LÀM MỚI LẠI ĐỜI SỐNG TRONG MÙA CHAY NÀY

Mùa Chay sẽ là một mùa của ân sủng nếu chúng ta biết sống dấn thân trong Mùa này.  Chúng ta sẽ sống trọn vẹn Mùa Chay nếu chúng ta có đủ khao khát mạnh mẽ.  Chúng ta cần phải chuẩn bị tâm hồn mình.  Chúng ta có thể chuẩn bị tâm hồn qua việc nhận ra rằng, chúng ta mong muốn lớn lên trong tự do, tinh thần của chúng ta cần ủi an và trải nghiệm niềm vui thực sự biết bao, cùng bao nhiêu điều trong đời sống của chúng ta cần phải thay đổi.

Việc sửa soạn tâm hồn là một tiến trình chuẩn bị những khát vọng của chúng ta.  Điều này có ý nghĩa là thực hành một khả năng dự liệu.  Nếu tôi hình dung Mùa Chay như là một “sự thử thách” hay thời gian tôi sợ hãi theo nghĩa nào đó, thì tôi không để mình quá xa rời nó.  Mùa Chay là một thời điểm để chuẩn bị trước cho một số điều tuyệt vời sẽ xảy đến.

Trọng tâm của chúng ta: Những gì Thiên Chúa muốn trao tặng cho chúng ta

Khả năng phán đoán thực hành và dự liệu của chúng ta sẽ tăng triển dễ dàng hơn nếu chúng ta bắt đầu hình dung về những gì Thiên Chúa muốn trao tặng cho chúng ta.  Một số điều nào đó mà chúng ta thực sự mong đợi sẽ đến.  Nếu chúng ta chú tâm quá nhiều vào những gì chúng ta đang tiếp tục làm hay không làm, chúng ta có nguy cơ bỏ lỡ quà tặng mà Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta.  Mùa Chay là mùa hy vọng lớn lao mà Thiên Chúa ban cho ta.  Mọi ân sủng đều đến từ Thiên Chúa và vì thế, ân sủng là quà tặng của Thiên Chúa.  Ân sủng ấy được trao ban để giải thoát chúng ta , giúp chúng ta yêu mến tha nhân như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.  Điều chúng ta muốn là lãnh nhận những gì Thiên Chúa trao tặng.

Lời mời gọi của Thiên Chúa

Mùa Chay là mùa của lời mời gọi mà Thiên Chúa ngỏ cùng con người cách cá vị sâu xa.  “Hãy quay về với ta, với trọn cả tấm lòng,” Đức Chúa của chúng ta phán (x. Gioen, 2,12).  Chúng ta đáp lại, “chúng con sẽ trở về,” nhưng chúng ta không thực sự sẵn sàng, tâm hồn của chúng ta không được chuẩn bị.  Chúng ta muốn quanh co, vòng vo và lảnh tránh.  Chúng biện minh rằng, linh hồn của chúng ta vẫn chưa hoàn thiện.  Chúng ta nghĩ rằng mình không sẵn sàng để Thiên Chúa yêu thương.  Vâng, dĩ nhiên tôi muốn có một mối tương quan sâu xa hơn với Thiên Chúa, chúng ta nói chân thành với chính mình như vậy.  Chúng con sẽ… sớm.  Thiên Chúa tiếp tục gọi: “hãy trở về với ta, với trọn tâm hồn con.”

Bắt đầu những khuôn mẫu mới trong suốt Mùa Chay

Một số điều mà tất cả chúng ta có thể làm đó là dấn thân phản tỉnh nhiều hơn trong suốt mùa Chay này.  Chúng ta có thể thực hiện một điểm phản tỉnh cách đơn giản để càng ngày càng tinh tường hơn, ý thức hơn về những gì chúng ta đang trải qua, nhận thức rõ hơn về những hành vi mang tính tự phát của mình.  Sau đó, chúng ta có thể bắt đầu chú tâm tới nhiều hơn khát vọng của chúng ta.  Trong suốt Mùa Chay, chúng ta có thể duyệt xét lại những ước ao đó và thấy những điều nào trong đó cần thanh luyện, những gì chúng ta cần loại bỏ, những khát khao tích cực nào chúng ta cần thực hiện.  Việc gọi tên cho những khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta sẽ hướng dẫn những chọn lựa mà chúng ta thực hiện để thiết lập nên những khuân mẫu mới cho Mùa Chay.

Hãy trở về với ta với trọn tâm hồn ngươi

Ngay từ ngày đầu tiên của Mùa Chay, trong bài đọc của thứ Tư Lễ Tro, lời mời gọi của Thiên Chúa đối với chúng ta thật rõ ràng: “Hãy trở về với ta trọn cả tâm hồn” (Gioen 2, 12).  Đó là lời mời gọi tha thiết mà Thiên Chúa dành cho từng người chúng ta – với ta trong một cung cách cá vị, riêng tư.  Thiên Chúa mời gọi tôi bỏ bớt đi những gì mà tôi còn khư khư giữ lại giữa chính mình và Thiên Chúa.

Thiên Chúa muốn chúng ta nhận ra rằng, tiêu chuẩn, cung cách phán đoán, yêu thương của chúng ta thật khác biệt so với cách thức của Thiên Chúa, và nhỏ mọn hơn rất nhiều.  Thiên Chúa yêu thương từng người chúng ta.  Vì toàn bộ mùa Chay hay trọn cả cuộc sống, Thiên Chúa luôn yêu thương từng người trong chúng ta.

“Lạy Chúa xin tạo cho con tấm lòng sạch trong” như Thánh Vịnh 51,12 thưa lên cùng Chúa.  “Xin ban lại cho con niềm vui được Ngài cứu độ.”  Đây đích thị mới là những gì mà Thiên Chúa là Đấng yêu thương muốn trao ban cho chúng ta, đó là niềm vui cứu độ.

Andy Alexander, SJ, Maureen McCann WaldronChuyển ngữ: Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.Nguồn: https://www.loyolapress.com/our-catholic-faith/liturgical-year/lent/articles/articles/renewing-our-lives-this-lent

SỨC MẠNH ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Trước khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu được Thánh Thần thúc đẩy đi vào hoang địa.  Sau bốn mươi đêm ngày ăn chay và cầu nguyện, Người cảm thấy đói.  Satan xuất hiện, mon men lại gần để cám dỗ.  Chúa đã chiến thắng Satan bằng sức mạnh Thánh Thần và Lời Thiên Chúa.

1. Ba cơn cám dỗ

– Cơn cám dỗ thứ nhất phát xuất từ cái đói.  Ma quỷ gợi ý cho Chúa Giêsu “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi” (Mt 4,3).  Cơn cám dỗ về bánh nói lên ước muốn căn bản nhất là bản năng sinh tồn của con người.  Thân xác với những khát khao thèm muốn luôn đòi hỏi phải được nuôi nấng, chiều chuộng và vỗ về.

– Trong cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ đưa Chúa Giêsu lên thượng đỉnh đền thờ và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống coi!  Bởi đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Mt 4,5).  Ma quỷ dùng Tv 91,11 để gợi ý cho Chúa Giêsu nhảy từ nóc đền thờ xuống, xem Thiên Chúa có biểu lộ quyền năng của Người hay không.  Cám dỗ thách đố Thiên Chúa biểu lộ quyền năng để tìm vinh quang cá nhân.  Đó là bản năng đối kháng lại những giới hạn của cuộc sống nhân sinh.  Con người thường muốn quên đi những điều kiện sinh sống giới hạn của mình.  Họ muốn cất cánh bay lên cõi thần tiên bằng men rượu, ma túy, lạc thú…

– Trong cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đem Chúa Giêsu lên một ngọn núi cao và chỉ cho Người thấy các nước thiên hạ và các thứ phú quý, rồi nói: “Tôi sẽ cho ông tất cả những cái ấy, nếu ông sấp mình thờ lạy tôi…” (Mt 4,9).  Một cơn cám dỗ đã hằng theo đuổi dân Israel, chẳng những trong thời gian hành trình sa mạc mà cả khi định cư trên đất Palestina.  Đó là thờ lạy các tà thần mong được giàu sang, quyền thế, có khả năng thống trị các quốc gia khác.  Bản năng thống trị, cái “ý chí quyền lực” nằm sẵn trong mỗi một con người.  Người ta thường muốn cai trị và sai khiến những người yếu hơn mình.  Xưa dân Do thái đã tạc tượng bò vàng và thờ lạy nó.  Ngày nay, ngẫu tượng hay bò vàng chính là tiền tài, danh vọng, lạc thú, vật chất, tiện nghi, sắc dục.

Ba cơn cám dỗ của Chúa Giêsu đều đã bắt đầu bằng chữ “nếu.”  Chúng khởi sự bằng một lý luận với những lý do có vẻ chính đáng, hợp lý và đáng ao ước để tấn công vào những đòi hỏi của bản năng con người Giêsu.

Tuy là ba cơn cám dỗ, nhưng vẫn chỉ là một.  Bởi trọng tâm của vấn đề chính là gieo rắc sự khủng hoảng của niềm tin.  Chúa Giêsu bị cám dỗ nghi ngờ về căn tính Con Thiên Chúa của chính mình.  Cả ba Phúc âm Mátthêu, Máccô, Luca đều mô tả cơn cám dỗ ngay sau khi Chúa chịu phép Rửa ở sông Giođan, và có tiếng từ trời phán “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3.17).  Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu quay lưng lại với sứ mạng đã nhận từ nơi Chúa Cha (GLTC #394).

Cơn cám dỗ Chúa Giêsu cũng giống như cơn cám dỗ của Ađam và Eva trong bài đọc một (St 2,7-9;3,1-7).  Ma qủy gieo sự nghi ngờ và mất niềm tin nơi những kẻ được gọi là con cái Thiên Chúa.  Qua bản năng ăn uống thèm khát của thể xác, nó khơi dậy bản năng phản kháng bất tuân lệnh Chúa và sau cùng, con người sa ngã ở “ý chí quyền lực,” bản năng đòi bá chủ và thống trị vì muốn ngang hàng với Thiên Chúa.

Thụ tạo đầu tiên trong hàng các thiên thần đối diện với cám dỗ là Lucifer.  Không vượt qua được cơn cám dỗ, Lucifer đã trở thành Satan.

Thụ tạo đầu tiên trong con người là Ađam và Evà cũng đã nếm mùi cám dỗ.  Và hai Nguyên Tổ này cũng đã gục ngã thảm thương trước cám dỗ.

Như vậy cám dỗ là một cái gì hết sức mạnh mẽ, hết sức lôi cuốn, và rất khó chống cự.

Chúa Giêsu sau khi đã trải qua những cám dỗ và thắng các cám dỗ cũng thấy được điều này, nên Người đã dạy các môn đệ không được coi thường bằng cách dựa vào sức lực, tài trí, và khả năng của riêng mình.  Người dạy phải cầu nguyện và xin ơn Chúa Thánh Thần: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.  Nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ.”

2. Sức mạnh nào giúp vượt thắng cám dỗ?

Cả ba Phúc Âm đều đề cập đến một chi tiết rất thú vị, đó là Chúa Giêsu không đi vào hoang địa một mình, nhưng mà Người đi cùng với Chúa Thánh Thần.

– “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ” (Mt 4,1).

– “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa.  Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1,12-13).

– “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về.  Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4,1-2).

Khi vào hoang địa, khi bị ma quỷ cám dỗ, Chúa Giêsu cần đến sự nâng đỡ của Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu đã dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và Lời của Thiên Chúa để đối đáp với ma quỷ và đã chiến thắng.

Khi chúng ta lâm vào những cuộc thử thách, phải đối diện với những mưu chước của Satan, rất cần ơn Chúa Thánh Thần trợ lực.  Chúa Giêsu mà còn cần đến Chúa Thánh Thần nữa, thì huống hồ là chúng ta.

Cần phải cầu nguyện (Lc 22,40; Cv 2,42; LGTC #2612,2742).  Nhờ cầu nguyện, Chúa Giêsu đã không cô đơn một mình, nhưng “được Thánh Thần hướng dẫn” (Mt 4,1).  Nhờ cầu nguyện chúng ta được liên kết với sức mạnh của Thánh Thần và với các thánh trên trời.

Vai trò của Chúa Thánh Thần thật quan trọng trong đời sống của chúng ta.  Những lúc bị cám dỗ, những khi sống trong cô đơn, buồn chán và thất vọng… hãy cậy trông và khẩn cầu với Chúa Thánh Thần xin ơn phù trợ.  Chúa Giêsu đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy các con mọi điều” (Ga 14,26).

3. Cầu khẩn và kêu xin Chúa Thánh Thần bằng cách nào?

– Khi thằng quỷ dâm ô xúi tôi mở những emails lạ, dụ dỗ tôi tò mò đi vào những websites của Trư Bát Giới…  Tôi phải mau mắn và thành tâm xin Chúa Thánh Thần soi lòng mở trí để tôi nhận ra rằng: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.  Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục (Mt 5,28-29).

– Khi thằng quỷ gian dối xúi tôi nói dóc, nói xạo, nói quanh co, nói sai sự thật, lừa bịp thiên hạ… tôi phải lập tức xin Chúa Thánh Thần ban ơn khôn ngoan để tôi có thể nhớ lời của Chúa Giêsu phán dạy tôi rằng: “Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có,’ ‘không’ thì phải nói ‘không.’ Thêm thắt điều gì là do ác quỷ mà ra!” (Mt 5,37).

– Khi thằng quỷ kiêu căng, ngạo mạn xúi tôi phê bình chỉ trích người này, xét đoán người kia, lên án người nọ… thì tôi phải lập tức xin Chúa Thánh Thần giúp tôi nhớ rằng: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán.  Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án” (Lc 6,37).

– Khi bị thằng quỷ dâm ô xúi tôi ly dị, bỏ chồng, phụ vợ, làm giấy ly dị giả… tôi phải cầu xin với Chúa Thánh Thần ngay để Ngài giúp cho tôi hiểu rằng “[Tôi và người bạn đời của tôi] không còn là hai [nữa], nhưng chỉ là một xương một thịt.  Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,8-9).

– Khi thằng quỷ kiêu căng xúi tôi khoe khoang, tự kiêu tự đại… thì tôi xin Chúa Thánh Thần nhắc nhở cho tôi rằng: “Kiêu hãnh đi liền với ô nhục… kiêu căng đưa đến sụp đổ, ngạo mạn dẫn đến té nhào” (Cn 11,2; 16,18).

– Khi thằng quỷ giận hờn xúi tôi giận người này, ghét người kia, thù người nọ… thì tôi phải cần đến sự trợ lực của Chúa Thánh Thần, xin Ngài soi sáng để tôi hiểu rằng: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà.  Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng.  Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt (Mt 5,22).

– Khi thằng quỷ dâm dục xúi bẩy tôi đi ngoại tình, ăn chơi trác táng, quan hệ bừa bãi… tôi phải van nài Chúa Thánh Thần, xin Ngài nhắc nhở cho tôi nhớ rằng: “Thân xác [của con] là Đền Thờ của [Ta đấy nhé!  Chớ có làm cho nó ra ô uế!]” (1 Cr 6,19).

Sau khi chịu phép Rửa tội để trở nên một Kitô hữu, chúng ta dấn thân vào đời với nhiều thử thách của niềm tin, phải chịu nhiều cám dỗ của phận người lữ thứ.  Nếu chúng ta tin rằng “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta” (Tt 3,6) thì hãy vững tâm và tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Ngài sẽ không bao giờ xa rời chúng ta đâu!  Điều quan trọng là chúng ta có thành tâm để cầu xin và nhờ cậy Ngài, hay là không thôi!

Hãy tin tưởng và trông cậy vào Chúa Thánh Thần.  Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần luôn trao ban cho người: ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn nhận thức, ơn chỉ bảo, ơn dũng mạnh, ơn thánh thiện và ơn kính sợ Thiên Chúa.

Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần và hăng hái cộng tác với chương trình của Ngài, nhờ đó “Hoa trái của Thần Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23) sẽ tràn đầy trong tâm hồn và đời sống của chúng ta.

Việc gặp gỡ Chúa Thánh Thần rất dễ dàng.  Chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài.  Chúa Thánh Thần sẽ mở tung cánh cửa ích kỷ.  Ngài sẽ phá tan cánh cửa hẹp hòi.  Ngài sẽ ban thêm sức mạnh.  Ngài sẽ quét sạch mọi lớp bụi bặm rêu phong.  Ngài sẽ đổ tràn vào hồn chúng ta nguồn sống mới giúp chúng ta chiến thắng mọi cám dỗ và hăng hái lên đường.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

TỰ DO CHỨ KHÔNG PHẢI TRO BỤI

Lại một mùa Chay thánh về với chúng ta.  Bầu không khí ba ngày Tết vẫn còn đó.  Chúng ta đã xin Chúa ban bình an cho Năm Mới, chúng ta chúc tết ông bà cha mẹ, anh chị em và chúc tết nhau.  Trước hôm qua, chúng ta đã xin Chúa thánh hóa công ăn việc làm, và hôm nay cùng toàn thể Giáo hội bước vào Mùa Chay Thánh.

Thoát khỏi ảo tưởng chạy theo tro bụi

Mùa Chay thánh mở đầu bằng lễ Tro, một biểu tượng mang đầy ý nghĩa.  Với nghi thức làm phép tro và mỗi người nhận tro trên đầu, cùng lúc đó sẽ nghe được một trong hai câu Lời Chúa: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng,” hoặc: “Ta là thân cát bụi sẽ trở về cát bụi“ (SLRM).

Lúc cúi mình nhận Tro lên đầu làm chúng ta liên tưởng đến sự chóng qua, mau hết.  Và cũng để nói với chúng ta một cách tế nhị và thực tế rằng, bao nhiêu điều mà ngươi đang chạy theo, làm cho ngươi vất vả, sẽ chẳng còn lại gì.  Dù ngươi có cơ cực hay giầu sang đến đâu đi nữa, ngươi sẽ chẳng mang theo được gì từ cuộc sống này.  Những thực tại trần thế sẽ biến tan, như tro bay theo chiều gió.  Của cải là tạm bợ, quyền lực là tạm thời, thành công sớm vụt tắt.  Thứ văn hóa hào nhoáng bên ngoài đang thịnh hành ngày nay làm cho người ta sống cho những thứ chóng qua, đó thực là một sự lường gạt lớn.  Vì nó như một ngọn lửa: cháy xong, nó chỉ còn lại tro.”  Từ nhận xét đó, Ðức Thánh Cha nhắc nhở rằng: “Mùa chay giải thoát chúng ta khỏi những ảo tưởng chạy theo tro bụi.”  Nhưng chẳng ai giải thoát chúng ta được ngoài Chúa, vì “Thiên Chúa dẫn chúng ta đi qua sa mạc đến tự do” (Tựa đề của Sứ điệp mùa Chay 2024).

Trong Sứ điệp mùa Chay, Đức Thánh Cha viết: “Mùa Chay là thời gian hoán cải, thời gian tự do” (x. PHAN-XI-CÔ, Sứ điệp Mùa Chay 2024).  Quả thật, chúng ta được dựng nên giống hình Chúa, làm con cái Chúa chứ không phải thân nô lệ, “không giống như Pharaô, Chúa không muốn thần dân mà là con cái” (ibi.,).  Đức Thánh Cha viết tiếp: “Cảnh nô lệ đã làm dân Israel tê liệt trong sa mạc, ngăn cản họ tiến lên” (ibi.,).  Đức Thánh Cha thừa nhận: “Mọi người đều có thể bám vào tiền bạc, địa vị, mục tiêu, truyền thống…  Những thứ “Thay vì giúp chúng ta tiến bước, chúng sẽ làm chúng ta tê liệt” (ibi.,).  Đức Thánh Cha khích lệ chúng ta tận dụng sa mạc là nơi chốn trong đó “sự tự do của chúng ta có thể lớn lên thành một quyết định của cá nhân không quay trở lại tình trạng nô lệ”  (ibi.,).

Mùa Chay giúp chúng ta khám phá ra rằng, chúng ta được tạo thành cho ngọn lửa nồng cháy mãi, chứ không phải cho thứ tro tắt ngúm ngay; chúng ta được tạo thành cho Thiên Chúa, chứ không phải cho thế gian; cho cuộc sống vĩnh cửu trên Trời, chứ không phải cho sự lường gạt dưới đất này; cho tự do của con cái Chúa, chứ không phải để làm nô lệ sự vật.

Tóm lại, lễ Tro có nghi thức làm phép tro và xức tro là dịp để chúng ta suy nghĩ về bụi tro, cho thấy sự yếu hèn của mình và tính cách tùy thuộc vào Thiên Chúa vì con người được Ngài tạo dựng làm con, được Chúa đoái thương và ban ơn cứu rỗi.

Sứ điệp Lời Chúa

Các bài đọc (Ge 2,12-18; 2C 5,20-6,2; Mt 6,1-6.16-18) vang lên, kêu gọi chúng ta hoán cải tâm hồn: trong tương quan nội tâm với Thiên Chúa và tương quan xã hội với loài người.

Lời Chúa qua miệng tiên tri Giô-en thôi thúc chúng ta, “Hãy thổi kèn lên khắp Sion, hãy ra lệnh ăn chay” (Ge 2,15).  Lời ấy mời gọi chúng ta: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc…  Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (2,12-13).

Những lời trên gợi lên cho ta cả một bầu khí trang trọng ở trong lịch sử Dân Israel bấy giờ đang lầm than khổ sở, kiệt sức, hao mòn.  Họ bất lực, không thể tự chỗi dậy.  Chúa sai tiên tri Giô-en đến, bảo họ thống hối ăn năn; trở về với Chúa; xin Ngài tha thứ và cứu độ.  Ðó là đường lối duy nhất để được cứu vãn.  Thế nên, từ già đến trẻ, từ tư tế đến thứ dân, từ cô dâu mới cưới đến người góa phụ khổ sở, toàn dân, cả nước hãy tuyên bố mở mùa chay tịnh, ăn năn thống hối các lỗi lầm để được giải thoát và cứu độ.

Hôm nay, Giáo hội cũng muốn mượn lời tiên tri Giô-en, tâm tình của thánh Phao-lô để khai mạc mùa Chay thánh.  Đồng thời khuyên con cái mình sống mùa Chay thánh cho nên. “Hãy làm hoà cùng Chúa đi… Bây giờ là cơ hội thuận tiện” (x. 2 Cor 5,20-6,2).  Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Dịp thuận tiện đến rồi…  Bây giờ là cơ hội thuận tiện, giờ đây là ngày cứu thoát” ( 2 Cor 5,…).  Ta hãy bắt chước con cái Israel ngày trước và toàn dân Chúa ngày xưa, lấy tro rắc trên mình để công bố ý chí đi vào mùa Chay thánh, mà thống hối canh tân, để đi vào con đường tốt đẹp và hạnh phúc hơn.  Tin Mừng thánh Mát-thêu hôm nay cũng đề ra cho chúng ta những việc làm trong mùa Chay là: Ăn chay,  cầu nguyện và làm phúc (x. Mt 6, 1-6; 16-18).

Cách thức cầu nguyện, làm phúc và ăn chay

Vậy chúng ta ăn chay, cầu nguyện thế nào, và bố thí ra sao?

Thánh Gio-an Kim Khẩu viết: “Chay tịnh là linh hồn của cầu nguyện, và làm phúc là sự sống của chay tịnh.  Đừng ai tách rời ba việc ấy, vì chúng không thể tách rời nhau được.  Ai chỉ làm một trong ba, hay không làm đủ cả ba một trật, thì người ấy chẳng làm gì hết.  Vì thế, ai cầu nguyện thì cũng phải giữ chay, ai giữ chay thì cũng phải làm phúc.  Ai cầu xin mà ao ước được Chúa nhậm lời thì phải biết lắng nghe lời người khác xin mình. Ai không từ chối lắng nghe lời người khác xin thì dễ được Chúa lắng nghe.

Ai mong ước được Thiên Chúa thông cảm điều mình đói khát, hãy thông cảm với người đang đói khát.  Ai mong được thương xót, hãy thể hiện lòng thương xót.  Ai kiếm tìm lòng tốt, hãy làm điều tốt.  Ai muốn được người ta cho mình, thì hãy cho người khác.  Người cầu xin cho mình điều chính mình đã từ chối người khác, quả là người bất lương.  Thánh Gio-an Kim Khẩu nói: Này bạn, bạn hãy trở nên mẫu mực về lòng thương xót.  Nếu bạn muốn được thương xót như thế nào, bao nhiêu, mau lẹ chừng nào, thì chính bạn hãy thương xót người khác cách mau lẹ cũng chừng ấy và cũng một cách thế như vậy.

Vì thế, cầu nguyện, làm phúc và ăn chay, cả ba việc họp lại thành một, vừa bênh vực, vừa là lời biện hộ, vừa là lời cầu xin cho chúng ta theo ba hình thức.  Theo Đức Thánh Cha Phan-xi-cô: “Cầu nguyện, bố thí và ăn chay không phải là ba việc làm độc lập, mà là một động tác duy nhất cởi mở và dứt bỏ: loại bỏ những thần tượng đang đè nặng chúng ta, loại bỏ những ràng buộc đang giam cầm chúng ta. Khi đó trái tim teo tóp và cô độc sẽ thức tỉnh.  Vì thế hãy chậm lại và dừng lại (x. PHAN-XI-CÔ, Sứ điệp mùa Chay 2024).

Lạy Chúa Thánh Thần, xin nâng đỡ những quyết tâm của chúng con trong suốt hành trình của mùa Chay thánh.  Amen!

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

HƯỚNG VỀ MỘT MÙA XUÂN MỚI

Trong ngày đầu năm, người ta thường tặng cho nhau những lời thật tốt đẹp như : “Vạn sự như ý,” “An khang thịnh vượng,” “tràn đầy hạnh phúc,” “phúc lộc dồi dào”…  Đôi khi những lời chúc mang tính cách hài hước như : “Vạn sự như ý, tỷ sự như mơ;”  hoặc giới trẻ chúc nhau: “Tiền vô như nước Sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như… cà phê phin!”  Tất cả những lời chúc đó đều hướng đến sự hạnh phúc mà ai cũng mong chờ.

Tuy nhiên, trong thánh lễ Giao Thừa, qua phụng vụ Lời Chúa, chúng ta nhận được những lời chúc phúc tốt đẹp nhất từ chính Chúa.  Những lời chúc phúc được thể hiện qua “Tám MốiPhúc Thật.”

Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.
Phúc cho những ai hiền lành.
Phúc cho những ai đau buồn.
Phúc cho những ai đói khát điều công chính.
Phúc cho những ai thương xót người.
Phúc cho những ai có lòng trong sạch.
Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa.
Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính…

Tám mối phúc thật chính là những cánh cửa của tâm hồn, được mở ra để đón nhận làn gió xuân, làn gió đem đến hạnh phúc và bình an cho tâm hồn trong năm mới này.

Tâm hồn chúng ta đã được quét dọn sạch sẽ, nhưng nếu những cánh cửa hạnh phúc ấy không được mở ra để đón nhận ánh sáng của Chúa, tâm hồn ta vẫn mãi chìm ngập trong bóng tối của đau khổ và thất vọng.

Cánh cửa hạnh phúc của “Tám Mối Phúc” còn mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy niềm vui và hy vọng, giúp cho ta nhìn ra một thế giới rộng rãi hơn, bao la hơn của tình yêu thương.  Cánh cửa ấy mở ra để chúng ta gặp được Thiên Chúa và anh em mình.

Tuy nhiên, để mở ra được những cánh cửa hạnh phúc ấy, chúng ta phải có chìa khóa của sự hy sinh, chìa khóa mang hình cây thập giá của đời phục vụ quên mình.  Chiếc chìa khóa ấy đang nằm trong bàn tay chúng ta.

Ngày xưa, tại thành phố kia có một nhà hiền triết xuất hiện và tuyên bố có thể trả lời được tất cả mọi thắc mắc của những ai đến vấn kế.

Một hôm, có một người chăn cừu từ trên núi cao đi xuống xin gặp nhà hiền triết.  Anh ta nắm chặt trong tay một con chim sẻ và hỏi nhà hiền triết: “Xin ngài cho tôi biết: con chim sẻ tôi đang cầm trong tay sống hay chết?”

Nhà hiền triết biết đây là một cái bẫy của người chăn cừu.  Nếu ông bảo con chim còn sống, tức khắc người chăn cừu sẽ bóp con chim chết trước khi mở bàn tay ra.  Còn nếu ông bảo con chim đã chết, lập tức anh ta sẽ mở bàn tay ra và con chim sẽ bay đi.

Sau khi suy nghĩ, nhà hiền triết trả lời: “Con chim sẻ ngươi đang cầm trong tay sống hay chết là tùy ở ngươi.  Nếu ngươi muốn cho nó sống thì nó sống, nếu ngươi muốn nó chết thì nó chết.”

Hạnh phúc cũng giống con chim sẻ kia: đang nằm trong bàn tay ta, đang ở rất gần ta, đang ở bên cạnh ta.  Hạnh phúc đích thực của đời ta là chính Thiên Chúa.  Tuy nhiên, chúng ta có hạnh phúc hay không là tùy ở chính chúng ta: chúng ta có để cho Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Ngài không.

Trong năm mới, chúng ta hãy dâng vào tay Chúa tất cả dự định tương lai và mọi chương trình sắp thực hiện.  Chúng ta tin rằng: trong bàn tay Chúa, chúng ta luôn sống trong an bình và hạnh phúc.

Anh chị em thân mến

Năm cũ đang dần dần khép lại và năm mới đang dần dần mở ra cho chúng ta.  Năm cũ đang lui dần vào quá khứ và năm mới đang từ từ dẫn chúng ta vào tương lai.  Quá khứ – Tương lai – không nằm ở trong tay chúng ta.  Một giây qua đi chúng ta không thể nào tìm lại được.  Một phút chưa tới chúng ta cũng chẳng có cách nào để có được nó trong tay.  Thời gian không nằm trong tay của con người nhưng nằm trong tay của Thiên Chúa.  Chính Thiên Chúa mới là chủ của thời gian nhưng Thiên Chúa lại ban thời gian đó cho con người để con người sử dụng.  Con người sử dụng thời gian để làm gì thì Sách Giảng Viên đã có những gợi ý rất hay:

Ở dưới bầu trời này,
mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:
có thời để chào đời, có thời để lìa thế;
có thời để trồng cây, có thời để nhổ cây;
có thời để giết chết, có thời để chữa lành;
có thời để phá đổ, có thời để xây dựng;
có thời để khóc lóc, có thời để vui cười;
có thời để than van, có thời để múa nhảy;
có thời để quăng đá, có thời để lượm đá;
có thời để ôm hôn, có thời để tránh hôn;
có thời để kiếm tìm, có thời để đánh mất;
có thời để giữ lại, có thời để vất đi;
có thời để xé rách, có thời để vá khâu;
có thời để làm thinh, có thời để lên tiếng;
có thời để yêu thương, có thời để thù ghét;
có thời để gây chiến, có thời để làm hòa
Vì mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi.
Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt.
Điều gì đang có, xưa kia đã có,
điều gì sẽ có, xưa đã có rồi.
Người công chính cũng như kẻ gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử.
Vì mọi sự, mọi việc, đều có thời, có lúc.  (GV 3,1-8;14-15)

Vâng quả đúng như vậy: mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời và thời giờ đi thật mau.

Dù ta muốn hay không muốn,
bằng lòng hay không bằng lòng,
vui hay buồn,
sướng hay khổ,
thời giờ vẫn cứ đi, luôn luôn đi về phía trước.

Trong một bài thơ cổ, người ta đọc thấy những dòng chữ này:

Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười tôi khóc
thì lúc đó thời gian bò tới
Khi tôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn
thì thời gian đi bộ
Khi tôi trưởng thành, tôi là người chững chạc
thì thời gian chạy
Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già
thì thời gian bay
Chẳng bao lâu nữa là tôi chết
Thì thời gian đi mất
Ôi lạy Chúa, khi cái chết đến
thì ngoài Chúa ra, không còn gì là quan trọng nữa.

Trong đêm Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội nhắc cho mọi người biết: Thời gian là của Chúa.  Đó là một sự thật vô cùng quan trọng, rất quan trọng đối với mọi sinh vật được sinh ra trên hành tinh này.  Thế nhưng đã có rất nhiều người vô tình hay cố tình quên đi điều hết sức quan trọng đó.  Thời gian là của Chúa.

Nữ hoàng Êlizabeth bên Anh sẵn sàng trả giá cả hàng triệu mỹ kim cho bất cứ một ai có thể kéo dài cuộc đời của bà thêm 5 phút để bà giải quyết nốt những việc còn lại, nhưng chẳng ai làm được việc đó.

Vậy tôi phải sử dụng thời giờ Chúa ban cho tôi như thế nào?

Sưu tầm

VÂNG PHỤC, TÍN THÁC VÀ TRI ÂN

Ngày 20 tháng 9, 1940, Nguyễn Trọng Trí nhập trại phong Quy Hòa, thời Mẹ Maria Juetta.  Sau ba tuần, nhờ sự chăm sóc tận tụy của các nữ tu dòng Phan Sinh (Franciscaine), bệnh tình Trí thuyên giảm..  Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của Trí đều đều như kinh Nhật Tụng: 5 giờ sáng dậy đi nhà nguyện đọc kinh, sốt sắng dâng lễ, rước lễ.  7 giờ cùng anh em bệnh nhân dùng điểm tâm cháo trắng với đường tán đen.  8 giờ được băng bó, uống thuốc hoặc chuyện vãn với anh em đồng bệnh.  11 giờ cơm trưa rồi nghỉ ngơi.  14 giờ 30 Lên nhà nguyện đọc kinh lần hạt đến 17 giờ dùng cơm chiều…  Trí là một người rất sùng kính Đức Mẹ Maria, lúc nào cũng cầu xin Đức Mẹ và thứ bảy nào cũng xưng tội.  Suốt hơn một tuần, từ 30 tháng 10, 1940 đến 7 tháng 11, 1940, Trí bị bệnh kiết lỵ nặng nên mất sức!  Đêm ngày 8. 11. 1940 Trí lấy hai tập giấy pelure, dùng bút chì cùn trong áo veston sáng tác bài thơ cuối cùng La Pureté de l’ Âme (Tâm Hồn Thanh Khiết) để ca tụng Đức Maria cùng các bà mẹ dưới đất là thân mẫu và các nữ tu Phan Sinh đã săn sóc Trí.  Đây là bút tích cuối đời của Trí.  Khi ông Nguyễn Văn Xê đưa Mẹ Nhất Maria Juetta, người Pháp, đọc bài viết này, Mẹ Juetta nói: “Giỏi quá, uổng quá, Hàn Mạc Tử là một thiên tài hiếm có!  Nhưng Mẹ xin phép tác giả đổi chữ “nénuphards” (hoa súng) thay cho chữ “lotus” (hoa sen) vì cuộc đời tu sĩ của chúng tôi tại đây với các bệnh nhân phong, chính là những bông hoa súng lên xuống theo con nước và bập bềnh trôi nổi như mọi vật trong hồ, chứ không dám tự nhận mình như những bông hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Sau 52 ngày được các nữ tu, đặc biệt sơ Julienne và Mẹ Nhất Maria Juetta, tận tình săn sóc, cùng một người bạn thân đồng bệnh đồng đạo người Huế, ông Nguyễn Văn Xê, giúp đỡ, nhà thơ tài hoa bạc mệnh Hàn Mạc Tử đã nhẹ nhàng tắt thở lúc 5 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 11, 1940, hưởng dương 28 tuổi.  (Lm Trần Quý Thiện, Tưởng niệm nhà thơ Công giáo Hàn Mặc Tử).

Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã sống 52 ngày cưối đời thật trong sáng với tinh thần sám hối trở về, hân hoan chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, tán dương Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc qua những vần thơ tuyệt vời.  Tin Mừng hôm nay, Thánh Marcô tường thuật Đức Giêsu chữa lành người phong, căn dặn đi trình thầy tư tế và không được tiết lộ.  Nhưng khi được chữa lành, anh không thể nín lặng, công khai vui mừng rao truyền và loan tin vui.

Lời cầu xin của anh là gương mẫu cho bất cứ ai thành tâm nguyện cầu, xin Chúa xót thương cứu giúp: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Anh hoàn toàn xin vâng theo Thánh Ý Chúa toàn năng, khiến Đức Giêsu chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

Vâng phục

“Nếu Ngài muốn,” Với lời khẩn cầu tha thiết, trân trọng Đấng Thiên Sai, anh bệnh phong tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, toàn quyền nắm giữ sinh mệnh, cũng như sức khỏe, hạnh phúc, bình an của mình.  Lời nguyện xin khiêm hạ này cũng gợi nhớ “Xin Vâng” của Mẹ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói.” (Lc 1, 38).

Người bệnh phong không dám biểu lộ ý riêng của mình, vả lại không thân thưa, thì Đức Giêsu cũng đã thấu suốt nguyện vọng ấp ủ từ bao lâu rồi.  Anh hoàn toàn vâng theo Thánh Ý toàn năng, sẵn sàng chấp thuận Thiên Chúa định đoạt thân phận, không hề oán than.  Một đức tin vững chãi qua cơn thử thách thật nặng nề.

Trước cuộc khổ nạn kinh hoàng, Đức Giêsu cũng làm gương sáng chói về đức vâng lời, Người ba lần cầu nguyện: “Cha ơi, nếu được xin cho chén này rời khỏi con.  Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. ” (Mt 26, 39-44).

“Chúa Cứu Thế đã cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu của Ngài: “Vâng lời đến chết!” (Đường Hy Vọng, số 395).

Tín thác

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Hoàn toàn tín thác vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa, người bệnh phong công khai tin cậy, trao thân gửi phận cho Đức Giêsu cứu giúp.  Người Kitô hữu liệu có luôn xác tín vào Thông điệp Lòng Chúa Thương Xót, được Chúa Giêsu truyền cho chị nữ tu Faustina Kowalska hay chăng?  “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”  Có hoàn toàn vững tin như lời nguyện Hiệp Lễ chăng?  “Lạy Chúa, con không đáng rước Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành sạch.”

Vì đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Chúa, người phong không ngần ngại lỗi luật Do Thái, phải chịu cách ly với người lành.  Đức Giêsu vì thương yêu, chí nhân chí ái, cũng vô tư vượt qua điều luật này, khi Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

“Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống.  Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10).  Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria:”Nguồn hy vọng của chúng con.” (Đường Hy Vọng, số 962).

Tri ân

Được chữa lành, anh quên ngay lời Đức Giêsu căn dặn “đừng nói gì với ai cả.”  Bởi vì lòng anh tràn ngập niềm tri ân, cảm tạ Thiên Chúa.  Anh không thể giữ niềm vui, ân huệ cho riêng mình, mà hân hoan công khai chia sẻ với mọi người về hồng ân mới lãnh nhận nhưng không.  Nên vừa đi khỏi, anh đã rao truyền và loan tin ấy khắp nơi.”

Lòng Mến tràn đầy của anh đã lan tỏa khắp nơi, khiến dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Đức Giêsu.  Niềm tri ân, lòng cảm mến đã biến anh thành chứng nhân sống động, rao giảng Tin Mừng đến tha nhân.  Anh không sở hữu ơn cứu độ cho riêng mình, mà trái lại anh đã thực hiện đúng ba bước như mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích.  Ngài cho rằng có ba tiêu chuẩn để không không tư nhân hóa sự cứu rỗi: “Đức Tin vào Chúa Giêsu, Đấng thanh tẩy chúng ta, Đức Cậy khích lệ chúng ta nhìn tới những lời hứa và tiến đi về phía trước và Đức Mến là chăm sóc lẫn nhau, khuyến khích tất cả chúng ta thực hành bác ái và các việc lành.” (Đồng Nhân, Vietcatholic, ĐTC: Thành phần ưu tú của Giáo hội không được biến đức tin làm của riêng mình)

Lạy Chúa Giêsu, xin cứu thoát chúng con khỏi bệnh phong, khỏi bệnh liệt kháng tâm hồn, xin cứu chúng con khỏi vũng lầy tội lỗi, khỏi thung lũng đầy nước mắt này, xin ban cho chúng con biết sám hối, ăn năn trở về cùng Chúa hằng ngày.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn che chở chúng con khỏi những căn bệnh nan y thời đại là đánh mất Tin, Cậy, Mến.  Xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con thoát khỏi cạm bẫy ba thù, để được Mẹ dắt dìu chúng con theo Chúa luôn.  Amen!

Alphonse Marie Trần Bình An

KINH NGHIỆM THIÊNG LIÊNG

Ngoài lý thuyết hoặc thực hành, kinh nghiệm đóng một vài trò quan trọng trong bất cứ lĩnh vực nào.  Đời sống thiêng liêng cũng thế.  Khi càng để ý thực tập hoặc theo đuổi kinh nghiệm thiêng liêng, người ta càng dễ nhận ra ý Chúa và dễ dàng chiến thắng những cơn cám dỗ.  Chính Chúa Giêsu cũng đi theo con đường này.  Hằng ngày Ngài cầu nguyện với Chúa Cha.  Càng quan sát và lắng nghe, Đức Giêsu càng biết rao truyền chân lý của Chúa Cha.  Hoặc nói đúng hơn, Đức Giêsu có rất nhiều kinh nghiệm thiêng liêng.  Điều này được thánh sử Luca đúc kết trong một câu: “Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.” [1] (Lc 2,52).

1. Khôn ngoan trong đời sống thiêng liêng

Kinh nghiệm là “những kiến thức và kỹ năng mà bạn đạt được thông qua làm việc gì đó trong một khoảng thời gian, một quá trình đạt được kinh nghiệm này.” (Oxfordlearnersdictionaries).  Hoặc định nghĩa theo thần học gia người Đức Karl Rahner: “Kinh nghiệm là một dạng kiến thức nảy sinh từ sự tiếp nhận trực tiếp ấn tượng về một thực tế (bên trong hoặc bên ngoài).” (Rahner & Vorgrimler 1965:162).  Đôi khi người ta cũng hiểu kinh nghiệm thiêng liêng (spiritual) này như là một Linh đạo.  Lý do là từ “Linh đạo” trong tiếng Anh (spirituality) có nguồn gốc Latin Spiritualitas, và giống như các từ cùng gốc với nó là Spiritus và Spiritualis.  Từ này bắt nguồn từ gốc tiếng Hy Lạp pneuma pneumatikos.  Về sau Giáo hội dùng thuật ngữ này (nhất là thánh Phaolô) để mô tả những gì liên quan đến Chúa Thánh Thần.  Chẳng hạn: “Linh đạo là con đường thiêng liêng đưa con người đến với Thiên Chúa, qua Đức Kitô, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần.” (Từ Điển Công Giáo).

Theo vài cách hiểu trên, chúng ta thấy Đức Giêsu đã rất giàu kinh nghiệm trong khi cố gắng tìm kiếm và làm theo thánh ý Chúa Cha.  Danh từ “khôn ngoan – σοφία” mà thánh Luca dùng trên đây rất khác so với lối hiểu tục hóa ngày nay.  Ngài không khôn ngoan theo kiểu thế gian, nhưng thông thái trong lãnh vực thiêng liêng. “σοφία – Wisdom” không chỉ trưởng thành về mặt trí tuệ, là khả năng suy ngẫm và hành động hiệu quả bằng cách sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết, nhưng còn là thấu hiểu lẽ sống và nhìn đời một cách sâu sắc.  Nói cách khác, ơn khôn ngoan Chúa Giêsu đạt được là sức mạnh của Chúa Thánh Thần.  Sau này, Giáo hội hiểu là: “Ơn giúp lý trí sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh phân định được điều thiện đích thực và lựa chọn những phương tiện thích hợp để đặt tới điều thiện đó.” (GLHTCG 1835).

Nếu đặt từ ngữ khôn ngoan trong ngữ cảnh Thánh Kinh, chúng ta thấy Đức Giêsu thực sự đạt đến chiều cao sâu của đời sống thiêng liêng.  Ngài có dồi dào kinh nghiệm thiêng liêng.  Thực vậy, Từ khôn ngoan (חכם) được nhắc đến 222 lần trong Kinh thánh Cựu Ước.  Nó được coi là một trong những đức tính cao nhất của dân Israel.  Nó cũng đồng nghĩa với lòng tốt (חסד) và công lý (צדק).  Theo nghĩa này, chúng ta hiểu tại sao vua Salomon trước khi lên làm vua, ông đã xin với Đức Chúa cho ông sự khôn ngoan.  “Vậy xin Ngài ban cho con được khôn ngoan và hiểu biết để con lãnh đạo dân này.” (2 Sb 1,10).  Khi xin điều này đồng nghĩa với việc ông xin cho mình có kinh nghiệm thiêng liêng để lãnh đạo dân.  Và ông đã thành công trong phần lớn thời gian vương triều của mình.

Thiên Chúa của chúng ta thì khôn ngoan.  “Nơi Đức Khôn Ngoan, có một thần khí tinh tường và thánh thiện, duy nhất và đa năng, tinh tế và mau lẹ, minh mẫn và tinh tuyền, trong sáng và thản nhiên, lanh lợi và chuộng điều lành, bất khuất, từ bi và nhân ái, cương quyết, vững vàng và điềm tĩnh, làm được mọi sự và quan tâm đến mọi điều, thấu suốt mọi tâm can, kể cả tâm can của những người trong sạch, thông minh, tinh tế nhất.” (Kn 7,22-23).  Điều này được thánh Au-gút-ti-nô (354-430) cảm nhận như sau: “Chính Thiên Chúa là sự khôn ngoan cao cả nhất; phụng thờ Thiên Chúa là sự khôn ngoan của con người.” (On the Trinity, Book XIV, 1, 1).  Đây là khôn ngoan trong đời sống thiêng liêng.

2. Khôn ngoan cũng cần được trải nghiệm

Trong đời sống thiêng liêng, rất nhiều lần chúng ta ở giữa tranh sáng và tranh tối.  Bóng tối và ánh sáng đôi khi khó phân biệt.  Thậm chí chúng ta biết ánh sáng, nhưng không muốn theo.  “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại cứ làm.” (Rm 7,19).  Ở đây, tôi xin chia sẻ với quý độc giả ba chiến thuật thiêng liêng để chiến thắng kẻ thù.  Kinh nghiệm này được thánh I-nhã, Đấng Sáng Lập Dòng Tên, ghi lại trong sách Linh thao:

a. Chiến lược chống đối

Kẻ dám chiến đấu mới mong phần chiến thắng.  Trong đời sống thiên liêng cũng vậy.  Thánh I-nhã viết: “Kẻ thù xử sự như đàn bà, vì khi ta chống trả thì nó yếu, và khi ta để mặc thì nó mạnh.  Quả vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gỗ với người đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi người đàn ông thẳng tay chống trả.  Trái lại, nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, thì cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của người đàn bà thật không sao lường được.” (Linh thao số 325).  Dĩ nhiên thánh I-nhã chỉ mượn hình ảnh đời thường này để mô tả đời sống thiêng liêng.  Khi ta chống trả lại những cơn cám dỗ chính là lúc ta có cơ hội chiến thắng.  Đôi khi thất bại, nhưng có nhiều lúc thành công.  Nếu để ý, chúng ta sẽ biết được chiến thuật của kẻ thù.  Đây là được gọi là kinh nghiệm thiêng liêng (spiritual experiences).

b. Chia sẻ để cùng nhau chiến thắng

Kinh nghiệm có thể học được từ người khác.  Linh đạo Kitô giáo đã để lại biết bao kinh nghiệm quý giá để giúp chúng ta chiến đấu trong đời sống thiêng liêng.  Một chiến thuật khác mà chúng ta dễ chịu thua trước kẻ thù, đó là chúng ta bị kẻ si tình dụ dỗ.  Trong trường hợp này, thánh I-nhã khuyên chúng ta hãy nói cho người khác biết.  Thật vậy, “khi kẻ thù của bản tính loài người đưa những sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay lành, thì mong muốn những điều đó được tiếp nhận và giữ kín.  Nhưng khi linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay một người đạo đức nào khác am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, thì nó rất bất mãn, vì nó kết luận rằng không thể đạt tới điều xấu xa mà nó đã bắt đầu, vì sự dối trá rõ rệt của nó đã bị phanh phui.” (LT 326).

Kinh nghiệm trên có thể áp dụng trong nhiều trường hợp, nếu chúng ta muốn thắng kẻ thù.  Tuy vậy, Ma quỷ khôn hơn chúng ta nhiều[2].  Thua chiến thuật này, chúng bày ra chiến lược khác.

c. Để ý đến yếu điểm của mình

Lời đề nghị trên khiến chúng ta mệt mỏi.  Tiếc rằng ai cũng có điểm yếu và thậm chí rất yếu trong cuộc chiến thiêng liêng.  Do đó ma quỷ rất hay sử dụng chiêu thức sau đây để đánh bại chúng ta:

“Kẻ thù lại còn xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những gì nó muốn.  Ví như một vị chỉ huy cầm đầu đội quân, sau khi đặt doanh trại và xem xét lực lượng hoặc cách bố trí của một thành trì, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất; thì cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người lượn quanh để dò xét những nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và các nhân đức luân lý khác của ta, và điểm nào nó thấy ta yếu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.” (LT 327).

Ba chiến thuật của kẻ thù trên đây hẳn là bạn và tôi ít nhiều đều trải qua (có kinh nghiệm).  Linh đạo Kitô giáo đã gọi tên từng kinh nghiệm thiêng liêng này.  Biết là một chuyện, nhưng tập và chiến đấu là chuyện khác.  Ngày nay kinh nghiệm thiêng liêng ấy dường như đang bị lãng quên.  Nhất là với nhiều người trẻ, trước thời đại tục hóa, thử hỏi mấy người muốn chiến đấu thiêng liêng?  Nếu đọc được những dòng này, hẳn là bạn cũng muốn tập chiến đấu thiêng liêng.  Xin chúc mừng!  Đừng quên kinh nghiệm chiến đấu thiêng liêng càng mài dũa, bạn càng dẽ dàng chiến thắng cơn cám dỗ.  Chính lúc chiến đấu cũng là lúc chúng ta làm theo thánh ý Chúa.  “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào” (Lc 13,22-30).  Chúng ta chiến đấu với sự trợ giúp của Thiên Chúa, với kinh nghiệm khôn ngoan của Giáo hội!

d. Kinh nghiệm thiêng liêng giúp chúng ta lớn lên

Khi viết đề mục này, tôi nhớ đến bài nghiên cứu của giáo sư Stephan Pretorius: Tìm hiểu về kinh nghiệm thiêng liêng trong linh đạo Kitô giáo[3].  Trong đó ông đúc kết (xin tóm dịch):

Trong truyền thống Kitô giáo, trải nghiệm linh thiêng là một hiện tượng vẫn còn gây tranh cãi ở một khía cạnh nào đó.  Có nhiều người tin rằng kinh nghiệm thiêng liêng là một khía cạnh rất cần thiết của các tín hữu Kitô giáo.  Người khác cho rằng kinh nghiệm này không còn nữa sau thời Chúa Giêsu sống trên dương thế.  Chỉ khi gặp Chúa Giêsu bằng xương thịt mới gọi là kinh nghiệm thiêng liêng.  Do đó, nếu ai đó có loại kinh nghiệm này chỉ là chuyện bịa đặt, hoặc người ấy có vấn đề về tâm lý.

Nhận xét trên đây Stephan Pretorius có phần nào đúng (nhất là về kinh nghiệm thần bí).  Tuy nhiên, Giáo hội này nay vẫn đang mời gọi chúng ta phân định, trải nghiệm thiêng liêng với Thiên Chúa.  Phân định thiêng liêng là gì, nếu không phải là: “Việc phán đoán dựa trên đức khôn ngoan và sự hướng dẫn của Thần Khí để nhận ra ý Chúa và làm theo sự thúc đẩy của Ngài.”[4]  Tôi vẫn tin rằng kinh nghiệm thiêng liêng có thể diễn ra trong chính đời sống của mỗi người.  Dĩ nhiên không phải ai cũng nhận được kinh nghiệm thiêng liêng trực tiếp mạnh mẽ như trường hợp thánh Phaolô trên đường Đa-mát (Cv chương 9).  Tuy nhiên, trải nghiệm tâm linh này cũng có thể xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.  Càng để ý, càng tập, mỗi tín hữu càng có thể sống lớn mạnh trong ân sủng và sự thánh thiện của Thiên Chúa[5].

Sau cùng, mỗi người sẽ có kinh nghiệm thiêng liêng khác nhau, có khi là hoàn toàn khác.  Linh đạo Kitô giáo cho chúng ta chuẩn mực để đánh giá kinh nghiệm thiêng liêng của mình: tiếp xúc và gặp gỡ Thiên Chúa đang sống động trong Kinh Thánh.  Thiên Chúa trong Kinh Thánh chỉ có một.  Nếu chúng ta trải nghiệm thiêng liêng cùng với Thiên Chúa, nghĩa là kinh nghiệm của chúng ta giống nhau.  Điều này rất cần trong tiến trình hiệp hành tham gia mà chúng ta đang theo đuổi.

Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

[1] Καὶ Ἰησοῦς προέκοπτεν τῇ σοφίᾳ καὶ ἡλικίᾳ καὶ χάριτι παρὰ θεῷ καὶ ἀνθρώποις.
[2] https://dongten.net/co-nen-doi-thoai-voi-ma-quy/
[3] Xem bản tiếng Anh: https://www.scielo.org.za/pdf/at/v28s11/08.pdf
[4] Từ Điển Công Giáo, mục từ Phân Định Thiêng Liêng
[5] Tyson, J.R. 1999. Invitation to Christian spirituality. New York: Oxford University Press

BÀI HỌC TỪ TỊNH CỐC

Các tu sĩ có những bí mật chúng ta nên biết. Đây là một vài lời khuyên của các tổ phụ trong sa mạc: Về tịnh cốc và nó sẽ dạy cho con mọi điều con cần biết. Và đây là lời khuyên của Thomas a Kempis trong quyển sách trứ danh Bắt chước gương Chúa Kitô: Sau mỗi lần bạn rời tịnh cốc, khi trở về, tính nhân bản của bạn kém hơn.

Thọat nghe, những lời khuyên này nhắm đến các tu sĩ, tịnh cốc là phòng riêng của mỗi tu sĩ, với một giường nhỏ, một chiếc ghế độc nhất, một bàn viết, một bồn rửa mặt và một đệm quỳ đọc kinh. Các lời khuyên gợi ý là có rất nhiều bài học khi ngồi lại trong khoảng không gian này và có những mối nguy thực sự khi ra khỏi phòng. Lời khuyên này có thể mang ý nghĩa gì đối với người không phải là tu sĩ hay một nữ tu dòng kín?

Những lời khuyên này viết cho tu sĩ nhưng những nguyên tắc sâu xa của chúng có thể được suy rộng ra để tỏa minh triết trên đời sống của từng người.

Đâu là minh triết sâu xa trong những lời khuyên này?

Những lời khuyên này tự nó không nói rằng – như đôi khi ta được dạy – ơn gọi tu trì thì cao hơn ơn gọi thế tục. Cũng như nó không nói rằng tu sĩ hay tu sĩ dòng kín có quan hệ xã hội bên ngoài tịnh cốc là không lành mạnh.

Tịnh cốc ở đây là một ẩn dụ, một hình ảnh, là nơi chốn nội tâm của cuộc sống hơn là phòng riêng của một người. Tịnh cốc nhằm nói đến bổn phận, ơn gọi và lời khấn.

Cốt yếu, nó có nghĩa là:

Về tịnh cốc và nó sẽ dạy cho bạn những chuyện bạn cần phải biết: Hãy ở lại với ơn gọi của mình, với lời khấn của mình, với bổn phận chính đáng, với nhà thờ, với gia đình và chúng sẽ dạy cho bạn biết cuộc sống ở đâu và thế nào là ý nghĩa của tình yêu. Hãy trung thành với các cam kết của mình, và những gì bạn đi tìm rốt cùng sẽ tìm thấy ở đây.

Sau mỗi lần bạn rời tịnh cốc, khi trở về tính nhân bản của bạn kém hơn: Câu này cho chúng ta biết mỗi khi chúng ta không giữ cam kết, không trung tín, không làm những việc mình phải làm thì sau đó, tính nhân bản chúng ta kém đi do sự phản bội này.

Những nguyên tắc này có một ý nghĩa tinh thần rất phong phú: Hãy trung thành với lời khấn, giữ lòng trung tín, nơi làm việc của bạn là trường dòng, công việc của bạn là lời nguyện, gia đình của bạn là tu viện, nhà của bạn là đền thánh, ở lại bên trong nó, đừng phản bội nó, học những gì nó dạy mình, đừng lúc nào cũng nghĩ rằng đời sống là ở chỗ khác, Chúa là ở chỗ khác.

Carlo Carretto, người Ý, văn sĩ nổi tiếng về linh đạo, chia sẻ một câu chuyện minh họa cho chuyện này: Sau khi đi tu được hơn một phần tư thế kỷ và đã sống một mình hàng ngàn giờ trong sa mạc để cầu nguyện, ông đi về thăm mẹ già. Bà là một người đàn bà dành hết thời gian, sức lực vào bổn phận nuôi nấng một gia đình đông con trong suốt một thời gian dài, song song với những năm tháng một mình trong sa mạc của ông, bà quá bận rộn đến nỗi không hề có một chút thì giờ thinh lặng nào trong cuộc sống. Suốt thời gian của ông là thinh lặng. Suốt thời gian của bà là hoạt động. Dù vậy, qua sự thú nhận của ông, có thể cuộc sống của bà chiêm nghiệm hơn cuộc sống của ông. Ngoài ra, ông còn nghĩ bà có thể còn vô ngã hơn ông, bà có một chiều sâu tâm hồn, mà ở giai đoạn này của cuộc đời, ông chỉ mới mơ ước.

Nhưng kết luận mà ông nghiệm ra từ nhận thức đó không phải là có điều gì sai trái trong những gì ông đã làm suốt những năm dài tu trong sa mạc. Ngược lại, có một cái gì rất đúng về những gì mẹ ông làm khi bà tận tâm, vô ngã trong bổn phận làm mẹ, làm vợ. Ông vào tịnh cốc của ông để tịnh cốc đó dạy ông cần phải làm những gì. Bà vào tịnh cốc của bà để tịnh cốc đó dạy bà cần phải làm những gì. Tịnh cốc của ông là tịnh cốc của tu sĩ theo nghĩa kỹ thuật. Tịnh cốc của bà là tịnh cốc theo nghĩa rộng. Cả hai đều sống cuộc sống tu trì, và cả hai tu viện đều dạy họ những gì họ cần phải làm.

Cũng vậy, mỗi phản bội dù nhỏ của ông đối với ơn gọi tu trì đều làm cho tính nhân bản của ông kém đi, mỗi phản bội dù nhỏ của bà trong bổn phận làm mẹ, làm vợ cũng làm cho tính nhân bản của bà kém đi.

Những gì chúng ta tự cam kết chính là tịnh cốc của chúng ta. Khi trung thành với chúng, nghĩa là, trung thành với những bổn phận của chúng ta trong các mối quan hệ cá nhân và nơi chốn làm việc, chúng ta học bài học cuộc sống bằng thẩm thấu. Ngược lại, khi phản bội các cam kết của chúng ta, vốn đi đôi với các quan hệ và nơi chốn làm việc của chúng ta, thì tính nhân bản chúng ta sẽ kém hơn.

Chúng ta tất cả đều là tu sĩ, dù chúng ta ở trong tu viện hay ở ngoài đời, là vợ chồng, cha mẹ, bạn bè, sứ vụ viên trong giáo hội, thầy giáo, bác sĩ, y tá, thợ thuyền, cán sự xã hội, nhân viên ngân hàng, cố vấn tài chánh, chính trị gia, luật sư, nhân viên làm việc trong lãnh vực y tế tâm thần, doanh gia hay người về hưu. Mỗi chúng ta đều có tịnh cốc của mình và tịnh cốc đó có thể dạy cho chúng ta những gì chúng ta cần biết.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CON NGƯỜI TRỞ NÊN VĨ ĐẠI NHỜ CẦU NGUYỆN

Pascal là một nhà bác học nổi tiếng và cũng là một nhà triết gia lỗi lạc, ông đã có một câu nói thời danh để đời như sau: “Con người chỉ vĩ đại khi họ cầu nguyện.”

Thật vậy, con người là loài thụ tạo cao quý nhất mà Thiên Chúa dựng nên.  Con người có giá trị trổi vượt trên các loài thụ tạo khác.  Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở nên vĩ đại nhờ có một mối tương quan mật thiết với Đấng là chủ tể của mình ngang qua đời sống cầu nguyện.  Bởi vì cầu nguyện là chiếc cầu nối liền giữa Thiên Chúa và con người.  Cầu nguyện làm cho con người tìm ra được nguồn cội, cùng đích của cuộc đời.  Cầu nguyện cũng giúp cho con người biết mình phải làm gì và khước từ điều gì.

Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, người lánh sang một nơi thanh vắng để cầu nguyện sau một ngày làm việc mệt nhọc với sứ vụ và tiếp tục với hành trình rao giảng Tin Mừng mới.  Điều này cho thấy: cầu nguyện là việc vô cùng cao quý và quan trọng trong hành trình loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu cũng như người môn đệ.

1. Cầu nguyện không ngừng

Đã có lần, Đức Giêsu nghe các môn đệ của mình kể về thành tích mà các ông đạt được sau những ngày vất vả vì sứ vụ.  Các ông trở về trong hân hoan và khoe với Ngài về thành tích đạt được: thành công trong việc chữa lành bệnh tật, nhiều người nghe lời các ông giảng và ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục (x. Mc 6, 30-31).

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không khen ngợi các ông, Ngài cũng chẳng đề nghị các ông tiếp tục thi hành.  Và hoàn toàn không mở tiệc linh đình để tuyên dương kết quả!  Nhưng Ngài nói với các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31).  Nghỉ ngơi ở đây có nghĩa là trở về với Thiên Chúa và với bản thân trong sự thinh lặng nội tâm sâu xa.

Còn khi dạy các Tông đồ cầu nguyện, Ngài nói: “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); chỗ khác Ngài truyền lệnh: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,38).  Hơn nữa, khi nói về giới hạn của con người và tầm quan trọng của cầu nguyện, Ngài mặc khải: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5).  Hay để khơi lên niềm tín thác vào Thiên Chúa là Đấng xót thương, Đức Giêsu khẳng định: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7).

Như vậy, đời sống cầu nguyện là nền tảng để xây dựng đời sống Tông đồ nơi người môn đệ.  Cầu nguyện chính là hồn sống, là thước đo để biết được người Tông đồ thi hành sứ vụ vì ai, cho ai và mục đích gì!  Cầu nguyện còn để xác định rõ: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.”  Nói cách khác, đời sống cầu nguyện được ví cá cần nước, cây cần ánh sáng, con người cần hơi thở.

2. Mẫu gương cầu nguyện nơi Đức Giêsu

Khi thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của đời sống cầu nguyện, nên Đức Giêsu không chỉ dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng chính Ngài đã làm gương về đời sống cầu nguyện.

Thật vậy, Ngài luôn luôn cầu nguyện trước, trong và sau khi làm bất cứ việc gì.  Ngài cầu nguyện trong sa mạc; nơi hội đường; trên triền núi; ngoài bãi biển….

Hôm nay, thánh Máccô một lần nữa cho ta thấy Đức Giêsu coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong việc cầu nguyện, tác giả viết: “Sáng sớm lúc trời còn tối, Người đã dậy đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc l,35).

Khung cảnh “sáng sớm” cho chúng ta thấy một đêm dài đã kết thúc và một ngày mới khởi đầu.  Thái độ cầu nguyện ngay từ khi trời còn tối báo cho chúng ta biết, Đức Giêsu chắc chắn tạ ơn, chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa qua những việc Ngài đã làm trong ngày hôm trước như: thăm viếng, chữa bệnh, trừ quỷ….  Mặt khác, trải qua một đêm có lẽ nhiều thao thức, trăn trở và lựa chọn để làm trong ngày mới, nên ngay từ sáng sớm, Ngài đã xin ý của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, để mọi việc được diễn ra trong thánh ý của Người.  Chính vì điều này mà mọi hoạt động của Đức Giêsu đều quy hướng về Thiên Chúa và mang lại vinh quang cho Người.

Như vậy, giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa có một sự gắn kết mật thiết đến độ không thể tách rời đến nỗi đã có lần Đức Giêsu tuyên bố: “Ta và Cha ta là một”; hay “lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34 ).

3. Cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động

Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều sự rạn nứt qua các mối tương quan như: rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, thiếu sự chung thủy.  Nạn phá thai diễn ra như cơm bữa.  Lương tâm, chân lý không còn được lưu tâm hay bị lệch lạc.  Con cái vô cảm, bất hiếu và hỗn xược với đấng sinh thành.  Anh chị em trong gia đình loại trừ nhau.  Hàng xóm láng giềng không còn chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau!”  Thầy cô giáo và học trò ít quan tâm đến chuyện: “Tiên học lễ, Hậu Học văn”; vì thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò!  Bạn bè với nhau không còn tính trung thực, mà thay vào đó là lợi dụng nhau, thanh toán nhau bằng nắm đấm, song sắt, lưỡi lê….

Nguyên nhân lớn nhất đó là thiếu hay coi thường hoặc không có đời sống cầu nguyện.  Bởi vì, không cầu nguyện, con người sẽ không nhận ra Thiên Chúa là ai cũng như không biết coi trọng nhân phẩm của mình và của nhau.  Không có đời sống cầu nguyện, người ta cũng không tìm ra lý tưởng và không thể trả lời được về mục đích của sự hiện hữu nơi mình trên trần gian.  Đàng khác, khi đời sống cầu nguyện bị sao nhãng, người ta cũng chẳng cần quan tâm đến sự thật và lòng trung thành, từ đó, họ có thể làm bất cứ điều gì mà không sợ áy náy!  Họ sẵn sàng “dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt”; hay cả phương tiện và mục đích đều xấu, nhưng lương tâm đã bị trai lỳ, vô cảm nên họ vẫn sẵn sàng làm cho kỳ được để thỏa mãn điều mong muốn một cách bất nhân.

Hơn nữa, nhiều người có cầu nguyện, nhưng sự hời hợt, qua lần chiếu lệ đã làm cho họ chẳng khác gì như hạt giống gieo nơi vệ đường, trên bụi gai và nơi đá sỏi.  Hãy nhớ lại câu chuyện Tổ Tông sa ngã chỉ vì hiểu có một nửa sự thật!

Chính vì thiếu đời sống cầu nguyện sâu xa như thế, nên việc sống đạo của chúng ta bị nhàm chán, hờ hững và hình thức bên ngoài, khiến cho những công việc chúng ta làm bị phản tác dụng khi nó quy chiếu về bản thân mình chứ không hướng về Chúa.

Muốn khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần chuẩn bị tinh thần thật minh mẫn, sốt sắng, vui tươi như thể mình đang chuẩn bị đi gặp “người yêu.”  Phải thực sự có kinh nghiệm cá vị về Thiên Chúa.  Mặt khác, chúng ta phải tin tưởng chắc chắn rằng, chúng ta đang ở bên Chúa, Chúa đang ở bên ta, vì thế, cần có thái độ của đức tin để phó thác, thái độ khiêm tốn để lắng nghe.  Bởi vì: “Cầu nguyện là hô hấp của tâm hồn.”

Chỉ có thế, chúng ta mới có thể xóa đi cái “tôi” ích kỷ, hư ảo, kiêu ngạo, để thay vào đó là sự khiêm tốn, hiền lành và khiêm nhường như Chúa .  Như vậy, nhờ đời sống cầu nguyện, chúng ta mới nhận ra: “Con người vĩ đại nhờ cầu nguyện.”

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đặt mình bên cạnh Chúa, được sống với Chúa, được nhìn ngắm Chúa, được lắng nghe tiếng Chúa, được gặp gỡ Chúa, và được chìm sâu trong Chúa, Đấng cứu độ chúng con ngang qua đời sống cầu nguyện.  Amen.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

VÀI NÉT TIỂU SỬ CỦA THÁNH GIOAN BOSCO

Gioan Bosco sinh ngày 16 tháng 8 năm 1815, tại xóm Becchi, làng Castelnuovo d’Asti (nay là Castelnuovo Don Bosco), tỉnh Tôrinô; thuộc gia đình nghèo và mồ côi cha khi mới lên hai.

Mẹ Gioan là Bà Magarita. Bà đã sớm dạy con biết lao động ngoài đồng áng và nhất là biết nhìn thấy Thiên Chúa qua những hiện tượng thiên nhiên.

Khi lên 9 tuổi, Gioan Bosco đã có một giấc mơ đầy tính tiên tri: nhờ sự hướng dẫn và trợ giúp của Mẹ Maria, ngài sẽ giáo dục thanh thiếu niên hư hỏng thành người tốt, có ích cho xã hội và Giáo hội.

Mẹ Magarita đã phải rất khổ cực và vất vả để Gioan Bosco có thể đi học và theo đuổi ơn gọi linh mục.

Gioan Bosco chịu chức linh mục ngày 5 tháng 6 năm 1841. Cha linh hướng của ngài là cha Giuse Cafasso đã căn dặn: “Cha hãy rảo khắp thành phố và để ý nhìn chung quanh”. Nhờ đó vị linh mục trẻ đã nhận ra sự cùng khổ của người nghèo, nhất là của thanh thiếu niên.

Hình ảnh về nhà tù đã gây cho Don Bosco một ấn tượng sâu xa và khiến ngài phải suy nghĩ. Bởi thế, sau khi đi thăm nhà tù, ngài đã quyết định: “Tôi cần làm một việc gì đó để thanh thiếu niên khỏi phải vào tù”.

Thời bấy giờ, một số linh mục thường chờ đợi thanh thiếu niên tới nhà thờ hay phòng thánh để dạy giáo lý. Cần phải có những hình thức tông đồ mới: việc tông đồ lưu động, nơi các nhà hàng, nơi cửa tiệm, nơi xưởng thợ, nơi công viên… Nhiều linh mục đã thử nghiệm.

Vào ngày 8 tháng 12 năm 1841, đứa trẻ đầu tiên đến với Don Bosco là cậu Bartôlômêô Garelli d’Asti. Ba ngày sau, 9 em khác cùng đến với cậu. Ba tháng sau, 25 em. Rồi vào mùa hè 1842, con số là 80 em. Thế là Nguyện xá đã bắt đầu.

Nhưng một số em không biết tìm đâu ra chỗ ngủ, ngoại trừ những nơi công cộng. Don Bosco đã nhận ra công việc cấp bách và quan trọng là lo chỗ ngủ cho những em đó.

Vị ân nhân đầu tiên của Don Bosco không phải là bà Bá tước, nhưng chính là bà mẹ của ngài, một người nhà quê 59 tuổi, nghèo và mù chữ, nhưng đạo đức, đã lên Tôrinô với ngài để lo việc bếp núc và giặt giũ.

Giữa những em sống với Don Bosco, có một số đã bày tỏ nguyện vọng “được trở nên như ngài”. Tu hội Salêdiêng được thành hình, với tên gọi là Tu hội Thánh Phanxicô Salê.

Mùa Thu năm 1853, xưởng thợ đầu tiên được thành lập. Chính Don Bosco đứng ra dạy nghề cho các em.

Ngày 26 tháng 01 năm 1854, Tu hội Salêdiêng chính thức được thành lập.

Ngày 30 tháng 11 năm 1860, “đứa trẻ đầu tiên của Don Bosco”, Micae Rua trở thành linh mục. Vào cuối đời, Don Bosco có thể nói rằng: gần ba ngàn linh mục đã xuất thân từ những con cái của mình.

Tháng 3 năm 1864, Don Bosco đặt viên đá đầu tiên cho Đền Thờ Đức Mẹ Phù Hộ tại Valdocco. Tám năm sau, ngài khởi sự một “Đền Thờ” khác kính Đức Mẹ: Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Tháng 11 tháng 1875, những vị truyền giáo Salêdiêng tiên khởi lên đường đi Nam Mỹ. Cùng năm ấy, các “Cộng Tác Viên”, Dòng Ba Salêdiêng, ra đời.

Trước khi qua đời, Don Bosco đã nói với các Cộng tác viên: “Không có lòng bác ái của các con, cha không làm được việc gì cả; nhờ lòng bác ái của các con, chúng tôi đã lau khô biết bao nước mắt và đã cứu được biết bao linh hồn”.

Nhưng công trình vĩ đại mà Don Bosco để lại cho Giáo Hội là “HỆ THỐNG GIÁO DỤC DỰ PHÒNG”. Bí quyết của Hệ thống này là “Sống với thanh thiếu niên”, nhờ đó nhà trường được biến thành “gia đình”. Toàn thể Hệ thống này có thể được tóm lại trong ba chữ: lý trí, tôn giáo và lòng thương mến. Khi người ta không dọa nạt, nhưng trò chuyện; khi Thiên Chúa là “Chủ Nhà”; khi người ta không sợ hãi, nhưng muốn điều tốt, gia đình sẽ nảy sinh.

Don Bosco qua đời sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1888. Với các tu sĩ Salêdiêng đang đứng chung quanh, ngài đã nói những lời sau đây: “Các con hãy muốn điều tốt cho nhau như là anh em. Hãy làm điều tốt cho mọi người, nhưng không làm điều xấu cho ai cả… Hãy nói với các thanh thiếu niên điều này: Cha chờ đợi tất cả trên Thiên Đàng”.

Carlo Ambrosio, SDB
Nguồn: https://thegioisaledieng.net

KHI CHÚA GIÊSU NGỦ TRONG CƠN BÃO CUỘC ĐỜI CỦA CHÚNG TA

Trong đêm tối của đức tin, Thánh Têrêsa thành Lisieux xác tín Chúa Giêsu vẫn luôn ở với mình, nhưng cũng đau khổ khi Ngài dường như ngủ say và ẩn kín.

Thánh nhân đã miêu tả cảm giác này:

“Linh hồn của tôi giống như một chiếc thuyền mong manh bập bềnh mà không có người lái trong một vùng biển bão tố.  Tôi biết rằng Chúa Giêsu ở đó, ngủ trong thuyền của tôi, nhưng trời quá tối để tôi thấy Ngài.  Tất cả là bóng tối.  Giống như Chúa Giêsu trong cơn đau đớn của Ngài trong Vườn, tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi và không có sự giúp đỡ nào cho tôi trên trái đất hay trên thiên đàng.  Chúa đã bỏ rơi tôi” (Câu chuyện về linh hồn, 61).

Kinh nghiệm của Thánh Têrêsa giống với kinh nghiệm của các môn đệ trong Tin mừng Máccô chương 4 và Matthêu chương 8.

Đây là bản văn kinh thánh trong Macco chương 4:

“Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !”  Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người.  Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.  Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.  Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”  Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!”  Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.  Rồi Người bảo các ông: “Sao nhát thế?  Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin ư?”  Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Thưa Thầy, Thầy không quan tâm rằng chúng ta đang chết đến nơi rồi?”  Bao lâu trong những cơn bão của cuộc đời chúng ta có cảm giác như Chúa Giêsu đang ngủ như vậy?  Nếu ngay cả một vị thánh vĩ đại như Thánh Têrêsa cũng có thể cảm thấy loại bỏ rơi này, chúng ta không nên mặc cảm tội lỗi nếu chúng ta trải nghiệm điều gì đó tương tự.

Trong câu chuyện phúc âm, mọi thứ trở nên rất thảm khốc trước sự can thiệp của Chúa Giêsu.  Sóng đang đâm vào thuyền và lấp đầy nước, có nguy cơ bị chìm sớm.  Mặc dù vậy, Chúa Giêsu vẫn ngủ.  Các môn đệ trước tiên phải kêu lên với Ngài để được giúp đỡ.  Như Thánh vịnh 18:7 “Trong lúc đau khổ, tôi kêu lên: Lạy Chúa!  Tôi kêu lên với Thiên Chúa của tôi.”  Chúa nghe thấy sự đau khổ của họ.  Tiếng kêu khóc của họ, chứ không phải cơn bão, đã đánh thức Chúa Giêsu dậy.

Có ba điều cần lưu ý về cách Chúa Giêsu trả lời.

Đầu tiên, Ngài có quyền chỉ huy hoàn cảnh.  Chúa không làm cho con thuyền vững chắc hơn, hoặc giảm bớt cơn bão.  Chúa loại bỏ hoàn toàn vấn đề, mang đến một sự bình yên tuyệt vời.

Thứ hai, Ngài biến đổi tình hình qua lời nói của Ngài.  Sức mạnh của Ngôi Lời nhập thể nằm trong lời nói.  Chúa không cần phải cố gắng.  Chẳng hạn, Chúa không nhảy vào vùng sóng đánh dữ dội và kéo thuyền vào bờ.

Thứ ba, tác động biến đổi mà Ngài tạo ra mang tính toàn bộ – từ hoàn cảnh bên ngoài cho đến trái tim của các môn đệ.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ có niềm tin rằng sự hiện diện của Ngài là đủ.  Ngài muốn họ có niềm tin rằng Ngài đã nhận thức được tình hình, ngay cả khi Ngài dường như đang ngủ.

Giấc ngủ của Chúa có thể được coi là một bài kiểm tra đức tin của họ.  Nó cũng là một lời xác nhận răng: chỉ sự hiện diện của Chúa là đã đủ an toàn rồi.

Giấc ngủ vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu trải qua là giấc ngủ của tử thần.  Cuối cùng, trong trình thuật của phúc âm về giấc ngủ này, chúng ta rút ra sự an ủi lớn nhất.  Như bài giảng cổ xưa rất hay của Thứ Bảy Tuần Thánh:

Chuyện gì đang xảy ra vậy?  Hôm nay có một sự im lặng tuyệt vời trên trái đất, một sự im lặng vĩ đại, một sự im lặng tuyệt vời vì Đức vua đang ngủ; Trái đất vẫn còn bị trong sự kinh hãi, bởi vì Chúa đã ngủ trong xác thịt và nâng dậy những người đang ngủ từ thời xa xưa.  Chúa đã chết trong xác thịt, và âm phủ đã run rẩy.

Bài giảng gợi ý một lời giải thích cho giấc ngủ này: Chúa Giêsu bước vào giấc ngủ của sự chết để Ngài có thể ở cùng với những người đang ngủ say, những người cha thánh của Cựu Ước đang chờ đợi Ngài trong tình trạng lấp lửng.  Giống như Chúa đã lấy xác phàm để ở giữa những người sống, nên Ngài cũng mặc lấy giấc của sự chết mà Ngài cũng có thể ở cùng sự chết như vậy.

Chúa Giêsu không đánh thức chúng ta ra khỏi giấc ngủ tinh thần bằng cách lay chuyển chúng ta từ bên ngoài.  Ngài đi vào chính Ngài để đánh thức chúng ta từ bên trong.  Như bài giảng có nói:

Ta ra lệnh cho ngươi: Thức tỉnh đi hỡi kẻ còn đang ngủ, Ta đã không tạo ra ngươi để bị giam giữ như một tù nhân trong âm ngục.  Trỗi dậy từ cõi chết; Ta là sự sống của kẻ chết.  Trỗi dậy, hỡi con người, công trình của tay Ta làm nên, Trỗi dậy, vì người mang hình ảnh của Ta.  Hãy trỗi dậy, nào chúng ta hãy đi, vì Ta ở trong ngươi và ngươi ở trong Ta, cùng nhau chúng ta nên một mà không thể bị chia cắt.

Bóng tối của Thứ Bảy Tuần Thánh dẫn đến sự tươi sáng của Chúa nhật Phục Sinh.  Sự phục sinh thực sự có khởi đầu không phải trong ngôi mộ, nhưng trong khoảnh khắc linh hồn Chúa Giêsu bắt đầu bay lên từ sâu thẳm địa ngục.  Ngay cả khi Chúa Giêsu ngủ say, lúc đó, Ngài thực sự rất chủ động, trong địa ngục Ngài tuyên bố chiến thắng của thập tự giá, chà đạp ma quỷ và giải cứu những người cha thánh trong tình trạng Limbo.

Nếu Chúa Giêsu đôi khi dường như ngủ trong cuộc đời chúng ta, thì Ngài có thể sống động theo những cách mà chúng ta không thể nhìn thấy.  Chúa đang làm việc trong nhiều trường hợp.  Những kiểu trợ giúp mà chúng ta thường cần có công việc phải được thực hiện ở những nơi mà chúng ta không thể nhìn thấy như trái tim của những người thân bị ghẻ lạnh, tinh thần của một đứa trẻ bị giam cầm trong cơn nghiện, tâm trí và trái tim của các ông chủ, chủ nợ hoặc người thu tiền hóa đơn của chúng ta và trong tất cả những người có sức ảnh hưởng đến an toàn kinh tế của chúng ta.

Nếu sự giúp đỡ mà chúng ta cần nhất là trong việc chữa lành một căn bệnh về thể xác hoặc bệnh tâm thần thì chúng ta chắc chắn sẽ không thể nhìn thấy Chúa Giêsu đang làm việc.

Điều này tạo ra khả năng để chúng ta được ngạc nhiên.  Bởi vì mỗi Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có thể mong đợi được ‘niềm vui ngạc nhiên” của sự Phục Sinh.

Stephen BealeBro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R – chuyển ngữ
Nguồn: https://catholicexchange.com/when-jesus-sleeps-through-our-storms