cùng thông công:

Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn đã qua đời bằng việc viếng nhà thờ hay Đất Thánh và đọc kinh cầu nguyện, xưng tội rước lễ và cầu nguyện hiệp thông với Đức Giáo Hòang để được nhận các ân xá trong dịp đầu tháng 11; Nhất là có thể xin lễ và hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho các linh hồn, làm các việc lành phúc đức như chia sẻ bác ái phục vụ với ý chỉ cầu nguyện đền tội thay cho các linh hồn ông bà cha mẹ đang ở trong chốn luyện hình.  Nhờ đó các linh hồn sẽ được ơn Chúa chiếu soi, được thêm lòng yêu mến Chúa để được tha thứ tội lỗi như lời Chúa: “Yêu nhiều sẽ được tha nhiều.”  Khi các linh hồn được nên thanh sạch thánh thiện hoàn toàn thì sẽ được Chúa đưa vào hưởng hạnh phúc Thiên Đàng.  Bấy giờ các đấng sẽ không quên cầu bầu cùng Chúa xuống muôn ơn lành cho con cháu là chúng ta trên trần gian.

Riêng khái niệm về Lâm-bô: Lâm bô là khái niệm của thánh Albertô Cả (1200-1280), nói về một nơi dành cho các linh hồn trẻ em chết khi chưa được lãnh bí tích Rửa tội.  Tuy chúng không bị phạt nhưng cũng không được lên thiên đàng vì chưa được rửa tội.  Về sau khái niệm này ít được đề cập đến.  Gần đây Ủy ban thần học quốc tế thuộc bộ Giáo Lý Đức Tin đã công bố một tài liệu mang tên “Niềm hy vọng ơn cứu rỗi dành cho các trẻ em chết mà không được rửa tội.”  Trong đó Ủy Ban cho rằng: “Giả thuyết về Lâm-bô” không có nền tảng rõ ràng trong Mặc Khải.  Theo ủy ban, có nhiều lý do rút ra từ thần học và phụng vụ cho phép chúng ta tin tưởng và hy vọng rằng các em chết trước khi được rửa tội cũng được hưởng nhan thánh Chúa, vì “Thiên Chúa muốn cho hết mọi người đều được hưởng ơn cứu độ.”  Tuy vậy, Ủy ban cũng khẳng định bí tích rửa tội vẫn là điều kiện cần thiết để được hưởng ơn cứu rỗi của Đức Giê-su như lời Chúa phán: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5).  Tóm lại: Hội Thánh tín thác các em chết khi chưa chịu phép rửa tội cho lòng thương xót của Chúa, và hy vọng nhờ đức tin của Hội Thánh, các em cũng được hưởng ơn cứu độ (x. GLHTCG số 1261).

4. PHẢI “BIẾT CHẾT” ĐỂ “BIẾT SỐNG”

–  Không thích nói đến cái chết: Nhiều người nghĩ rằng: không nói đến sự chết thì mình sẽ không phải chết.  Nhà tỷ phú Mỹ William Randoph Hearst, chủ nhân của nhiều tờ báo và phim trường ở Holywood hồi trước thế chiến thứ hai, đã ra lệnh cấm các nhân viên của mình nhắc đến từ ngữ “chết” trước mặt ông.  Những ai lỡ miệng nói ra liền bị đuổi việc.  Ông là người thông minh, tài giỏi, thành công, nhưng lại không dám đối diện với sự thật phũ phàng là sự chết!  Rồi cuối cùng Hearst cũng bị chết bất đắc kỳ tử, để lại một tòa lâu đài rộng lớn, hiện nay trở thành một điểm du lịch nổi tiếng ở bang California Hoa Kỳ.

–  “Sinh ký tử quy” (Sống gửi thác về): Nhiều người khi lớn tuổi liền nghĩ đến việc hậu sự và lo chuẩn bị cho cái chết của mình, bằng việc mua đất nghĩa trang, chọn nhà quàn, mua sẵn ván làm hòm để trong nhà.  Họ còn viết chúc thư về những điều con cháu phải làm để lo việc ma chay cho họ: Khi chết phải cho họ chiếc áo này, đeo vòng ngọc kia, cầm cái quạt nọ.  Lại còn dặn dò phải bỏ vào quan tài dụng cụ này hay vòng vàng nọ để sử dụng ở thế giới bên kia, giống như chuẩn bị hành lý cho một chuyến đi xa để về với ông bà tổ tiên.

–  Chết là bắt đầu một cuộc sống mới: Đối với những kẻ không tin có Thiên Chúa và đời sau thì chết đi là hết!  Nếu quả thực như thế thì cái chết thật đáng sợ!  Vì nó là đặt dấu chấm hết tất cả những ước mơ của đời người: “Con người là bụi cát lại trở về với cát bụi!”  Nhưng đức tin Ki-tô giáo dạy cho biết: chết không phải là hết.  Nó chỉ là khởi đầu của một cuộc sống mới vĩnh hằng.  Sau cái chết mỗi người sẽ phải trả lẽ những gì đã làm khi còn sống trước tòa Chúa phán xét.  Nếu chúng ta đã sống trong ân nghĩa của Chúa thì giờ chết sẽ là sự trở về ngôi nhà của mình.  Chúng ta sẽ được trở về thiên đàng, là nhà của Thiên Chúa Cha, Đấng đã dựng nên loài người chúng ta.  Ở đây không còn nước mắt đau khổ, nhưng chỉ có niềm vui và hạnh phúc viên mãn như sách Khải Huyền đã viết: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ.  Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, khóc than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (x. Kh 21,4).

–  Đền tội khi sống lúc chết: Dầu vậy trong cuộc sống, ít nhiều lần các tín hữu chúng ta cũng đã để cho những dục vọng làm chủ bản thân mình, khiến chúng ta không vâng lời Chúa, không làm theo thánh ý Thiên Chúa.  Đó là ta đã phạm tội hay mắc phải các thói hư.  Khi chúng ta còn sống thì các tai nạn, bệnh tật và các điều trái ý cực lòng gặp phải sẽ giúp chúng ta đền tội đã phạm.  Rồi sau khi qua đời chúng ta còn tiếp tục được thanh luyện trong lửa tin yêu gọi là tình trạng luyện hình.

5. NGUYỆN CẦU

–  Lạy Chúa Giê-su.  Mỗi lần đối diện với cái chết gần kề, con cảm thấy run sợ vì con chưa sẵn sàng để gặp Chúa.  Trong suốt cuộc đời, con đã lo toan rất nhiều thứ như lo tìm kiếm tiền tài, danh vọng, chức quyền trần gian…  Còn điều quan trọng chính yếu là chuẩn bị cho giờ chết sẽ đến thì con lại chưa quan tâm đúng mức!  Con thật dại khờ khi nghĩ rằng mình sẽ có đủ thời gian chuẩn bị trước khi chết.  Nhưng lời Chúa đã dạy “Con Người sẽ đến như kẻ trộm” và đòi con phải luôn tỉnh thức bằng thái độ sẵn sàng.  Một ngày nào đó con không ngờ trước, con sẽ phải ra trình diện trước mặt Chúa, không biết bấy giờ Chúa có nhận ra con không, hay Chúa sẽ bảo con: “Ta không hề biết các ngươi.  Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7,23).

–  Lạy Chúa Giê-su, xin ban cho con ơn khôn ngoan của Thánh Thần để con sống trọn vẹn từng giây phút hiện tại Chúa ban trong ơn nghĩa Chúa, để ngày nào đó khi giờ chết đến, con sẽ ra trình diện trước mặt Chúa không phải như hai người xa lạ, nhưng như người rất thân quen.  Khi ấy Chúa sẽ gọi con bằng một cái tên trìu mến và giang rộng vòng tay đón con vào hưởng hạnh phúc Nước Trời đời đời: “Hỡi kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng ‘Vương Quốc’ dọn sẵn cho các con từ thuở tạo thiên lập địa” (x. Mt 25,34), Amen!

Lm. Đan Vinh, HHTM

NIỀM VUI VỚI CÁC THÁNH TRÊN TRỜI

1. Ngày lễ của niềm vui

Ngày nay, các nhà khoa học đã phóng những tín hiệu vào không trung, với hy vọng có thể nhận được những tín hiệu liên lạc với những sinh linh trên những hành tinh đã biến mất. Nếu có một lớp con người nào đã sống và tồn tại ở ngoài hệ hành tinh chúng ta, sự liên lạc với họ có lẽ là không thể, bởi vì khoảng cách giữa câu hỏi và câu trả lời là hàng triệu năm qua rồi.

Hôm nay, chúng ta cử hành đại lễ các Thánh Nam Nữ. Qua thánh lễ này, Giáo Hội muốn diễn tả mầu nhiệm hiệp thông của chúng ta với những người thuộc thế giới khác, đó là với vô số Các Thánh Nam Nữ trên thiên đàng. Đây là chân lý mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin Các Thánh thông công.” Đối với đức tin Kitô giáo, câu trả lời là trực tiếp và rõ ràng, bởi lẽ, chúng ta có một trung tâm điểm cho sự hiệp thông và nối kết này là Đức Kitô Phục Sinh.

Có lẽ lễ Các Thánh là lễ mà người tín hữu rất thích tham dự, bởi vì, nó được cử hành trong một thời điểm đặc biệt là gần cuối năm phụng vụ, nhưng đặc biệt hơn, nó diễn tả ý nghĩa cuộc đời và định mệnh mỗi người mà ai cũng khát khao hướng về với niềm hy vọng lớn lao. Lý do hệ tại ở điều được thánh Gioan nói tới trong bài đọc II: “Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ” (1 Ga 3,2). Chúng ta giống như phôi thai trong dạ mẹ mong được sinh ra. Các Thánh đã được “sinh ra.” Vì thế, phụng vụ coi ngày từ trần của Các Thánh là “ngày sinh nhật” của các ngài trên trời (dies natalis). Chiêm ngắm Các Thánh là chiêm ngắm vận mệnh chúng ta. Mùa thu về, thiên nhiên như tàn lụi, cây cối tàn úa, mùa lá rụng, nhưng lễ Các Thánh mời gọi chúng ta nhìn xa hơn, nhắc nhở mỗi người ý thức rằng chúng ta không được tiền định để tàn lụi mãi mãi như lá cây, nhưng là để sống vĩnh cửu với Thiên Chúa như Các Thánh.

2. Các Thánh là ai?

Vậy thì, Các Thánh là những ai? Bài đọc I của ngày lễ giúp chúng ta hiểu Các Thánh là ai. Họ “đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ là những người đã giặt áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14). Các Thánh là những người đã chấp những thử thách, đau khổ để bước theo Đức Kitô, họ đón nhận sự thánh thiện từ Chúa Kitô; họ được kết hợp với Chúa Kitô.

Các Thánh là những người đã trung thành và kiên nhẫn sống các giá trị Tin Mừng, đặc biệt sống trọn vẹn các mối phúc như được nói ở Bài Tin Mừng. Các Thánh đã sống tinh thần nghèo khó vì Nước Trời. Các Thánh là những người hiền lành vì Nước Trời. Các Thánh là những người phải chịu sầu khổ vì Nước Trời. Các Thánh là những người chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,10). Tắt một lời, Các Thánh không chấp nhận sống một cuộc sống tầm thường; họ không hài lòng với kiểu sống nửa vời, nhưng chấp nhận đánh mất mọi sự, để sống thánh thiện theo lý tưởng của Chúa Kitô.

Các Thánh không chỉ là những người được đề cập trong lịch phụng vụ hoặc trong sách Hạnh Các Thánh. Nhưng còn có rất nhiều vị thánh mà chúng ta chưa biết đến: Các thánh là “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9).  Có vô số Các Thánh là những người đã sống một cuộc đời thánh thiện trong sự âm thầm, nhưng đã được Thiên Chúa vinh thăng. Có rất nhiều vị âm thầm hy sinh cuộc đời của mình vì tha nhân; có nhiều vị phải tử đạo vì công lý và tự do; có nhiều vị một đời tận tụy phục vụ người khác nơi bệnh viện, nơi học đường, nơi các gia đình và các tổ chức Giáo Hội… Dầu không ai biết đến, nhưng họ là những người đã giặt áo mình trong máu Con Chiên, vì họ sống theo tiếng nói lương tâm và họ luôn xây dựng hòa bình và vì thiện ích của tha nhân.

3. Các Thánh làm gì trên thiên đàng?

Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta ở đây: Các Thánh trên trời làm gì? Chúng ta tìm thấy câu trả lời ở đây trong bài đọc I: “Họ sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô rằng: Amen! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! Amen!” (Kh 7,11-12). Như thế, ơn gọi đích thực của con người được thành toàn trong họ, đó là được “ngợi khen vinh quang Thiên Chúa (Ep 1,14). Dưới sự hướng dẫn của Đức Maria, ca đoàn Các Thánh tiếp tục hát bài thánh thi tạ ơn trên thiên đàng: “Linh hồn tôi tung hô Chúa.” Trong lời ca ngợi này các thánh tìm thấy hạnh phúc và niềm vui. “Linh hồn tôi hớn hở trong Thiên Chúa.” Một người đang yêu là người luôn biết ngưỡng mộ và ca ngợi. Khi yêu mến và ca ngợi Thiên Chúa, chúng ta sẽ trở nên giống Thiên Chúa, tham dự vào vinh quang và hạnh phúc của Người.

Một ngày nọ, thánh Saint Simon The New Theologian trải qua kinh nghiệm thần bí về Thiên Chúa rất mãnh liệt, ngài kêu lên rằng: “Đủ cho con rồi, Thiên đàng không thể hơn thế này được.” Nhưng Chúa Kitô nói với ngài: “Con là người rất tội nghiệp nếu con chỉ bằng lòng với điều đó. Niềm vui mà con vừa trải nghiệm so sánh với thiên đàng giống như bầu trời được vẽ trên giấy.”

Như thế, lễ Các Thánh là ngày cử hành niềm vui của chúng ta, bởi vì Các Thánh là những thành viên trong gia đình, giáo xứ, cộng đoàn chúng ta. Các ngài đã được vinh thăng. Đồng thời, ngày lễ này nhắc nhở và củng cố niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta về định mệnh cao cả nhất của mỗi người là được kết hợp với Đức Kitô.

Nguyện xin Các Thánh Nam Nữ trên trời cầu bầu cho chúng ta. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

CẦU NGUYỆN ĐỂ TÌM KIẾM SỰ HƯỚNG DẪN CỦA CHÚA

Trong quyển tự truyện Nỗi cô đơn triền miên (The Long Loneliness), Dorothy Day kể một giai đoạn khó khăn trong đời bà.  Lúc đó bà vừa trở lại đạo Ki-tô sau một thời gian dài sống vô thần, rồi bà sinh đứa con gái.  Trong thời gian sống vô thần, bà yêu một người đàn ông, là cha của đứa con gái; bà và người đàn ông này – hai người vô thần đã bị vỡ mộng với xã hội chính thống – đã thỏa thuận với nhau sẽ không bao giờ làm đám cưới, như một lời tuyên bố chống lại những quy ước truyền thống của xã hội.

Nhưng việc bà trở lại đạo đã làm cho cuộc sống của bà bị đảo lộn.  Người cha của đứa con ra tối hậu thư; nếu bà rửa tội cho con thì ông chấm dứt mối quan hệ với bà.  Dorothy chọn làm lễ rửa tội cho con, nhưng đã trả giá rất đắt.  Bà yêu sâu đậm người đàn ông này và hết sức đau đớn khi chia tay.  Hơn nữa, vì chuyện trở lại đạo, bà bị cắt đứt khỏi tất cả người quen biết cũ trước đây, làm cho bà đau còn hơn mất bạn tâm giao.  Nó làm cho bà mất việc, không nguồn hỗ trợ nuôi con, và không còn mục đích trước đây trong đời.  Bà cảm thấy cô đơn và lạc lối một cách đau đớn.

Việc này làm cho bà phải quỳ gối xuống, theo đúng nghĩa đen.  Một ngày nọ, bà đi tàu lửa từ New York đến thủ đô Washington và dành cả ngày hôm đó cầu nguyện ở Thánh Đường Quốc Gia Đức Mẹ Vô Nhiễm.  Và, như bà chia sẻ trong quyển tự truyện, lời cầu nguyện của bà hôm đó trực tiếp không e ngại, khiêm tốn và rõ ràng.  Thiết yếu, bà lặp đi lặp lại với Chúa, rằng bà lạc lối, bà cần một hướng đi rõ ràng cho cuộc đời, bà cần sự hướng dẫn đó ngay bây giờ, không phải ở một tương lai nào xa xôi cả.  Và, như Chúa Giê-su trong Vườn Giếtsêmani, bà lặp đi lặp lại lời cầu nguyện nhiều lần.

Tối hôm đó, bà đi tàu về nhà, khi bước lên căn hộ của mình, bà thấy ông Peter Maurin đang ngồi đợi trên bậc cấp . Ông mời bà khởi công làm việc cho Catholic Worker.  Phần còn lại của câu chuyện đã đi vào lịch sử.

Những lời cầu nguyện của chúng ta không phải bao giờ cũng được đáp lại nhanh chóng và trực tiếp như vậy, nhưng luôn luôn được đáp lại, như Chúa Giê-su đã đoan chắc với chúng ta, bởi vì Chúa không từ chối Thần Khí cho những ai xin nhận.  Nếu chúng ta cầu nguyện xin hướng dẫn và hỗ trợ, chúng ta sẽ nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ.

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy nhiều ví dụ nổi bật về những người, như Dorothy Day, tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa trong cầu nguyện, đặc biệt khi họ cô độc và sợ hãi lúc đứng trước chấn động lớn nào đó hay sắp phải chịu đau khổ trong đời.  Ví dụ, chúng ta thấy nơi các nhà Tiên tri, khi lạc lối trong sa mạc và đứng trước cuộc nổi loạn do chính dân của mình, họ đã lên núi Horeb để xin lời khuyên của Chúa.  Và chúng ta thấy điều đó khi Chúa Giê-su cũng lên núi Horeb để cầu nguyện, và cầu nguyện suốt đêm trong nhiều đêm, gắng gỗ để tìm được cả sự hướng dẫn lẫn lòng can đảm mà Người cần để thực hiện sứ mạng của mình.

Nhìn vào lời cầu nguyện của các nhà Tiên tri, Chúa Giê-su, Dorothy Day và vô số những người khác đã cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chúng ta thấy lời cầu nguyện của họ, đặc biệt khi họ cảm thấy cô độc và tuyệt vọng nhất, có ba đặc điểm: chân thật, trực tiếp và khiêm nhường.  Họ nâng trái tim và trí óc của mình lên Chúa, không phải là trái tim hay trí óc của ai khác.  Không hề có chuyện làm ra vẻ, biện minh, hay giấu diếm điểm yếu.  Họ để tuôn trào nỗi sợ hãi, sự bất tương xứng, nỗi thèm muốn, rối loạn của họ, như những đứa trẻ con vẫn làm khi cầu xin bàn tay của ai đó giúp đỡ.

Có một điều tương đương thú vị trong một số câu chuyện thần tiên kinh điển của chúng ta, trong đó nhân vật Chúa thường xuất hiện dưới dạng thiên thần, nàng tiên, con cáo hay con ngựa.  Và luôn luôn những ai tiếp cận nhân-vật-Chúa đó với lòng tự tin thái quá, kiêu căng, hay giả tạo, thì họ không nhận được lời khuyên hay phép lạ nào.  Ngược lại, ai tiếp cận những nhân-vật-Chúa đó với lòng khiêm nhường và công nhận họ lạc đường trong khi đi tìm kiếm thì họ sẽ được cho lời khuyên và phép lạ.  Có một bài học cầu nguyện quan trọng trong đó.

Tất cả chúng ta, vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, đều có lúc cảm thấy cô đơn, lạc lối, rối loạn, và bị quyến dụ hướng về con đường chết.  Những lúc đó, chúng ta cần tới bên Chúa với lời cầu nguyện chân thật không e ngại, trực tiếp và khiêm tốn.  Giống như Dorothy Day, chúng ta cần tỏ bày ra và dâng nỗi sợ hãi và bất an có thực của chúng ta lên Chúa, cầu nguyện, lặp đi lặp lại nhiều lần: “Con sợ!  Con cảm thấy quá cô đơn và cô lập trong chuyện này!  Con không muốn làm điều này!  Con hoàn toàn không thích hợp!  Con không còn sức lực nào cả!  Lòng con tràn đầy giận dữ!  Con cay đắng về bao nhiêu là chuyện!  Con căm ghét một số chỗ mà luân lý Ki-tô của con đã đưa con tới!  Con bị quyến dụ theo những cách mà con quá hổ thẹn không dám nói ra!  Con cần được hỗ trợ nhiều hơn mức Người vẫn hỗ trợ cho con!  Xin gửi đến cho con một ai đó hay gửi cho con điều gì đó!  Nếu Người muốn con tiếp tục con đường này thì Người phải giúp con nhiều hơn nữa!  Con cần điều đó ngay bây giờ!”

Và rồi chúng ta cần phải chờ đợi, một cách kiên nhẫn, hướng vọng về.  Có lẽ chẳng ông Peter Maurin nào sẽ xuất hiện trước bậc cửa nhà chúng ta vào đêm đó, nhưng, khi sự bất-lực-hoang-mạc đã phát huy tác dụng thì một thiên thần sẽ đến truyền sức mạnh cho chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỨC MẠNH CỦA LỜI CẦU NGUYỆN

Mang lấy sức mạnh và bình an của Thiên Chúa vào cuộc sống của chúng ta.

Có hai sự suy ngẫm được mô tả qua sức mạnh của việc cầu nguyện trong cuộc sống người khác và của chính chúng ta.

Sức mạnh của những lời cầu nguyện

Vào một buổi chiều mát mẻ, tôi và con trai đang chơi kế bên dòng suối gần nhà thì chiếc thuyền nhỏ bằng gỗ của cậu bé bị mắc kẹt trên một tảng đá ở dòng suối.  Một cách nhanh chóng, con tôi chộp lấy một thanh củi và cố gắng đánh bật con thuyền ra.  Thật không may, thanh củi thì quá ngắn so với khoảng cách con thuyền, cậu liền mất thăng bằng và ngã xuống dòng suối.

Thật ngạc nhiên!  Mực nước thay đổi nhẹ cùng sự chuyển dòng do bàn tay cậu đập vào nước đã giúp con thuyền bật ra khỏi tảng đá và không còn trở ngại.  Dù không chạm vào con thuyền, nhưng hành động của con trai tôi làm cho con thuyền không còn bị kẹt và được xuôi theo dòng chảy.

Trông cảnh tượng đó từ bờ đối diện, tôi chợt nhận ra sự hữu hiệu của việc cầu nguyện.  Giống như con trai tôi và thanh củi của cậu, đối với những người đang gặp khó khăn trong cuộc sống, thông thường chúng ta không đủ khả năng để trực tiếp giúp đỡ họ.  Thế nhưng, bằng phương thức mầu nhiệm nào đó Thiên Chúa đã thiết lập chốn thiêng liêng giống như một dòng nước.  Việc chúng ta đắm mình trong dòng nước của sự cầu nguyện, cầu khẩn, lòng sùng kính, hoặc hi sinh sẽ làm thay đổi dòng chảy của đời sống tâm linh, mang lại những thay đổi hữu hiệu cho những người cần sự giúp đỡ khi bình an của Thiên Chúa được đổ đầy trong những khó khăn và bấn loạn của cuộc sống.

Thử tưởng tượng, một ai đó bắn một viên đạn vào một bể nước sau nhà.  Mọi thứ đang trôi nổi sẽ bị tác động bởi sóng và mực nước.  Nói một cách đơn giản hơn, lời cầu nguyện là một “viên đạn thiêng liêng,” từ đó chúng ta hiểu ra tại sao cầu nguyện càng nhiều càng tốt.  Và càng có nhiều lý do cho chúng ta cầu nguyện liên lỉ và sốt sắng hơn nữa.

Khi tôi bắt đầu hoài nghi sự hữu hiệu của lời cầu nguyện, tôi hồi tưởng lại cú trượt chân của con trai tôi và tự hỏi làm thế nào để con thuyền nhỏ thoát khỏi tảng đá.  Sau đó tôi quyết tâm làm một vài “viên đạn thiêng liêng”

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là nguồn mạch bình an của con.  Xin giúp chúng con chan chứa niềm vui vì Chúa đã nghe lời con cầu nguyện.  Xin nhắc nhở con luôn có những “viên đạn thiêng liêng” cho hòa bình thế giới, cộng đồng, gia đình, và trong chính trái tim con.

Những cạm bẫy của ma quỉ

Nhiều giáo xứ có thói quen cầu nguyện với Tổng lãnh Thiên Thần Micae sau khi kết thúc mỗi thánh lễ.  Đó là một lời cầu nguyện ngắn nhưng đầy mãnh liệt:

Lạy Tổng lãnh Thiên Thần Micae,
xin che chở chúng con trong mọi cuộc chiến.
Giúp chúng con vượt qua sự yếu đuối và những cạm bẫy của ma quỷ.
Xin Chúa cất khỏi lòng con những đam mê,
ban cho chúng con tinh thần cầu nguyện một cách khiêm nhường.
Lạy hoàng tử thiên quốc,
cùng sức mạnh của Thiên Chúa,
xin giúp con tránh xa khỏi Satan và sự dữ,
hay những tư tưởng ma quỷ luôn rảo quanh
để tìm kiếm cách hủy hoại linh hồn.

Tôi đặc biệt yêu thích hai hình ảnh trong lời cầu nguyện này: Thứ nhất là “cạm bẫy,” nó nhắc chúng ta nhớ rằng, rất ít người trong chúng ta vi phạm mười điều răn bằng việc giết người hoặc trộm cướp.  Tuy nhiên chúng ta đều là những kẻ có tội.  Những sự cám dỗ lớn gây nên tội giống như những cái bẫy gấu trên đường rừng.  Chúng ta có thể thấy và thường tránh xa chúng.  Trong khi những cám dỗ nhỏ hơn thì lại giống như những cái bẫy thỏ hay chồn.  Chúng thường bị che phủ bằng những chiếc lá đặt bên lề đường mà dễ dàng bị bỏ qua.  Ma quỷ, Xác thịt và Thế gian này luôn tạo ra cả hai loại cám dỗ cho chúng ta.  Dù là bẫy lớn hay nhỏ, xuất phát từ đâu thì những cám dỗ phạm tội cũng cản trở chúng ta trên con đường sống bình an và kính sợ Thiên Chúa.

Và thứ hai là hình ảnh: “những tư tưởng ma quỷ luôn rảo quanh để tìm kiếm cách hủy hoại linh hồn.”  Điều này nhắc tôi nhớ rằng, kẻ thù của chúng ta là những tay sai của ma quỷ, những kẻ không muốn chúng ta sống trong bình an.  Tương tự, ma quỷ không quan tâm liệu chúng ta có phạm hàng ngàn tội nhỏ hay một tội lớn, chỉ cần chúng ta quay lưng lại với Thiên Chúa, thì ma quỷ luôn sẵn sàng để thực hiện công việc của chúng.

Tôi không thật sự là một chiến binh, nhưng việc cầu nguyện với Tổng lãnh Thiên Thần Micae, cách riêng như một sự hiệp thông trong cộng đoàn, thực sự giúp tôi bình an.  Việc cầu nguyện làm tăng thêm đức tin và niềm khao khát của tôi gần với Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là nguồn bình an của con.  Xin giúp con tránh xa những cạm bẫy của ma quỷ bằng những lời cầu nguyện và tỉnh thức nhờ sức mạnh và quyền năng của Ngài.

Heidi Bratton
Chuyển ngữ: Giới Trẻ Thừa Sai Chúa Cứu Thế Miền Nam

* Tham khảo thêm Heidi Bratton, những suy tư truyền cảm hứng về cầu nguyện, hòa bình và đời sống Kitô hữu trong Tìm kiếm sự bình an của Chúa trong những thách thức hàng ngày: 100 bài suy niệm cho phụ nữ (The Word Among Us Press, 2015).

MÓN QUÀ THIÊN CHÚA QUÝ NHẤT

Có một câu chuyện cổ được phổ biến trong dân gian từ thời Trung Cổ.  Câu chuyện về một phụ nữ từ trần khi còn trẻ và ra trước tòa phán xét.  Cuộc đời bà khi ở trần thế thật bê bối.

Khi đến cổng thiên đường, bà được bảo là chỉ được vào thiên đường với một điều kiện.  Đó là bà phải trở lại trần thế và đem về một món quà mà Thiên Chúa coi là giá trị nhất.

Người phụ nữ trẻ trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất.

Ngày kia bà thấy một thanh niên vừa chết vì đức tin.  Bà nghĩ, “A phải rồi, chắc đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là máu của một người chết vì đức tin.”  Bởi thế bà hứng lấy một giọt máu của người thanh niên và đem về thiên đường.  Nhưng khi trình diện máu ấy, bà được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn máu người tử đạo.  Do đó bà trở về trần thế và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa còn quý hơn máu của người chết vì đức tin.

Sau đó bà gặp một nhà truyền giáo già nua rao giảng lời Chúa cho người nghèo.  “A, đúng rồi!” bà nghĩ “đây là món quà Thiên Chúa quý nhất: đó là mồ hôi từ trán của người dành trọn cuộc đời để rao giảng tin mừng cho người nghèo.”  Nhưng khi bà trình diện món quà ấy, bà lại được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của nhà truyền giáo.  Do đó bà lại trở về trần gian và suy nghĩ về món quà mà Thiên Chúa quý hơn giọt mồ hôi của người dành trọn cuộc đời để dạy bảo dân chúng về Chúa Giêsu.

Và cứ như thế bà trở lại thiên đường với các món quà quý giá.  Nhưng lần nào bà cũng được bảo là còn có món quà mà Thiên Chúa quý nhất.

Sau cùng, một ngày kia, khi sắp sửa bỏ cuộc vì chán nản thì bà gặp một đứa trẻ đang nô đùa gần bồn phun nước.  Khuôn mặt của nó thật xinh xắn và ngây thơ.  Ngay lúc đó, một người cưỡi ngựa đi đến.  Ông ta xuống ngựa để đến uống nước ở bồn.  Khi nhìn thấy đứa trẻ, ông nhớ lại thời thơ ấu thật hồn nhiên ngây thơ của ông.  Sau đó ông nhìn vào hồ nước và thấy khuôn mặt của ông được phản chiếu trong đó.  Nó thật xấu xa và cằn cỗi.  Khi ông sững sờ nhìn vào khuôn mặt mình trong nước, bỗng dưng ông nhận thấy ông đã sai lầm phí phạm một cuộc đời mà Chúa đã ban cho ông.  Lúc đó giọt nước mắt thống hối dâng trào trên mắt và lăn dài trên gò má nhăn nheo rồi rơi xuống hồ nước.

Người phụ nữ vội hứng lấy giọt nước mắt ấy và đưa về thiên đường.  Khi bà trình diện món qùa ấy, các thiên thần và các thánh đều vui mừng.  Thật vậy, đây là món quà mà Thiên Chúa quý hơn tất cả món quà khác: đó là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

Câu chuyện này thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay.  Vì lời cầu nguyện mà Thiên Chúa coi có giá trị nhất là lời cầu nguyện của người tội lỗi thống hối.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu còn nói:

thiên đường sẽ vui hơn khi một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn.” (Luca 15:7)

Hối lỗi được định nghĩa là đau buồn đến độ chấm dứt những hành động sái quấy.

Nhưng hối lỗi còn hơn thế nữa.  Nó không chỉ đau buồn đủ để chấm dứt những hành động sái quấy nhưng còn đau buồn đến độ ước muốn sửa sai những lầm lỗi mà chúng ta đã phạm trong quá khứ.  Một câu chuyện sau của ông James Colaianni giúp chúng ta thấy rõ điều này.

Một đứa bé đến thăm bà nội.  Bà hỏi nó thích ăn gì nhất.  Nó trả lời, “bánh bột chiên.”  Sau đó nó cho biết thêm là khi ở nhà nó chỉ được ăn có ba cái mà thôi.  Rồi nó hỏi, “Vậy con ăn thiệt nhiều được không nội?”

Bà nội gật đầu, “được.”

Sau khi đứa bé ăn gần mười cái bánh bột chiên, bà nhận ra sự khó chịu trên khuôn mặt của nó.  Bà hỏi, “Sao vậy? Con không muốn ăn thêm nữa sao!”

“Không,” đứa bé trả lời, “Con không muốn ăn nữa.  Cả mấy cái ăn rồi con cũng muốn ói ra!”

Đó là một tâm trạng tốt – khó chịu nhưng tốt.  Lý do nó tốt là vì đó là tâm trạng hối lỗi.

Hối lỗi không chỉ đau buồn đến độ muốn từ bỏ, nhưng còn là đau buồn đến độ ước muốn đừng thi hành những gì mà chúng ta đã làm.  Đây là loại thống hối mà câu chuyện cổ muốn đề cập đến.  Đây là loại thống hối mà Chúa Giêsu đề cập đến trong Phúc Âm hôm nay.

Nhiều năm trước đây, có một vở kịch trình diễn ở Broadway về một thanh niên bỏ học, đi bụi đời và rơi vào đường cần sa ma tuý.  Trong một cảnh không thể quên được của vở kịch, người thanh niên này nhìn lên trời và đau đớn vì tuyệt vọng, anh thốt lên: “Tôi ao ước chừng nào, phải chi cuộc đời tôi là một cuốn sách để tôi có thể xé bỏ những trang giấy đầy những sai lầm vấp phạm.”

Cám ơn Chúa Giêsu, cuộc đời thì giống như một cuốn sách.  Và cám ơn Chúa Giêsu, chúng ta có thể xé bỏ những trang giấy mà chúng ta đã sai lầm.

Trong tình yêu của Người, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta bí tích Hòa Giải.  Qua bí tích này, chúng ta có thể xé bỏ những phần của cuộc đời mà chúng ta đã sai lầm lỗi phạm.  Đây là ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay.  Đây là tin mừng mà chúng ta cử hành trong Thánh Lễ hôm nay.  Đó là tin mừng vì món quà mà Thiên Chúa quý giá nhất là giọt nước mắt của người tội lỗi thống hối.

Lm. Mark Link, S.J.

SỰ IM LẶNG CỦA THIÊN CHÚA TRONG CẦU NGUYỆN KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ NGƯỜI VẮNG MẶT

Chúng ta thường cảm thấy nản lòng khi cầu nguyện, khi cố gắng lắng nghe tiếng Thiên Chúa, nhưng chẳng có gì xảy ra và chúng ta có thể nghĩ rằng Người không ở đó.

Bạn đã bao giờ thử ngồi thinh lặng, lắng nghe Thiên Chúa chưa?  Một số người trong chúng ta có thể đủ kiên nhẫn để ngồi đó trong vài phút, nhưng nhiều người trong chúng ta cảm thấy khó chịu sau 30 giây hoặc ít hơn.

Thậm chí chúng ta có thể dễ dàng nghĩ rằng Thiên Chúa không hề ở đó, vì chúng ta nghĩ rằng Người không đáp lại lời cầu nguyện của mình.  Chúng ta có thể tự nhủ rằng nếu Thiên Chúa không đáp lại chúng ta bằng lời nói, thì Người không thực sự ở đó.

Kiểu suy nghĩ này có thể dẫn chúng ta vào con đường tăm tối, khi chúng ta có thể bị cám dỗ từ bỏ cầu nguyện, hoặc thậm chí nghi ngờ sự tồn tại của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, truyền thống của Giáo Hội dạy chúng ta rằng chúng ta cần học cách chấp nhận sự im lặng của Thiên Chúa, nghỉ ngơi trong sự hiện diện thiêng liêng của Người.

Sự im lặng của Thiên Chúa

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã bình luận về khía cạnh này của cầu nguyện trong một buổi tiếp kiến ​​chung năm 2012, nhắc lại khuynh hướng nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa trong cầu nguyện thinh lặng:

Không chỉ sự thinh lặng của chúng ta mới giúp chúng ta lắng nghe lời của Thiên Chúa; trong cầu nguyện, chúng ta thường thấy mình đối diện với sự im lặng của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy như bị bỏ rơi, dường như Thiên Chúa không lắng nghe cũng không đáp lại.  Tuy nhiên, sự im lặng của Thiên Chúa, như đã xảy ra với Chúa Giêsu, không biểu thị sự vắng mặt của Người.  Người Kitô hữu biết rõ rằng Thiên Chúa hiện diện và lắng nghe, ngay cả trong bóng tối của đau khổ, bị từ chối và cô đơn.

Đôi khi điều chúng ta thực sự cần không phải là những câu trả lời rập khuôn của Thiên Chúa, mà chỉ đơn giản là sự hiện diện của Người.  Điều này tương tự như việc một cặp vợ chồng thường ngồi bên nhau và không nói một lời.  Chỉ cần ở bên nhau là đủ và thậm chí có thể mang lại sự chữa lành cho mối quan hệ.

Điều này cũng có thể xảy ra tương tự trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.  Chúng ta có thể cần học cách đơn giản là “ở bên” Thiên Chúa và nhận ra sự hiện diện của Người.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giải thích: “Một tấm lòng chăm chú, thinh lặng và cởi mở quan trọng hơn nhiều so với lời nói.  Thiên Chúa biết rõ chúng ta trong sâu thẳm tâm hồn, hơn cả chính chúng ta, và yêu thương chúng ta; và chỉ cần biết điều này là đủ.”

Ngài nói thêm: “Thánh Phanxicô Xaviê đã cầu nguyện với Chúa rằng: Con yêu Chúa không phải vì Chúa có thể ban thưởng cho con thiên đàng hay đày đọa con xuống hỏa ngục, nhưng vì Chúa là Thiên Chúa của con.  Con yêu Chúa vì Chúa là Chúa.”

Kiểu cầu nguyện này có thể khó khăn, đặc biệt nếu chúng ta được nuôi dạy với suy nghĩ rằng cầu nguyện phải bao gồm nhiều lời theo khuôn mẫu.

Điều chúng ta cần làm vào một lúc nào đó trong cuộc đời là đơn giản nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong sự thinh lặng và bằng lòng nghỉ ngơi trong tình yêu mà Người không ngừng tuôn đổ xuống cho chúng ta.

Philip Kosloski – Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: Aleteia

THÁNH LUCA THÁNH SỬ

Thánh Luca, tác giả Phúc âm thứ ba và sách Công vụ sứ đồ, là người đóng góp đơn độc và rộng rãi nhất cho Tân ước.  Như các tác phẩm cho thấy, ngài là một trong những Kitô hữu có học nhất thời Giáo Hội ly khai

Dầu vậy, ngài rất mực khiêm tốn và ẩn mình đi đến nỗi dù một chút gì chúng ta biết về ngài cũng phải đọc trong những dòng chữ của ngài bằng kính phóng đại.  Chúng ta chú mục vào những chỗ “nhóm chúng tôi” thay vì “họ,” nghĩa là ngài nhận sự có mặt của mình trong khung cảnh chuyển nó vào những dẫn chứng rời rạc trong thánh Phaolô, tìm những khuôn mặt xem ra rõ rệt nhất, phân tích việc chọn lựa và xử dụng từ ngữ của ngài.  Dần dần hình ảnh của thánh Luca nổi lên.

Ngài tự bẩm sinh là người Hy Lạp, chứ không phải Do thái, nhưng theo ngôn ngữ và văn minh xem ra ngài đã không sinh ra tại những thành phố Hy Lạp lớn miền cận đông.  Một tác giả thứ hai nói ngài sinh ra tại Antiôkia, Syria và khi những biến cố xảy ra dường như ngài đang sống ở đó trong thập niên bốn mươi của thế kỷ đầu và đã là một trong những lương dân trở lại đầu tiên.

Theo nghề nghiệp, ngài là y sĩ và rất có thể đã theo học Đại học tại Tarsê.  Bởi đó có thể ngài đã có vài tiếp xúc trước với thánh Phaolô khoảng năm 49 hay 50, ngài đã liên kết với thánh Phaolô trong sứ vụ qua Tiểu Á tới Âu Châu.  Dầu vậy khi tới Philipphê, thánh Luca đã dừng lại đó, không phải là Giám mục của Giáo hội tân lập vì dường như thánh nhân đã không hề lãnh nhận chức thánh, nhưng đúng hơn ta có thể gọi là “thủ lãnh giáo dân.”

Hơn nữa, ngài dường như dấn thân vào thành phần sử gia, một vai trò mà sự giáo dục và cố gắng rất phù hợp với ngài.  Sự quan sát kỹ lưỡng và diễn tả chính xác là những từ ngữ của các trường thuốc Hy Lạp và các văn phẩm của thánh Luca chứng tỏ để ngài đã biết áp dụng chúng vào lãnh vực lịch sử.

Dầu vậy, vào khoảng năm 57, thánh Phaolô đã từ Corintô trở lại qua Macedonia trên đường đi Giêrusalem, để thu thập các đại diện từ nhiều Giáo Hội khác nhau và thánh Luca đã nhập bọn, từ đó trở đi ngài đã không hề rời xa thầy mình.  Ngài đã chứng kiến việc người Do Thái tìm cách hại Phaolô và việc người Rôma giải cứu thánh nhân.  Khi Phaolô đáp tàu đi Rôma sau hai năm bị tù ở Cêsarêa, thánh Luca ở với ngài.  Họ bị đắm tàu ở Malta và cùng tới Rôma.  Nhưng ở Rôma, thánh Luca đã thấy một trách vụ khác đang chờ đón ngài.  Rôma là con mắt của Phêrô và người phát ngôn của thánh Phêrô là Marcô đã xuất bản Phúc âm viết tay của ngài.

Nhưng còn những ký ức khác đã được viết ra hay truyền tụng rời rạc hoặc toàn bộ về cuộc đời của Chúa chúng ta trên trần gian.  Thánh Luca đã quyết định rằng : sứ vụ cho lương dân cần một Phúc âm mới, được viết ra bằng Hy ngữ văn chương hơn là Phúc âm của Marcô cho hợp với lương dân có học và không dành riêng cho người Do Thái như là Phúc âm của thánh Matthêo: việc trước tác sách này là phần tiếp theo sách Công vụ sứ đồ xem như hoàn thành tại Rôma giữa năm 61 tới 70, nhưng thánh Luca đã trốn cuộc bách hại của Nêrô và đã trải qua quãng đời còn lại tại Hy Lạp.

Tài liệu thế kỷ thứ hai viết :

– “Trung thành phục vụ Chúa, không lập gia đình và không có con; ngài được qua đời hưởng thọ 84 tuổi ở Boctica, đầy tràn Thánh Thần.”

Thánh Luca là một vị thánh luôn luôn bình dân.  Một phần có lẽ vì chúng ta hiểu rõ ngài là một giáo dân, thừa hưởng văn hóa Hy lạp cổ.  Hơn nữa, ngài bình dân vì đặc tính lương dân và dấn thân của mình.  Tất cả văn phẩm của ngài đầy quan tâm đến con người, thương cảm con người, liên hệ tới người nghèo, hào hiệp với phụ nữ.  Ngài cũng rất hấp dẫn bởi đã thu thập và kể lại vô số những công cuộc đầy nhân hậu của Chúa Kitô.

Thật ra người ta sẽ lầm lẫn khi dìm mất tính chất và giáo huấn nghiêm khắc của Chúa.  Nhưng các y sĩ có thể hãnh diện về ngài vì chắc hắn không có y sĩ nào sẽ qua mặt được ngài về “tình yêu dành cho nhân loại.”  Và những người còn lại trong chúng ta có thể biết ơn ngài vì nhờ ngài chúng ta có được dụ ngôn cây vả khô chồi (13:6), đứa con hoang đàng (15:11), và người Samaria nhân hậu (10:29).  Chúng ta cũng biết ơn ngài vì câu chuyện người kẻ trộm thống hối và cả năm mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui.

Nhưng trên tất cả, chúng ta mắc ơn ngài Kinh Ave “Ngợi khen” (Magnificat), Chúc tụng (Benedictus), Phó dâng (Nuncdimittis) với quá phân nửa câu truyện ngày lễ Giáng sinh.  Rồi đây là chỗ mà sự khiêm tốn ẩn mình của thánh nhân xa rời chúng ta.

Thánh Luca đã nghe truyện từ miệng Chúa không?  Thánh nhân không nói điều này cho chúng ta nhưng rất có thể lắm.  Chúng ta biết sau cuộc đóng đinh, Mẹ đã được thánh Gioan săn sóc và chắc chắn đã có sự giao tiếp giữa hai thánh sử này . Nhưng trùng hợp của hai Phúc âm (như về việc biến hình) hay những trùng hợp về ngôn ngữ trong phần đầu sách Công vụ mạnh mẽ minh chứng điều này.

Hơn nữa, nếu thánh Luca được rửa tội ở Antiôkia khoảng năm 40 thì tự nhiên là có thể tìm gặp được thánh Gioan ở Giêrusalem…  Lúc ấy Đức Mẹ trên dưới 70 tuổi.  Như vậy không có lý gì thánh Luca lại không thể nghe chính môi miệng Mẹ kể chuyện.  Mà dầu chuyện nầy có đến với ngài cách gián tiếp đi nữa, chúng ta vẫn biết ơn ngài đã lưu lại cho chúng ta những giai thoại đặc biệt ấy.

Trích: Theo Vết Chân Người, Lm. Phaolô Phạm Quốc Túy

ƠN GỌI THỪA SAI

Đại hội của Hội đồng Giám mục Việt Nam vừa tổ chức tại Đà Lạt từ ngày 06 đến ngày 10/10/2025 vừa qua.  Trong Thư Chung gửi đến mọi thành phần Dân Chúa, các vị chủ chăn của Giáo hội Công giáo Việt Nam đề nghị một lộ trình ba năm (2026-2028) để thực hiện sứ vụ vô cùng quan trọng là loan báo Tin Mừng, hay là ơn gọi thừa sai.  Theo thông lệ, Chúa nhật hôm nay là ngày cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Giáo hội.  Khái niệm “truyền giáo” hay “loan báo Tin Mừng” dường như đã quá quen thuộc với chúng ta và nhiều người coi đó là một công thức khô cứng.  Trong khi đó, ơn gọi thừa sai là bản chất của đời sống Giáo hội và của mỗi Ki-tô hữu chúng ta.  Hơn nữa, một não trạng phổ biến nơi nhiều tín hữu, đó là việc truyền giáo là của các giám mục, linh mục và tu sĩ, còn người giáo dân chỉ là người lắng nghe và đón nhận.  Đó là một quan niệm sai lầm do thiếu hiểu biết.  Quan niệm này biến người tín hữu trở nên thụ động và ỷ lại, không nhiệt thành tham gia hoạt động của Giáo hội địa phương, nhất là hoạt động loan báo Tin Mừng.

Thừa sai là gì?  “Thừa” là tiếp nhận; “Sai” là phái đi.  Ơn gọi thừa sai cũng là ơn gọi truyền giáo.  Khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, Ki-tô hữu được Chúa ban ba chức năng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế.  Chức năng Ngôn sứ chính là ơn gọi thừa sai, vì “Ngôn” là lời và “sứ” là được sai đi.  Chúa sai chúng ta đi để nói Lời của Người.  Đó cũng là lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.  Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.  Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).

Tại sao lại gọi thừa sai là một “ơn gọi?”  Vì đó là lời mời gọi của Chúa, đồng thời cũng là một vinh dự mà Chúa ban cho người tín hữu.  Khi Chúa gọi và chúng ta thiện chí đáp lời, thì Chúa sẽ ban ơn cần thiết để chúng ta chu toàn sứ mệnh cao cả này.  Chúng ta thường nghĩ đến khía cạnh “bổn phận” nhiều hơn là “vinh dự.”  Loan báo Lời Chúa là một vinh dự lớn lao vì chúng ta làm cho người khác biết Chúa.

Làm sao có thể sống ơn gọi thừa sai hay có thể truyền giáo?  Một điều kiện căn bản là chúng ta phải biết Chúa thì mới có thể giới thiệu Người cho người khác.  Vì không ai cho người khác cái mình không có.  Một Ki-tô hữu không thể nói về Chúa Giê-su, nếu người đó không biết hoặc chỉ biết lơ mơ về Người.  Vì thế, để trở thành một nhà truyền giáo hay một thừa sai, cần phải học hỏi giáo lý, chuyên cần cầu nguyện để gặp Chúa Giê-su.  Khi cầu nguyện là chúng ta “nói với Chúa,” khi rao giảng là chúng ta “nói về Chúa.”  Hai khía cạnh này có mối tương quan mật thiết với nhau.  Không thể nói về Chúa nếu trước đó không nói với Người.

Việc giới thiệu Chúa sẽ trở nên vô nghĩa nếu người giới thiệu không sống tương xứng với giáo huấn của Đấng mình rao giảng.  Vì vậy, truyền giáo bằng chính cuộc đời là việc truyền giáo hữu hiệu nhất.  Có tác giả đã so sánh đời sống người tín hữu với cuốn Kinh Thánh sống động, bằng xương bằng thịt, để người khác có thể đọc thấy Lời Chúa xuyên qua cuộc đời chúng ta.  Khi chuyên chăm thực thi Lời Chúa, hình ảnh của Người sẽ trở nên sống động qua chính cuộc đời chúng ta, đến nỗi người khác có thể nhìn thấy Chúa nơi chúng ta.

Mọi tín hữu đều có ơn gọi thừa sai.  Tùy theo lứa tuổi, khả năng học vấn và bậc sống, mỗi chúng ta đều có thể nói về Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của mình.  Đại hội Truyền giáo Á Châu lần thứ nhất tổ chức tại Thái Lan năm 2006.  Trong một bài thuyết trình, linh mục Saturnimo Dias, Trưởng ban điều hành Đại hội đã nói như sau:”Đức Ki-tô sinh ra tại Á Châu và đã chết tại Á Châu… nhưng đối với người dân Á Châu, Chúa vẫn còn là một người xa lạ.  Họ vẫn nhìn Ki-tô giáo như một tôn giáo Tây phương.  Mặc dầu Ki-tô giáo được phát sinh tại Á Châu, nhưng số phận của tôn giáo này tại lục địa Á Châu vẫn chưa được may mắn lắm.  Bởi vậy, cùng với đại hội Truyền giáo Á Châu lần này, chúng ta phải đưa Chúa Giê-su trở về với người dân Á Châu, phải kể cho họ những câu chuyện về Chúa Giê-su tại Á Châu, và làm cho họ nhận biết rằng Chúa Giê-su là người Á Châu.”  Vâng, quả vậy, truyền giáo là kể câu chuyện về Chúa Giê-su, về đời sống, giáo huấn và cái chết của Người vì yêu thương nhân loại.  Điều này ai cũng có thể làm được, nếu ý thức về sứ mạng thừa sai và trau dồi kiến thức để có thể thực hiện được sứ mạng cao cả ấy.

Ước chi mỗi Ki-tô hữu hiểu ơn gọi thừa sai và sống ơn gọi ấy trong mối tương quan với tha nhân, thể hiện qua lời nói, hành động cũng như chính bản thân mình.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên