ĐƯỢC GIƯƠNG CAO

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!”

“Thiên đàng quan tâm đến thập giá Chúa Kitô!  Địa ngục khiếp hãi nó!  Đang khi loài người – những sinh vật duy nhất – ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của nó!  Ơn cứu độ thế giới chỉ đến khi Chúa Kitô được giương cao, nghĩa là từ thập giá của Ngài!  Chúa Kitô đã đến để trả một món nợ không mắc; bởi lẽ, chúng ta nợ Thiên Chúa một món nợ không bao giờ trả nổi!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Đồng tình với Chambers, Lời Chúa hôm nay tiết lộ một sự thật: ơn cứu độ chỉ đến từ thập giá của Chúa Kitô khi Ngài ‘được giương cao!’  Bởi lẽ, sẽ không có sự cứu rỗi nào chỉ trong các ý tưởng viển vông, trong ước muốn hay trong sự sẵn lòng của một ai đó; nó phải phát xuất từ lòng thương xót vô bờ của một ‘Ai đó’ – Thiên Chúa!

Rắn lửa – tượng trưng cho tội lỗi – bò ra cắn chết nhiều người khi Israel kêu trách Chúa; Môsê van xin, Ngài bảo, “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột.  Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống!” – bài đọc một.  Rắn đồng được treo lên đã cứu một dân – tượng trưng cho Chúa Kitô – Đấng ‘được giương cao’ sẽ cứu muôn dân.  Ngài chuốc lấy mọi độc tố của tội; nhờ đó, nhân loại được chữa lành.

Thật thú vị, ‘được giương cao’ không chỉ đề cập đến việc Chúa Kitô chịu treo trên thập giá mà còn bao hàm việc Chúa Cha tôn vinh Ngài, “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!” – Tin Mừng hôm nay.  “Tôi Hằng Hữu!”, một danh hiệu chỉ dành cho Thiên Chúa.  Chúa Giêsu cho phép chúng ta chiêm ngắm Ngài trong vinh quang khi Ngài ngự bên hữu Chúa Cha.  Dẫu vậy, với Gioan, thập giá vẫn là khoảnh khắc vinh hiển, đỉnh điểm chiến thắng trong sứ mệnh Chúa Cha trao cho Ngài.

Rồi đây, trước thượng hội đồng, Phêrô sẽ lên tiếng, “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào danh đó mà được cứu độ!”  Như thế, ơn cứu độ của nhân loại chỉ đến từ thập giá Chúa Kitô.  Chân lý này mời gọi chúng ta rướn mình lên khỏi mọi tầm thường, và tội lỗi, để với tới Ngài, Đấng ‘được giương cao’ để chữa lành và ban ơn tha thứ.  Chạm được Ngài, bạn và tôi chạm được ơn cứu độ!

Anh Chị em,

“Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu!”  “Từ thập giá, Chúa Kitô nâng tất cả chúng ta lên.  Vì lý do này, tượng chuộc tội – Chúa Kitô chịu đóng đinh – không phải là một vật trang trí, không phải là một tác phẩm nghệ thuật.  Tượng chuộc tội là mầu nhiệm về sự ‘hủy diệt’ của Thiên Chúa mà Ngài đã làm vì tình yêu.  Trong sa mạc, con rắn đã “nói tiên tri về sự cứu rỗi.”  Thật vậy, nó được “nâng lên và bất cứ ai nhìn thấy nó đều được chữa lành.”  Nhưng sự cứu rỗi thế giới không được thực hiện “bằng cây đũa thần của một vị thần tạo ra mọi thứ;” thay vào đó, nó được thực hiện bằng sự đau khổ của Con Thiên Chúa và bằng chính cái chết của Ngài!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con là ‘sinh vật duy nhất’ ít nhiều bỏ qua ý nghĩa của thập giá Chúa, cũng đừng để tội lỗi ghì con xuống; cho con biết rướn lên để trổi dậy mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG 

Phụng vụ Tuần Thánh mở đầu bằng nghi thức làm phép lá và rước lá, sau đó là thánh lễ mà đỉnh cao là trình thuật về cuộc thương khó của Đức Giê-su.  Các Bài đọc Kinh Thánh, nhất là Bài Thương khó, nêu bật hai khía cạnh của cuộc thương khó Đức Giê-su: Đau khổ và Vinh quang.  Hai khía cạnh này hòa quyện với nhau, tạo nên nét độc đáo và làm cho cuộc tử nạn của Chúa Giê-su trên đồi Can-vê năm xưa không giống như bất kỳ vụ thi hành án nào trong lịch sử.

Bài đọc I trích sách Ngôn sứ I-sa-i-a nói với chúng ta về một nhân vật bị đánh bầm dập, thân mình mang đầy thương tích.  Tuy vậy, nhân vật được trình bày lại chấp nhận đau khổ như một tự nguyện.  Nhân vật ấy là Người Tôi tớ Đức Gia-vê.  Vị Tôi tớ luôn trong trạng thái tỉnh thức để lắng nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa, và niềm tin cậy phó thác đã đem lại cho Người sức mạnh trong gian nan.  Dưới lăng kính Ki-tô giáo, đây chính là hình ảnh của Đức Giê-su chịu khổ hình.  Cuộc thương khó vừa là một khổ hình do người Do Thái gây nên, đồng thời cũng là một hành vi tự nguyện của Chúa Giê-su, vì vâng lời Chúa Cha.  Mặc dù sợ hãi đến mức toát mồ hôi máu, Đức Giê-su, người Tôi tớ Gia-vê đã tự nguyện bước vào cuộc thương khó, với niềm xác tín “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi.”  Cần lưu ý là sách ngôn sứ I-sai-a có bốn bài ca về Người Tôi tớ Đức Gia-vê.  Mỗi bài diễn tả một khía cạnh, và tất cả bốn bài ca đó đã trở thành hiện thực nơi Đức Giê-su.  Bài cuối cùng ở chương 52 được đọc trong Phụng vụ suy tôn Thánh giá chiều thứ Sáu tuần Thánh, với nội dung diễn tả cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giê-su qua biến cố thập giá.

Hai khía cạnh đau khổ và vinh quang cũng được thánh Phao-lô quảng diễn trong Bài đọc II.  Đức Giê-su là Thiên Chúa tối cao.  Người đã hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, chỉ ngoại trừ tội lỗi.  Người đã trút bỏ vinh quang để mang thân phận nô lệ.  Sự hạ mình của Ngôi Lời vừa thể hiện qua mầu nhiệm nhập thể, vừa thể hiện qua biến cố khổ nạn thập giá.  Nói cách khác, sự khiêm tốn vâng lời liên lỉ của Đức Giê-su, được trải dài từ ngày Truyền tin đến đỉnh đồi Can-vê.  Tuy vậy, thánh Phao-lô khẳng định, cái chết và nấm mộ không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa.  Sau thập giá là vinh quang.  Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Đức Giê-su, và ban cho Người danh hiệu “trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu.”  Điều thánh Phao-lô viết trong thư gửi giáo dân Phi-líp-phê hôm nay đã được thực hiện: đó là hàng tỷ Ki-tô hữu trên hoàn cầu tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Cứu độ.

Trình thuật thương khó theo thánh Lu-ca như một vở kịch gồm nhiều phân cảnh, với nhiều cung bậc cảm xúc.  Vở kịch này khởi đầu từ phòng tiệc ly và kết thúc trên đồi Can-vê.  Chúng ta thấy mỗi khi Đức Giê-su nói về những gì đang xảy ra trong hiện tại, thì Người cũng liên hệ tới tương lai.  Nếu bữa tiệc ly là lần cuối cùng Người uống chén rượu nho vật chất, thì Người cũng hứa sẽ được cùng với các môn đệ dùng rượu nho mới khi triều đại của Thiên Chúa đến.  Khi bị bắt trong vườn Cây Dầu, dù bị quân lính bao quanh sát khí đằng đằng, Chúa Giê-su vẫn khảng khái nói: Đây là giờ của quyền lực tối tăm.  Nhân vật Phi-la-tô được trình bày nổi bật trong cuộc thương khó của Đức Giê-su.  Ông này vừa kính phục Chúa Giê-su, nhưng lại sợ người Do Thái.  Thực sự ông muốn cứu Chúa Giê-su, và ông đã tìm một lối mở, đó là đưa ra trường hợp Ba-ra-ba như một lá bài để thương thuyết.  Ấy vậy mà người Do Thái đồng thanh xin tha cho một kẻ giết người.  Trong cuộc thương khó, giữa tiếng ồn ào của đám đông bị kích động, Con Thiên Chúa thì bị án tử, và kẻ sát nhân lại được tha!  Chi tiết này đã làm cho cuộc thương khó của Chúa Giê-su thêm phần bi kịch.

Trình thuật thương khó kết thúc ở nấm mồ.  Các môn đệ và những người phụ nữ trước đây đã theo Chúa Giê-su đang ở trong một tâm trạng hoang mang tột độ.  Họ không biết những gì sẽ tiếp tục xảy đến.  Với lòng yêu mến và kính trọng Thầy mình, các môn đệ đã hạ xác Chúa và vội vàng an táng trong mồ.  Những người phụ nữ thì chuẩn bị thuốc thơm để sau ngày nghỉ lễ sẽ xức xác Chúa.  Bài Thương khó kết thúc như những dấu chấm lửng, dường như muốn cho các độc giả hãy đón đọc ở phần sau, với nhiều hấp dẫn mới.  Sau khi cử hành Phụng vụ Lễ Lá, Phụng vụ Tuần Thánh giúp các tín hữu tiếp tục suy tư về những gì mình đã được chứng kiến trong trình thuật hôm nay.  Chúng ta sẽ dần dần từng bước cử hành những biến cố quan trọng trong những ngày cuối đời dương thế của Chúa Giê-su.   Nói cách khác, trình thuật Thương khó như một dẫn nhập để đưa các tín hữu tới những nghi thức long trọng của Tuần Thánh.

Nếu đau khổ và vinh quang cùng đan xen trong biến cố khổ nạn của Chúa Giê-su, thì hôm nay, trong cuộc sống của chúng ta, đau khổ và vinh quang cũng vẫn đang cùng nhau hòa quyện.  Người tín hữu nhìn thấy qua mầu nhiệm thập giá vinh quang của Thiên Chúa.  Vinh quang ấy chiếu tỏa cho mọi thế hệ, để những ai đến với thập giá Chúa Ki-tô, sẽ tìm được bình an và hướng đi cho đời mình.  Trong cuộc sống đầy gian nan thử thách, những ai tin cậy phó thác nơi Chúa, sẽ cảm thấy gánh cuộc đời nhẹ nhàng hơn.  Chúa Giê-su đã mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).  Chúng ta hãy tham dự nghi thức Tuần Thánh với niềm phó thác cậy trông để có thêm nghị lực bước đi trên con đường thập giá cuộc đời.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI LINH HỒN MÌNH

Chúng ta có nhiều ảnh của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.  Chị Céline của Thánh Têrêxa đã chụp nhiều ảnh của Têrêxa, nhưng trên những ảnh này có một điểm đáng chú ý.  Nữ tu dòng người Anh dòng Cát Minh Ruth Burrows từng nghiên cứu những tấm ảnh này, sơ thấy trong các bức ảnh đó, không hiểu vì sao Têrêxa luôn cô đơn, kể cả khi chụp ảnh chung.

Đây là điều bất thường.  Têrêxa là người thân ái, nồng hậu, giỏi giao tiếp và được quá nhiều người yêu mến.  Nhưng trong mọi tấm ảnh chụp, kể cả khi chụp Thánh Têrêxa chụp chung với gia đình mà ngài thương yêu hết lòng, vẫn luôn có một nỗi cô đơn nào đó, một sự cô độc rõ ràng.  Tuy nhiên, cô đơn mà ngài thể hiện không phải kiểu cô độc của người xung khắc với gia đình và cộng đồng, mà là một tách biệt nào đó của linh hồn, một điều có thể gọi là nỗi cô đơn tinh thần.  Nó là gì?  Linh hồn của chúng ta có thể cô đơn khi đang đắm mình trong tình bạn, tình yêu và gia đình sao?

Có, và nó đúng với tất cả chúng ta, đúng với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và đúng với Chúa Giêsu.

Nhìn vào các sách phúc âm mô tả cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta thấy điều mà các thánh sử nhấn mạnh không phải là nỗi đau thể xác.  Trong khi những đau đớn thể xác đó rất khủng khiếp, nhưng các phúc âm không chăm chăm vào đó.  Điều mà các thánh sử nêu bật là sự thống khổ về cảm xúc của Chúa Giêsu, sự cô độc, cô đơn của linh hồn khi Ngài chịu khổ nạn và chịu chết.  Các phúc âm viết, trong giờ tuyệt vọng nhất, khi chỉ còn một mình, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị hiểu lầm, bị sỉ nhục, trở thành kẻ bị tất cả đồng lòng loại ra, thì nỗi đau khổ Ngài phải chịu là nơi tâm hồn hơn là thể xác.

Phúc âm theo thánh Luca nói, cơn thống khổ của Ngài diễn ra trong vườn Giếtsêmani.  Và điều này thể hiện quá rõ ràng.  Chúa Giêsu cũng chịu đau khổ ở nhiều nơi khác, trong đền thờ, nơi sa mạc, ở quê nhà, nhưng cơn thống khổ khốc liệt nhất diễn ra trong vườn Giếtsêmani.  Tại sao lại là trong vườn? Như chúng ta biết, trong khuôn mẫu văn học, khu vườn không phải là nơi trồng rau, mà là nơi của niềm vui.  Khu vườn hình mẫu là một nơi huyền bí của niềm vui, nơi tình nhân gặp gỡ, nơi bạn bè nâng chén thù chén tạc, nơi Adam và Eva trần truồng, ngây thơ, chưa biết đến tội.  Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu không phải là Chúa Giêsu Thầy dạy, Chúa Giêsu Chữa lành hay Chúa Giêsu Làm phép lạ.  Trong vườn, Ngài là Chúa Giêsu người yêu, một người vui mừng trong tình yêu và đau khổ trong tình yêu, và Ngài gọi mời chúng ta đến với khu vườn của đau khổ, thân mật và vui mừng này.

Các phúc âm nhấn mạnh, điều Chúa Giêsu chịu đựng nhất khi bị đóng đinh không phải là nỗi đau của đòn roi và bị đóng đinh xuyên qua tay, nhưng là sự cô đơn sâu sắc của tâm hồn, một nỗi đau quá lớn so với những đau đớn thể xác kinh khủng đó.  Chúa Giêsu không phải là một chiến sĩ về thể chất, nhưng là chiến sĩ về tinh thần, đang chiến đấu với tâm hồn mình.

Sự cô đơn tinh thần là gì?

Lần đầu tiên tôi gặp từ này là khi đọc những bài viết của tác giả Robert Coles mô tả bà Simone Weil.  Và từ này nói lên, trong mỗi người chúng ta có một chốn thâm sâu, một tâm điểm thuần khiết, nơi mọi dịu hiền, thiêng liêng, đáng trân quý được giữ gìn và bảo vệ.  Chính ở đó, chúng ta là chính mình một cách chân thực nhất, chân thành nhất và ngây thơ nhất.  Đó là nơi chúng ta vô thức nhớ ra rằng, rất lâu trước khi có ý thức, chúng ta đã được nâng niu bởi đôi tay êm ái hơn đôi tay của chúng ta nhiều.  Đó là nơi chúng ta vẫn cảm nhận được nụ hôn ban đầu của Thiên Chúa.

Ở nơi này, hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng ta sợ sự khắc nghiệt, vô lễ, sỉ nhục, giễu cợt, bạo hành, dối trá.  Ở nơi này, chúng cực kỳ dễ bị tổn thương và vô cùng cẩn trọng về việc để cho ai bước vào không gian này, dù không gian sâu sắc nhất của chúng ta là tìm được ai đó để chia sẻ không gian này với mình.  Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình ở không gian đó về mặt tinh thần, trở thành người tri kỷ của mình.  Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta chính là được hòa hợp về tinh thần.

Nhưng không dễ có được thế.  Người bạn đời tinh thần hoàn hảo rất hiếm gặp, kể cả trong tình bạn hoặc trong một hôn nhân tốt đẹp.  Và chúng ta luôn mãi đối diện với một cám dỗ kép: Giải quyết xung lực này bằng cách an phận với những thứ bù đắp nào đó, giúp ta sống qua tạm hôm nay, hoặc tệ hơn nữa, vì chúng ta quá nhức nhối không thể sống nổi, nên đã thả mình chiều theo cay đắng, giận dữ và cay nghiệt, khinh rẻ ước mơ lớn lao của mình.  Dù cách này hay cách khác, chúng ta đều bán rẻ mình và an phận với cái tốt thứ hai.

Trong cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu với nỗi cô đơn tinh thần, có điều gì đó để chúng ta rút ra không?  Đó là Ngài từ chối cả chấp nhận thứ bù đắp và chai đá tâm hồn.  Ngài vẫn tiếp tục hành trình và đưa xung lực này đến điểm tới hạn của nó.

Sự cô đơn tinh thần của chúng ta có thể kinh khủng lắm.  Tuy nhiên, nó không phải là sự phê chuẩn hay lời mời gọi để bắt đầu từ bỏ những cam kết, trách nhiệm, luân lý, hay bất kỳ điều gì cần thiết để tìm được người tri kỷ khó tìm mà chúng ta thiết tha mong mỏi.  Điều mà Chúa Giêsu (và những người như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và triết gia Simone Weil) làm gương cho chúng ta, chính là cách mang lấy xung lực đó một cách lý tưởng, cách để đưa cô độc của mình lên một tầm cao mới, và cách để bất chấp đang đau đớn như thế nào, cũng vẫn đương cự lại việc xem cái tốt thứ hai như là cái tốt nhất có thể.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỪNG NÉM ĐÁ.  XIN ĐỪNG.  HÃY BỎ ĐÁ XUỐNG

Đoạn Tin Mừng Thánh Gio-an (Ga 8,1-11) kể lại việc người ta đem đến cho Chúa Giê-su một thiếu phụ, chị này không có tên, cũng chẳng có danh tính nào khác: chỉ biết chị là một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, có vậy thôi.  Chị bị mắc kẹt trong một tình huống đặc biệt gây tò mò (x.Ga 7,53-8,11).  Tuy nhiên, trên hết cô ấy là một tội nhân được tha thứ.

Đối với một kẻ ngoại tình, cần có ba người, nghĩa là có vợ, chồng và nhân tình.  Nhưng ở đây chỉ có một mình thiếu phu được các luật sĩ và biệt phái đưa đến trước mặt Chúa Giê-su.  Ban đầu, người ta không quan tâm đến chị mấy: điều quan trọng nhất là các nhà thông luật đã thử Chúa Giê-su, nên đặt Người vào một tình huống tế nhị.  Liệu Chúa có minh oan cho người phụ nữ này, đi ngược lại luật Mô-sê không?  Hay Chúa quyết định lên án chị?

Mọi người có mặt đều hồi hộp đợi Chúa trả lời.  Nhưng Chúa Giê-su thay vì từ chối trả lời câu hỏi một cách trực tiếp của các luật sĩ và biệt phái, Người đã xoay chuyển tình thế: từ câu hỏi của các ông về việc áp dụng Luật Mô-sê, sang việc yêu cầu các ông tự chất vấn lương tâm của chính mình với câu:  “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8,7).

Chúng ta không biết gì về thái độ của người thiếu phụ trong vụ án này, vì chị không có tên.  Chị từ đâu đến chúng ta cũng chẳng hay, ngoại trừ lỗi lầm của chị, một lỗi lầm công khai không thể nghi ngờ, một lỗi lầm mà bất cứ người phụ nữ nào cũng không tự bảo vệ được mình.  Chúng ta hình dung ra chị đứng trước đám đông với cáo trạng, chắc chị đang sợ hãi, xấu hổ, có lẽ nhếch nhác, đầu tóc, quần áo, “bị bắt quả tang” mà.

Câu nói của Chúa Giê-su với chị: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi?  Không ai kết án chị ư?” ( Ga 8,11).  Nghĩa là chỉ sau khi những người buộc tội chị ra đi hết, chị mới có thể mở miệng và nói được mấy từ để đáp lại Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, không ai cả” (Ga 8, 11).  Từ “Thầy” ở đây không phải là một lời tuyên xưng đức tin, mà là một cách xưng hô tôn trọng cùng người đối thoại với chị.  Cuộc đối thoại ngắn gọn, nhưng những lời cuối cùng của Chúa Giê-su nói lên điều cốt yếu.  Cũng một câu: “Ai trong các ông sạch tội hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8.7), khiến các thẩm phán con người đã tự xét xử mình, và vị thẩm phán thiêng liêng, ban sự tha thứ cho thiếu phụ phạm tội ngoại tình, đồng thời khuyến khích mọi người đừng phạm tội nữa.

Qua câu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7), Chúa Giêsu muốn hướng con người nhìn về tâm hồn mình, để nhận biết tội lỗi bản thân và ăn năn trước khi kết tội anh chị em đồng loại.  Hơn nữa việc kết tội không thuộc quyền của con người mà là đặc quyền của Thiên Chúa.  Chỉ có Thiên Chúa mới có thẩm quyền kết án con người.  Khi con người kết án anh chị em mình là lúc họ đặt mình ngang quyền với Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng muôn vật.

Khi bàn về câu truyện này, thánh Au-gút-ti-nô dùng hai từ bằng tiếng La tinh là Miseria và misericordia (Khổ đau và lòng thương xót) bởi vì “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3,17).

“Bấy giờ Chúa Giê-su đứng thẳng dậy và bảo nàng: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi?  Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai.”  Chúa Giê-su bảo: “Ta cũng thế, Ta không kết tội chị.  Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8, 10-11).

Đoạn Tin Mừng này có thể được gọi với tiêu đề là: “Tội nhân được tha thứ.”  Khi đọc đoạn này, nhiều người đã tập trung vào chiều kích tội lỗi và lời buộc tội chị được các biệt phái và luật sĩ đưa ra.  Tuy nhiên, điểm nổi bật hơn cả của câu chuyện liên quan đến sự tha thứ mà Chúa Ki-tô ban cho một người phụ nữ bị những người đàn ông sẵn sàng lên án tử.  Một người phụ nữ vô danh, đại diện cho những nạn nhân, hay những người yếu đuối nhất, đến nỗi bị coi như một đồ vật, nhưng lại là những người mà Chúa Ki-tô dành cho họ cái nhìn với sự chú ý, nhất là sự tha thứ yêu thương và giải phóng của Người.

Câu chuyện Người đàn bà ngoại tình theo truyền thống là tên được đặt cho đoạn Phúc âm Gio-an 7, 53 – 8,11.  Đoạn văn ghi lại ý định ném đá một phụ nữ bị cáo buộc về tội ngoại tình của những người thuộc phái Pha-ri-sêu.  Vào thế kỷ thứ 4, Thánh Au-gút-ti-nô hỏi liệu những người chồng ghen tuông, lo lắng về sự tự do mà Chúa Giê-su ban cho những người vợ, có xé trang này ra khỏi Kinh thánh của họ không!  Trên thực tế, đoạn văn này không được tìm thấy trong hầu hết các bản viết tay tiếng Hy Lạp trước thế kỷ 12, và cũng không có trong một số bản viết tay tiếng Latinh.

Đừng ném đá vào người phụ nữ ngoại tình/Tôi đứng đằng sau chuyện đó!” (Georges Brassens, “Dưới bóng những người chồng”).  Đoạn văn này là một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất trong Tin Mừng, và câu nói “đừng ném đá” bắt nguồn trực tiếp từ đó.

Thông điệp của Chúa Giê-su rất rõ ràng: Thiên Chúa tha thứ vô ngần vô hạn, vượt quá mọi mức độ.  Ngài là như vậy, Ngài hành động vì tình yêu và sự nhưng không.  Chúng ta không thể trả ơn Thiên Chúa, nhưng khi chúng ta tha thứ cho anh chị em của mình, chúng ta bắt chước Thiên Chúa.  Đừng ném đá vào người phụ nữ ngoại tình.  Xin đừng ném đá.  Hãy bỏ đá xuống khỏi tay.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

THÁNH PHANXICÔ PAOLA ẨN TU (1416-1507)

Phanxicô chào đời tại Paola miền Calabria ngày 27 tháng 5 năm 1416.  Cha mẹ Ngài là những người nghèo khổ nhưng rất đạo đức.  Lập gia đình đã lâu mà không có con, họ xin thánh Phaxicô khó khăn cần bầu.  Họ được nhận lời và khi đưa con trẻ tới bờ giếng rửa tội, họ đã đặt tên cho con trẻ là Phanxicô để tỏ lòng biết ơn.

Người mẹ thánh thiện đã muốn tự mình nuôi dưỡng đứa trẻ và có thể nói, bà đã cho con hấp thụ nền đạo đức cùng với dòng sữa mẹ.  Bởi thế ngay từ thuở ấu thơ, Phanxicô đã yêu thích cầu nguyện và hy sinh là hết lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Một ngày trời lạnh, bà mẹ thấy con quỳ lần chuỗi ngoài vườn, bà bảo: “Cầu nguyện lâu như vậy sao con không lấy nón mà đội?”

Phanxicô nói mình phải để đầu trần vì: “Việc đó lại không phải để lòng tôn kính Đức Trinh Nữ là Nữ Vương Thiên quốc sao?”

Một trẻ em đạo đức cũng là một gương mẫu vâng phục.  Người ta kể lại rằng: ngày kia bà thân mẫu bảo Phanxicô ngừng cầu nguyện để giải trí đôi chút, thánh nhân đã mau mắn trả lời: “Mẹ biết con rất thích nói chuyện với Chúa, nhưng con xin vâng theo lời mẹ dạy.”

Lúc 13 tuổi, Phanxicô vào dòng thánh Marcô của các cha dòng Phanxicô, để thực hiện lời khấn của cha mẹ Ngài, khi Ngài bị bệnh sưng mắt.  Tại tu viện, Phanxicô dù không có lời khấn, nhưng đã sống đời gương mẫu nhiệm nhặt.  Các thầy dòng cảm kích vì gương mẫu của thánh nhân đã tìm cách giữ Ngài lại trong dòng.  Nhưng hai năm sau, Phanxicô cùng với cha mẹ đi hành hương Roma.  Trở về, Ngài biết rõ ý Chúa muốn kêu gọi mình cách khác.  Được sự đồng ý của cha mẹ, Ngài lui vào nơi thanh vắng và nhiệt tâm sống đời cầu nguyện hy sinh.

Hương thơm nhân đức của vị ẩn sĩ 15 tuổi lan rộng khắp nơi.  Đến năm 19 tuổi, vì sự khẩn nài tha thiết Ngài đã nhận một số bạn trẻ.  Họ làm ba phòng và một nhà nguyện gần hang đá của Ngài.  Hàng ngày một lần đến cử hành thánh lễ và ban các phép bí tích.  Đó là nguồn gốc của dòng Anh em rất hèn mọn (Minimes), được tòa thánh phê chuẩn năm 1506.  Các tu sĩ của dòng này kiên trì thực hành Đức khiêm tốn và Bác ái.  Ngoài ba lời khấn họ còn giữ chay trường.

Chắc chắn trong dòng không ai sống đời nhiệm nhặt khắc khổ, khiêm tốn và vui tươi hơn thánh Phanxicô.  Đời sống như một hiến tế không ngừng ấy làm đẹp lòng Chúa, khiến thánh nhân được ơn làm nhiều phép lạ.

Chúng ta ghi lại một vài phép lạ như sau:

– Một lần kia, thánh nhân muốn đi từ Calabria về Sicilia.  Nhưng vì không có tiền trả lộ phí cho mình và cho một người bạn đường, các thủy thủ đã không cho Ngài xuống tàu, Thánh nhân liền trải áo xuống nước và cùng với người bạn đường áp con tàu kỳ lạ này về Sicilia.

– Một lần khác công nhân xây cất tu viện của Ngài thiếu nước Ngài làm cho một cái giếng nước chảy ra từ một phiến đá.  Giếng này không bao giờ cạn.

– Đặc biệt nhất phải kể đến việc Ngài phục sinh cho đứa cháu của mình.  Em Ngài là Birgitta có một đứa con muốn vào tu dòng của cậu.  Nhưng với sự quyến luyến tự nhiên của một người mẹ, bà luôn tìm cách ngăn cản.  Đứa bé đã chết.  Bà tìm đến gặp anh mình để mong được an ủi.  Bà nói: – Chính em đã gây ra cái chết này, nếu em đồng ý cho nó đi tu thì nó đã không phải chết.

Thánh nhân trả lời em mình: – Nếu nó còn sống thì em có đồng ý không?

– Dĩ nhiên nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi.

Không nói thêm một lời, Phanxicô đến gần đứa trẻ và làm cho nó sống lại.  Người mẹ dường như không tin ở mắt mình nữa.  Người ta còn nói có tới 60 người được thánh nhân làm cho sống lại như vậy.

Đức giáo hoàng Phaolô II muốn biết rõ những lời đồn thổi về thánh nhân.  Ngài sai một người đến tìm hiểu thực hư.  Vị sứ giả đến tu viện mà không báo tin trước.  Thấy Phanxicô, Ngài muốn cung kính hôn tay thánh nhân, nhưng vị tu sĩ đã phản đối.

Ngài nói: – Chính con phải hôn đôi tay đã 33 năm dâng hy lễ mới phải.  Vị sứ giả rất đỗi kinh ngạc vì Phanxicô đã không hề biết tới Ngài trước đây.  Để sáng tỏ hơn, Ngài đàm luận riêng với thánh nhân và rất thán phục vì những lời đáp đầy khôn ngoan và đức tin của Thánh nhân.  Trở về trình bày cho Đức Giáo hoàng, vị sứ giả cho biết những lời đồn thổi về công việc và công đức của thánh Phanxicô Paola còn kém xa sự thực rất nhiều.

Vua Luy XI đau nặng.  Ông muốn mời thánh nhân đến Pháp để xin được chữa lành.  Thánh nhân còn ngập ngừng, nhưng vâng lệnh Đức giáo hoàng, Ngài liền lên đường không một suy nghĩ đắn đo.  Đáp lại nguyện vọng sống lâu của nhà vua Thánh nhân trả lời: – Cuộc sống của vua Chúa cũng có giới hạn như bao người khác.  Lệnh của Thiên Chúa không thể xoay đổi được, tốt hơn cả là hãy vâng theo ý Chúa và dọn mình chết lành.

Cảm động vì những lời khuyên này, nhà vua đã hối cải và qua đời cách thánh thịên.

Phanxicô vội trở về Italia.  Nhưng vua Charles VIII đã giữ ông lại.  Cả vua Luy XII sau này cũng vậy.  Thánh nhân được coi như vị cố vấn soi sáng lương tâm và trong cả việc nước của hai vị vua nước Pháp ấy.  Tại đây Ngài thiết lập nhiều nhà dòng.

Khi cảm thấy sắp phải lìa trần, thánh nhân như được tiếp nhận một tin vui.  Ngày thứ năm tuần thánh, Ngài tập họp các tu sĩ lại, khuyên họ giữ chay trường và luật dòng.  Cầm than nóng trong tay Ngài nói: – Cha đoan quyết với con rằng: đối với người yêu mến Chúa, việc hoàn thành điều mình đã hứa với Chúa không khó hơn việc Cha cầm lửa trong tay này đâu.

Sau đó dựa vào một tu sĩ, Ngài dự lễ và rước mình thánh Chúa.  Vì được ơn nói tiên tri và làm phép lạ, được mọi người từ vua quan tới dân chúng kính trọng, Ngài cột giây vào cổ và muốn người chết như một tội nhân.  Ngày thứ sáu tuần thánh sau khi chỉ định người kế vị, chúc lành cho con cái, Ngài hôn thánh giá và tắt thở.  Hôm ấy là ngày 02 tháng 04 năm 1507, hưởng thọ 91 tuổi.

Sưu tầm

GIUĐA PHẢN BỘI, PHÊRÔ CHỐI THẦY VÀ NGƯỜI TRỘM LÀNH DẠY CHO CHÚNG TA NHỮNG BÀI HỌC GÌ?

Hỏi: Nhân Mùa Chay, xin cha giải thích ý nghĩa việc Giuđa phản bội, người trộm lành sám hối và Phêrô chối Chúa như được ghi lại trong trong các Tin Mừng.

Trả lời: Mùa chay là thời điểm thuận lợi nhất để Giáo Hội mời gọi con cái mình suy niệm sâu xa hơn nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi đau khổ, sỉ nhục và chết trên thập giá để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội và có hy vọng được sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước Trời.

Mùa chay cũng là mùa sám hối, thúc dục mọi tín hữu nhìn nhận tội lỗi đã phạm để xin Chúa nhân lành khoan dung thứ tha vì Người “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” (1Tm 2:4).  Thiên Chúa là Cha rất nhân lành Người “chậm giận và giầu tình thương.”  Vì thế, ai có lòng trông cậy và kêu xin thì dù cho tội lỗi đến đâu cũng sẽ được tha thứ.  Chỉ có sự tuyệt vọng, không còn muốn xin Chúa thương xót tha thứ nữa mới làm bế tắc tình thương bao la của Thiên Chúa cho con người mà thôi.  Sau đây là nhũng bài học ta có thể rút ra từ việc Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa và người trộm lành sám hối.

Tin Mừng Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều ghi lại sự kiên Phêrô chối Thầy, Giuđa Ít-ca-ri-ốt, một trong 12 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã phản bội Thầy, bán Thầy và tuyệt vọng đến mức treo cổ tự tử sau đó (Mt 27: 5).

Riêng Tin Mừng Luca ghi lại sự kiện “Người gian phi sám hối và được vào Thiên Đàng với Chúa Giêsu”.

– Trường hợp của Giuda

Giuđa tượng trưng cho lớp người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa để phản bội người khác, kể cả ân nhân.  Giuđa là một trong Nhóm 12 Tông Đồ nòng cốt mà Chúa Giêsu đã chọn lựa cho tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa từ lúc ban đầu.  Giuđa đã được diễm phúc sống bên Chúa suốt 3 năm, đã được trực tiếp nghe lời giảng dạy của Chúa về Nước Trời, về tinh thần khó nghèo cũng như chứng kiến tận mắt đời sống khó nghèo của Chúa ở mức “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8: 20).  Vậy mà Giuđa đã không được cảm hóa theo gương khó nghèo của Chúa.  Vì thế Giuda đã cam tâm bán Chúa lấy 30 đồng bạc.  Nhưng khi chứng kiến cảnh Thầy mình bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, Giuđa đã hối hận đem tiền trả lại bọn thượng tế và kỳ mục Do Thái rồi đi thắt cổ chết.  Hắn tự tử vì quá tuyệt vọng, không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương, tha thứ của Chúa nữa.  Đây là điều rất đáng buồn cho anh ta và là gương xấu cho người khác.

Thật vậy, Giuđa đã trở thành gương xấu không những vì tham mê tiền của, phản bội mà nhất là tuyệt vọng về lòng xót thương của Chúa.  Đây là điều đáng nói nhất về người môn đệ phản bội này, vì y đã mất hết niềm tin vào Thiên Chúa nhân lành, sẵn lòng tha thứ hết mọi tội lỗi của con người trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội tuyệt vọng không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương tha thứ của Chúa nữa.  Giuđa đã phạm tội này khi tự tử chết.

Chúa Giêsu đã than thở như sau về sự phản bội của Giuđa:

“… Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” (Ga 17: 12)

lại nữa:

“… đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26: 24; Mc 14: 21).

Dầu vậy, Giáo Hội cũng không dám kết luận chắc chắn về số phận đời đời của Giuđa.  Việc này chỉ có một mình Thiên Chúa biết vì Người đã phán đoán Giuđa theo lượng từ bi và công bằng của Người.

Ngược lại, Giáo Hội chỉ lưu ý con cái mình về gương xấu của Giuđa mà thôi.  Gương xấu vì Giuđa đã mê tiền của hơn yêu mến Thầy, nên đã phản bội Thầy khi bán Người lấy 30 đồng bạc của các Thượng Tế và kỳ mục Do Thái.  Nhưng điều đáng nói nhất về Giuđa là sự tuyệt vọng của anh, khi không còn muốn sám hối để xin Chúa tha thứ nữa, để rồi đi treo cổ tự tử (cf. Mt 27:5).  Đây là gương xấu mà mọi tín hữu phải xa tránh vì thực chất của nó là mất hết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, là Cha nhân từ luôn sẵn lòng tha thứ cho kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.

– Phêrô chối Chúa

Ngược lại với Giuđa là kẻ nêu gương xấu về tham tiền và tuyệt vọng, Phêrô lại dạy cho chúng ta bài học quý giá về lòng ăn năn sám hối.

Phêrô cũng có khuyết điểm là quá tự tin nơi mình khi tuyên bố lúc ban chiều trước khi Chúa Giêsu bị bắt: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” (Mt 26:35).

Nhưng đúng như lời Chúa đã nói trước là đêm đó gà chưa gáy sáng thì Phêrô đã chối Chúa ba lần.  Nhưng chối xong và nhớ lại lời Chúa đã nói trước, Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (cf. Mt 26: 75; Lc 22: 62).  Ông khóc vì ăn năn hối hận đã hèn nhát chối Thầy trước những kẻ bắt bớ và hành hạ Người cách tàn nhẫn.  Chính vì thật sự thống hối ăn năn mà Chúa đã tha cho Phêrô tội công khai chối Chúa và còn tín nhiệm trao phó cho Phêrô sứ mệnh “chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Thầy” (Ga 21: 15-16).

Như thế đủ cho ta thấy là dù tội lỗi con người có nặng đến đâu, nhưng nếu biết sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa thì chắc chắn sẽ được tha thứ và nối lại tình thân với Người, sau khi đã lỡ sa ngã vì yếu đuối của nhân tính do hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại.

– Người gian phi sám hối (Lc 23:40-42)

Tin Mừng Luca kể rõ hai tên gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu, một đứa bên phải, một đứa bên trái, trong khi Matthêu nói đó là hai tên cướp (Mt 27: 38).  Chúng bị đóng đinh vì tội trôm cướp, và một trong hai tên gian phi này đã nhận biết tội của mình nên xin cùng Chúa Giêsu rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của Ông xin nhớ đên tôi.  Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 42-43)

Như thế, chỉ có lòng ăn năn sám hội thực sự là đáng kể vì là điều đẹp lòng Chúa, và Người sẽ tha hết mọi tội lỗi cho những ai nhận biết mình có tội và xin Chúa thứ tha.  Người gian phi sám hối hay còn được gọi là “kẻ trộm lành” đã vào Thiên Đàng bằng đường tắt nhanh chóng chỉ vì biết ăn năn sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa để xin tha thứ.

Người trộm lành này đã từng đi đàng tội lỗi không biết là bao nhiêu năm, nên bị đóng đanh vì những trọng tội mà xã hội Do Thái phải trừng phạt bằng cực hình đóng đanh.  Nhưng Chúa đã tha thứ cho anh mọi tội, từ tội nguyên tổ cho đến mọi tội cá nhân anh đã phạm cho đến ngày bị đóng đanh chung với Chúa, là Người lành vô tội, nhưng đã cam lòng chiu khổ hình thập giá để đền thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội.

Dĩ nhiên chúng ta không thể bắt chước “người trộm lành” bằng cách cứ sống tội lỗi rồi cuối cùng sám hối xin Chúa tha thứ để được vào Nước Trời.  Ta chỉ có thể noi gương tốt của anh về lòng sám hối và tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa để xin Người tha thứ mọi tội cho ta đã lỡ sa phạm vì yếu đuối của bản chất và vì ma quỉ cám dỗ.  Nhưng ta không thể bắt chước anh ta làm những việc sai trái hay đối nghịch với tình thương, sự thánh thiện và công bằng của Chúa để chờ xin tha thứ vào phút chót.  Không ai có thể biết ngày giờ nào mình phải ra đi, nên không thể liều mình sống trong tội chờ ngày sám hối được.  Cố ý sống như vậy là lợi dụng lòng thương xót, tha thứ của Chúa.  Và nếu ai cố ý liều lĩnh như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo nghiêm khắc sau đây:

“Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.  Phải chi ngươi lạnh hẳn đi, nhưng vì người hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3: 15-16)

Tóm lại, điều thiết yếu là ta phải cố gắng xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội là cản trở duy nhất cho ta sống đẹp lòng Chúa mỗi giây phút của đời mình trên trần thế này.  Tuy nhiên, vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, nhất là vì ma quỉ luôn rình rập để lôi kéo ta vào vòng tội lỗi, nên cần thiết cho ta phải xin ơn Chúa giúp sức để có thể đứng vững, sống theo đường lối của Chúa để được an vui ngay trên đời này trước khi được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
(Nguồn danchuausa.net)

TRỖI DẬY VÀ TRỞ VỀ 

Chúa nhật thứ bốn Mùa Chay là điểm giữa của hành trình Mùa Chay, Phụng vụ khích lệ chúng ta: nếu có trải qua những khổ chế hy sinh của Mùa Chay, là vì chúng ta đang hướng về nhà mình, về với Cha, Đấng nhân hậu hằng yêu thương và chờ đợi chúng ta trở về.  Quả thực, hành trình Mùa Chay là hành trình trở về, dù phải trải qua hy sinh, nhưng luôn đong đầy niềm vui và hy vọng.  Cũng vì lẽ đó mà luật Phụng vụ cho phép các linh mục có thể mặc lễ phục màu hồng trong Chúa nhật này, vì màu hồng biểu thị cho niềm vui và hy vọng.  Lễ phục màu hồng như dấu hiệu của niềm vui đi kèm với lời hứa về lễ Phục sinh.  Truyền thống cũng gọi Chúa nhật thứ bốn Mùa Chay là Chúa nhật “Laetare,” tiếng La-tinh có nghĩa là “vui mừng.”

Niềm vui trở về trước hết được diễn tả trong Bài đọc I trích sách Giô-suê.  Dân Do Thái sau bốn mươi năm lang thang trong sa mạc, nay đã trở về Ca-na-an, mảnh đất mà Thiên Chúa đã hứa cho các Tổ phụ.  Gọi là “trở về” vì đây chính là nơi ông Áp-ra-ham và vợ mình là bà Sa-ra đã sống và an nghỉ.  Trở về với Ca-na-an, người Do Thái về đất tổ của mình.  Chính Thiên Chúa ban cho họ đất này.  Họ không còn ăn những sản phẩm nhàm chán trong cuộc lữ hành, nhưng bắt đầu làm nhà định cư và được hưởng những thổ sản của địa phương.  Niềm vui của Dân Chúa thật tràn trề khi họ trở về đất hứa.

Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca là một trong những tuyệt tác văn chương của Kinh Thánh.  Dụ ngôn ấy vừa nói về lòng nhân hậu bao dung của người cha, vừa nêu bật niềm vui hân hoan của người con đã có thời đi hoang.  Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” mang ý nghĩa đặc biệt trong Năm Thánh Hy Vọng 2025 này.  Từng chi tiết của câu chuyện có thể tìm thấy trong hoàn cảnh cuộc đời của mỗi cá nhân chúng ta.  Nói cách khác, mỗi người chúng ta có thể nhận thấy chính mình trong câu chuyện này.

Có thể chúng ta là người con thứ đã có thời lầm lỗi, nay cảm nhận được hậu quả của tội lỗi cũng như sự sa vắng tình thương, nên trỗi dậy để quyết tâm trở về với cha mình.  Câu nói của người con thứ: “Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha, và thưa với người rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha....”  Phạm tội trước hết là đắc tội với Trời, với Thiên Chúa.  Vì Ngài là Đấng dựng nên chúng ta, đồng thời dạy chúng ta sống tốt lành.  Phạm tội cũng là đắc tội với những người thân và anh chị em đồng loại, vì tội như một thứ bệnh truyền nhiễm, gây ảnh hưởng tiêu cực nơi môi trường sống và tác hại đến những người xung quanh.  Câu tự nhủ của người con thứ nói lên tình liên đới của con người do những hành động tốt hoặc xấu của một thành viên trong gia đình và xã hội.

Có thể chúng ta là người con cả.  Quanh năm ngày tháng anh vẫn ở với cha mình.  Anh được coi là người hiếu thảo, tận tâm chăm lo giúp đỡ cha trong lúc tuổi già.  Nhưng nếu anh hiếu thảo với cha, thì lại ghen tương và cố chấp đối với đứa em ruột thịt của mình.  Khi người em trở về, ai cũng vui mừng phấn khởi thì anh lại buồn.  Có thể anh buồn vì người em đã làm cho gia đình khốn khổ, đó là cái buồn do sự cố chấp.  Cũng có thể anh buồn vì người em trở về sẽ đòi chia gia tài, đó là nỗi buồn do tham lam.  Dù vì lý do nào, người cha cũng không chấp nhận.  Ông luôn yêu thương cả hai đứa, đứa vẫn chăm sóc ông bấy lâu nay cũng như đứa bỏ nhà ra đi rồi đến lúc phá sản, vì đơn giản ông là NGƯỜI CHA.

Nhân vật chính của dụ ngôn là NGƯỜI CHA.  Ông là hình ảnh của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su kể dụ ngôn này sau khi những người Pha-ri-siêu và kinh sư xầm xì bàn tán vì thấy những người thu thuế và tội lỗi đến với Chúa và được Người đón tiếp.  Đối lại, Chúa Giê-su giảng một chuỗi ba dụ ngôn, gồm dụ ngôn con chiên bị mất; dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất; và dụ ngôn người cha nhân hậu.  Thiên Chúa là Cha của những người Pha-ri-siêu, của những người kinh sư và cũng là Cha của những người thu thuế và người tội lỗi.  Người không nỡ bỏ một ai, như lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó (kẻ gian ác) đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành!  Chúa là Thiên Chúa phán: Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?” (Ed 18,22-23).

Khi cảm nhận được lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa, chúng ta hãy trỗi dậy và vững tâm trở về, dù tội lỗi đến đâu.  Thánh Phao-lô khuyên chúng ta: “Ai ở trong Đức Ki-tô, đều là tụ tạo mới!”  Nếu chúng ta tự tin và can đảm trở về với Chúa, là vì chúng ta vừa xác tín vào lòng nhân hậu của Ngài, vừa cậy nhờ vào Đức Giê-su, vì “trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Ngài(Bài đọc II).

Thiên Chúa là Cha, đang giang rộng cánh tay đón chờ các con cái trở về.  Xin cho chúng ta được hưởng niềm vui của sự trở về, để nhờ đó chúng ta được vững tin và phó thác, tiếp tục bước đi trong hành trình hy vọng.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

LỜI “XIN VÂNG” TRONG LỄ TRUYỀN TIN

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng.  Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Đức Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ.  Phản ứng của Đức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng (Lc 1, 38).  Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa.  Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.  Lập tức sau lời “xin vâng” của Đức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Đức Mẹ.  Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn.  Từ đó “xin vâng” đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.

Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Đức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét (Lc 1, 39 – 45).  Đi thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét.  Theo Đức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác.  Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác.  Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.

Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Đức Mẹ trong kinh Tạ Ơn “Linh hồn tôi tung hô Chúa” (Lc 1, 46 – 55).  Tâm tình Đức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa.  Tâm tình Đức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại.  Tâm tình Đức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.

Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Đức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem (Lc 2, 1 – 7).  Đang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu giá trị con người, thì Đức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy.  Trái lại, Đức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo.  Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Đức Mẹ.  Trên con đường đó, Đức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.

Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.  Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Đức Mẹ là con người mới.  Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ (Lc 1, 35).

Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.

Do đó, Đức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh.  Với đặc điểm là Đức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.

Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.

Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại.  Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa.  Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa.  Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình.  Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình.  Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.  Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Đức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu.  Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân.  Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới.  Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Đức Mẹ.

Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta.  Ta có lắng nghe ý Chúa không?  Và ta có xin vâng ý Chúa thực không?  Đoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:

“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng.  Đức Giê-su đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.”  “Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13, 1 – 5).

Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa.  Đó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình.  Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình.  Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.

Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó.  Rất rõ ràng.  Ở Fatima Đức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó.  Cũng rất rõ ràng.  Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.

Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa.  Hãy bước đi với những bước nhỏ.  Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi.  Như hằng ngày đến bên trái tim Đức Mẹ, để xin trái tim Đức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó.  Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ.  Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị.  Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.

Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Đức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

ĐGM GB. Bùi Tuần

TÌM KIẾM BÌNH AN NỘI TÂM Ư?  HÃY THỬ ĐI XƯNG TỘI!

Có một hiện tượng rất thú vị: quan sát một người chuyển từ trạng thái căng thẳng bên trong được thể hiện qua sự căng thẳng bên ngoài, rồi sang trạng thái bình an và thanh thản!  Chúng ta có thể liên kết hiện tượng này với trường hợp của một hối nhân đứng xếp hàng, chờ đợi đến phiên mình lãnh nhận Bí tích Giải tội, ít nhiều gì, họ dễ bộc lộ chút nào đó của sự bồn chồn, căng thẳng.  Tuy nhiên, sau khi xưng tội và lãnh nhận ơn tha tội, chúng ta rất dễ nhận ra sự bình an nội tâm tỏa ra ngay từ chính nét mặt của người đó khi rời tòa giải tội.

Khoảng 35 năm trước, Mary Ann Budnik đã viết một cuốn sách ngắn nhưng rất tuyệt vời về Bí tích Giải tội với tựa đề “Tìm kiếm sự bình an ư?  Hãy thử Xưng tội!”  Tác giả khuyến khích tín hữu hãy lãnh nhận Bí tích Giải tội thường xuyên để xin ơn bình an và thánh hóa cho các thành viên trong gia đình.

Bà Budnik đã đưa ra một nhận xét rất sâu sắc và thú vị: Khi căng thẳng, áp lực có dấu hiệu gia tăng, và những bất đồng, cãi vã giữa các thành viên trong gia đình có xu hướng tăng lên, thì có thể dẫn đến kết luận rất rõ ràng, đó là, đã đến lúc tất cả các thành viên trong gia đình cần đến với Tòa giải tội.  Chắc chắn là sau khi mỗi người đi xưng tội đàng hoàng về, thì sự hòa thuận sẽ trở lại với bầu khí của gia đình.

Về mặt thần học, nhận xét này rất vững vàng và hợp lý.  Lý do đơn giản là: trong số những hậu quả của tội lỗi phải kể đến: sự căng thẳng, hỗn loạn, ích kỷ, kiêu ngạo, tự ái và lục đục.  Ân sủng của Bí tích giải tội sẽ giúp chống lại những hậu quả tiêu cực này của tội lỗi.

Có thể nói, một đề xuất tuyệt vời để củng cố sự thánh thiện, hòa thuận, yêu thương, bình an và niềm vui trong gia đình, còn được gọi là “Giáo hội tại gia,” là thực hành việc xưng tội hàng tháng.  Từ người gia trưởng cho đến thành viên nhỏ nhất, hãy quyết tâm cùng nhau đi xưng tội hàng tháng, và khuyến khích cả gia đình có được thói quen tốt lành này!

Bốn yếu tố để thực hiện việc Xưng Tội cách Tốt Lành

Thánh Josemaria Escriva Balaguer, đã đặt ra một từ viết tắt dễ nhớ gồm 4 từ nhằm giúp chúng ta lãnh Bí tích hoà giải cách sốt sáng: Rõ ràng (Clear); Súc tích (Concise); Cụ thể (Concrete) và Trọn vẹn (Complete).

1. RÕ RÀNG. Trong Nhật Ký của Thánh Faustina, “Lòng Chúa Thương Xót trong Linh Hồn Tôi”, Chúa Giêsu đã nói rõ với Thánh nữ rằng, điểm khởi đầu để lãnh nhận Bí Tích Giải Tội hiệu quả là phẩm chất không thể thiếu của SỰ MINH BẠCH.  Nói cách khác, đó là sự Rõ ràng.  Thật thế, trong khi các dấu chỉ của Thần Lành là rõ ràng và minh bạch, thì trái lại, sự lộn xộn, mập mờ, mơ hồ, nhập nhằng đều là những dấu chỉ của kẻ thù của linh hồn chúng ta, chính là ma quỷ.  Do đó, khi xưng tội nơi tòa giải tội với linh mục, vị đại diện Chúa Giêsu Kitô, chúng ta hãy nói chậm rãi, rõ ràng, chân thành và hết sức cởi mở.  Hiệu quả chính của Bí tích Giải tội là chữa lành những vết thương mà chúng ta mắc phải do tội lỗi.  Chúa Giêsu, vị Thầy Thuốc Thiêng liêng sẽ chữa lành chúng ta.  Giống như một Bác sĩ sẽ chẳng thể chữa lành cho bệnh nhân trừ khi bệnh nhân bộc lộ những bệnh tật trên cơ thể mình một cách minh bạch và rõ ràng.  Căn bệnh càng rõ ràng thì các ứng dụng của phương thuốc điều trị càng hiệu quả.

2. SÚC TÍCH. Có lẽ vị Thánh và vị linh mục giải tội nổi tiếng nhất trong Giáo hội Công giáo là Thánh Gioan Vianney thành Ars.  Sau khi vượt qua nhiều trở ngại mà ngài gặp phải khi mới đến Giáo xứ, mọi người từ khắp nơi đổ về tòa giải tội của ngài.  Người ta tính rằng thánh nhân giải tội từ 13 giờ đến 18 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong gần 40 năm.  Sức thu hút của ngài với tư cách là một linh mục, một cha giải tội, và một vị thánh đạt đến mức tín hữu đôi khi phải chờ đợi nhiều ngày để đến phiên vào tòa giải tội của ngài.  Những người viết tiểu sử của Thánh Gioan lưu ý rằng, theo nguyên tắc chung, ngài không dành thời gian dài cho mỗi hối nhân.  Thông thường, không kể các trường hợp đặc biệt, mỗi người vào toà xưng tội sẽ mất khoảng 3 phút.

Súc tích có nghĩa là hối nhân cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc xưng tội.  Điều có thể rất hữu ích là hối nhân viết ra tội của mình trước khi bước vào tòa giải tội.  Ngoài ra, ngay cả trước khi gặp linh mục, hối nhân đã phải cố gắng thực hiện một Hành vi ăn năn tội cách trọn vẹn.  Tóm lại, 95% việc xưng tội tốt lành là điều đã được thực hiện trước khi hối nhân bước vào tòa giải tội.

Trong Chương trình truyền hình Dragnet with Joe Friday, có một câu nói cổ điển và dễ nhớ mà ông ấy đưa ra trước khi tham gia vào vụ án: “CHỈ CÓ SỰ THẬT, THƯA BÀ, CHỈ LÀ SỰ THẬT THÔI…” Theo nghĩa song song, hối nhân cần vào tòa giải tội với điều kiện tiên quyết này: “CHỈ LÀ TỘI LỖI, CHỈ LÀ TỘI LỖI THÔI….”  Các yếu tố không liên quan đến việc Xưng tội nên được đặt sang một bên.  Hết sức rõ ràng: Bản chất và nội dung chính của bất kỳ lời xưng tội tốt lành nào đều là lời thú nhận chân thành, minh bạch và súc tích về tội lỗi cá nhân của chính mình.  Điều này có nghĩa là, lời xưng tội của bạn không phải là lời thú nhận của chồng/vợ, con cái, mẹ chồng của bạn, mà là tội lỗi của chính bạn.  Đôi khi, chúng ta có thể nói quá nhiều vì đang lảng tránh vấn đề thực sự về tội lỗi của mình.  Súc tích có nghĩa là ngắn gọn, chính xác; không dài dòng và vòng vo!

3. CỤ THỂ. Một phẩm chất thiết yếu khác để thực hiện Bí tích Giải tội là tầm quan trọng của việc xưng tội một cách cụ thể.  Nên tránh những cách diễn đạt trừu tượng, mơ hồ, chung chung, thiếu diễn tả cụ thể, chẳng hạn như: “Con không đủ tốt…  Con có thể trở thành một người tốt hơn Con không hoàn hảo… Con đã vi phạm các điều răn… Con là một tội nhân thực sự tồi tệ.. . Con đã làm Chúa thất vọng…  Lời nói của con có thể tốt hơn…  Con cũng giống như đại đa số nhân loại – là một tội nhân…  Tội lỗi của con cũng giống như tội lỗi của mọi người,...”  Trái lại, có thể diễn tả cụ thể như sau: “Con bỏ lễ Chúa Nhật vì lười biếng… Con xem phim khiêu dâm 3 lần, mỗi lần nửa tiếng… Con lấy trộm tiền của Công ty vì con tham lam…  Con cố tình uống rượu say 3 lần vào cuối tuần với những người bạn nghiện rượu của con, …” Những lời thú nhận này đều cụ thể và cho thấy nguyên nhân gốc rễ của việc phạm tội!

4. TRỌN VẸN. Bí Tích Giải Tội phải hoàn chỉnh.  Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, cũng như Bộ Giáo luật, quy định rằng để việc Xưng tội được trọn vẹn, hối nhân phải thú nhận cả số tội trọng, cũng như loại tội – nghĩa là loại tội đã phạm.

Ví dụ, một cặp vợ chồng trước khi kết hôn có lẽ đã lâu không xưng tội, một năm chẳng hạn.  Nếu người chồng tương lai này đã không đi lễ trong một năm và rơi vào việc quan hệ trước hôn nhân hoặc lạm dụng ma túy, thì một Lời xưng tội hoàn chỉnh có thể như sau: “Thưa Cha, xin giải tội cho con, vì con đã phạm tội, lần xưng tội cuối cùng của con là một năm trước và đây là tội lỗi của con…. Con lạm dụng ma túy 10 lần; con bỏ Lễ 52 lần, và quan hệ trước hôn nhân 15 lần.”   Việc Xưng tội của người này được xưng một cách hoàn chỉnh: cả về số lần cụ thể, cũng như loại tội.  Sau đó, người ấy nghe thấy những lời tuyệt vời này: “… Cha tha tội cho con nhân danh Cha, Con và Thánh Thần.  Amen.”

Nếu 4 yếu tố này, Rõ ràng, Súc tích, Cụ thể và Trọn vẹn được áp dụng khi chúng ta đến với Bí tích Giải tội – thì hy vọng rằng ơn chữa lành qua Bí tích của Thiên Chúa sẽ đổ tràn xuống tâm hồn, để rồi chúng ta sẽ rời khỏi tòa Giải tội với một sự bình an chẳng thể hiểu và diễn tả nổi.

Bạn và gia đình đang tìm kiếm sự bình an thực sự của tâm hồn ư?  Hãy thử đến với bí tích Hoà giải, ngay trong những ngày còn lại của Mùa Chay này!

Lm. Ed Broom, OMV
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP, chuyển ngữ từ: catholicexchange.com (07. 3. 2023)

CƠ HỘI THỨ HAI

Tờ báo Dallas Morning News đăng một tấm hình của một số tù nhân trong chương trình làm-việc-để-được-tha.  Họ đang phục hồi một căn nhà đổ nát ở phía tây thành phố.  Một vài ngày sau, một trong những tù nhân viết cho ban biên tập, anh nói rằng:

“Cảm ơn quý vị đã loan tin…  Lần sau cùng tên và hình ảnh của tôi được đăng trong tờ báo là ngày tôi bị kết án tù…  Vì thế, đó thực sự là một niềm vui khi tôi thấy hình của mình đang làm một công việc tốt được đăng trong tờ báo của quý vị…

“Khi vào tù 18 tháng trước, tôi rất giống như căn nhà đổ nát mà chúng tôi phục hồi lại…  Nhưng Thiên Chúa đã chăm sóc tôi và làm cho tôi trở nên một tạo vật mới trong Chúa Kitô.”

Thật khó có một minh họa nào tốt hơn cho điều mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài phúc âm hôm nay.

Nửa phần đầu của bài phúc âm nói về hai nhóm người bị giết trong các tai nạn ở Giêrusalem.  Đức Giêsu kết thúc lời nhận xét về các tai nạn này như sau, “Và tôi nói cho quý vị biết rằng nếu quý vị không xa lánh tội lỗi, tất cả quý vị sẽ chết như những người ấy.”

Phần thứ hai của bài phúc âm nói về một cây vả được trồng trong một vườn nho.  Vườn nho là một nơi lý tưởng để cây vả lớn lên.  Nếu một cây vả không thể phát triển ở đó, nó không thể lớn lên ở bất cứ đâu khác.

Cây vả cần ba năm để lớn mạnh.  Nếu nó không sinh trái trong thời gian đó, có lẽ nó sẽ không thể sinh trái vào bất cứ lúc nào.

Điều này giải thích tại sao chủ vườn lại ra lệnh cho người làm vườn phải chặt cây đó xuống.

Và vì thế, thật ngạc nhiên khi thay vì chặt cây ấy xuống người làm vườn lại xin ông chủ cho cây ấy một cơ hội thứ hai.  Ông nói, “Thưa ngài, xin để nó thêm chỉ một năm nữa thôi; tôi sẽ đào xới chung quanh và bón phân cho nó.”

Đức Giêsu có ý định nói dụ ngôn này cho hai nhóm người.  Trước hết, Đức Giêsu có ý nói với dân chúng thời bấy giờ.  Thứ hai, Người muốn nói dân chúng thuộc mọi thời đại.

Nhóm người mà Đức Giêsu nói với họ dụ ngôn hôm nay, dĩ nhiên, là dân Ít-ra-en.  Đức Giêsu nói với họ rằng Thiên Chúa đã ban cho họ một chỗ được chọn lọc trong kế hoạch của Người và đặc biệt chăm sóc họ.  Nhưng họ không sinh kết quả.

Đức Giêsu còn nói với họ rằng, bất kể sự thất bại này, Thiên Chúa sẽ kiên nhẫn với họ thêm chút nữa.  Người sẽ cho họ một cơ hội thứ hai, giống như cây vả.

Nhóm người rộng hơn mà Đức Giêsu muốn nói dụ ngôn này bao gồm tất cả chúng ta ngày hôm nay.

Dụ ngôn của Đức Giêsu cũng áp dụng cho chúng ta.  Chúng ta giống như dân Ít-ra-en.  Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một nơi được chọn lọc trong kế hoạch của Người, và Người đặc biệt chăm sóc chúng ta.  Thiên Chúa mong đợi chúng ta sinh kết quả.  Nếu không, giống như dân Ít-ra-en, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta một cơ hội thứ hai để sám hối.  Nếu chúng ta không sám hối, thì giống như dân Ít-ra-en, chúng ta sẽ chết.

Điều này đưa chúng ta đến câu chuyện phần mở đầu.  Cả tù nhân cũng như căn nhà đổ nát minh họa cho điểm trong dụ ngôn của Đức Giêsu.  Cả hai đều được cơ hội thứ hai.

Căn nhà này bị thành phố loại bỏ.  Nó nằm trong chương trình bị phá hủy.  Nhưng một số người đã thuyết phục các viên chức thành phố là hãy cho nó một cơ hội thứ hai.

Họ nói, “Hãy để các tù nhân làm việc đó.  Nếu họ có thể làm cho nó thành một bất động sản hữu ích, thì chúng ta sẽ không phá hủy nó.”

Chính người tù nhân cũng bị loại bỏ.  Anh được coi là không thích hợp với xã hội.  Anh bị giam trong tù.

Tuy xã hội đã từ bỏ anh, Đức Giêsu thì không.  Người đã cho anh một cơ hội thứ hai.  Cũng như người làm vườn trong bài phúc âm hôm nay, Đức Giêsu đã tưới nước và chăm sóc tinh thần của anh.  Anh đã đáp ứng và trở nên một tạo vật mới.

Mọi người chúng ta đều có thể liên hệ đến câu chuyện này.  Ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời, nhiều người chúng ta cũng giống như cây vả, căn nhà, và người tù.

Chúng ta cũng trong nguy cơ bị coi là vô ích.  Nhưng trong sự thương xót, Thiên Chúa đã xót thương chúng ta.  Giống như căn nhà, người tù, và cây vả, chúng ta được ban cho cơ hội thứ hai.

Vì thế, bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy chân thành biết ơn Thiên Chúa vì Người đã ban cho chúng ta cơ hội thứ hai.  Bài này cũng mời gọi chúng ta hãy quyết tâm tận dụng cơ hội thứ hai của mình.

Và vì thế chúng ta nói với Chúa Giêsu, “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con cơ hội thứ hai.  Xin hãy giúp con tận dụng cơ hội ấy. Xin hãy giúp con thực hiện kế hoạch của Ngài trên chúng con.  Xin giúp chúng con thi hành điều này nhất là trong thời gian còn lại của mùa Chay.”

Chúng ta hãy kết thúc với câu chuyện về một cây vĩ cầm cũ, mà giống như chúng ta, nó được ban cho cơ hội thứ hai.

Nó là một hình ảnh khác về cuộc đời của bạn và tôi và tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.  Tôi hy vọng câu chuyện này sẽ đánh động tâm hồn bạn và khích động bạn cử hành Thánh Lễ hôm nay với sự biết ơn và yêu mến Thiên Chúa hơn bình thường.

“Cây vĩ cầm bầm dập, sứt sẹo và người bán đấu giá.  Tuy không đáng để tốn nhiều thời giờ với cây đàn cũ, người bán đấu giá đã mỉm cười cầm nó lên.  ‘Quý vị ơi, tôi đặt giá bao nhiêu đây?’  Ông lớn tiếng.  ‘Ai là người trả giá đầu tiên?  Một đồng, một đồng, vậy hai đồng, chỉ hai đồng thôi sao?  Hai đồng và có ai trả ba đồng không?’

“‘Ba đồng, gọi lần thứ nhất và ba đồng gọi lần thứ hai, và sẽ được bán với giá ba đồng, nhưng khoan đã…!’ Từ cuối căn phòng một ông già tóc hoa râm tiến lên và cầm lấy cây cung kéo đàn.  Sau khi phủi bụi chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ và căng lại dây đàn, ông chơi một cung điệu thật tinh khiết và ngọt ngào, ngọt như tiếng hát của thiên thần.

“Tiếng đàn chấm dứt và tiếng của người đấu giá ôn tồn nói, ‘Tôi đặt giá bao nhiêu cho cây đàn cũ này?’  Và ông cầm cây đàn ấy lên, ông nói, ‘Một ngàn đồng và có ai trả hai ngàn không?  Hai ngàn đồng và có ai trả ba ngàn không?  Ba ngàn, gọi lần thứ nhất, ba ngàn, gọi lần thứ hai và chấm dứt!’

“Dân chúng hoan hô nhưng có một vài người la lớn, ‘Chúng tôi không hiểu được.  Cái gì đã thay đổi giá trị của nó?’  Có tiếng người đáp ngay lập tức, ‘Bàn tay của một bậc thầy.’  Nhiều khi có người mà cuộc đời đã lạc điệu và bầm dập và sứt sẹo với tội lỗi cũng được bán đấu giá cách rẻ mạt cho đám đông vô tư, rất giống như cây vĩ cầm cũ kỹ này.

“Một bát canh hổ lốn, một ly rượu, một trò chơi và hắn cứ như thế.  Hắn được rao bán lần thứ nhất, được rao bán lần thứ hai, cứ như thế và hầu như sắp chấm dứt.  Nhưng Thầy đã đến và đám đông dại khờ không thể hiểu nổi giá trị của linh hồn và sự thay đổi đã xảy ra bởi bàn tay của Thầy khi chạm đến.”  Tác giả vô danh.

Lm. Mark Link, S.J