CHÚA KHÔNG PHÁN XÉT AI

Có một câu hỏi lâu đời về lòng nhân lành của Chúa, nó lâu đời cũng như tôn giáo chúng ta: Làm sao một Thiên Chúa toàn thiện lại có thể đày người nào đó xuống hỏa ngục muôn đời?  Làm sao Thiên Chúa đầy yêu thương và độ lượng mà lại có hình phạt đời đời?

Đó là một câu hỏi sai.  Thiên Chúa không đày bất cứ ai xuống hỏa ngục và Thiên Chúa cũng không tạo ra hình phạt đời đời.  Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống và lựa chọn thuộc về chúng ta để đón nhận hay từ chối nó.

Đức Giê-su nói cho chúng ta biết Thiên Chúa không phán xét bất cứ ai.  Chỉ có chúng ta mới phán xét nhau.  Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và  cũng không đày ai xuống hỏa ngục.  Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa hỏa ngục không tồn tại và nó không phải là một khả thể cho chúng ta.  Điều cốt yếu là cách Đức Giê-su giải thích chuyện này ở đây:

Thiên Chúa ban sự sống của Ngài cho thế gian và chúng ta có thể chọn lựa sự sống này hoặc từ chối nó.  Chúng ta tự phán xét mình trong hành động chọn lựa đó.  Nếu chọn sự sống, thì cuối cùng chúng ta sẽ chọn thiên đàng.  Nếu từ chối sự sống, thì chúng ta chết mà vẫn ở bên ngoài sự sống và cuối cùng đó là hỏa ngục.  Nhưng sự lựa chọn thuộc về chúng ta, Thiên Chúa không đày chúng ta đi đâu cả.  Hơn thế, hỏa ngục không phải là một hình phạt tích cực Thiên Chúa tạo ra để bắt chúng ta phải chịu.  Hỏa ngục là sự vắng mặt của một điều gì đó, ấy là, sống trong lòng sự sống dành sẵn cho chúng ta.

Nói lên tất cả điều này không phải là để nói không có hỏa ngục, hoặc hỏa ngục không phải là một khả thể có thật cho mọi người.  Hỏa ngục là có thật, nhưng nó không phải là một hình phạt tích cực Chúa tạo ra để thực thi công lý, trừng trị cái ác hay trừng phạt người cứng lòng không biết ăn năn khi phạm lỗi.  Hỏa ngục là sự vắng mặt của sự sống, tình yêu, sự tha thứ, cộng đoàn, và Chúa không đày bất cứ ai vào đó cả.  Chúng ta có thể kết thúc ở đó, bên ngoài tình yêu và cộng đoàn, nhưng đó là sự lựa chọn của chúng ta nếu chúng ta, một cách đáng trách, đã từ chối nó khi tất cả đều dành sẵn cho chúng ta ngay trong cuộc đời này.  Hỏa ngục, như John Shea từng nói, không bao giờ là một sự bất ngờ phục chờ ai đó đang hạnh phúc, nó là biểu hiện rõ ràng nhất của một cuộc đời từ chối tình yêu, sự tha thứ, và cộng đoàn.

Triết gia Jean Paul Sartre từng phát biểu câu nói nổi tiếng, hỏa ngục chính là người khác.  Nói ngược lại cũng đúng.  Hỏa ngục là những gì chúng ta trải qua khi đặt bản thân mình lên trên đời sống cộng đoàn với người khác.  Đời sống con người có nghĩa là chia sẻ đời sống, chia sẻ sự hiện hữu, góp phần của mình vào trong đời sống cộng đoàn, đời sống bao gồm Ba Ngôi Một Thể.

Kinh Thánh nói, Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở lại trong tình yêu, thì người ấy ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng ở lại trong họ.  Trong bối cảnh này, không nên hiểu tình yêu như kiểu tình yêu lãng mạn.  Bản văn không nói ai rơi vào lưới tình thì đều ở lại trong Thiên Chúa (dù điều này cũng có thể đúng).  Thật sự, bản văn này có thể được nói như sau: Thiên Chúa là hiện thân của sự chia sẻ, và ai chia sẻ đời sống mình với người khác, người ấy sống trong sự sống của Thiên Chúa.

Nhưng ngược lại cũng đúng.  Khi chúng ta không chia sẻ đời sống mình với người khác, chúng ta kết thúc đời sống mình ở bên ngoài sự sống.  Đó, thật sự, chính là hỏa ngục.

Hỏa ngục là gì?  Các hình ảnh trong Kinh Thánh nói về hỏa ngục không cố định và liên tục thay đổi.  Chung chung có khuynh hướng hình dung hỏa ngục là lửa, lò lửa cháy không bao giờ tắt, nhưng đó chỉ là một hình ảnh, và nó không nhất thiết là hình ảnh nổi trội trong Kinh Thánh.  Trong các điều được nói đến, Kinh Thánh nói về hỏa ngục như là nơi gánh chịu cơn phẫn nộ của Thiên Chúa, như ở ngoài tiệc cưới và lễ hội, nơi tang tóc, khóc lóc và nghiến răng, nơi giống như thung lũng Gehenna (chứa rác bên ngoài thành Giêrusalem), nơi bị giòi bọ rúc rỉa, như là lửa, như hụt buổi dạ tiệc, như ở bên ngoài nước trời, như sống với quả tim đau đớn bị bóp méo, như đang hụt sự sống.  Cuối cùng, tất cả những hình ảnh này đều nhắm đến một điểm chung: Hỏa ngục là nỗi đau và cay đắng, thứ lửa, chúng ta phải chịu khi, một cách đáng trách, chúng ta đã đặt bản thân mình ra ngoài đời sống cộng đoàn.  Và luôn luôn là tự mình gây ra.  Thiên Chúa không bao giờ áp đặt nó trên chúng ta cả.  Thiên Chúa không ban sự chết chóc và đày ai xuống hỏa ngục.

Khi Đức Giê-su nói về Thiên Chúa, Người không bao giờ nói Thiên Chúa ban cả sự sống và sự chết, Người chỉ nói Thiên Chúa ban sự sống mà thôi.  Sự chết có nhiều nguyên nhân, từ việc nói dối, hợp lý hóa, cay chua gắt gỏng, cứng lòng, và hỏa ngục.  Khi nói Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và đày bất cứ ai vào đó thì không có ý phủ nhận sự tồn tại của cái ác, tội lỗi và nguy cơ của hình phạt đời đời, điều này chỉ nhằm xác định các căn nguyên và làm rõ đó là ai, ai hay phán xét, ai hay kết án.  Thiên Chúa thì không; Ngài không tạo ra hỏa ngục cũng không đày ai vào đó cả.  Chúng ta thì làm cả hai.

Như Đức Giê-su nói trong Phúc Âm thánh Gio-an: “Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ.  Ai tin vào Người Con thì người đó không bị luận phạt; ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.  Và đây là án phạt, sự sáng đã đến với thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng… Ta không phán xét ai cả.”

Người không cần phán xét.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HỌC YÊU THÁNH GIÁ

Tình cờ tôi nghe bài hát “học yêu Thánh Giá”, từ web: mp3.zing.vn/bai-hat/Hoc-yeu-Thanh-Gia.

Lời ca ngắn gọn mà sâu sắc, giai điệu nhẹ nhàng cho tôi cảm nhận sâu lắng về tình yêu Thánh Giá Chúa Giêsu.

Thánh Giá là chữ T.
Người nằm giang tay chữ Y.
Là tình yêu, yêu đến tận cùng.
Yêu nhân gian chiều ngang.
Yêu đời mình chiều sâu.
Yêu Chúa là chiều cao.
Để tình yêu luôn mãi nhiệm mầu.

Thập giá là chữ T được tạo nên do hai thanh gỗ.  Thanh nằm tượng trưng cho sự chết và sự yếu đuối trải rộng.  Thanh đứng tượng trưng cho sự sống vươn cao.  Ý muốn của con người là thanh nằm.  Ý muốn của Thiên Chúa là thanh đứng.  Trên thập giá, Chúa Kitô chịu đóng đinh dang tay thành chữ Y.  Tình yêu là điểm giao thoa giữa thanh nằm của sự chết và thanh đứng của sự sống.  Cả ba chiều kích ngang, sâu, cao của thập giá đều quy tụ nơi tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.  Chúa Kitô đã đón nhận cái chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại.

Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh.  Tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt đến nỗi Chúa Cha “đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).  Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, là một hy lễ dâng lên Chúa Cha, cũng là sự tự hiến cho loài người trở nên lương thực nuôi sống chúng ta.

Thánh Phaolô nhấn mạnh sự tương phản chưa từng thấy trong mầu nhiệm Thập giá.  Sự hạ mình sâu thẳm của Đức Giêsu Kitô “Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.  Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu.  Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa” ( Pl 2,6-11).

Theo cái nhìn của Phaolô cũng như của Gioan, Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng chính là Chúa Giêsu được tôn vinh.  Đó là sự tôn vinh Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và Tình Yêu ấy đã biểu lộ rõ ràng nhất nơi Thập giá Chúa Kitô.  Không nơi nào Tình Yêu của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn như nơi “con người Chúa Giêsu chịu đóng đinh.”

Ca nhập lễ ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá đã mượn lời của Thánh Phaolô trong thư Galat 6,14 để hân hoan hát lên: “Niềm vinh dự của chúng ta chính là Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.  Nhờ Người, chúng ta được cứu độ, được sống và được phục sinh; chính Người cứu độ và giải thoát chúng ta.”

Kinh Tiền Tụng đã chú giải: “Thật vậy, xưa vì cây trái cấm, loài người chúng con phải tử vong, nay nhờ cây thập giá lại được sống muôn đời; và ma quỷ xưa chiến thắng nhờ cây trái cấm nay thảm bại vì cây thập giá của Đức Kitô, Chúa chúng con.”

Thánh Bonaventura viết: “Thánh Giá là cây toàn hảo, được thánh hóa bởi Máu Chúa Kitô, mang đầy trái thơm ngon.  Cây Thánh giá còn được phong phú hóa như là một loài cây quý hiếm và tươi thắm diễm lệ, hoa trái tràn đầy trong lời kinh ‘A Rất Thánh Giá’: “Khen cây thánh giá ở giữa rừng phàm, nên giống báu lành, nên cây sang trọng, nên đơn linh nghiệm, nên tàu vượt qua biển hiểm thế nầy….  Cây thánh giá tốt lành rất mực dìm dà êm mát, bóng che thiên hạ khỏi chốn hỏa hình.  Cội rễ, nhành lá, búp bông, hoa quả.  Từ xưa đến nay, cây nào dám ví bằng cây thánh giá, từ cây thánh giá chở mình Chúa Cả đóng đinh trên cây thánh giá”.

Tại bãi biển Copacabana tối thứ sáu 26-7-2013 đi Đàng Thánh Giá, Đức Thánh Cha Phanxicô diễn giảng Thập giá là: “Một tình yêu tuyệt vời khi đi vào tội lỗi của chúng ta và tha thứ cho nó, đi vào đau khổ của chúng ta và cho chúng ta sức mạnh để chịu đựng.  Đó là một tình yêu đi vào cái chết để chiến thắng nó và cứu vớt chúng ta.  Thập giá của Chúa Kitô chất chứa tất cả tình yêu của Thiên Chúa, lòng thương xót vô biên của Ngài.  Đây là một tình yêu mà chúng ta có thể đặt vào đó tất cả niềm tin của chúng ta, nơi chúng ta có thể tin tưởng.  Các bạn trẻ thân mến, chúng ta hãy phó thác cho Chúa Giêsu, chúng ta hãy phó thác vào Người một cách trọn vẹn!  (x. Ánh Sáng Đức Tin, 16).  Chỉ trong Chúa Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, chúng ta mới có thể tìm thấy phần rỗi và ơn cứu độ.  Với Ngài, sự dữ sự đau khổ và cái chết không còn quyền thế, bởi vì Ngài cho chúng ta hy vọng và sự sống: Ngài đã biến Thập giá từ một công cụ của sự thù ghét, sự thất bại và sự chết thành một dấu chứng của tình yêu, sự khải hoàn và sự sống”.

Đức Thánh Cha nhắc lại sự kiện vào cuối Năm Thánh Cứu Độ 1984, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã muốn tín thác Thập Giá Chúa cho người trẻ và ngài nói: “Các con hãy đem Thánh Giá vào trong thế giới như dấu chỉ tình yêu thương của Chúa Giêsu đối với nhân loại, và loan báo cho tất cả mọi người rằng chỉ nơi Chúa Kitô chết và phục sinh, mới có sự cứu rỗi và ơn cứu độ” (Diễn văn với giới trẻ, 22 tháng 4 năm 1984).  Kể từ đó, Thập Giá đã rong ruổi qua mọi đại lục, và đi qua các thế giới khác nhau nhất của cuộc sống con người, hầu như được thấm nhập bởi các tình trạng sống của biết bao nhiêu người trẻ đã trông thấy và đã mang Thập Giá đó.  Không có ai đụng tới Thập Giá Chúa Giêsu mà không để lại một cái gì đó của chính mình, và không đem một cái gì đó của Thập Giá Chúa Giêsu vào trong cuộc sống của mình.

Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa.  Bởi vì “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).  Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống.  Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ.  Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu.  Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Chúa Giêsu chết trên thập giá, muốn minh chứng rằng Người yêu thế gian hơn yêu chính mình.  Nơi thập giá, Chúa Giêsu chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là một tình yêu ở dạng thức cao nhất:  Tình Yêu đến mức tận cùng, một Tình Yêu tự hiến trọn vẹn của Thiên Chúa.  Yêu là hiến tế, là hy sinh chính mình.  Hiến dâng chính mình vì thiện ích của kẻ khác.  Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như là sự đền bù vì ơn cứu độ nhân loại.

Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô.  Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa.  Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta.  Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

Chúng ta yêu mến, tôn thờ Chúa Giêsu trên Thánh Giá.  Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú đang che mờ bóng thánh giá.  Con người đang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá.  Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn.  Từ Thánh Giá Đức Kitô, tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người.  Suy tôn Thánh Giá chính là suy tôn tình yêu, sự sống của Chúa Kitô.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ANH EM BẢO THẦY LÀ AI?

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Đức Giêsu đặt câu hỏi trên cho các môn đệ sau khi họ đã ở với Ngài và được Ngài sai đi (x. Mc 3,14), sau khi họ đã thấy việc Ngài làm, nghe lời Ngài giảng.

Hôm nay Đức Giêsu cũng đặt câu hỏi này cho tôi sau khi tôi đã theo đạo một thời gian dài, đã cầu nguyện và tham dự các bí tích…

“Còn anh, anh bảo Thầy là ai?”

Câu hỏi này nhắm thẳng vào tôi, đòi tôi phải trả lời.  Tôi không được trả lời qua loa hay máy móc.

Câu trả lời của tôi phải bắt nguồn từ một kinh nghiệm, kinh nghiệm gặp gỡ và quen biết Đức Giêsu.  Chẳng nên theo một người mà mình không quen và tin tưởng.

Đời tín hữu là một hành trình tìm kiếm không ngừng để khám phá ra khuôn mặt luôn mới mẻ của Đức Giêsu.

Ngài thật là một mầu nhiệm khôn dò và quá phong phú.  Chúng ta chỉ mon men đến gần, nhưng không sao múc cạn được mầu nhiệm ấy.  Phải thanh lọc những hình ảnh ta vốn có về Ngài.

Người làng Na-da-rét cứ nghĩ Đức Giêsu chỉ là bác thợ.  Gioan Tẩy Giả nghĩ Ngài là một Mê-si-a vinh quang toàn thắng.

Phải gột bỏ cái biết cũ về Ngài để đón nhận một Đức Kitô khác, vượt xa điều mình nghĩ.

“Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa.”

Cần trở nên trẻ thơ để nhận ra khuôn mặt thật của Giêsu.

Hôm nay, chúng ta dễ dàng trả lời như Phêrô: “Thầy là Đức Kitô,” và hơn Phêrô: “Thầy là Ngôi Lời nhập thể, là Con Thiên Chúa.”  Nhưng vấn đề không phải chỉ là trả lời đúng câu hỏi mà còn là sống tận căn thân phận của Thầy.

Ngay sau khi loan báo con đường khổ nạn mình sắp đi, Đức Giêsu loan báo con đường dành cho người môn đệ.  Môn đệ chỉ có một con đường, con đường của Thầy.

Thầy đã sống phận người với tất cả bấp bênh tăm tối, tôi có dám sống phận người của tôi trong niềm vui không?

Thầy đã chịu chết vì làm chứng cho sự thật, tôi có dám hiến mạng tôi vì Thầy và vì Tin Mừng không?

Thầy đã vượt qua đau khổ để vào vinh quang bất diệt, tôi có dám chọn con đường khiêm hạ và nghèo khó không?

“Người ta bảo Thầy là ai?”
Ta cần biết cái nhìn của con người hôm nay về Đức Giêsu.
Nhiều cái nhìn đúng nhưng chưa đủ.
Truyền giáo là giúp người ta biết đúng và đủ về Ngài.  Không phải là cái biết lý thuyết trong sách vở, nhưng là cái biết thân tình của người môn đệ.

Cuộc sống của ta vén mở căn tính của Đức Giêsu.
Dung mạo của ta phải mang nét đặc trưng của Ngài.
Đức Giêsu đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).
Chúng ta ao ước nói: “Ai thấy tôi là thấy Đức Giêsu.”

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con, nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt, và giữa ánh sáng, cũng có những bóng mờ đe dọa.

Lạy Chúa Giêsu,

Nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây, xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá Chúa đã thốt lên: Sao Cha bỏ con?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.
Xin đồng hành với con, để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm đối diện với những thách đố vì biết rằng cuối cùng chiến thắng thuộc về người có niềm hy vọng lớn hơn. Amen.

Trích trong ‘Manna’

PHƯƠNG THẾ DUY NHẤT

“Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.  Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.”

“Ai không lên núi của Thiên Chúa vào buổi sáng, sẽ hiếm khi tìm thấy Ngài dưới đồng bằng suốt thời gian còn lại!” – John Bunyan.

Kính thưa Anh Chị em,

Ý tưởng của Bunyan được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay.  Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện không chỉ buổi sáng, nhưng cả buổi tối và suốt đêm; sáng ngày, Ngài chọn các tông đồ.  Dường như với Ngài, cầu nguyện là ‘phương thế duy nhất’ khi phải chọn lựa!

Hơn các thánh sử khác, Luca miêu tả tính cách của Chúa Giêsu là một con người cầu nguyện!  Nhìn Ngài, xem ra không ai tất bật với việc rao giảng, chữa lành và thực hành xót thương như Ngài.  Nhưng dẫu bận rộn đến đâu, mỗi ngày, Ngài cũng dành cho mình những giờ phút “lên núi của Thiên Chúa” như một ưu tiên hàng đầu, “Từ sáng sớm khi trời còn tối mịt, Người ra đi đến một nơi hoang vắng và cầu nguyện tại đó;” hoặc trước một biến cố quan trọng, Ngài cầu nguyện suốt đêm.  Với Ngài, cầu nguyện là ‘phương thế duy nhất.’  Chọn lựa càng quan trọng, cầu nguyện càng khẩn thiết và lâu giờ hơn!

Giữa một thế giới dành giật, chúng ta bị cuốn vào cơn lốc của công việc, kể cả việc học hành hoặc ngay cả việc dấn thân phục vụ tha nhân trong các lãnh vực, thì chưa bao giờ chúng ta cảm thấy mình ngày càng có ít quỹ thời gian như ngày nay.  Đức Phanxicô cảnh báo, “Hãy cầu nguyện để khỏi mất đức tin.  Ai không cầu nguyện là rời xa đức tin, biến đức tin thành một ý thức hệ chỉ mang tính luân lý; ở đó, không có Chúa Giêsu!”; ngài nói, “Việc cầu nguyện không thể chỉ gói gọn trong một tiếng đồng hồ ngày Chúa Nhật; nhưng mỗi người cần sống mối tương quan thâm tình hằng ngày với Chúa Giêsu; nhờ đó, chúng ta mới có khả năng phân định và chọn lựa giữa bao điều phải chọn lựa!”

Bên cạnh đó, một yếu tố cực kỳ quan trọng khác là, đừng bao giờ quên rằng, điều nâng đỡ chúng ta nhất, chính là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dành cho mỗi người.  Ngài xướng cả tên lẫn họ của mỗi người trước Chúa Cha, Ngài tỏ cho Chúa Cha thấy những thương tích của từng người là giá cứu rỗi Ngài sẽ trả.  Vì thế, cả khi lời cầu nguyện của bạn và tôi chỉ lắp bắp – ảnh hưởng bởi một đức tin dao động – và nó chưa là ‘phương thế duy nhất’ của những chọn lựa, bạn vẫn không bao giờ được ngừng tin tưởng vào Ngài.  Tôi không biết cầu nguyện thế nào nhưng Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi!

Anh Chị em,

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.”  Đức Phanxicô nói, “Được hỗ trợ bởi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, lời cầu nguyện nhút nhát của chúng ta đậu trên đôi cánh đại bàng của Ngài và bay lên tận trời.  Ngài đang cầu nguyện cho tôi!”  Cũng thế, Mẹ Giáo Hội đang liên lỉ cầu nguyện cho tôi.  Mỗi ngày Giáo Hội không ngừng “lên núi của Thiên Chúa” – các bàn thờ – cùng Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha lời cầu và tạ ơn.  Giáo Hội cầu nguyện với Chúa Giêsu, cùng Chúa Giêsu; và tuyệt vời nhất, Giáo Hội và con cái của Giáo Hội được Chúa Giêsu cầu nguyện cho trước nhan Cha Trên Trời!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ‘phương thế duy nhất’ để con có thể chọn lựa mà không hối tiếc là cầu nguyện.  Vì càng nhận lãnh trong im ắng, con càng biết cho đi trong hành động!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CUỐN SÁCH MỘT CHỮ

Người ta kể chuyện rằng: ngày kia một văn sĩ bỗng nảy sinh ra một ý kiến ngộ nghĩnh.  Ông ta muốn viết một cuốn sách.  Mà cuốn sách ấy, ông muốn làm sao cho nó không được dài quá một trang.  Cuốn sách một trang này lại phải làm sao cho nó không được dài quá một dòng.  Dòng ấy phải làm sao cho nó chỉ vỏn vẹn có một chữ.

Chữ độc nhất ấy, cố nhiên, phải làm sao diễn tả được hết mọi tư tưởng cao xa, tốt đẹp của văn sĩ.

Ý nghĩ ấy ngày đêm ám ảnh ông ta, làm cho ông ta mất ăn, mất ngủ.  Làm thế nào viết được cuốn sách một chữ ấy?

Cuối cùng nhà văn kia đành ngồi khoanh tay bó gối, thở dài thất vọng…  Tất cả những danh từ trên thế giới, không đủ cung cấp tài liệu, và ý nghĩa cho công việc ông ta dự định thực hiện.

Nhưng, cuốn sách một chữ ấy Thiên Chúa đã viết được.  Chữ độc nhất, hàm súc mọi ý nghĩa, vừa hùng hồn, sâu rộng, vừa nhẹ nhàng ý nhị để diễn tả được những kỳ công kiệt tác trong vũ trụ.  Tất cả những gì là tươi mát, là xinh đẹp, tất cả những gì là đáng quý chuộng, đáng yêu thương, đáng đòi hỏi, đáng tìm kiếm, đáng ước ao, đáng khát vọng.

Chữ ấy là: Maria, tên của người Trinh Nữ đã được thiên Chúa tuyển chọn và tô điểm cho cân xứng với thiên chức làm Mẹ Ngôi Hai Nhập Thể, cân xứng để trở nên vườn địa đàng thật hoàn hảo, thật sặc sỡ, thật kiều diễm để trong cung lòng của Maria, Thiên Chúa sẽ cử hành một lễ cưới long trọng, không phải giữa một người với một người, nhưng là giữa Thiên Chúa và nhân loại.

Ngày hôm nay toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng ngày chào đời của công trình tuyệt hảo ấy của Thiên Chúa.  Hân hoan vì với tiếng khóc và nụ cười của em bé mang tên Maria này, vầng đông của lịch sử và công trình cứu rỗi của toàn thể nhân loại đã ló dạng.

Một ngày nọ, thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, gặp trong nhà thờ một người đàn bà có vẻ đang đau khổ nhiều.  Bà ta vừa trở thành góa phụ.  Ông chồng đã rơi từ cầu xuống sông và bị chết đuối.  Ông ta đã chết khi chưa kịp ăn năn thống hối.  Do đó, đối với bà, ông chồng chắc chắn đã mất linh hồn.

Cha Vianney đã nhẹ nhàng đến gần, và được Chúa soi sáng, cha đã nói:

–  Chồng bà đã được cứu thoát. Quá ngạc nhiên và tỏ vẻ không tin, bà ta lại hỏi:

 Thưa cha, làm sao lại có thể như vậy?  Cha Vianney cắt nghĩa:

 Có Chúa ở giữa chiếc cầu và dòng sông.  Chồng bà đã cùng rơi với Chúa và khi rơi, ông đã làm hòa với Ngài.

 Nhưng làm sao có thể như vậy được  Bà vợ hỏi lại:

 Ðó là một ơn của Ðức Mẹ.  Cha Vianney trả lời và cắt nghĩa tiếp:

 Vì một hôm, trên đường từ đồng về nhà, chồng bà đã hái một đóa hoa đem chưng trước tượng Ðức Mẹ ở bên đường.  Ðức Mẹ có thể quên được cử chỉ tốt đẹp này sao?

Mừng ngày sinh nhật của Mẹ Maria hôm nay, chúng ta hãy quyết hái nhiều chiếc hoa xinh đẹp dâng kính Mẹ.  Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính mẹ, như: lần hạt Mân Côi, đọc kinh truyền tin, nguyện kinh cầu.  Nhưng chúng ta hãy làm những việc đạo đức thông thường ấy một cách phi thường.  Có nghĩa là: miệng đọc, lòng suy và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, để cuộc đời của Ðức Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Chúa Giêsu, cũng được thể hiện trong cuộc sống của mỗi người trong chúng ta.

Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’

HÃY CAN ĐẢM LÊN

Một tác giả nào đó đã nói, đại ý: điểm khác biệt nổi bật nơi con người là có ý chí.  Không có ý chí, con người chỉ là khúc gỗ buông trôi theo dòng chảy cuộc đời.  Kinh nghiệm thực tế cho thấy, dù ở bất kỳ bậc sống nào, chúng ta cũng cần có ý chí và nghị lực để vươn lên.  Thời nào cũng có những cậu ấm cô chiêu cậy vào cha mẹ có chức có của, ỷ lại vào người khác.  Những người này, dù có được nâng đỡ cũng không thể thành nhân và thành đạt, nếu bản thân không có ý chí.  Vì thiếu nghị lực, một số người, trong đó có những người còn rất trẻ, đã dễ dàng quyên sinh khi gặp bế tắc.  Giữa dòng đời ngược xuôi bôn ba, đầy những cạm bẫy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: hãy can đảm lên!

Bài đọc I đưa chúng ta về lại thời lưu đày của dân Do Thái.  Họ bị bắt đi đày ở Ba-by-lon vào năm 587 trước Công nguyên.  Vua nước Giu-đa và các quan lại và hầu hết dân chúng đều phải rời quê cha đất tổ, sống cảnh tha hương nhục nhã ê chề.  Họ thường hướng về quê hương, tưởng nhớ quá khứ hào hùng của dân tộc.  Họ cầu nguyện xin Chúa giải thoát.  Và, Chúa đã báo tin vui qua môi miệng ngôn sứ I-sai-a.  Vị ngôn sứ khẳng định: “Can đảm lên đừng sợ!  Chính Thiên Chúa sẽ đến cứu anh em.”  Thực vậy, vào năm 538 trước Công nguyên, Thiên Chúa đã dùng vua Ba Tư là Ky-rô cho người Do Thái hồi hương để phục hồi xứ sở.  Thiên Chúa đã giải phóng dân Ngài.  Nhờ quyền năng của Ngài, sa mạc sẽ nở hoa, miền khô cạn sẽ thành ao hồ.  Con người sẽ được tự do.

Sống trên trần gian, hết thảy chúng ta đang là những người lữ hành.  Theo nhãn quan Ki-tô giáo, đích điểm của cuộc lữ hành này là Quê Trời, hay còn gọi là Thiên Đàng.  Người Ki-tô hữu tin rằng, họ không đơn lẻ trong hành trình này.  Họ luôn có Chúa đồng hành để nâng đỡ chở che.  Lịch sử cuộc đời cá nhân mỗi người ít nhiều đã chứng minh điều ấy.  Thiên Chúa không để con người ngã quỵ trên dòng đời.  Ngài nâng đỡ những ai kêu cầu và tín thác vào Ngài.

Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến trần gian để khẳng định: con người là tạo vật được Chúa yêu thương.  Ngài săn sóc họ chu đáo, đến nỗi mọi sợi tóc trên đầu đã được Ngài đếm cả (Lc 12,7).  Trong Bài Tin Mừng hôm nay, thánh Mác-cô kể lại việc Đức Giê-su làm phép lạ cho người vừa điếc vừa ngọng nói được.  Phép lạ của Chúa Giê-su đã ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I: “Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được.  Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò.”

Tại sao đôi khi trong Tin Mừng, Chúa Giê-su lại cấm không cho mọi người kể lại?  Các chuyên viên chú giải Kinh Thánh gọi đây là “Những bí mật thiên sai.”  Đức Giê-su không muốn cho công chúng biết rộng rãi về Người, vì chưa đến thời của Người.  Hơn nữa, Người không muốn cho người ta nghĩ Người như một nhà ma thuật phù phép, cũng không muốn cho họ mang quan niệm trần tục về sứ vụ Thiên sai.  Người muốn dần dần mạc khải cho công chúng, để họ đón nhận sứ điệp của Người và để họ nhận biết Chúa Cha là Đấng đã sai Người đến trần gian.

Qua phép lạ Chúa Giê-su đã làm, người bệnh được giải phóng khỏi mọi ràng buộc.  Thánh Mác-cô đã nói đến việc anh này được chữa khỏi, giống như có một sợi dây vô hình nào đã buộc lưỡi anh ta lại, và nay lưỡi được mở ra.  Cách nói này muốn diễn tả Đức Giê-su là Đấng đến để giải thoát con người.  Người dẫn đưa họ không phải chỉ thoát khỏi bệnh tật, mà còn thoát khỏi tội lỗi, khỏi những đam mê lôi cuốn và ràng buộc con người trong vòng cương tỏa của quyền lực ác thần.

Nhờ Bí tích Thanh tẩy, Ki-tô hữu cùng chết và phục sinh với Đức Giê-su.  Bí tích này làm cho Ki-tô hữu trở thành tạo vật mới, thoát khỏi hậu quả của tội Nguyên tổ.  Trong suốt cuộc lữ hành trần thế, Đức Giê-su là người chỉ đạo, người Thầy và người Bạn hướng dẫn chúng ta.  Tin vào Đức Giê-su, chúng ta phải thực hành lời Người giáo huấn.  Thánh Gia-cô-bê (Bài đọc II) đã khuyên các tín hữu: anh chị em đã tin vào Đức Giê-su thì đừng đối xử thiên tư, trọng người này và khinh người nọ.  Những gì thánh Gia-cô-bê viết trong thư phản ánh cho thấy vào thời của ngài, đã có sự chia rẽ phân biệt giữa người giàu và người nghèo ngay trong các cộng đoàn đức tin.  Ngày hôm nay, trong xã hội và trong các cộng đoàn giáo xứ của chúng ta, sự phân biệt ấy vẫn tồn tại.  Những chia rẽ và ghen tỵ này làm ảnh hướng không tốt đến hình ảnh của Giáo hội. Đức tin vào Chúa Giê-su phải giúp chúng ta đối xử thân thiện với hết mọi người, vì tất cả là anh chị em của cùng một Cha trên trời, như Chúa Giê-su đã nhiều lần khẳng định.

Giữa cuộc sống còn nhiều âu lo trăn trở trước những khó khăn, thất bại và lo toan cơm áo gạo tiền, xin cho chúng ta biết can đảm phó thác vào Chúa, là Đấng Quan phòng yêu thương chúng ta.  Hãy can đảm lên!  Chúa Giê-su đã dạy: Cha trên trời quyền năng và nhân ái vượt xa những người cha trần thế.  Ngài sẵn sàng lắng nghe và phù trợ chúng ta (x. Mt 7,7-12).

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

NỖI SỢ

Nếu không hoàn toàn là một thánh nhân hay một nhà thần nghiệm, bạn sẽ luôn sống trong nỗi sợ cái chết và đời sau.  Đó đơn thuần là một phần nhân sinh.  Nhưng chúng ta có thể và phải, vượt lên nỗi sợ của chúng ta trước Thiên Chúa.

Khi còn là đứa trẻ, tôi sống với nhiều nỗi sợ.  Tôi từng có một tưởng tượng rất sinh động và thường lặp đi lặp lại, hình dung thấy những kẻ sát nhân núp dưới giường mình, rắn độc bò trườn trên chân, những bả thuốc độc trong thức ăn, những kẻ bắt nạt đang tìm nạn nhân để hành hạ, và cả trăm cách khác khiến tôi phải chết, những mối đe dọa đủ kiểu đang lẩn khuất trong bóng tối.  Khi còn nhỏ, tôi thường sợ, sợ bóng tối, sợ chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa.

Khi trưởng thành, những tưởng tượng của tôi cũng trưởng thành, không còn hình dung rắn bò khắp nơi hay có kẻ giết người rình rập.  Tôi bắt đầu thấy mạnh mẽ lên, tự chủ, hình dung những sự vô minh với các góc tối của nó là một cơ hội để lớn lên hơn là một mối đe dọa sự sống.  Nhưng dẹp đi nỗi sợ rắn rết, sợ kẻ sát nhân giấu mặt và sợ bóng tối, là một chuyện.  Còn để vượt qua được nỗi sợ cái chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa lại là chuyện khác, khó hơn nhiều.  Những nỗi sợ này là những con quỷ cuối cùng cần phải trừ đi, và phép trừ tà này không bao giờ tiễu trừ hoàn toàn được.  Chính Chúa Giêsu đã run rẩy trong nỗi sợ chết, trước những chuyện vô minh mà chúng ta phải đối diện trong cái chết.

Nhưng Ngài không run rẩy trước Thiên Chúa, và đó là sự khác biệt.  Khi đối diện với cái chết và sự vô minh, Ngài có thể trao trọn bản thân cho Thiên Chúa Cha, với niềm tin của một người con, như đứa bé bám vào cha yêu thương của mình, và chính điều đó cho Ngài sức mạnh và can đảm để tiếp tục đi qua cái chết vô danh, cô độc và bị hiểu lầm, với phẩm giá, trìu mến và tha thứ.

Chúng ta không bao giờ cần phải sợ Thiên Chúa.  Thiên Chúa là Đấng đáng tin cậy.  Nhưng tin tưởng Thiên Chúa cũng bao hàm một nỗi sợ lành mạnh trước Thiên Chúa, bởi một nỗi sợ nhất định là một phần tự có của tình yêu.  Kinh thánh nói rằng: Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan.  Nhưng nỗi sợ đó, nỗi sợ lành mạnh, phải được hiểu là một sự tôn kính, một sự kinh đảm yêu thương, một tình yêu sợ mình khiến người yêu thất vọng.  Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của tình yêu, sợ mình phản bội, sợ mình không chung thủy với một tình yêu nhưng không.  Chúng ta không sợ người mà chúng ta tin tưởng, không sợ người đó đột nhiên trở nên độc đoán, bất công, ác độc, không thể hiểu nổi, tàn bạo, và không còn yêu thương.  Không.  Mà là chúng ta sợ rằng liệu chúng ta có xứng đáng với niềm tin tưởng được đặt nơi chúng ta không, có thể là niềm tin của ai đó, và có thể là niềm tin của Chúa.

Nhưng chúng ta phải tin tưởng rằng Thiên Chúa thông hiểu con người.  Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta luôn ý thức để tâm đến Ngài.  Thiên Chúa chấp nhận bản tính lang bạt của tâm hồn chúng ta.  Thiên Chúa chấp nhận những mệt mỏi và kiệt nhọc của chúng ta.  Thiên Chúa chấp nhận nhu cầu cần lơ đãng và thoát ly của chúng ta.  Thiên Chúa chấp nhận rằng chúng ta thường dễ chìm vào giải trí hơn là cầu nguyện.  Và Thiên Chúa còn chấp nhận sự kháng cự của chúng ta với Ngài, cả nhu cầu muốn kiêu ngạo khẳng định sự độc lập của mình.  Như một người mẹ trìu mến ôm đứa con đang la hét giãy đạp, nhưng lại đang cần được bồng ẵm và nâng niu, Thiên Chúa cũng có thể xử trí những cơn giận, thương thân và kháng cự của chúng ta.  Thiên Chúa hiểu con người, nhưng chúng ta phải đấu tranh để hiểu con người có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa.

Trong nhiều năm, tôi sợ rằng tôi đã quá chìm vào trong những chuyện của đời này, tự nhận mình là một con người có tâm linh, tôi luôn sợ rằng Chúa muốn nhiều hơn nữa nơi tôi.  Tôi cảm thấy tôi phải dành thêm thời gian để cầu nguyện, nhưng thường thì đến lúc đó tôi lại quá mệt để cầu nguyện, quá hứng thú xem một trận cầu trên tivi, hay quá thích thú được ngồi lại với gia đình, đồng nghiệp, hay bạn bè, nói về đủ chuyện ngoài những chuyện tâm linh.  Trong nhiều năm, tôi sợ rằng Thiên Chúa muốn tôi phải tâm linh tuyệt đối.  Có lẽ là thế thật.  Nhưng khi có tuổi, tôi bắt đầu nhận ra rằng hiện diện với Chúa trong cầu nguyện và hiện diện với Chúa trong lòng, thì giống như hiện diện với một người bạn đáng tin cậy vậy.  Trong một tình bạn nhẹ nhàng thoải mái, bạn bè không dành hết thời gian để nói về tình cảm dành cho nhau.  Mà họ nói về đủ thứ chuyện, tán gẫu, thời tiết, công việc, con cái, những cơn đau đầu, những chuyện đau lòng, mệt mỏi, những chuyện vừa xem được trên tivi, đội bóng yêu thích, những chuyện chính trị, và chuyện đùa mới nghe được.  Và dù thế, thỉnh thoảng đôi bạn thân cũng than phiền rằng lý tưởng nhất mình nên nói về những chuyện sâu sắc hơn đi chứ.  Có nên không nhỉ?

Gioan Thánh Giá đã dạy rằng, trong bất kỳ tình thân lâu dài nào, đến tận cùng những chuyện quan trọng nhất bắt đầu xảy ra dưới bề mặt, và những đàm đạo bên ngoài trở thành thứ yếu.  Ngồi lại với nhau, thoải mái với nhau, cảm giác như đang ở nhà, đó là những gì chúng ta trao cho nhau trong tình thân.

Và trong mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, cũng đúng như thế.  Thiên Chúa tạo dựng chúng ta làm con người, và Thiên Chúa muốn chúng ta, những con người với đủ yếu đuối lơ đãng, hiện diện trong Ngài với sự thanh thản, thoải mái và cảm giác như đang ở nhà.  Nỗi sợ Thiên Chúa có thể là tôn kính mà cũng có thể là nhút nhát, mà tôn kính thì lành mạnh còn nhút nhát là hoang tưởng.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỰ KINH NGẠC ĐÃ KHÔNG CÒN

Trong bài thơ với tiêu đề Is/Not, văn hào Canada Margaret Atwood gợi ý khi tình yêu trở nên tê dại, thì chúng ta sẽ thấy mình như thế này:

Chúng ta kẹt nơi đây
Ở bên này biên giới
trong đất nước của những con đường mòn nát,
những tòa nhà nhạt nhẽo
chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn
thời tiết thì bình thường
và tình yêu thuần túy
chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Tình yêu có thể trở nên tê dại giữa hai con người, cũng như ở cả trong văn hóa.  Và chuyện đó đã xảy ra trong văn hóa chúng ta, ít ra là ở phần lớn văn hóa. Sự háo hức từng một thời hướng dẫn đôi mắt chúng ta đã nhường chỗ cho một tê dại và thoái lui nào đó.  Chúng ta không còn tươi mới và sảng khoái trước cuộc đời.  Chúng ta đã thấy nó mang lại gì và đã cam chịu chấp nhận một mức độ nào đó.  Ở đó chỉ có thế thôi, nó đâu có tuyệt vời đến thế!  Tất cả những gì chúng ta có thể nỗ lực bây giờ là có thêm những thứ như cũ, với một hy vọng sai lầm, nếu chúng ta cứ tăng thêm liều thì hiệu quả sẽ tốt hơn.

Họ nói về những người già, nhưng người già thật ra lại trẻ trung trong trái tim.  Chúng ta ở mặt chống đối, người trẻ mà không còn trẻ trung trong lòng.  Sự kinh ngạc đã không còn.

Căn nguyên của chuyện này là gì?  Điều gì tước đi sự kinh ngạc khỏi chúng ta?  Sự quen thuộc và hậu duệ của chúng: cầu kỳ, kiêu hãnh về tri thức, thất vọng, buồn chán và khinh dễ.  Sự quen thuộc sản sinh ra khinh dễ và khinh dễ là phản đề của hai điều cần có để kinh ngạc trước thế giới: tôn kính và tôn trọng.

Tác giả G.K. Chesterton từng nói, quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất.  Thi sĩ Elizabeth Barrett Browning cho chúng ta một diễn đạt thi ca về điều này: Địa cầu đầy dẫy thiên đàng.  Bụi cây nào cũng có lửa của Thiên Chúa.  Nhưng chỉ có người nào nhìn thấy, họ cởi giây.  Số còn lại ngồi quanh nhặt trái và vô thức bôi bẩn mặt mình.  Đoạn thơ này mô tả rất đúng ảo tưởng của sự quen thuộc, nhặt trái mâm xôi trong khi bất cẩn bôi bẩn mặt mình, không biết mình đang ở trước sự hiện diện của đấng thánh.  Sự quen thuộc biến mọi thứ thành bình thường.

Vậy bài học là gì?  Làm sao để chúng ta phục hồi ý thức kinh ngạc?  Làm sao để chúng ta lại một lần nữa nhìn thấy ngọn lửa thần thiêng trong đời thường?  Chesterton gợi ý, bí quyết để phục hồi sự kinh ngạc và thấy được ngọn lửa thần thiêng trong đời thường chính là nhìn vào những thứ quen mắt cho đến khi chúng lại trở nên không quen mắt.  Theo Kinh Thánh, đây là điều mà Thiên Chúa yêu cầu ông Môsê khi ông nhìn thấy một bụi cây bốc cháy giữa hoang mạc và tò mò tiến lại gần ngọn lửa đó.  Thiên Chúa phán với ông: “Hãy cởi giày ra, nơi ngươi đang đứng là đất thánh.”

Câu này, lời mời độc nhất này, chính là bí quyết để phục hồi ý thức kinh ngạc của chúng ta mỗi khi chúng ta thấy mình kẹt ở bên này biên giới, trong đất nước của những con đường mòn nát, những tòa nhà nhạt nhẽo, chẳng có gì ngoạn mục để ngắm nhìn, thời tiết thì bình thường và tình yêu thuần túy dường như chỉ có trên những thứ đồ lưu niệm rẻ tiền nhất.

Một trong những giáo sư cao học của tôi thỉnh thoảng khuyên chúng tôi thế này: Nếu hỏi một đứa bé ngây thơ có tin có Ông già Noel không, nó sẽ trả lời có.  Nếu hỏi một đứa bé sáng suốt thì nó sẽ trả lời không.  Nhưng nếu hỏi một đứa trẻ sáng suốt hơn, nó sẽ mỉm cười và bảo là có.

Ý thức kinh ngạc của chúng ta ban đầu dựa vào sự ngây thơ khi là đứa trẻ, khi chưa quen thuộc một cách không lành mạnh với thế giới này.  Đôi mắt chúng ta vẫn mở to để ngạc nhiên trước sự mới mẻ của vạn vật.  Dĩ nhiên, điều đó thay đổi khi chúng ta lớn lên, trải nghiệm và học hỏi.  Chẳng mấy chốc, chúng ta biết sự thật về Ông già Noel và như thế, rất dễ dàng kèm theo cái chết của sự kinh ngạc, đồng thời sự quen thuộc khai sinh sự khinh dễ.  Đây là sự vỡ mộng, một giai đoạn chuyển tiếp bình thường trong đời, chứ không phải là đích đến cuối cùng trong đời.  Nhiệm vụ của tuổi trưởng thành là phục hồi lại ý thức kinh ngạc và một lần nữa, vì những lý do rất khác biệt, mà tin vào chuyện Ông già Noel.  Chúng ta cần đem sự kinh ngạc này trở lại.

Tôi từng nghe một người khôn ngoan chia sẻ câu chuyện này: Cứ hình dung một đứa bé hai tuổi hỏi bạn, “buổi tối, mặt trời đi đâu ạ?”  Với một đứa trẻ ở tuổi đó, đừng lấy quả địa cầu hay quyển sách ra để cố giải thích cách mặt trời điều hành.  Cứ trả lời với đứa bé, mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc.  Tuy nhiên, khi đứa bé đã sáu hay bảy tuổi, đừng cố giải thích như thế nữa.  Giờ đã đến lúc lấy sách ra và giải thích về hệ mặt trời.  Sau đó, khi đứa bé lên cấp ba hay đại học, thì lấy sách của Steve Hawking, Brian Swimme và các nhà vật lý thiên văn để nói về nguồn gốc và sự tạo thành vũ trụ.  Cuối cùng, khi người đó 80 tuổi, đủ hợp lý để chúng ta lại nói “mặt trời mệt rồi và đang ngủ sau kho thóc.”

Chúng ta đã quá quen thuộc với buổi hoàng hôn!  Nhưng sự kinh ngạc có thể biến cái quen thuộc thành không quen thuộc một lần nữa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CÁI NÀO QUAN TRỌNG

Khoảng 2 giờ, một buổi sáng lạnh và gió lớn, chuông điện thoại nhà xứ reo, có tiếng hốt hoảng la lên: “Tôi tưởng ông ngoại qua đời.”  Vì chỉ cách 2 căn phố.  Cha Murray đi bách bộ, khi ngài qua một ngõ hẻm, chợt xuất hiện một bóng hình cầm cây súng bước tới truyền lệnh: “Đưa tiền đây!”  Vị linh mục nói với người cầm súng: “Ví của tôi để ở trong túi áo khoác.”  Khi ngài mở nút áo khoác để lấy ví, để lộ chiếc cổ áo Roma.  Kẻ cướp ấp úng: “Ôi con không biết cha là linh mục, con xin lỗi, cha cất tiền đi.”   Bình tĩnh lại vị linh mục đưa cho y một điếu thuốc xì gà, nhưng y lắc đầu: “Không, cám ơn cha, trong mùa chay con không hút thuốc.”

Kẻ cướp đường đã hành động như một người Biệt phái.  Người Biệt phái giữ hết sức chi tiết những điều lệ nhỏ nhặt của luật Do Thái, trong khi đó lại bỏ bê những giới răn quan trọng.  Đó là lý do Đức Kitô khiển trách họ.  Họ ghét Chúa Giêsu vì Người đe dọa địa vị của họ, như những người lãnh đạo tôn giáo.  Họ dò xét Chúa, cố gắng bắt bẻ Người trong lời nói.  Họ chỉ trích Người đã hòa mình với người thu thuế và tội lỗi.  Người đã bỏ qua lệ rửa tay chân như trong bài Tin Mừng hôm nay.  Họ nói Chúa Giêsu không thể tha tội.  Người dùng quyền lực của quỷ mà trừ quỷ.  Họ làm điều lành chỉ cốt cho người ta thấy.

Ngày nay còn người Biệt phái không?  Bất hạnh thay, vẫn còn.  Đây là một vài kiểu Biệt phái tân thời: Những người Công giáo lẫn lộn những cái không quan trọng với cái thật sự quan trọng.

Giả sử tôi nói với một người nào đến trễ lễ: “Bạn bất lịch sự.”  Chắc người ấy cho rằng bị xỉ nhục.  Nhưng vì lỗi mình, đến lễ trễ, là một sự xúc phạm đến Chúa, làm lo ra những người trong nhà thờ và cho vị chủ lễ.  Có người mỉm cười với bất kỳ ai gặp trong nhà thờ, dĩ nhiên điều đó tốt.  Nhưng họ không nói một lời với Chúa trên bàn thờ cũng như đi dự đại tiệc, chỉ nói chuyện với mọi người, trừ ông chủ tiệc.  Cái nào quan trọng?

–  Có những người Công giáo và những người khác nữa, họ không nghĩ rằng họ sẽ tổ chức hay dự một bữa tiệc nếu có một vết nhơ trên bàn, hay trên dĩa hoặc trên quần áo của họ.  Nhưng ngôn ngữ của họ không phải chỉ có vết nhơ, mà nó thật sự thô bỉ, một sự thô bỉ bên trong hơn là bên ngoài như Chúa Giêsu đã chỉ rõ trong bài Tin Mừng hôm nay.

–  Có người trong chúng ta ra ngoài thì hoang phí, rộng rãi với anh bồi ở quán rượu, hào phóng với cô chạy bàn; nhưng lại rất keo kiệt với người thân thương, và với Chúa.

Nhiều người không bao giờ quên câu nói: “Xin vui lòng, cám ơn, xin lỗi,” khi ở ngoài gia đình.  Nhưng giữa những người thân yêu, ít khi bạn nghe được những từ quan trọng ấy.  Bạn có thể nghĩ đến những hoàn cảnh, trong đó bạn phải sạch sẽ, lịch sự, hào hiệp, chỉ khi nào những hoàn cảnh đó được trình diễn trước mặt mọi người, để đạt được tín nhiệm hoặc tránh khỏi phê bình.  Hãy cố gắng đừng làm Biệt phái.

Cám ơn Chúa vì phần lớn những người chân thành, họ đặt người khác và sự vật vào đúng vị trí trật tự của nó.  Như đặt Thánh Lễ lên đầu bảng danh sách những việc quan trọng.

Xin Chúa chúc lành bạn.
Gm. Arthur Tone

THÁNH NỮ MONICA

Có những giọt nước mắt đem lại hạnh phúc cho người khác.  Có những giọt lệ làm lay chuyển tâm hồn người khác.  Giọt nước mắt của người mẹ luôn có tác dụng rất lớn đối với con cái.  Giọt nước mắt của thánh nữ Monica đã biến đổi cả cuộc đời của Augustinô, người con trai, đầu lòng thông minh nhưng ngang tàng, trụy lạc.  Thánh nữ Monica đã cầu nguyện, đã khóc lóc, Chúa đã nhậm lời và ban cho con của thánh nữ là Augustinô ơn cải hóa từ tâm, ơn đổi mới tâm hồn, ơn làm đẹp con tim: con tim mới, cái nhìn mới.

Một Con Người

Có một người nữ được sinh ra trong một gia đình đạo hạnh, thánh thiện: tên người nữ ấy là Monica.  Monica sinh vào năm 332 tại làng Sucara bên Phi Châu.  Gia đình Monica vốn có truyền thống đạo đức, yêu thương tha nhân, yêu thương người nghèo.  Được sống trong bầu khí đạo đức của gia đình, Monica sớm trở thành một cô bé ngoan hiền, nhiệt thành, sốt sắng.  Ngay từ lúc còn nhỏ Monica đã có tâm hồn quảng đại yêu thương người nghèo: mỗi bữa cơm Monica thường dành ra một phần cho người đói túng thiếu và Monica thường tìm chỗ vắng vẻ để thân mật nói chuyện với Chúa.  Monica đã biết biến những phút giây gặp gỡ người nghèo, chia sẻ cho người nghèo, cầu nguyện làm hạnh phúc cho đời mình.  Cô đã biết biến những phút giây ấy làm phút giây cứu độ cho mình và cho người khác.

Con người đạo đức vẫn thường gặp truân chuyên như nhiều người thường nói.  Ông Gióp đã là chứng minh hùng hồn cho cuộc đời thánh thiện, nhưng gặp toàn những chuyện thử thách, rắc rối.

Thánh Giuse là người công chính nhưng cũng gặp đắng cay nếu không hiểu được ý Chúa, chắc chắn Người đã đứt gánh giữa đường.  Monica cũng nằm trong diện ấy.  Năm 22 tuổi, vì vâng lời cha mẹ, thánh nữ đã kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi quí phái, nhưng tính tình xấu xa, ngang ngược, độc ác và lại hơn Monica cả hai con giáp.  Đau khổ nhưng Monica đã chấp nhận ý cha mẹ và âm thầm cầu nguyện cho chồng vì thánh nữ xác tín mình sẽ cứu được một linh hồn trở về với Chúa.  Nhờ lòng quả cảm, đức tính khiêm nhường, và nhờ cầu nguyện vững tin vào Chúa, Monica đã cảm hóa được người chồng và sau này bà sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng sau này chính nhờ những giọt lệ thành tâm và nhờ lời cầu nguyện liên lỉ của thánh nữ, Augustinô đã trở lại và trở nên thế giá, trở nên thánh.

Vẫn Giọt Nước Mắt Của Monica

Monica tuy sống trong một gia đình ngoại giáo, đã luôn chứng tỏ bà có Chúa ở cùng.  Sự thánh thiện, lòng quảng đại, yêu thương của Monica đã cảm hóa được người chồng ác độc, ngang tàng, ích kỷ.  Monica luôn dậy con cái biết mến Chúa, yêu người.  Bà luôn yêu thương con cái với tất cả con tim, với tâm hồn đầy ắp Chúa.  Bà đã biết biến mọi giây phút trong cuộc đời của bà trở thành những giây phút, những cơ hội hồng ân để thay đổi lòng người khác.  Chính cái phút giây bà vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius đã thay đổi đời bà, nghĩa là bà đã chấp nhận điều mình không ưa thích để biến nó thành phút giây cứu độ cho mình và cho người mình sẽ sống, sẽ nhận làm chồng dù rằng bà biết bà sẽ phải đau khổ nhiều, phải hy sinh, phải từ bỏ.  Tình yêu Đức Kitô thúc bách bà.  Bà đã đi tới cùng, bà đã làm thay đổi chồng, con và biến đổi người con trụy lạc, ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp cho Giáo Hội.  Qua những giọt lệ của Monica, qua lời cầu xin tha thiết của bà, Monica đã làm thay đổi tất cả, đã làm mới mọi sự để bà có thể nói được như ông già Siméon: “Giờ đây xin để tôi tớ ra đi bình an…”

Thánh nữ Monica đã qua đời năm 387 sau khi Augustinô được thánh Giám mục Ambrosiô rửa tội.  Thánh nữ được an táng tại Otti.  Đức Thánh Cha Martinô truyền đem xác thánh nữ về nhà thờ Thánh Augustinô ở Roma vào năm 1430.

Lạy Thánh nữ Monica,

Xin ban cho các bà mẹ công giáo luôn có tâm hồn thánh thiện và đạo đức  như thánh nữ.
Xin cho các bà mẹ luôn biết giáo dục con cái mình biết mến Chúa và yêu người.
Xin cho các bà mẹ công giáo luôn biết nêu gương sáng cho con cái trong đời sống để con cái nhiệt thành mến Chúa và yêu tha nhân.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT