LỜI CHÚC: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

– Chúa ở cùng anh chị em.

Dừng lại một chút, ta thấy những nghi thức này trong thánh lễ quá kỳ diệu.

Chúa ở cùng anh chị em là gì? Tại sao linh mục cần nhận lại lời cầu chúc:

– Và ở cùng cha.

* * *

Nhiều lần, nhiều nơi, trong nhiều thánh lễ, khi nói lời cầu chúc này, theo cách thế bên ngoài, thì có linh mục không nói bằng tâm hồn. Nói qua cho xong. Vì linh mục vừa nói, nhưng không đối thoại với giáo dân, thiếu chuẩn bị nên đang bận mở sách. Hoặc vì muốn chóng xong, cắt ngắn thời gian. Không có thời gian đón nhận lời giáo dân cầu chúc: Chúa ở cùng cha. Giáo dân đáp lại cho có lệ. Những lời chúc như thế trong thánh lễ nhạt nhẽo làm sao! Khi họ không tha thiết trong lời cầu chúc, thì làm sao dám nói họ thiết tha trong mong ước Chúa thật sự đến với người họ cầu chúc. Nếu vậy, Chúa ở đâu trong mối tương quan họ với Chúa, với nhau? Thiếu tha thiết trong lời cầu chúc, thì khó mà xác định mình thiết tha Chúa đến với người mình chúc. Từ đó, làm sao định nghĩa đấy là một thánh lễ sốt sáng.

Khi họ không nhận định kỹ “Chúa ở cùng anh chị em” là gì, thì làm sao rõ “Chúa ở cùng chúng ta”, và “Chúa ở cùng tôi” quan trọng đến đâu. Họ đánh mất ý nghĩa tên gọi EMMANUEL.

EMMANUEL là tên gọi của Thiên Chúa. Bởi đó, lời cầu chúc trong thánh lễ “Chúa ở cùng anh chị em” là lời rất quan trọng. Và, thánh lễ là gì nếu chúng ta để mất vẻ đẹp: CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA?

* * *

EMMANUEL

– Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 2:24).

Khởi đầu Phúc Âm, Mátthêu giới thiệu tên của Thiên Chúa là Emmanuel, nghĩa là tên gọi đó được phiên dịch ra: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và rất đẹp, hôm nay chúng ta cụ thể hóa tên gọi đó trong lời chào của thánh lễ: “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.”

Kết thúc Phúc Âm, Mátthêu để chính Ðức Kitô tự nói về mình bằng lời chấm dứt như sau: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20).

Mở đầu và kết thúc một cuốn sách là dẫn vào và đưa tới cho người đọc toàn thể cuốn sách đó nói gì. Tư tưởng trọn gói ở đây, tên gọi của Thiên Chúa là ở cùng con người.

* * *

TÌNH YÊU VÀ Ở CÙNG

Thiên Chúa không yêu thương con người bằng cách từ trên cao nhìn xuống.

Thiên Chúa không cứu chuộc con người bằng cách ở trên cao vớt con người lên.

Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Chúa ở cùng.

Trong cuộc sống nhân loại, con người thường cứu nhau bằng sức mạnh của kẻ hơn. Kẻ có sức mạnh hơn, nhìn xuống kẻ yếu. Tôi giàu có hơn, tôi giúp đỡ anh. Tôi khỏe mạnh hơn, tôi vớt anh lên.

Màu nhiệm tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Mà là một tình yêu ở cùng. Kinh Thánh chỉ định, tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng.

Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng mà không phải ở trên thương xuống?

Tại sao tình yêu lại không là nhìn xuống để vớt lên mà lại là cùng xuống để nhìn?

Người môn sinh ưu tư với những băn khoăn.

Nắng trong vườn đã ngả dạt qua bờ dậu. Ráng chiều hoàng hôn rũ xuống lòng người môn sinh trẻ đang tầm thầy học đạo. Anh đã viết về tình yêu, đã nghe về tình yêu. Nhưng tình yêu vẫn là một huyền nhiệm. Tình yêu là gì?

Người môn sinh nhớ câu chuyện xa xưa:

– Bạch thầy, chúng con không chấp nhận nó được, nó ăn cắp, nó láu cá, nó làm biếng. Xin thầy đuổi nó về.

Mấy chú đệ tử nhỏ báo cáo với thầy. Và vị thiền sư đã bảo:

– Nó không biết phải, không biết trái nên mới cần ở với thầy. . .

Phêrô cũng thế, đã có lần Ðức Kitô gọi Phêrô là Satan. Nhưng Ngài không đuổi Phêrô. Ngài bảo: “Lui lại đàng sau Thầy.” Lui lại phía sau, chứ không là đuổi đi xa. Vì Satan đang ở trong con, nên con cần ở cùng Thầy.

Ðời người là những chặng đường kiếm tìm. Huyền nhiệm cuộc sống mở ra như những cánh hoa. Một ngày không tìm kiếm là một ngày chết ủ. Cánh hoa phải mở ra, bật lên thành màu. Bấy giờ mới là cánh hoa. Cuộc sống cũng thế, những ấp ủ băn khoăn kia phải bật lên thành màu mới là cuộc sống. Và ta phải tìm kiếm. Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng? Nhất là tên gọi kia của tình yêu Thiên Chúa. Tại sao lại là Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Ðể giúp người học trò tìm kiếm. Nhà đạo sĩ hỏi người học trò:

– Ngày con đau, mẹ con không là thầy thuốc. Bà không có quyền lực cứu con khỏi bệnh. Sao bà cứ đứng bên giường nhìn con, ngay cả khi con ngủ?

– Bạch thầy, vì thương con.

– Bà có chữa con hết bệnh được không?

– Bạch thầy, không.

– Không chữa được, vậy đứng đó làm gì?

Người học trò ngập ngừng.

– Bạch thầy, vì thương con.

– Thương, nhưng không làm sao chữa bệnh cho con được. Vậy thương là gì?

Người học trò bắt đầu hiểu. Tình yêu không cứ là “doing”, mà là “being.” Nghĩa là ở cùng. Thật ra, ở cùng, không phải là không làm gì. Bởi “ở cùng – being” đúng nghĩa là sự hiện hữu trọn gói. Khi linh mục nói “Chúa ở cùng anh chị em”, mà chỉ nói vì công thức cho qua. Như thế, sẽ là có “doing” đó, nhưng vắng mặt của “being.” Khi bà mẹ nhìn con ngủ trong cơn đau. Cứ chốc chốc, bà đến bên giường nhìn con ngủ. Bà không có năng lực chữa bệnh cho con. Bà không “doing” được điều gì theo nghĩa sản xuất. Bà chỉ hiện diện trọn gói tâm hồn bà ở đó. Ðấy là chiều sâu của ngôn ngữ ở cùng, là “being.”

Trong cuộc sống, tôi cần một người nhìn tôi. Nói với tôi là cuộc sống, có họ ở cùng với tôi. Người vợ dọn cơm chiều, chỉ mong chồng về, đến bên cạnh, thầm nói rằng “anh ở cùng em.” Buổi chiều đó có thể trở thành hương hoa. Họ cần cái ở cùng này. Người ta kinh nghiệm trong cuộc sống thực như thế. Không ai chỉ hạnh phúc bởi tấm pay check, có “doing” mà không có “being”. Trong nỗi đau, con người thường kêu:

– Lạy Chúa, xin cất chén đắng này cho con.

Họ muốn Thiên Chúa “doing”. Chúa hãy lấy quyền năng mà hành động. Nếu Chúa không cất nỗi đau cho con mà chỉ “being”, nghĩa là chỉ đau với con thôi thì có ích gì. Người ta lý luận tình yêu thì phải cụ thể bằng hành động. Chúa thương tôi, Chúa phải hành động, xin hãy tặng tôi những món quà tôi xin. Tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Thay vì cứu con người khỏi chết thì lại chết với con người. Thay vì cứu con người khỏi đau thì lại đau với con người. Trong nỗi bực dọc, con người oán trách Thiên Chúa. “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! (Lc. 23:39). Con người thách thức Thiên Chúa, cứu tôi đi, nếu thực sự thương tôi. Rồi tôi sẽ tin. Ðức Kitô không lấy quyền năng để cứu những tiếng kêu này. Ngài cũng không lấy quyền năng thoát khỏi cái chết này.

Tại sao tình yêu không là cứu người mình yêu khỏi chết, mà là chết cùng?

Trước khi tiếp tục đề tài. Vị đạo sĩ nhắc người học trò về một kinh nghiệm:

– Nỗi đau là không có ai đau cùng, chứ chưa hẳn là không có ai cất cho mình nỗi đau. Làm sao con có năng lực làm cho người chết sống lại? Con không cất được nỗi đau đó. Nhưng nếu con đau cùng, “being” bên cạnh người đang đau. Thì nỗi đau kia nhẹ vơi. Làm sao trong tình yêu mà người ta nói: Anh không cất được nỗi đau của em. Rồi người đàn bà đi sanh con một mình. Người đàn ông rất thực tế. Tôi không sanh con thay vợ tôi được. Tôi không “doing” gì được. Ông ở nhà đi câu.

Hạnh phúc và đau khổ không là cứu, là cho, mà là ở cùng.

Thiên Chúa ở cùng.

Người học trò im lặng suy nghĩ. Anh lắng nghe. Trong cái tĩnh mịch, anh mơ hồ nhìn thấy từ vùng im lặng đó, bật lên màu sắc của cuộc sống. Như những cánh mỏng thức giấc dần, bật màu thành bông hoa. Vị tôn sư như sợ người học trò ngần ngại với lời mình. Ông cắt nghĩa thêm:

– Thầy giả sử một vị tổng thống quyền uy, ông chỉ gật đầu, gia nhân của ông sẽ đem những người tỵ nạn vào nước ông. Ðó là cách nhìn xuống. Ðó là cách vớt lên. Nhưng giả sử, vị tổng thống ấy nghe tin còn mấy trăm người tỵ nạn mười mấy năm bơ vơ không quê hương. Nghe tin, ông tội nghiệp. Ông bỏ văn phòng. Ông đến với người tỵ nạn. Ông hỏi người tỵ nạn làm gì kiếm sống qua ngày. Dạ thưa ngài, tôi làm nghề rửa xe. Ðể hiểu, hiểu để thương, ông tổng thống quyền uy kia, mặt mũi lấm lem, quẹt mồ hôi, tóc bù xù dính dầu nhớt xăng, cũng chầu chực rửa xe, cũng ở bến xe, cũng gặm bánh mì. Con có thể hình dung một tổng thống nào dám làm thế không?

Người học trò im lặng hơn. Trong tâm trí anh. Anh không thể hình dung có chuyện đó. Anh hiểu ý vị tôn sư đang muốn nói, Thiên Chúa đã làm như vậy. Ðó là ý nghĩa EMMANUEL, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Khi cho một món quà là cho một phần tài sản. Khi cho chính mình là cho hết. Không thể cho hết khi mình không cùng giống thân phận người đó. Bởi thế, vô cùng tuyệt vời khi Phúc Âm tường thuật về người lính canh như sau:

Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. (Mc 15: 37).

Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói:

Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15: 39).

Hai sự kiện đặc biệt trong cụm từ “Tắt Thở” mà ta phải kiếm tìm.

– Thứ nhất, lúc tạo dựng con người. Thiên Chúa thở hơi, cho Ađam sự sống. Bấy giờ Thiên Chúa chỉ cho một chút hơi thở. Nhưng ở đây, Ngài không cho một chút hơi, mà Tắt Thở. Nghĩa là cho hết không còn hơi để thở. Như thế, tên gọi EMMANUEL, càng ngày theo chiều lịch sử cứu độ càng trở nên rực rỡ. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lời tung hô ấy như ngọn pháo bông muôn màu bật tung lên trong thánh lễ.

– Sự kiện thứ hai là viên đội trưởng, lính canh nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa khi Ngài “Tắt Thở”. Tắt thở là giây phút yếu nhất của một đời người. Ðáng nhẽ ông ta phải nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong những việc quyền năng, những phép lạ lớn lao. Tại sao lại nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong giây phút yếu đuối nhất?

Vị tôn sư nói với người học trò:

– Con ạ, hình ảnh người lính canh ở đây cho chúng ta một chiều sâu thiền niệm mà không biết ngọn núi cao nào, không biết vùng thinh lặng nào mới chỉ bảo cho chúng hết ý nghĩa. Trong giây phút yếu nhất ấy của Chúa Kitô, ông ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta quá yếu đuối tâm linh nên không nhìn ra sức mạnh trong sự yếu đuối như người lính canh.

Trời đã vào khuya, hai thầy trò, vị tôn sư và người thanh niên tầm thầy học đạo như thả hồn mình về biến cố hai nghìn năm trước, trước mầu nhiệm Tắt Thở của một người. Trong tâm trí anh, anh không thể nào hình dung vị tổng thống kia dám trở nên yếu đuối như một người tỵ nạn được. Anh bắt đầu hiểu hơn, vị tổng thống ấy chỉ có thể thương xót bằng từ trên nhìn xuống, bằng từ trên vớt lên. Ông ta không thể xuống để ở cùng.

Ở cùng là trở nên một thân phận. Ðấy là chiều sâu khó nhất của tình yêu. Khó nhất mà cũng đẹp nhất. Phải trở nên thân phận thì mới hiểu. Hiểu mới có thể thương. Trong ý nghĩa này, thương bao giờ cũng phải là ở cùng.

Người học trò, như vẫn ưu tư. Nếu tình yêu là ở cùng. Tại sao Ðức Kitô lại kêu lên trong giờ sau hết: “Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?”

Vị tôn sư như đọc hết ý nghĩ thầm kín của học trò mình. Ông ôn tồn bảo:

Chiều sâu của tình yêu là ở cùng. Ðêm nay trời đã vào khuya. Con về ngủ đi. Tại sao Chúa Cha không lấy quyền năng như lời Ðức Kitô cầu xin, cất chén đắng này cho con?

Tại sao Chúa Kitô như quá cô đơn vậy?

“Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?” Ðâu là ý nghĩa ở cùng?

Ðây là Tình Yêu và Quyền Năng. Chúng ta sẽ nói tới.

Trời khuya rồi. Ðêm thường nói với chúng ta nhiều ý nghĩa cuộc sống. Ðêm nói về thân phận mù lòa, vất vả đi tìm. Những giờ phút tăm tối cuộc sống, khổ làm sao. Nhưng nhờ đêm mà ta phải khắc khoải. Nhờ khắc khoải tìm kiếm mà hồn ta mới thức giấc. Và con ạ, không bao giờ đêm dài bất tận. Ngày mai có ánh bình minh.

Vị tôn sư đi về am thất. Người học trò vẫn ngồi lại. Anh đang nhìn vào cõi sáng của bóng đêm. Thứ cõi sáng và bóng đêm của riêng anh.

* * *

Từ lời cầu chúc “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.” Thánh lễ phải là mầu nhiệm diễn tả tên gọi làm người của Thiên Chúa, EMMANUEL, Chúa ở cùng chúng ta. Mỗi thánh lễ, nếu ta trân trọng trong lời chào này, thì thánh lễ quá ngọt ngào. Thánh lễ là một diễn giải tuyệt vời mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương. Chúng ta hạnh phúc nối tiếp bí tích kỳ diệu đó qua những lời chào mang cả một chiều kích thần học rất sâu:

– Chúa ở cùng anh chị em.

– Và ở cùng cha.

LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J.
(Trích tập suy niệm “KẺ ÐI TÌM”)

LINH MỤC

“Từ bụi tro Chúa nâng con lên hàng khanh tướng.  Rầy về sau khắp nơi khen con thật vinh phúc.”

Lời ca trên đây vẫn rất ấm trong lòng người.  Tiếng nhạc vẫn rạo rực trong giáo đường ngày thụ phong linh mục.  Lời đẹp, ý cao sang.  Làm sao mà qua lời kinh truyền phép, có Chúa hiện diện nơi bánh miến?  Tôi chỉ có thể sống đời linh mục chứ chẳng hiểu được ơn gọi linh mục bằng phân tích của trí tuệ.  Ơn gọi linh mục là một huyền nhiệm.

Chức vụ tư tế chỉ ai được chọn mới được lãnh nhận (1Sam 16:1-13, Yn 15:16). “Không ai được tự hãnh hướng về vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa kêu gọi, như Aaron thưở xưa” (Heb 5:4). Chẳng có ý muốn trần thế nào ban tặng được thiên chức linh mục.  Bởi đó, bài hát đã gọi ơn linh mục là rất quý.  Lời ca thật đẹp và cũng thật đúng.  Ngày tôi bước lên lãnh nhận thiên chức đó, hồn tôi cũng hân hoan vô lượng.  Đức mến gọi tôi tới nhủ rằng tôi là người được chọn.  Đức tin bảo rằng lối tôi vào đời rất huyền diệu.

Ngày thụ phong linh mục không phải chỉ là mơ ước trong hồn người lãnh nhận đã kết trái, mà là kết trái của mơ ước nơi bao nhiêu con tim.  Những con tim nhìn về tương lai đợi trông mùa hoa thơm quý sẽ nở trên đường linh mục.  Lời ca nói đến kẻ được chọn là một hồng ân.  Thế nhưng, trong hai lời ca, chỉ có lời ca thứ nhất:  “Từ bụi tro Chúa nâng con lên hàng khanh tướng” là lúc nào cũng đúng.  Chúa không lấy lại ơn gọi Chúa đã ban tặng.

Lời ca thứ hai: “Rầy về sau khắp nơi khen con thật vinh phúc” không phải lúc nào cũng đúng. Có linh mục chỉ sau một bình minh không dài, màu áo dòng bạc phai. Và lời ca kia trở thành sầu muộn.  Có đời linh mục là tiếng thở dài của người bên cạnh và của chính mình.  Giáo dân không còn bảo tôi là người vinh phúc nữa.  Nơi họ là nỗi chán.  Tôi đi vào chiều tắt nắng.

Ngày Hạnh Phúc Nhất?

Ngày đứng trước bàn thánh có phải là ngày hạnh phúc nhất trong đời một linh mục?  Một trời mới, một đất mới mở ra, vì thế, người ta thường bảo ngày thụ phong linh mục là ngày hạnh phúc nhất, đẹp nhất.

Nhưng thời gian trôi.  Những bó hoa “Ngày vui nhất” đó tàn theo một chiều ngắn.  Căn phòng trở lại êm vắng.  Và rồi, cũng với thời gian, căn phòng từ êm vắng có thể trở thành vắng mà không còn êm đềm.  Người ta cũng thường lấy ngày cưới của hôn nhân mà so sánh với ngày linh mục. Trong ngày cưới, không phải chỉ có tình yêu giữa hai người yêu nhau, mà tiếng pháo của bao nhiêu thân thương khác chung quanh họ, anh em, bạn bè cũng nổ vang chung vui với họ.  Nhưng tiếng pháo cũng sẽ im.  Người sẽ xa.  Tà áo cưới lãng quên trong bận rộn.  Hình kỷ niệm mờ phai dần với tuổi đời.  Một ngày nào đó nhìn lại tấm hình xa xưa mà ngỡ như chuyện thần tiên.  Có khi những khắc khoải muộn phiền trong đời sống hôn nhân làm họ nhìn những kỷ niệm cũ mà mơ hồ như chuyện không thực.  Vì thế, họ thường gọi chỉ có ngày hôn lễ là đẹp nhất trong đời.

Ngày hôn nhân hay ngày linh mục cũng có những giống nhau.  Lãnh ơn gọi cho một giao ước thì hôn nhân hay linh mục cũng thế.  Ngày khởi hành lời đoan hứa thì hôn nhân hay linh mục cũng là khởi hành bằng tình yêu.

Rồi lại cũng ngày nào đó, mười lăm năm sau, hai mươi năm sau, có thể là cánh thư, có thể là tấm thiệp gởi đến chúc mừng. “Cầu chúc tình yêu của hai người nồng nàn như ngày mới cưới nhau.” Họ nhắc nhau nhớ kỷ niệm năm xưa và chúc cho nhau một hành trình thật dài, tình yêu vẫn đẹp như ngày ban đầu.  Ngày xưa dấu ái ấy đẹp quá.  Họ nhớ mãi ngày mà không có lần thứ hai trong đời.  Linh mục cũng vậy thôi: “Xin cho Cha dâng lễ sốt sắng như ngày Cha dâng lễ mở tay.”  Một lời chúc mừng mà trong đó vô tình có nuối tiếc.

Vào ngày kỷ niệm thụ phong linh mục, tôi nhận được cánh thiệp chúc mừng.  Từ xa có người nhắc nhở cho ngày trọng đại thưở xưa.  Cái ngày đẹp ấy còn ghi dấu trong hồn người thân.  Và hôm nay, người ấy nguyện xin cho đời linh mục của tôi mãi mãi “đẹp như ngày ban đầu”.

Trong lời chúc ấy có lo âu nếu hôm nay tôi không còn thiết tha như thưở đầu tiên.  Lời chúc ấy đến từ cảm nghiệm của cuộc sống thực, vì trong cuộc sống cho thấy với thời gian, cung đàn nào rồi cũng có thể phôi pha.

Sau bao năm sống đời linh mục, bao nhiêu lần dâng lễ, mà nay chỉ mong sao cho được như ngày ban đầu thôi.  Trong hôn nhân, tình yêu những ngỡ rằng như dòng sông sau bao nhiêu khúc quanh, ngang miền gian khổ mà đi thì nay vận điệu phải là trường ca, ấy thế mà lời cầu chúc cũng chỉ mong sao cho hôn nhân của họ được đẹp ngày đầu thôi.

Những lời chúc mừng ấy là phản xạ rất trung thực của đời sống thực tế hôm nay.  Ước mơ được như ngày đầu có nghĩa là sợ rằng đã xa hạnh phúc ban đầu ấy rồi.  Ngày xưa dâng lễ sốt sắng, bây giờ phôi pha.  Ngày xưa hôn nhân hạnh phúc, bây giờ chán chường.

Linh mục hay hôn nhân mà nhìn những ngày tương lai không thể hạnh phúc như ngày đầu được thì trong hạnh phúc của những ngày đầu ấy đã là hàm số chứa đựng nuối tiếc đang đến rồi.

Ngày hôn lễ chỉ là khởi điểm của những ngày hạnh phúc hơn về sau.  Họ không mừng ngày hôn lễ như ngày đích điểm tận cùng đã tới.  Ngày ấy chỉ là vết than hồng cho ngọn pháo bông ngày mai.  Ngày thụ phong linh mục cũng vậy.  Những nghi lễ, chúc mừng chỉ là phụ thuộc cho một hành trình nội tâm mà hôm nay lối ngõ mới chợt mở.  Nếu không săn sóc sự thật này, chao đảo dưới chân ngày thụ phong linh mục và hôn nhân sẽ đưa những hoang vắng đến.

Ngày thụ phong linh mục hay hôn lễ là ngày tình yêu lên đường.  Tình yêu như những hạt lúa, đi tới đâu làm thửa đất thành ruộng mạ tới đó.  Hành trình tình yêu ấy càng dài thì người mang tình yêu ấy càng hạnh phúc.

Lúa vàng không có ở chân bàn thờ trong ngày thụ phong linh mục.  Cánh đồng lên màu, mùa gặt chỉ đến sau những ngày lao tác.  Ngày thụ phong linh mục là tấm phên cửa sổ mở ra cho thấy những huyền nhiệm hạnh phúc khác đang đến.  Huyền nhiệm hạnh phúc ấy là những ngày truyền giáo, có thể là xuôi ngược như Phanxicô, có thể là trong chiêm niệm trầm lắng mà tha thiết như Têrêsa.  Đó là những chiều mỏi mệt mà không từ chối ban bí tích giải tội cho một linh hồn đang gõ cửa.  Đó là những ngày hối hả mà vẫn tha thiết với bí tích Thánh Thể, sốt sắng cho giờ dâng lễ.

Ngày làm linh mục là ngày dâng lễ thứ nhất.  Như thế, sẽ có hàng ngàn thánh lễ sắp xếp theo thời gian.  Nhưng thánh lễ nào cũng phải là thánh lễ “mở tay”. Tân linh mục không chỉ dâng lễ “mở tay” một lần.  Thánh lễ nào cũng mới.  Thánh lễ nào cũng linh thiêng mầu nhiệm.  Trên thập giá, tay Đức Kitô lúc nào cũng giang rộng.  Mở tay để nắm lấy tay người, và để người nắm tay mình.  Đường về nhà Chúa là đường Hiệp Nhất.  Khi bàn tay nắm lại là dấu chỉ của thách đố, tranh đấu, chỉ thị, ra lệnh quyền uy.  Những thánh lễ không “mở tay” là thánh lễ không có ơn cứu độ.

Nếu linh mục không thể chỉ có một thánh lễ “mở tay”, mà là suốt đời, thì có phải đường hôn nhân cũng là như thế, không thể chỉ có một ngày cưới mà sáng nào cũng là hôn lễ.

Lạy Chúa, sáng mai con dâng lễ trong nhà nguyện nhỏ không trang trọng như ngày con dâng lễ “mở tay”.  Nhưng giữa con và Chúa vẫn là thánh lễ rất đặc biệt.

Bánh thánh không bao giờ cũ.

Xin cho con chút linh hồn nghệ sĩ để thấy không buổi chiều nào có hai màu mây giống nhau. Mỗi bình minh là một độc đáo.  Thì, mỗi thánh lễ là một ơn cứu độ khác biệt quý giá.

Xin cho con ngày thụ phong linh mục cuả con, trước mặt Chúa và trước mơ ước của con sẽ không phải là ngày đẹp nhất để rồi xuống dần.  Những ngày con đang sống, những ngày đang tới với con phải là những ngày đẹp hơn và hạnh phúc hơn, vì lòng thương xót của Chúa cứ theo thời gian mà ban xuống cho con cơ mà.

Nguyễn Tầm Thường, sj.

THIÊN CHÚA BA NGÔI

Có một vị ẩn sĩ, vào sa mạc tìm đời sống cầu nguyện và kết hợp với Chúa. Nhưng sau một thời gian dài, ông cảm thấy dường như Chúa không còn yêu thương mình nữa, vì ông thấy mình buồn chán thất vọng.

Qua bao nhiêu cố gắng nhưng không thể nào tìm được sự an bình thư thái. Ông ngỡ rằng Chúa đã rời xa mình nên ông mới gặp tình trạng như thế. Ông lang thang buồn chán.  Bỗng có tiếng gọi, ông biết đó là tiếng của Chúa, ông lên tiếng gắt gỏng trả lời: “Chúa đã bỏ con, tại sao còn gọi con làm gì?”. Chúa nhỏ nhẹ trả lời :”Ta đâu có bỏ con, con hãy nhìn lại đoạn đường con đã đi, con thấy được điều gì?”. Ông vội nhìn lại phía sau và nhìn thấy, không phải chỉ có hai dấu chân của ông in trên cát, nhưng bên cạnh còn có những dấu chân của một người khác, đi theo từng bước chân của ông.  Chúa bảo ông: “Đấy là những dấu chân của Ta luôn theo sát bên con. ” Ông vui mừng bước đi với tâm hồn phấn khởi.

Đến trưa, mặt trời chiếu những tia nắng nóng như thiêu đốt, ông mệt lã người, ông vội nhìn ra sau, thì hỡi ôi ! chỉ còn có những bước chân mệt mỏi của ông kéo lê lết trên đường. Ông vội la lên: “Đó Ngài lại bỏ con nữa rồi, nên con mới mệt lã như thế nầy“. Chúa lên tiếng vỗ về và giải thích cho ông: “Ta đâu có bỏ con, con hãy nhìn kỹ xem, những dấu chân đó là những dấu chân của Ta chứ đâu phải của con, vì Ta đã bế con trên đôi tay của Ta“.

Vị ẩn sĩ nhìn lại, quỳ gối xuống và tạ ơn Chúa. Ông tiếp tục cuộc hành trình của mình, và từ đó không còn kêu trách Chúa nữa. Ông đã nhận ra rằng: Thiên Chúa luôn ở bên cạnh ông từng giây từng phút và luôn nâng đỡ từng bước chân của ông. Và ông nhớ lại lời hứa của Chúa: “Ta sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế.“ (Mt. 28:20)

***

Bạn thân mến! Lời hứa của Chúa trên đây được ghi lại trong đoạn cuối của bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay.  Đó là lời hứa của Người Thầy kính yêu đối với các môn sinh của mình. Trong suốt hành trình rao giảng và làm chứng về Tin Mừng, các Tông Đồ đã cảm nhận được những gì mà Thầy đã hứa. Trong lúc thi hành sứ mạng được trao phó, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, các Ngài luôn thấy Người Thầy kính yêu của mình vẫn hiện diện và không bao giờ rời xa. Lời hứa của Thầy năm xưa không đi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn sống động và vang vọng cho đến ngày nay.  Bạn và tôi, chúng ta có cảm nhận được lời hứa của Ngài không ?

Nếu bạn đi khắp cùng trời đất, bạn sẽ gặp những dấu vết của Thiên Chúa.  Nếu bạn đi thẳng vào cung lòng của mình, bạn sẽ gặp chính Thiên Chúa.

Nhiều người đã gặp thấy Ngài nhờ chiêm niệm suy tư.  Nhưng con người không thể biết hết về Thiên Chúa, cũng không thể mô tả cho đủ về Ngài. Có những thiếu sót, vụng về và đôi khi sai lạc. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thật của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Phải là Ðấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa, Ðấng ấy chính là Ðức Giêsu, là Ngôi Lời nhập thể.  Nhờ Ðức Giêsu mà mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được vén mở, nhờ Ngài mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng là cùng một Thiên Chúa.

Thiên Chúa là Tình Yêu, Ngài duy nhất nhưng không đơn độc. “Ta và Cha là một” (Ga.14:10). “Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta” (Ga.16:15). Tình yêu khăng khít giữa Cha và Con là Thánh Thần. Trong niềm hạnh phúc sung mãn, Ba Ngôi đã dựng nên con người giống hình ảnh mình và muốn đưa con người đi vào hiệp thông với Thiên Chúa. “Ðến với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần“: đó là hành trình thiêng liêng của mọi Kitô hữu.

Chúng ta cần ý thức về sự hiện diện của Ba Ngôi ở trong ta. “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và cư ngụ nơi người ấy” (Ga.14:23). “Cha sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các con luôn mãi” (Ga.14:16).

Chúng ta cần hiểu rõ mối tương quan của từng Ngôi: Chúa Cha, Ðấng hằng làm việc để duy trì vũ trụ và con người. Chúa Con, Ðấng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh mạng sống của chính mình. Chúa Thánh Thần, Ðấng thánh hoá và dẫn dắt Giáo Hội.

Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong Tình Yêu vì “Ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga.4:16).

Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mỗi ngày chúng ta làm dấu Thánh Giá nhiều lần trên thân xác “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”

Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời ta, trên thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta đã được chịu Phép Rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng làm Phép Rửa cho người anh em thân cận với ta vẫn còn là ước mơ mà Ðức Giêsu đã và đang chờ đợi ta thực hiện.

***

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi! Xin soi sáng tâm hồn mỗi người chúng con, để chúng con nhận ra sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống. Amen

Tổng hợp từ R. Veritas

NỖI LÒNG CỦA NGƯỜI NHẬN

Trong cuộc sống, ai trong chúng ta cũng có lúc cho và nhận.  Cho về mặt vật chất và cho về mặt tinh thần.  Người cho và người nhận đều có nỗi niềm tâm sự riêng.  Nỗi lòng của người cho là sợ người nhận không thích.  Nỗi lòng của người nhận là ở vào thế bị nhận, phải nhận.  Tuy nhiên người cho vẫn là người chủ động, thường thì ai cũng thích mình trong vai “cho” hơn là “nhận”.

Người nhận là người không có, người “nghèo” về một phương diện nào đó. Người nghèo nói chung có sự mặc cảm, sự mặc cảm đó được giấu sâu kín trong lòng, và được thể hiện bằng nhiều cách có khi là khiêm tốn, nhưng có khi lại kiêu căng, có khi lố bịch kỳ quặc và bệnh hoạn…. không loại trừ ai.  Chúng ta đề cao rất nhiều về sự cho đi, nhưng người cho có bù đắp hoặc chữa lành sự mặc cảm của người nhận không?  Hay có khi lại “cho” thêm mặc cảm nơi người nhận.

Người có cái gì đó để cho đi là người hạnh phúc hơn kẻ nhận.  Người cho ít ra có được niềm vui và hạnh phúc là được cho, hãnh diện vì được ban phát.  Tôi cũng thích có nhiều tiền để cho hơn là làm người nghèo để phải nhận sự giúp đỡ.  Tôi thích đi làm từ thiện hơn là người bị nạn.  Tôi thích có gương mặt thanh tú để nở nụ cười với tha nhân hơn là có gương mặt xấu xí, dữ dằn khó ưa.  Tôi thích là người thông minh, có tài để làm gì đó giúp ai…. hơn là làm người tầm thường nhờ vả người khác.

Là người nhận, để che giấu sự “nghèo” nên trong thâm tâm tôi cảm thấy ngại ngùng, xấu hổ, đôi khi có cảm giác bị nhục, mang ơn người cho.  Nhiều khi người cho vô tình khoe khoang nên làm người nhận càng thêm đau.  Trong tâm tình của người nhận, nhiều khi tôi tự nhủ thà chịu đựng thiếu thốn, hoặc từ nay không muốn nhận cái gì nữa, trừ khi bất đắc dĩ.  Là con người nên lòng kiêu ngạo giống nhau, người cho cũng kiêu ngạo mà người nhận cũng kiêu ngạo.

Trước mặt Chúa, người cho và kẻ nhận cũng như nhau: trần trụi và chẳng có gì.  Tất cả đều trở về cát bụi, với con số 0 của thưở ban đầu.  Một ít trí khôn, sự thông minh, tài năng khéo léo, lanh lợi, sắc đẹp, sức khỏe, hoàn cảnh… tất cả là của Chúa ban nhưng không, nào ai mà chọn được!  Từ các điều kiện, hoàn cảnh đó để chúng ta sử dụng làm ra tiền tài, địa vị, danh vọng, tình yêu, lòng quảng đại, vị tha… Người cho bị kiêu ngạo tưởng tự sức mình nỗ lực làm ra để trở thành người có.  Người nhận thì tự cao không nhận ra mình nghèo để sẵn sàng nhận từ người cho.

Đẹp biết bao kẻ cho và người nhận, khi cho và nhận xong, cả hai đều trở về con số 0 và tạ ơn Chúa vì đã “cho” hoặc đã “nhận” xong!  Thiên Chúa đã Nhập Thể làm người để dạy chúng ta khi cho hãy trở nên nghèo để cho, vì mình cũng không hơn họ, và Thiên Chúa tự nguyện trở thành người nghèo để sẵn sàng đón nhận những cái chúng ta cho Ngài:  một ly nước lã, một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay chào hỏi, một manh áo, một đồng xu lẻ…

Nguyễn Thị Thu

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

Thế là ngày lại ngày trôi qua, đã đi qua bao nhiêu thế hệ dòng họ tôi theo Đạo Phật.  Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống Phật giáo, tôi đã được giáo huấn trong bài dạy giáo lý của Đạo Phật, và tôi đã trở thành một người Phật tử thuần thành.  Trong một gia đình như thế, tôi làm sao mà biết được về Thiên Chúa để khám phá ra Ngài đã tạo dựng nên sinh linh và tất cả mọi vật, thật sự đã đưa tôi vào ngõ cụt.

Vào một ngày nọ, tôi như được Hồng Ân của Chúa ban cho tôi qua một người bạn Công Giáo mời tôi đi dự lễ chịu chức Linh Mục của anh.  Tôi bâng khuâng trong lòng không biết có nên đi hay không?  Nhưng cuối cùng tôi cũng có một đáp án, đây là buổi lễ quan trọng của người bạn thân, tôi phải đi.  Tôi đi để chia sẻ niềm vui với người bạn và cũng có dịp để tìm hiểu về đạo Công Giáo.  Đức tin tuyệt đối vào Đấng vô hình của những người Công Giáo làm cho tôi kinh ngạc và họ có thể tử vì đạo vì đức tin đó.

Trước khi vô dự lễ, tôi ở trong một nhà Dòng của bạn tôi, thật bất ngờ khi nhìn thấy anh em trong nhà Dòng của bạn tôi rất yêu thương và quan tâm lẫn nhau như lời Chúa dạy vậy.  Tôi tham dự buổi lễ, họ cầu nguyện rất nhiều.  Họ cầu cho tổ tiên, cầu cho cha mẹ, ông bà, họ cầu cho tha nhân, cầu cho người sống lẫn người đã qua đời, không cầu riêng gì về bản thân họ, họ chúc cho nhau bình an.  Buổi lễ thật đầy ý nghĩa, và qua cách cư xử của những người Công Giáo, tôi mới thấu hiểu được tại sao người Công Giáo lại có được Đức Tin như vậy.

Kể từ đó, tôi dần dần như bị cuốn hút.  Tôi bắt đầu thường xuyên đi lễ và tìm hiểu sách Công Giáo, tôi tìm thấy sự khác biệt giữa đạo Công Giáo và đạo Phật Giáo một cách rõ ràng.  Tôi cũng rất sung sướng khi nhận ra chân lý của cội nguồn, và mạch sống của Đức Tin Thiêng Liêng đó.  Tôi cảm thấy tin và yêu Chúa Giêsu hơn .

Đời sống khổ nạn của Chúa Giêsu làm cho tôi thật xúc động.  Vì tình yêu và lòng nhân từ, Ngài muốn cứu chuộc nhân loại ra khỏi kiếp u mê tội lỗi của trần gian.  Sau khi đọc sách và tìm hiểu tín lý về Công Giáo, tôi như bị xúc động bởi sự thương khó, sự đơn sơ, khiêm nhường, lòng nhân từ và tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Vậy mà trước giờ tôi đã thờ ơ và lạnh nhạt với Ngài, giờ tôi đã thấu hiểu được những giá trị về đời sống siêu nhiên.  Tôi tìm thấy sự bình an trong Ngài, tôi không còn thù hận nữa.  Tôi đã tìm thấy Đức Tin, chân lý sự thật và sự sống vĩnh cửu.  Tôi tin sự hiện diện của Chúa trong Mình và Máu trong Bí Tích Thánh Thể.

Điều đáng quý nhất là các quý tu sĩ nam nữ, trong các Dòng tu, dám bỏ chính mình, hy sinh đời sống riêng mình để làm nhân chứng cho Ngài.  Tôi ước ao vào lễ Phục sinh năm tới được làm con cái Ngài, lãnh nhận Ơn Bí Tích của Ngài trong Hội Thánh.  Tôi cầu nguyện xin Chúa luôn đổ tràn đầy ơn soi sáng cho nhân loại, luôn biết quy hướng về Ngài mà phó thác.

Niềm Tin vào Phục Sinh

Mọi người trong đình nói tôi trở lại đạo là vì người này, người kia xúi giục để phản đối không cho tôi đến với đạo Công Giáo.  Nhưng nhờ vào sự cầu nguyện của mọi người, sự kiên trì vào một Đức Tin và tình yêu mãnh liệt vào Thiên Chúa đã làm cho tôi bị khuất phục.  Bởi vì tình yêu đó làm cho tôi biết sự lựa chọn, đấu tranh để đạt được những gì mình đã tin vào Thiên Chúa.

Tôi sinh ra trong một gia đình không may mắn lắm.  Tôi thiếu tình thương cha mẹ và anh chị em tôi cũng không đoàn kết lắm.  Tôi cảm thấy cần đến tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa và Chúa đã cho tôi cảm nhận được tình yêu bao la của Ngài đối với riêng tôi và với nhân loại.  Thiên Chúa đã ban cho tôi một đức tin mãnh liệt, cho tôi về với Giáo Hội duy nhất, Thánh thiện và Tông truyền.  Ngài ban cho tôi biết về Ngài, yêu Ngài và theo Ngài, đó là món quà Ngài đã ban cho tôi tìm được Ơn Phúc Thiêng Liêng, bình an trong đời sống hiện tại.  Tôi mang giấc mơ và hy vọng là được rửa tội vào Phục Sinh năm 2009 này.

Thế rồi thấm thoát thời gian đã trôi qua, niềm hy vọng và sự mong chờ hân hoan đêm Phục sinh đã đến.  Tôi vừa được chứng kiến một buổi lễ canh thức tràn đầy ngọn lửa ánh sáng huy hoàng của đêm Phục Sinh, tôi vui mừng biết bao hơn nữa, ngay trong đêm nay tôi được rửa tội tại nhà thờ Chính Toà.  Tôi lại được chứng kiến các anh chị em Tân Tòng, từng người bước lên lễ đài rửa tội, để bỏ đi những con người tội lỗi, mà chính Chúa đã mở ra một con đường cứu rỗi cho tôi và cho những anh chị em Tân Tòng này được lãnh nhận nguồn Ơn Thiêng Liêng của các Bí Tích trong Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã lập trong bữa tiệc ly của Ngài, trước khi Ngài chết vì tội lỗi cho nhân loại.

Trong đêm Phục Sinh, giấc mơ được trở nên con cái Chúa để làm chứng nhân cho Ngài đã trở thành hiện thực.  Con cầu xin Chúa cho con quyết tâm theo Chúa, dù gian nan thử thách, dù đau khổ hay thất bại trên con đường hành trình Đức Tin.  Xin cho con biết từ bỏ mình, vác Thập Giá hằng ngày mà theo Chúa.  Xin cho con được sống lại như Ngài và luôn sống mãi trong tin mừng của Chúa Phục Sinh.

Con xin Cảm Tạ Ơn Chúa và Đức Mẹ kính yêu, cùng Đức Cha, quý cha, quý sơ và mọi người đã cầu nguyện cho con.  Con cầu nguyện cho Đức Cha, quý cha, quý sơ và mọi người luôn bình an và tràn đầy Hồng Ân của Chúa.

Hoa Đỗ

THẦN KHÍ

Khi đến giảng cho dân chúng tại Êphêsô, thánh Phaolô đã hỏi họ: “Anh chị em đã lãnh nhận Thánh Thần chưa?” Tất cả mọi người có mặt lúc đó đều ngạc nhiên, nhìn nhau không hiểu gì hết. “Thánh Thần là gì? Thánh Thần là ai? Chúng tôi chưa hề nghe thấy ai nói đến nhân vật xa lạ đó, phương chi là đã lãnh nhận hay không”. Đó là câu trả lời của những người ở Êphêsô khi nghe thánh Phaolô hỏi họ về Chúa Thánh Thần.

***

Bạn thân mến! Trong tiếng Hípri, người ta dùng cùng một chữ để diễn tả “gió”, “hơi thở” và “thần khí”. Cũng như người ta không thể nhìn thấy gió mà chỉ thấy hậu quả của nó. Thần Khí của Thiên Chúa chỉ được nhận ra nơi những người được tác động và làm theo sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa.

Hơi thở thì gắn bó chặt chẽ với sự sống; hơi thở là dấu chỉ của sự sống. Với phương pháp cấp cứu miệng qua miệng, chúng ta có thể đem lại sự sống cho một người mà phổi đã ngưng hoạt động, nhờ hơi thở ta.

Trong sách Sáng Thế, chúng ta đọc thấy Thiên Chúa thổi hơi vào Ađam và ông trở nên sống động. Khi Thiên Chúa chọn những người để thi hành các sứ vụ đặc biệt, chẳng hạn như ông Samson, vua Saun, vua Đavid và những người khác nữa, thì “thần khí của Thiên Chúa” cũng được ban cho họ. “Thần khí của Thiên Chúa” được xem như nguồn mạch của sự sống và của mọi thành tựu lớn lao của dân Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ.

Trong bối cảnh này, chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa việc Chúa Giêsu thổi hơi trên các môn đệ. Đó là dấu chỉ ngoài sự sống thể lý, họ còn lãnh nhận một sức sống thiêng liêng và họ được sai đi thi hành một sứ vụ lớn lao. Mọi sự đều biến đổi trong cuộc sống của họ. Sự sợ hãi đổi thành vui mừng và can đảm; sự dữ của tội lỗi bị đánh bại bởi quyền năng của ơn tha thứ. Khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta cũng được lãnh nhận Chúa Thánh Thần một cách đặc biệt. Chúng ta được tái sinh và được tuyển chọn để thi hành một sứ vụ đặc biệt. Chúng ta trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần. Nghe có vẻ rất tốt đẹp, nhưng chúng ta có cảm nghiệm được quyền năng của Chúa Thánh Thần trong chúng ta không?

Thực ra, Chúa Thánh Thần không phải là vấn đề của cảm xúc, nhưng là việc chúng ta có mở lòng ra để Thần Khí của Thiên Chúa tràn vào cuộc sống của mình. Đó là việc chúng ta có sẵn sàng từ bỏ mọi kế hoạch, mọi ý riêng, và không tự mình hướng dẫn mình nhưng để cho Thần Khí dẫn dắt chúng ta. Dĩ nhiên, đây là một cuộc mạo hiểm nhưng là một cuộc mạo hiểm đem lại sự giải thoát. Một khi để cho Thần Khí của Thiên Chúa ban sự sống, tăng cường sức mạnh, như chúng ta đã nhìn thấy nơi cuộc đời của các thánh tông đồ sau ngày lễ Ngũ Tuần, thì cuộc sống của họ liền được biến đổi hoàn toàn. Tại sao không để cho Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong tâm hồn bạn, sử dụng quyền năng của Người mà biến đổi toàn diện cuộc đời của bạn?

***

Lạy Chúa, ngày xưa Chúa đã ban Chúa Thánh Thần cho các tông đồ và cuộc đời của các ngài đã được biến đổi hoàn toàn. Giờ đây, xin Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên con để giúp con vượt thắng mọi trở ngại mà trở nên một môn đệ can đảm của Chúa giữa trần gian này, Amen.

Tổng hợp từ R. Veritas

 

CHUỘC TỘI

Tôi còn nhớ, vào những năm 79-80 ấy, mà lại ở vùng kinh tế mới, thì chuyện sinh ở trạm xá là chuyện hiếm.  Thường thì người ta sinh con ở nhà, có bà mụ, hoặc thậm chí, chồng đỡ đẻ cho vợ.  Vì vậy, trạm xá chẳng có mấy sản phụ, chỉ có những phụ nữ đã từng sống ở thành phố, bị lấy mất nhà cửa, phải vào kinh tế mới, thì mới có thói quen tại sinh trạm xá.  Cô tôi cũng không là ngoại lệ.  Đến thăm cô tại trạm xá, tôi chú ý đến sản phụ ở giường bên cạnh.  Dù lam lũ, đen đúa nhưng cô ấy vẫn toát ra một vẻ gì đó “dân thành phố trăm phần trăm” (ấy là theo lời thằng em tôi, sau khi câu chuyện xảy ra).  Cô ấy có vẻ mệt, buồn và lẻ loi cam chịu thế nào ấy.  Trong khi mấy giường chung quanh đều có người thăm viếng, trò chuyện vui vẻ, thì cô ấy chỉ một mình.  Thấy tôi nhìn, cô tôi nói nhỏ:  “Chị ấy sinh từ sáng, mà lại sinh đôi, nhưng không hiểu sao không thấy ai thăm nuôi.  Chắc đói lắm.  Cô đã mời, nhưng cô ấy không ăn.”

Mải nói chuyện, tôi cũng không để ý chị ấy nữa.  Đến lúc nghe một tiếng thét rợn người ngay bên cạnh, tôi mới giật mình quay lại, thì nhìn thấy ngay một người con trai mặt trắng bệch, gần như hoá đá, ngồi ở cuối giường, đôi mắt mở to nhưng không nhìn thấy gì, không còn thần sắc gì.  Còn sản phụ trên giường đã ngồi bật dậy, chụp lấy đứa bé con mình mà liệng ra cửa sổ!  Mọi sự diễn ra rất nhanh, ai cũng nhìn thấy nhưng không ai kịp phản ứng gì cả.  Đến lúc mọi người tỉnh lại, xúm vào giật được thằng bé kia trong tay mẹ nó, thì chị cũng hộc ra một ngụm máu rồi té lăn ra trên giường, tắt thở ngay lúc đó!  Mọi người lộn xộn, cuống cuồng la hét một lúc lâu, đến khi quay lại thì người con trai vẫn ngồi im ở đó, không có một phản ứng gì cả!  Dường như anh đã hoá đá thật sự!

Sau này tôi mới biết, đó là một cặp vợ chồng son, lấy nhau vì tình.  Gia đình chị không đồng ý, nhưng thấy chị cương quyết quá, nên cũng đứng ra tổ chức hôn lễ nhưng sau đó thì cấm cửa cả hai người!  Chỉ ba hôm trước ngày cưới, chị mới biết hôn phu của mình có máu mê cờ bạc.  Nhưng, một phần vì thiệp cưới đã gởi đi hết, phần vì không lường được mức độ nặng nhẹ của máu mê ấy, vẫn mong tình yêu mãnh liệt của hai người sẽ làm thay đổi tất cả, chị vẫn quyết định lấy anh.  Chỉ mấy tháng sau, chị biết bệnh của anh là không còn thuốc chữa.  Nghèo đói là thế, nhưng hễ kiếm được đồng nào là anh lại sà ngay vào chiếu bạc.  Lúc mới lấy nhau, anh chỉ “đi vắng” từng chập ngắn.  Càng về sau anh càng vắng nhà nhiều hơn.  Cả đêm, cả ngày.  Đồ vật trong nhà, vốn dĩ đã ít ỏi, nay lại lần lượt đội nón ra đi.  Bao nhiêu lần chị khóc lóc, bao nhiêu lần chị làm dữ là bấy nhiêu lần anh hối hận ăn năn, hứa sẽ bỏ, và cũng bấy nhiêu lần anh quay lại với chiếu bạc!  Tình yêu anh dành cho chị không đủ mạnh để vượt qua căn bệnh này.  Rất sợ mất chị, nhưng anh không đủ nghị lực nói không với những lời rủ rê, khích bác.  Không còn cách nào khác, ngay khi biết mình mang thai, chị nuốt nước mắt vào trong, tự mình bươn chải kiếm sống.  Chị không từ một việc nặng nhọc nào để kiếm tiền, dành dụm chi dùng cho mình khi sinh nở.  Ngày đi sanh chị mới chỉ cho anh chỗ cất tiền, dặn dò anh lo ăn uống cho mình.  Thế nhưng, khi cầm tiền trong tay, máu mê cờ bạc lại nổi lên, anh tự nhủ “chơi một ván thôi, rồi về đi chợ, nấu cơm mang lên cho vợ”.  Một ván của anh kéo dài đến khi hết tiền.  Cầm mấy đồng tiền lẻ còn lại, anh mới sực tỉnh!  Chừng ấy tiền thì chỉ đủ mua một ít nước đậu nành, vừa lếnh láng đáy gà-mên!

Mang cái gà-mên ấy lên trạm xá, như một tên tội phạm, anh lén lút bước vào, lén lút đưa cho vợ.  Cả một ngày dài bị bỏ mặc với những buồn bã, đau đớn, mệt mỏi, với cái nhìn thương xót của những người xung quanh, trong sự non yếu thể xác và tinh thần của sản phụ mới sinh, thì những giọt sữa đậu nành lênh láng đáy gà-mên ấy chính là giọt nước làm tràn ly.

*********************************

Chúng tôi đến Trại Phong vào một buổi chiều muộn.  Nắng chiều vàng rực chiếu xiên qua hàng cây ven đường tạo nên vẻ đẹp âm thầm.  Soeur phụ trách dẫn chúng tôi đi thăm một vòng.  Dù đã được cam kết rằng bệnh phong không lây qua không khí, thức ăn, nước uống, nhiều đứa trong đoàn vẫn sợ co rúm lại, không dám uống nước các soeur mời, dù khát khô cổ sau một chặng đường dài mệt nhọc!

Và bất chợt, tôi lại nhìn thấy hình bóng người con trai ấy.  Câu chuyện với từng giây phút kinh hoàng đã ám ảnh tôi một thời gian dài, và in hằn trong trí tôi, không thể xóa nhòa.  Đúng là những đường nét của khuôn mặt ấy, nhưng bây giờ là khuôn mặt của một ông già cằn cỗi với thời gian, tuổi tác đè nặng, mái tóc bạc trắng, vừa rất giống, vừa rất khác người thanh nhiên ngày xưa ấy.  Và đôi mắt.  Đôi mắt như hai hố sâu thăm thẳm, vừa như chất chứa, u uất, vừa như vô hồn, trống rỗng.  Tôi tìm cách dò hỏi từ soeur phụ trách, để biết là các soeurs cũng chẳng biết gì hơn tôi.  Gần hai mươi năm trước, anh một mình đến xin làm, không nhận tiền công, chỉ xin ngày hai bữa ăn và một chỗ ngủ.  Trại phong là nơi chẳng ai muốn đến bao giờ, nhất là lại đến ở luôn, mà lại giúp không công!  Thế là các soeurs nhận.  Và soeur không bao giờ ân hận vì quyết định ấy, vì anh luôn làm quá sức mình, trong tất cả mọi việc, không nề hà những vết lở loét kinh sợ, không nề hà mùi tanh hôi của máu, mủ.  Chỉ có một điều, anh không bao giờ trò chuyện.  Là những người xoa dịu vết đau, không những thể xác mà cả tinh thần, các soeur biết anh đang chất chứa một nỗi đau dường như vượt quá sức chịu đựng, nên tìm đủ mọi cách tiếp cận với con người ấy, nhưng anh vẫn cứ là một cái bóng, một cái bóng vô cùng hữu dụng.

Ngày tháng dần trôi.  Các soeurs đến rồi đi, anh trở thành một phần không thể thiếu của trại.  Và các soeur cũng từ bỏ ý định tiếp cận với anh.  Nỗi đau anh khư khư ôm giữ riêng cho mình, không biết như một trừng phạt, đọa dày hay như một sự chuộc tội?!

Tôi rất muốn nói với anh rằng, đúng thật là anh đã tự tay giết chết một lúc ba mạng người, mà lại là những người thân yếu nhất.  Đúng thật là không đêm nào anh có thể ngủ mà không mơ thấy hình ảnh vợ mình ném con qua cửa sổ.  Nhưng chừng ấy năm trời sống giam mình trong địa ngục của câu chuyện ấy đã là quá đủ cho anh.  Sao anh không thể tha thứ cho chính mình?  Sao anh không nhìn thấy những người phong cùi kia lần lượt được chữa lành?  Sao anh không thấy rằng, chừng ấy năm xoa dịu nỗi đau thể xác của những bệnh nhân phong cùi đã là sự chuộc tội dư đầy?  Dù không biết Chúa, nhưng hai mươi năm sống cạnh các soeur, sao anh không thể nhận ra rằng, Chúa đã tha thứ cho anh từ lâu lắm rồi?  Sao anh không tin rằng, nơi xa xôi ấy, vợ và các con anh chắc phải đau khổ lắm khi nhìn thấy anh như thế, để những  ngày còn lại trong cuộc đời, anh có thể an lòng mà sống, mà tiếp tục làm người thánh thiện trong mắt các bệnh nhân, như họ đã nhìn anh trong hai mươi năm qua?

Chiêu Ẩn

*********************************

Lạy Chúa, trong hành trình thiêng liêng, quá trình nhìn nhận tội lỗi của mình, chấp nhận ơn tha thứ của Chúa và cuối cùng là chấp nhận tha thứ cho chính bản thân mình là một con đường dài đầy chông gai.  Xin cho con biết mở lòng và khiêm nhường để tha thứ cho chính mình cho dù tội lỗi của con có ngút ngàn mây xanh.  Xin cho con nhận biết rằng chỉ có Chúa mới đủ khả năng để chuộc tội cho con chứ con không có khả năng để chuộc lại tội lỗi của mình.  Khi không tha thứ cho chính mình cũng chính là con không chấp nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, nghĩa là Chúa đã thất bại với chính con! 

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin giúp con thoát ra khỏi áng mây đen ám ảnh của một quá khứ tội lỗi để con sống vui, sống trọn vẹn cho mình, cho Chúa và cho tha nhân.  Amen!

MÙA GẶT

Mấy hôm nay tôi ở trên vùng đất đỏ.  Mùa này là mùa gặt hái ở vùng này nên cả ngày trong thôn xóm khá vắng vẻ.  Ai có sức đều đi làm, cả lớn cả bé.  Vùng này trồng bốn loại cây chính là điều, tiêu, cà phê và cao su.  Điều và tiêu thì gặt hái vào khoảng tháng giêng đến tháng tư.  Cà phê hái khoảng tháng mười.  Còn cao su thì cạo mủ từ tháng tư đến tháng chạp. Vì tiêu, điều và cà phê chỉ tụ trái một năm một lần nên kinh tế người dân tùy thuộc vào mùa gặt này.  Năm nay, sắp đến mùa gặt hái thì bị những cơn mưa trái mùa nên “cà phê tiêu điều” lắm.  Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng nhiều đến đời sống dân nghèo ở các vùng nông thôn.  Cao su không tìm được chỗ bán ra nên nhân công cạo mủ ngày làm ngày không.  Đi thu hoạch tiêu, điều và cà phê thì được trả khoảng 50 ngàn một ngày.  Đi cạo mủ cao su được khoảng 70 ngàn một ngày vì cần phải có kinh nghiệm cạo mủ và phải làm ban đêm.  Mùa điều nay năm coi như thất thu nặng vì những cơn mưa.  Đang mùa lượm điều cũng là mùa tụ trái, những cơn mưa vừa rồi làm điều không tụ trái được, còn những trái non thì bị úng.

Tôi đến hướng dẫn khóa cầu nguyện ngay trong mùa gặt vì lâu lắm rồi ở đây không có khóa và tôi cũng không thể sắp xếp được thời gian nào khác, thế mà mười anh chị em Dân Tộc cũng dám bỏ ba ngày mùa để tham dự khóa.  Lòng mến Chúa của anh chị em Dân Tộc làm tôi cảm động quá sức, và giúp tôi nhìn lại lòng hăng say công việc nhà Chúa của chính mình.  Khi anh chị em đến tham dự, vì thông báo không rõ ràng nên ai cũng tưởng khóa chỉ một ngày nên người nào cũng chỉ mặc một bộ đồ, khi đến nơi mới biết khóa đến ba ngày.  Cuối ngày đầu tiên, anh chị em về nhà ngủ để lấy thêm áo quần, tôi nghĩ sáng hôm sau chắc chỉ vài ba người trở lại, thế mà anh chị em đến đông đủ chỉ thiếu một người và thay vào đó lại có một người khác tham dự.

Nhìn ngắm địa hình vùng này, dù rất nhỏ trong bản đồ, nhưng trong mắt tôi thì thật rộng lớn trên con đường sứ vụ vì nhân sự không có.  Cả một cánh đồng truyền giáo rộng thêng thang đang chờ thợ gặt do những anh chị em đi trước đã gieo vãi hạt giống Tin Mừng.  Tôi được sai đến với anh chị em Dân Tộc nhưng không được trang bị gì cả.  Không biết tiếng, cũng chẳng biết văn hóa hay tập tục của họ.  Tôi đi thu hoạch tâm hồn như một người không rành nghề đi làm mướn.  Người thợ gặt đi vào cánh đồng lúa chỉ được Thiên Chúa trang bị cho một khí cụ duy nhất mà thôi, đó là tình yêu!  Hình như khi đến với anh chị em mà có tình yêu là có đủ tất cả.

Mùa thu hoạch tiêu và điều đang tiếp diễn và thợ gặt mướn không thiếu.  Già trẻ lớn bé, ai có sức là đi làm.  Lượm điều ở dưới đất thì ai cũng làm được vì điều chờ rụng mới thu hoạch.  Còn hái tiêu cần lưu ý hơn vì phải hái trên cây cao và phải tránh không làm gãy nhánh.  Ngày ngày tôi ra vườn lượm những trái điều dưới đất mới thấm thía nghề lượm điều.  Cứ khum lên cúi xuống để lượm từng trái điều dưới đất.  Lượm được 100 trái điều cho vào cái sô thì cái lưng và hai đầu gối ê ẩm rã rời.  Vì năm nay mất mùa nên người dân ít mướn thợ lượm điều.  Cả nhà lớn nhỏ, cha mẹ con cái ráng bỏ công bỏ sức ra tự lượm.  Mùa gặt hái cánh đồng của Thiên Chúa cũng đang tiếp diễn nhưng thiếu vắng thợ gặt nhất là những thợ gặt kinh nghiệm.  Chúa vẫn trông chờ những thợ gặt mướn vì cánh đồng của Chúa còn bao la bát ngát, và Ngài đang chờ đợi từng con người quảng đại cộng tác vào chương trình của Ngài.

Hôm nay tôi thu hoạch điều do công những người đi trước đã bỏ công trồng và chăm bón.  Tôi đi gặt hái những tâm hồn do công của anh chị em đi trước đã gieo vãi hạt giống Lời Chúa và chăm sóc cánh đồng với tấm lòng quảng đại yêu thương.  Tôi đang gặt hái cánh đồng mà tôi đã chẳng bỏ công trồng và chăm sóc.  Tôi đến và rồi sẽ có ngày tôi ra đi; nhưng hoa trái của cánh đồng vẫn tiếp tục nở hoa, tụ trái vì Đấng Chủ cánh đồng vẫn dõi mắt theo và quan phòng.

Mùa này đang là mùa lượm điều, hái tiêu và cà phê, thế mùa nào là mùa gặt tâm hồn hở Chúa?  Hay ngày nào cũng là ngày mùa gieo vãi và gặt hái của Chúa, vì có ngày nào Chúa nghỉ ngơi đâu (Ga 5:17).  Mùa gặt của Chúa không dùng máy để gặt hàng loạt như công nghệ hiện đại của kỷ nguyên này, nhưng là đi gặt từng tâm hồn một như con đi lượm từng trái điều.  Lượm được một tâm hồn về cho Chúa thì con thấy Chúa vui lắm vì “con Cha đã mất nay lại tìm thấy” (Lc 15:24), và khi thấy Cha vui thì lòng con được vui lây cùng Cha.

************************************

Lạy Chúa, xin cho chúng con được mặc lấy tâm tình của Chúa, “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.  Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:37-38), để mỗi lần chúng con vui mừng gặt hái những hoa mầu vật chất, thì cũng biết dõi theo ánh mắt của Chúa để thấy những cánh đồng chín vàng của tâm hồn để gặt hái về cho Chúa.  Lạy Chúa, xin tiếp tục sai nhiều thợ gặt đến cánh đồng mênh mông của Chúa, để cánh đồng của Ngài chỉ còn có một màu xanh – Màu Xanh của Tình Yêu, Sự Sống và Hy Vọng.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
March 4, 2009

NGUỚC MẮT NHÌN TRỜI

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc đạo.  Sống dưới đất nhưng lòng trí để cả ở trên trời.  Không tha thiết gì với những người chung quanh.  Không tham gia những sinh hoạt xã hội.  Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, bên kia là những người sống như chỉ biết có việc ở đời.  Chỉ coi trọng những giá trị vật chất.  Chỉ biết có đời này.  Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ đều bất cập.

***

Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.

Đức Giêsu lên trời.  Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác.  Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.

Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt.  Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối.  Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.

Như thế trời là niềm hy vọng của con người.  Con người không còn bị trói chặt vào trần gian.  Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ.  Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi.  Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc.  Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.

Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với súc vật.  Súc vật sinh ra để tàn lụi.  Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa.  Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian.  Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.

Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.

Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho nước Chúa.  Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời.

Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi.  Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đấy. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đấy.

Hôm nay Chúa cũng sai các môn đệ và chúng ta đi gieo Tin Mừng khắp thế gian.  Hãy đi làm mọi việc tốt đẹp cho mọi người.

Làm việc tốt đẹp ở trần gian đó là góp phần xây dựng nước trời. Góp phần xây dựng trần gian đó là dọn chỗ ở trên nước trời. Trần gian không phải là nơi cho ta bám víu vì không vĩnh cửu.  Nhưng trần gian là cơ hội cho ta đạt tới nước trời. Chính vì thế, người môn đệ của Chúa phải sống giữa trần gian, phải yêu mến trần gian, phải xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc. Tuy nhiên người Kitô làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời.  Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời.

***

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết nỗ lực xây dựng trần gian trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC (có Youtube)

Lộ Đức là một thành phố nhỏ thuộc miền tây nam nước Pháp, ngày nay được nhiều người trên thế giới biết đến là nhờ cuộc hiện ra của Đức Mẹ Chúa Trời với một em nhỏ cách đây 150 năm vào năm 1858.

1.  Sự Tích Hiện Ra:

Hôm đó là ngày 11 tháng 2 năm 1858, trời mùa Đông ở miền núi, lạnh kinh khủng.  Bernadette Soubirous cùng với 2 bạn khác ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi.  Bernadette lúc đó 15 tuổi mà chưa biết đọc biết viết, vì nhà nghèo, em phải làm việc để phụ vào với gia đình.

Sau khi vào tu Dòng, Benadette được học và cô tả lại trong lá thư trình bề trên như sau: “Hôm ấy tôi đi kiếm củi với hai đứa bạn ở bờ sông Gave.  (Khi ra tới bờ sông, hai em kia đi xa hơn, còn Benađette tìm củi quanh hang Massabiel.)  Bất ngờ tôi nghe có tiếng động.  Tôi ngoái nhìn về phía đồng cỏ.  Không thấy cây cối rung động gì cả.  Tôi ngẩng đầu nhìn lên hang.  Tôi thấy một Bà mặc áo trắng (bà còn trẻ lắm, chừng 16, 17 tuổi, mặc áo dài trắng, thắt dây lưng xanh da trời, hai tay chắp lại, đeo tràng hạt trên cánh tay phải.  Bà đẹp vời Benadette tiến lại gần hơn và mỉm cười với em).  Áo bà trắng nhưng thắt lưng lại xanh, và mỗi bên bàn chân có một bông hồng vàng.  Mầu chuỗi hạt của Bà cũng vàng nữa.

Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm.  Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt.  Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán.  Tay tôi rớt xuống.  Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá.  Tay tôi run quá.  Tôi thử làm dấu lại và làm được.  Tôi bắt đầu lần chuỗi.  Hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi.  Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì.

(Khi gặp lại hai đứa bạn kia ) Tôi hỏi hai đứa không thấy gì sao?  Chúng bảo không.  Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy, và buộc tôi phải nói cho chúng nghe.  Tôi kể rằng tôi đã thấy một Bà mặc áo trắng, nhưng tôi không biết Bà đó là ai, và không cho chúng được kể lại với ai.  Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa.  Tôi bảo không.  Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại đó lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi.  Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong 15 ngày liên tiếp không.  Tôi bằng lòng.  Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này.  Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối.  Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi ra đi uống nước ở sông Gave.  Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ suối nước.  Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước dơ.  Tôi thò tay xuống nhưng không múc được.  Tôi liền cào đất ra, và tôi đã múc được nước, nhưng tôi lại hất đi ba lần, đến lần thứ bốn tôi mới dám uống.  Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

Trong 15 ngày liên tiếp, tôi đã trở lại nơi đó.  Ngày nào tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ ngày thứ Hai và thứ Sáu.  Bà nói đi nói lại với tôi rằng: “Tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây.  Tôi phải đến rửa ở suối nước, và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại.”

Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai?  Nhưng Bà chỉ cười.  Rồi bỏ tay thõng xuống, Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi Bà là Đấng đầu thai Vô nhiễm.

Trong khoảng thời gian 15 ngày đó, Bà nói với tôi 3 điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy.”

2.  Sứ Điêp Đức Mẹ Muốn Nhắn Nhủ Con Cái Người :

“Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội”
“Hãy nói với các linh mục xây nhà thờ kính Mẹ ở đây, và để dân chúng đến đây rước kiệu.”

3.  Ta Là Đấng Vô Nhiễm:

Khi linh mục xứ muốn biết tên Bà, Bernadette đã hỏi thì ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình là: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội.”  Nhưng Bernadette không hiểu.  Khi cô nói lại với cha xứ ngài mới nhận ra bà lạ đó là Đức Mẹ hiện ra.

Để chứng tỏ Mẹ hiện ra thật, Mẹ bảo Bernadette bới đất chỗ cô qùy để có một giòng nước vọt ra cho cô uống và sau đó chữa mọi thứ bệnh.

Sau này, ĐGM giáo phận đã gửi Bernadette đi tu tại Nevers cách xa Lộ đức cả nửa ngày đường xe.  Bernadette sống rất khiêm tốn ở đây.  Cô bị nhiều xỉ nhục nơi các chị em dòng, bị nhiều bệnh đau đớn cho tới chết, nhưng lúc nào Tràng hạt Mân côi cũng là niềm an ủi của cô.  Chính kinh Mân côi đã là đường lối nên thánh của cô.  (Riêng Bernadette Đức Mẹ đã nói: ” Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng là hạnh phúc đời sau.)

4.  Lộ Đức Ngày Nay:

Đã trở nên một trung tâm hành hương lớn nhất thế giới.  Hàng năm có tới 4 triệu người đến kính viếng và xin ơn Đức Mẹ.  Giáo hội đã đặt lễ kính Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức vào ngày 11 tháng 2 hàng năm.  Từ năm 1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chỉ định ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức là Ngày Thế giới cầu cho các bệnh nhân.

5.  Đức Thánh Cha Với Lộ Đức:

Ngày 14 và 15 tháng 8 năm 2004, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viếng Đức Mẹ Lộ Đức.  Đây là chuyến đi để kỷ niệm 150 năm Giáo hội Công giáo tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, là chuyến đi thứ 104 ra ngoài Vatican của Đức Thánh Cha, là lần thứ 7 Người tới nước Pháp.  Lần trước Người tới Lộ Đức vào tháng 8 năm 1997 để dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới.  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chủ ý viếng nơi Đức Mẹ đã hiện ra với cô thôn nữ Bernadette, và ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội”, bốn năm sau khi Đức Thánh Cha Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm (1854).  Ngày lễ kính Đức Mẹ Lên Trời, Đức Thánh Cha dâng lễ lúc 10 giờ sáng tại đền thánh.  Sau trưa, Người cầu nguyện âm thầm trước hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra.

Sáng 15-9-2008, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã cử hành thánh lễ cho 100 ngàn tín hữu, trong đó có đông đảo các bệnh nhân, tại quảng trường trước Vương cung thánh đường Đức Mẹ Mân Côi ở Lộ Đức.

Đây là thánh lễ lộ thiên thứ 3 và cũng là thánh lễ cuối cùng trong 4 ngày viếng thăm của nước Pháp.

Dưới bầu trời nắng đẹp, các bệnh nhân và người tàn tật, phần lớn ngồi trên xe lăn, ở khu vực trước bàn thờ.  Đồng tế với Đức Thánh Cha còn có hàng trăm Giám mục Pháp và nước ngoài.

Trong bài giảng thánh lễ, Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa ngày lễ Đức Mẹ sầu bi, mừng kính ngày 15-9-2009.  Ngài nhận định rằng “ngày nay, Mẹ Maria đang ở trong niềm vui và vinh quang Phục Sinh.  Những giọt lệ của Mẹ dưới chân Thánh Giá đã biến thành một nụ cười mà không gì xóa bỏ được, trong khi lòng từ bi hiền mẫu của Mẹ đối với chúng ta vẫn nguyên vẹn.  Mẹ Maria yêu thương mỗi người con của Mẹ, Mẹ đặc biệt quan tâm đến những người, giống như Con của Mẹ trong giờ Khổ Nạn, đang phải chịu đau khổ; Mẹ yêu thương họ chỉ vì họ là con cái của Mẹ, theo ý muốn của Chúa Kitô trên Thánh Giá.”

Đức Thánh Cha đặc biệt giải thích câu 13 của thánh vịnh 44 trong bài đáp ca của ngày lễ nói tiên tri về Mẹ Maria “Những người giàu có nhất trong dân… sẽ tìm kiếm nụ cười của bà” (TV 44,13).  Ngài nói: “Nụ cười của Mẹ Maria là cho tất cả mọi người chúng ta, và đặc biệt cho những người đau khổ, để họ có thể tìm được qua đó sự an ủi và giảm bớt đau khổ.  Tìm kiếm nụ cười của Mẹ Maria không phải là một điều sùng mộ theo tình cảm hoặc lỗi thời, nhưng đúng hơn đó là một sự diễn tả đúng đắn quan hệ sinh động và có đặc tính nhân bản sâu xa liên kết chúng ta với Đấng mà Chúa Kitô đặt làm Mẹ chúng ta”.

Đức Thánh Cha cũng nhận xét rằng “Mỗi lần đọc kinh Magnificat là chúng ta được trở thành chứng nhân về nụ cười của Mẹ Maria.  Tại Lộ Đức này, trong cuộc hiện ra của Đức Mẹ ngày thứ tư, 3-3-1858, thánh nữ Bernadette đặc biệt chiêm ngắm nụ cười của Mẹ Maria.  Nụ cười này là câu trả lời đầu tiên mà Bà Đẹp gửi tới Bernadette khi cô bé muốn hỏi danh tánh của Bà”.

Cũng trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói về sự trợ giúp của Mẹ Maria dành cho các bệnh nhân và những người đau khổ, và nói rằng:

“Có những cuộc chiến đấu mà con người không thể một mình đương đầu được, nếu không có ơn Chúa.  Khi lời nói không tìm được những từ thích hợp, ta cần có một sự hiện diện yêu thương: khi ấy chúng ta tìm kiếm sự gần gũi không những của những người ruột thịt và bạn hữu, nhưng của những người gần gũi chúng ta qua liên hệ đức tin.  Ai có thể gần gũi thiêng liêng với chúng ta hơn là Chúa Kitô và Đức Mẹ Vô Nhiễm, Người Mẹ thánh thiện của Ngài?  Hơn ai hết, các Ngài có thể hiểu chúng ta và thấy rõ cuộc chiến đấu cam go chống lại bất hạnh và đau khổ…  Ngoài ra, nơi Mẹ Maria chúng ta cũng được ơn thánh để chấp nhận rời bỏ trần thế này vào thời điểm Chúa muốn mà không chút sợ hãi hay cay đắng.”

Sau cùng, Đức Thánh Cha giải thích về ý nghĩa bí tích xức dầu bệnh nhân và nói rằng: “Ơn thánh thiêng của bí tích này hệ tại đón nhận vào mình Chúa Kitô Y Sĩ.  Nhưng Chúa Kitô không phải là y sĩ theo kiểu thế gian này.  Để chữa lành chúng ta, Chúa không ở bên ngoài đau khổ người ta phải chịu; để thoa dịu đau khổ, Chúa đến ở trong tâm hồn người bị bệnh tật, để cùng chịu và sống đau khổ ấy với họ.  Con người không còn chịu thử thách một mình, nhưng họ trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô Đấng tự hiến dâng cho Chúa Cha; trong tư cách là chi thể của Chúa Kitô chịu đau khổ, người bệnh tham gia vào việc sinh ra thụ tạo mới trong Chúa Kitô”.

“Nếu không có ơn phù trợ của Chúa, cái ách bệnh tật và đau khổ sẽ nặng nề kinh khủng.  Khi lãnh nhận bí tích bệnh nhân, chúng ta không mong muốn mang ách nào khác ngoài ách của Chúa Kitô, trong niềm tin tưởng mạnh mẽ nơi lời hứa của Ngài cho chúng ta, theo đó ách của ngài dễ mang và gánh của ngài nhẹ nhàng (cf Mt 11,30).  Tôi mời gọi tất cả những người sẽ lãnh nhận bí tích bệnh nhân trong thánh lễ này hãy tiến vào niềm hy vọng như vậy.”

Nguyễn Thế Bài

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.