Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 8 “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 31 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
5 phút cầu nguyện tâm tình với Chúa
Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 8 “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 31 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 9 “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 30 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 10 “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 31 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 11 “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 30 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
Tác Giả: Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Thông tin bản quyền: Miễn phí
Tập 12: “Cầu Nguyện Hy Vọng” gồm 31 bài suy niệm – cầu nguyện của Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Download tác phẩm: Sách dạng pdf, xin nhấn vào đây để tải về máy.
Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.
Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu”.
Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.
Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.
Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:
Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng ứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý
Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.
Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.
Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.
Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.
Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).
Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.
Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.
Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.
Khám phá ra hy vọng
Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.
Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).
Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.
Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.
Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình
Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.
Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.
Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:
Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.
Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).
ĐGM Gioan B. Bùi Tuần
Tục lệ tối Halloween nầy là dấu vết thời xa xưa còn sót lại của người La-mã dùng để tưởng nhớ người quá cố. Thuở ấy người La-mã có thói quen đúc mặt nạ của người thân mới qua đời để cất làm kỷ niệm. Mỗi khi trong gia đình có người chết thì người nhà phải mang tất cả các mặt nạ hiện có trong gia đình, sắp hàng dài đi trước quan tài, để dẫn đưa người vừa quá cố tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Nguyên tiếng Halloween, theo truyền thống Công giáo, bởi 3 tiếng ALL HALOWS’ EVE hoặc EVE OF ALL HALLOWS ghép lại, có nghĩa là “buổi tối áp lễ các thánh”… tuồng như các Thánh trên trời đi diễn hành trước mặt chúng ta để nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến các ngài, nhớ đến công ơn các ngài và thúc giục chúng ta noi gương các ngài trong việc làm con cái Chúa, và một mặt khác nữa là kêu xin chúng ta dâng lời cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.
Thật vậy, hằng năm Hội thánh Công giáo Hoàn vũ dâng ngày 01 tháng 11 dương lịch để kính mừng Các Thánh Nam Nữ trên trời và dành riêng trọn tháng 11 dương lịch, bắt đầu từ ngày mồng 02, để cầu nguyện cho Các Linh Hồn trong Luyện ngục.
Công Đồng Trentô dạy rằng các linh hồn ở Luyện ngục là thành phần của Hội Thánh cần nhờ đến lời cầu nguyện và hy sinh của chúng ta, những người còn sống. Giáo lý của Hội Thánh về Luyện ngục là điều có sức yên ủi lòng ta và tỏ bày lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa đối với chúng ta. Việc cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện ngục là một việc làm do tình thương thúc đẩy để bù đắp phần nào mối tình và bổn phận phải có đối với các kẻ đã qua đời mà có lẽ khi các ngài còn sống chúng ta đã không chu toàn.
Chứng Tích Về Luyện Ngục:
Những chứng tích về việc các Linh hồn ở Luyện ngục hiện về được Tòa Thánh công nhận thì nhiều lắm. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đơn cử một ít chứng tích, trong nhiều chứng tích, đang được trưng bày tại Thánh đường Đức Mẹ Mân Côi, Nữ Vương Luyện Hình tại Rôma. Khi có dịp hành hương về Rôma, kính mời quí vị đến kính viếng Vương cung Thánh đường này và ghé thăm phòng triển lãm.
Chứng tích 1: Bạn bè hiện về với nhau
Chúa nhật ngày 05 tháng 3 năm 1871, bà Palmira Rastelli, chị ruột của linh mục Santelli, chánh xứ Thánh Anrê tại Rimini, qua đời ngày 20-11-1870 đã hiện về với bà bạn là Maria Zelanti cũng thuộc giáo xứ Thánh Anrê để xin cầu nguyện và xin nhắn với ông anh linh mục dâng lễ cho mình. Để cho người còn sống vững tin thì linh hồn hiện về đã in dấu 3 ngón tay của mình trên cuốn sách nguyện của bà Zelanti. Dấu lửa in 3 ngón tay trên trang sách đã không thiêu hủy tờ giấy và cũng không làm mất các hàng chữ trên trang giấy.
Chứng tích 2: Vợ hiện về với chồng
Bà Louise Sénéchal, qua đời ngày 7 tháng 5 năm 1878, đã hiện về với chồng là Louis Sénéchal xin cầu nguyện và xin dâng cho bà 5 thánh lễ. Bà đã in 5 ngón tay lửa của mình lên chiếc mũ trùm đầu của chồng bà như là một dấu hữu hình để chồng và các con tin.
Chứng tích 3: Nữ tu hiện về với chị em trong tu viện
Nữ tu Clara Schoelers, Dòng Bênêđitô ở Vinnemberg, Westphalie, qua dời năm 1637 đã hiện về với nữ tu Maria Herendorps ngày 30 tháng 10 năm 1696 (59 năm sau). Để làm bằng chứng, linh hồn hiện về đã in dấu cháy hai bàn tay của mình trên áo khoác làm việc của nữ tu Maria Herendorps và trên một tấm vải trắng.
Chứng tích 4: Mẹ hiện về với con trai
Bà Leleux, trong đêm 21-6-1789, đã hiện về với người con trai là Joseph Leleux ở Wodecq (Bỉ). Bà hiện về 11 đêm liên tiếp để nhắc nhở con bà phải xin lễ cho bà, đồng thời bảo con bà phải sửa mình lại vì anh ta đang sống bừa bãi, khô khan nguội lạnh. Bà cầm tay con và in dấu cháy cả bàn tay bà vào ống tay áo của con. Kết quả là anh đã trở lại sống thánh thiện, lập một hội đạo đức dành cho giáo dân; các hội viên trong hội này đã thi đua nên thánh. Anh đã qua đời cách thánh thiện ngày 19-4-1825.
Chứng tích 5: Mẹ chồng hiện về với con dâu
Nhạc mẫu của bà Magarita Demmerlé thuộc giáo xứ Ellinghen, giáo phận Metz, qua đời năm 1785, và 30 năm sau, năm 1815 đã hiện về với con dâu. Bà buồn bã nhìn con dâu như có ý xin điều gì. Bà Magarita Demmerlé lên tiếng hỏi thì được mẹ chồng cho biết là mình về để xin con (dâu) cầu nguyện cho, bằng cách đi hành hương lên Đền Đức Mẹ ở Mariental. Người con dâu đã làm y như lời mẹ chồng xin. Sau cuộc hành hương ấy bà mẹ chồng hiện về với con dâu một lần nữa và báo cho biết là mình đã được ra khỏi Luyện ngục mà lên Thiên đàng. Bà Magarita xin một bằng chứng thì bà mẹ chồng liền in cả bàn tay mình lên trang sách Gương Phước đang để mở trên bàn. Và từ đó bà không còn hiện về nữa.
Hôm nay là dịp để chúng ta nhớ đến linh hồn những người thân yêu mà Chúa đã gởi đến trong cuộc đời như: ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái, cháu chắt, bằng hữu… Ta cũng nhớ đến những linh hồn bị quên lãng không có ai nhớ đến để cầu nguyện cho.
Bà Thánh Monica khi còn sống đã căn dặn con mình là Thánh giám mục Augustinô rằng: “Con ơi, khi mẹ chết rồi, con có thể chôn cất mẹ ở đâu cũng đươc. Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ mà cầu nguyện cho mẹ mỗi ngày khi con bước lên bàn thờ tế lễ Chúa”. Bà Monica khi còn sống đã đạt tới sự thánh thiện trọn hảo mà còn lo lắng cho thân phận mình sau khi chết như vậy.
Nơi một nghĩa trang ở Rôma, bên nước Ý-đại-lợi, ta đọc thấy hàng chữ này bằng tiếng La-tinh: “Hodie Tibi, Cras Mihi” có nghĩa là HÔM NAY BẠN (Hodie Tibi), NGÀY MAI TÔI (Cras Mihi)… nhắc chúng ta nhớ đến Sự Chết. Sự Chết không tha cho một ai cả. Có nhớ đến sự chết, có suy gẫm về sự chết mới biết phải sống thế nào cho đẹp để được chết lành.
Hôm nay chúng ta cầu nguyện cho người, ngày mai người khác sẽ lại cầu nguyện cho ta: Một sự vay trả, trả vay rất hữu lý. Hôm nay ta cầu nguyện cho các Linh hồn trong Luyện ngục, ngày mai khi được về hưởng nhan thánh Chúa trên trời, các Linh hồn người lành sẽ đền đáp lại cho chúng ta bằng lời chuyển cầu thần thế của các ngài trước mặt Chúa.
Lm Giuse Châu Xuân Báu, CSsR
Những lời Chúa nói hôm nay thật lạ lùng. Khác hẳn với những gì người đời thường nói. Nhưng đem đến cho ta biết bao niềm hy vọng.
Trước hết là niềm hy vọng hạnh phúc. Cuộc sống trần gian có nhiều khổ đau đến nỗi nhiều người gọi trần gian là thung lũng nước mắt. Ai cũng mơ ước được hạnh phúc. Nhưng hầu như hạnh phúc luôn ở ngoài tầm tay con người. Với những lời chúc phúc hôm nay, Chúa cho ta biết Chúa đã dựng nên con người để được hạnh phúc. Dù hiện nay ta còn phải chịu nhiều đau khổ, ưu phiền, khốn khó, nhưng những đau khổ, ưu phiền khốn khó đó sẽ qua đi. Vì cuộc sống này chỉ là tạm bợ. Hạnh phúc Chúa hứa sẽ vĩnh cửu vì cuộc sống đời sau không bao giờ tàn úa.
Tiếp đến là niềm hy vọng Nước Trời. Hạnh phúc ta được không ở tại đời này, nhưng ở trên Nước Trời. Trên Nước Trời ta được hạnh phúc vì được làm chủ nhân Nước Trời. Và trên Nước Trời, ta sẽ được an ủi, được thương xót, được làm con Chúa, được thấy mặt Chúa. Đó là hạnh phúc tuyệt đối không gì có thể so sánh được.
Sau cùng là niềm hy vọng được chính Chúa. Qua những lời chúc phúc. Chúa cho ta hiểu rằng Chúa chính là nguồn mạch sự sống của ta, là tất cả ý nghĩa đời ta, là hạnh phúc của ta. Được Chúa là được tất cả. Chúa là sản nghiệp lớn lao sẽ khiến ta trở nên giàu có. Chúa là niềm an ủi khiến ta không còn sầu khổ. Chúa là hạnh phúc tuyệt đối khiến ta thỏa chí toại lòng không còn khao khát gì nữa. Còn gì hạnh phúc hơn khi ta được chiêm ngưỡng Chúa tỏ tường, được làm con Chúa, được Chúa yêu thương.
Tuy nhiên để đạt được Chúa, bản thân ta phải được thanh luyện theo con đường Tám Mối Phúc. Chính Chúa Giêsu đã đi vào con đường đó. Người đã sống nghèo, đã sống hiền lành khiêm nhường, đã chịu giết hại vì rao giảng Tin Mừng. Người đã mở đường đi về hạnh phúc.
Các thánh là những người đã đi theo Chúa Giêsu trên con đường thanh luyện. Các ngài đã giặt áo trong máu Con Chiên nên áo của các ngài trắng như tuyết. Các ngài được hưởng hạnh phúc Nước Trời vì các ngài đã chịu thanh luyện trong cuộc sống trên trần gian. Các ngài được chính Chúa vì các ngài đã từ chối không ham mê dính bén những của cải trần gian.
Vì thế, lễ các thánh là lễ của niềm vui. Chúng ta vui mừng vì các thánh chính là thân nhân của chúng ta, là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn bè chúng ta.
Lễ các thánh là lễ của niềm hy vọng. Các thánh là người như chúng ta với tất cả những thiếu thốn, những yếu hèn. Các ngài đã đạt tới hạnh phúc Nước Trời. Như thế chúng ta hy vọng cũng sẽ được hạnh phúc Nước Trời như các ngài. Chúng ta còn hy vọng hơn nữa, vì Chúa đã hứa cho ta được hạnh phúc Nước Trời làm sản nghiệp. Lời hứa của Chúa là niềm hy vọng của chúng ta.
Nhưng lễ các thánh cũng là lễ của phấn đấu. Con đường dẫn ta tới Nước Trời là con đường Tám Mối Phúc. Đó là con đường phấn đấu từ bỏ mình, từ bỏ những ham hố tranh dành, chiếm hữu, thống trị. Phấn đấu sống khiêm nhường và nhất là yêu thương xây dựng hòa bình. Khi phấn đấu sống như thế, ta xây dựng Nước Trời từ trần gian, biến trần gian thành nơi hạnh phúc, biến mọi người thành anh em. Khi phấn đấu xây dựng Nước Trời như thế, ta góp phần xây dựng hòa bình trên trần gian.
Lạy các thánh nam nữ ở trên trời, xin cầu cho chúng con.
ĐTGM Ngô Quang Kiệt
Ngày Thiên Sứ truyền tin, cả vũ trụ và muôn loài trong trời đất đợi chờ lời đáp của Mẹ. Hai tiếng “Xin Vâng” đơn sơ ấy của Maria không phải chỉ liên can giữa Mẹ và Chúa, nhưng là với tất cả mọi loài thụ tạo, vì nó quyết định việc công trình cứu độ của Thiên Chúa có được thực thi lúc ấy hay không. Lời đáp ấy cũng mở đầu cho một hàng loạt những tiếng Xin Vâng khác trong cuộc đời Mẹ, có khi đau khổ đến vô cùng. Mẹ chấp nhận rủi ro có thể bị ném đá như hình phạt dành cho những người phụ nữ chưa ăn ở với chồng mà có thai, nếu bị Giuse tố giác. Ai sẽ tin rằng Mẹ thụ thai do quyền năng Thánh Linh? Ai tin rằng bào thai ấy là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa nhập thể? Mẹ đánh liều sự sống mình để theo Chúa, vì Mẹ tin Chúa sẽ có cách của Người. Cuộc đời có lắm trớ trêu, sở dĩ Mẹ có thể nói được lời Xin Vâng liên lỉ, ấy là nhờ niềm tin của mẹ vào Chúa luôn kiên vững không lay.
Thiên sứ nói với Mẹ rằng Mẹ sẽ cưu mang Con Chúa Trời. Một vinh dự vô cùng lo lớn. Nhưng rồi suốt mấy mươi năm làm mẹ Giêsu, Mẹ có được hưởng chút vinh quang nào đâu. Mẹ làm mẹ của một Thiên Chúa tự hạ và khó nghèo, Mẹ gắn chặt cuộc đời mình với vị Thiên Chúa ấy, nên đời Mẹ cũng luôn là một hành trình đi xuống và khiêm nhu. Có ai ngờ Chúa lại muốn hạ sinh khi đang lữ hành trên đường, nơi chuồng súc vật hôi tanh, ngoài trời đông lạnh lẽo. Vinh dự gì đâu chuyện một người phụ nữ lâm bồn trong hoàn cảnh bị xua đuổi ra ngoài đường, chứ không phải nơi chăn ấm nệm êm, có người chăm nom hầu hạ. Có ai ngờ Con Thiên Chúa quyền uy đến thế, lại cúi mình trước bạo quyền Hêrôđê, chấp nhập tị nạn sang Ai Cập. Mẹ cũng chịu cùng số phận như Con mình. Giữa đêm khuya lạnh lẽo, thân người phụ nữ vừa mới sinh con, còn yếu ớt, đã phải vội vã cất bước ra đi.
Ngày truyền tin, Thiên Sứ nói với Mẹ rằng người mà Mẹ cưu mang sẽ là một đấng anh hùng, sẽ ra tay cứu con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Nhưng đợi chờ mãi, 10 năm, 20 năm, 30 năm, tóc Mẹ có lẽ cũng đã pha sương, nhưng chẳng thấy nơi con trai của mình dấu hiệu gì của một đấng quân vương, ra tay giải phóng. Rồi ngày kia, con mình nghe được tiếng gọi của Cha, cất bước lên đường, rong ruổi khắp thôn này xứ nọ, truyền rao chân lý Tin Mừng. Mẹ vẫn an vui với cuộc sống lẻ loi một mình nơi làng nhỏ. Giuse lúc ấy có lẽ đã qua đời, Giêsu cũng bỏ Mẹ lên đường thực thi sứ mạng. Mẹ cô đơn nơi góc nhà quạnh vắng. Yêu con lắm, nhưng Mẹ biết Mẹ không nên làm điều gì níu kéo bước chân con. Mẹ lại trở về trong lặng thinh và cầu nguyện. Mẹ tiếp tục thưa tiếng “Xin Vâng”.
Rồi ngày kia, Mẹ như đau buốt con tim, ngàn lưỡi gươm như xé nát lòng Mẹ khi chứng khiến cảnh người con dấu yêu bị xử tử như một tên tội đồ. Trên đồi cao u ám, trước mặt Mẹ đây, không còn là một thân hình cường tráng, mạnh khỏe và đáng yêu như ngày nào, nhưng là một thân xác tả tơi vì dặm trường sương gió ba năm dong dủi trên đường, vì những đòn roi vô tâm, bội phản, vì những sỉ nhục của ganh ghét bạo quyền. Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của một người mẹ chứng kiến cảnh con yêu của mình bị giết chết nhưng không thể làm được gì? Đây là Đấng Cứu Thế ư? Đây là Con Thiên Chúa sao? Đây là Đấng dựng nên muôn loài, Đấng thống trị muôn dân, Đấng trỗi vượt trên các tầng trời sao? Trong giờ phút ấy, Mẹ mới hiểu được thế nào là xin vâng, Mẹ mới thấu được đâu là cái giá phải trả khi thưa tiếng Xin Vâng. Chính tại giây phút đau đớn nhất này, Mẹ đã sống hai chữ Xin Vâng trọn vẹn nhất.
Mẹ Maria trở thành một người cao cả không phải vì Mẹ đã làm được những chuyện phi thường to tát kinh thiên động địa, chuyển núi dời non. Nhưng như bà Elisabet từng nói, Mẹ diễm phúc là vì Mẹ đã tin. Chính thái độ đón nhận và vui sống một cuộc sống bình thường mới làm cho người ta trở nên phi thường hơn hết. “Xin Vâng” có nghĩa là trao phó hoàn toàn cho Chúa, là đón nhận lấy tất cả những gì xảy đến cho mình mà không ta thán hay hận đời, cả khi phải chạy trốn, khi bị xua đuổi, khi sống trong cảnh nghèo, khi đưa tay vẫy chào Con đi xa thi hành sứ vụ, khi tận mắt chứng kiến cảnh Con bị đánh đập và treo trên thập giá. Mẹ chẳng hiểu vì sao Con Mẹ lại phải chịu đựng một cái kết thảm thương đến vậy. Mẹ không hiểu tại sao một đời phụng sự Chúa của Mẹ lại mang đến cho Mẹ những khổ đau đến vậy. Mẹ không hiểu nhưng Mẹ tin vào sự công chính, tin vào chân lý, tin vào Chúa, Đấng mà Mẹ đã luôn kính yêu và tôn thờ. Mẹ vui lòng đón nhận hết vì Mẹ không bao giờ nghi ngờ Chúa, Mẹ không bao giờ đánh mất niềm hy vọng, không bao giờ chịu để cho những bất trắc ấy đánh gục ý chí và con tim tràn đầy cảm mến của Mẹ.
Vinh dự sinh ra Đấng Cứu Thế không cất khỏi Mẹ những phiền não lo âu. Trái lại, dường như chính vinh dự ấy còn khiến cho Mẹ phải đối đầu với những bất trắc nhiều hơn nữa. Nhìn vào gương của Mẹ, chúng ta như thấy được tiếp thêm sức mạnh vì chúng ta tin rằng Mẹ sẽ hiểu cho những tâm tư và muộn phiền mà ta đang trải qua. Ngước nhìn lên Mẹ, chúng ta được mời gọi để vui lòng đón nhận lấy tất cả những gì mà cuộc sống gửi đến với một niềm tín thác và mến yêu. Đêm đen rồi cũng sẽ qua đi, sóng gió rồi cũng sẽ không còn… Chắc chắn Chúa sẽ không bao giờ phụ lòng những ai luôn đặt trọn niềm tin vào Ngài. Thiên Đường chẳng ở đâu xa. Thiên Đường ở ngay trên cây thập giá, khi ta dám liều mình để bám vào ý Cha. Ngay trong những khi bế tắc đường cùng, mọi sự đều trở nên có thể với kẻ có lòng tin. Tình yêu của chúng ta dành cho Chúa sẽ được minh chứng ngay lúc chúng ta như bị rơi vào bóng tối đớn đau của kiếp người. Sống giữa cuộc đời, tránh sao được những lúc có sự cố bất ưng xảy đến với ta khiến ta như muốn ngã gục. Nhưng ta có đủ sức chịu đựng nó hay không là tùy thuộc ở việc niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa có đủ lớn hay không.
Các bạn thân mến, cũng giống như Mẹ, trí óc ta không thể nào hiểu thấu được mọi chuyện phi lý xảy ra giữa cuộc đời này. Nhưng chúng ta có noi gương Mẹ, cố gắng đón nhận hết mọi điều với một niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa toàn năng không? Cứ tin vào Chúa đi, bạn sẽ không bao giờ thấy mình thiệt thòi đâu. Mẹ Maria đã chứng minh cho chúng ta thấy điều đó.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Yêu thương là đặc điểm của con người. Thú vật có thể có cảm giác, nhưng đó không hẳn là yêu thương. Chỉ có con người được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa tình yêu mới thực sự được mời gọi yêu thương mà thôi.
Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta ơn gọi cao cả của con người. Trả lời cho thắc mắc của luật sĩ, Chúa Giêsu đã thu tóm tất cả lề luật thành một giới răn duy nhất là mến Chúa và yêu người. Hai mệnh lệnh này là một giới răn duy nhất, bởi vì không thể kính mến Chúa mà lại ghét bỏ hình ảnh của Ngài là con người, cũng như không thể yêu thương con người mà lại không nhận ra và yêu mến Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu chân thật. Tách biệt hai mệnh lệnh ấy là chối bỏ tình yêu. Các luật sĩ và các biệt phái thời Chúa Giêsu quả là những người đạo đức: Họ ăn chay, cầu nguyện và tỏ ra yêu mến Thiên Chúa hơn ai hết; thế nhưng Chúa Giêsu đã điểm mặt họ là những kẻ giả hình, bởi vì lòng yêu mến Chúa nơi họ không được thể hiện bằng tình yêu đối với tha nhân. Chúa Giêsu còn gọi họ là những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì bóng loáng, nhưng bên trong thì thối rữa. Có thể so sánh thái độ giả hình ấy với một người máy: người máy có thể làm được nhiều cử chỉ ngoạn mục, nhưng không có một tâm hồn để yêu thương thực sự.
Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Đạo. Đi Đạo, sống Đạo, giữ Đạo, xét cho cùng chính là yêu thương; không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn. Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, và ngài dẫn giải: “Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Đấng nó không thấy”.
Nguyện xin cho cuộc sống của chúng ta ngày càng được thanh luyện và gần gũi hơn với cốt lõi của Đạo là Yêu Thương.
Đ.Ô Phêrô Nguyễn Văn Tài
**********************************************
Lạy Chúa,
Ước gì con có thể yêu Chúa
Bằng một trái tim sốt mến,
Dứt khoát hiến dâng!
Ước gì con biết yêu Chúa vì Chúa
Và ở lại trong tình yêu Chúa
Như những nhà thần bí lớn đã biết yêu Chúa…
Chớ gì con có thể đồng thời yêu anh em
Bằng một trái tim nhân từ, niềm nở thủy chung,
Vì Chúa, vì anh em,
Mà vẫn đơn sơ, chân thành,
Ân cần săn sóc, hoà mình với họ,
Luôn sẵn sàng yêu mỗi người,
Yêu mọi người, xem tất cả là Dân Chúa.
Chớ gì con biết yêu anh em
Như Chúa yêu họ, như Chúa yêu con….
Song lạy Chúa, đâu có dễ như vậy
Đối với trái tim phàm hèn con,
Bao giờ cũng chứa đầy tự ái,
Có lúc lạnh lùng như sắt đá,
Có lúc quá trớn bồng bột…
Jean Dozolme