GIUSE: CON NGƯỜI CỦA MÙA CHAY

Trong niên lịch Phụng vụ hiện hành tháng ba kính Thánh Giuse thường trùng hợp với thời gian Phụng vụ Mùa Chay, tín hữu được mời gọi để nhìn lên Thánh Giuse như một mẫu gương và đồng thời hướng đến lễ Phục sinh như một chuẩn đích đang đến gần.  Sự trùng hợp ấy lặp đi lặp lại khiến tôi có ý nghĩ: Giuse là con người của Mùa Chay.

Gọi như thế không muốn nói ngài đã thực hành việc ăn chay nghiệm ngặt hơn mấy ông Biệt phái; gọi như thế cũng chẳng có ý xa gần ám chỉ đến kiếp chồng chay chồng hờ chả sơ múi gì như kiểu nói vui của mấy vị xồn xồn; nhưng gọi như thế chỉ muốn nêu lên những đức tính nổi bật của ngài, vừa tự nhiên, vừa dễ dàng gần gũi cho mọi người trong hướng sống Mùa Chay, nhất là trong khuôn khổ những ngày tĩnh tâm ở đây.

1. Gọi Giuse là con người của mùa Chay vì lý do thứ nhất là ngài yêu thích sự lặng thầm.

Cuộc đời của Giuse qua Phúc Âm là một cuộc đời gắn liền với gia đình thánh, một cuộc đời có nhiều sóng gió bất ngờ.  Thế nhưng, trên nền những sóng gió ấy, người ta gặp thấy một Giuse hoàn toàn lặng thầm, lặng thầm đến độ khó tin.  Trong Phúc Âm, Đức Maria vốn thích giữ kín và suy niệm trong lòng, ít ra người ta cũng nghe được nơi Mẹ bảy lời vắn gọn gợi mở suy tư, đằng này, tìm đỏ mắt cũng chẳng gặp một lời nào của Giuse hết, ngay cả một lời vâng vắn gọn, ngay đến một tiếng thở dài.  Tuyệt đối không.

Điều này được chứng thực qua những biến cố trong đời của ngài.  Sau biến cố truyền tin, thuở Giuse và Maria mới quen nhau, người ta muốn thấy một Giuse nhút nhát không nói được một câu nào.  Rồi khi đã đính hôn, Giuse bỗng thấy Maria đã đổi khác nơi vòng số hai, thì thay vì phải làm cho ra lẽ, người ta lại thấy một Giuse băn khoăn, cạy miệng cũng chẳng hé lời.  Có người bảo Giuse yếu, có kẻ nói Giuse dại.  Mặc kệ.  Ồn ào quá dễ, còn biết im lặng trong tình huống căng thẳng như thế không phải ai cũng làm được.  Im lặng vốn là quê hương của những tâm hồn lớn mạnh. “Phải can đảm mới bền gan yếu đuối, phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ.”

Nhưng phải đến biến cố tìm lại Chúa Giêsu sau ba ngày lạc mất trong Đền thánh, người ta mới thấy lặng thầm là điều Giuse đã chọn lựa như châm ngôn cuộc đời.  Trong biến cố ấy, thay vì trong tư cách trưởng gia đình, có thể trách móc Chúa Giêsu như những người cha khác, người ta thấy Giuse lùi lại đằng sau cho Maria tiến lên, người ta thấy Giuse rút vào im lặng cho Maria cất tiếng mở lời.  Rõ ràng, đây không chỉ là một tính cách tự nhiên, mà còn là một chọn lựa thực thi đến độ thuần thục.

Thinh lặng là nét đẹp của chay tịnh.  Giuse yêu thích sự im lặng, ngài là con người của Mùa Chay.

Trong dịp hành hương tại Nagiarét quê hương của Giuse, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy ngoài đường phố, trong cửa hiệu buôn bán, thậm chí ngay ở quầy tiếp tân của khách sạn, tuyệt nhiên không có lấy một bóng người phụ nữ.  Họ ở đâu, không ai biết rõ, chỉ biết chắc rằng tất cả mọi sinh hoạt công khai ngoài mặt phố đều do đàn ông đảm trách.  Tôi thắc mắc, và hướng dẫn viên đã giải thích rằng: đây là xã hội của đàn ông, đàn bà không có quyền ăn nói, thậm chí không có quyền xuất hiện.  Trong một nếp sống như thế, lẽ ra Giuse có quyền và có bổn phận phải nói, nhưng một khi ngài đã chọn thinh lặng, ắt hẳn sự thinh lặng ấy phải có một giá trị đặc biệt.  Vâng, đó là tĩnh tâm, đó là đi vào sa mạc tâm hồn, đó là đường vào của một tình yêu.  Thảo nào cha Philippon, OP, đã có lần viết : “Ai yêu mến sự thinh lặng sẽ được Thiên Chúa dẫn tới thinh lặng của mến yêu.”

2. Gọi Giuse là con người của Mùa Chay, vì lý do thứ hai, ngài biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

Cầu nguyện theo định nghĩa đầy đủ gồm nhiều động tác như thờ lạy, tạ ơn, tạ tội, dâng hiến, xin ơn.  Nhưng với Giuse, đơn giản thôi, cầu nguyện có nghĩa là lắng nghe và thực thi ý Chúa.  Sự lặng thầm của ngài không phải là một thứ ù lì chẳng có gì để nói ra, hay một thứ trống rỗng chẳng thấy chi mà ghi nhận vào.  Ngược lại, đó là điều kiện để ngài cầu nguyện.  Từ ngữ “giấc mơ” mà Phúc Âm nhắc đi nhắc lại nhiều lần, không muốn nói tới một điều gì khác ngoài hình ảnh của một tâm hồn bỏ ngỏ cho thánh ý Thiên Chúa tự do tác động.  Giống như chiếc ống sáo sẵn đợi đó cho làn hơi Thiên Chúa thổi vào làm phát ra những giai điệu ngọt ngào đầm ấm.

Trong biến cố phải đưa Chúa Giêsu và Mẹ Maria lánh nạn sang Ai Cập, rồi sau đó từ Ai Cập trở về Nagiarét, Giuse đã cho thấy một dáng hình cầu nguyện không thể quên được.  Ngài vâng nghe và thực hành lệnh Chúa mau mắn đến độ lạ lùng.  Thảo nào, con người ấy phút trước đã có thể đi vào giấc ngủ một cách ngon lành, lại còn mơ một cách vô tư, phút sau đã choàng tỉnh dậy khẩn trương lên đường.  Thế mới biết người quen lắng nghe và thực thi ý Chúa thì tâm hồn họ bình an chừng nào.  Ta gọi đó là tâm tình phó thác.  Nghe tưởng dễ, nhưng thực ra từ nghe Lời Chúa đến thực hành Lời Ngài là cả một khoảng cách không chỉ đo bằng thiện chí, mà còn bằng nỗ lực không ngừng.  Vất vả đường lưu lạc và bơ vơ nơi đất khách, đó là cái giá Giuse phải trả cho đời phó thác tin yêu.

Mùa Chay cũng là mùa cầu nguyện, là mùa bắc những nhịp cầu thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa bằng những kinh nguyện hằng ngày, nhưng cầu nguyện không chỉ là cầu kinh, nghĩa là đọc những kinh quen thuộc soạn sẵn trong sách toàn niên như thói quen đạo đức vốn được thực hiện trong các giáo đường, mà cầu nguyện còn là lắng đọng tâm hồn nhận ra ý Chúa mà đem ra thực hiện.  Bằng một hình ảnh khá gợi ý, có tác giả tu đức bảo rằng : nhiều người chỉ quen chắp tay cầu nguyện mà không biết mở tay ra đón nhận ý Chúa.  Trong ý hướng ấy, tinh thần cầu nguyện biết lắng nghe và thực thi ý Chúa của Giuse cũng là tinh thần cầu nguyện Mùa Chay cần có cho đời tín hữu.

Có lần một bạn trẻ tân tòng hỏi tôi phải làm những gì khi cầu nguyện, bởi anh không thuộc kinh như những giáo dân đạo gốc, đạo dòng vốn đọc kinh từ khi còn bé, tôi hỏi xem anh đã làm gì khi đến nhà thờ.  Anh cho biết: mỗi lần đến nhà thờ anh chỉ biết ngồi đực ra nghe: nghe đọc, nghe giảng, nghe hát.  Thế thôi, Anh thích lắm nhưng không làm gì hơn được.  Tôi bảo anh: tốt lắm, anh đã bắt đầu cầu nguyện rồi đấy, nhưng mới được một nửa, còn một nửa nữa anh có thể tự làm lấy không cần sách vở kinh kệ gì cả, đó là hãy sống những gì anh tâm đắc khi nghe được nơi giáo đường.  Cứ nghe và thực hiện như thế, dần dần anh sẽ biết cách cầu nguyện cho mà xem.  Qủa nhiên, sau này mỗi khi gặp lại tôi, anh đều xa gần nhắc lại:  cách cầu nguyện như thế đã giúp anh sống đạo rất nhiều, nhất là nó đã giúp anh vượt qua được những nghịch cảnh không thiếu trong cuộc sống hiện tại, khi mà vẫn thấy đó đây cái cảnh dật dờ dắt díu dây dưa, đạo đời điên đảo đá đưa đôi đàng.

3. Gọi Giuse là con người của Mùa Chay, còn vì ngài đã tận tụy quên mình phục vụ.

Qua cương vị là “bạn thanh sạch của Đức Maria trọn đời đồng trinh”, có lẽ người ta chỉ cảm nhận được một sự hiện diện nhạt nhòa của Giuse cặm cụi làm được mọi việc, trừ mỗi việc làm chồng, thế mà trên vai lại chất chồng không biết bao nhiêu là trách nhiệm.  Nhưng chính ở đó đã sáng lên hình ảnh của một con người tận tụy hy sinh.  Đối với thánh nhân, làm là cách nói hay hơn cả.  Không băn khoăn, chẳng dị ứng, ngài hết mình làm việc bổn phận được trao phó và hết tình gắn bó yêu thương để trở nên trụ cột không phải của một mái nhà che nắng trú mưa cho qua ngày đoạn tháng, mà là cột trụ của một mái ấm gia đình ở đó mọi thành viên đều cảm nhận được hạnh phúc an sinh.

Qua cương vị là “cha nuôi của Đấng Cứu Thế,” có lẽ người ta cũng chỉ thấy sự có mặt của một người đàn ông lủi thủi, phải cưu mang giọt máu chẳng phải của mình.  Nhưng đó lại là ơn gọi lớn Giuse đã khẳng định được với tất cả ý thức trách nhiệm cao độ quên mình.  Tất nhiên, không có Thánh Giuse vẫn có Chúa Giêsu, nhưng Chúa Giêsu ấy sẽ khác lắm, không có một gia đình đúng nghĩa, cũng chẳng được pháp luật chở che.  Nhưng bởi vì đã có Thánh Giuse, nên Chúa Giêsu đã có nơi an toàn để mà lớn lên trước mặt Thiên Chúa và trước mắt người đời.  Chính ở điểm này, hậu thế thích xưng tụng Thánh Giuse là người tận tụy canh giữ Đấng Cứu Thế, đúng như tên gọi một Tông huấn về Thánh Giuse của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Thực ra thì Phúc Âm có gọi Thánh Giuse là người công chính, nhưng danh xưng đẹp nhất của thánh nhân chính là danh xưng đặt ngài trong tương quan với Chúa Giêsu và Đức Maria.  Thành thử, qua cương vị “bạn thanh sạch Đức Maria” và “ Cha nuôi Đấng Cứu Thế,” Thánh Giuse đã xuất hiện như một người tận tụy hy sinh quên mình phục vụ.  Với tính cách ấy, ngài chính là con người của Mùa Chay, bởi Mùa Chay cũng là mùa phục vụ.

Tuần trước, ở một giáo xứ nhỏ mới tách ra khỏi giáo xứ mẹ được vài tháng, thấy hầu hết những người trong ban đại diện đều là người trẻ độ 30, tôi ngẫu hứng nói đến tính cách trẻ của yếu tố nhân sự trong Giáo hội.  Sau đó, một người trẻ chia sẻ lại với tôi rằng: anh góp mặt trong ban hành giáo không nhắm đến một quyền lợi nào trong tôn giáo cả, mà chỉ muốn đóng góp cùng với người khác một chút gì đó gọi là phục vụ.  Bởi anh hiểu phục vụ không phải là nói mà là làm, phục vụ không phải là làm vì mình mà là làm cho người khác, rồi phục vụ không phải là làm để cho người khác biết, mà chỉ để một mình Chúa biết thôi.  Tôi lưu ý anh: coi chừng, khi nhấn mạnh đến phục vụ như thế là dấu hiệu cho biết mình vật lộn để có tinh thần phục vụ ấy.  Anh thú nhận rằng đúng, và bảo rằng đó là điều anh phải chọn lại mỗi ngày.  Tôi bỗng hiểu ra: quên mình chính là điều kiện tiên quyết cho phục vụ, và phục vụ có ý nghĩa nhất là phục vụ khởi đi từ sự quên mình.  Như Thánh Giuse đã quên mình, như Thánh Giuse đã phục vụ Đấng Cứu Thế.

Tóm lại, im lặng, nghe và thực thi Lời Chúa, đồng thời quên mình để phục vụ, đó là ba đức tính làm nên một Giuse, con người của Mùa Chay.

Trong một thành phố lớn khá ồn ào như Sài Gòn đây, có là lạc điệu không khi nói đến sự tĩnh lặng?  Trong một nhịp sống kinh tế nhốn nháo thời hội nhập có đầy đủ gió đông gió tây ùa vào, vàng thau lẫn lộn, như một mời mọc giới trẻ, có là lỗi điệu không khi đề cao việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa?  Và cuối cùng, trong một bầu khí cạnh tranh thi thố khả năng, qua đó người tài mới được tuyển dụng, còn phó thường dân nam bộ chỉ biết cặm cụi ngày hai buổi đến xưởng đến trường, có là đơn điệu không khi nhà thờ lại cứ thích kêu gọi sống tinh thần phục vụ?

Những câu hỏi ấy và những câu tương tự có thể do người khác hay do tự ta đặt ra với mình, luôn luôn là những trăn trở gợi mở suy tư và gọi mời chọn lựa.  Không có câu trả lời soạn sẵn như những người thi vào quốc tịch Mỹ, chỉ cần nhấn nút cuốn Kim Tự Điển là gặp thấy đáp án, rồi ráng học thuộc lòng là xong.  Vâng, không có giải pháp làm sẵn, nhưng bù vào đó vẫn có những mẫu gương, những kinh nghiệm, và Thánh Giuse chính là một trong số những mẫu gương gần gũi bình dị ấy.

Thật vậy, đặt ngài trong tương quan với tiếng gọi Mùa Chay, người ta sẽ thấy Giuse như một mẫu gương đời thường khiến ta sẵn sàng noi theo soi bóng, như một kẻ đồng hành dầy dạn kinh nghiệm sẵn sàng chỉ bảo cho ta phương cách hữu hiệu để sửa chữa đổi đời, và còn hơn thế nữa, như một Vị bổn mạng đầy thế lực sẵn sang chuyển cầu cho ta trong những tình huống khó khăn gay cấn nhất của sức khoẻ linh hồn.

Xin nhờ kinh nghiệm của ngài ngày xưa đã thành công trong trách vụ anh giữ Đấng Cứu Thế, ngày nay cũng nâng đỡ phù trợ mọi người trong nhiệm vụ gìn giữ Đấng Cứu Thế trong chính cuộc đời ta và cuộc đời những người lân cận, có thể không bằng cánh tay ở phía trước, nhưng rất thường là bàn tay âm thầm phía sau cho ta được nâng đỡ thôi thúc vững vàng đi lên

Xin Thánh Giuse cầu cho chúng con biết sống Mùa Chay trọn vẹn như ngài.  Amen.

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống

CÁI TÔI THAO THỨC

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton sống ở một ẩn viện bên ngoài tu viện, hy vọng được cô tịch thêm, nhưng cô tịch là một điều viển vông, và nó cứ mãi chạy trốn ngài.

Rồi một sáng nọ, trong một khoảnh khắc, ngài nhận thấy mình đã tìm thấy cô tịch.  Tuy nhiên, điều ngài trải nghiệm đã làm cho ngài ngạc nhiên.  Hóa ra, cô tịch không phải là một tình trạng ý thức được biến đổi hay là một nhận thức cao hơn về Thiên Chúa và sự siêu việt trong cuộc đời chúng ta.  Theo những gì ngài trải nghiệm, thì cô tịch đơn giản là bình an trong chính mình, ý thức một cách tri ân và hít lấy một cách bình an sự phong phú vô vàn trong cuộc đời mình.  Cô tịch hệ tại ở việc thân mật ngủ với trải nghiệm của mình, bình an trong đó, ý thức sự phong phú và kỳ diệu của nó.

Nhưng đâu dễ như vậy.  Hiếm được như vậy lắm.  Chúng ta hiếm khi thấy mình bình an với thời khắc hiện tại trong bản thân mình.  Vì sao?  Vì chúng ta được dựng nên như vậy.  Chúng ta quá hăng hái so với thế giới này.  Khi Thiên Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, thì như sách Giảng viên đã nói, Ngài đặt sự “vô tận” vào lòng chúng ta và vì thế chúng ta không dễ bình an với cuộc sống của mình.

Chẳng hạn như, trong đoạn về nhịp điệu các mùa trong sách Giảng viên.  Tất cả mọi sự đều có thời điểm và thời của nó.  Một thời để sinh, một thời để chết, một thời để gieo, một thời để gặt, một thời để giết, một thời để chữa… cứ thế mà tiếp.  Rồi sau khi đưa ra nhịp điệu tự nhiên của thời gian và các mùa, tác giả kết lại bằng những lời này: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời.

“Vô tận” trong tiếng Do thái là Olam, một từ có cùng ý với “vĩnh cửu” và “siêu việt.”  Một vài bản dịch tiếng Anh viết như sau: Thiên Chúa đã đặt ý thức về quá khứ và tương lai vào lòng chúng ta.  Có lẽ lối diễn đạt rõ nhất cho điều này chính là cách chúng ta thường trải nghiệm điều này trong đời mình.

Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng thật khó để bình an trong thời khắc hiện tại, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên.  Chúng luôn mãi nhuốm màu lên quá khứ.

Quá khứ ám ảnh chúng ta với những lời ru và giai điệu mà chúng ta nửa nhớ nửa quên, khơi lên trong chúng ta những ký ức về tình yêu tìm thấy và đánh mất, về những vết thương chẳng bao giờ lành, và những cảm giác mơ hồ về những hoài niệm, hối tiếc và mong muốn bám vào một thứ gì đó từng có.

Quá khứ luôn mãi gieo thao thức vào thời khắc hiện tại.

Còn tương lai?  Nó cũng xuyên thấu vào hiện tại, ló dạng lên như một lời hứa và mối đe dọa, luôn mãi đòi chúng ta phải chú ý, luôn mãi gieo lo lắng vào cuộc đời chúng ta, luôn mãi tước đi năng lực nghỉ ngơi trong hiện tại của chúng ta.

Hiện tại luôn bị nhuốm màu của những nỗi ám ảnh, mối thương tâm, mối lao tâm và lo lắng vốn chẳng mấy liên quan đến những người đang ngồi cùng bàn với chúng ta bây giờ.

Các triết gia và thi sĩ đã đặt nhiều tên cho chuyện này.  Platon gọi nói là “cơn điên đến từ các vị thần”, các nhà thơ Hinđu gọi đó là “hoài niệm về vô tận”, Shakespeare nói về “khao khát bất diệt”, Thánh Augustinô có định nghĩa có lẽ là lừng danh hơn tất cả, ngài gọi đó là thao thức không thể xóa bỏ Thiên Chúa đặt vào lòng con người để con người không thể nào tìm được mái ấm nếu mái ấm đó không vô tận và vĩnh cửu – “Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Và thế là, rất hiếm khi chúng ta hiện diện bình an trong đời, hay thoải mái trong chính mình.  Nhưng như T.S. Eliot từng nói, “sự dằn vặt” này có một ý định thiêng liêng với chủ ý của Thiên Chúa.

Linh mục Henri Nouwen, trong một đoạn văn phi thường, đã xác định sự vật lộn này và mục đích của nó: “Cuộc đời chúng ta là một thời gian ngắn sống trong kỳ vọng, một thời gian mà nỗi buồn và niềm vui quấn lấy nhau trong mỗi một khoảnh khắc.  Có chất buồn thấm đẫm mọi thời khắc đời sống.

Dường như chẳng điều gì là vui thú trọn vẹn hoàn toàn, nhưng thậm chí trong cả những thời khắc hạnh phúc nhất của hiện hữu này chúng ta vẫn cảm nhận một thoáng đượm màu buồn.  Trong mọi thỏa mãn, vẫn nhận thức được giới hạn, trong mọi thành công vẫn có nỗi sợ bị ganh ghét.  Phía sau nụ cười là giọt nước mắt.  Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có sự cô đơn.  Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách.  Và trong tất cả những gì rạng rỡ, vẫn nhận thấy bóng tối quanh mình.  Nhưng trải nghiệm thân mật này, với mỗi một chút của sự sống được chạm đến bởi một chút của cái chết, có thể hướng chúng ta vượt quá những giới hạn hiện sinh.  Nó có thể làm thế bằng cách khiến chúng ta nhìn quá kỳ vọng để hướng đến ngày mà lòng chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui toàn vẹn, một niềm vui mà không ai lấy được của chúng ta.”

Tâm hồn thao thức của chúng ta giữ chúng ta khỏi quên mất ngọn lửa thiêng liêng trong mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HAI NGỌN NÚI

Một cuốn phim tựa đề là Mask được dựa trên câu chuyện có thật của một bé trai tên là Rocky Dennis.  Em bị bệnh rất hiếm mà nó làm cho xương sọ và mặt của em lớn hơn bình thường.

Hậu quả là khuôn mặt của Rocky thì méo mó và biến dạng khủng khiếp.  Dáng vẻ kỳ quái của em làm cho nhiều người phải tránh xa em, và nhiều người khác lại nhạo cười em.

Qua tất cả những điều đó, Rocky không bao giờ thấy thương hại chính mình.  Em cũng không tức giận.  Em cảm thấy buồn về diện mạo của mình, nhưng em chấp nhận điều đó như một phần của cuộc đời.

Một ngày kia, Rocky và chúng bạn đến thăm một khu giải trí.  Chúng đi vào một “căn phòng đầy tấm gương” và cười thích thú khi nhìn đến thân hình và diện mạo của chúng bị các tấm gương làm méo mó.

Bỗng dưng Rocky nhìn thấy điều gì đó làm em sững sờ.  Một tấm gương làm méo mó diện mạo dị thường của em cách nào đó mà nó làm cho khuôn mặt của em trở nên bình thường – ngay cả đẹp trai lạ lùng.

Lần đầu tiên, chúng bạn của Rocky nhìn thấy em trong một cách hoàn toàn mới.  Chúng nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong con người em: một người thực sự xinh đẹp.

Điều gì đó giống như vậy đã xảy ra cho Đức Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.  Trong sự biến hình của Người, các môn đệ của Đức Giêsu đã nhìn thấy Người trong một phương cách hoàn toàn mới.  Lần đầu tiên họ nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong của Người: là Con Thiên Chúa vinh hiển, xinh đẹp.

Điều này nêu lên một câu hỏi.  Tại sao sự biến hình của Đức Giêsu lại được đặt vào các bài đọc mùa Chay, mà chúng thường ảm đạm, thay vì các bài đọc mùa Phục Sinh, thường đối diện với sự vinh hiển của Đức Giêsu?

Câu trả lời nằm trong bối cảnh của sự biến hình trong bài Phúc Âm.  Sự kiện này xảy ra sau khi Đức Giêsu nói với các môn đệ là Người phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ và chịu chết.

Khi ông Phêrô nghe Đức Giêsu nói điều này, ông lớn tiếng nói, “‘Lạy Chúa đừng để việc đó xảy ra cho Thầy!’ Đức Giêsu quay lại và nói với ông Phêrô, ‘Xatan, hãy tránh xa ta! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người’.” (Mt 16:22-23)

Các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan có lẽ cần một mũi thuốc bổ tinh thần chích vào cánh tay sau cảm nghiệm chấn động này.

Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Giáo Hội lại đưa biến cố Biến Hình vào các bài đọc mùa Chay.  Giáo Hội muốn cho chúng ta một mũi thuốc bổ tinh thần trước khi giúp chúng ta chú ý đến những đau khổ của Đức Giêsu trong Thứ Sáu Tuần Thánh.

Nhưng còn có một lý do khác tại sao sự biến hình lại được đưa vào các bài đọc mùa Chay.  Đó là vì sự biến hình có sự tương đồng kinh ngạc với sự thống khổ trong một khu vườn.

Cũng như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra trên một ngọn núi – Núi Cây Dầu, sự biến hình cũng xảy ra trên một ngọn núi – Núi Tabo.

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, sự biến hình cũng chỉ được chứng kiến bởi ba môn đệ: Phêrô, Giacôbê, và Gioan.

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra vào ban đêm, sự biến hình cũng xảy ra vào ban đêm.  Và trong cả hai trường hợp, các môn đệ thiếp ngủ trong khi Đức Giêsu vẫn tỉnh thức, cầu nguyện.

Sau cùng, và đây là lý do quan trọng, hai sự kiện này – sự thống khổ và sự biến hình – bổ sung cho nhau.

Trên núi Tabo, ba môn đệ được thấy Đức Giêsu trong một giây phút xuất thần, khi thiên tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa từng có.

Trên núi Cây Dầu, ngược lại, họ nhìn thấy Đức Giêsu trong giây phút thống khổ, khi nhân tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa bao giờ được thấy trước đó.

Núi Tabo và núi Cây Dầu tiết lộ sự tương phản kinh ngạc về nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu.

Hai biến cố trên các núi này là các mặt không thể tách biệt của một đồng tiền.  Chúng cho chúng ta thấy toàn thể Đức Giêsu trong một cách toàn thể: nhân tính và thiên tính của Người.

Và ngay ở đây, các biến cố trên hai ngọn núi này chứa đựng một thông điệp quan trọng, thực tiễn cho chúng ta.

Cũng như Đức Giêsu, chúng ta cũng có hai chiều kích về chúng ta.  Trong mỗi người chúng ta đều có điều gì đó mà nó nhân bản và điều gì đó mà nó thánh thiêng.  Trong mỗi người chúng ta đều có một tia sáng của Adong và một tia sáng của Thiên Chúa.

Cũng như Đức Giêsu trên núi Tabo, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút xuất thần, khi tia sáng của Thiên Chúa chiếu qua thật rực rỡ đến độ hầu như làm chúng ta mù lòa.  Chúng ta cảm thấy thật gần với Thiên Chúa đến độ dường như có thể chạm đến Người.

Trong những giây phút này, chúng ta bàng hoàng thấy cuộc đời thật xinh đẹp biết chừng nào.  Chúng ta yêu quý mọi người.  Chúng ta ôm hôn bạn bè và tha thứ cho kẻ thù.

Đàng khác, giống như Đức Giêsu trong núi Cây Dầu, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút thống khổ.  Trong những giây phút này, tia sáng Adong xuất hiện thật bén nhọn trong chúng ta đến độ tia sáng của Thiên Chúa lập lòe và như muốn tắt.

Trong những giây phút này, cuộc đời thật thê thảm.  Chúng ta cảm thấy không có ai yêu thương chúng ta.  Chúng ta nhìn thấy lỗi lầm nơi bạn hữu, và chúng ta nguyền rủa kẻ thù.  Chúng ta hồ nghi sự hiện diện của Thiên Chúa.

Khi các giây phút thống khổ và xuất thần này xảy đến, chúng ta phải nhớ đến hai ngọn núi: Núi Tabo và núi Cây Dầu.  Chúng ta phải nhớ lại rằng Đức Giêsu cũng kinh qua các thăng trầm trong cuộc đời của Người.

Chúng ta phải nhớ đến những gì quan trọng hơn.  Chúng ta phải nhớ rằng trong cả hai trường hợp, trong sự xuất thần của Người trên núi Tabo, và trong sự thống khổ của Người trên núi Cây Dầu, Đức Giêsu đã cầu nguyện.

Nếu sự cầu nguyện là cách Đức Giêsu đáp trả với các giây phút này thì đó cũng phải là cách chúng ta đáp ứng với chúng.

Và nếu chúng ta làm như thế, cũng như Đức Giêsu trong sự biến hình trên núi Tabo, chúng ta cũng sẽ nghe Cha chúng ta nói với chúng ta, “Đây là Con ta, người mà ta đã chọn…” Và giống như Đức Giêsu trong sự thống khổ trên núi Cây Dầu, chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được bàn tay chữa lành của Cha chúng ta chạm đến chúng ta.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con,
xin cho chúng con biết đến những giây phút xuất thần
như Đức Giêsu đã biết trên núi Tabo.
Khi những giây phút này xảy đến,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
và xin cho chúng con được nghe những gì Ngài nói với chúng con,
“Con là đứa con được chọn của ta.”

Và, lạy Cha, cũng giống như vậy,
khi những giây phút thống khổ xảy đến cho chúng con,
như chúng đã xảy ra cho Đức Giêsu trên núi Cây Dầu,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
Và xin giúp chúng con cảm được bàn tay chữa lành của Ngài
chạm đến chúng con.

Lm. Mark Link S.J.

Ý NGHĨA CON SỐ 40 TRONG KINH THÁNH

Khi bước vào Mùa Chay Thánh, Giáo hội Công giáo dành ra 40 ngày – khởi đầu từ Thứ Tư Lễ Tro – để nhắc nhở các tín hữu sống tinh thần sám hối, chay tịnh, tập luyện nhân đức và chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh.  Vậy tại sao lại là 40 ngày mà không phải một con số khác?  Con số 40 trong Kinh Thánh ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, gắn liền với những sự kiện quan trọng, đánh dấu những cột mốc “thanh tẩy”, “chuẩn bị” hay “hoán cải” trong lịch sử cứu độ.

I. Con số 40 trong Cựu ước

 – 40 ngày lụt Đại hồng thủy (St 7, 4.17)

Theo sách Sáng Thế, cơn lụt Đại hồng thủy kéo dài 40 ngày đêm, như một cuộc thanh tẩy hoàn toàn trái đất khỏi những gian ác của con người.  Khi nước rút, ông Nô-ê và gia đình bắt đầu một khởi đầu mới, biểu tượng cho lòng thương xót của Thiên Chúa và sự đổi mới trong đời sống đức tin.

Ý nghĩa: Thời gian 40 ngày ở đây mang hàm ý “thanh tẩy”, “tái sinh” và “bắt đầu một giai đoạn mới” cho nhân loại.

– 40 ngày ông Môsê lên núi Sinai (Xh 24, 18; 34, 28)

Ông Môsê đã lên núi Sinai 40 ngày để lắng nghe lời Thiên Chúa, đón nhận Thập Giới và giao ước.  Thời gian này đánh dấu sự chuẩn bị và kết hiệp sâu xa giữa con người với Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Tìm kiếm Lời Chúa” và “được biến đổi” trong tương quan với Ngài.  Con số 40 cho thấy quá trình tập trung, kiên trì và sẵn sàng đón nhận những chỉ dẫn mới cho cuộc sống dân Chúa.

– 40 năm dân Israel lưu lạc trong sa mạc (Ds 14, 33-34)

Sau khi rời khỏi Ai Cập, dân Israel mất 40 năm để băng qua sa mạc tiến về Đất Hứa.  Trong thời gian này, họ trải qua vô vàn khó khăn, thử thách, đồng thời học cách tin tưởng, phó thác hoàn toàn vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Thử thách” và “rèn luyện” đức tin.  Hành trình 40 năm này biểu thị giai đoạn thanh luyện cần thiết để dân Chúa được xứng đáng bước vào miền đất hứa.

– 40 ngày ông Môsê đi khám phá vùng đất mới (Ds 13, 25)

Môsê cử các thám tử đi dò xét vùng đất Ca-na-an trong 40 ngày để chuẩn bị cho việc định cư của dân Israel.

Ý nghĩa: “Khám phá” và “tìm kiếm” hướng đi mới.  40 ngày này là thời gian để cân nhắc, đánh giá thực trạng và lập kế hoạch cho tương lai.

– 40 ngày ông Giona dành cho thành Ninivê (Gn 3, 4)

Tiên tri Giona loan báo cho dân thành Ninivê biết rằng họ chỉ còn 40 ngày để sám hối nếu không sẽ bị hủy diệt.  Cuối cùng, họ đã hoán cải và được Thiên Chúa tha thứ.

Ý nghĩa: “Sám hối” và “hoán cải” để được cứu rỗi.  40 ngày đánh dấu cơ hội cuối cùng để thay đổi cuộc sống, từ bỏ đường tội lỗi.

– 40 năm trị vì của vua Đavít và vua Salômôn (2 Sm 5,4; 1 V 11,42)

Kinh Thánh ghi lại rằng vua Đavít và vua Salômôn đều cai trị 40 năm.  Triều đại của họ là thời gian thiết lập và củng cố vương quốc, xây dựng đền thờ, thúc đẩy sự thờ phượng đúng đắn.

Ý nghĩa: “Chuẩn bị” và “xây dựng” đời sống đức tin.  Dưới thời trị vì 40 năm, dân Chúa được hưởng một giai đoạn an bình, tạo điều kiện để tôn vinh và phụng sự Thiên Chúa.

II. Con số 40 trong Tân Ước

– 40 ngày Chúa Giêsu vào sa mạc (Mt 4, 1-2; Mc 1, 12-13; Lc 4, 1-2)

Trước khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện suốt 40 ngày.  Ở đây, Người chịu ma quỷ cám dỗ nhưng đã chiến thắng nhờ sự kết hiệp với Chúa Cha.

Ý nghĩa: “Chay tịnh và cầu nguyện” để chuẩn bị bắt đầu sứ vụ.  Đây cũng là tấm gương cho các Kitô hữu noi theo: trước khi làm việc lớn, cần có thời gian tĩnh lặng, kết hợp với Thiên Chúa và canh tân đời sống thiêng liêng.

– 40 ngày Chúa Giêsu ở lại thế gian trước khi lên trời (Cv 1, 3)

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong 40 ngày, dạy dỗ và củng cố đức tin cho họ, trước khi về trời.

Ý nghĩa: “Xây dựng và củng cố” đức tin.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ hiểu rõ sứ mạng, đồng thời nhận lãnh Thánh Thần để tiếp tục công cuộc loan báo Tin Mừng.

III. Con số 40 và mùa Chay Thánh

Từ những sự kiện Cựu Ước và Tân Ước, ta thấy con số 40 gắn liền với ý niệm “thanh tẩy”, “rèn luyện”, “sám hối” và “chuẩn bị” cho một giai đoạn mới.  Trong Mùa Chay, Giáo hội Công giáo dành 40 ngày để nhắc nhở các Kitô hữu:

– Tập luyện nhân đức và canh tân đời sống: Bằng cách thực hành chay tịnh, hãm mình, cầu nguyện, và làm việc bác ái, mỗi tín hữu được mời gọi bước vào cuộc hành trình nội tâm, sửa đổi những yếu đuối và định hướng lại đời sống theo tinh thần Tin Mừng.

– Sám hối và hoán cải: 40 ngày là thời gian để kiểm điểm lương tâm, ý thức tội lỗi, xin ơn tha thứ và đón nhận bí tích Hòa Giải, chuẩn bị tâm hồn để kết hợp mật thiết hơn với Chúa.

– Thông phần cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu: Mùa Chay gắn liền với biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Khi ăn chay, cầu nguyện và làm việc lành, ta cùng chia sẻ nỗi khổ đau của Chúa, để sau đó được vui mừng đón nhận ơn Phục Sinh.

– Đón nhận niềm vui Phục Sinh: Qua 40 ngày tập luyện, thanh luyện bản thân, chúng ta sẽ hân hoan mừng đại lễ Phục Sinh với một tâm hồn mới mẻ, tràn đầy niềm tin và ơn sủng.

– Kiên trì và bền chí: Con số 40 gợi nhắc đến sự bền chí trong thời gian dài. Hành trình đức tin đòi hỏi chúng ta kiên trì vượt qua thử thách, cám dỗ, không chỉ trong Mùa Chay mà suốt cả đời sống.

– Tâm tình sám hối và hoán cải: Mỗi Mùa Chay là một dịp để chúng ta “làm mới” lại giao ước với Chúa, làm mới lại tương quan với anh chị em, và quan trọng hơn là học cách bỏ đi những gì cản trở ta đến với Thiên Chúa.

– Chuẩn bị cho tương lai: Dân Israel đã trải qua 40 năm sa mạc trước khi vào Đất Hứa, Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày trước khi bắt đầu sứ vụ. Tương tự, 40 ngày Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho đại lễ Phục Sinh, giúp chúng ta canh tân tinh thần và sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.

Con số 40 trong Kinh Thánh không chỉ là một con số mang tính biểu tượng, mà còn chất chứa những thông điệp sâu xa về sự thanh tẩy, sám hối, rèn luyện và chuẩn bị cho một cuộc sống mới.  Đối với người Kitô hữu, 40 ngày của Mùa Chay Thánh là cơ hội quý báu để sống lại những sự kiện cứu độ trong lịch sử dân Chúa, đồng thời canh tân mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân.

Bằng việc tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, chay tịnh, cầu nguyện, và làm việc bác ái trong 40 ngày này, chúng ta được mời gọi biến đổi nội tâm, để sẵn sàng cùng Chúa Giêsu bước vào cuộc Thương Khó và Phục Sinh.  Cũng như Chúa Giêsu đã dùng 40 ngày sa mạc để chuẩn bị cho sứ vụ công khai, chúng ta hãy dùng 40 ngày Mùa Chay để thanh luyện tâm hồn, củng cố đức tin và đón nhận niềm vui Phục Sinh cách trọn vẹn hơn.

Lm. Anmai, CSsR

KIẾP BỤI TRO

Không chỉ trong Mùa Chay, mà cả đời người Công giáo luôn phải ghi nhớ thực-tế-thật này: “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về bụi đất” (St 3:19).

Tuy không là Kitô hữu, nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng chân nhận kiếp người chẳng là gì trong ca khúc “Cát Bụi”, với lời lẽ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy…  Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…  Bao nhiêu năm làm kiếp con người chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày…  Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu xoay mòn thành đá cuội… Ôi cát bụi phận này, vết mực nào xóa bỏ không hay.”

Ca từ da diết trong giai điệu trầm lắng.  Triết lý kiếp người là sự yếu đuối, mỏng dòn, bất túc, bất trác,… vì kiếp người chỉ là cát bụi, là bụi tro, là bụi cát, là bụi đất – không được là hạt cát hoặc hạt đất, mà chỉ là hạt bụi quá bé nhỏ!

Cũng với nỗi niềm về thân phận con người, nhạc sĩ Lê Dinh đã trải tâm sự qua ca khúc “Trở về Cát Bụi” (*), ca từ rõ ràng hơn và gần gũi với tư tưởng Công giáo: “Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó.”  Tất cả những gì chúng ta sở hữu và tận hưởng đều không do tài năng của mình, vì thế mà phải chân nhận tích cực: “Trời đã ban cho, ta cám ơn trời, dù sống thương đau.”  Tất cả đều là Hồng Ân Thiên Chúa, Ngài CHO hay LẤY LẠI là quyền của Ngài, chúng ta không thể đòi hỏi, vả lại rồi ai cũng “trắng tay” như nhau: “Mai kia chết rồi, trở về cát bụi, giàu khó như nhau, nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”  Số phận mai sau là do mình quyết định qua cách sống trên trần gian này: Được hưởng phúc trường sinh, hoặc chịu án phạt đời đời.

Nhạc sĩ Lê Dinh có cách lý giải bình dân mà vẫn thâm thúy: “Này nhà lớn lầu vàng son, này lợi danh, chức quyền cao sang, có nghĩa gì đâu, sao chắc bền lâu, như nước trôi qua cầu.”  Tất cả sẽ qua như “nước trôi qua cầu” mà không thể lấy lại.  Thế mà người ta vẫn vênh vang tự đắc khi sống ung dung hơn người khác, nhưng Chúa Giêsu nói rõ: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3).  Vậy người giàu đừng vội “hãnh diện,” còn người nghèo đừng quá “tủi thân.”  Thiên Chúa nói là làm.  Chắc chắn như vậy.  Nhưng ngày nay chưa ai biết, quan trọng là kiếp sau!

Về vật chất đã vậy, về tinh thần cũng thế.  Tất cả đều giả dối: “Này lời hứa, này thủy chung, này tình yêu, chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi, sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời.”  Cái CÓ mà như KHÔNG, cái KHÔNG mà như CÓ.  Ngay cả lời hứa tưởng chừng “chắc chắn” mà cũng chỉ như “mây cuối trời,” mà mây thì luôn di động, thay đổi thất thường.  Người ta gọi là “hứa cuội.”  Vui cười chỉ trong thoáng chốc, nỗi buồn lo cứ đằng đẵng theo tháng ngày.  Tiệc cưới một ngày mà vui được bao nhiêu phút?  Tết cả ba ngày mà vui được bao lâu?  Thực tế phũ phàng đó có giúp chúng ta cảm nghiệm được gì về tâm linh chăng?  Ý Chúa muốn gì qua các biến cố cuộc đời – dù lớn hay nhỏ?

Nhạc sĩ Lê Dinh nói về cuộc đời và nhắc nhở mọi người, nhất là với người giàu: “Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất, cuộc sống mong manh, xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen.  Nào người sang giàu, đừng vì tham tiền, bỏ nghĩa anh em.  Người ơi, xin nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai.”  Thánh Gióp đã từng nhận thức rất rõ: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng” (G 1:20).  Thế nên, dù mất tất cả và bản thân cũng bệnh tật đau đớn, ngài vẫn không than trách và vẫn tạ ơn Chúa.  Một tấm gương sáng ngời để chúng ta cố gắng noi theo!

Lời nhắc nhở đó được lặp đi lặp lại ở phần kết (coda), cũng là lời xoáy sâu vào tâm khảm của mỗi chúng ta: “Người nhớ cho ta là cát bụi, trở về cát bụi, xin người nhớ cho!”  Nốt kết không ở chủ âm mà ở át âm, cứ lơ lửng, cứ ngân vang, như lời nhắc nhở không ngừng và mỗi người phải suy nghĩ đêm ngày, nhất là trong Mùa Chay này…

Kinh thánh đã so sánh rất cụ thể: “Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn” (Kn 15:10).  Quả thật, thân phận con người chẳng là gì cả.  Vì thế, hãy bắt chước Thánh Phaolô: “Nếu phải tự hào, tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11:30).

Đã bao lần chúng ta chứng kiến những người thân nhất của mình “ra đi,” dù y học có tân tiến đến đâu và các thầy thuốc có cố gắng hết sức thì cũng vẫn đành “bó tay” trước lưỡi hái của Tử Thần.  Họ nhắm mắt và xuôi tay, một đi không hẹn trở lại, và đã bao lần chúng ta tiễn đưa người khác ra nghĩa trang.  Đất lấp đầy huyệt là xong một kiếp người!  Chúng ta suy nghĩ điều gì?

Lá cứ rụng, dù xanh hay vàng.  Nhưng với người Công giáo, chết không là hết, mà chỉ là biến đổi (1 Cr 15:51), vì “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).  Chúng ta tin sẽ được sống lại trong ngày sau hết, đó là niềm tin chắc chắn, không mơ hồ hoặc ảo tưởng, thế nên chúng ta vẫn dâng lời cảm tạ: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118; Tv 136).

Lạy Chúa, xin thương xót những tội nhân chúng con, xin giúp chúng con can đảm chết với Con Chúa để có thể được đồng phục sinh vinh quang. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Trầm Thiên Thu
Nguồn: Mạng lưới cầu nguyện

CẢM NGHIỆM SA MẠC CỦA ĐỨC GIÊSU

Khi mùa đông bắt đầu ở Nam Cực, các đêm thật dài bắt đầu.  Mặt trời biến dạng ở dưới chân trời và nó không lộ diện cho đến bốn tháng rưỡi sau đó.  Ngày nào cũng giống nhau: 24 giờ đồng hồ trong bóng tối.

Nhiều năm trước, nhà thám hiểm Richard Byrd sống một mình trong suốt mùa đông ở Nam Cực.  Trong bốn tháng rưỡi, ông hoàn toàn sống trong bóng tối, chôn vùi dưới tuyết trong một căn phòng nhỏ.  Nhiệt độ trong phòng đó xuống tới 50 độ dưới số không.

Mỗi ngày ba lần, ông Byrd leo cầu thang lên mái nhà của căn phòng, mở cánh cửa nhỏ và đẩy đống tuyết ra, rồi ông đi vào cái giá lạnh và tối tăm để ghi nhận sự thay đổi của thời tiết.

Tại sao ông Byrd lại chọn sống một mình trong những tháng hoàn toàn tối tăm?

Ông trả lời câu hỏi đó trong cuốn Alone của ông.  Ông nói ông làm như thế là vì ông muốn tránh xa mọi thứ.  Ông muốn thực hiện một số suy nghĩ nghiêm trọng.  Ông viết:

“Và điều đó đã xảy ra với tôi… ở đây là cơ hội….  Tôi có thể sống đúng như tôi muốn, không phải chiều theo sự tiện nghi nhưng phải chịu đựng những trận gió giá lạnh của đêm tối, và không phải tuân theo luật lệ của bất cứ ai ngoài chính mình.”

Sau một tháng đầu sống cô độc, ông Byrd ghi nhận một vài điều “tốt” đang xảy đến.  Ông khám phá thấy rằng ông có thể sống một cách thâm sâu hơn nếu ông giữ lối sống đơn giản và đừng vướng bận với nhiều thứ vật chất.

Ông Byrd ra khỏi căn phòng đó là một con người thay đổi.  Ông kết thúc cuốn sách với những lời này:

“Tất cả điều này đã xảy ra bốn năm trước.  Sự văn minh không làm thay đổi các ý định của tôi.  Bây giờ tôi sống đơn giản hơn, và bình an hơn.”

Richard Byrd thuộc về một chuỗi người đã sống cô độc trong một thời gian để kiểm điểm lại chính bản thân và đời sống của mình.

Ông Môsê đã làm như thế; ông Êligia đã làm như thế; ông Gioan Tẩy Giả đã làm như thế.

Và chúng ta không ngạc nhiên khi Đức Giêsu cũng đã làm như thế.  Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên là những gì đã xảy ra khi Đức Giêsu đi vào sa mạc một mình để suy nghĩ và cầu nguyện.  Người bị quỷ cám dỗ.

Điều này khiến chúng ta tự hỏi, “Tại sao Thiên Chúa lại để Con mình bị cám dỗ bởi quỷ?  Mục đích của điều đó là gì?”

Trong nhiều thế kỷ, các văn sĩ đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi đó.  Chúng ta hãy ngắn gọn nhìn đến hai câu trong các câu trả lời ấy.

Trước hết, sự cám dỗ trong sa mạc đem cho chúng ta một cái nhìn sáng suốt vào tâm trí của Đức Giêsu mà rất có thể chúng ta không để ý đến.

Hãy nghĩ đến sự cám dỗ.  Phúc Âm nói cho chúng ta biết sự cám dỗ xảy đến khi Đức Giêsu mệt và đói.  Thật dễ dàng chừng nào để Người dùng đến quyền năng biến các hòn đá thành cơm bánh và không còn đói nữa.  Nhưng Đức Giêsu đã từ chối dùng đến quyền năng của mình cho sự lợi lộc và thoải mái chính bản thân.

Điều này tiết lộ một vài điều mỹ miều về Đức Giêsu.  Nó cho chúng ta thấy Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động. Người hoàn toàn sống bởi thần khí.

Sau này chúng ta sẽ thấy điều này dữ dội hơn trong vườn Cây Dầu.  Ở đó, Đức Giêsu bị ngập tràn sự khổ não.  Mỗi một phần thân thể của Người đều nổi loạn chống với sự đau đớn và sự chết trước mắt.  Thánh sử Mátthêu nói rằng điều đó tệ hại đến độ Đức Giêsu “sấp mặt xuống đất và cầu nguyện, ‘Cha ơi, nếu có thể, xin lấy chén đau khổ này khỏi con!  Nhưng, không theo ý con, mà theo ý cha’.” (Mt 26:39)

Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người đã không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động.

Một người như thế thật lôi cuốn.  Chúng ta không thể không thán phục những ai sống hoàn toàn bởi tinh thần.

Thật ngạc nhiên, chúng ta có thể tìm thấy loại quyết tâm này nơi người trẻ.  Tôi đang nghĩ về một học sinh trung học ở Chicago, em ở trong nhóm đấu vật.  Em thật nổi tiếng trong loại trọng lượng của em.

Tuy nhiên, vào năm lớp 12, điều nguy hiểm là em đang lên cân, không còn trong loại trọng lượng của mình.  Điều này đưa cả nhóm vào tình trạng bất lợi.  Vì thế em đã nhịn ăn suốt năm.  Thật vậy, em nhịn ăn đến nổi cha mẹ em sợ nguy hại đến sức khỏe của em.

Bất cứ bạn trẻ nào sau trận đấu thể thao thường dừng chân ở McDonald hay Burger King thì mới hiểu được sự hy sinh của học sinh này như thế nào.

Tôi cũng nhớ đến một nhạc sĩ vĩ đại là Arturo Toscanini.  Khi là một thanh niên, anh theo học Viện Âm Nhạc Hoàng Gia ở Parma, Ý Đại Lợi.

Vì xuất thân từ một gia đình nghèo, anh thường bán thịt trong bữa ăn tối cho các học sinh khác để lấy tiền mua bản nhạc.  Khi anh tốt nghiệp, anh nhớ đến hàng trăm bản nhạc.

Phải, một người sống hoàn toàn bởi tinh thần thì thật mỹ miều.

Chúng ta lại càng thán phục hơn nữa người sẵn sàng hy sinh rất nhiều cho ước mơ của mình.

Đức Giêsu là một người như thế.  Người thuộc về nhóm người đặc biệt đó, họ đã làm cho thế giới cao quý hơn bởi tinh thần độ lượng của họ.  Không hy sinh nào được coi là quá lớn đối với họ.  Không thử thách nào được coi là quá đòi hỏi đối với họ.  Không ước mơ nào được coi là không thể đối với họ.

Điều này đem chúng ta đến câu trả lời thứ hai về sự cám dỗ của Đức Giêsu trong sa mạc.  Nó ngắn, nhưng rất quan trọng.

Vì chính Đức Giêsu cảm nghiệm sự cám dỗ, Người biết cách làm thế nào để vượt qua sự cám dỗ.  Người cũng biết thật dễ dàng chừng nào khi bị sự cám dỗ cuốn trôi.

Vì lý do này, Đức Giêsu có thể cảm thông với chúng ta khi bị cám dỗ.  Người hiểu khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.  Vì Người đã bị cám dỗ như chúng ta, Đức Giêsu là người mà chúng ta có thể tìm đến khi bị cám dỗ và ngay cả sau khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.

Và như thế các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy hai điều về Đức Giêsu.  Trước hết, chúng cho thấy một Giêsu mà chúng ta thán phục.  Chúng cho thấy một Giêsu không xa cách với chúng ta mà chúng ta không thể noi gương Người.  Thứ hai, chúng cho thấy một Giêsu là người cảm thông với sự yếu đuối của chúng ta khi bị cám dỗ.

Chúng ta hãy kết thúc với những lời thích hợp trong Thư gửi Tín Hữu Do Thái:

Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.  Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa… để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.  (Dt 4:15-16)

Lm. Mark Link S.J.

CHA HIỆN DIỆN NƠI KÍN ẨN

Cứ đến Thứ Tư Lễ Tro là chúng ta lại được nghe bài Tin Mừng này.

Đức Giêsu nói đến ba việc đạo đức quan trọng của người Do Thái:  cầu nguyện, bố thí, ăn chay.

Chẳng phải cứ đợi đến Mùa Chay chúng ta mới làm ba việc đó.  Nhưng Mùa Chay là thời gian thuận lợi để ta tập trung chú ý hơn.  Tập trung vào cầu nguyện là làm mới lại tương quan với Thiên Chúa, từ bỏ những gì làm tôi xa Chúa và dứt bỏ mọi tội lỗi quen phạm.  Tập trung vào bố thí là chia sẻ của cải cho những người nghèo hơn, tự nguyện bỏ bớt một phần tiện nghi để giúp những ai đói khổ.  Tập trung vào chay tịnh là làm cho thân xác, tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng, thoát khỏi những kéo xuống nặng nề, những cám dỗ sống hưởng thụ, ích kỷ.  Cả ba việc này có tương quan chặt chẽ với nhau.

Khi làm tốt một việc, ta sẽ dễ làm hai việc còn lại hơn.  Ăn chay giúp chúng ta hàn gắn lại tình bạn với Chúa, và lớn lên trong sự thân mật đối với Ngài.  Ăn chay giúp ta tránh tội và tránh mọi thứ dẫn đến tội.  Ăn chay là thoát ra khỏi sự thèm muốn tự nhiên về cơm bánh vật chất, để nếm cảm sự cần thiết của tấm bánh tinh thần.  Nhờ ăn chay con người thấy mình được tự do hơn để sống theo ý Chúa.

Khi chịu đói nơi thân xác, chúng ta sẽ thấy tim mình đói khát Thiên Chúa và mong Ngài đến với ta để làm ta mãn nguyện.  Nhưng ăn chay cũng giúp ta mở mắt trước tình cảnh thiếu thốn của tha nhân.  Nhờ ăn chay, chúng ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng biết sống cho Chúa và tha nhân.  Ăn chay giúp ta chế ngự được tính ích kỷ làm ta co lại, nhờ đó ta có thể mở lòng ra trước nhu cầu của anh chị em mình và chia sẻ cho họ điều mình đã tiết kiệm được từ ăn chay.

Ngay cả một người có hai áo cũng có thể chia sẻ được cho người trần trụi.  Người chỉ còn vài lon gạo cũng có thể chia cho người đang đói.  Chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình 40 ngày Mùa Chay.

Không phải chỉ là ăn chay, mà là sống chay.  Chay tịnh phải là một thái độ thấm vào cuộc sống.  Khi bớt nuông chiều những đòi hỏi ngày càng nhiều của thân xác, chúng ta sẽ thắng được những cám dỗ của thèm muốn vô độ.

*******************************

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

THINH LẶNG: Ý NGHĨA HAY VÔ NGHĨA?

Ngày nay người ta sợ thinh lặng, người ta chạy trốn thinh lặng bằng đủ mọi cách khác nhau vì nghĩ rằng thinh lặng là trống rỗng và vô nghĩa, là phí phạm thời giờ cách vô ích.  Bởi vì chúng ta đã quá quen sống trong vòng quay liên tục, náo nhiệt của việc làm, của âm nhạc, của phim ảnh và mọi thứ âm thanh.

Trong thời đại mà tốc độ đóng một vai trò quyết định: xe có tốc độ càng nhanh càng tốt, internet phải có đường truyền siêu tốc, fast food ngày càng phổ biến… nói chung cái gì tiết kiệm được thời gian thì càng tốt.  Đây quả là những điểm đáng khen ngợi vì giúp con người có thể thực hiện được nhiều công việc hơn, phục vụ tha nhân tốt hơn.

Tuy nhiên, mọi việc đều có tính hai mặt của nó: tích cực và tiêu cực, lợi và hại; nhưng có lúc người ta quá đề cao lợi mà quên đi hại, nhấn mạnh tích cực mà bỏ quên tiêu cực thì có nguy cơ dẫn đến phiến diện và trở nên khập khiễng.  Cụ thể, mặt tiêu cực của việc sống nhanh, ăn vội, yêu gấp, làm liền làm con người dễ căng thẳng, thiếu kiên nhẫn, hay nản chí, mong muốn mau chóng đạt thành công và đó là nguy cơ đánh mất chính mình.

Quả thật, người ta không còn thời giờ để suy nghĩ về những việc mình đã và đang làm có ý nghĩa gì.  Phải thành thật mà nói, xét ở một phương diện nào đó chúng ta cũng có tật hay bắt chước như loài khỉ, không biết có phải vì được sinh ra từ khỉ nên ta có tật đó chăng?  Làm vì thấy người khác làm, rồi từ từ cả bầy đều làm.  Làm mà chẳng biết tại sao mình làm, lý do duy nhất là thấy người khác làm và mình làm theo.

Mặt khác, khi đề cao và tận dụng tốc độ, người ta ít chú ý đến sự liên hệ giữa tinh thần và thể xác.  Gần đây, người ta bắt đầu nhấn mạnh trở lại về việc tinh thần có ảnh hưởng rõ ràng đến sức khỏe thể xác, và dần dà người ta bắt đầu nhận thấy thinh lặng có khả năng chữa lành và gia tăng sức mạnh nội tâm.  Ngày nay, các bác sĩ tâm thần thường khuyên những người bị trục trặc về đời sống tinh thần phải dành thời gian thinh lặng nhất định nào đó trong ngày để có thể lành bệnh chứ không chỉ đơn thuần cho họ dùng thuốc an thần.

Tại sao người ta lại sợ thinh lặng đến thế nhỉ ?

Thứ nhất, bởi vì người ta muốn tận dụng thời gian để làm thật nhiều việc càng tốt, và công việc nói lên giá trị của một con người.  Người nào thành công nhiều, người ấy có giá trị cao.  Nhưng có thật như thế không?  Nếu vậy những người bệnh tật, tâm thần cần phải loại bỏ đi.

Thứ hai, khi thinh lặng người ta phải đối diện với chính mình, với lương tâm và với Thiên Chúa.  Tất cả những gì mà tôi đã, đang và sắp làm sẽ bị chất vấn làm cho tôi khó chịu.  Thế là đành phải tìm cách dẹp bỏ những tiếng nói nội tâm ấy đi.  Đôi khi chúng ta hăng say làm việc đến mức quên ăn, quên ngủ, quên các mối liên hệ bạn bè và gia đình chẳng qua là một cách khéo léo mà tiềm thức chúng ta tung ra để chúng ta đang chạy trốn thinh lặng, và chạy trốn chính mình.

Thinh lặng không chỉ đơn thuần là im lặng, không có tiếng ồn nhưng sâu xa hơn là một trạng thái nội tâm giúp ta tách khỏi những gì ngăn cản ta ý thức về chính bản thân mình, về các mối tương quan giữa ta với Thiên Chúa, và giữa ta với người khác, về những gì mình đang làm và đang theo đuổi,…  Như vậy thinh lặng đi liền với suy tư phản tỉnh.

Người ta phân biệt thinh lặng bề ngoài là chủ động không nghe, không nhìn, không đọc; thinh lặng nội tâm là lắng nghe tiếng lương tâm và tiếng Chúa.  Cần phải có thinh lặng bề ngoài để đạt tới thinh lặng nội tâm.

Ngay chính trong đời sống tâm linh chúng ta cũng thích bầu khí ồn ào, phải có kinh để đọc, phải có đàn hát… nói chung phải có cái gì đó để làm, chứ không để “giờ chết.”  Phải chăng thói quen đó cũng đã ăn sâu vào đời sống đạo?

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thực tế một chút.  Ngày nay để tạo được bầu khí thinh lặng thật là khó.  Sống với hàng xóm và gia đình, chúng ta cảm nhận rõ được khó khăn này.  Chúng ta không thể bắt người thân của chúng ta giữ thinh lặng nếu họ không muốn.  Nhưng nếu điều kiện có thể, chúng ta cần chủ động tìm nơi thinh lặng và giờ thinh lặng cho chính mình.

Thật đáng mừng vì ngày nay, có nhiều giáo xứ có nhà nguyện Thánh Thể được trang hoàng nhẹ nhàng, và đặc biệt là có bầu khí thinh lặng.  Ai cũng có thể đến để viếng Chúa vào bất cứ giờ nào.  Nhiều bạn trẻ đã chia sẻ rằng, mỗi lần họ tìm đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chỉ cần ngồi đó thinh lặng để… nghỉ mệt và có khi ngủ gục nữa vì một ngày đã quá mệt với công việc và mọi thứ linh tinh.  Họ không đọc kinh, không đàn hát, nhưng trong thinh lặng cầu nguyện và đối thoại với Chúa, và đây chính là lúc họ tìm được bản thân và nhận biết chính mình thực sự.  Vì khi đến với Chúa, đến bên Chúa thì mọi thứ mặt nạ, các thứ giả vờ trong lời nói và hành động mà mình sử dụng để đối phó với người khác phải rớt xuống vì chẳng có gì còn có thể che dấu được nữa.  Chính lúc ấy tôi sống thật với con người tôi.

Một lần nữa xin được lặp lại lời của Đức Hồng Y Mercier: “hằng ngày, hãy dành một số lúc nhắm mắt trước những gì thuộc về giác quan và bịt tai trước những ồn ào của thế gian, để đi vào chính tâm hồn bạn.  Ở đó trong sự thánh thiện của linh hồn được rửa tội là đền thờ của Chúa Thánh Thần hãy thân thưa: “lạy Chúa Thánh Thần, người yêu của linh hồn con, con thờ lạy Ngài.  Xin hãy soi sáng con, hướng dẫn con, thêm sức cho con, an ủi con… xin giúp con biết được thánh ý Ngài.”

Nguồn: Giesulove.net

HÃY BIẾT MÌNH

“Hãy biết mình!”  Đó là một trong những luận đề quan trọng trong triết lý của Socrates, ông tổ của triết học Hy Lạp, sống ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên.  Bên Đông phương, cụ Khổng Tử cũng chung một quan điểm, khi chủ trương “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”  Bản thân một người chưa trưởng thành hoặc thiếu tài đức thì không thể làm gì cho gia đình và xã hội.  Chúa Giê-su đã dùng những hình ảnh đơn sơ dễ hiểu mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay, để giáo huấn chúng ta: Hãy xem lại mình trước khi góp ý người khác.  Thông thường, chúng ta có thói quen để ý, thậm chí soi mói lỗi lầm của người khác, trong khi mình còn nhiều khiếm khuyết thì không lưu ý sửa đổi.  Ông La Fontaine, một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng của văn học Pháp, đã viết câu chuyện một người mang hai chiếc giỏ, một chiếc đằng trước và một chiếc đàng sau.  Những lỗi lầm của người khác thì bỏ vào giỏ đàng trước; và những lỗi lầm của mình thì bỏ vào giỏ phía sau.  Câu chuyện ngụ ngôn này thật đúng với tâm lý chung của chúng ta.  Biết mình là can đảm khiêm tốn nhận ra những thiếu sót để thiện chí sửa đổi, nên hoàn thiện hơn mỗi ngày.  Trong cuộc sống, có nhiều người không biết bản thân, quá tự tin nên ảo tưởng về quyền lực, hậu quả là trở thành trò cười cho thiên hạ.

Con người sinh ra chưa biết gì.  Cần phải có thời gian học hành tập luyện.  Người khiêm tốn học hỏi sẽ biết đối nhân xử thế, kính trên nhường dưới và xây dựng một mối tương quan hài hòa với những người xung quanh.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chuyên tâm sửa mình để có con mắt sáng.  Một khi có tâm hồn trung thực và ngay thẳng, chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác sống tốt.  Người mù không thể dắt người mù!  Điều đó đã quá rõ.  Để hướng dẫn người khác đi đúng đường, chúng ta phải quen biết con đường đó, nếu không tất cả sẽ mất hướng.  Không ai trên đời là hoàn hảo, vì vậy mọi người phải giúp đỡ nhau để cùng nên hoàn thiện.  Động viên khích lệ và sửa lỗi cho nhau, đó chính là đức Ái Ki-tô giáo.

Lời giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ nhằm tới cá nhân, mà cả cộng đoàn tín hữu.  Ngay từ thuở sơ khai, giữa các tín hữu đã có sự cạnh tranh ghen tỵ, phân biệt giữa những người đàn bà góa gốc Hy Lạp (x. Cv 6,1-7).  Những cộng đoàn xứ họ của chúng ta ngày nay cũng thế.  Có những cộng đoàn bị tổn thương nghiêm trọng do những cá nhân tự phụ hoặc thiếu hiểu biết, thiếu thiện chí.  Xem quả biết cây, một cộng đoàn chia rẽ và thường xuyên xảy ra xung đột, thì không thể là một cộng đoàn đạo đức và như thế không có khả năng diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Những mâu thuẫn bất hòa giữa các xứ họ là lực cản của công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội, là sứ vụ quan trọng nhất mà Chúa Giê-su đã trao phó.  Tình liên đới hài hòa và cộng đồng trách nhiệm chính là hoa trái của một cộng đoàn đức tin sinh động, có khả năng giới thiệu Chúa cho con người của thời đại hôm nay.

Bài đọc I trích sách Huấn Ca mang nội dung rất gần với những ca dao tục ngữ của người Việt Nam chúng ta.  Tác giả dạy mọi người phải thận trọng khi khen chê cũng như khi nhận định về một con người, một sự việc.  Ông bà ta dạy: người khôn ngoan uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.  Đó là lời dạy về sự thận trọng trong ngôn từ để tránh mất lòng và mất mát tình cảm.  Người xưa cũng nói: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” có nghĩa là một lời nói ra dù bốn ngựa khó đuổi.  Hãy nhớ rằng, một lời đã nói ra thì không thể lấy lại.  Khi nói ra những điều thiếu tế nhị có thể khiến cuộc sống của chúng ta trở nên tồi tệ, và làm rạn nứt những mối quan hệ xung quanh.

Ki-tô hữu không chọn một nhân vật trần thế làm lý tưởng cho mình, nhưng là chọn Chúa Giê-su.  Nói cách khác, hành trình đức tin cũng là hành trình hoàn thiện bản thân để nên giống như Chúa Giê-su.  Trong hành trình này, cần phải kiên trì nhẫn nại và nhất là cần phải khiêm tốn, biết mình.  Thánh Phao-lô khích lệ giáo dân Cô-rin-tô hãy kiên tâm bền chí để đạt tới sự hoàn thiện.  Ngài khẳng định: “Trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (Bài đọc II).

“Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-ban.”  Hình ảnh tươi đẹp tràn đầy sức sống của cây dừa và cây hương bá được tác giả Thánh vịnh dùng để diễn tả những ai sống tốt lành và luôn phó thác cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa.  Giữa cuộc sống còn đầy những âu lo trăn trở và bộn bề hôm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta vẫn ngẩng cao đầu, như đóa sen sống giữa bùn lầy mà vẫn tỏa hương thơm ngát cho những người xung quanh.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌM NGƯỜI ĐỂ XƯNG TỘI

Có lẽ hơn hết thảy, trong vô thức, chúng ta đều mong tìm được một cha giải tội, một người mà chúng ta có thể trải lòng ra, hoàn toàn không hề giấu diếm điều gì, giải bày hết các hoang mang trong lòng, thừa nhận tội lỗi của mình mà không e ngại.  Sâu bên trong cuộc kiếm tìm người tri âm của chúng ta là kiếm tìm một người để xưng tội.  Nhưng tìm một cha giải tội tốt không phải là chuyện dễ dàng.  Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất Brooklyn, tác giả Colm Toibin đưa ra một trong những lý do như sau:

Nhân vật chính, Eilis, một cô gái trẻ người Dublin, đến New York và phải lòng chàng trai Tony.  Sau vài tháng yêu nhau, Eilis phải trở về Ireland vì em gái Rose của cô qua đời.  Cảm thấy bất an và sợ rằng Eilis sẽ không quay lại, Tony thuyết phục cô kết hôn theo thủ tục dân sự với anh trước khi đi.

Trở lại Dublin, ở với mẹ, đau buồn trước cái chết của người em gái và phải trì hoãn việc trở lại New York vì đám cưới của một người bạn, Eilis được chàng trai Jim Farrell đeo đuổi, cô hẹn hò nhiều lần với anh mà không nói với anh về người chồng Mỹ của mình.  Nhưng cô bị ám ảnh bởi việc giấu diếm này và đau khổ không biết nên xử sự ra sao.  Điều cô tha thiết muốn làm nhất là nói cho anh biết bí mật, giải bày mớ rối rắm trong lòng mình, để anh là người nghe cô xưng tội, và nhờ anh giúp cô giải quyết chuyện này, nhưng sự ngây thơ trong trắng của anh khiến cô ngần ngại.  Toibin viết: Liệu cô có thể nào nói cho Jim biết những gì cô đã làm chỉ trước đó một thời gian ngắn ở Brooklyn?  Người ly hôn duy nhất mà ai trong thành phố đó cũng biết là Elizabeth Taylor và có lẽ vài siêu sao màn bạc khác.  Cũng có thể giải thích được với Jim nguồn cơn khiến cô đi tới hôn nhân, nhưng anh là một người chưa từng bao giờ sống ở đâu khác ngoài Dublin.  Cô nghĩ, sự ngây thơ và lịch duyệt của anh, hai đức tính khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi gần bên anh, thật ra có thể lại là những hạn chế, đặc biệt nếu nêu ra điều gì đó chưa từng nghe nói đến và ngoài sức suy nghĩ hay trải nghiệm của anh như chuyện ly hôn.  Cô nghĩ, tốt nhất là gạt toàn bộ chuyện này ra khỏi tâm trí.

Doris Lessing từng nhận xét về George Eliot rằng Eliot chắc hẳn sẽ viết hay hơn, sâu sắc hơn, nếu bà không quá đức hạnh như vậy.  Dường như sự ngây thơ có thể là những hạn chế, điều cản trở thông cảm và thấu hiểu, như cả Eilis và Doris Lessing đều lo sợ.  Nhưng có đúng như vậy không?

Ngày nay có cả một luồng tư tưởng phổ biến mạnh mẽ cho rằng đúng như vậy.  Bạn sẽ thấy những dạng thô của điều này ở chủ nghĩa khắc kỷ trong văn hóa của chúng ta về sự trinh bạch và ngây thơ trong trắng, mà cả hai đều được đồng nhất một cách giản đơn quá mức với ngây thơ khờ khạo và chưa trưởng thành.  Trên thực tế, việc thiếu kinh nghiệm tình dục được đặc biệt coi là khờ khạo nhất trong những sự ngây thơ khờ khạo.  Phổ biến nhất là con tính đơn giản đánh đồng trải nghiệm với “việc từng hẹn hò quanh quất” và đánh đồng “từng hẹn hò quanh quất” với việc hiểu đời.  Các sách giáo lý xưa của chúng ta dạy rằng khi A-đam và E-và ăn trái cấm, tâm trí họ trở nên tăm tối.  Suy nghĩ phổ thông ngày nay nhấn mạnh rằng lúc đó họ lại sáng mắt ra, cái trải nghiệm đó, dù đúng đắn hay không, là cái làm cho họ mở mang tâm trí.  Từ đó, người ta dễ dàng có suy nghĩ rằng con người lý tưởng để nghe xưng tội, con người hiểu đời, là một người nào đó “từng hẹn hò quanh quất.”

Nhưng chúng ta không thật sự tin điều đó.  Tại sao vậy?  Bởi vì những gì chúng ta tìm kiếm trong vô thức ở một người để xưng tội chứng tỏ điều ngược lại.  Trong khi tìm kiếm một người để xưng tội (không nhất thiết là một người nghe xưng tội theo nghĩa bí tích), không phải là chúng ta đi tìm một ông bạn nhậu, một tay đồng lõa phạm tội, một người sẽ không phê phán chúng ta bởi vì đời họ cũng rối rắm và xáo trộn y như đời chúng ta.  Khi kiếm tìm một người để xưng tội, một cách có ý thức hay vô thức, chúng ta đang đi tìm một người mà sự thông hiểu và chấp nhận của người đó sẽ đưa chúng ta tới một chỗ khác, vượt qua tình trạng rối rắm và yếu ớt của chúng ta.  Trong sâu thẳm chúng ta biết rằng tội lỗi của chúng ta sẽ không được chữa lành bằng tội lỗi của một người khác, mà thay vào đó, nó cần phải tiếp xúc được với một điều gì đó ngây thơ hơn, giống Chúa hơn, giống như tấm lòng khoan dung của người cha đối với đứa con trai hoang đàng.

Nhưng không phải kiểu ngây thơ nào cũng vượt qua được thử thách này.  Sự ngần ngại của Eilis trong việc thổ lộ những dằn vặt của mình trước sự ngây thơ của Jim Farrell thật ra có thể lại là một quyết định đúng đắn.  Có một loại ngây thơ mà, vì nó cố tình không nhìn thấy ở một điểm nào đó, nên miễn nhiễm một cách không lành mạnh đối với những điều phức tạp.  Nhưng cũng có một loại ngây thơ – đó là loại chúng ta kiếm tìm trong vô thức – thật sự vượt qua được thử thách này.

Một lần nọ, một chủng sinh trẻ đau đầu với các vấn đề tình dục viết thư cho Têrêxa Lisieux để tìm lời khuyên.  Anh nói bóng gió tới các vấn đề của mình nhưng lại bảo bà: “Nếu tôi chia sẻ với bà những gì tôi đang thật sự vất vả chống đỡ, tôi sợ rằng bà sẽ bị sốc nặng và cảm thấy chướng tai gai mắt quá rồi sẽ không viết thư trả lời tôi.”  Têrêxa viết đáp lại: “Nếu anh nghĩ như vậy, thì thật sự anh không hiểu tôi rồi!”

Cha xứ d’Ars là một người hết sức giản dị và vô cùng ngây thơ trong trắng.  Ấy vậy mà trong khi còn sống, ông có lẽ là người được nhiều người mong muốn gặp để xưng tội nhất.  Chúng ta khao khát chính một người như vậy để xưng tội, một người mà với họ chúng ta có thể thoải mái giải bày tâm tư phức tạp của mình, nhưng người đó không mắc những tội lỗi như chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI