CẦM BUỘC VÀ THÁO CỞI

Nói đến chìa khóa là người ta nghĩ đến việc mở hay đóng cửa.  Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay trao cho ông Phêrô chìa khoá, nhưng Người lại nói đến việc cầm buộc và tháo cởi: “Thày sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”  Phêrô vừa thay mặt anh em để tuyên xưng đức tin: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”  Sau lời tuyên xưng Đức tin của vị tông đồ, Chúa đã đổi tên cho ông từ Simon thành Phêrô, nghĩa là Đá Tảng và trao cho ông quyền cầm buộc và tháo cởi.  Quyền này thật lớn lao, đến nỗi trên trời cũng sẽ dựa theo quyền này để quyết định tương lai của một con người, hoặc bị trừng phạt, hoặc được thưởng công.  Hai ngàn năm đã qua, Giáo Hội tiếp nối Phêrô lãnh nhận và thực thi quyền này.  Nhờ quyền ràng buộc và tháo cởi, Giáo Hội duy trì trật tự nội bộ, đóng góp phần mình xây dựng xã hội trần gian, đồng thời phản chiếu tình thương của Thiên Chúa cho con người của mọi thời đại, mở ra cho muôn dân con đường đến gặp gỡ Đức Kitô và đón nhận ơn cứu độ.

Ý tưởng cầm buộc và tháo cởi được Đức Giêsu nhắc lại một lần nữa, cũng trong Tin Mừng thánh Mátthêu, ở chương 18, câu 18: “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.”  Nếu ở Mt 16, 19, Chúa trao chìa khoá cho cá nhân Phêrô, thì ở đây, Chúa lại trao chìa khoá cho Cộng đoàn Giáo Hội, với danh nghĩa tập thể.  Giáo Hội được ủy thác thay mặt Chúa để hướng dẫn con người đạt tới sự thánh thiện.  Giáo Hội là một người mẹ, cưu mang, sinh hạ và chăm sóc các tín hữu.  Ai nghe lời Giáo Hội là nghe lời Chúa.  Ai hiệp thông với Giáo Hội là hiệp thông với Chúa.  Giáo Hội không chỉ là cơ chế của loài người, nhưng trước hết là một tổ chức do Chúa Giêsu thiết lập, là trung gian thông chuyển ơn cứu độ đến cho hết mọi người.  Chính Giáo Hội quản lý kho tàng Đức tin và có sứ mạng thông truyền Đức tin cho con người thuộc mọi thời đại và mọi nền văn hóa.

Hình ảnh chiếc chìa khoá cũng được nhắc đến trong Bài đọc I.  Đây là chìa khoá Đavít, tượng trưng cho quyền lực của người lãnh đạo dân Israel.  Vị tể tướng triều đình thời đó là Sép-na.  Ông này vì bê bối và bất trung, nên Thiên Chúa loại bỏ.  Qua ngôn sứ Isaia, Chúa phế bỏ Sép-na và thiết lập người thay thế là Engiakim.  Người này sẽ được trao chìa khóa nhà Đavít và có quyền đóng cũng như mở.  Sở dĩ đoạn Kinh Thánh Cựu ước này được đọc trong Phụng vụ, vì nhãn quan Kitô giáo nhận ra, Engiakim là hình ảnh của Đấng Thiên Sai.  Người đến trần gian với quyền lực lãnh nhận từ Đấng Tối cao.  Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.  Người được trao toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28,18).  Người là Đấng được các vị kỳ lão trong sách Khải Huyền tung hô: “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc” (Kh 5,12).  Người cũng là Đấng duy nhất có khả năng mở bảy ấn, vừa bày tỏ quyền năng của Thiên Chúa, vừa ổn định trật tự trần gian (x. Kh, chương 6).

Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.  Tuy vậy, trải qua mọi thời đại, con người cũng như sứ mạng của Chúa bị nhiều người hiểu sai lạc, thậm chí có người cố ý xuyên tạc hay làm cho hình ảnh của Người bị biến dạng.  Có nhiều người quan niệm về Đức Giêsu như một nhân vật huyền thoại, hoặc chỉ là một vĩ nhân như bao vĩ nhân khác của lịch sử.  Một số khác lại coi Chúa như một chính trị gia, hay chỉ là một bậc thày về những tư tưởng đạo đức.  Họ kính trọng Chúa, nhưng không công nhận Người là Thiên Chúa và là Đấng Thiên Sai.  Điều này dễ hiểu.  Bởi lẽ sứ mạng của Chúa được Chúa Cha trao phó.  Con người không thể hiểu thế giới thần linh, vì “sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào!  Quyết định của Ngài, ai suy cho thấu!” (Bài đọc II).  Các môn đệ đã theo Chúa được vài năm, mà nay khi Người đặt câu hỏi về thân thế và sứ mạng của Người, các ông còn lúng túng: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, người khác thì cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ.”  Thì ra các môn đệ cũng chỉ dựa vào dư luận và những lời đồn.  Chúa muốn mỗi người hãy suy tư và tự đưa ra quan điểm của mình: “Còn anh em, anh em nói Thày là ai?”  Tin vào Chúa không thể dựa trên những lời đồn thổi, nhưng là sự hiểu biết kèm theo niềm xác tín nơi Người.  Phêrô đã thưa: “Thày là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Người tín hữu chân chính phải xác định rõ Chúa Giêsu là ai trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa và Người là ai đối với đời sống của mình.  Một Đức tin mờ nhạt mông lung không thể làm nền tảng cho cuộc đời của người tín hữu.  Nó giống như ngôi nhà được xây trên cát, lúc bão tố mưa sa dễ dàng bị đổ sập.  Một lối sống chỉ dựa vào dư luận của đám đông mà không dựa trên những tiêu chuẩn của giáo huấn Tin Mừng sẽ không chắc chắn vì luôn bị thay đổi cho hợp thời.

“Phần anh em, anh em nói Thày là ai?”  Chúa Giêsu vẫn đang đặt câu hỏi ấy đối với mỗi tín hữu chúng ta.  Câu hỏi ấy được đặt ra trong cuộc sống đời thường, nhất là trong cuộc gặp gỡ giữa chúng ta với Chúa, vào lúc sau hết của cuộc đời.  Không thể vừa tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa của đời mình, vừa sống trái ngược với Tin Mừng Người rao giảng.  Không thể vừa tuyên xưng Đức Giêsu là Sự thật, vừa sống trong sự dối trá với anh chị em mình.

Quyền cầm buộc và tháo cởi mà Chúa đã trao cho Phêrô và Giáo Hội, không chỉ được hiểu như những hình phạt chế tài, mà còn quảng diễn tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa.  Ngài không muốn cho con người phải trầm luân đời đời, nhưng được sống trong hạnh phúc đời này và đời sau.  Mỗi người tín hữu hãy cảm nhận tình thương ấy, và là chứng nhân đem tình thương đến cho mọi người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

VƯƠNG QUYỀN CỦA MẸ

“Triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận!”

Nữ hoàng Mary, Scotland, rất được yêu mến, thường đi thăm người dân mà không cần hộ tống.  Chiều kia, trời sắp mưa, bà ghé một ngôi nhà, nói với cô chủ, “Cô có thể cho tôi mượn chiếc ô, tôi sẽ trả vào ngày mai.”  Cô chủ trao cho người lạ chiếc ô mà cô định vứt đi.  Hôm sau, có tiếng gõ cửa; người phụ nữ ra mở, một cận vệ hoàng gia xuất hiện, “Nữ hoàng nhờ tôi cảm ơn cô đã cho bà mượn cái này.”  Cô chủ sững sờ; sau đó, bật khóc, “Ôi, tôi đã bỏ lỡ một cơ hội.  Tôi đã không trao cho Nữ hoàng cái tốt nhất!”

Kính thưa Anh Chị em,

Trong cuộc sống, không ít lần chúng ta bỏ lỡ “không trao cho Nữ Hoàng cái tốt nhất!”  Nữ Hoàng ở đây là Đức Maria, Trinh Nữ Vương, hôm nay Giáo Hội mừng kính.  Trong vinh quang hồn xác lên trời, Mẹ đã trở nên ‘thành quả tối hậu’ của công trình cứu độ.  Mẹ vô cùng diễm lệ; đồng thời, cũng rất quyền thế với ‘Vương Quyền của Mẹ!’, vì Mẹ là Thánh Mẫu của Đấng mà “Triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận!”

Thánh Kinh trình bày Chúa Kitô như một vị Vua, nên mẹ Ngài là Hoàng Thái Hậu.  Chúa Kitô là Vua với tư cách Thiên Chúa; và Mẹ Ngài là Nữ Vương bởi “huyết thống thiêng liêng” trong tư cách Mẹ Thiên Chúa.  Mẹ là Nữ Vương bởi Mẹ là Đấng Đầy Ân Sủng, chỉ sau Chúa Con; là Nữ Vương bởi sự lựa chọn duy nhất của Chúa Cha.  Nếu một người có thể trở thành vua hoặc nữ hoàng theo sự lựa chọn của con người, thì danh hiệu và ‘Vương Quyền của Mẹ’ sẽ lớn hơn biết bao khi đó là sự lựa chọn của chính Thiên Chúa!

Đức Phanxicô đưa ra ba trích dẫn Thánh Kinh nói lên ‘Vương Quyền của Mẹ.’  Trước hết, các lời tiên tri về Đấng Cứu Thế, Đấng Messia, Đấng Kitô trong Cựu Ước xem ra đều nói đến một vị Vua như một danh tính được ban.  Chẳng hạn bài đọc Isaia hôm nay, “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta.  Người gánh vác quyền bính trên vai… sẽ mở rộng quyền bính cho ngai vàng và vương triều Đavít”, hầu ‘Danh thánh Chúa tự giờ đây cho đến mãi muôn đời được chúc tụng’ như lời tiên báo của Thánh Vịnh đáp ca!

Thứ đến, trong Tân Ước, ‘Vương Quyền của Mẹ’ được tìm thấy trước nhất trong trình thuật Truyền Tin.  Phúc Âm hôm nay tiết lộ, “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người!”; “Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời.”  Sau cùng, trong Khải Huyền, vương vị của Maria được thấy trong thị kiến vĩ đại “Một phụ nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên 12 ngôi sao;” và chương 12 miêu tả Maria là Nữ Hoàng – Mẹ mới trong Vương Quốc, chia sẻ quyền cai trị vũ trụ của Con mình.

Anh Chị em,

“Triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận!”  Đức Maria là Mẹ của Đấng vô cùng vô tận đó.  Ngày lễ hôm nay xác định ‘Vương Quyền của Mẹ’ vốn giải thích về vai trò chuyển cầu quan trọng của Mẹ trong đời sống chúng ta.  Cũng vậy, Chúa Giêsu, Vua Vũ Trụ, đáp lại Mẹ Ngài, người nữ tỳ có ý chí hoàn toàn nên một với ý muốn của Thiên Chúa, và là người phục vụ Ngài trong vai trò người cầu bầu cho chúng ta trước Con của Ngài.  Vì thế, chúng ta hãy tự tin chạy đến với Thái Hậu, cũng là Mẹ của mình, trao cho Mẹ những gì là tốt nhất, dâng lên Mẹ những lời cầu; tất nhiên, với điều kiện chúng sẽ phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa; và biết rằng, Mẹ sẽ mang chúng đến trước Giêsu, Thái Tử.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con là ‘con Trời’, ‘con của Nữ Hoàng.’  Đừng để con sống vật vờ, cầu bơ cầu bất!  Cho con sống xứng với phẩm vị con trai con gái rất yêu dấu của Chúa!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LIỀU LĨNH VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Không lâu sau khi chịu chức, tôi đi giúp xứ và ở đây tôi gặp một linh mục già thánh thiện.  Cha đã hơn 80 tuổi và gần như mù, nhưng được giáo dân tôn trọng và tìm gặp, nhất là để xưng tội.  Một tối nọ, khi chỉ còn hai cha con với nhau, tôi hỏi cha: “Nếu cha được làm lại đời linh mục từ đầu, việc gì cha sẽ làm khác đi?”  Tôi tưởng một người liêm chính toàn vẹn như cha sẽ nói mình không có gì phải hối tiếc.  Nhưng câu trả lời của cha làm tôi ngạc nhiên.  Cha bảo cha có một hối tiếc, một hối tiếc rất lớn: “Nếu được sống lại đời linh mục từ đầu, cha sẽ nhẹ nhàng với mọi người.  Cha sẽ không hà tiện lòng thương xót Chúa, hà tiện các bí tích và hà tiện tha thứ.  Con biết đó, thời còn tập sinh, câu nằm lòng của cha là ‘Sự thật sẽ giải phóng anh em’ và cha nghĩ nhiệm vụ của cha là thách thức mọi người bảo vệ điều này.  Làm thế là tốt, nhưng cha sợ cha đã quá cứng rắn với mọi người.  Không cần cha và Giáo hội đặt thêm gánh nặng, họ đã có đủ đau đớn rồi.  Đáng ra cha phải liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa!”

Tôi kinh ngạc trước câu trả lời của cha, vì mới chưa đầy một năm trước, trong phần thi vấn đáp cuối khóa ở chủng viện, một linh mục đã cảnh báo tôi: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm giác của con cản đường sự thật, và nên nhớ quá mềm mỏng là sai trái.  Nhớ nhé, dù có gay go, nhưng chỉ có sự thật mới giải phóng chúng ta!”  Đó có vẻ là lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ mới bắt đầu làm quen với mục vụ.

Tuy nhiên, cứ hàng năm trôi qua, tôi lại ngả dần theo lời khuyên của linh mục già ngày xưa.  Chúng ta cần liều lĩnh hơn với lòng thương xót Chúa.  Dĩ nhiên phải công nhận không bao giờ được bỏ qua tầm quan trọng của sự thật, nhưng chúng ta phải liều để cho lòng thương xót vô hạn, vô điều kiện của Thiên Chúa tuôn chảy tự do.  Lòng thương xót Chúa phải sẵn sàng như vòi nước, phải như lời tiên tri I-saia, phải hoàn toàn nhưng không.  “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây!  Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào!”

Vậy điều gì ngăn cản chúng ta?  Tại sao chúng ta quá ngập ngừng trong việc công bố lòng thương xót không phân biệt, dồi dào đến phung phí và vô cùng vô tận của Thiên Chúa?

Một phần là vì những động cơ tốt, thậm chí là cao thượng.  Chúng ta có quan tâm rất hợp lý cho những điều quan trọng như sự thật, công lý, luân lý, tính chính thống, chuẩn bị đón nhận bí tích cho hợp lệ, sợ tai tiếng, và lo cho cộng đoàn giáo hội bị hấp thụ và mang lấy những tác động của tội lỗi.  Tình yêu luôn cần được được thôi thúc bởi sự thật, dù sự thật phải được làm dịu đi bởi tình yêu.  Tuy nhiên, đôi khi động cơ của chúng ta thiếu cao thượng, chúng ta lưỡng lự và nhút nhát, sợ hãi, ghen tương và vị luật – cũng như sự tự thị của những người pharisiêu hay nỗi ghen tức trong lòng người anh của đứa em hoang đàng.  Có chúng ta canh gác thì không có ân sủng nhưng không!

Tuy nhiên, khi làm như vậy, chúng ta đã sai lầm, lại càng không phải là mục tử tốt, lạc điệu với Thiên Chúa của những điều Chúa Giêsu rao giảng.  Lòng thương xót Chúa như Chúa Giêsu mạc khải thì ôm lấy tất cả, không phân biệt, cả người xấu lẫn người tốt, người xứng đáng lẫn người không xứng đáng, người hiểu cũng như không hiểu.  Một trong những thấu suốt làm giật mình mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta, đó là lòng thương xót Chúa không thể không đến với tất cả mọi người, vì nó luôn nhưng không, không cần phải xứng đáng, không cần điều kiện, ôm lấy tất cả, vượt xa mọi tôn giáo, phong tục, lễ điển, quy cách hành xử, chương trình bắt buộc, ý thức hệ và thậm chí là vượt trên cả tội.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, và những người lớn tuổi, chúng ta phải liều mình công bố đặc tính quảng đại đến phung phí của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được phân phát lòng thương xót Chúa như thể đó là của riêng chúng ta, chúng ta muốn chi dùng thế nào tùy, chúng ta không được phân phát nhỏ giọt sự tha thứ của Chúa như một loại hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện về tình yêu của Chúa như thể Ngài là nhà độc tài hẹp hòi hay có một ý thức hệ chính trị, chúng ta không được chặn đường đến với Thiên Chúa như thể mình là người giữ cửa thiên đàng.  Vì chúng ta đâu phải là người làm những chuyện này!  Nếu chúng ta xem lòng thương xót Chúa theo kiểu đánh giá của mình, thì chúng ta đang liên kết những giới hạn, tổn thương và thiên kiến của mình với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Một chuyện đáng chú ý trong các phúc âm là các tông đồ, dĩ nhiên vì thiện ý nhưng lại thường ngăn cản một số người đến gần Chúa Giêsu, như thể họ không xứng đáng, như thể họ làm sỉ nhục cho sự thánh thiện và tinh tuyền của Chúa.  Các tông đồ đã nhiều lần đuổi trẻ con, cô gái điếm, người thu thuế, người có tội rành rành và những người vô tri đủ loại, nhưng Chúa Giêsu luôn gạt đi hành động của họ bằng những lời: “Hãy để họ đến!  Ta muốn họ đến với Ta.”

Cho đến ngày nay, mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Trong Giáo hội, chúng ta, những người có ý định tốt, với động cơ giống các tông đồ, luôn cố giữ một số cá nhân và một nhóm người nào đó xa khỏi lòng thương xót Chúa qua lời Chúa, bí tích và cộng đoàn.  Thiên Chúa không cần (và không muốn) chúng ta bảo vệ.  Chúa Giêsu muốn tất cả mọi loại người đến với Ngài, và Ngài muốn họ đến với Ngài ngay.  Thiên Chúa muốn tất cả mọi người đến với dòng nước vô hạn của lòng thương xót Ngài, bất chấp luân lý, tính chính thống, sự thiếu chuẩn bị, tuổi tác hay văn hóa của họ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐẾN VỚI MUÔN DÂN

“Đến với muôn dân” là tựa đề của một Sắc lệnh trong văn kiện của Công đồng Vatican II.  Nội dung Sắc lệnh này là lời mời gọi mọi thành phần Dân Chúa cộng tác vào sứ mạng truyền giáo, theo lệnh truyền của Đấng Phục sinh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…” (x. Mt 28,16-20).

Khi xác định “đến với muôn dân,” Giáo Hội không còn là một cơ chế hành chính khép kín, đóng khung trong một nền văn hóa riêng biệt hoặc một châu lục hay một quốc gia.  Trái lại, Giáo Hội có sứ mạng đi đến với mọi dân tộc để giới thiệu Chúa, làm cho chất men Tin Mừng thấm nhập vào mọi nẻo đường của cuộc sống, xây dựng Nước Trời ở trần gian.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần mời gọi Giáo Hội hãy đi ra, hãy mở cửa, hãy đến vùng ngoại vi để loan báo Tin Mừng.

Một trong những chủ đề chính trong Lời Chúa hôm nay là lời khẳng định: Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại.  Bất kể ai, nếu có Đức tin sẽ được chữa lành và cứu rỗi.

Cũng như lòng nhân hậu, tình mẫu tử, sự tha thứ luôn là chuẩn mực cho con người dù họ thuộc về bất kỳ nền văn hóa nào, khái niệm về Thiên Chúa diễn tả Đấng là nguyên lý của mọi loài và là cội nguồn của Chân Thiện Mỹ.  Ngài là Cha của người da trắng cũng như da đen da vàng.  Ngài dựng nên những người thánh thiện cũng như những người tội lỗi.  Ngài đổ ơn mưa móc xuống cho người công chính cũng như cho kẻ bất lương.  Như thế, bất cứ ai sống dưới gầm trời này mà cậy tin vào Chúa và kêu cầu Ngài thì đều được Chúa thương, vì “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.”  Chúa sẽ dẫn họ lên núi thánh và ban cho họ tràn đầy niềm vui (Bài đọc I).

Thánh Matthêu kể lại: hôm đó Chúa Giêsu đi đến miền Tia và Siđôn.  Hai địa danh này diễn tả miền đất của dân ngoại.  Người đàn bà xứ Canaan cũng là một người ngoại.  Bà đang đau buồn vì con gái bà bị quỷ ám.  Chúng ta lưu ý đến hai lời cầu nguyện của người phụ nữ này.  Đó cũng là hai lời cầu nguyện trong Phụng vụ, xưa cũng như nay: Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” (Lời kinh trong phần sám hối mở đầu thánh lễ); “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (Lời mở đầu giờ kinh Phụng vụ).  Lời van xin của bà chứng minh một nhu cầu khẩn thiết và một niềm hy vọng sâu xa.  Tuy vậy, lời van xin thống thiết này ban đầu đã bị Chúa Giêsu khước từ, kèm theo một lời nói xem ra rất “khó nghe.”

Cuộc đối thoại giữa người phụ nữ này với Chúa được thánh sử Mátthêu trình bày như tiến trình của lời cầu nguyện nơi người tín hữu: có vẻ như lời cầu nguyện bị khước từ lúc ban đầu, nhưng sự kiên trì và phó thác sẽ làm thay đổi mọi sự.  Không thể cầu nguyện trong sự nóng vội với một loạt những nhu cầu cấp bách và đòi Chúa phải chấp thuận ngay theo như ý mình.  Bởi lẽ lời cầu nguyện không chỉ đơn giản là những lời xin, mà còn là tâm tình yêu mến tạ ơn, còn là sự diễn tả nỗi lòng của người con thảo đối với cha mẹ mình.  Người phụ nữ xứ Canaan đã hiểu điều đó.  Bà đã kiên trì và khiêm tốn, do đó lời cầu xin của bà đã được Chúa nhận lời.  Ước vọng của bà đã được đáp ứng.  Lời Chúa hôm nay cũng dạy chúng ta hãy kiên trì trong lời cầu nguyện.  Lời cầu nguyện xuất phát từ trái tim chân thành và tình yêu mến thiết tha chắc chắn sẽ được Chúa nhận lời.  Có những khi chúng ta không đạt được ngay tức khắc những điều chúng ta xin, nhưng chúng ta tin rằng Thiên Chúa là Cha nhân hậu.  Ngài muốn những điều thực sự là tốt và đem lại ích lợi lâu dài cho chúng ta.

Chúa Giêsu đã đến trần gian để quy tụ muôn người thành gia đình của Thiên Chúa.  Người đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa người Do Thái với dân ngoại.  Đối với Chúa, người Do Thái hay người ngoại không phải là điều kiện để Người thực hiện những phép lạ, mà điều quan trọng là lòng tin.  Lòng tin đôi khi phải trải qua thử thách.  “Này bà, bà có lòng tin mạnh mẽ.  Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.”  Lòng tin là điều kiện để con gái bà được khỏi quỷ ám.  Lòng tin cũng giúp bà kiên trì trong lời van xin, mặc dầu cảm thấy mình bị chối từ.  Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nhiều lần khen lòng tin vững vàng của những người ngoài Do Thái, như trong trường hợp vị sĩ quan đến xin Ngài chữa cho con trai mình: “Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế” (Mt 8,10).

Tưởng cũng nên tìm hiểu đôi chút về khái niệm “chó con” được Chúa Giê-su dùng để chỉ về người phụ nữ dân ngoại.  “Con cái” thì hiểu về dân Do thái, “chó con” thì hiểu về dân ngoại.  Chúa Giêsu dùng cách nói thông thường của người Do thái chứ không có ý mỉa mai.  “Chó con” cho ta hình ảnh con vật nuôi trong nhà, mặc dù không được coi trọng như con người, nhưng cũng được quý mến chăm sóc và thương yêu.  Lời tuyên bố của Chúa có thể hiểu như một sự thử thách lòng tin của bà.  Lập luận của bà chứng tỏ sự kiên trì và cậy trông, chấp nhận chỉ là một con chó con chực chờ những mụn bánh nhỏ rơi xuống trong khi người thực khách đang dùng bữa trên bàn.  Sự kiên trì đã đem lại phần thưởng cho bà.

Ngỏ lời với giáo dân Rôma, là những người nguồn gốc dân ngoại, Thánh Phaolô chứng minh cho họ thấy lòng thương xót bao la của Chúa.  Ngài không khước từ ai.  Những ai kêu cầu Ngài đều được Ngài thương nhận lời.  Chính vì lòng thương xót đối với muôn dân, mà Chúa đã dùng thánh nhân như một tông đồ của dân ngoại.  Thánh Phaolô hiểu sứ mạng của mình và ngài đã đi đến mọi nơi, xây dựng các cộng đoàn đức tin và giúp họ nhận ra ơn cứu độ của Thiên Chúa, được thực hiện trong Đức Kitô Giêsu (Bài đọc II).  Như thế, mỗi chúng ta cũng đã là những “người thuộc dân ngoại”, nhưng nhờ Bí tích Thanh Tẩy, chúng ta trở thành “con cái trong nhà”, là những người “đồng thừa kế với Đức Giêsu,” nhờ tình thương của Thiên Chúa.

Qua người tín hữu, Đức Giêsu hôm nay vẫn đang đến với muôn dân.  Người là Ánh sáng muôn dân, đem ơn Cứu độ cho đến tận cùng trái đất.  Mỗi chúng ta như cánh tay nối dài của Người, để đem ánh sáng ấy chiếu soi cuộc đời.  “Ở đâu có cộng đoàn Kitô hữu, ở đó có linh địa của lòng thương xót” (ĐTC Phanxicô).  Thực thi lòng thương xót trong nội bộ cộng đoàn cũng như đối với anh chị em không cùng niềm tin, đó chính là lời loan báo Tin Mừng hiệu quả nhất.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

MẸ MARIA LÀ ƯU PHẨM CỦA THIÊN CHÚA

Mỗi lần mừng lễ về Mẹ Maria, chúng ta được mời gọi hướng về Mẹ như là một kiệt tác của Thiên Chúa, một thụ tạo được ưu tuyển và trổi vượt trên hết mọi loài được dựng nên.  Bởi lẽ Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn cách đặc biệt.  Không những thế, Thiên Chúa còn gìn giữ Mẹ cách nhiệm mầu trong chương trình cứu độ.  Những ân huệ đó không thể có nơi bất cứ loài thụ tạo nào ngoài Mẹ.

Vì thế, khi mừng kính trọng thể lễ Đức Maria hồn xác về trời, phụng vụ mời gọi chúng ta cùng nhau khám phá vị thế ưu việt của Mẹ trong chương trình cứu độ nơi tín điều, truyền thống và giáo huấn của Giáo Hội.  Mặt khác, Giáo Hội cũng chỉ cho con cái mình thấy và hiểu được việc Đức Maria hồn xác lên trời có tầm ảnh hưởng thế nào đến đời sống đức tin và niềm hy vọng của chúng ta.

1. Giáo huấn của Giáo Hội

Trước tiên, chúng ta tìm hiểu về Giáo Huấn của Giáo Hội qua biến cố Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.

Lễ Đức Mẹ lên trời là lễ trọng và cũng là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong Giáo Hội hiện nay.  Vào thời điểm đầu, lễ này được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc.  Nhưng đến năm 1950, Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII đã đổi tên thành lễ Đức Mẹ lên trời qua Tông hiến Munificentissimus Deus.  Với tín điều này, Giáo Hội tin nhận: “Thân xác của Người Phụ Nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”; “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc” (Tông hiến Munificentissimus Deus).  Từ lời tuyên bố long trọng hôm ấy, đã trở thành chân lý đức tin cho toàn thể Giáo Hội hôm nay.

Với lời tuyên tín trên, Đức Giáo Hoàng đã liệt kê bốn chân lý tuyệt đối thuộc về lòng tin nơi Đức Maria.  Bốn chân lý đó là: 1) Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa; 2) Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội; 3) Đức Maria Đồng Trinh Trọn Đời; 4) Đức Maria Hồn Xác Lên Trời.

Khi tuyên bố cùng lúc những đặc ân đó của Đức Mẹ, Giáo Hội muốn cho các tín hữu hiểu được cách tổng quát những ân huệ cao cả của Đức Maria, và đây cũng là dịp để xác tín hơn nữa những nguyên lý liên quan đến việc Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác.

Nguyên lý thứ nhất: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.  Vì Mẹ được ưu tuyển để đón nhận việc cưu mang và sinh hạ Ngôi Hai Thiên Chúa, và Đấng Cứu Thế là Thiên Chúa, nên Mẹ cũng là Thân Mẫu Thiên Chúa.

Việc được Thiên Chúa cất nhắc cả hồn xác Mẹ về trời là điều không có gì khó hiểu, bởi lẽ cả cuộc đời của Mẹ đã hiệp thông cách chặt chẽ vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu.  Nên khi Đức Giêsu về trời, Ngài không thể để lại để thân xác của người mẹ yêu dấu phải hư nát trong mồ được.

Nguyên lý thứ hai: vì Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi cách nhiệm mầu, nên khi mang thai và sinh hạ Đấng Cứu Thế quyền năng, Mẹ vẫn đồng trinh trước, trong và sau khi sinh.  Vì thế, việc đưa cả hồn lẫn xác Mẹ về trời là điều cần thiết để bảo tồn vẻ trinh nguyên nơi Mẹ.

Nguyên lý thứ ba: nếu trước kia, Nguyên Tổ loài người đã bất tuân, chống lại Thiên Chúa và đi vào cõi chết, thì khi Đức Maria xuất hiện với lời “Xin vâng” tuyệt đối, Mẹ đã trở thành Evà mới liên kết mật thiết với Đức Giêsu – Ađam mới, Đấng là nguồn cội của sự sống, đã từ cõi chết sống lại và lên trời hiển vinh, thì không có lẽ gì Mẹ lại phải chịu cảnh hư nát, bởi vì hư nát là kết quả của tội lỗi.  Như vậy, Mẹ đương nhiên và rất hợp lý để được đưa lên trời cả hồn lẫn xác (x. GLHTCG số 963- 975).

Tóm lại, ngay từ khi thân xác Mẹ cưu mang chính xác thân Đấng Cứu Thế, thì Đức Giêsu con của Mẹ, đồng thời là Thiên Chúa đã thánh hóa Mẹ cả xác và hồn ngay từ lúc đầu thai.  Vì vậy, sự phục sinh của Đức Giêsu không thể tách rời việc phục sinh Thân Mẫu là người đã cưu mang Cây Sự Sống nơi cung lòng thanh khiết của mình.  Mẹ không thể “nhục thân bất hoại” theo lẽ thường được.

2. Cùng với Mẹ ngợi khen Thiên Chúa

Như vậy, mỗi khi mừng lễ Mẹ lên trời, chúng ta hãy cùng với cả triều thần ca mừng Nữ Hoàng Thiên Quốc: “Kìa bà nào xuất hiện như rạng đông, diễm kiều như vầng nguyệt, lộng lẫy tựa thái dương, oai hùng như đạo binh chỉnh tề hàng ngũ?” (Dc 6,10).

Thế nên, phụng vụ hôm nay làm toát lên vẻ huy hoàng và sắc thái hân hoan, vì: kể từ đây, Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất là Nữ Vương trời đất; làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Mẹ đáng được mọi đời khen ngợi vì Mẹ là “Đấng đầy ơn phúc”; “Thiên Chúa ở cùng Mẹ.”  Mẹ trở thành Evà mới, thành Cây Quả Phúc mà Thiên Chúa đem trồng vào vườn Địa Đàng mới để được cưu mang và sinh ra quả phúc trường sinh là chính Đấng Cứu Thế.

Sự xuất hiện của Mẹ đã đưa nhân loại sang một trang sử mới.  Lịch sử cứu độ được mở ra với biết bao ân huệ.

Đứng trước hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa ban cho Mẹ, và đặt mình trong tâm tình của Mẹ, chúng ta hãy cất cao lời ngợi khen Thiên Chúa vì những điều kỳ diệu Ngài đã làm nơi Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.  Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 46-48).

Đây chính là lời kinh tuyệt mỹ mà Mẹ Maria đã cất lên để ca tụng Thiên Chúa, và đây cũng là những cảm nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa dành cho Mẹ cách nhiệm mầu.

Biến cố Mẹ được đưa về trời, đã đem lại cho con người niềm hy vọng lớn lao và tuyệt đối.  Bởi vì sự phục sinh của Mẹ gắn liền với sự phục sinh của Đức Kitô: “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu […] cũng được Thiên Chúa cho sống lại” (x. 1Cr 15, 20-22).

Qua biến cố này, mặc khải cho chúng ta rằng: Mẹ Maria đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác, và nếu chúng ta theo chân Mẹ, sống như Mẹ và thực hành Lời Chúa cách yêu mến, trung thành thì mai ngày cũng được lên trời hiển vinh như Mẹ.  “Cuộc Lên Trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dự độc nhất vô nhị vào sự Phục sinh của Con mình và là việc thể hiện trước sự phục sinh của các Kitô hữu khác” (GLCG, số 966).  Bởi vì “Mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người” (x. 1Cr 15, 23-24) cũng sẽ được phục sinh như Người.

“Mẹ Lên Trời là hình ảnh và khởi thủy của Giáo Hội về ơn cứu chuộc của Thiên Chúa cho mọi người chúng ta.  Mẹ chiếu sáng như dấu chỉ lòng trông cậy vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (LG. số 69).  Mẹ Lên Trời, nhận lãnh vai trò Nữ Vương trời đất, nên hơn bao giờ hết, Mẹ trở nên gần gũi với mọi thành viên trong gia đình nhân loại, và như thế: “Trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ diễm phúc được kêu cầu bằng các tước hiệu là Trạng Sư, Đấng Cứu Giúp, Đấng Phù Hộ, Đấng Trung Gian” (GLHTCG. số 969).

Như vậy, việc Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác đem lại niềm hy vọng phục sinh cho tất cả chúng ta.  Mầu nhiệm Mẹ được rước lên trời cả hồn lẫn xác không chỉ nhắc nhở chúng ta cầu nguyện với Mẹ, mà còn hy vọng được trường sinh để cùng Đức Mẹ mãi mãi chúc tụng Thiên Chúa.  Amen!

Jos. Vinc. Ngọc Biển

ĐỪNG SỢ

“Hãy can đảm lên. Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14,27)

Chỉ đảo qua những bản dịch Kinh Thánh cổ xưa chuyển sang Anh Ngữ, ví dụ bản dịch của Douay-Rheims hay của King James, chúng ta sẽ thấy hạn từ ma (ghost) xuất hiện hơn cả một trăm lần ở mỗi bản dịch.  Các bản dịch này chuyển ngữ từ hạn từ Hy Lạp hagios pneuma thành thuật ngữ “Holy ghost” (ma thánh).  Trong các bản dịch hiện hành, các dịch giả thường sử dụng từ “Holy Spirit” (thần khí).  Từ ngữ “ghost” (ma) trong các văn bản hiện nay chỉ dùng để chuyển ngữ từ tiếng Hy Lạp Phantasma và hạn từ này chỉ xuất hiện trong trình thuật kể lại việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước, như được thuật lại trong Mt 14, 26.  Tuy nhiên, từ ngữ ghost trong bản dịch của Douay-Rheims và King James không ám chỉ ý niệm ma quái, mà  nói về một cuộc thần hiện (apparition) hoặc về sự xuất hiện của thần khí (spirit), thì có lẽ chính xác hơn.

Điều này lý giải lý do tại sao ý niệm của từ ngữ này dần dần được chuyển đổi.  Ngày nay, người ta đang dần dần loại bỏ những hình ảnh ma quái trong các phim hoạt hình, trong các câu chuyện cho trẻ em, hay trong các hóa trang ngày lễ Halloween (trước lễ các Thánh).  Vì thế, thuật ngữ holy ghost (ma thánh thiêng) không còn biểu thị cho 2 khía cạnh “thánh thiện và thiêng liêng” nữa.  Ám ảnh sợ hãi không nhất thiết phải gắn liền với hình ảnh ghost (ma).  Dẫu sao, khi người ta dùng từ ngữ phantasma  với ý niệm về ma quái, hoặc về thần hiện, hoặc nói về thần khí, rõ ràng từ ngữ này không nhắm đến một con người bằng xương bằng thịt bình thường xuất hiện trước mặt các môn đệ.  Cho nên, sự liên tưởng khi nhìn thấy một phantasma (có vẻ giống như ma quái) đang đi trên mặt nước khiến các ông khiếp sợ.  Họ la toáng lên “ma kìa” và rất kinh khiếp.

Khi có một người lạ hay một người chúng ta không hề quen biết xuất hiện, thường  chúng ta sợ.  Đây là phản ứng tự nhiên của chúng ta cũng như của các tông đồ.  Tuy nhiên, trong lần gặp gỡ này, Đức Giêsu muốn vén mở đôi điều về thần tính của Ngài cho các học trò mình.  Thoạt đầu, Chúa  đi trên mặt nước cách lạ thường không phải nhằm khải thị thần tính của Ngài, cho dù sự kiện đó rõ ràng biểu hiện năng quyền của Ngài có thể thống trị thiên nhiên.  Điều sâu xa Chúa Giêsu muốn truyền đạt cho các môn đệ, giữa lúc các ông đang khiếp hãi, là lời trấn an “Hãy can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ.”  “Thầy đây” là thuật ngữ dịch từ tiếng Hy Lạp “egô eimi” có nghĩa “Ta là.”  Đây cũng là lời bày tỏ căn tính của Đức Chúa Giavê trong cựu ước, được sách xuất hành 3, 14 thuật lại.  Chúa nói với Môisen: “Ta là (Đấng) Ta Là” – Ego sum qui sum.  Đức Giêsu muốn phá tan nỗi khiếp sợ của các môn đệ bằng cách khẳng định sự hiện diện của Ngài giữa cơn giông bão, và sâu xa hơn, đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi hữu thể của Đức Giêsu.  Thiên Chúa đang hiển hiện nơi thân xác của chính Đức Giêsu.

Phêrô xuất hiện, và ông đã đáp trả lời trấn an của Thầy mình.  Ông tin rằng đây không phải là một bóng ma, một phantasma, nhưng là chính Đức Giêsu Đấng đang gọi mời ông và các môn đệ.  Phêrô bắt đầu bước xuống biển và đi trên mặt nước.  Nhưng một lần nữa, ông lại sợ khi sóng to gió lớn nổi lên.  Quyết tâm của ông bị chao đảo.  Ông từ từ lún chìm trong dòng nước.  Cho dù Đức Giêsu có nói hay không nói với Phêrô “ Sao kém tin thế,” thì Phêrô cũng đã gào lên với Chúa “Thưa Thầy, xin cứu con.”  Đây là một động thái tổng hợp cả hai mặt: vừa nghi ngờ khiến ông bị chìm, vừa bày tỏ lòng tin như một phương sách cuối cùng.  Lòng tin đó khởi dẫn ông tìm đến ơn cứu độ giữa lúc bị chìm dưới biển.  Không phải chỉ Phêrô, nhưng tất cả những ai lúc đó đang ở trên thuyền, chứng kiến những sự kiện nói lên sự trọng thị đối với Đức Giêsu – chính xác hơn là sự tôn phục Ngài, chúng ta cũng như các tông đồ sẽ phải thốt lên “ Đúng Ngài là con Thiên Chúa.”  Đức Giêsu đã mặc khải uy quyền của Ngài vượt trên sức mạnh thiên nhiên và khuất phục cả những mãnh lực làm chúng ta chảo đảo sợ hãi.  Nhưng quan trọng hơn hết, Ngài khải thị cho chúng ta chính thần tính của Ngài và biểu tỏ sức mạnh có thể cứu lấy những gì đã hư mất.

Đa phần chúng ta chưa từng có kinh nghiệm về sự hiện diện linh thánh của Thiên Chúa sâu xa như các môn đệ, và trải nghiệm đức tin giống như các ngài đã kinh qua khi thắng vượt được sự nghi ngờ và nỗi sợ hãi.  Các ngài e rằng, mình có thể  rơi vào những ảo giác bên ngoài nhằm đánh lừa , và cái họ thấy trước mắt chỉ là một bóng ma đầy kinh khiếp.  Vì thế, đây là mấu chốt khiến câu chuyện ma trong trình thuật Tin Mừng hôm nay trở nên khá thú vị.  Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng đến với chúng ta trong hình hài thân xác, hoặc giữa cơn bão tố, hay trong lúc chúng ta chao đảo đức tin.  Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta trong muôn vàn cách thái khác nhau.  Ngôn sứ Elia đã đến một cái hang trên núi Horeb, ngọn núi của Chúa, để gặp Chúa.  Nhưng Chúa không hiện diện trong cơn giông bão.  Ngài không có mặt trong cơn động đất, trong núi lửa, nhưng Chúa đến trong “tiếng gió hiu hiu nhè nhẹ.”   Sau khi Elia nghe những âm thanh nhẹ nhàng này, ông tiến ra đứng trước cửa hang để đón gặp Chúa.  Trong sự thanh vắng sau cơn bão tố, Chúa đã xuất hiện, hoàn toàn tĩnh lặng giữa núi rừng.  Thần khí của Chúa đã đến với Elia dưới một  một dạng thức thiêng liêng.  Người ta có thể sánh ví, Ngài đến giống hệt như một bóng ma vậy.

John.W. Martens – Văn Hào, SDB chuyển ngữ

SỰ KỲ DIỆU CỦA CÔ ĐƠN

“Giải tán họ xong, Ngài lên núi cầu nguyện một mình.  Đến chiều, Ngài vẫn ở đó một mình!”

“Một là tự tử, hai là về thành phố, ba là ôm chặt Chúa!”  Đó là chia sẻ của cha René Voillaume khi ngài nói đến ‘thời gian nhà tập’ của một Tiểu Đệ Chúa Giêsu tại sa mạc Sahara, nơi nhiệt độ thông thường có thể lên đến 58°C và lạnh dưới – 45°C!

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải đợi đến ngày vào sa mạc Sahara, Chúa Giêsu mới chọn ‘ôm chặt Chúa;’ nhưng trong suốt cuộc sống của mình, Ngài đã luôn ôm chặt Chúa Cha.  Thật thú vị, với ý tưởng này, Tin Mừng hôm nay hé lộ ích lợi của cô đơn; đúng hơn, ‘sự kỳ diệu của cô đơn!’

Khi bạn coi việc ở một mình là cô đơn, Chúa Giêsu coi nó là cô tịch; khi bạn coi cô tịch là lãnh địa của trống vắng, Chúa Giêsu coi nó là lãnh địa của gặp gỡ; khi bạn chạy trốn cô tịch, Chúa Giêsu đi tìm nó!  Nhờ kiên trì ôm chặt Chúa Cha như Chúa Giêsu, bạn và tôi mới có thể cảm nhận ‘thiên đàng của những gặp gỡ,’ cảm nhận ‘sự kỳ diệu của cô đơn!’  Tuy nhiên, điều làm cô đơn trở nên kỳ diệu là một cô đơn đầy Chúa, một cô đơn ‘ôm lấy Chúa và được Chúa ôm lấy,’ chứ không phải cô đơn theo nghĩa cô độc nghèo nàn!

Sau khi giải tán dân, Chúa Giêsu lên núi một mình để cầu nguyện.  Quan trọng, để cầu nguyện!  Ngài sẵn sàng rời bỏ sự vồ vập của đám đông để ở một mình với Chúa Cha, một điều gì đó mà Ngài khắc khoải mỗi ngày.  Khác với Chúa Giêsu, việc ở một mình của chúng ta có thể nhanh chóng dẫn đến một nỗi cô đơn nhất định; những lúc ấy, chúng ta cảm thấy bị thôi thúc muốn tìm một ai đó, một thứ gì đó vốn có thể giúp gây mê, hầu tránh khỏi cảm giác đau đớn.  Nếu đúng vậy, hãy học ôm chặt Chúa Cha như Chúa Giêsu, ở lại với Ngài; học cách tận hưởng sự hiện diện của Ngài!  Bấy giờ, ‘sự kỳ diệu của cô đơn’ sẽ tỏ mình, ‘thiên đàng’ sẽ tỏ hiện, nỗi đau biến thành niềm vui và bất an biến thành bình an.

Như Chúa Giêsu, bạn hướng lòng lên Chúa, kết hiệp với Ngài; và điều sẽ xảy ra là chính lúc đó, bạn có thể liên đới với những người khác cách sâu sắc hơn.  Một mình trên núi “cho đến chiều tối,” Chúa Giêsu vẫn ý thức việc các môn đệ đang vật lộn với biển, Ngài vẫn gần gũi họ; từ đó, kịp có mặt với họ trong cuộc chiến đấu với sóng dữ, kêu gọi họ can đảm.  Và cuối cùng, bước lên thuyền, đưa họ vào bờ.  Cũng thế, trong cầu nguyện, chúng ta ở gần và đến gần những người khác cách đặc biệt.  Đó chính là ‘sự kỳ diệu của cô đơn!’

Bài đọc Dân Số nói đến một trải nghiệm tương tự.  “Lều Hội Ngộ” được coi như điểm hẹn cô tịch để con người gặp gỡ Thiên Chúa, tìm lại chính mình.  Chúa đòi vợ chồng Aaron và Miriam ra đó, vì hai người này có lỗi với Môsê.  Ở đó, Ngài nói cho họ sự sai trái.  Và cũng ở đó, Aaron và Miriam nhận ra lỗi mình, và xin Ngài xót thương, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” đúng với tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Ngài vẫn ở đó một mình!”  Càng ở với Thiên Chúa, Chúa Giêsu càng gần con người.  Như Ngài, chúng ta ôm chặt Chúa, ôm chặt thiên đàng, nhưng vẫn có thể gần gũi với tha nhân.  Như vậy, cô đơn không thể mài mòn; trái lại, giúp chúng ta gắn bó với Chúa, sống trong tình yêu thương của Ngài; đồng thời, liên kết sâu sắc với anh chị em mình để trở nên khí cụ bình an của Ngài cho họ.  Rõ ràng, cô đơn cũng có sự kỳ diệu của riêng nó!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sợ cô đơn, dạy con yêu mến nó, một cô đơn đầy Chúa; nhờ đó, con có thể cảm nhận sự kỳ diệu của nó!”  Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

RA KHỎI HÔN MÊ

“Ngài không được phép lấy bà ấy!”

Một thành viên của hội “Những Người Nghiện Rượu Vô Danh” từng gửi cho chuyên mục Ann Landers những lời này: “Chúng tôi uống vì hạnh phúc và trở nên bất hạnh; chúng tôi uống để cảm nhận thiên đường và cảm thấy như địa ngục; chúng tôi uống vì tự do và trở thành nô lệ; chúng tôi uống để xoá bỏ các vấn đề và thấy chúng nhân lên; chúng tôi uống để ra khỏi hôn mê và thấy mình chết thật!”

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến một Hêrôđê ‘hôn mê’ khi ông cưới lấy vợ anh mình.  Lời Gioan đánh thức ông là một hành động xót thương của Thiên Chúa; qua đó, Ngài cho ông một cơ hội để ‘ra khỏi hôn mê’ và nhận ra rằng, linh hồn bất tử của mình sắp chết!

Tiếng Chúa qua lương tâm có thể gây khó chịu; tuy nhiên, hãy cảm ơn Ngài mỗi khi bạn được nhắc nhở.  Sẽ không có gì sai phạm khi bạn ăn mừng những kỷ niệm, những ngày nghỉ; vậy mà như Hêrôđê, chúng ta có nguy cơ tìm kiếm một thú vui nào đó vốn chỉ thao túng đạo đức, mài mòn tính người.  “Đừng quên, trong các cuộc vui, Satan luôn đứng đàng sau những bức màn!”  Vì thế, hãy cho phép mình tìm kiếm những gì lành mạnh mà bạn có thể chia sẻ niềm vui trong chừng mực với người thân.  ‘Chừng mực’, một điều thật đáng kể!  Vì người ta sẽ không biết từ chối những điều cấm nếu đã không học biết chối từ những điều được phép!  Và không phải điều tôi dâng Chúa mới đáng giá, nhưng sẽ đáng giá hơn, điều tôi từ chối vì Ngài!

Khi Hêrôđê nghe nói về Chúa Giêsu, lương tâm ông cắn rứt.  Ông biết mình đã giết người.  Sự hiện diện của Chúa Giêsu là một ân sủng bổ sung để ông ‘ra khỏi hôn mê.’  Đáng tiếc, đó là một ân sủng mà ông đã không tận dụng như ông đã không tận dụng sự hiện diện của Gioan.  Trong cuộc đời chúng ta, đã bao lần tiếng Chúa nhắc nhở bạn và tôi về ơn gọi nên thánh; bao lần Ngài tỏ cho bạn và tôi lòng xót thương.  Vậy mà chúng ta để nó qua đi!  Hãy tìm kiếm sự hoán cải trong tâm hồn, trong lĩnh vực mà tôi biết mình còn xa lánh Thiên Chúa; hoặc ít nữa biết rằng, mình chưa ‘ra khỏi hôn mê!’

Anh Chị em,

“Ngài không được phép lấy bà ấy!”  Trước lời nhắc nhở của Gioan, Hêrôđê lờ đi.  Tại sao?  Bởi lẽ, Satan đứng đằng sau tất cả những thái độ này.  Nó gieo rắc thù hận nơi người phụ nữ, sự phù phiếm nơi cô gái trẻ và sự thối nát nơi vị vua.  Và trong bối cảnh này, Gioan đã chết một mình trong nhà giam vì tính khí thất thường của một vũ nữ phù phiếm, lòng căm thù của một người đàn bà ác độc và sự thối nát của một vị vua thiếu quyết đoán.  Gioan, “người đàn ông vĩ đại nhất được sinh ra bởi một phụ nữ” đã tự cho phép mình nhỏ lại để nhường chỗ cho Đấng Mêsia.  Cuộc sống chỉ có giá trị khi chúng ta ‘ra khỏi hôn mê’ để biết cho đi trong tình yêu, trong sự thật; khi chúng ta trao nó cho người khác trong cuộc sống hàng ngày.  Ai giữ sự sống cho mình, bảo vệ nó như ông vua tham tàn hay người đàn bà lòng đầy thù hận, hay người con gái hời hợt, hơi giống trẻ vị thành niên, thì vô tình, sự sống chết héo, trở nên vô dụng!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tỉnh hay mê?  Đừng để sự sống trong con chết héo!  Để được vậy, giúp con can đảm nghe được tiếng Chúa hầu ‘ra khỏi hôn mê!’ Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LỄ CHÚA HIỂN DUNG

Theo chu kỳ phụng vụ, hôm nay là Chúa nhật XVIII thường niên, trùng với ngày 6-8 dương lịch, lễ “Chúa hiển dung.”  Ngày lễ này cũng được gọi là “Lễ Chúa biến hình.”  Tên gọi này gợi lại sự kiện Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi, trước mặt ba tông đồ.  Sự kiện này được cả ba tác giả Tin Mừng “nhất lãm” thuật lại.  Tuy có một vài chi tiết khác nhau, nhưng cả ba đều nhấn mạnh tới thiên tính của Đức Giê-su và sứ vụ của Người.  Cả ba tác giả đều ghi lại tiếng từ đám mây nói về Chúa Giê-su: “Đây là Con Ta yêu dấu” (Mt 17,5; Mc 9,7), hoặc “Đây là người Ta tuyển chọn” (Lc 9,35).  Đây là lời của Chúa Cha nhằm giới thiệu với các môn đệ sứ mạng thiên sai của Đức Giê-su.  Sự kiện “biến hình” xảy ra vài ngày sau khi Đức Giê-su nói với các môn đệ về cuộc khổ nạn của Người.  Lời tiên báo này gây tâm trạng hoang mang nơi các ông.  Trong bối cảnh ấy, ba môn đệ thân thiết với Chúa Giê-su là ông Phê-rô, ông Gio-an và ông Gia-cô-bê, đã được Chúa dẫn lên núi.  Sự kiện này chắc chắn đã để lại một dấu ấn không phai mờ nơi tâm trí các ông.  Sau này, thánh Phê-rô viết trong thư mà chúng ta đọc trong Bài đọc II như sau: “Quả thế, Người (tức là Chúa Giê-su) đã được Thiên Chúa ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.”  Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người.”

Mục đích của cuộc biến hình là gì?

–  Thứ nhất, Chúa Giê-su muốn củng cố tinh thần của các môn đệ.  Khi loan báo cho các ông biết Người sẽ chịu đau khổ và sẽ bị giết chết, Người cũng nói tới những điều kiện cần phải có để trở nên môn đệ Người.  Những điều này khó hiểu và khó chấp nhận, đến nỗi Phê-rô phải kéo riêng Người ra và trách móc Người.  Qua cuộc biến hình, Chúa Giê-su muốn khẳng định với các ông: dù Người có chịu đau khổ, nhưng Người sẽ sống lại vinh quang sáng láng như các ông nhìn thấy Người.  Dù Chúa đã tỏ mình như thế, các ông vẫn không thể hiểu lời tiên báo của Chúa Giê-su.  Các ông cũng không hiểu ý nghĩa lời dặn của Chúa: đừng nói với ai về sự kiện này, cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.  Như vậy, các ông chỉ hiểu rõ ý nghĩa của cuộc biến hình sau sự kiện phục sinh.

–  Thứ hai, khi thay hình đổi dạng trước mặt ba môn đệ, Chúa Giê-su muốn các ông thay đổi quan điểm về sứ mạng Thiên Sai của Người, đồng thời thêm niềm tín thác vào quyền năng của Chúa.  Cuộc biến hình của Chúa Giê-su như một sự “lột xác” đối với các ông, giúp các ông hiểu rõ hơn về việc theo Chúa.  Nếu Chúa Giê-su đã trải qua thập giá để đến vinh quang, người môn đệ cũng phải bước đi trên con đường thập giá hằng ngày để theo Chúa và được vinh quang với Người.

–  Thứ ba, khi biến hình trên núi, hai nhân vật trong Cựu ước đã hiện ra đàm đạo với Chúa Giê-su.  Đó là ông Môi-sen, đại diện cho truyền thống lề luật; ông Ê-li-a, đại diện cho truyền thống ngôn sứ.  Là những người Do Thái đạo đức, ba môn đệ dễ dàng hiểu ý nghĩa của sự kiện này.  Chúa Giê-su muốn khẳng định: Người đến trần gian để thực hiện những gì các ngôn sứ đã loan báo từ nhiều thế hệ.  Người cũng đến để chu toàn lề luật Thiên Chúa đã ban cho dân tộc Do Thái qua trung gian ông Môi-sen.  Từ nay, Luật cựu ước không còn chỉ dành cho người Do Thái, mà cho tất cả nhân loại.  Đó là luật yêu thương.  Luật yêu thương bao gồm tất cả những luật khác, vì như thánh Phao-lô nói sau này: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10).

Hành trình của người môn đệ Đức Giê-su đầy gian nan thử thách.  Lễ Chúa Giê-su biến hình, hay lễ Hiển Dung giúp ta thay đổi cuộc đời mỗi ngày.  Hôm nay, Chúa Giê-su đang “biến hình” giữa chúng ta.  Người khẳng định: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế,” nhưng chẳng ai trong chúng ta nhận thấy Người bằng mắt thường.  Chúa hiện diện vô hình và huyền nhiệm giữa chúng ta.  Chúa Giê-su cũng đang “biến hình” trong bí tích Thánh Thể.  Người hiện diện trong bí tích này, dù con mắt giác quan của chúng ta không cảm thấy.  Chỉ có Đức tin khẳng định với chúng ta: Người đang hiện diện và đang âu yếm nhìn chúng ta với tình thương vô bờ.  Người hiện diện để cảm thông, nâng đỡ chúng ta khi gánh nặng cuộc đời muốn làm chúng ta gục ngã.  Chúa Giê-su còn đang “biến hình” trong lời Kinh Thánh, trong Giáo Hội và nơi những người đau khổ, cô đơn nghèo nàn không nơi nương tựa, vì ai đón tiếp những người bất hạnh đau khổ này là đón tiếp chính Chúa vậy (x. Mt 25, 31-46).

Khi suy niệm mầu nhiệm thứ bốn mùa Sáng trong kinh Mân côi, chúng ta đọc: Đức Chúa Giê-su biến hình trên núi, ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.  Lý tưởng của người Ki-tô hữu là gặp Chúa Giê-su để nên đồng hình đồng dạng với Người.  Chúa muốn cho chúng ta mỗi ngày sống là một nấc thang tiến tới trọn lành.  Chúng ta chỉ có thể vươn tới sự trọn lành nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Nhiều người đã theo Chúa lâu năm mà cuộc đời không biến đổi.  Có người nói, tin Chúa nhưng hành động và lời nói lại ngược lại với lời Người dạy.  Lễ Chúa Biến hình nhắc nhở chúng ta: chúng ta phải biến đổi mỗi ngày.  Một tác giả tu đức đã viết: “chúng ta phải cố gắng vươn lên hằng ngày.  Ngày hôm nay, phải sống tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai phải sống tốt hơn ngày hôm nay.”  Quả vậy, sống là không ngừng vươn lên, không ngừng khám phá để cảm nhận những điều mới mẻ và diệu kỳ Chúa đang làm xung quang chúng ta.  Khi không ngừng vươn lên, chúng ta sẽ cảm nhận được Thiên Chúa mỗi ngày một điều mới mẻ.  Thánh Augustinô đã viết: “Lạy Chúa, Chúa là vẻ đẹp của ngàn xưa, một vẻ đẹp mỗi ngày mỗi mới,” và thánh nhân tỏ ra luyến tiếc: “Con đã yêu Chúa quá muộn màng, lạy Chúa là Đấng Tuyệt Mỹ từ đời đời đến đời đời; con đã yêu Chúa quá muộn màng.  Và xin Chúa hãy nhìn xem, Chúa chờ đợi con ở bên trong cõi lòng con, nhưng con lại ở bên ngoài cõi lòng mình, và con kiếm tìm Chúa tại đó.”

Nói về sự biến đổi, chúng ta hãy nghe thánh Phao-lô đã nhắn nhủ tín hữu Cô-rin-tô: “Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3,18).

Xin Chúa biến đổi chúng ta, để mỗi người trở nên hình ảnh của Ngài giữa đời.  A-men!

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TRƯỞNG THÀNH TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ VÀ CẦU NGUYỆN

Vài năm trước, một người bạn kể cho tôi nghe câu chuyện này: là người được giáo dục trong đạo Công giáo La Mã, cốt yếu là trung thành đi lễ, cố gắng sống đạo đức lương thiện, ở độ tuổi ngoài bốn mươi, anh cảm thấy mình có những nỗi nghi ngờ dằn vặt, không thể nào cầu nguyện, và thậm chí không thể nào (khi chân thành tự vấn) tin vào sự hiện hữu của Chúa.

Lo lắng về chuyện này, anh tìm linh hướng, anh đến gặp một linh mục dòng Tên, một vị linh hướng nổi tiếng.  Anh nghĩ mình sẽ được nghe các chỉ bảo quen thuộc về đêm tăm tối của tâm hồn và cách thế những chuyện này sẽ làm đức tin được tinh tuyền, và, vì đã quen thuộc với những lời lẽ như vậy, anh cũng không chờ đợi gì nhiều.  Chắc chắn anh không nghĩ mình sẽ nhận một lời khuyên như anh đã nhận.

Cha hướng dẫn dòng Tên không thử giúp anh có bất kỳ một suy tư thần học sâu sắc nào về nỗi nghi ngờ và những đêm tăm tối của đức tin.  Thay vào đó, giống như tiên tri E-li-sa đã làm với Na-a-man, người Xi-ri bị hủi, ông cho bạn tôi một lời khuyên nghe chừng quá sức đơn giản, tới nỗi gây khó chịu hơn là đem lại hy vọng: cha dòng Tên chỉ đơn giản nói với anh ta: hãy tự hứa với bản thân là phải ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, liên tục như vậy trong vòng sáu tháng.  Tôi bảo đảm nếu anh bền bỉ làm như vậy, thì sau sáu tháng, anh sẽ khôi phục được lòng tin ở Chúa.

Bạn tôi, cực kỳ bối rối với điều anh cảm thấy đây là lời khuyên quá sức đơn giản, đã phản đối rằng phần lớn nhất trong vấn đề của anh chính là anh không thể cầu nguyện, không thể nói chuyện với vị Chúa mà anh nghĩ vị Chúa đó không hiện hữu: Làm sao tôi có thể cầu nguyện được khi tôi không còn tin có Chúa?

Vị linh mục dòng Tên cương quyết: Cứ làm đi!  Hãy nỗ lực vượt bực và ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, kể cả khi anh cảm thấy mình như đang nói chuyện với bức tường.  Đó là lời khuyên thực tế duy nhất mà tôi có thể cho anh.”

Bất chấp nỗi ngờ vực của mình, bạn tôi nghe theo lời khuyên của cha dòng Tên và bền bỉ ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày trong suốt sáu tháng, và sau sáu tháng, anh đã khôi phục cảm thức vào Chúa, cũng như cảm thức vào cầu nguyện.

Tôi tin rằng câu chuyện này nêu bật lên đôi điều quan trọng: Niềm tin của chúng ta về sự hiện hữu của Chúa gắn bó rất lớn đến việc cầu nguyện liên lỉ.  Tuy nhiên, và đây là điều nghịch lý, khó mà duy trì được đời sống cầu nguyện, lý do chính là vì đức tin chúng ta thường yếu ớt.  Nói đơn giản, cầu nguyện không dễ dàng gì.  Chúng ta nói dễ dàng về cầu nguyện, nhưng chúng ta vất vả lắm mới duy trì được cầu nguyện thực sự, lâu dài trong đời sống.

Cầu nguyện chỉ dễ dàng đối với những người mới bắt đầu và những ai đã thành thánh.  Suốt những năm tháng dài dằng dặc giữa hai mốc đó, thì cầu nguyện là khó khăn.  Tại sao?  Bởi vì cầu nguyện có cùng động lực nội tại như tình yêu, mà tình yêu thì chỉ ngọt ngào ở giai đoạn đầu tiên, khi lần đầu tiên chúng ta phải lòng, và ở giai đoạn cuối, khi đã chín chắn.  Còn ở giữa hai giai đoạn đó, tình yêu là nỗ lực khó khăn, lòng trung thành bền bỉ, và cần phải có quyết tâm mạnh mẽ hơn hẳn những gì mà thông thường cảm xúc và óc tưởng tượng chúng ta thúc đẩy.

Cầu nguyện cũng y như vậy.  Ban đầu khi mới cầu nguyện, cũng giống như khi người trẻ đang yêu, chúng ta có khuynh hướng có một giai đoạn tha thiết, say mê, là thời gian mà cảm xúc và óc tưởng tượng giúp chúng ta cảm thức rằng Chúa tồn tại và Chúa nghe thấy những lời cầu nguyện của mình.  Nhưng khi đi sâu hơn và trưởng thành hơn trong mối quan hệ với Chúa, cũng như trong mối quan hệ với một người chúng ta thương yêu, thì thực tại bắt đầu xua tan đi ảo tưởng.  Không phải chúng ta bị vỡ mộng về Chúa, mà đúng hơn là chúng ta nhận ra rằng quá nhiều những ý nghĩ và cảm xúc sôi nổi mà trước đây chúng ta tin là về Chúa thật ra là về chính chúng ta.  Vỡ mộng là một điều tốt.  Đó là xua tan ảo tưởng.  Cái mà chúng ta tưởng là cầu nguyện thật ra là một phần của trạng thái mê hoặc về chính chúng ta.

Khi ảo mộng bắt đầu tan vỡ, và đó là thời điểm trưởng thành trong đời sống chúng ta, dễ dàng cho rằng chúng ta bị vỡ mộng về người kia, người mà chúng ta đã phải lòng, hoặc trong trường hợp cầu nguyện là Chúa.  Phản ứng dễ dàng nhất là rút lui, từ bỏ, coi toàn bộ sự việc là ảo tưởng, một sai lầm ngay từ đầu.  Trong đời sống thiêng liêng, thường đó là lúc chúng ta thôi không cầu nguyện nữa.

Nhưng đó là lúc cần chính điều ngược lại.  Điều chúng ta cần làm lúc đó là nỗ lực vượt bậc, làm như chúng ta đã từng làm, nhưng trừ đi những suy nghĩ và cảm xúc sôi nổi, chán ngán, nghi hoặc, và gột bỏ mê hoặc về chính mình.  Càng đi sâu vào các mối quan hệ và vào cầu nguyện, chúng ta càng trở nên do dự về bản thân mình, và đây là khởi đầu của sự trưởng thành: Đó là khi tôi nói, tôi không biết làm thế nào để yêu và tôi không biết làm thế nào để cầu nguyện, là tôi bắt đầu hiểu tình yêu và cầu nguyện thật sự là như thế nào.

Vì vậy, chẳng có lời khuyên nào hay hơn là lời khuyên mà vị linh mục dòng Tên nọ đã nói với bạn tôi, người nghĩ rằng mình là kẻ vô thần: Hãy cố gắng vượt bậc!  Ngồi xuống khiêm nhường và thinh lặng thật lâu, cho tới khi nào anh có thể bắt đầu nghe thấy một người nào đó khác, chứ không phải chính mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI