VIẾT VỀ CHA TÔI

Nếu phải viết về một người vĩ đại thì tôi sẽ viết về cha tôi.  Trên đời này, có lẽ tình mẹ dễ cảm nhận hơn tình cha bởi lẽ đứa con nào cũng được mẹ mang nặng đẻ đau, được mẹ chăm nom từng bữa ăn, tấm áo.  Nghĩa mẹ dạt dào như nguồn nước, như trong lời ca dao, song tình cha thì cao vời vợi, chỉ trong hoàn cảnh người con phải ngước mắt lên thì mới nhìn thấy được.

Tôi vẫn nhớ buổi chiều hôm ấy, tìm được một lời giải hay cho đề toán thầy ra và được thầy khen giữa đội tuyển học sinh giỏi toán.  Tôi hớn hở ngồi chờ cha tôi trước cổng trường, thầm nghĩ sẽ chạy ù ra khoe với cha khi cha đến đón.  Nhưng các bạn tôi đã được mẹ cha đến đón, chỉ còn tôi đứng nép trước cổng trường trong bóng chiều đang xuống. “Chắc cha quên đón mình rồi!”  Mắt tôi cay xè, chực khóc.  Tôi giận cha tôi lắm.  Tính ương ngạnh trẻ con trong lòng trỗi dậy, tôi đứng lên và quyết đi bộ về nhà, qua một quãng đường dài 5 cây số từ trường tôi gần chợ Tân Ðịnh về đến Hàng Xanh, Sài-gòn.

523Tôi đã không ăn cơm tối hôm đó dù mẹ tôi cố dỗ dành.  Tôi nghe mẹ trách cha tôi sao quên đi đón, còn cha nói: “Tuy là một học sinh giỏi nhưng con trai mình yếu đuối lắm.  Anh không hề quên đón con.  Anh đã đến trường nhưng không đón mà lặng lẽ theo sau con, xem con ứng xử thế nào.  Con mình cần được thử thách, phải tập giải những bài toán khó trong đời.”  Cha tôi đã dạy tôi những bài học làm người như thế đó.  Ngồi sau lưng cha, cha thường nhắc tôi: “Ðừng ngồi cứng đờ, mà phải biết nghiêng người ngược hướng nghiêng của xe thì cha chạy xe mới dễ.”  Ðể rồi bao năm tháng, ngồi trên chiếc đò tròng trành trên mương rạch cùng các bạn sinh viên, tôi lại nhớ yên xe của cha, biết giữ thăng bằng đò, cũng như thích nghi giữa những tròng trành của cuộc sống.

Cũng trên yên xe ấy, cha đã dạy tôi bài học tình người.  Mẹ tôi bị tai biến não và mất trí từ năm tôi lên 11 tuổi.  Cha tôi sau giờ làm việc thường đưa tôi đi chợ trưa.  Một hôm khi đến chợ nghe tiếng kêu “Giật đồ!”  Cha bảo tôi ôm chặt rồi phóng xe theo chặn đầu kẻ cắp: thì ra là một thằng bé.  Bắt nó trả lại túi xách và xin lỗi người phụ nữ, cha tôi dạt đám đông đang la ó đòi đưa nó lên công an: “Nó hối lỗi rồi.”

Ðến dãy hàng ăn, cha tôi hỏi nó muốn ăn gì trước cặp mắt mở to ngạc nhiên của nó.  Vừa ăn tôi thắc mắc hỏi cha sao không cho nó tiền mà lại dắt nó đi ăn.  Cha tôi trả lời như cho chính cuộc đời này: “Tiền đã biến người bạn ấy thành thằng ăn cắp, con không thấy sao?”   

Tôi dậy rất sớm, chuẩn bị dắt chiếc xe đạp ra cùng “lều chõng” đi thi đại học.  Cha đã chờ tôi trước cổng, nhẹ nhàng nói: “Con cất xe đi, cha đưa con đi thi.  Sao không cho cha biết hôm nay con đi thi đại học?”  Tôi chỉ biết lặng im vì muốn tự đi thi như chúng bạn.  Cuối buổi thi, cùng cô bạn thi cùng phòng ra đến cổng trường, đã thấy cha tôi từ xa vẫy gọi.  Cô bạn mãi từ quê miền Trung vào dự thi nháy mắt nói với tôi: “Bạn sướng thật, có bố đếm từng phút mình làm bài bên cổng trường thi!”  Sau này khi nhận giấy báo trúng tuyển, cô bạn ấy hỏi tôi: “Ai sẽ là người thân đầu tiên bạn khoe niềm vui này? – rồi nói luôn – mình đâu còn bố để khoe.”    

Ðêm đó rất khuya, tôi rón rén đến bên cha.  Người đang ngồi trên ghế bố đọc truyện Thủy Hử.  Tôi đưa cha giấy báo trúng tuyển đại học.  Cha xem rất lâu, khẽ khàng xếp lại rồi nắm chặt bàn tay tôi: “Hãy là một người thầy có trái tim như thầy Mạnh Tử, con nhé… “

 Lưu Trọng Tuấn

NHẬN DIỆN ĐỨC KITÔ

523Đức Kitô là ai?  Đó là câu hỏi sẽ còn làm nhiều người thuộc nhiều thế hệ băn khoăn thắc mắc.  Có rất ít người, kể cả những môn đệ thân tín, dù đã quyết tâm theo Người, thực sự hiểu Người cho đúng.

“Mesiah” trong tiếng Do thái và “Kitô” trong tiếng Hi lạp có nghĩa là Đấng Được Xức Dầu.  Là Đấng được Thiên Chúa sai đến.  Là Đấng dân Do Thái mong đợi.  Nhưng Đấng Kitô thực sự như thế nào, sẽ sống như thế nào và sẽ làm gì thì vẫn còn trong vòng mơ hồ.  Tuy nhiên đa số người Do Thái ước mơ Đấng Kitô đến để khởi đầu một thời kỳ mới, đưa nước Do Thái lên vị trí bá chủ thế giới.  Người sẽ trở thành vị Chúa Tể thống trị khắp địa cầu.

Chính vì thế, hôm nay Chúa Giêsu muốn các môn đệ hiểu Người cho đúng.  Thoạt tiên Chúa hỏi các ông về luồng dư luận.  Nhất là sau phép lạ hóa bánh ra nhiều.  Quả nhiên mọi người đều công nhận Chúa Giêsu là một tiên tri vĩ đại.  Nhưng chưa có ai dám quả quyết Người là Đấng Kitô.  Chúa hỏi thêm về ý kiến của các môn đệ thân tín.  Phêrô đại diện anh em tuyên xưng: “Thày là Đấng Kitô của Thiên Chúa.”  Chúa Giêsu hài lòng về lời tuyên xưng ấy.  Tuy nhiên khi tuyên xưng, Phêrô vẫn chưa thật sự hiểu Đấng Kitô có nghĩa là gì.  Có lẽ ông còn chịu ảnh hưởng của đám đông nghĩ đến một Đấng Kitô oai nghi, vinh quang và quyền lực.  Vì thế Chúa Giêsu đã phải giải thích cho các môn đệ hiểu biết con đường của Người.

Trước hết, Chúa Giêsu “nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.”  Không được nói cho họ biết Người là Đấng Kitô.  Vì họ chưa hiểu Đấng Kitô là gì.  Họ có thể tôn vinh Người lên làm vua.  Như họ đã muốn làm thế sau khi Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều.  Như thế là sai đường lối của Chúa.  Và có thể làm hỏng kế họach của Chúa.

Sau đó Chúa bày tỏ cho các môn đệ biết con đường thực sự mà Đấng Kitô phải đi là con đường đau khổ: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy.”  Đó là con đường tủi nhục.  Con đường khổ nạn.  Con đường chết chóc.  Nhưng sau tủi nhục sẽ đến vinh quang.  Sau khổ nạn sẽ là hạnh phúc.  Sau chết chóc là phục sinh.  Đó không phải là con đường vinh quang trần thế, nhưng là con đường nhỏ hẹp thiêng liêng.  Nhưng đó chính là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực.

Rồi Chúa nói với các môn đệ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.  Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”  Muốn theo chân Chúa, các môn đệ không thể đi con đường nào khác con đường của Chúa.  Phải đi vào con đường hẹp để dẫn đến Nước Trời.  Đi vào con đường đau khổ để đến vinh quang.  Vượt qua cái chết để đến sự sống.

Bây giờ ta đã hiểu Đấng Kitô thực sự là gì.  Bây giờ ta đã hiểu con đường của Đấng Kitô phải đi là con đường nào.  Và ta cũng đã hiểu muốn theo Chúa ta phải đi vào con đường nào.  Nhận diện Đấng Kitô đã khó.  Đi vào con đường của Người còn khó hơn.  Ta hãy xin Chúa ban cho ta được sức mạnh để đi theo con đường Chúa đã đi.  Chính con đường đó dẫn ta đến hạnh phúc đích thực.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

ÔNG THÁNH HAY LÀM PHÉP LẠ 

523Người ta thường gọi thánh Antôn Pađua là “ông thánh hay làm phép lạ.”  Ngài là linh mục tiến sĩ Hội Thánh.  Tuy ngay lúc sinh thời Ngài đã làm rất nhiều phép lạ, nhưng Ngài một mực hạ mình khiêm nhu.  Chính sự khiêm nhượng cộng với lòng mến Chúa yêu Ðức Mẹ say mê và thương người tha thiết của Ngài đã làm nên phép lạ.

Mở mắt chào đời vào năm 1195 tại Lisbon, thủ đô Bồ Ðào Nha, Ngài được đặt tên là Phênanđô.  Thuộc dòng dõi sang trọng và đạo hạnh, Phênanđô được mẹ ân cần dậy dỗ ngay từ tấm bé.  Giêsu Maria là những tiếng Phênanđô bập bẹ đầu tiên trong đời.  Ngay từ nhỏ, Phênanđô đã khấn giữ mình đồng trinh theo gương Ðức Mẹ.  Cậu đặc biệt yêu thương những kẻ khó nghèo.  Lên 10 tuổi, Phênanđô được mẹ trao phó cho cha bác huấn luyện chữ nghĩa và đường đạo đức.

Một lần Phênanđô đang sốt sắng quì cầu nguyện trước Ðức Mẹ thì bị ma quỉ nổi cơn ghen lôi đình, hắn nhẩy lên vai và bóp cổ cậu cho chết.  Cổ họng bị tắc nghẽn không sao kêu tên Giêsu Maria được.  Phênanđô liền dùng ngón tay vẽ hình thánh giá trên bậc đá.  Ma quỉ vô cùng khiếp sợ, hắn buông cậu ra, vội biến mất.  Chúa đã làm phép lạ khiến đá ra mềm, in sâu hình Thánh Giá cậu vẽ vào bậc đá.

Năm 17 tuổi, Phênanđô từ giã thế gian, vào tu dòng thánh Augustinô tại Lisbon.  Sau 2 năm, thầy xin đến một tu viện khác, xa nhà quê để dễ bề tu trì.  Bề trên sai thầy tới Cônimbriga.  Tại đây thầy học hành rất thông giỏi và nổi tiếng nhân đức.  Nhưng thầy luôn xưng mình là vô dụng, và chỉ muốn làm những công việc hèn hạ.

Sau khi khấn dòng, nhiệm vụ của thầy Phênnanđô là coi sóc bệnh nhân.  Thầy rất yêu thích nhiệm vụ này vì có dịp hãm mình và tỏ lòng yêu thương anh em.  Một lần, nhân dịp Lễ Chúa Giáng Sinh, vì ngăn trở giúp bệnh nhân nên thầy không thể dự lễ chung với nhà dòng.  Khi nghe chuông báo hiệu dâng Mình Thánh Chúa, thầy liền quì gối quay về phía nhà thờ.  Bỗng nhiên bức tường ngăn cách giữa nhà thờ và phòng y tế nứt ra, dành chỗ cho thầy chiêm ngắm Mình Thánh Chúa trên bàn thờ.

Năm 25 tuổi, thầy Phênanđô trở thành một linh mục dòng Augustinô.  Nhưng cha lại cảm mến gương lành và cuộc sống thánh thiện của thầy dòng Phanxicô lúc đó mới được thành lập, nhất là vô cùng cảm phục gương 6 thầy Phanxicô mới chết vì đạo.  Ðược ơn trên soi dẫn, cha đến xin bề trên chuyển sang dòng Phanxicô.  Bề trên chấp thuận sau khi biết rõ Thánh Ý Chúa.  Trong dòng Phanxicô, cha Phênanđô được đổi tên là Antôn.

Thời gian đầu tại dòng Phanxicô, người ta chưa biết tiếng nhân đức và sự thông thái cha Antôn, nên cha được trao cho nhiệm vụ rửa bát đĩa và quyét nhà.  Nhưng không bao lâu, danh tiếng cha được biết đến.  Chính cha thánh Phanxicô sai cha đi giảng đạo khắp miền Bắc Ý rồi qua cả nước Pháp.

Thiên Chúa đã dùng cha Antôn làm nhiều phép lạ để xác nhận những chân lý và mầu nhiệm trong đạo Công Giáo.

Một người giầu có, nhưng sống đời hà tiện, tham lam của cải.  Sau khi ông chết, cha Antôn trưng lời Chúa Kitô đã phán: “của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó.  Đồng thời sai người đi mở két vàng của người quá cố thì thấy một trái tim bằng thịt đang nằm chình ình trong két!  Vàng bạc bạn ở đâu, con tim bạn cũng ở nơi đó!

Một lần cha Antôn giảng về mầu nhiệm Chúa Giêsu ngự thật trong Thánh Thể.  Có người lạc đạo không tin, đến thưa với Ngài:

  • Nếu xem thấy phép lạ, tôi mới tin!

Cha Antôn nói với anh:

  • Hãy để con lừa của anh nhịn đói 3 ngày, rồi đem nó tới cửa nhà thờ, anh sẽ thấy phép lạ.

Ðúng ngày hẹn, người kia đem còn lừa đã nhịn đói ba ngày và thúng đồ ăn đến trước cửa nhà tờ, thấy thúng đồ ăn trước mắt, nó vội vàng chạy tới ăn lấy ăn để.  Nhưng vừa lúc đó, cha Antôn kiệu Mình Thánh Chúa tới cửa nhà thờ.  Lạ lùng thay, con lừa đột nhiên bỏ ăn, đến trước Thánh Thể Chúa: Nó quì gối, cúi đầu lậy ba lần.  Người lạc đạo đã tin, và sau đó trở lại Công Giáo.

Lần khác, ngài giảng ngoài bãi biển.  Nhiều người rối đạo cũng hiện diện, nhưng họ lấy tay bịt tai không nghe lời giảng.  Cha Antôn liền quay ra biển: “Loài người không thèm nghe lời giảng.  Vậy các ngươi hãy đến đây mà nghe!”

Lập tức, muôn vàn cá lớn cá bé nhô đầu lên khỏi mặt nước để nghe lời Ngài.  Cha Antôn nói với chúng:

  • Các ngươi hãy cảm tạ Thiên Chúa đã gìn giữ và nuôi dưỡng các ngươi.

Bầy cá gật đầu tỏ dấu nghe lời Ngài.  Sau đó cha ra hiệu cho bầy cá giải tán, chúng lần lượt chìm dần trong làn nước biển.

Một hôm, có người đến xưng tội với Ngài, nhưng vì quá xúc động, ông ta không thể nói lên lời.  Cha Antôn bảo ông viết các tội vào giấy rồi đưa cho Ngài xem.  Sau khi ban ơn Xá Giải, cha Antôn trao lại tờ giấy cho ông.  Về tới nhà, ông đem tờ giấy đã viết tội đi đốt, nhưng lạ lùng thay, khi mở ra, chỉ còn là một tờ giấy trắng bóc!  Trở lại gặp cha Antôn, ông thưa Ngài đầu đuôi câu truyện, Ngài nói với ông:

  • Chúa đã làm phép lạ để chứng nhận quyền tha tội của các vị linh mục.

Ngày khác, ba của cha Antôn tại Lisbon bị cáo Gian về tội giết người.  Dù dang ở xa quê hương, Thiên Chúa đã soi lòng cho cha biết giúp đỡ.  Bỗng nhiên cha thấy mình có mặt tại Lisbon.  Cha xin quan đem xác người chết tới công đường, rồi Ngài truyền cho xác chết sống lại và hỏi:

–     Có phải ba tôi đã giết anh không?

Anh ta trả lời “không phải” rồi lại lăn đùng ra chết!  Cùng lúc đó, cha Antôn thấy mình đang ở nhà dòng.  Ba của Antôn đã được giải oan.

Có lần, cha Antôn vào trọ tại một gia đình.  Giữa đêm, chủ nhà thấy phòng cha tự nhiên rực sáng.  Ngó vào trong phòng, ông bỡ ngỡ thấy cha đang ẵm bế Chúa Hài Nhi, âu yếm hôn kính và thưa truyện với Ngài.

Năm 1231, cha Antôn thấy mình yếu sức, nên xin về thành Pađua dọn mình chết.  Ngài lìa bỏ đời này cách êm ái ngay năm đó, sau khi đã sốt sắng chịu các Phép và hớn hở hát bài ca ngợi khen Ðức Mẹ.  Ngài chết khi mới được 36 tuổi.  Người ta lũ lượt tới viếng xác ngài ba ngày ba đêm liên tục.  Sau đó ngài được an táng trong nhà thờ thành Pađua.

Chúa đã làm vô vàn phép lạ do công nghiệp và lời bầu cử của cha Antôn, nên chỉ một năm sau khi qua đời, Giáo hội đã phong thánh cho ngài.  Chính ngày phong thánh cho cha Antôn, chuông các nhà thờ thành Lisbon tự nhiên đồng loạt kêu vang, mặc dù không có ai kéo.  Hai mươi ba năm sau, người ta cải mộ Ngài đưa vào nhà thờ mới.  Lúc đó, lưỡi Ngài vẫn còn tươi tốt như khi còn sống, chiếc lưỡi Ngài đã dùng để rao giảng lời Chúa và cứu giúp anh em đồng loại.  Hằng năm Giáo Hội mừng kính Ngài vào ngày 13 tháng 6.

Chính lòng khiêm nhượng, yêu Chúa, mến Ðức Mẹ và thương người của cha Antôn đa biến Ngài thành vị đại thánh, một vị thánh hay làm phép lạ.

LM Raymond Thư, CMC

http://www.dongcong.net

VẾT NHƠ NHUỐC CỦA TỰ VẪN

523Mới đây, tôi đọc liên tiếp ba quyển sách viết về tự vẫn, đều là lời của những người mẹ mất con vì tự vẫn.  Cả ba quyển đều mạnh mẽ, chín chắn, không chiều theo cảm xúc sai lầm, và rất đáng đọc.  Lois Severson có con gái là Patty tự tử, bà viết quyển sách: Chữa lành vết thương từ sự tự vẫn của con gái tôi, Chuyển Thương Đau Thành Lời Nói.  Gloria Hutchinson có con trai là David tự tử, bà viết quyển sách: Tổn Thương Đã Xong, Sự Tự Vẫn Của Đứa Con Một.  Marjorie Antus có con gái là Mary tự tử, bà viết quyển sách Con Gái Tôi, Tự Vẫn, và Thiên Chúa, Một ký ức Hy vọng.  Patty và David trạc 25 tuổi, còn Mary chỉ mới thiếu niên.

Bạn không thể đọc những tự thuật này mà không nhói trong tim cho ba người trẻ chết một cách thật bất hạnh.  Những gì các quyển sách này mô tả trong từng trường hợp, là về một con người đáng yêu, quá nhạy cảm, đã phải đấu tranh cảm xúc lâu dài, và từ thời thơ ấu đã phải chịu sự mất cân bằng sinh hóa.

Nghe những câu chuyện đời này, sẽ cho bạn tin chắc hơn bao giờ hết rằng không một Thiên Chúa nào đáng thờ phượng lại lên án những con người phải xa lìa gia đình sự sống chỉ bởi vì cách họ chết.  Gabriel Marcel có một câu nói: Yêu ai đó là nói rằng, ít nhất với bạn, người đó sẽ không chết.  Đây là giáo lý Kitô giáo vững chắc.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng, chúng ta là một cộng đoàn tín hữu, làm nên Thân thể Chúa Kitô cùng với tất cả những ai đã chết trong đức tin trước chúng ta.  Một phần niềm tin này là việc Chúa Kitô đã cho chúng ta sức mạnh để giữ chặt hay lơi lỏng, nghĩa là tình yêu của chúng ta cho ai đó có thể giữ người đó trong gia đình, trong cộng đoàn ân sủng, và trong cả thiên đàng nữa.  Trong cả ba quyển sách này, các bà mẹ làm rõ rằng, đây chính là những gì mà họ đang làm.  Gia đình của họ, vòng tròn ân sủng của họ, tình yêu của họ, và thiên đàng của họ phải có cả đứa con đã mất của họ.  Thiên đàng của tôi cũng có ba người trẻ này, và bất kỳ nhận thức thực sự nào về Thiên Chúa, ân sủng, tình yêu, và đời sống gia đình cũng phải như thế.

Đây là một sự an ủi sâu sắc, nhưng nó không xóa hết được nỗi đau.  Với bậc cha mẹ, mất đi một người con, dù là vì lý do gì, đều để lại một vết thương không gì chữa lành nổi ở đời này.  Cái chết của đứa con đi ngược lại tự nhiên, đầu bạc phải tiễn đầu xanh.  Cái chết của con cái luôn thật khó khăn, nhưng nếu đó là chết vì tự vẫn thì nỗi đau còn nặng nề hơn muôn phần.  Không giống cái chết bệnh lý, cái chết vì tự vẫn gây nản lòng và giận dữ, một điều không xác đáng, không cần thiết, và có thể xem là một hành động bội bạc.  Và còn có một câu hỏi không hồi kết rằng: Làm sao tôi phản ứng trước việc này?  Đáng ra tôi phải tính táo hơn, cảnh giác hơn?  Tôi đã lơ là chuyện gì?  Tại sao tôi không ở bên con trong thời điểm định mệnh đó?  Tội lỗi và giận dữ hòa chung với tang thương.

Nhưng đó không phải là tất cả.  Ngoài tất cả những điều này, vốn đã quá đủ để đánh gục một con người, chính là vết nhơ gắn với tự vẫn.  Đến tận cùng, bất chấp nhận thức rõ hơn và thái độ sáng suốt hơn về tự vẫn, vẫn có đó một vết nhơ mang tính xã hội, tinh thần, và tôn giáo với sự tự vẫn, và điều này đúng cả trong đạo lẫn thế tục.  Không lâu trong quá khứ, nhà thờ thường từ chối làm tang lễ cho những ai tự tử.  Bây giờ, các nhà thờ đã thay đổi thái độ và làm lễ an táng, nhưng sự thật là, nhiều người vẫn đấu tranh trong lòng để chấp nhận tiễn đưa một cách an bình và chúc phúc cho những ai đã chết vì tự vẫn.  Vết nhơ vẫn còn đó.  Những ai chết vì tự vẫn, thường bị xem là đáng nguyền rủa, họ bị cho là chết ngoài vòng sự sống và ân sủng.  Vì vậy, với hầu hết mọi người, chẳng có gì là an ủi trong cái chết của họ.

Trong các bài viết khác của mình, tôi đã nói rằng đa số các vụ tự vẫn phải được hiểu là một cái chết vì bệnh tật tinh thần, một sự mất cân bằng sinh hóa, một cơn đột quỵ cảm tính, một khối ung thư cảm xúc, hay một sự nhạy cảm quá đỗi tước đi hết sức bật cần thiết để sống.  Tuy nhiên, ở đây, tôi muốn nói cụ thể hơn về vấn đề vết nhơ gắn với tự vẫn.

Vẫn có một vết nhơ gắn với tự vẫn, chuyện này thật rõ ràng.  Nghĩ như thế, thì một điều sẽ giúp chúng ta, đó là suy nghĩ về cách Chúa Giêsu đã chết.  Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng cũng mang vết nhơ nhuốc tương tự.  Thập giá là một nhơ nhuốc, dù là nhìn từ góc độ tôn giáo, tinh thần và xã hội.  Một người chết trên thập giá, bị xem là chết ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và ngoài sự chúc lành và chấp nhận của cộng đồng.  Các gia đình của những người bị đóng đinh mang một tủi hổ nhất định, và những người bị đóng đinh sẽ được chôn cất xa, ở ngay nơi mà họ mang lấy vết nhơ nhuốc của mình.  Và người ta cho rằng họ nằm ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và cộng đồng.

Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng gợi lên cho chúng ta một nhận thức tương tự. Vết nhơ nhuốc mà chúng ta gắn với tự vẫn, cũng là cái mà chúng ta gắn với cách Chúa Giêsu đã chết.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HÃY SÁM HỐI ĂN NĂN

Trong tiểu thuyết “Giường đàn bà” đã kể lại những cuộc tình bị đồng tiền làm hoen ố.  Tình yêu chỉ là một món hàng mà người có tiền hay không có tiền đều dùng nó để mua bán trao đổi.  Câu chuyện xoay quanh các nhân vật: Mạch – một phóng viên trẻ, đang học đại học, là nhân tình của một tổng biên tập giàu có và đa tình – người trả tiền nhà và đóng học phí cho cô.

Sau khi tan vỡ mong ước được làm mẹ do người tình một mực đòi cô phá thai, cuộc sống tinh thần của Mạch bị đảo lộn.  Cô quyết định trả thù người tình bằng cách cặp với Bob – một nhà văn nghèo đang tìm kiếm vốn tài trợ cho bộ phim mà anh chuyển thể kịch bản từ tiểu thuyết của mình.

Tình yêu khó khăn giữa Mạch và Bob vừa nhen nhóm đã bị những giá trị vật chất trong cuộc sống lấn lướt và dập tắt.  Bob phải ngủ với bà Thẩm Xán – một chủ doanh nghiệp giàu sang để hòng moi tiền đầu tư làm phim.  Mạch bị sự giàu sang và phong trần của giám đốc đẹp trai Trần Tả – chồng của Thẩm Xán – quyến rũ.  Bob chấp nhận cầm tiền của Trần Tả để bỏ rơi Mạch. Mạch bị Thẩm Xán đánh ghen tới trụy thai…

Tiểu thuyết hé lộ một phần sự thật về cuộc sống tàn nhẫn ở các thành phố lớn, hiện đại – nơi giá trị vật chất chiến thắng giá trị đạo đức và con người không vượt qua nổi chính mình.  Đồng tiền trôi nổi cũng kéo theo phận người nổi trôi đầy sóng gió nghi nan.  Con người lao vào vòng xoáy của vật chất đến vong thân chính mình.  Con người đã quên mất mục đích sống của mình nên cũng đánh mất phẩm giá làm người của mình.

Nhân loại hôm nay dường như người ta chỉ cần tiền và bằng mọi cách kiếm ra tiền.  Vì tiền mà người ta bỏ ra ngoài tất cả những giá trị đạo đức, tình yêu, lòng chung thuỷ….  Cuộc sống nếu đề cao đồng tiền lên trên mọi thứ luân lý, đạo đức thì đó là một xã hội suy đồi, nơi đó con người khó mà có những giây phút hạnh phúc đích thực, mà chỉ là những hạnh phúc giả tạo, mong manh dễ tan vỡ mà thôi.

Điều đáng tiếc cho xã hội hội hôm nay là người ta mất ý thức về tội.   Người ta đề cao tự do đến nỗi luôn làm theo ý mình mà gạt bỏ lề lật của Chúa hay những luân thường đạo lý.  Người ta luôn dùng mục đích để biện minh cho phương tiện, cho dù đó là phương tiện xấu xa, đê tiện.  Có biết bao cô gái trẻ bán thân vì lý do để lấy tiền trang trải cho gia đình, hay cho việc học bản thân.  Có biết bao người ngoại tình vì để đền ơn cho kẻ giúp đỡ thi ân.  Có biết bao người phá thai vì đông con, vì nghèo đói…  Có phải vì nghèo đói để rồi mình có thể làm tất cả mọi chuyện cho dù đó là những chuyện phi nhân thất đức hay không?  Có phải vì tiền mà mình có thể loại bỏ luân thường đạo lý hay không?  Cuộc sống nếu không còn những giá trị đạo đức sẽ là một bể khổ đối với con người.  Vì con người luôn phải đối đầu với biết bao con người xấu, với biết bao tệ nạn xấu.  Xã hội loài người sẽ hỗn loạn nếu con người đặt vật chất lên trên mọi giá trị tinh thần.  Nếu con người đề cao vật chất thì người ta sẽ dễ dàng chà đạp lên nhau chỉ vì một chút vật chất tầm thường mau qua.

523Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có một tấm lòng sám hối chân thành như Đa-vít, hay như người phụ nữ tội lỗi đã khóc dưới chân Chúa và lấy tóc mà lau chân Chúa.  Họ đều là những con người có quá khứ tội lỗi.  Họ đều mang thân phận yếu đuối của con người.  Họ đã phạm tội nhưng họ đã biết trỗi dậy.  Cuộc đời họ đã ngụp lặn trong biết bao đam mê lầm lạc nhưng lương tâm luôn làm họ cắn rứt.  Họ đã từng chọn những phù phiếm trần gian hơn là những giá trị đạo đức.  Thế nhưng, họ không có bình an tâm hồn khi sống xa luật Chúa để lao vào những chuyện phi nhân thất đức.  Họ đã trở về với lòng sám hối chân thành.  Đa-vít đã mặc áo nhặm để sám hối ăn năn.  Người phụ nữ đã quyết tâm đập bể bình ngọc như phá bỏ những hào nhoáng, phù phiếm mau qua.  Họ đã nhận ra giá trị đích thực của con người là biết làm chủ chính mình, biết giữ được phẩm giá làm người của mình.  Một con người có lý trí để biết đâu là thiện là ác, có ý chí để hướng dẫn hành vi mình đi theo lẽ phải.  Giá trị của con người là biết làm chủ bản thân để sống đúng với phẩm giá làm người, với luân thường đạo lý.  Nếu con người không còn khả năng làm chủ bản thân để đi theo lề luật thì con người đâu hơn loài vật.  Nếu con người sống chỉ biết tranh giành nhau danh lợi thú trần gian thì con người đang tự đầy đọa mình trong khổ ải trần gian.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết chọn Chúa hơn là những vinh hoa phú quý trần gian.  Ước gì mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng nói sự thật như Đa-vít để thật lòng ăn năn trở về với Chúa.  Nguyện xin Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót xin giúp sức để chúng ta can đảm sám hối và canh tân đời sống mỗi ngày một tốt hơn.  Amen.

LM Jos Tạ Duy Tuyền

TÂM THƯ MỘT NGƯỜI MẸ ĐAU KHỔ

Hôm qua, mười năm trước đây, mẹ mang con trong lòng.  Hôm sau, mẹ làm tim con ngừng đập.  Mẹ, người mẹ của con, là người cho con sự sống, và cũng là người cho con sự chết.

Ðã mười năm trôi qua và mẹ vẫn rùng mình khi nghe đến hai chữ “phá thai.”  Có một khoảng trống trong lòng mẹ không bao giờ lấp đầy được, một nỗi hiu quạnh không bao giờ ấm lại, nỗi buồn đau không bao giờ dứt.  Ðối với mẹ, con luôn luôn là một bài ca không đoạn kết, một nụ hoa không bao giờ nở, một bình minh u ám bởi cơn mưa.

Ngay cả trong những giây phút mong manh cuối cùng của đời con, mẹ vẫn tự hỏi, “Con là trai hay gái?”  Câu hỏi ấy vẫn liên tục vang lên trong đầu mẹ ngay khi tiếng máy hút con ra khỏi lòng mẹ và đời sống của mẹ.  Dường như cái khao khát muốn biết con trai hay con gái đang bừng cháy trong lòng mẹ, nhưng không hiểu vì sao mẹ không thể hỏi người chuyên viên phá thai, họ đang nhìn mẹ mỉm cười.  Thay vào đó, mẹ chỉ gật đầu khuất phục và buồn thảm khi người này đập nhẹ vào tay mẹ và nói, “Cô không vui khi mọi chuyện đã xong sao?”

Mẹ nằm trong vũng máu, nước mắt và mồ hôi, mẹ có thể nghe những người y tá trò chuyện về chiếc xe mới, về y phục thời trang.

523Ðối với họ, chấm dứt đời con là một công việc “kiếm sống bằng cách tiêu diệt sự sống.”  Với những người có mặt trong căn phòng ngập nắng ở Philadelphia 10 năm trước đây, thì đó cũng chỉ là một ngày như mọi ngày.  Với mẹ, đó là ngày đen tối nhất trong đời.

“Phá thai” – là cảm nghiệm khủng khiếp và đau lòng nhất mà mẹ đã phải trải qua khi lên 18 tuổi; và chắc chắn đó là cảm nghiệm đau đớn nhất con phải chịu khi con mới ba tháng.  Phải mất bao nhiêu năm mẹ mới nguôi ngoai.

Giờ đây – khi mẹ đong đầy nước mắt, mẹ mới nhận ra rằng đó là những gì mẹ không bao giờ quên được.  Cái ngày định mệnh của tháng Tư đó diễn lại trong đầu mẹ như một cuốn phim kinh dị buộc mẹ phải xem, và rồi không bao giờ quên được…

Ngay cả khi mẹ hoang mang nhất, mẹ biết có nhiều sự chọn lựa khác, nhưng mẹ chỉ quá lo sợ khi nghĩ đến những chọn lựa đó.  Mẹ vẫn là một đứa con nít, mẹ “chưa sẵn sàng” để làm mẹ.

Mẹ không ý thức rằng mẹ đã là một người mẹ.  Con trở thành con của mẹ từ khi thụ thai; tình yêu của mẹ dành cho con ngay khi sự sống của con bắt đầu, và dù rằng đời con đã dứt, tình yêu đó không bao giờ cùng.

Tiếng gào trong câm nín của con đã đánh thức mẹ biết bao lần trong nhiều năm, và mẹ nằm đó trong bóng đêm để than khóc sự mất mát của một đứa trẻ mà mẹ đã giết.  Ðã nhiều lần mẹ nghĩ đến việc chấm dứt đời mẹ cũng như mẹ đã kết thúc đời con.

Ðã 10 năm qua và mẹ vẫn không thể tha thứ cho chính mẹ.  Con có tha thứ cho mẹ không?  Chúa có tha thứ cho việc mẹ tiêu diệt một sự sống mà Ngài đã dựng nên không?

Mẹ đã trải qua bao cơn ác mộng trong nhiều năm.  Hình ảnh thai nhi nằm trong bao rác đã ám ảnh mẹ đến tận tiềm thức.  Mẹ thức giấc mà toát mồ hôi lạnh, cái cảm giác đau đớn cùng cực của ngày đó lại sống dậy.  Mẹ nhớ lại cái đau đớn ghê gớm của việc phá thai – nhưng 10 phút đau đớn đó không thấm gì so với 10 năm đau khổ mà mẹ phải chịu từ ngày ấy.

Ðã bao năm lòng mẹ ao ước viết cho con những dòng chữ này, nhưng mỗi lần mẹ định gởi tâm tình qua dòng chữ thì mẹ chỉ thấy trang giấy ngập tràn nước mắt hơn là mực đen.  Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, đêm nay thật khác lạ…

Có thể lá thư này giúp được những người khác tránh khỏi những đau khổ mà mẹ đã trải qua, giúp những thiếu nữ bị “rắc rối,” như mẹ 10 năm trước đây, để nhận thấy rằng có những thay thế khác cho việc phá thai…

Nếu lá thư này ngăn cản được chỉ một vụ phá thai, nó cũng đã đạt được mục đích.  Nhưng Con Yêu, mẹ muốn gởi lá thư này cho con để con biết rằng mẹ yêu con – bất cứ con ở đâu.  Và xin con tha lỗi cho mẹ.

Mẹ yêu con.

Ẩn danh

 

TRÁI TIM THIÊN CHÚA – TRÁI TIM CON NGƯỜI

Mạc khải của Cựu ước nói với chúng ta:  Thiên Chúa có một trái tim!  Ngôn sứ Hôsê đã quả quyết điều ấy.  Thực ra, Thiên Chúa là Đấng vô hình, không có thể xác như chúng ta.  523Nói Ngài có một trái tim là cách diễn tả Thiên Chúa luôn quan tâm tới đời sống con người.  Sự quan tâm ấy được thể hiện qua công trình sáng tạo và sự quan phòng của Ngài.  Với thể loại văn chương “nhân cách hóa”, ngôn sứ Hôsê giới thiệu với chúng ta quả tim của Thiên Chúa cũng rung cảm, bồi hồi thổn thức, cũng đau buồn và ghen tỵ trước sự phản bội của con người.

Khi nói với chúng ta: Thiên Chúa có một trái tim, Kinh Thánh muốn diễn tả tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa.  Cũng giống như khi gặp một người ngoại quốc nào đó rất yêu mến và tâm huyết với đất nước và con người Việt Nam, chúng ta nói: người này có trái tim Việt Nam.  Trái tim là biểu tượng của tình yêu và lòng bao dung tha thứ.  Trong suốt bề dày của lịch sử, lòng yêu thương của Chúa luôn thể hiện qua sự can thiệp của Ngài trong đời sống của Dân Chúa và đời sống cá nhân mỗi người.  Con người đã nhiều lần phạm tội phản nghịch và bất tuân, nhưng Chúa không chấp tội lỗi của con người.  Ngài sẵn lòng tha thứ nếu họ chân thành sám hối ăn năn.  Bao dung nhân hậu là một trong những phẩm tính đặc biệt của Thiên Chúa.

Thánh Gioan là nhân chứng mắt thấy tai nghe về sự việc quân lính lấy đòng đâm thủng trái tim Chúa. Đối với tác giả Tin Mừng thứ bốn, mỗi chi tiết, mỗi sự việc đều có ý nghĩa giáo huấn và mang chiều kích thiêng liêng.  Trái tim Chúa Giêsu đã mở ra, như một thế giới mới đã khởi đầu.  Từ trái tim bị đâm thâu, nguồn ơn cứu độ tuôn trào như suối nguồn phong phú vô tận.  Vương quốc tình yêu đã khai mở nhờ ơn Cứu độ của Chúa Giêsu.  Từ trái tim rộng mở của Đấng Cứu thế, con người được tiến sâu vào đời sống huyền nhiệm của Thiên Chúa tình yêu.  Chính vì thế mà chúng ta tôn vinh Thánh Tâm là “kho tàng tình yêu.”  Nơi đây, con người có thể được thần hóa, được đón nhận sự sống mới, trở nên tạo vật mới tinh tuyền trong ân sủng của Đấng Cứu độ trần gian.  Với việc trái tim bị đâm thâu, Thiên Chúa không còn ngoảnh mặt đi trước nỗi đau chồng chất của con người.  Ngài như người cha luôn che chở dạy dỗ, như người mẹ luôn bao dung vỗ về, làm cho cuộc đời này ấm áp, hạnh phúc và bình an.  Con người được đi sâu vào Trái Tim của Chúa, như một chỗ náu ẩn chắc chắn an toàn.

Nếu Thiên Chúa đối xử với chúng ta bằng trái tim, thì mỗi người chúng ta cũng cần đặt đời sống mình trên cái tâm.  Trong xã hội Việt Nam hôm nay, tội ác gia tăng, bạo lực hoành hành, người ta lo sợ khi ra đường, mất niềm hy vọng trong tương lai.  Vợ chồng, anh em bạn bè phản bội lừa lọc nhau.  Lý do vì con người không sống với nhau bằng trái tim thực sự mà chỉ hời hợt bên ngoài.  Con người ngày càng trở nên vô cảm trước nỗi đau của tha nhân.  Nếu biết lắng nghe lời mách bảo của trái tim, mọi hành động trong cuộc sống của chúng ta sẽ được định hướng để đạt được những điều tốt đẹp.  Chuyên tâm cầu nguyện và thực thi Lời Chúa sẽ làm cho trái tim của chúng ta giống như trái tim của Chúa, hiền hậu, bao dung và quảng đại.  Nếu Thiên Chúa đã mang lấy trái tim nhân loại, thì nhờ nỗ lực cố gắng dấn thân trong đời sống thiêng liêng, con người sẽ được ban tặng một trái tim của Chúa.  Đây là sự trao đổi kỳ diệu được thực hiện trong ơn cứu độ của Chúa Giêsu.

Tình yêu đền đáp tình yêu.  Nếu Chúa Giêsu đã chấp nhận thập giá đau thương, là vì Người muốn tỏ cho chúng ta thấy tình yêu của Thiên Chúa lớn lao dường nào, vượt trên khả năng suy luận của con người.  “Anh em hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).  Điều Chúa mong muốn nơi chúng ta, đó là chúng ta hãy thực thi tình yêu thương với đồng loại, hãy sống với nhau bằng trái tim.  Trái tim của người da đen và người da trắng đều giống nhau.  Trái tim của người giàu cũng như của người nghèo, của người đạo đức cũng như người khô khan.  Mọi trái tim đều khao khát được yêu thương và được tôn trọng.  Mọi cá nhân đều ao ước sống trong an bình.  Khi lấy trái tim làm nền tảng và tiêu chuẩn cho cuộc sống, chắc chắn chúng ta sẽ hạnh phúc và những chia rẽ hận thù sẽ bị loại trừ.

GM Giuse Vũ Văn Thiên

THÔNG CẢM ĐỂ “CHẠNH LÒNG THƯƠNG”

Con người ai sinh ra trên đời này cũng đều trải qua 4 cửa ải là sinh, lão, bệnh, tử.  Hay chết là một trong 4 khâu của định luật “thành, trụ, hoại, diệt.”  523Có một câu danh ngôn rất hay: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi người” (Abe- el -Kader).  Nói theo tam đoạn luận thì: ông này bà nọ là con người; mà đã là con người nên họ đều phải chết; vì thế, tôi cũng là con người, nên tôi cũng phải chết.

Như vậy, không ai tránh khỏi cái chết.  Mọi người đều phải kết thúc cuộc hành trình trên trần gian này bằng cái chết.  Đã có sinh thì ắt phải có tử.

Hôm nay, bài Tin Mừng thuật lại cho chúng ta thấy Chúa Giêsu và các môn đệ đi vào thành Caphácnaum và gặp thấy đám tang con trai bà góa thành Naim đang được đem đi chôn.  Hình ảnh đám tang của con trai bà góa này cho chúng ta thấy: người thanh niên này đã trải qua cuộc sống dương thế.  Anh ta đã chết.  Anh ta đã kết thúc tại cửa ải thứ 4 là “tử”; khâu cuối cùng là “diệt.”  Người thanh niên này đã bị cái chết chiến thắng.  Thần chết đã thống trị.

Thế nhưng, khi gặp được Chúa Giêsu, cái chết có phải là đã kết thúc mọi chuyện và là mồ chôn vĩnh viễn thân phận cát bụi của người thanh niên kia không?

Không! Tin Mừng cho chúng ta thấy cái chết không phải là ngõ cụt, nhưng nó là một giai đoạn cần phải trải qua để đi vào sự sống vĩnh hằng.  Cái chết như là một cửa khẩu để qua đó, ta sang được bến bờ bình an và hạnh phúc viên mãn.  Niềm tin ấy đã được Chúa Giêsu hé mở và củng cố qua cái chết của con trai bà góa thành Naim hôm nay.

Hình ảnh đám tang ở trong thành đi ra, còn Chúa Giêsu và các môn đệ thì đi vào.  Hai hình ảnh không thuận chiều nhau mà là trái chiều.  Nhưng hai nhóm người đó đã gặp nhau tại một điểm giao.  Điểm giao đó là “tình yêu”, “lòng thương xót” của Chúa Giêsu.

Quả thật, Thiên Chúa là Đấng Giàu Lòng Thương Xót, mà Chúa Giêsu là hiện thân của lòng thương xót đó, nên Ngài luôn yêu thương và thông cảm cho nỗi khốn cùng của con người.  Vì thế, Chúa Giêsu đã “chạnh lòng thương” (esplanchnisthè), mà theo tiếng Hy Lạp, có nghĩa chính xác là “xúc động đến ruột gan.”

Thật thế, Ngài đã có lòng thương cảm sâu đậm cho hoàn cảnh éo le của gia tang.  Hơn nữa, mẹ của người chết lại là một bà góa, chồng bà đã chết, mọi hy vọng đều đổ dồn vào người con trai duy nhất, nay con bà chết, bà biết trông vào ai?  Nỗi cô đơn trở nên tột cùng khi những kỳ thị của dân tộc sẽ đến với bà.  Sự bất hạnh lại càng lên đến đỉnh cao khi những truyền thống trong xã hội Do Thái thời bấy giờ coi thành phần các bà góa là những người không có tiếng nói, là hạng người thấp cổ bé họng.

Đứng trước tình cảnh như thế, và với con tim nhạy bén trước đau khổ của loài người, Chúa Giêsu đã động lòng trắc ẩn, an ủi bà đừng khóc nữa, rồi sau đó Ngài hành động ngay.  Ngài truyền cho những người khiêng cáng dừng lại, sau đó Đức Giêsu nói: “Này người thanh niên, ta bảo anh: Hãy trỗi dậy!” Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói.  Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ.  Mọi người đều kinh ngạc và tôn vinh Thiên Chúa.

Hành vi Chúa Giêsu bảo những người khiêng cáng dừng lại và Ngài truyền lệnh cho người chết chỗi dậy thể hiện quyền năng của một vị Thiên Chúa uy quyền và làm chủ sự sống lẫn sự chết; đồng thời cũng cho chúng ta thấy bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu (x. 1 Ga 4, 16).  Một Thiên Chúa luôn yêu thương, chữa lành; một Thiên Chúa đem lại cho con người niềm an ủi và hạnh phúc sau những đắng cay tủi nhục; một Thiên Chúa gieo vào trong tâm hồn con người niềm hy vọng khi mọi chuyện tưởng chừng như đã chấm dứt bằng cái chết.

Tuy nhiên, đấy mới chỉ là những cách giải thoát mang tính hiện sinh mà thôi, bởi lẽ người thanh niên hôm nay được Chúa cho sống lại, nhưng rồi một ngày nào đó anh ta cũng sẽ phải chết.  Nhưng điều mà Chúa Giêsu muốn đi xa hơn qua việc cho người thanh niên này sống lại, đó chính là đem lại cho con người sự sống viêm mãn, một sự sống dồi dào đằng sau cái chết.  Vì thế, Ngài đã muốn giải thoát con người khỏi cái chết đời đời, để thay vào đó là sự sống trường tồn mai hậu.  Đây là trọng tâm của sứ điệp mà hôm nay Chúa muốn nhắn gửi nơi mỗi người chúng ta.

Qua phép lạ cho con trai bà góa thành Naim chết được sống lại, Chúa Giêsu đã tiên báo một cuộc phục sinh vĩ đại cho toàn thể nhân loại qua cái chết và sự phục sinh của chính Ngài.  Đây chính là niềm hy vọng siêu việt, viên mãn của mọi người Kitô hữu chúng ta.

Quả thật, trình thuật về việc con trai Bà goá thành Naim được sống lại, Chúa Giêsu không chỉ cho chúng ta thấy tình thương của Thiên Chúa dành cho những người bé mọn, cũng không chỉ dừng lại ở việc Chúa cảm thông với nỗi cô đơn, mất mát to lớn của bà goá nọ.  Nhưng điều quan trọng hơn những cảm xúc đó chính là dấu chỉ tiên báo trước việc Chúa sẽ sống lại và những ai tin vào Ngài thì cũng sẽ được sống lại và được đưa vào nơi tràn đầy hạnh phúc và bình an.

Như vậy, hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta về hai bản tính của Ngài qua việc cho con trai bà goá sống lại.

Về nhân tính: Chúa Giêsu cũng cảm thông, xúc động và “chạnh lòng thương” đến người cùng khổ.  Với hoàn cảnh cụ thể của bà góa, Ngài có sự cảm thông sâu xa khi thấy gia cảnh của bà lúc này: mất chồng, mất luôn cả người con duy nhất của mình trong lúc tuổi già để nâng đỡ những lúc đau bệnh, và bênh vực khi bị người đời chèn ép hay an ủi trong lúc cô đơn…

Về mặt Thiên tính: Ngài có đầy đủ quyền năng, nên Ngài đã cho người chết trỗi dậy.  Sự chết không còn quyền chi đối với Ngài.  Ngài làm chủ sự sống và sự chết khi truyền cho người chết trỗi dậy.

Qua mạc khải trên, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta bài học:

Trước tiên, cần phải có sự thương cảm với những người kém may mắn.  Không ai sống trên đời này như một hòn đảo.  Thánh Phaolô đã khuyên nhủ chúng ta: “Hãy vui cùng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc.” (Rm 12, 15).  Việt Nam ta có câu: “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.”  Không thể đứng đó và nhìn xem nỗi bất hạnh của người khác rồi hả hê cười đùa vui vẻ; cũng không phải huênh hoang tự kiêu khi thành công để rồi khinh bỉ người cùng khốn.

Thứ đến, sống theo tinh thần của Chúa là chúng ta hãy biết ra khỏi chính mình để đi đến với những ai cần đến bàn tay, khối óc, con tim của chúng ta.  Chúng ta phải biết ra khỏi chính mình, ra khỏi ốc đảo của tự kiêu để như Chúa Giêsu, đi đến đâu thì thi ân giáng phúc tới đó (x. Cv 10, 38).  Ngài luôn an ủi kẻ cô đơn, chữa lành người bệnh tật và đem lại niềm vui, hy vọng cho những người thất vọng.

Ước gì, tâm tình của Thánh Phanxicô Assisi được diễn tả qua Kinh Hoà Bình lại được vọng lại nơi tâm hồn của mỗi chúng ta khi nghe bài Tin Mừng hôm nay: “Chính lúc hiến thân là lúc được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.”

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết rung động trước những nỗi đau của con người, biết nhạy bén trước những nhu cầu của anh chị em đồng loại, để đem lại cho họ niềm vui, bình an và hạnh phúc.  Xin cho chúng con biết ra khỏi chính mình, để không bị rơi vào tình trạng co cụm lại nơi bản thân.  Bởi vì nếu co cụm lại với chính mình mà thôi, thì đấy là lúc chúng con đang đánh mất chính mình. Amen.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

LỄ ÐỨC MẸ THĂM VIẾNG

523Ngày hôm nay là một ngày rất đặc biệt, có một không hai trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân loại.  Ngày đánh dấu sự gặp gỡ huyền diệu giữa hai người đàn bà thánh thiện được cưu mang những Đấng mà nhân loại hằng mong đợi: đó là Maria, Mẹ của Chúa Giêsu, và người chị họ là Elizabeth, mẹ của Thánh Gioan Tẩy giả.

Như đã được thuật lại trong Phúc Âm của Thánh Luca, chính Đức Mẹ Maria đã khởi đầu cuộc hành trình thăm viếng Elizabeth ở một nơi rất xa làng Nagiarét của Mẹ.  Bởi vì vừa khi Thiên thần truyền tin việc thụ thai nhiệm mầu cho Đức Mẹ Maria, thì Thiên Thần cũng báo cho Đức Mẹ biết là bà Elizabeth, “người đàn bà có tiếng là son sẻ” cũng đang mang thai một con trai trong “tuổi già của bà.”  Câu chuyện muốn nói lên rằng sự thụ thai một cách mầu nhiệm của bà Elizabeth là một đảm bảo cho những lời hứa của Thiên Chúa đối với Đức Mẹ Maria: vì rằng “Không có sự gì mà Thiên Chúa không thể làm được.”  Đó có lẽ là động lực đầu tiên thúc đẩy Đức Mẹ Maria đến viếng thăm bà Elizabeth để tự chính mình trông thấy người đàn bà đã được liên kết một cách lạ lùng với kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Khi bà Elizabeth vừa nghe lời chào mừng của Maria thì hài nhi trong bụng bà nhảy mừng.  Elizabeth liền thốt: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và con lòng bà gồm phúc lạ.”  Vừa khi nghe lời chúc phúc của Elizabeth thì bỗng chốc Maria liền cảm nghiệm được Thiên Chúa soi sáng cho mình ý thức được sự bày tỏ và thực hiện những lời hứa của Thiên Chúa, đặc biệt là những lời hứa nầy có liên quan đến những người nghèo khổ và những kẻ bị áp bức.  Do đó Đức Mẹ Maria đáp lại bằng một ca vịnh tuyệt vời, “Magnificat”:

Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa,
Và thần trí tôi hớn hở mừng vui trong Chúa Đấng cứu độ tôi,
Vì Người đoái thương nhìn phận tôi tớ mọn hèn…
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường
Kẻ nghèo đói Chúa ban đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay không.

Đây là một viễn tượng phi thường và có tính cách phá đổ trong đó ân huệ của Thiên Chúa đối với hai người phụ nữ khiêm tốn được xem như là để báo trước cho một đảo ngược toàn diện thể chế xã hội: vinh thăng kẻ nghèo hèn!  Hạ bệ kẻ thù của họ!

Niềm vui chan chứa của cuộc thăm viếng nầy làm tan đi bất cứ điềm báo nào về cái giá mà họ phải trả sau nầy.  Vả lại, cũng không có dấu hiệu gì về viễn tượng biểu lộ trong ca vịnh của Maria dẫn đến cái chết của hai hài nhi đang nhảy mừng trong lòng mẹ.  Tuy nhiên ngày đó còn xa vời lắm.  Hôm nay, nhân ngày lễ trọng để kính nhớ Đức Mẹ Maria Thăm Viếng Bà Thánh Elizabeth” chúng ta nhớ đến sự vui mừng gặp gỡ và tình chị em của hai phụ nữ liên kết niềm tin của họ trong Thiên Chúa Toàn Năng.

Phó Tế J.B. Huỳnh Mai Trác

TÔI ĐI TU!

523Bà ôm tôi, bảo rằng bà hãnh diện vì tôi.

Bố trầm ngâm, chẳng nói gì, bảo rằng tôi đã lớn, hãy tự quyết định cho cuộc đời.

Mẹ rươm rướm nước mắt, lo lắng, chẳng biết tôi vào “trong đó” rồi sẽ ăn ngủ ra sao.

Có một người con gái cũng vì tôi mà nhỏ lệ.

Đám bạn thân, có đứa chúc mừng, có đứa bàng quan, có đứa cười khẩy, bảo “thằng này ngu, tự nhiên đánh mất cả đời trai phơi phới”!

Uhm, phải, “đời trai” cũng đẹp mà.  Cả cuộc đời dài đằng đẵng, chỉ có một lần duy nhất, người đàn ông sở hữu cái gọi là “đời trai.”  Ở cái tuổi đang hừng hừng sức sống này, một người con trai đang có trước mặt mình cả một vùng trời tươi sáng.  Biết bao con đường đang mở ra, nhìn đâu cũng toàn những viễn cảnh tươi đẹp.  Những phong ba bão táp dường như chẳng có gì đáng sợ cả.  Sức ta có, ý chí ta mạnh, ta chỉ biết con đường thẳng mà phóng tới, chẳng hề nghĩ ngợi hay đắn đo.  Những dự phóng, những kế hoạch, ta không hề thiếu.  Rồi công danh, sự nghiệp, tiền đồ phía trước như đang vẫy gọi ta.  Cả một hay thậm chí nhiều tình yêu đẹp sẽ đến với ta, làm con tim ta tan chảy hoặc nở rộ những cánh hồng tươi.  “Đời trai” hệt như một con sóng cuồn cuộn, tất cả sinh lực của trời đất như hừng hực trong mình.  Con đường vinh hoa, con đường thăng tiến như hiển hiện trước mắt, chỉ cần một bước nữa là tới thôi.

Thế nhưng, tôi bỗng dưng lại chọn cho mình một hướng rẽ.  Gạt đi những lời mời gọi hướng đến sự cao sang, tôi lại đặt bàn chân lên “một đoạn đường chẳng mấy ai đi,” một con đường gai góc.  Đi tu là đi đâu vậy?  Thú thật tôi cũng chẳng biết.  Phía trước tôi là một màn tối âm u.  Tôi chỉ nghe nơi đó vẳng lại một tiếng gọi mơ huyền, vây cuốn trái tim tôi và bảo tôi cứ men theo tiếng nói âm vang ấy mà cất bước.  Đi tu là chọn một con đường không biết đích đến, trong khi mọi chỗ an toàn để mình bám víu thì phải bỏ lại hết đàng sau.  Cứ liều mình bước đi như vậy, giữa một tư thế chông chênh, lấy niềm tin mà lao tới. Có đôi khi tôi tự hỏi bản thân: liệu mình có được mời gọi thật không, hay chỉ là do mình ảo tưởng, chuyện gì xảy ra khi bất chợt lúc nào đó tôi phát hiện ra mình đã nhầm.  Tôi tin vào tiếng gọi nhưng cũng có lúc tôi không khỏi lo sợ và dẫn đến nghi ngờ.

Đi tu, tôi có phải là một thánh nhân đâu.  Tôi vẫn còn đó những yếu đuối của một kiếp con người.  Tôi vẫn mong được ăn sung mặc sướng, muốn được ấp ủ chiều chuộng và thích làm theo ý riêng.  Càng đi tu, tôi càng nghiệm thấy rõ điều đó hơn, rằng tôi đến với Chúa bằng trọn vẹn một con người đầy loang lỗ, đầy vết nhơ, đầy thiếu sót.  Trước khi đi tu, tôi cũng ấp ủ nhiều lý tưởng cao đẹp, rằng tôi muốn dâng mình cho Chúa, muốn thuộc về Chúa, muốn cứu độ tha nhân.  Nhưng càng đi tu, tôi thấy mình như bị phô bày ra trước mắt biết bao nhiêu thiếu sót.  Càng sống trong đời tu, tôi càng cảm thấy xấu hổ khi nghĩ đến chuyện mình được hiến thánh, cảm thấy bất xứng khi có ai đó nói rằng tôi là người của Chúa, cảm thấy ngại ngùng khi bản thân mình còn chưa vẹn toàn, nghĩ gì đến chuyện cứu giúp người ta.  Sau bao nhiêu năm miệt mài theo Chúa, tôi vẫn còn thấy mình xa Chúa lắm, con đường thập giá tôi vẫn còn chưa ôm trọn vào người, bài học phục vụ tôi vẫn còn chưa đặt để vào con tim.  Có đôi khi, tôi còn mượn danh tu sĩ để tô vẽ cho bản thân những ánh hào quang giả tạo.

Nhưng càng đi tu, tôi càng nghiệm thấy Chúa yêu thương tôi vô điều kiện.  Ngài luôn đón nhận tôi, bất chấp những giới hạn và yếu đuối của tôi.  Bạn bè tôi không hiểu tại sao tôi huỷ hoại “đời trai” chỉ vì một lý tưởng mơ hồ nào đó.  Còn tôi, tôi cho rằng đặt đời mình vào tay Chúa thì “đời trai” của tôi mới sinh hoa kết quả dồi dào.  Chắc chắn là phải có những hy sinh, nhưng cảm nghiệm được một tình yêu lạ lùng từ Chúa giúp tôi thấy được nơi thập giá cuộc đời những cánh hoa tươi đẹp.  Đi tu, trước hết chỉ là “đến và ở lại” với Ngài, rồi sau đó mới là thoả sức tung cánh muôn phương.  Tôi không đi tu để trốn tránh cuộc đời vô thường, không tìm một chốn thanh tịnh nào đó để xa lánh thế gian.  Tôi lên núi gặp Chúa chính là để xuống núi với tha nhân, tôi tách mình ra khỏi thế giới là để có thể dấn thân vào nó nhiều hơn, sâu hơn.  Tôi đi tu là để hoà mình vào một tình yêu siêu nhiên và nhờ đó làm phong phú cho đời sống của mình.  Bởi thế, nên đời tu của tôi đẹp lắm!

Đường còn xa, lối đi còn muôn nẻo.  Hành trình đời tu vốn dĩ không bao giờ có sự chắc chắn và mãi mãi không có điểm dừng.  Niềm hãnh diện của bà, sự tin tưởng của bố, nỗi lo lắng của mẹ, nước mắt của cô gái kia, và cả những bỡn cợt của bạn bè, tôi khắc ghi vào tim, tôi để nó sánh bước song hành với mình.  Chẳng ai biết được tôi có trọn tình vẹn nghĩa với Chúa ở tận cuối con đường!  Chẳng ai biết được tôi có thể giữ lòng thanh thoát những trước quyến rũ của thế gian chỉ để say tình Chúa!  Chẳng ai biết được… Nhưng tôi chỉ xin cho mình biết luôn tín thác như Abraham – cất bước ra đi mà chẳng biết đi đâu, một sự sẵn sàng như Mẹ Maria – chỉ cần Chúa muốn là xin vâng mau mắn.  Đi tu, không chỉ là sửa mình, tu chỉnh mình, nhưng hơn hết, đó là một sự hiến dâng, một lời đáp cho tiếng gọi trong u tối.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

*Đại từ “tôi” được sử dụng trong bài viết có ý nói đến những người dâng hiến cách chung chứ không nhất thiết là bản thân người viết.