ĐỒNG CẢM VỚI CHÚA

Chuyện kể rằng khi quân Mông Cổ mở mang bờ cõi đến vùng Ba Tư, họ bắt được một tu sĩ công giáo.  Quân Mông Cổ giải vị tu sĩ đến gặp Thành Cát Tư Hãn.  Thấy người tù binh đeo một cây thánh giá trước ngực, vị đại hãn hỏi về ý nghĩa của dấu hiệu này. Thế là vị tu sĩ nhân cơ hội ngàn vàng kể lại cuộc đời của Chúa Giêsu cho cả triều đình Mông Cổ nghe.  Vị đại hãn tỏ ra thích thú, cho đến khi nghe đoạn thương khó.

Khi nghe đến chuyện Chúa Giêsu bị phản bội, bị bắt, bị đánh đòn, rồi bị đóng đinh, càng lúc khuôn mặt của đại hãn càng lộ vẻ tức giận.  Đến lúc vị tu sĩ nói: “Chúa Giêsu kêu lớn: Elôi, Elôi lamma sabác thani” (Mc 15:34), Thành Cát Tư Hãn gầm lên: “Rồi sao nữa?”  Sau khi nghe chuyện Chúa Giêsu gục đầu tắt thở, màn đền thờ xé làm đôi, rồi viên đại đội trưởng tuyên bố “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15:38), đại hãn trầm ngâm một lúc rồi hỏi: “Thế Thượng đế của các ngươi đã làm gì?”  “Ngài có sai quân binh trên trời xuống tàn sát những kẻ giết con của Ngài không?”

Khi thấy vị tu sĩ lắc đầu, Thành Cát Tư Hãn khoát tay đuổi ông ra và không muốn nghe thêm nữa.  Đại hãn bình luận: “Một chủ tể mà không bảo vệ được con của ngài, một quân vương mà không trả thù cho con của ngài, thì có gì mà đáng kính phục.” Và dĩ nhiên là Thành Cát Tư Hãn không theo đạo.

****************************

Tội nghiệp vị đại hãn chưa có dịp nghe đoạn kết câu chuyện, vì nếu đã được nghe, có lẽ ông đã có một kết luận khác. Còn chúng ta, dĩ nhiên là chúng ta biết hết câu chuyện thương khó của Chúa Giêsu. Chúa chết trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại và ba ngày sau Ngài sẽ sống lại.  Nhưng chúng ta có thật sự hiểu câu chuyện này không? Chúng ta có thực sự hồi hộp theo dõi từng tình tiết một, như vị đại hãn đã làm không?

Có lẽ vì chúng ta nghe quá nhiều lần nên có khi đã không còn tâm tình cùng đi với Chúa Giêsu trên con đường tử nạn.  Có lẽ vì chúng ta biết Chúa sẽ sống lại nên khó cảm nghiệm được cảm giác của người nghe câu chuyện lần đầu. Bi thương, hùng tráng, giận dữ, chua xót, mất mát, đau buồn, v.v…  Những cảm giác đó mới chính là những gì chúng ta cần được cảm nghiệm trong Tuần Thánh này.  Kể từ hôm nay, chúng ta được mời cùng đi với Chúa Giêsu, với Mẹ của Ngài, từng ngày một, từng bước một, vào trong câu chuyện Thương Khó.

Cuộc Thương Khó giúp tôi ý thức sự giới hạn của lý trí khi tôi không có câu trả lời cho những vấn nạn của cuộc đời:  Tại sao tôi mất việc?  Tại sao gia đình tôi đổ vỡ?  Tại sao con cái tôi hư hỏng?  Tại sao em tôi bị bạo bệnh?  Tại sao bạn tôi chết khi còn quá trẻ?  Tại sao và tại sao?  Đó là những vấn nạn, đôi khi không có câu trả lời.  Nhìn lên Chúa, Chúa im lặng.  Nhìn sang Phật, Phật nhắm mắt.  Hỏi những người thông thái, họ lắc đầu: Không biết!  Phải chăng lúc đó tôi cũng kêu lên rằng: Lạy Chúa sao Chúa bỏ con?

*********************************

Bạn thân mến,

Đau khổ là một thực tế không thể chạy trốn trong kiếp người. Tôi chỉ có thể trực diện với nó khi tôi biết Con Thiên Chúa cũng đã đi qua cái chung cuộc tồi tàn nhất của kiếp người. Bị bạn bè bán đứng, bị người thân chối bỏ.  Thân phận Ngài còn thua xa tên tội phạm Barabba.  Con Thiên Chúa đã chết một cách thầm lặng trần truồng trên thập giá.  Đứng dưới chân thập giá, có mấy người nhỏ lệ?  có bao nhiêu người hả hê?  Nếu Con Thiên Chúa, Đấng vô tội mà còn bị người đời đối xử thế đó, thì làm sao tôi là môn đệ Ngài có quyền đòi hỏi cái gì khác hơn.  Nếu Thiên Chúa đã im lặng khi Con của Ngài bị giết, thì làm sao tôi có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải lên tiếng khi tôi gặp đau khổ.

Chúa Giêsu đã mang lấy một số phận nghiệt ngã hơn chúng ta nhiều lắm.  Thế nên khi gặp đau khổ hoạn nạn, tôi đừng vội trách Chúa sao lại gửi cho con thập giá quá nặng nề.  Không, Thiên Chúa không phải là tác giả của hình phạt dã man độc ác đó.  Chính con người chúng ta nghĩ ra những trò độc ác, những hình phạt dã man để hại nhau, giết nhau. Và rồi chính con ngưòi đóng đinh cả Con Thiên Chúa trên đó nữa.

Nhưng phần Ngài, sao Ngài lại chấp nhận như thế?  Phải chăng khi chọn chén đắng của cuộc đời, Chúa Giêsu muốn tỏ cho chúng ta thấy đau khổ và sự chết không phải là tiếng nói sau cùng?  Phải chăng Ngài muốn chia sẻ thân phận mỏng dòn yếu hèn của chúng ta?  Đúng như lời thánh Phaolô tuyên bố: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa… nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 2:6-8).  Quả thế, Con Thiên Chúa đã cúi mình xuống để nâng chúng ta lên với Ngài.  Dù chúng ta phải đi qua con đường khổ giá, nhưng chúng ta tin rằng chúng ta không đi một mình.  Qua những người chung quanh, Chúa Kitô ghé vai cùng vác thập giá cùng chia sẻ cuộc đời với chúng ta.

Chủ Nhật Lễ Lá hôm nay cũng còn gọi là Chủ Nhật Thương Khó.  Đây là chủ nhật đặc biệt nhất trong năm vì có đến hai bài Phúc âm được đọc.  Một bài Phúc âm về reo hò mừng vui của việc đón rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem… và sau đó là bài Phúc âm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, bắt đầu từ âm muu nộp Chúa của Giuđa cho đến lúc táng xác Chúa.

Hai bài Phúc âm với hai tâm tình trái ngược.  Dân chúng hôm trước thì tung hô, mấy hôm sau thì đả đảo. Các môn đệ hôm trước thì hãnh diện đi với Thầy, vài hôm sau trốn chui trốn nhủi.  Các kinh sư và Biệt phái hôm trước thì e dè, vài bữa sau thì hả hê.  Tâm tình của con người là thế đó.  Và Chúa Giêsu biết điều đó.  Ngài chấp nhận tất cả, chịu đựng tất cả, tha thứ tất cả.

Thật dễ dàng để suy tư về ý nghĩa của Tuần Thương Khó, nhưng không thật dễ dàng để cảm nghiệm được những đau đớn của Tuần Thương Khó.  Mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy để những cảm giác đau đớn, giận dữ, khó chịu, kinh sợ, v.v… nổi lên trong lòng chúng ta.  Những cảm xúc này thật cần thiết để mỗi khi bị phản bội, bị bỏ rơi, bị lăng mạ hay bị kết án, bị trù dập hay bị sỉ nhục, bị chế diễu, bị lột trần hay bị đóng đinh, chúng ta có thể nhìn lên thập giá với một niềm an ủi.

Ước gì mỗi người chúng ta bước vào Tuần Thương Khó với tâm tình cuả Chúa Giêsu, để rồi khi chúng ta cùng chết đi với Ngài, chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài.

Xin cầu chúc bạn một Tuần Thánh được cử hành trong niềm tin và ân sủng của Đấng đã chịu chết vì chúng ta. Amen.

Antôn-Phaolô

 

 

CON ÐƯỜNG CHÚA ÐI

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Ðức Giêsu long trọng vào thành Giêruxalem.  Kết cục, Ðức Giêsu chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá.  Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.

Ðám rước tưng bừng ngày Lễ Lá mời gọi ta cùng tiến bước theo Chúa.

Tiến bước theo Chúa để hiểu rằng hành trình không kết thúc tại cổng thành Giêruxalem với đám đông ngưỡng mộ, với cành lá và quần áo trải thảm đường đi, nhưng kết thúc trên Núi Sọ với thập giá, với  những lời nhục mạ, với hai tội nhân đồng hành.  Ðức Giêsu không xưng vương trước đám đông cuồng nhiệt nghênh đón, nhưng lại xưng vương trước mặt Philatô, khi tay đã bị trói, khi thân thể đã tan nát không còn hình tượng con người, khi đã mất hết uy tín, đứng trước vành móng ngựa như một phạm nhân. Danh hiệu là Vua chỉ được chính thức ghi bằng chữ viết khi Người bị treo trên thập giá.

Hành trình của Chúa là một hành trình gian khổ.  Ðích điểm chỉ đạt tới sau khi đã từ bỏ tất cả, không phải chỉ là nhà cửa, y phục mà cả những người thân, cả thành công, cả danh dự, cả mạng sống.

Tiến bước theo Chúa để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.  Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa vung tay vung chân hoan hô Chúa, hôm sau đã vội vung tay vung chân kết án Chúa.  Cũng đám đông ấy hôm trước vừa reo hò chúc tụng Chúa, hôm sau cũng vẫn reo hò, nhưng để buộc tội Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa chen lấn nhau để nghênh đón Chúa, hôm sau đã xúm đông xúm đỏ để hành hạ Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa cởi áo, chặt cành lá lót đường Chúa đi, hôm sau đã lột áo Chúa, chặt cành gai cuốn lên đầu Chúa.

Tiến bước theo Chúa để dứt khóat lựa chọn cho mình một con đường.  Ðường vào Giêruxalem chỉ có một và rộng thênh thang.  Mọi người đều tụ tập và cùng chung lối bước.  Nhưng đường lên Núi Sọ chật hẹp và chia ra muôn ngả.  Mỗi người đi theo con đường của mình. Ðường vào Giêruxalem đông vui và phấn khởi vì mọi người ca hát tưng bừng.  Nhưng đường lên Núi Sọ thật buồn thảm, chỉ có tiếng roi vọt, tiếng than khóc, tiếng chửi rủa.  Ðường vào Giêruxalem mọi người đều theo Chúa, mọi người đều là môn đệ Chúa.  Nhưng đường lên Núi Sọ chỉ còn ít người theo Chúa. Có những người đã phản bội.  Có những người đã trốn chạy. Có những người đã chối bỏ Thày. Ðường vào Giêruxalem có con lừa chở Chúa.  Nhưng đường lên Núi Sọ Chúa phải vác thánh giá.

Ði theo Chúa trên đường vào Giêruxalem thì dễ dàng và vui vẻ.  Nhưng theo Chúa trên con đường Núi Sọ mới thật chông gai.

Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ dễ dàng hoà nhập vào đoàn người cầm cành lá đón rước Chúa.  Nhưng khi Chúa đi lên Núi Sọ, tôi sẽ rẽ sang đường nào ? Tôi sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa ?  Tôi sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô ?  Tôi sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ ?  Tôi sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa ?  Hay tôi cũng theo quân lính đánh đập Chúa ?  Trước sau gì tôi cũng phải lựa chọn một con đường.

***

Lạy Chúa, xin cho con luôn tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi.  Xin thêm sức cho con để con kiên trì theo Chúa trên đường lên Núi Sọ.  Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

MÙA VỌNG: MÙA MÀU HỒNG (có Youtube)

Nếu khởi đầu Mùa Vọng là một màu xanh của những tâm hồn biết rằng Thiên Chúa hằng hy vọng vào mình và hành trình Mùa Vọng là một màu tím của những cuộc đời sám hối, thì ở giữa lòng Mùa Vọng, đời người đã được đặt vào một vận hành mới với một năng lực mới cho một cuộc đời mới.  Những cái mới ấy Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay diễn tả bằng một niềm vui và lễ phục minh họa bằng một tông màu bất ngờ tươi sáng để cùng với Giáo Hội, Chúa Nhật hôm nay xin được gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng.

Vâng!  Màu hồng.  Nhưng không phải là một thứ ửng hồng e lệ của tình yêu buổi đầu gặp gỡ, cũng không phải là thứ bột hồng điểm trang của hương phấn trong ngày lễ hội, mà chính là màu hồng của niềm vui chan hòa và những chí bền chiến đấu đã làm nên sức sống và sức mạnh không ngừng gieo hưng phấn trên hành trình đức tin.

Qua cách gọi tên Mùa Vọng là mùa màu hồng, xin được gợi ý về hiệu quả của niềm hy vọng.

1) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một niềm vui chan hòa.

Không phải vô cớ mà thánh Phaolô năm xưa đã kêu gọi các tín hữu của mình “Hãy vui lên!” cũng chẳng phải tình cờ khi Phụng Vụ gọi Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng là Chúa Nhật của niềm vui, mà tất cả đã là một hữu ý dàn dựng để làm nổi bật lên nỗi vui mừng và niềm hy vọng không phải như hai nỗi niềm đặt cận kề nhau, mà như hai yếu tố tương tại vào nhau của cùng một nỗi niềm duy nhất kết nên đời sống Kitô hữu.  Có hy vọng là có niềm vui.

Bởi có hy vọng nên đời tín hữu cũng có một vũ trụ quan tươi vui: Họ không chấp nhận cuộc đời theo kiểu “cũng liều nhắm mắt đưa chân” trôi nổi vật vờ theo dòng nước cuốn, mà là đón nhận cuộc đời bằng một phong thái thanh thản vui tươi.  Họ không chấp nhận nhìn môi trường mình đang sống như những sự kiện bên lề mà biết nhận ra đó chính là nơi mình được kêu gọi đến để thể hiện ơn gọi làm người và làm con Chúa.  Cho dẫu cuộc đời có thế nào cũng vẫn có đó niềm hy vọng vươn cao.  “Trong khi chưa có được điều mình thích, hãy bắt đầu bằng cách thích những điều mình đang có.”  Tôi muốn một cuộc đời rộng đẹp nhưng trước mắt tôi vẫn chỉ là những mảnh đời chật hẹp thì trong niềm hy vọng, tôi phải bắt đầu bằng cách nới rộng đời mình ra.

Bởi có niềm hy vọng nên đời tín hữu cũng có một nhân sinh quan chan hòa.  Trong đại dương không ai là một hòn đảo.  Trong chuyến đi cuộc đời chẳng ai là người lữ khách cô đơn.  Thế nên, trong tinh thần liên đới, tín hữu là những kẻ đồng hành và đồng hành cũng có nghĩa là biết cho đi và nhận về.  Cũng giống như tình yêu, hy vọng là rộng mở, là biết cho đi.  Trong đổi chác, không ai có thể cho cái mình không có, nhưng trong niềm hy vọng, không ai có thể có được điều mà mình không biết cho đi.  Bởi lẽ bạc tiền cho đi sẽ có lúc vơi cạn, nhưng niềm hy vọng biết cho đi thì ngược lại, bỗng trở nên phong phú lạ thường.  Nỗi vui cho đi sẽ thành nỗi vui lớn hơn của kẻ cho và người nhận gộp lại, và niềm hy vọng biết cho đi sẽ nên niềm hy vọng vĩ đại của một sự sống triển nở sinh sôi.

Rõ ràng là với niềm hy vọng, cuộc sống đã biến thành niềm vui, cho dẫu niềm vui ấy chưa ở độ tinh ròng mà vẫn còn đan xen với những nỗi niềm riêng tư hay nỗi lo đại cuộc, nhưng đã hồng hào lên một sức sống tươi trẻ vì đó chính là thành quả của niềm hy vọng.

Chắc cộng đoàn còn nhớ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I.  Triều đại Giáo Hoàng của ngài chỉ có ba mươi ba ngày nhưng hình ảnh của ngài thì thế giới khó mà quên.  Đó là hình ảnh của một Giáo Hoàng với nụ cười thật tươi, nụ cười trong hồn và nụ cười ngoài miệng.  Chính ngài là người đã lập lại quan điểm của thánh Tôma để chủ trương: vui vẻ là một nhân đức.  Và Mẹ Têrêsa Calcutta, một trong mười phụ nữ được xếp vào hàng vĩ nhân hiện đại, khi người ta hỏi Mẹ xem phải làm gì cho cuộc sống tốt hơn, Mẹ bảo: “Hãy mỉm cười.  Cười là thông điệp hòa bình.  Cười là nếm cảm thực tại Thiên Chúa”.

2) Niềm hy vọng đem lại cho đời tín hữu một chí bền chiến đấu.

Những lúc an bình, niềm hy vọng mở ra một cuộc sống tươi vui nhưng khi gặp phải thử thách, niềm hy vọng lại trở nên sức mạnh kiên cường.  Chính vì thế, hy vọng không chỉ được xem là nhân đức của nụ cười mà còn được khẳng định là nhân đức của sự chiến đấu trước những thách đố không thiếu trong đời.

Có những thách đố đến từ những nghịch lý trong đời sống đức tin thể hiện qua những câu hỏi “tại sao?” khó mà trả lời nếu không có niềm hy vọng.  Như câu hỏi tại sao của Cựu Ước: “Tại sao kẻ lành thường gặp hoạn nạn còn kẻ dữ lại cứ phây phây?”  Như câu hỏi của thánh Phaolô: “Tại sao điều tốt muốn làm tôi lại chẳng làm, còn điều xấu muốn tránh tôi lại hay vấp phải?”  Như câu hỏi về Giáo Hội: “Tại sao Giáo Hội bản chất là duy nhất mà trong lịch sử vẫn cứ mãi ghi dấu bằng những cuộc phân ly?”  Như câu hỏi của các bạn trẻ Tây Ban Nha đặt ra cho Đức Gioan Phaolô II năm 1982: “Tại sao Thiên Chúa tốt lành mà trong tạo thành của Ngài lại có quá nhiều tội ác?”  Như câu hỏi của báo chí: “Tại sao người ta cứ phải lo đề phòng đối phó mà không biết yêu thương nhau?”  Hay như câu hỏi mỗi người thường đặt ra với lòng mình: “Tại sao nhân đức như lúa tốt chăm hoài vẫn khó mọc còn nết xấu như cỏ dại nhổ mãi vẫn cứ còn?”  Những câu hỏi ấy được đặt ra và còn được đặt ra mãi mãi.  Sẽ là hoang mang chao đảo nếu không tìm được giải đáp; nhưng sẽ không có câu trả lời đích thực nếu không nại đến niềm hy vọng vào điều toàn bích vốn chỉ có nơi Thiên Chúa và trong cuộc sống mai sau.

Có những thách đố đến từ những nghịch biến trong lối sống đạo như sự ly thân giữa giáo lý tốt lành của đạo với đời sống kèn cựa của người tín hữu, như cách sống thực dụng của một số thành phần có đạo, như xu hướng tục hóa đang có nguy cơ tràn lan, và phổ biến nhất vẫn là thái độ “mackeno” dửng dưng với đạo của một số kẻ tự nhận là có đạo mà thực tế chẳng tốt hơn ai.  Sẽ là dị ứng co cụm nếu chỉ thở dài thất vọng, nhưng sẽ là bản lĩnh hy vọng nếu biết vươn lên khẳng định niềm tin.

Và cũng có những thách đố đến từ những nghịch cảnh trong cuộc đời như tai nạn bất ưng, như sức khỏe yếu kém, như hoàn cảnh không thuận lợi cho ngành nghề, như những thất bại nhiều mặt.  Sẽ là thất vọng nếu cúi gập trên nỗi đau của mình, nhưng sẽ là hy vọng nếu biết vươn lên, cho dẫu hoàn cảnh có tuyệt vọng đi nữa thì ở đó vẫn cứ sáng rỡ một niềm cậy trông.

Trọn trang Tin Mừng hôm nay là một thách đố không nhỏ mà Gioan Tẩy Giả đã gặp phải: rao giảng về một sự trừng phạt đến cận kề nhưng lại gặp phải sự chậm trễ; loan báo về Đấng Cứu Thế như một vị Chúa oai phong đáng sợ nhưng lại thấy Chúa Giêsu chan hòa nhân ái; công bố về thời mở cửa cứu độ nhưng chính mình lại bị cầm tù vào giữa lúc mọi người xôn xao hạnh phúc.  Đã có lúc nóng lòng chờ đợi như việc gửi môn đệ đến chất vấn Chúa Giêsu qua đoạn Phúc Âm hôm nay, nhưng từ những thách đố ấy, nơi Gioan Tẩy Giả đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường: ông không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẽ cậy trông.

Niềm hy vọng chính là sức mạnh hồng hào giúp Gioan Tẩy Giả và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Tóm lại, với hiệu quả của niềm hy vọng là niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu, đời sống của tín hữu đã được đặt vào một vận hành mới vươn tới một điều còn lớn lao hơn cả chính nỗi niềm của mình.  Đó không chỉ là chân lý cho trí ta đong đầy, không chỉ là thiện hảo cho lòng ta mê thích, cũng không chỉ là nét đẹp cho mắt nhìn no thỏa mà chính là một Đấng, Đấng ấy là Thiên Chúa hằng hy vọng vào ta.

Và như thế, thiết tưởng đã đến lúc đặt ra vấn đề: liệu ta có niềm hy vọng ấy chưa?

Bài đọc thứ nhất nhắc nhở “Đừng sợ.”  Đừng sợ không có niềm hy vọng vì trước khi ta có thể hy vọng thì Chúa đã hy vọng vào ta.  Đó là một hồng ân.  Cũng đừng sợ mình mất niềm hy vọng như thể ta sống có một mình.  Có một Đấng cùng sống với ta và Đấng ấy không dễ gì để mất ta đâu.  Cũng đừng sợ niềm hy vọng của ta sao quá nhạt nhòa, bởi hy vọng là một công trình cả đời.  Điều đáng sợ đáng ngại và đáng đau khổ nhất là “thấy Thiên Chúa bị bóp chết trong một đời người”, nghĩa là người ta khước từ hy vọng, bóp nghẹt hy vọng nhân danh sự tự do hoặc danh lợi thú.

Bài đọc thứ hai khuyến khích “Hãy vui lên!” Vui vì ta là niềm hy vọng trong mắt nhìn cứu độ của Thiên Chúa và đồng thời cũng là niềm hy vọng thắp sáng cho anh em mình nữa, để không chỉ gây thắc mắc “nghĩ gì vui thế mà cười một mình” như Trần Tiến trong ca khúc “Thành phố trẻ,” mà còn để chuyển tải đến môi trường xung quanh một niềm vui chan hòa và chí bền chiến đấu.

Ai đã coi cuốn phim “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” chắc còn nhớ lúc kết, sau khi đã có biến cố lên trời và lời trao sứ vụ đến với muôn dân, người ta cho xuất hiện trên màn ảnh một chân dung của Chúa Giêsu thật lớn tươi cười với chiếc răng khểnh đàng hoàng.  Không biết dụng ý của đạo diễn thế nào, nhưng phải nói là có tác dụng phấn khích, vừa đem lại nét tươi tắn cho cuốn phim, vừa đem đến niềm vui chan hòa hy vọng.

Mong rằng nụ cười thật lạ ấy cũng trở thành niềm vui cho ta trên nẻo sống đức tin và thể hiện niềm hy vọng.  Được như thế, Chúa Nhật hôm nay đích thực là Chúa Nhật của niềm vui, và Mùa Vọng cũng thêm sáng nghĩa là mùa màu hồng hy vọng thật đẹp thật tươi thật nhiều nụ cười cho người người hạnh phúc.

ĐGM.  GiuseVũ Duy Thống

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

 

MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, người độc nhất vô nhị khi bước vào cuộc đời trần thế nầy, không phải như tất cả chúng ta, là nạn nhân của tội nặng tổ tông truyền; không phải như chúng ta, là nạn nhân mang án lệnh phải chết trên vừng trán công khai; không phải như chúng ta, là nạn nhân bị dìm mình trong vũng bùn nhơ  của các tình tư dục; không phải như chúng ta, là nạn nhân bị vây hãm bởi mọi mùi xú uế của bảy mối tội đầu.  Nhưng…, nhưng khi bắt đầu vào đời, trong ngay tích tắc đầu tiên được thụ thai trong lòng mẹ, Người Nữ Do Thái thành Nadarét nầy đã được trang hoàng rực rỡ bằng muôn vạn ân sủng vô cùng quý giá, để xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên Chúa cao sang vinh hiển, để xứng đáng làm Nữ Vương mọi loài trên trời dưới đất, ngay cả các quỷ dữ trong hỏa ngục, Đức Trinh Nữ Maria cũng đạp dập đầu dưới chân mình.

Tất cả những ai sinh ra bởi Ađam, đều mắc tội tổ tông truyền.  Chỉ trừ một mình Đức Mẹ Maria không mắc tội nầy.  Vì thế, Giáo Hội tôn kính Đức Mẹ Maria là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội chỉ dành riêng cho một mình Đức Mẹ Maria để Ngài xứng đáng làm Mẹ Đức Chúa Trời, xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên Chúa.

Khi dựng nên tổ tông loài người là ông Ađam và bà Eva, Thiên Chúa yêu thương đã ban cho hai ông bà những ơn đặc biệt tốt đẹp: một thân xác mạnh khỏe, xinh đẹp, với một linh hồn trong sáng, kèm theo những ơn đặc biệt: không đau, không khổ, không chết; thông minh, hiểu biết, hướng thượng.   Nhất là ơn siêu nhiên thánh sủng là được thông phần vào chính bản tính của Thiên Chúa, sống đầy tràn hạnh phúc trên đời nầy, và sau khi từ giã trần gian, được về với Thiên Chúa trên Nước Trời.   Những ơn đặc biệt nầy, hai tổ tông Adam và Eva sẽ truyền lại cho con cháu được hưởng.

Nhưng than ôi, vì mắc mưu xảo quyệt của ma quỷ cám dỗ, hai tổ tông Ađam và Eva đã phạm tội chống lại Thiên Chúa là Đấng dựng nên họ.  Và hai ông bà đã làm mất tất cả những ơn đặc biệt nầy, không nhữmg làm cho mình mất đã đành, mà còn làm cho con cháu mình mất nữa.

Tội đầu tiên, ông Ađam và bà Eva phạm, gọi là Tội Tổ Tông, đã truyền lại cho tất cả con cháu loài người theo con đường sinh sản tự nhiên.   Thánh Phaolô nhấn mạnh điểm tín lý nầy trong thư gởi cho giáo đoàn Rôma: “một người đã đem tội vào thế gian, và theo sau sự tội, là sự chết, vì thế, mọi người phải chết vì mọi người đã phạm tội.”… “vì tội một người mà sự chết do người ấy gây nên, đã thống trị loài người”…..“vì một người không vâng lời, nên đã làm cho mọi người mắc tội.” (x. Rôma 5,12-19).

Tội Tổ Tông là tội chung cho tất cả loài người do hai nguyên tổ Ađam Eva truyền lại cho con cháu mình, vì thế, ai cũng là nạn nhân của tội tổ tông truyền nầy.  Đáng lý Đức Trinh Nữ Maria, vì là con cháu của Adam Eva, nên cũng mắc tội tổ tông truyền như mỗi người chúng ta, nghĩa là sinh ra mà không có ơn thánh sủng, không có những đặc ân tự nhiên và siêu nhiên khác, bị dìm sâu trong vũng bùn nhơ của các tình tư dục và các mối tội đầu, phải chịu nằm dưới quyền thống trị của ma quỷ, phải đau, phải khổ và phải chết.  Nhưng, vì Đức Trinh Nữ Maria được Thiên Chúa thương chọn làm Mẹ Con Thiên Chúa, làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên đã được Thiên Chúa ban cho đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhờ hưởng trước, và hưởng đầy tràn những công nghiệp vô cùng của Đấng Cứu Thế, là Con của mình sau nầy.

Đó là tín điều về Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội mà hôm nay chúng ta tuyên xưng và dâng thánh lễ mừng Đức Mẹ Maria.  Tín điều nầy đã được Đức Giáo Hoàng Piô IX long trọng tuyên bố năm 1854, cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo phải tin để cho được rỗi linh hồn: “Được đầy Ơn Cứu Chuộc của Đấng Cứu Thế là Con mình một cách đặc biệt, Đức Trinh Nữ Maria, ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng mẹ mình, không mắc tội tổ tông truyền.”

Ôi!  Sung sướng biết bao cho chúng ta, vì Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của chúng ta, là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ đẹp tuyệt vời, Mẹ không chút bợn nhơ.  Thiên Chúa đã trang điểm cho Mẹ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội để Mẹ xứng đáng làm Mẹ của Con Thiên, xứng đáng làm Nữ Vương các thánh thiên thần và các thánh nam nữ ở trên trời, xứng đáng làm Nữ Vương mọi loài ở dưới đất.

Trong Kinh Thánh, có hai đoạn liên quan đến đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Maria.

Đoạn thứ nhất, trong Cựu-Ước: sách Sáng-Thế (3,15).  Sau khi hai ông bà tổ tông loài người phạm tội, Thiên Chúa liền hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu chuộc loài người khỏi tay ma quỷ.  Thiên Chúa nói cho ma quỷ biết về một Người Nữ Đặc Biệt: “Ta sẽ đặt oán thù giữa ngươi và Người Nữ, giữa dòng dõi ngươi và Dòng Dõi Người Nữ.   Người Nữ sẽ đạp dập đầu ngươi, còn ngươi thì rình cắn gót chân Người.”  Người Nữ đặc biệt mà Thiên Chúa nói đây, chính là Đức Trinh Nữ Maria sau nầy.

Qua lời tuyên bố trên đây của Thiên Chúa, chúng ta thấy có hai điều.  Một là, có một sự đối nghịch hoàn toàn giữa ma quỷ và Người Nữ nầy (vì thế, nếu Người Nữ nầy mắc tội tổ tông truyền như mọi người khác, dẫu mắc trong một giây phút mà thôi, thì Người Nữ nầy cũng không thể nào đối địch lại hoàn toàn với ma quỷ được).  Hai là, Dòng Dõi Người Nữ nầy cũng phải đối địch lại hoàn toàn với ma quỷ (vì thế, Chúa Giêsu Kitô, Dòng Dõi của Đức Trinh Nữ Maria, sẽ không chiến thắng ma quỷ hoàn toàn được, nếu Mẹ của mình là Đức Trinh Nữ Maria không được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội).

Đoạn thứ hai, trong Tân Ước: bài tường thuật Truyền Tin của thánh sử Luca mà chúng ta nhắc đi nhắc lại mỗi ngày ba lần qua kinh Nhựt Một.  Theo lời thiên sứ Gabirie khi truyền tin Đấng Cứu Thế, chúng ta thấy có ba điều nói lên đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Maria.  Một là, Đức Mẹ được đầy ơn Chúa ban (Kính Mừng Maria đầy ơn phước!): nếu Đức Mẹ mắc tội tổ tông truyền, thì Đức Mẹ không thể nào được đầy ơn phước được.  Hai là, Đức Mẹ luôn được Chúa ở cùng (Đức Chúa Trời ở cùng Bà): Đức Chúa Trời là Đấng vô cùng thánh thiện, hằng ở với Đức Mẹ, thì Đức Mẹ làm sao mắc tội tổ tông truyền được.  Ba là, Đức Mẹ là Người Nữ diễm phúc hơn hết trong loài người (Bà có phước lạ hơn mọi người nữ): phước lạ hơn tất cả mọi người, ở đây, là phước lạ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Như vậy, khi thiên sứ Gabrie được Thiên Chúa sai từ trời xuống thành Nadarét, miền Galilêa, thuộc nước Do Thái, đến với Người Thanh Nữ Do Thái thành Nadarét, và cung kính chào: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ”, thì cũng giống như thiên sứ chào Đức Mẹ rằng: “Kính chào Bà là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Năm 1854, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra tại Lộ Đức, nước Pháp, cho trẻ gái nhỏ Bênêđétta và xưng rằng: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội!”

Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con đầy tràn tin tưởng vào Mẹ: chúng con tin rằng, dù quyền phép vô cùng, Thiên Chúa cũng không thể nào dựng nên một ai cao trọng hơn Mẹ được; dù cao sang vô biên, Thiên Chúa cũng không thể lấy gì để ban thêm cho Mẹ, hơn là Ơn ban cho Mẹ được Vô Nhiễm Nguyên Tội.  Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng con là những kẻ tội lỗi đang chạy đến cùng Mẹ.  Chính vì Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, thương loài người tội lỗi chúng con, nên mới ban cho Mẹ đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội để Mẹ trở nên Mẹ Đức Chúa Trời, và cũng là Mẹ của chúng con.  Chúng con tin rằng trên đời nầy, không ai có lòng trông cậy chạy đến cùng Mẹ, mà Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời.

Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cho chúng con biết sống xa lánh tội lỗi, Xin cho lòng tin của chúng con vào Chúa được luôn luôn mạnh mẽ.  Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ, luôn trung thành theo Chúa cho đến cùng.

Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con.  Amen!

Lm. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

 

NẾU CHÚA KITÔ KHÔNG ĐẾN

Trong các mẫu thiệp Giáng Sinh, người ta thấy có một thiệp với tựa đề như sau: “Nếu Chúa Kitô Không Đến”.  Thiệp Giáng Sinh này kể lại câu chuyện của một vị mục sư ngủ gục trên bàn làm việc của mình trong buổi sáng Lễ Giáng Sinh, rồi mơ mình đang ở trong một thế giới nơi Chúa Giêsu không bao giờ sinh ra.

zzTrong giấc mơ ông thấy mình đang đi qua ngôi nhà quen thuộc của ông, nhưng khi nhìn vào ông không thấy có bít tất vắt trên lò sưởi, cũng chẳng có cây giáng sinh, cũng chẳng có hoa đèn và dĩ nhiên không có Chúa Giêsu để sưởi ấm tâm hồn con người hay cứu độ chúng ta.

Ông đi dọc theo những con đường quen thuộc nhưng không thấy có bất cứ một ngôi giáo đường nào, ông trở về văn phòng của mình và đi vào thư viện, ông không còn thấy có bất cứ một quyển sách nào viết về Chúa Giêsu nữa.

Trong giấc mơ, ông lại nghe tiếng chuông cửa reo lên và có người mời ông đi thăm người mẹ của người bạn đang hấp hối.  Ông liền đi đến nhà bà, tại đây ông thấy người bạn của mình đang ngồi khóc, ông nói với người bạn:

Tôi có mang theo đây điều mà tôi nghĩ là có thể an ủi cho ông.

Ông mở quyển Kinh Thánh ra để khả dĩ có thể thấy một lời an ủi nâng đỡ người bạn, nhưng tuyệt nhiên không có Tân ước nên không có bất cứ một lời hứa hay niềm hy vọng nào.  Trong giây phút ấy, tất cả những gì mà vị mục sư có thể làm là cúi đầu cùng khóc với người bạn và người mẹ đang hấp hối trong thất vọng.

Hai ngày sau, ông thấy mình đứng bên cạnh quan tài của bà, ông chủ sự nghi lễ an táng nhưng ông không thể đọc được bất cứ một lời an ủi nào.  Không có niềm hy vọng sống lại, không có sự sống vĩnh cửu, không có thiên đàng, chỉ còn lại câu nói quen thuộc: “Tro bụi trở về bụi tro”, với một lời từ giã buồn bã và dài lê thê.

Cuối cùng ông biết rằng, Chúa Kitô đã không bao giờ đến.  Trong cơn thất vọng ông đã khóc nức nở.

Thình lình ông choàng tỉnh dậy và trong phản ứng tự nhiên của ông là hét lên trong vui mừng khi nghe ca đoàn trong nhà thờ cất tiếng hát:

“Hỡi các tín hữu, hãy hân hoan đến thờ lạy Chúa Kitô, Vua các thiên thần, Người đã sinh ra tại Belem.”

*****************************

Bạn thân mến,

Với bầu khí Giáng Sinh, tin hay không tin, tín hữu Kitô hay không là tín hữu Kitô khó có thể chống cự lại với niềm vui chung của mọi người, vui với niềm vui của đoàn tụ gặp gỡ, vui với niềm vui của chia sẻ và trao ban.

Quả thật, nhân loại không thể nào loại bỏ Chúa Kitô ra khỏi lịch sử của mình.  Muốn hay không, Ngài đã đến trong lịch sử ấy, mãi mãi ghi vào lịch sử ấy một dấu ấn không bao giờ tàn phai.  Thế giới đầy những dấu chân Ngài đã đi qua, Ngài đến để mang lại hoà bình, hy vọng và niềm vui đích thực cho con người.  Dẫu thế giới có là một nghĩa trang, thì nghĩa trang ấy cũng toát lên sự thanh thản, niềm an bình và hy vọng khi thánh giá vẫn còn in bóng trên các ngôi mộ.  Ngài không đến để đẩy lui những giới hạn của kiếp người, Ngài không đến để cất bỏ khổ đau, nhưng chính vì Ngài đã đến; mà dù có giới hạn và chồng chất khổ đau; cuộc sống con người mới có ý nghĩa.

*****************************

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến để mang lại niềm vui đích thực cho chúng con, xin cho cuộc sống của chúng con luôn được tràn ngập niềm vui ấy để chúng con biết ra đi và loan báo tin vui ấy cho mọi người, nhất là những ai đang bị sức nặng của cuộc sống đè bẹp.  Amen.

R. Veritas

 

MỞ ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN

Có câu chuyện vui kể rằng: Một lần, để phát động phong trào An Toàn Giao Thông, một tổ chức thuộc Liên hiệp quốc đã tổ chức cuộc thi xã luận quốc tế với chủ đề “Con đường với cuộc sống”.  Sau đây là một số bài thi được ban giám khảo đánh giá cao:

– Nước Pháp (2 bài): “Con đường tình yêu”, “Nên tỏ tình trên đoạn đường như thế nào?”

– Nước Mỹ: “Con đường nào có thể rút lui sau khi phát động cuộc chiến tranh?”

– Nước ý: “Những con đường trong tranh trừu tượng!”

– Nước Anh: “Đường đến các trường Đại học và câu lạc bộ bóng đá!”

– Nước Đức: “Luận về con đường trong triết học!”

– Nước Singapor: “Cần phải làm gì để các con đường luôn sạch sẽ?”

– Nước Trung Quốc: “Người ta có thể làm những con đường… giả, đường nhái được không?”

– Và… Việt Nam (3 bài): “Tại sao cần đào lấp?”, “Khi đường trở thành dòng sông”, “Những con đường cát bụi!”

Con đường thật muôn màu muôn vẻ.  Có con đường vật chất để đi và cũng có con đường là hướng đi của cả một dân tộc, một đất nước.  Con đường được làm tốt sẽ phục vụ tốt cho cuộc sống.  Ngược lại sẽ là bất hạnh cho những ai đi trên con đường ấy.

Việt Nam đang đi trên con đường hướng tới xã hội chủ nghĩa.  Có người bảo sẽ không bao giờ tới.  Có người cho rằng tới mà rất chậm.  Dù ai nói ngả nói nghiêng thì dân tộc Việt Nam đã đi trên con đường này suốt mấy chục năm dù vẫn xây chưa xong hạ tầng cơ sở, vẫn là bài toán nan giải để hoàn thành.

Người ta nói đường và chân là đôi bạn.  Đường không có dấu chân người, sẽ không còn là con đường, chỉ là cỏ dại hoang vu phủ kín lối đi.  Người không có đường sẽ không đi về đâu cả.  Có khi còn mất cả hướng đi.  Con người và con đường.  Đôi bạn làm nên cuộc đời nhau.  Con người làm thành lối mòn cho con đường, và con đường thành một kỷ niệm đẹp cho con người một khi đã đi qua.

Nhà văn Lộ Tấn khi 20 tuổi được cha mẹ gửi sang du học tại Nhật.  Ông theo học ngành Y.  Tình cờ ông được xem một đoạn phim thời sự, trong đó có cảnh một người Trung quốc bị người Nhật hành hình, điều đáng buồn là rất nhiều người Trung quốc khỏe mạnh đứng xem với vẻ mặt đần độn, không phản ứng gì.  Ông lập tức bỏ học ngành Y năm thứ 2 và chuyển sang viết văn.  Bởi ông nhận thấy học chữa bệnh trong lúc này không quan trọng, bởi dân mà còn ngu muội, hèn nhát, thì dù thân thể có khỏe mạnh cũng chỉ là nô lệ mà thôi.  Từ đó ông muốn dùng ngòi bút để chữa bệnh tật trong tính cách dân tộc.  Chính chàng trai này là tác giả của câu nói nổi tiếng để khích lệ những người mở đường: “Kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi rồi thành đường mà thôi”.

zzHôm nay giữa sa mạc hoang vu, Gioan mời gọi mọi người hãy làm thành một con đường.  Một con đường thẳng ngay thay cho đường quanh co.  Một con đường bằng phẳng thay cho đồi núi gồ ghề.  Con đường vốn đã không có ở hoang địa, vì hoang địa đâu có người qua lại, nhưng Gioan mời gọi mọi người hãy đi vào hoang địa để tạo thành một con đường sám hối ăn năn cho Con Chúa Trời ngự đến.  Hãy mở lối trong hoang địa bằng lối mòn của tình người liên đới và cảm thông.  Hãy mở lối cho con người đến với nhau trong hòa bình và thân ái.  Đường của yêu thương xóa bỏ ngăn cách hận thù.  Đường của thứ tha để xây dựng tình bằng hữu của anh em bốn bể một nhà.  Đường của bác ái để xây dựng hạnh phúc cho tha nhân.  Con đường của Nước Trời còn hướng cho mọi người biết nhìn về trời cao để sống thanh thoát với những bon chen trần gian, sống vượt lên trên những tham sân si để sống vui tươi và hạnh phúc.

Vâng thưa anh chị em, cuộc đời rất cần những con đường, nhưng đừng bao giờ mở đường để gây đau khổ cho nhau bằng chiến tranh, bằng hận thù.  Và cũng đừng mở đường để tìm tư lợi riêng, nhưng mở đường để tạo tình liên đới giữa con người với nhau được gần gũi hơn.  Và mở đường phải nhắm đến phục vụ cho nhu cầu con người chứ không phải cho một nhóm người hay một giai cấp nào.

Lời ngôn sứ Gioan vẫn đang mời gọi chúng ta mở lối đường cho Chúa ngự trị.  Gioan vẫn thiết tha mời gọi chúng ta hãn san bằng núi đồi của kiêu căng.  Hãy lấp đầy thung lũng của đam mê tật xấu.  Hãy nắn cho ngay thẳng tính gian dối hại người.  Hãy sống một cuộc đời cho xứng với lòng sám hối ăn năn để cho Con Chúa Trời giáng trần nơi cung lòng mỗi người chúng ta.  Amen.

Lm.  Giuse Tạ Duy Tuyền

LÃNG PHÍ SINH MẠNG  

Ngày nay, người ta thường nói đến sự lãng phí của con người: lãng phí điện nước, lãng phí tài nguyên, lãng phí tiền bạc, lãng phí sức khỏe…  Trong bối cảnh xã hội vẫn còn nhiều người nghèo, sự lãng phí bị lên án như một tội ác.

Tuy vậy, có một sự lãng phí nguy hiểm mà ít khi được nhắc tới, đó là lãng phí sinh mạng con người.  Nếu lãng phí được định nghĩa là “làm mất một cách vô ích tiền tài, sức lực, thời gian” (theo Từ điển và Từ ngữ Việt Nam) thì xem ra con người ngày nay đang lãng phí sinh mạng tới mức báo động.

Lãng phí sự sống trước hết là nạn phá thai.  Đã có biết bao chuyên viên nghiên cứu phân tích về những hậu quả tai hại của việc phá thai trong lãnh vực tâm lý, thể lý và tâm linh, vậy mà số thai nhi bị phá càng ngày càng tăng.  Theo thống kê chưa chính xác, thì Việt Nam chúng ta là nước thứ ba trên thế giới về số thai nhi bị giết hại.  Con số này từ một triệu rưỡi đến hai triệu ca mỗi năm.  Thủ tục phá thai hiện nay rất đơn giản và nhanh chóng.  Nhiều nơi phá thai được trá hình với cái tên rất đẹp “Khám chữa bệnh phụ khoa”, có những cò mồi, chèo kéo như những nhà hàng ăn uống.  Biết bao sản phụ đã chết oan vì những “xưởng phá thai” kiểu này, nhưng xem ra người ta vẫn không sợ.

zzLãng phí sự sống còn là sự thiếu cẩn trọng khi lao động và khi tham gia giao thông.  Mỗi năm, nước ta có đến mười hai nghìn người chết vì tai nạn giao thông, tương đương với mỗi ngày có hơn 30 người đột ngột và vĩnh viễn từ bỏ cuộc sống trong khi đi lại trên khắp các nẻo đường của đất nước chúng ta.  Nếu so sánh với vụ tai nạn máy bay rơi khoảng từ 200 đến 300 người/vụ, thì tại Việt Nam cứ mỗi năm chúng ta có khoảng 40 vụ rơi máy bay (trích bài viết tại trang VnExpress.net ngày 19-11-2012).  Những người này hầu hết là những người trụ cột trong gia đình, hoặc là thanh niên tuổi trẻ, là công nhân, sinh viên, học sinh, tức là những người đang có nhiều kỳ vọng ở tương lai.  Biết bao nhiêu lời cảnh báo, biết bao nhiêu lần bị phạt, xem ra nhiều người vẫn không tỉnh ngộ.  Vẫn còn đó những chàng trai cô gái đua xe, đùa với thần chết, coi sự chết như không.  Họ thật lãng phí cuộc sống.

Từ vài năm trở lại đây, có một thứ “mốt” quái đản là… tự tử.  Có nhiều người tự tử ở tuổi còn trẻ, thậm chí là vị thành niên.  Những người chán sống không hẳn là người bị đẩy vào ngõ cụt của cuộc đời, mà đôi khi họ là những người thành đạt và đang ở đỉnh cao của danh vọng như một số ngôi sao điện ảnh, ca sĩ hay người mẫu.  Cũng vì không muốn sống, một số người có chức có quyền cũng đã tìm đến cái chết khi có nguy cơ bị khui ra những việc làm mờ ám, hay vì những lý do có trời mới biết.  Những người này cũng lãng phí mạng sống mình.

Vì thất vọng trước một cuộc sống trống rỗng vô ý nghĩa, nhiều bạn trẻ đã tìm đến ma túy và những thói ăn chơi sa đọa.  Vì ham mê tìm đến với những cảm giác thần tiên nhất thời, họ đã đánh mất tương lai, trở nên mối họa cho gia đình và người thân.  Họ đã tự đánh mất chính mình.

Khi coi thường mạng sống, người ta dễ liều mạng phạm tội.

Chắc hẳn những ai có lương tri đều đắng lòng khi đọc những thông tin liên tục về các vụ án được xử mà kết cục là án tử hình.  Họ là những thanh niên trẻ trung, mang dáng vẻ thư sinh, nhưng lại liều lĩnh phạm tội và trở thành những kẻ sát nhân máu lạnh.  Họ được cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng hai ba chục năm, đặt rất nhiều hy vọng ở tương lai, vậy mà bây giờ họ trở nên mối nguy hiểm cho xã hội.  Hy vọng của cha mẹ và gia đình họ đã bị tắt lịm.  Người vào tù đau khổ vì mối ân hận day dứt.  Người ở ngoài đau khổ vì bia miệng tiếng đời.  Tiếc rằng, con số những vụ việc như nêu trên tăng nhanh tới mức chóng mặt.

Mục đích những bản án tử hình hay tù tội là nhằm giáo dục và răn đe những người khác.  Thế nhưng, mặc dù có biết bao lời lên án mỗi khi có một vụ án nghiêm trọng, nhưng xem ra người ta không sợ.  Vẫn liên tiếp xảy ra những vụ cướp của giết người.  Vụ sau tinh vi và nguy hiểm hơn vụ trước.  Người ta lãng phí sự sống và đem sinh mạng của mình ra làm trò đùa.

Một linh mục Dòng Tên người Hàn Quốc, Cha Joseph Kim Yong-hae, đã nhận định: “Tỷ lệ phá thai gấp hai lần tỷ lệ sinh đẻ và tỷ lệ tự tử đứng đầu danh sách các nước trong Tổ chức Phát triển và hợp tác kinh tế.  Hiện tượng này, cùng với một số vụ việc khác đã khiến người ta có cảm giác xã hội Hàn Quốc đã chìm sâu trong nền văn hóa sự chết và tuyệt vọng” (Ucan News, bản tin 21-5-2012).

Đức Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã báo động về một nền văn hóa mang tên sự chết.  Đó là một lối sống ích kỷ, chỉ lo hưởng thụ, không nghĩ đến tha nhân và cũng chẳng quan tâm đến ngày mai.  Nền văn hóa này đang có nguy cơ thấm nhập vào xã hội của chúng ta, kéo theo những hệ lụy là sự dối trá, thù hận, thủ đoạn và vô trách nhiệm.  Văn hóa sự chết chối bỏ các giá trị tôn giáo và nhân bản.

Giáo lý Công giáo dạy: “Sự sống con người phải được coi là linh thánh, vì từ lúc khởi đầu của mình, sự sống đó ‘đòi phải có hành động của Đấng Tạo Hóa’ và mãi mãi được liên kết một cách đặc biệt với Đấng Tạo Hóa, là cùng đích duy nhất của mình.  Chỉ có Thiên Chúa là Chúa của sự sống từ khi sự sống khởi đầu cho đến khi kết thúc: không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể dành cho mình quyền trực tiếp đem cái chết đến cho một thụ tạo nhân linh vô tội” (Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo, số 2258).

Chúa cũng truyền lệnh trong Điều thứ năm của Thập điều: “Ngươi không được giết người” (Xh 20, 13).  Lệnh truyền này phải được hiểu theo hai chiều: không được cất mạng sống người khác, đồng thời cũng không có quyền tự cất mạng sống mình.

Tuân theo Luật Chúa, Giáo hội luôn luôn đấu tranh để bảo vệ sự sống con người.  Giáo hội vẫn không ngừng kêu gọi hủy bỏ án tử hình tại những quốc gia còn giữ bản án này, vì các nhà nước vẫn có khả năng chế ngự tội ác cách hữu hiệu mà không cần phải tước đoạt cách vĩnh viễn mạng sống của các tội nhân (x SGLCG số 2267).  Giáo hội cũng đưa ra những chỉ dẫn trong đời sống gia đình nhằm bảo vệ sự sống và góp phần thăng tiến con người.  Ngay cả trong những quốc gia khuyến khích việc phá thai hay việc chết êm dịu, Giáo hội vẫn thi hành chức năng ngôn sứ của mình, lên án những hình thức giết người, trực tiếp hay gián tiếp, vì đó là sự vi phạm đến Luật Chúa và nhân phẩm con người.

Chúng ta đã bước vào Mùa Vọng, là thời gian chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh.  Con Thiên Chúa xuống thế làm người dưới hình hài một trẻ thơ trong hang đá.  Hài Nhi Giêsu sinh ra là niềm vui cho cả thế giới.  Lễ Giáng sinh là lễ của hòa bình.  Lễ Giáng sinh cũng là lễ của sự sống, vì Đức Giêsu mang lấy thân phận con người để nâng cao phẩm giá của con người, thông truyền cho họ sự sống siêu nhiên.  Hài Nhi Giêsu trong hang đá máng cỏ là lời kêu gọi bảo vệ sự sống, từ những thai nhi còn trong lòng mẹ đến những người đang sống trên cõi đời này.

Nếu mỗi người đều biết tôn trọng sự sống của mình và của những người xung quanh, thì cuộc sống này sẽ rất an bình và vui tươi.  Mong sao điều ấy được thực hiện nơi xã hội Việt Nam chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

LUYỆN NGỤC LẦN ĐẦU TIÊN CON MỞ MẮT CHO TRỌN

Bạn hãy tưởng tượng, khi bạn sinh ra cho đến khi lớn lên, bạn chưa từng thấy ánh sáng hay màu sắc.  Rồi với khoa học kỳ diệu, các bác sĩ chữa cho bạn được thấy.  Bạn cảm nhận điều gì ngay lập tức khi bạn mở mắt ra?  Kinh ngạc?  Hoang mang?  Say sưa?  Đau đớn?  Hay là tổng hợp các cảm xúc khó tả này?

Bây giờ thì chúng ta biết câu trả lời này.  Loại giải phẫu này đã được thực hiện và chúng ta đã được nghe một vài phản ứng của các bệnh nhân khi họ được mở mắt và được thấy ánh sáng, màu sắc lần đầu tiên trong đời.  Những cảm giác của họ lúc đó sẽ làm chúng ta vô cùng ngạc nhiên.  Tôi đưa ra đây lời của J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ mô tả như sau:

“Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn.  Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng.  Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng.  Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác.   Có thể bạn sẽ nói: “Tất nhiên, họ phải mất chút thì giờ để học cách nhận biết chúng bằng thị giác.”  Nhưng cái thì giờ đó không phải là một chút, mà là rất dài, có khi mất cả hàng nhiều năm.  Bộ não của họ không được huấn luyện để tuân theo nguyên lý của thị giác.  Chúng ta không ý thức được là có những nguyên lý như vậy, chúng ta nghĩ, chúng ta thấy, chúng ta nói là chuyện tự nhiên.  Nhưng sự thật là suốt thời thơ ấu, chúng ta đã được học một loạt những nguyên lý như vậy.” (Xem: Emilie Griffin, Souls in Full Flight, p. 143-144)

zzCó lẽ những gì tôi vừa nói ở trên sẽ cho chúng ta một hình ảnh hữu ích tương đương với luyện ngục của Đạo Công giáo La Mã.  Có thể nào chúng ta hiểu được luyện ngục chúng ta chịu sau khi chết theo cách này hay không, cụ thể là xem luyện ngục như việc mở mắt và mở lòng chúng ta với ánh sáng và tình yêu quá toàn vẹn khiến chúng ta phải tái tiếp thu và tái nhận thức trong đau đớn hệt như người được chữa sáng ở trên, hay không?  Luyện ngục chính là lúc chúng ta được Thiên Chúa ôm trọn và trong hơi ấm cùng ánh sáng của Ngài, tất cả những khái niệm trần tục về tình yêu và hiểu biết của chúng ta trở nên quá tầm thường bé nhỏ, hệt như người mù bẩm sinh được mở mắt nhìn đời, chúng ta phải đau đớn đấu tranh trong ánh sáng quá đỗi huyền diệu đó để đập tan đến tận nền móng và xây dựng lại một cách sống động toàn bộ lối suy nghĩ và yêu thương của chúng ta, có thể hiểu như vậy hay không?  Liệu có thể hiểu luyện ngục không phải là sự thiếu vắng Thiên Chúa hay một dạng trừng phạt và trả nợ cho tội chúng ta phạm, mà là những gì xảy đến khi chúng ta được ôm trọn say sưa trong vòng tay Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu trọn hảo và Chân lý toàn vẹn, hay không?

Quả thật, có phải là ba nhân đức đối thần, tin, cậy, mến, đã cố để đưa chúng ta đến đời sống như thế hay sao?  Có phải đức tin là một nhận thức vượt trên những gì chúng ta có thể xác định được hay không?  Có phải đức cậy là neo giữ chúng ta vào một sự vượt ngoài những gì chúng ta có thể tự mình điều khiển và bảo đảm hay không?  Và chẳng phải đức mến là vươn mình ra ngoài những gì vốn nâng đỡ chúng ta hay không?

Khi mô tả về thân phận con người trên trần thế, thánh Phaolô đã nói rằng, ở đây, trong đời này, chúng ta chỉ nhìn thấy “qua một tấm gương mờ tối” nhưng ở đời sau, chúng ta sẽ được thấy “mặt đối mặt.”  Khi mô tả tình trạng trần thế hiện thời của chúng ta, rõ ràng ngài đã nhấn mạnh một sự mù tối nhất định, một bóng đêm thời còn phôi thai, và sự bất lực không thể thực sự nhìn thấy mọi vật như chính bản chất thực của chúng.  Và một điểm quan trọng nữa phải lưu ý đó là những lời trên, ngài đã nói trong văn cảnh muốn chỉ cho chúng ta rằng ngay trong đời này, đức tin, đức cậy, đức mến giúp chúng ta dần dần khai mở khởi tấm mạng mù tối đó.

Dĩ nhiên chỉ có những nghi vấn, gây bối rối cho cả Tin Lành lẫn Công giáo.  Nhiều người Tin Lành và phái Phúc Âm bác bỏ hoàn toàn khái niệm luyện ngục, vì theo Kinh Thánh thì chỉ có hai nơi bất diệt là thiên đàng và địa ngục.  Ngược lại, nhiều người Công giáo La Mã lại thấy không ổn khi người ta không nhìn nhận luyện ngục là một nơi hay một tình trạng tách biệt với thiên đàng.  Nhưng khi nhận thức luyện ngục như một cách mở ra toàn vẹn cho đôi mắt và tâm hồn, đến đỗi làm cho chúng ta tái nhận thức vạn vật trong đau đớn, khi đó chúng ta có thể có được một khái niệm dễ chấp nhận hơn đối với cả Tin Lành và phái Phúc Âm, đồng thời cũng giúp thay đổi quan điểm phần nào sai lầm về luyện ngục của các tín hữu Công giáo La Mã.  Luyện ngục thực sự chỉ có được nhờ tình yêu, vì chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được vòng tay ôm trọn thực sự của tình yêu, lúc đó chúng ta mới nhận ra được tội lỗi của mình, và lần đầu tiên trong đời, dấn mình vào trong năng quyền để thắng vượt khỏi tội lỗi đó. Duy chỉ ánh sáng mới xua tan bóng đêm và chỉ có tình yêu mới xóa bỏ tội lỗi.

Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux đã cầu nguyện như thế này: “Xin hãy phạt con bằng một nụ hôn!”  Chỉ có vòng tay ôm trọn của tình yêu hoàn hảo mới là luyện ngục đích thực của tội lỗi, vì chỉ khi được nằm trọn trong tình yêu, chúng ta mới thực sự nhận thức được tội của mình, và chỉ khi đó chúng ta mới có được khát mong, năng thị, và sức mạnh để sống trong tình yêu và chân lý.  Nhưng khi thả mình vào trong tình yêu và ánh sáng đó, thì luôn luôn, chúng ta sẽ cảm nhận được cùng lúc say mê và hoang mang, ngây ngất và rối bời, thần kỳ và tận khổ, hân hoan và đau đớn.  Thật vậy, chính đó mới là luyện ngục.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 

ĐỪNG ẢO TƯỞNG

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.   Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.   Nói chung, hoạt động cám dỗ không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.   Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ hữu hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.

Các quỷ tham gia tranh luận sôi nổi, bày ra nhiều mưu chước nhằm làm cho loài người sa vòng tội lỗi.  Ý kiến thì nhiều, nhưng chỉ nêu ra đây một số ý kiến tiêu biểu.  Có quỷ đề nghị hãy cám dỗ các bạn trẻ rằng: “Không có Thiên Chúa, không có thiên đàng hoả ngục.  Thiên đàng là ảo tưởng do Giáo Hội bày ra để dụ khị loài người; hoả ngục chỉ là sản phẩm do Cha Cố thêu dệt để hù dọa những người yếu bóng vía.  Đừng dại dột tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau mà phí cả cuộc đời!”  Mưu chước nầy cũng chưa thuyết phục nên không được đa số chấp nhận.  Có quỷ thì hiến kế nên thuyết phục người ta biết rằng “Đức Giê-su chỉ là hạng phàm phu tục tử, Phúc Âm của Ngài gồm toàn những chuyện bịa đặt viễn vông…” nhưng rồi ý kiến nầy cũng không được hưởng ứng.

Cuối cùng có lão quỷ già có tiếng là đa mưu túc kế lên tiếng: “Theo tôi, chúng ta nên cám dỗ thế nầy: ‘Có Thiên Chúa, có thiên đàng hoả ngục, có linh hồn, có sự sống đời sau…  (mình phải nói như vậy để người ta tin mình đã, rồi ta sẽ thêm) nhưng bạn hãy nhớ rằng: Đời bạn còn dài mà, bạn chưa chết đâu! Vậy hãy vui hưởng lạc thú đời nầy đi!  Đợi đến khi già yếu rồi ăn năn sám hối cũng chưa muộn.’”

Một tràng pháo tay giòn tan tán thưởng diệu kế của lão quỷ già thâm độc.  Thế là hội nghị nhất trí với phương thức cám dỗ được xem là sẽ rất kiến hiệu của lão quỷ già đa mưu.

Hiện nay, hầu như mọi người đều tin theo lời cám dỗ độc hại ấy.  Ai cũng tin rằng đời mình còn dài, chưa đến lúc phải ăn năn hối cải.  Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ta sẽ sám hối, sẽ cải thiện cuộc đời, còn hôm nay, thì…

Qua bài trích thư gởi tín hữu Rô-ma trích đọc hôm nay (Rm 13, 11-14) thánh Phao-lô kêu gọi chúng ta hãy mau quay về với Chúa, hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, đừng mơ tưởng đời còn dài rồi cứ đắm mình trong lạc thú:

zz“Đêm sắp tàn, ngày gần đến.  Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.  Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương.  Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.”

Và Lời Chúa trong Tin Mừng cũng kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức vì giờ Chúa đến thật bất ngờ; vì như “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.  Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu.  Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy.  Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.”

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.  Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.  Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Nếu hôm nay, lúc còn an bình khoẻ mạnh, ta không tưởng gì đến Chúa; đợi đến lúc lâm nguy rồi mới chạy đến với Ngài thì chúng ta xem Chúa có khác gì chiếc phao.  Bình thường khi trời quang mây tạnh, mọi sự an lành thì không ai thèm ngó lại chiếc phao, xem nó như cái gì thừa thãi vô tích sự, có thấy nó nằm giữa lối đi thì người ta cũng đá nó sang một bên, không ai thèm đoái hoài.  Nhưng khi gặp phong ba bão táp, nguy khốn đến nơi thì tranh nhau giành lấy phao cho bằng được!

Lạy Chúa, Chúa là Chúa Tể quyền năng, là Thiên Chúa tối cao mà chúng con phải phụng thờ suốt đời, ngay cả bây giờ, chứ không phải là chiếc phao cứu mạng chỉ cần dùng lúc gặp gian nguy khốn khó.

Xin cho chúng con đừng khờ khạo tin rằng đời còn dài, hãy tận hưởng đời và mê đắm trong tội mà lãng quên phần rỗi đời đời của chúng con.

LM Ignatiô Trần Ngà

 

CHUYỆN KỂ CHO CON: LỄ TẠ ƠN – THANKSGIVING

Chuyện được kể rằng, có một nhóm 102, gồm cả 35 người thuộc đạo Tin Lành Cải Cách ly khai (Puritanisn separatists) người Anh di cư gọi là Pilgrims Fathers.

Trước đó, bị hoàng đế Anh lúc đó bắt họ phải cải đạo để theo tôn giáo của ông ta.  Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù.  Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ đến và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo.  Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.  Vì lý do tín ngưỡng bị đàn áp, họ rời quê hương Anh Quốc, khởi hành vào tháng 9 năm 1620 trên chiếc tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn từ Plymouth.  Đầu tiên, họ đến tạm cư tại Leyden, Hòa Lan (Netherland), nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng.  Do đó, nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân Thế Giới vì họ muốn tạo dựng một thánh địa mới cho tín ngưỡng của họ.

zzTrên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, gian truân và nguy khốn…  Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 hải lý = 1,852m).  Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts).  Khi tàu cập đến được nơi này, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là “người hành hương”).  Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag).  Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.  Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ với thổ dân da đỏ, nhưng không quan trọng lắm.  Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắt khe và thiếu thốn.  Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower.  Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người).  Trong tình trang khốn cùng đó, như một phép lạ, một thổ dân da đỏ biết tiếng Anh (Năm 1605, được một thuyền trưởng người Anh chở về Anh để học tiếng Anh, sau trở lại làm thông ngôn) đã dẫn một số thổ dân cùng mang bí rợ và thịt gà tây tới giúp, đồng thời chỉ cho họ cách trồng trọt, bắt cá và săn bắn.  Vị cứu tinh đó tên là Tisquanto mà di dân gọi tắt là Squanto.

Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do những người dân da đỏ này cung cấp.  Rồi đến mùa xuân, họ may mắn được những thổ dân da đỏ tốt bụng đến giúp đỡ và cho họ ít lương thực.  Họ bắt đầu học những cách sống và sinh tồn ở vùng đất này từ những thổ dân tốt bụng…  Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ.  Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cám ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.

Các con thân mến,

Mục đích của ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) là để cám ơn Thượng Đế đã ban phước lành trong năm cho chúng ta.  Đây cũng là dịp nhớ về quá khứ của quê hương, của cả dân tộc, của gia đình và của bản thân mình để cám ơn đất nước, quê hương, con người, xã hội và gia đình đã cho chúng ta có được cuộc sống tốt đẹp trong năm qua.  Do đó ngày lễ Thanksgiving Day thường mang tính cách của việc đoàn tụ gia đình với bữa ăn nấu bằng gà tây (turkey) rất thịnh soạn và ấm cúng.  Ngày lễ này cũng là dịp để người ta suy tư về niềm tin tôn giáo và dành thì giờ và dâng lời cầu nguyện.

Các con thương, chúng ta là cũng thuộc những nhóm di dân cùng đến nước Mỹ, nhưng không giống những di dân khác tìm đường sang Mỹ với phần lớn vì lý do kinh tế.  Người Việt chúng ta ra đi khỏi nước để tìm tự do vì không thể sống được dưới chế độ độc tài – độc Đảng và dòng họ trị, không tự do, phi dân chủ.  Một chính quyền đã quay lưng lại đàn áp và bóp nghẹt dân tộc, và những người đấu tranh cho dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ chỉ vì quyền lợi và ích kỷ riêng mà quên đị cội nguồn, công lao và bao xương máu của tiền nhân và dân tộc đã cố công xây dựng cho giang sơn gấm vóc Việt Nam trường tồn qua bao thế hệ.  Các di dân người Việt chúng ta cũng phải hòa đồng với các tục lệ người Mỹ bao gồm cả văn hóa và đa ngôn ngữ; nhưng bao giờ chúng ta cũng mong cảm tạ đất nước này đã cưu mang chúng ta và cho chúng ta nhận biết được tình người và chiều dầy của sự hy sinh.

Các con thương,

Trong tất cả các tập tục để người Việt chúng ta hội nhập vào xã hội Mỹ, có ngày Lễ Tạ Ơn là một ngày lễ không riêng gì của dân Mỹ, mà chính chúng ta nghĩ là rất quan hệ đến chính mình.  Chúng ta cũng phải tưởng nhớ đến bao hy sinh, bao ân tình của những người đã giúp chúng ta sang định cư nơi đây.  Bỏ qua mọi thành kiến hay chủ nghĩa cá nhân, chúng ta thật tình chân thành cám ơn đến những bà con thân quyến, những cơ quan thiện nguyện, những tổ chức tôn giáo, những người bạn tốt không bà con dòng họ và những người chưa hề quen biết đã bảo trợ, giúp đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn ban đầu khi mới tới định cư nơi miền đất tự do, trù phú này và cho chúng ta xây dựng lại mái ấm tình người và cuộc đời.  Xin tạ ơn Trời và tạ ơn người đã cho chúng ta biết thế giới này vẫn còn có những tấm lòng bác ái và có những bàn tay nồng ấm tình thân, tình người.

Có người cảm khái với tình đời và sự vô thường của cuộc sống đã viết:
Hoa đẹp .  .  .  .  .  .  Hoa thơm .  .  .  .  .  .  . . Hoa vẫn tàn
Tình nặng .  .  .  .  .  Tình sâu .  .  .  .  .  .  .  .  Tình vẫn tan
Rượu đắng .  .  .  .  . Rượu cay .  .  .  .  .  .  .   Rượu vẫn hết
Người hứa .  .  .  . . . Người thề .  .  .  .  .  .  .  Người vẫn quên
Trăng lên .  .  .  .  .  . Trăng tròn .  .  .  .  .  .  . Trăng lại khuyết
Tuyết rơi .  .  .  .  .  .  Tuyết phủ .  .  .  .  .  .  . Tuyết lại tan
Người đẹp.  .  .  .  .  . Người xấu.  .  .  .  .  .  .  Rồi cũng chết
Người giàu.  .  .  .  .  .Người nghèo .  .  .  .  .   Rồi cũng hết

Vậy tại sao chúng ta không tạ ơn trời và tạ ơn lẫn nhau khi chúng ta còn hơi sức để mà phục vụ, để mà sống trong yêu thương!

“Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy.
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.”
(Cao Bá Quát)

Trong mùa lễ tạ ơn, chúng ta tạ ơn trời và tạ ơn người nhưng không quên nguyện cầu cho nước mẹ Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam, và cho nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam biết yêu dân yêu nước, dám nhận rõ sự thật của thảm trạng đói nghèo, bất công, lệ thuộc ngoại bang và chia rẽ giai cấp sâu sắc trong cái xã hội gọi là “Đỉnh cao trí tuệ.”  Đảng của giai cấp công nhân và lao động đã nhẫn tâm bóc lột và đẩy họ vào con đường đói nghèo, không dân chủ tự do… mà có sự đổi mới và cải cách đáng kể khi biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân tộc.

Các con thân mến,

Chúng ta cảm thán cho quê hương, dân tộc và nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết yêu nước thương dân thật sự, lấy dân làm gốc và luôn làm điều nhân nghĩa thì quốc thái dân an, và trăm họ yên vui chung hưởng thái bình.  Không còn cảnh đói nghèo, bất công.

Chúng ta cũng nguyện cầu cho giới lãnh đạo Việt Nam biết nhận rõ cái sai và dám nhường quyền hành vào trong tay người có tài (không cần phải là Đảng Cộng Sản) nhưng biết thương và lo cho dân thật sự, biết dùng sức mạnh từ cánh tay toàn dân để thanh trừ bọn tham nhũng, bọn hại dân, hại nước và xâm phạm bờ cõi dân tộc, và đừng bao giờ ngủ quên trong u mê là đất nước này chỉ là của Đảng Cộng Sản mà thôi.

Chúng ta luôn cầu nguyện cho mọi người từ ý nghĩa “Thanks Giving” mà biết yêu quí tự do dân chủ, tự do Tôn giáo… đoàn kết và xây dựng xã hội công bằng, và bác ái như các Tiền nhân bao đời đã đem lại cho chúng ta ngày nay.

Thương các con nhiều.
Ngoan Nguyễn

Nguồn: http://www.giadinhnazareth.org/