ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU THỜI GIAN (có Youtube)

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện.  Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không?”  Vị tu sĩ già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ.  Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha.  Nó không còn sức lực… Giờ cha vật lộn với Chúa.”  “Với Chúa!”  Kazantzakis kinh ngạc kêu lên. “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?” “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta.”

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời.  Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già.  Sự chín chắn luôn luôn tiến triển.  Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau.  Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.  Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồ cốt yếu.”  Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta.  Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình.  Trong thời gian này, chúng ta cố gắng gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình.  Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu.  Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai?  Tôi sẽ làm gì với đời mình?  Ai thương yêu tôi?  Ai sẽ kết hôn với tôi?  Tôi nên sống ở đâu?  Tôi nên làm gì?  Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối.  Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi.  Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta.  Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.  Đây là những năm tháng sinh sôi và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu.  Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn?  Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín?  Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình?  Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ.  Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn.  Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình.  Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm?  Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác?  Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐẦU TƯ CHO CUỘC SỐNG MAI SAU (có Youtube)

Hầu như mọi hoạt động, mọi nỗ lực của nhiều người đều quy về việc củng cố, đầu tư cho thân xác, cho cuộc đời tạm thời vắn vỏi nầy.  Cái tôi như một quả bong bóng mà cá nhân mỗi người cố thổi cho phồng lên tối đa.  Cái tôi như một trung tâm điểm mà tất cả mọi năng lực của bản thân đều quy về đó.

24 giờ mỗi ngày đều được người ta dành trọn vẹn cho thân xác: giờ để ăn, giờ để ngủ, giờ để giải trí vui chơi, giờ để làm việc nuôi thân xác… 168 giờ mỗi tuần, 720 giờ của mỗi tháng cũng được dành trọn cho thân xác.  8,766 giờ của mỗi năm cũng chỉ được dành trọn để thổi phồng thân xác dòn mỏng nầy cho đến lúc nó nổ tung ra như quả bong bóng đầy hơi.

Châm ngôn của người ta là: Tất cả cho thân xác.  Tất cả cho cuộc sống đời nầy.  Người ta cố đầu tư xây dựng cho cuộc sống đời nầy như những con dã tràng đua nhau xe cát, tạo nên những đụn cát nhỏ bé trên bãi biển bao la để rồi một lát sau sóng biển sẽ xoá đi chẳng để lại vết tích gì.  Người ta chăm lo vun quén cho thân xác thật sung mãn như những đứa bé thi nhau thổi ra những chiếc bong bóng xà phòng trông thật long lanh và hấp dẫn… nhưng rồi… bụp, bụp, bụp…, bong bóng nầy nối tiếp bong bóng kia, đua nhau nổ tan tành chẳng còn chi.

Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của, tài năng, trí tuệ, nghị lực… đều được dốc ra để đầu tư cho thân xác, cho cuộc sống tạm bợ đời nầy, để rồi kết cuộc đời người, theo như thi hào Nguyễn Du, chỉ còn là một nấm đất:

“Trăm năm còn có gì đâu?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!”

 Tiếc thay, ngay nay đất đai khan hiếm, kết cục đời người không còn được một nấm cỏ khâu như xưa, nhưng chỉ là một lọ nhỏ chứa nắm tro tàn sau khi thiêu xác!  Thế là đúng như lời Chúa Giêsu dạy: “quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất”; và cho dù người ta có thu tóm “được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”

***************

Đầu tư hết vốn liếng và khả năng để bồi đắp thân xác và xây dựng cuộc sống đời nầy để rồi rốt cục chỉ còn là “một nấm cỏ khâu” hay đơn giản hơn, là “một lọ tro tàn” thì kiếp người đúng là một thảm kịch bi đát nhất.  Trong lĩnh vực kinh tế, có ai dại dột đến nỗi đầu tư kiểu đó không?

Nhưng làm sao để tránh khỏi thảm kịch bi đát nầy?  Có giải pháp nào làm cho đời sống triển nở tốt đẹp hơn không?

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề nghị một giải pháp tốt.  Người dạy chúng ta đầu tư đúng hướng để được hưởng lợi nhuận vững bền.  Đó là đầu tư theo hướng tâm linh, mà điều kiện tiên quyết là hãy từ bỏ mình và vác thập giá.  “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.  Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?  Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?”

Phanxicô Xavie lúc còn thanh xuân quyết dồn mọi nỗ lực để phụng sự thân xác, muốn đầu tư hết tài trí, sức lực để chiếm hữu địa vị xã hội và vinh hoa thế gian.  May thay, Thiên Chúa đã gửi đến cho anh người bạn tốt, đó là thánh Inhaxiô, một người bạn lớn tuổi học cùng trường.  Inhaxiô thường dùng câu lời Chúa chúng ta nghe hôm nay để nhắc bảo Phanxicô Xavie: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”  Ánh sáng của Lời Chúa đã loé lên trong tâm hồn chàng trai đầy tham vọng trần thế và đã làm xoay chuyển cuộc đời anh.  Phanxicô giã từ việc theo đuổi phù du ảo ảnh đời nầy (đó là từ bỏ mình) để dấn thân không mệt mỏi vào những vùng đất xa xôi (đó là chấp nhận vác thập giá) để chinh phục các linh hồn cho Thiên Chúa nên đã được hạnh phúc vinh hiển muôn đời.

“Từ bỏ chính mình” tức là đừng lấy thân xác làm mục tiêu cho mọi phấn đấu, mọi nỗ lực của ta; cụ thể là không dành toàn bộ công sức, thời gian, tài năng, trí tuệ để phụng sự thân xác.  “Vác thập giá mình” là chấp nhận khổ chế, cụ thể là khước từ những đòi hỏi vô độ của thân xác – sự khước từ nào cũng là một thập giá, đều để lại đau thương – để dành thời giờ và nghị lực cho sự phát triển tâm linh.

Chúa Giêsu đã đầu tư đời Người theo hướng đó và Người đã đạt tới vinh hiển khải hoàn.  Hôm nay, Người muốn chúng ta đầu tư theo hướng Người đã đầu tư, bước đi theo con đường Người đã bước, để chúng ta được chung hưởng vinh hiển như Người.

Lạy Chúa Giêsu, Xin cho Lửa Thánh Linh soi chiếu tâm hồn để chúng con nhận ra rằng con người gồm cả hồn lẫn xác.  Thân xác nầy nay còn mai mất và rốt cục chỉ còn là tro bụi thì chỉ cần đầu tư vừa phải.  Còn linh hồn trường tồn bất diệt thì phải đầu tư cho hồn nhiều lần hơn để mai sau được hưởng vinh phúc muôn đời với Chúa. Amen.

Lm Ignatiô Trần Ngà (Trích trong “Cùng Đọc Tin Mừng”)

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

TÂM TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA THÁNH GIOAN TẨY GIẢ NÓI GÌ VỚI TÔI (có Youtube)

Trong lúc ngồi xe lửa đi làm và đọc kinh sáng, tôi có một chút suy tư về tâm tình của “Thánh Gioan Tẩy Giả” nhân ngày lễ nhớ ngài bị chặt đầu ngày hôm nay.  Có lẽ điều lớn lao nhất của một Tiên Tri (prophet) là hoàn tất nhiệm vụ được Thiên Chúa giao phó.  Tôi tự hỏi thánh Gioan Tẩy Giả đã có những suy tư gì trong những giây phút cuối đời trong bóng tối của nhà tù.  Tôi tưởng tượng nếu mình là thánh nhân thì mình sẽ nói với Chúa những gì trong những ngày ngồi trong ngục thất tối tăm.  Có lẽ thánh Gioan Tẩy Giả sẽ thủ thỉ tâm sự với Chúa những tâm tình dưới đây, xin được chia sẻ với mọi người.

************

“Lạy Chúa, Chúa đã thăm dò con và Ngài đã biết con.” (Thánh Vịnh 139:1)

Cảm ơn Chúa, vì những ân sủng của Ngài.  Chúa đã không chỉ chọn con là sứ giả của Đấng Cứu Thế Mết-si-a, mà Ngài còn cho con được diễm phúc làm họ hàng bà con thân thiết với Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.  Ngay lúc này đây con đang lo lắng vì mối đe dọa của cái chết đang treo lơ lửng trên cổ con, nhưng Chúa ơi, con vẫn hoàn toàn tin tưởng rằng Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi con.

Chúa ơi, mẹ của con, bà Ê-li-dza-béth đã kể lại cho con nghe rằng con đã “nhẩy mừng” trong bụng bà khi cô Maria đến thăm hai mẹ con.  Mẹ con quả quyết là Chúa Thánh Thần đã làm cho bà và con vui mừng vì được diễm phúc đứng trước mặt Chúa Giêsu con của Ngài.  Tạ ơn Chúa đã cho hai mẹ con nhận ra Đấng Cứu Thế, mặc dù  con và mẹ không trực tiếp được thấy Người.  Xin Chúa hãy cho con luôn giữ mãi những ký ức tươi đẹp hạnh phúc ấy, đặc biệt là trong những giây phút thử thách khi con đang sống những ngày cuối cùng của đời con.

Chúa ơi, Ngài có biết là con đã rất ngạc nhiên và bàng hoàng thế nào không, khi thấy Chúa Giêsu đến bên dòng sông Gio-đan để chịu phép rửa tội do con cử hành.  Con đã không thể nào hiểu được tại sao một Đấng Cứu Thế vô tội lại cần đến một phép rửa để ăn năn và tẩy sạch tội?  Đây quả là một điều vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người.  Nhưng rồi con thấy dấu chỉ chim bồ câu của Chúa Thánh Thần và nghe tiếng nói của Chúa Cha từ trời, và rồi con đã bắt đầu hiểu ra rằng Giêsu không chỉ là Đấng Cứu Thế Mết-si-a mà còn là Con Chiên Thiên Chúa, là lễ vật toàn thiêu của Thiên Chúa.  Là Đấng sẽ chịu chết làm lễ tế để cất đi mọi tội lỗi của nhân loại và nối lại mối tình “cha và con” mà ông A-đam và bà E-và đã đánh mất ngày nào.  Một lần nữa, con lại được tràn đầy niềm vui sướng khi Chúa Thánh Thần cho con thấy được kế hoạch kỳ diệu và tràn đầy yêu thương của Thiên Chúa trong việc cứu rỗi nhân loại.

Giờ phút này đây Chúa ơi, con ngồi trong tù chờ chết, và con tự hỏi lòng mình rằng “những việc gì sẽ xẩy đến với tôi?”  Chúa ơi, một lần nữa xin Ngài gởi Chúa Thánh Thần đến với con để giúp con thêm lòng can đảm và tin tưởng.  Can đảm để dám đối diện với tương lai của con và tin tưởng rằng Chúa luôn luôn đồng hành với con trong từng gây phút của đời con.

Lạy Chúa Thiên Chúa của con, xin Chúa giúp con trung thành với ơn gọi của con và với Ngài đến cùng.

************

Đó là tâm tình mà thánh Gioan Tẩy Giả có thể đã tâm sự với Chúa trong giây phút cuối đời của ngài trong những ngày bị bắt ở tù.  Cũng như thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người chúng mình cũng được Thiên Chúa chọn lựa làm con của Ngài và làm anh em họ hàng với Chúa Giêsu qua bí tích rửa tội.  Thiết tưởng rằng là Kitô hữu, là môn đệ của Chúa Giêsu mỗi người chúng mình cũng có thể đã và sẽ có những tâm tình gần giống như Thánh Gioan Tẩy Giả.  Nhất là trong những lúc sóng gió của đời sống “Đạo và Đời” trên con đường lữ thứ trần gian chờ ngày về quê Trời.  Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân phải “giằng co”, phải “lựa chọn” để chu toàn bổn phận của một người Kitô hữu, của một người chồng, người vợ, người cha, mẹ, con cái, v.v…  Đôi khi “cái tôi”, cái “gia trưởng”, cái quyền làm “bố mẹ” phải nhỏ đi để gia đình được lớn lên, được bình an và hạnh phúc.  Có những lúc phải làm sao để một linh mục, một tu sĩ có thể chống trả lại với những cám dỗ ham muốn rất ư là bình thường của một con người.  Và chắc hẳn cũng có những lúc phải lựa chọn sao để thăng bằng bổn phận giữa “công việc làm, gia đình, và giáo xứ” của một người phó tế vĩnh viễn, một Kitô hữu bình thường như bao Kitô hữu khác nhưng lại được Chúa trao thêm một ơn gọi phụ nữa là “phục vụ”, ngoài ơn gọi chính là “gia đình”.   Đây có lẽ là một thách đố khá khó khăn mà chính bản thân tôi đang phải đương đầu mỗi ngày.   Những lúc như thế mỗi người chúng mình sẽ rất cần đến sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần để thêm đức tin, đức mến và lòng can đảm để chu toàn phổn phận, và là Kitô hữu trung thành đến cùng.

Lạy Chúa Thánh Thần, trong những lúc bình yên lẫn sóng gió của cuộc sống, và trong lúc cố gắng chu toàn ơn gọi của mỗi người, xin Ngài ban ơn và truyển cảm hứng cho từng người chúng con như Ngài đã làm cho Thánh Gioan Tẩy Giả; ngõ hầu mỗi người chúng con có thể nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện trong đời sống, và giúp chúng con thêm tin tưởng vào kế hoạch của Thiên Chúa dành riêng cho từng người chúng con.  Amen!

PT Giuse Nguyễn Xuân Văn
August 29, 2017 –  Viết theo cảm hứng “The Passion of John the Baptist” từ “The Word Among Us.”

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

KINH TIN KÍNH CỦA TÊN TRỘM

Nhiều người thường nghĩ, trước giờ chết, xưng tội xong thì chết lên thiên đàng ngay.  Họ lý luận đơn giản là Chúa tha tội, hết tội là ta được lên thiên đàng.  Tôi đã đặt vấn đề trong bài suy niệm về nhân quả.  Thí dụ, tôi xưng tội nói xấu, tội tôi được tha.  Nhưng hậu quả của việc nói xấu là cả cộng đoàn cứ đinh ninh người đó xấu, họ dè bỉu, họ coi thường, khinh chê, tránh xa người ấy.  Bí tích Giải Tội tha tội cho tôi nhưng không có năng lực thay đổi lối suy nghĩ của cộng đoàn về người tôi gây bất công.  Như thế hậu quả tội tôi gây ra vẫn còn.

Nếu Chúa nhận việc đền tội bằng mấy kinh tôi đọc, cho tôi lên thiên đàng rồi cứ để người khác chịu oan ức thì đâu là vẻ đẹp của bí tích Giải Tội.  Tội thì giải mà không giải được hậu quả của tội thì tôi định nghĩa thế nào về cách tôi nhận ơn sủng của bí tích này.  Một lý luận đơn sơ, một người ăn cắp của tôi hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha!  Rồi tôi lại đi lấy cắp của người khác hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha!  Ai dám khẳng định giáo lý của Chúa là như thế?

Tôi đã đưa thí dụ.  Một người không chịu học hành, ăn gian nói dối, trộm cắp, xì ke ma túy, bệnh hoạn, vào tù.  Khi được tha tù, họ sám hối, mọi người tha tội cho anh ta.  Tội anh ta không còn.  Nhưng vì không học nên vẫn dốt, hết tội không có nghĩa là tự động thông minh.  Hậu quả vẫn còn.  Anh ta phải đi học lại.  Tha tội không có nghĩa là anh ta hết bệnh hoạn.  Anh ta phải uống thuốc, phải tập thể thao. Tội thì hết nhưng hậu quả không hết.

Tôi được tha tội, nhưng tôi phải “học” mới lấy lại được kiến thức nơi học đường.  Tôi được tha tội, nhưng tôi phải “tập dượt” mới lấy lại được sức khỏe.  Vì có như vậy thì các “việc lành” mới có giá trị hiện hữu.

Người trộm lành

Có thể có người đặt vấn đề.  Thế còn người trộm chết bên Chúa thì sao.  Anh ta đâu có đền tội mà cũng được tha, chết lên thiên đàng ngay!  Trong lối suy nghĩ ấy, nhiều người cổ súy một nền tu đức “mì ăn liền”.  Chỉ cần tích tắc xưng tội là Chúa cho lên thiên đàng ngay.  Ta hãy nghe lại những gì xảy ra ở vùng đất Jerusalem hai nghìn năm xưa theo Phúc Âm:

Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Ðấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!” Lính tráng cũng chế giễu Người.  Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” Phía trên đầu Người, có bản án viết: “Ðây là vua người Do Thái.”

Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: “Ông không phải là Ðấng Kitô sao?  Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Nhưng tên kia mắng nó: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!  Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.  Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”  Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng” (Lc. 23:34-43).

Phúc Âm cho thấy toàn cảnh bấy giờ như sau:

  • Dân chúng đứng nhìn.
  • Thủ lãnh buông lời cười nhạo.
  • Lính tráng chế giễu.
  • Một tên trộm nhục mạ.

Trong ba năm, Chúa chữa biết bao nhiêu người bệnh tật. Những người này bây giờ ở đâu.

Không ai lên tiếng bênh vực Chúa.

Tôi xin đặt vấn đề.  Anh ta là tên trộm, tại sao không nói như người trộm bên cạnh: “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!” Trái lại anh ta mắng ngược lại tên trộm kia: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ!  Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.  Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!”

Qua cuộc đối thoại này ta thấy hai tên trộm không nói cùng một ngôn ngữ của kẻ trộm:

  • Một người biết kính sợ Thiên Chúa, một người không.
  • Một người biết chịu hình phạt là đích đáng, một người không.
  • Một người biết cuộc đời của Chúa không làm gì sai trái, một người không.
  • Một người biết Chúa Giêsu bị đóng đinh là sự bất công, một người không.
  • Một người lội ngược dòng với đám đông, một người ùa theo.

Tâm đức người trộm lành

Sự khác biệt lớn lao là một người trộm có “tâm đức”, một người không.  Cái tâm đức này không phải bây giờ anh ta mới có.  Nó phải là lòng thao thức từ lâu.  Những ngày đi ăn trộm anh ta phải biết về Ðức Kitô rồi, nên mới xác định được là “Ông này đâu có làm điều gì trái.”  Ăn trộm mà biết về Chúa rõ như thế sao?  Ăn trộm mà còn lương tâm nhận là mình đáng tội, có nghĩa là lúc ăn trộm, lương tâm anh ta cũng đã ngời sáng rất rõ ràng.  Một người như thế không có “tâm” sao.  Bởi đó, ta mới có truyền thống gọi anh ta là người “trộm lành”.  Trong lối sống “trộm lành” này rất có thể anh ta không ăn trộm chuyên nghiệp.  Biết đâu bị bắt ăn trộm trong lúc quá túng nghèo của một sa cơ?  Và biết đâu trong lối sống đó anh ta đã làm nhiều việc lành đền tội rồi.

Lời chứng trong bão tố

Nguyên việc trước công chúng mà anh ta dám xác nhận Ðức Kitô vô tội thì anh cũng đáng bị người Do Thái đánh gẫy ống chân.  Trong khi Phêrô chạy trốn, bao nhiêu người được Chúa chữa lành, được Chúa thi ơn không dám bênh Chúa còn anh ta có được hưởng ơn gì của Chúa đâu mà dám bênh Chúa?  Việc tuyên xưng Chúa vô tội trên thập giá của một tên trộm lại là lời tuyên xưng duy nhất của nhân loại.  Toàn thể bấy giờ im lặng.  Tất cả thế lực tôn giáo, chính quyền đều chảy xuôi một chiều là nhạo báng Chúa.

Người tuyên xưng Chúa duy nhất lại là tên trộm. Sự tuyên xưng này mang một ý nghĩa rất sâu là anh xác tín vào đời sau.  Như thế có nghĩa là tất cả xã hội kia đang đánh mất ân sủng của mình.  Toàn thể đám đông kết án Chúa là sai.  Anh ta đi ngược lại đám đông, người trộm này dám xưng mình tin Chúa là Ðấng vô tội.  Một người bình thường không thể tuyên xưng như thế.  Chúa đang chết rất nhục nhã, bởi đó người ta mới cười. “Nó đã cứu người khác thì tự cứu mình đi.”  Lời đó đối với con mắt người thường là đúng thôi.  Vậy tại sao tên trộm lại không tin như thế.  Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sẽ vào Nước Thiên Chúa?  Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sống lại?  Ai dạy anh ta có sự sống đời sau?  Ai dạy anh ta tin rằng Chúa đang chết kia là Thiên Chúa thật?  Người khôn ngoan thì đến với kẻ quyền năng chứ đến với một người cũng chết như mình thì được gì?

Cái sám hối của anh không đến từ một “tâm đức nhất thời” mà nó phải có căn tính bằng cả một cuộc sống của quá khứ. Anh phải biết về lời rao giảng của Chúa lúc đương thời.  Anh phải theo Chúa trong tâm đức của anh từ lâu lắm rồi.  Giáo lý và niềm tin không thể đến bất ưng không vun trồng. Cuộc trở về của tên trộm tương tự như quá khứ tìm kiếm lề luật của người thu thuế Dakêu.

Tư cách thay cả nhân loại tuyên xưng Chúa vô tội.  Tư cách xin chấp nhận bị đóng đinh vì xứng với tội của mình để làm tương phản đảo lộn việc đóng đinh Chúa là sai trái, không là bài giảng hùng hồn nhất giữa trời đất trước mặt toàn quyền thượng tế và chính quyền hay sao?  Ðấy không phải là cách đền trả công lý của anh sao?

Ðền trả là tuyên xưng đức tin

Hậu quả tội lỗi của anh có đó chứ.  Nhưng anh đã đền.  Không phải một tích tắc ăn năn, Chúa tha tội là lên thiên đàng.  Anh ta đã đền.  Cái đền anh dũng trên thập giá của anh cho tôi tin rằng anh cũng đã nhiều lần đền trong lương tâm của một thời quá khứ băn khoăn thao thức.  Vấn đề đặt ra ở đây không phải là anh ta không đền.  Anh ta đã đền.  Cuộc tuyên xưng này không những là đền trả bây giờ mà thôi nhưng nó là kết quả của những trăn trở trong quá khứ rồi.  Chỉ có vấn nạn là, đền như thế mà đủ sao?  Lỗi đức công bình sao anh không đền trả cho người? “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải?  Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục” Tôi bảo cho anh biết: Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng” (Lc. 12: 58-59).  Phải trả đến đồng kẽm cuối cùng.  Theo mạch văn thì không phải là trả cho Thiên Chúa mà cho đối phương.  Ta cũng nên lưu ý một suy nghĩ, đây là ý tưởng Phúc Âm Luca. Phúc Âm Luca được mệnh danh là Phúc Âm của lòng thương xót.  Luca luôn luôn đề cao lòng thương xót.  Tại sao ở đây Luca viết bằng ngôn ngữ mạnh như thế.

Tất cả hậu quả của tội đều phải đền.  Chỉ có vấn nạn là đền ít hay nhiều, đền bao nhiêu mới đủ, đền không đủ thì sao, làm cách nào đền.  Tôi sẽ đề cập tới đền như thế nào mới đủ trong đề tài Chúa làm phép bánh hóa ra nhiều ở biển hồ Galilê.

Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng.”  Lời cầu xin của anh ta là:

  • Anh tin có Nước Thiên Chúa và sự sống đời sau.
  • Anh tin người ta sẽ sống lại.
  • Anh không là người vô thần. Anh kính sợ Thiên Chúa.
  • Anh tin Ðức Kitô là Thiên Chúa, có sự sống nơi Chúa.
  • Anh tin vào Ðấng Cứu Ðộ. Ðức Kitô là Ðấng có thể cứu anh.
  • Anh tin có sự cứu chuộc. Con người cần được cứu chuộc.
  • Anh tin vào luân lý có đúng, có sai.
  • Anh tin những người kết án Chúa, họ là kẻ là sai lầm.
  • Anh tin Thiên Chúa có thể sửa sai. Anh tin một niềm hy vọng.

Sự tuyên xưng này anh phải trả giá vì nó đi ngược lại những người đang kết án Chúa.  Ðây không là lời tuyên xưng dễ dãi biếng nhác.  Sự đền trả của người mù ở đây mang một ý nghĩa khác nữa.  Nó làm trọn Lời rao giảng của Đức Kitô: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời” (Mt. 10:32).

Hành trình thiêng liêng

“Tên trộm,” mà hôm nay người ta thường gọi danh xưng như thế đã là nhân chứng của niềm tin giữa giờ vô cùng bão tố.  Bão tố nhất.  Ta có thể nói, trước khi có Kinh Tin Kính thì anh trộm đã tuyên xưng trước chúng ta rồi.  Một lời tuyên xưng công khai trước toàn thể quyền thế nhân loại.  Lời tuyên xưng sau cùng trước khi Chúa giã từ trần gian.  Trong lúc cả nhân loại im tiếng thì một người duy nhất tuyên xưng lại là anh.  Hành trình thiêng liêng của người trộm này không là tích tắc được Chúa cho vào Nước Chúa, nhưng là một hành trình đã chuẩn bị từ tháng ngày trong quá khứ.

Ta nên nhìn con đường trưởng thành thiêng liêng của người trộm này không đến từ ngẫu hứng “mì ăn liền.”  Không nên dễ dãi kết luận, chỉ cần tích tắc nói với Chúa vài câu là được lên thiên đàng.  Ta nên nhìn con đường trưởng thành thiêng liêng của người trộm này trong cái nhìn tìm hiểu đoạn Kinh Thánh tường thuật về anh.  Có thể nói cách khác, chính lời tuyên xưng của “tên trộm” viết thành lời đoạn Kinh Thánh này.

Nguyễn Tầm Thường  (Trích tập suy niệm KẺ ÐI TÌM, sẽ xuất bản năm 2010)

CHIÊM NGẮM CUỘC KHỔ NẠN

Lễ Lá là một lễ vui mừng, nhưng lại đượm nét buồn.  Chúng ta được nghe bài thương khó trong thánh lễ.  Tuần thánh đã bắt đầu.  Ðức Giêsu bước vào những ngày cuối đời.

Hosana! Hosana! Tiếng hò reo vang vọng một góc trời khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Đám đông dân chúng với những cánh tay đưa lên cao để tung hô Ngài là Ðấng Mêsia, là Con vua Ðavít.  Nhưng một tuần sau, chính những cánh tay đó cũng giơ cao để la hét, để chửi rủa chế nhạo và để đòi đóng đinh Ngài vào thập giá. Ôi lòng người sao tráo trở, mau đổi trắng thay đen!

Đức Giêsu, Ngài là Con Thiên Chúa và cũng là con người, Ngài không xa lạ với khổ đau của phận người. Ngài biết thế nào là bị vu khống, bất công, phản bội, thế nào là bị nhục nhã, sợ hãi, cô đơn và bị giết chết. Ngài không phân tích mầu nhiệm đau khổ, nhưng Ngài đón lấy đau khổ với tình yêu to lớn, và lập tức đau khổ mang đầy ý nghĩa to lớn.

Qua bài Thương Khó hôm nay, bạn và tôi, chúng ta hãy đi với Ðức Giêsu qua từng chặng đường của cuộc Khổ Nạn, từ vườn Cây Dầu đến tận Núi Sọ…  Ðừng theo Chúa như một người xa lạ, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và tôi, cho bạn và cho tôi.  Sau khi đã cảm nghiệm được cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, bạn và tôi sẽ thấy mình yêu thánh giá của Chúa hơn, mến thánh giá của mình hơn, và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

Qua bài Thương Khó hôm nay, Ðức Giêsu đã xuống tận cùng vực thẳm của phận người. Ngài muốn gieo hy vọng cho những ai thất vọng. Ngài đem lại ý nghĩa cho những khổ đau vô lý.  Ngài đã đón nhận tất cả với tình yêu thứ tha, nhờ đó thánh giá nở hoa, vực thẳm tràn trề sức sống.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, tôi không cảm thấy đó là chuyện xa lạ. Vì trên thế giới chúng ta đang sống, mỗi ngày vẫn còn biết bao Giêsu vô tội bị kết án bất công, bị làm nhục, bị khinh khi, bị hành hạ và đối xử tàn tệ cho đến chết.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, và nhất là đi đàng thánh giá với Chúa, giúp tôi bình an hơn với thánh giá của chính mình, nhậy cảm hơn với thánh giá của tha nhân, và nhận ra mình có trách nhiệm trước những cuộc khổ nạn đang diễn ra trên thế giới hôm nay.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, tôi thấy mình chẳng phải là kẻ đứng ngoài cuộc. Tôi thấy mình có nét của Giuđa, một người được chọn, được yêu, được theo Thầy rất gần.  Bao phép lạ đã chứng kiến, bao lời vàng ngọc đã được nghe. Tất cả vỡ tan khi Giuđa bán Thầy bằng nụ hôn giả dối.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, tôi thấy mình có nét giống Phêrô. Ông tự hào về tình yêu của mình đối với Thầy để rồi dễ dàng chối Thầy trước một cô đầy tớ. Tiếng gà nào khiến Phêrô chợt tỉnh.  Ánh mắt tha thứ nào của Thầy khiến Phêrô òa khóc. Vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng gà và ánh mắt của Chúa trong đời tôi…

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, tôi thấy mình có nét giống Philatô.  Ông bị trói chặt bởi nỗi sợ: sợ dân nổi loạn, sợ mất chức. Ông bị mất tự do vì áp lực của đám đông gào thét. Ông không đủ bản lãnh để tha một người vô tội. Tôi cũng thấy mình có nét giống Hêrôđê, tò mò, háo hức, trông chờ Ðức Giêsu làm phép lạ. Nhưng ông mau chóng thất vọng khi thấy Ngài lặng thinh. Ông buồn vì không gặp một Giêsu như ông mong ước.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu, tôi nhìn thấy những điểm sáng ngời: Điểm sáng đó từ nơi Simon: ông vác đỡ thập giá Ðức Giêsu trên đường lên núi Sọ.  Điểm sáng đó từ nơi các phụ nữ theo sau Thánh Giá Chúa Giêsu, họ vừa đi vừa than khóc.  Điểm sáng rực rỡ hơn cả từ nơi người trộm lành. Một người bị đóng đinh tin vào một người bị đóng đinh khác. Anh tin Ðức Giêsu vô tội và anh xin Ngài nhớ đến anh.  Lòng tin khiến anh trở nên người đầu tiên được hưởng ơn cứu độ. “Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng“.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu,

Vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con, xin cho những người nghèo khổ được no đủ.
Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu, xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.
Vì Chúa bị kết án bất công, xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.
Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng, xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.
Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề, xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.
Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh, xin cho sự hiền hoà thắng được bạo lực.
Vì Chúa giang tay chết trên thập giá, xin cho đất nối lại với trời, con người nối lại mối dây liên kiết với nhau.
Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui oà vỡ, xin cho chúng con biết đón lấy đời thường với tâm hồn thanh thản bình an.  Amen.

(Trích từ R. Veritas)

NGƯỜI CỨU HỘ VÀ NHỮNG CHUYẾN XE CUỘC ĐỜI

Chiều thứ sáu 15 tháng 2 vừa qua, tôi sang đến Mỹ trong chương trình đi giảng Tĩnh Tâm Mùa Chay cho các cộng đoàn do các cha DCCT Việt Nam phụ trách.

Anh bạn thân trong Nhóm Mai Khôi ngày xưa ra phi trường Los Angeles đón về thành phố Anaheim, dọc đường đang trên Freeway (xa lộ) số 405, tốc độ phải trên 100km/h thì bánh xe bên trái phía trước, ngay chỗ tay lái, bị nổ tung.  Nếu anh bạn không có tay lái thật vững và bình tĩnh, chắc chắn tai nạn đã xảy ra thảm khốc.

Từ đường lane thứ tư, anh giảm vận tốc từ từ chứ không dám dùng đến thắng chân, mắt liếc nhìn kính chiếu hậu, tay kềm vô-lăng tránh lật xe, nhấp nhấp sang phải để vào dần đến đường lane cấp cứu sát lề đường trong khi hàng loạt xe hơi và xe vận tải vẫn lướt qua với tốc độ khủng khiếp.

Xe vào được đến lề đường an toàn, tắt máy, xuống khỏi xe, nhìn chiếc lốp xe tan nát te tua mới rùng mình hú vía, chiếc vành bánh bằng sắt cầy xuống mặt đường nhựa thành những vệt ngoằn ngoèo.

Bất ngờ phía sau có một tiếng kèn xe nhẹ nhẹ, quay lại thì ra một chiếc xe cứu hộ có cần cẩu vừa trờ tới, đậu lại ngay sau đuôi xe mình.  Sao mà nhanh thế không biết ? Mới chưa đầy hai phút.  Anh tài xế người Mễ cũng là nhân viên kiểm tra giao thông hỏi: “May I help you ?” (Tôi có thể giúp gì cho bạn?).  Anh bạn của tôi cám ơn và bảo là xe mình có sẵn lốp sơ-cua và có thể tự thay được.

Tôi loay hoay phụ với anh bạn lôi được trong cốp xe chiếc lốp sơ-cua cùng với cái kích nâng xe, thế thôi, các việc còn lại, anh bạn tháo vát của tôi làm được hết.  Tôi lớ quớ không biết làm gì, đành đứng ngó mông lung ra freeway (xa lộ)….. Và chợt tôi đọc được cho đời mình một nghiệm sinh quý, có một không hai.  Tính đến hôm nay sự cố xảy ra đã hơn hai tuần, thế mà ngẫm đi ngẫm lại, tôi thấy thấm thía quá, phải chia sẻ với mọi người chứ !

Không phải là tiếng vù vù của từng chiếc xe chạy ngang qua như ta thường nghe bên xa lộ Việt Nam, mà rõ ràng là những tiếng… “Wào ! Wào ! Wào !” của bao nhiêu chiếc xe family, xe van, xe truck, cả xe kéo container khổng lồ vụt qua như những cơn sóng dữ vỗ vào ghềnh đá với tốc độ trên 100km/h, gió tạt vào người mình như muốn cuốn tung mình theo.  Lại thêm tiếng rít xé gió của vỏ lốp xe cao-su nghiến xuống mặt đường bê-tông của freeway (xa lộ), cứ như có hàng trăm chiếc Suzuki tháo ống bô của bọn thanh niên hư hỏng con nhà cán bộ giàu có vẫn thường “tra tấn” lỗ tai dân Sài-gòn về đêm.

 

***************

Thì ra cuộc đời tôi, cuộc đời mọi người, chúng ta vẫn đang vụt qua với tốc độ kinh hồn như thế mà chúng ta không biết, không ngờ, cũng không tài nào tưởng tượng nổi.  Những đối phó, những xử lý, những tranh thủ, những bon chen, những khắc phục, những xoay trở không ngừng nghỉ, cái này xô vào cái kia, cái kia va vào cái nọ, tất cả cuốn hút như một cơn lốc, như rất nhiều cơn lốc, như hàng loạt cơn lốc nối tiếp nhau cuồn cuộn.

Thú thật, lúc ngồi trên xe ngoài freeway (xa lộ), xe nào cũng lao nhanh vun vút nên người ngồi trên xe này nhìn sang người xe khác thấy bình thường như không, chẳng ai nhận ra rằng: tất cả, mỗi người và mọi người đều đang đùa với cái chết bằng chính cách sống hiện đại thời đô thị hóa của mình.

Phải đến khi có một trục trặc xảy ra.  Thất nghiệp, thất tình, thất thu, thất lạc một cái gì đấy, tất cả những cái “thất” khốn khổ, nhất là thất bát về tiền bạc hay thất sắc vì một căn bệnh nan y bất ngờ ập đến, nó làm cho ta không thể tiếp tục chay bon bon trên đường đời nữa.  May mà ta còn dạt được vào bên lề cuộc đời chứ không thì đã bị những mảnh đời khác tông phải mà… tan xác!  Ta đứng lại rồi, hoàn hồn vì tai qua nạn khỏi, nhưng sau đó nỗi u sầu, niềm tuyệt vọng, mặc cảm bị đối thủ qua mặt, bị người yêu, bạn bè hoặc gia đình bỏ rơi, bắt đầu tấn công ta, làm cho ta như tê liệt.

Thế rồi, lại một lần nữa, may quá, người cứu hộ đã kịp thời đến với ta.  Anh ấy muốn giúp ta nhưng lại vẫn tôn trọng quyết định hoàn toàn tự do của ta.  Có thể anh ấy vẫn đứng bên cạnh mà nhìn nhưng ta phải hiểu là anh ấy chờ ta đấy, ta chỉ cần đưa ánh mắt xin cầu viện là anh ấy sẽ giúp ngay, và giúp đâu ra đấy, đàng hoàng tử tế.

Cứ xem cái cách anh ấy đậu chiếc xe cứu hộ phía sau mình, nhích ra ngoài con đường cao tốc cuộc đời một chút để che chắn cho ta, những gì nguy hiểm mất mạng muốn đâm xầm vào ta thì phải đâm xầm vào anh ấy trước đã!  Ta bảo ta xử lý vấn đề được, không cần ai cứu hộ, thật ra trước sau gì đều không thể thiếu được người cứu hộ đâu !

Ngược lại, ta cũng không thể ỷ lại tất cả vào người cứu hộ.  Anh ấy đâu có phải là… vú em, mà ta cũng chẳng còn là con nít.  Ta vẫn phải đối mặt, chịu trách nhiệm về ta một cách có… trách nhiệm và “làm” đời ta cho nó ra ngô ra khoai.  Người cứu hộ sẽ chỉ cứu ta và hộ ta khi ta thật sự cần cứu, cần hộ.

Khi việc sửa chữa hoàn tất, ta an tâm nổ máy khởi động lại hành trình đời mình.  Ta dần tăng tốc, lại tiếp tục lao vun vút trên freeway (xa lộ) nhiều hấp dẫn quyến rũ nhưng cũng đầy những nguy hiểm chực chờ.  Có khi ta sẽ quên béng mất cái anh chàng cứu hộ, bởi có thấy anh ấy giúp được ta gì đâu.  Cũng được!  Chẳng sao!  Anh ta vẫn mỉm cười, trở về với nhiệm vụ của mình là cứu hộ trên mọi nẻo đường đời…

***************

Mùa Chay đã qua được hơn nửa thời gian.  Những chuyến xe đời ngoài kia vẫn đang bị cuốn hút vùn vụt về phía trước.  Tại sao ta lại chỉ chờ đến khi nào rủi ro bị “pan”, chết máy, hết xăng, nổ lốp, mới chịu dạt vào bên lề để được cứu hộ hoặc sửa chữa?   Tại sao ta không chịu giảm tốc, tìm một “exit” (lối ra) để ghé vào những khu “rest area” (khu nghỉ ngơi) mà Hội Thánh đã mở sẵn dọc theo cuộc lữ thứ trần gian ?

Rõ ràng Mùa Chay cho ta được nghỉ ngơi và bồi dưỡng, tái tạo và phục hồi, chữa lành và tha thứ.  Vẫn luôn có đó những Linh Mục làm người cứu hộ ở bên ta, cứu ta và hộ ta bằng những lời khuyên và bằng các Bí Tích.  Mà thật ra, phải nói Người Cứu Hộ trên hết là chính Chúa Giê-su!

Chúng ta tin điều ấy không?  Nếu tin, xin hãy rời “freeway” (xa lộ) để sẽ gặp được…… “Freedom” (sự giải thoát)!

LM Lê Quang Uy, DCCT – VietCatholic News
Houston, Mùa Chay 3.2008

THƯ GỬI ANH GIUĐA

Lời tâm sự

Anh Giuđa kính mến !

Vì anh đã dính líu vào vụ án Đức Kitô, một vụ án nhân loại không thể phủ nhận được mà người ta chỉ cố tình quên đi thôi.  Vì thế, cho đến hôm nay, câu chuyện của anh vẫn là những đề tài sôi động được nêu lên để nhắc nhở con người.  Vậy xin anh cứ bình tĩnh để lắng nghe con người, họ luôn ì xèo về anh.

* Người ta hay gọi anh Giuđa là “thằng Giuđa” hoặc là “hắn” hoặc là “Giuđa, tên phản bội”… Vì người ta thương Chúa chịu đớn đau xỉ nhục quá sức lẽ mình nên người ta xỉ vả anh không tiếc lời, và ra như vì anh bán Chúa mà Chúa phải chịu tử hình cùng với những tên trộm cướp gian tà.  Rồi đa số người ta đã hiểu lầm câu : “Khốn cho người nào nộp Con Người : thà người đó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24) của Đức Giêsu như một lời nguyền rủa, lên án, kết tội anh.  Ở đây hình như nhấn mạnh sự đối kháng giữa hai chữ người: đằng sau anh là con người ta nói chung.  Chữ khốn diễn tả thực trạng khốn cùng của anh, đồng thời cũng nói lên niềm đau đớn của Chúa Giêsu; Người không nguyền rủa cũng không lên án anh.  Cho nên câu thà người đó đừng sinh ra thì hơn cũng không thể hiểu như một lời quả quyết về số phận cuối cùng, sự trầm luân đời đời của anh; đây chỉ là một cách lên án tội của anh, mức độ nghiêm trọng, ghê tởm của hành động phản bội; nộp Con Người là một hành động hèn mạt đến nỗi kẻ phản bội không sinh ra thì hơn !

* Người ta nói vì anh Giuđa ham tiền “Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp, y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga 12,6) nên anh đã bán đứng Thầy cho dân ngoại để họ giết Người.  Một đoạn sách viết về anh:  Hôm nay Giuđa đi đến quyết định nộp Thầy mình, để đổi lấy ba mươi đồng bạc, một món tiền không mấy lớn lao, vì như ta sẽ thấy, chỉ đủ mua một thửa ruộng bé nhỏ… Lúc sống với Chúa Giêsu, Giuđa không phải con người xấu xa.  Có lẽ hắn giỏi che dấu lòng dạ và hắn đi dần đến tội một cách bí mật đến nỗi lúc Chúa Giêsu báo một kẻ sắp nộp Ngài, chẳng tông đồ nào ở bàn ăn đoán được là ai… có lẽ sa ngã vì dính vào tiền, mà tiền là phương thế nối dài cánh tay ta, giúp ta có uy quyền, có thế lực, từ đó ta không còn cậy dựa vào Thiên Chúa” (tr 278).  Anh đã hợp đồng với giá là 30 quan tiền là giá một người nô lệ như Luật cũ đã định (Xh 21,32).  Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa bị người ta bán rẻ…

* Có người nói anh hoạt động chính trị, anh muốn dồn Thầy mình vào chân tường để Thầy nổi dậy, lên ngôi, chiến đấu dành độc lập và thành một dân nước bá chủ thiên hạ.  Anh đã chứng kiến nhìn tận mắt Thầy mình “ngon” lắm, bao nhiêu phép lạ, bao nhiêu chuyện thần kỳ… dễ như trở bàn tay, và coi những hạng Biệt phái, Luật sĩ như pha (nơ pa); khi họ muốn xô Thầy xuống vực thẳm, Thầy đã hiên ngang đi vào giữa họ thoát ra hoặc họ liền lượm đá để ném Thầy, nhưng Thầy lánh đi và ra khỏi Đền Thờ cái một….  Khi anh cố tình dồn Thầy để lòng Thầy sôi lên sùng sục mà vùng dậy và nếu có vào ngõ bí thì Thầy cũng chỉ cần giơ ngón tay trỏ ra là mọi chuyện sẽ đâu vào đó.  Nhưng thật xui xẻo cho anh, nào ai học được chữ ngờ, bởi vì “Giờ của Thầy đã đến”…  Thế là anh hối hận tuyệt vọng và treo cổ tự tử.

* Trên các bàn tiệc rượu các đám cưới ma chay, mấy ông ưa lý luận triết lý cùn hay bàn tán tranh luận về anh lên thiên đàng hay xuống địa ngục?  Nhóm “luật sư” bênh vực biện hộ cho anh vì anh đã có công, đã dẫn mối để cho quân dữ đến bắt Đức Giêsu và “chúng nó” đã giết Người, máu Người đã đổ ra để tẩy rửa tội lỗi nhân loại, con người được cứu chuộc và được lên thiên đàng nên chắc chắn thưởng anh lên… thiên đàng.  Bên cánh tả thì ra sức phồng mang trợn mắt đả kích Giuđa, kẻ lừa thầy phản bạn, kẻ gian dối vì “nó” đã dùng cái hôn chỉ dành cho tình yêu để chỉ điểm Quân Dữ tóm cổ thầy và giết thầy.  Nó phạm trọng tội đáng phạt xuống… hỏa ngục.

Thế đấy, anh Giuđa à, con người chúng ta thì hay háu táu đoán già đoán non, lại cứ muốn xía vào việc của Thiên Chúa.  Và họ còn có ý bàn tán dậy bảo răn đe để giúp nhau sống tốt hơn, yêu mến Chúa hơn, chân thành hơn, yêu thương nhau hơn…  Biết đâu đó nhờ chuyện “quàng xiên” của anh mà có người hoán cải.  Thôi chào tạm biệt anh!

***************

Nhìn người lại gẫm đến ta…

* Tôi có phản bội không?  Không có Giuđa này thì sẽ có Giuđa khác.  Chả lẽ trong suốt cuộc đời của tôi không có lần nào phản bội Ngài chăng?  Trong tình yêu thì tội phản bội làm tổn thương nhất, đau đớn vô cùng.  Và tình yêu càng lớn lao bao nhiêu thì khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Sự phản bội chống đối ra mặt còn đỡ hơn thói sống dửng dưng teo khô chai lì thờ ơ lạnh nhạt… ra như cách sống bất cần của tôi càng không nên sinh ra thì hơn.

* Tôi vẫn bán rẻ Thiên Chúa của tôi, khi tôi coi trọng trần thế hơn Người.  Thật đúng thế, trần gian sao mà vẫn cứ hấp dẫn hơn, nó cung cấp cho tôi đủ mọi tiện nghi, nó giải sầu cho tôi dù chỉ chốc lát tôi cũng cảm thấy vơi bớt được phần nào, nó màu mè tươi thắm mát mẻ dù chỉ bên ngoài cũng xoa dịu được phần nào nỗi niềm đam mê của tôi…  Trong cuộc đời đã có những lần tôi bán rẻ Chúa, bán rẻ những người chung quanh tôi để tất cả được lợi cho tôi, cho cá nhân ích kỷ của tôi.  Đúng là khốn cho người nào bán rẻ (nộp) Con Người.

*  Tôi kết án anh Giuđa còn tôi chẳng thích kết án mình, bởi vì tôi có nhìn ra mình đâu mà kết án.  Nếu có nhìn ra mình thì thấy cái gì cũng đẹp, cung hay, cũng ngon, cũng nhất… “Sao anh thấy các rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?” (Lc 641).  Và như thế, chẳng bao giờ tôi dám hỏi :Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?” (Mt 26,22).

–  Lậy Chúa, qua cuộc khổ nạn của Chúa, con chẳng có quyền gì trách cứ và lên án ai, nhưng con nhận ra cách thức yêu thương vỗ về của Chúa trong cuộc đời lữ hành của con.  Cách thức yêu thương của Ngài tức là Ngài khổ đau hơn con, Ngài tủi nhục hơn con vì thế cái đau của con chẳng thấm thía gì với cái đau của Ngài để rồi con được chìm lặng trong cái đau của con.  Như vậy con có cần phải đề nghị cho Chúa một cách thức yêu thương nào hơn thế không?

–  Lậy Chúa, Ngài sinh ra trong máng lừa hoàn toàn tay trắng… ba năm đi rao giảng Ngài làm những phép la, chữa các bệnh tật xua trừ ma quỷ và làm cho người chết sống lại bao nhiêu người đã đặt kỳ vọng vào Ngài.  Nhưng khi họ chứng giám cái chết của Ngài, bấy giờ họ mới vỡ lẽ ra… lại hoàn toàn trắng tay.  Bài học khiêm nhường Ngài dạy con suốt đời mà con không thuộc. Con vẫn thích bon chen hơn, con vẫn thích thu vén lợi lộc hơn, con vẫn thích quyền cao chức trọng tác oai tác quái hơn… Và như thế con cần phải chiêm ngắm cuộc khổ nạn của Chúa mãi, suốt đời con.

Con trông cậy vào lòng xót thương của Chúa :
“Lậy Cha, xin tha cho họ (con) vì họ không biết việc họ (con) làm” (Lc 23,34)

Mong Manh

MỞ CỬA MỘ

Tai hoạ ngày 11 tháng 9 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người.  Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng.  Ngôi mộ gieo tang thương.  Ngôi mộ gieo kinh hoàng.  Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống.  Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố.  Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá.  Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống.  Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hi vọng.

* * * * *

Nhưng hôm nay, Đức Giê-su đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra.  Việc Đức Giê-su mở cửa mộ cho La-da-rô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống.  Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần.  Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc.  Ai đã vào đó chẳng còn hi vọng thoát ra.  Nhưng hôm nay, Đức Giê-su đã mở cửa mộ để La-da-rô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống.  Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết.  Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể La-da-rô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin.  Trước đó, niềm tin của Mác-ta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy.  Nhưng sau khi thấy La-da-rô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng.  Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Đức Giê-su.  Nhưng sau khi được chứng kiến La-da-rô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin.  Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên chúa.

Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui.  Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn.  Buồn ly biệt.  Buồn mất mát.  Buồn thất bại.  Cái buồn vốn hay lây.  Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta,  nên Đức Giê-su không ngăn được dòng lệ.  Nhưng khi La-da-rô bước ra, cả một trời vui.  Đám tang bỗng biến thành đám hội.  Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng.  Thiên chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.

Khi mở cửa mộ, Đức Giê-su mở cánh cửa hy vọng. Thiên chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống.  Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “Sự Sống“, “ai tin sẽ sống đời đời“. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.

Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ.  Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học…Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi.  Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng.  Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

(TGM. Ngô Quang Kiệt)

* * * * *

Lạy Chúa! Chúa đã đi qua sự chết và đã chiến thắng sự chết bằng sự sống lại vinh hiển… Xin Chúa gia tăng “niềm tin“ cho con để “ai tin thì sẽ được sống đời đời “.  Để con tin và con cũng được sống lại với Chúa trong ngày sau hết của cuộc đời con.  Amen

VIẾT CHO VỊ THÁNH KHÓC NHIỀU NHẤT! (có Youtube)

Mẹ Monica kính mến,

Nếu được bình chọn vị thánh nào khóc nhiều nhất, chắc người ta luôn ưu tiên chọn Mẹ như một người cả đời khóc vì chồng con.  Mẹ khóc để cầu xin cho chồng con được yêu mến Thiên Chúa.  Nước mắt Mẹ thống thiết đến tận trời cao và Người đã nhận lời ước nguyện của Mẹ.  Đúng như nhận xét của thánh Augustinô: “Làm sao Chúa có thể nhắm mắt khi bà khóc, những giọt lệ khẩn khoản không phải xin vàng bạc, hay danh vọng trần gian mau qua, nhưng chỉ cho đứa con xa lạc được cứu rỗi?”  Nhờ vậy mà đến cuối cuộc đời, Mẹ mỉm cười bay về Thiên quốc với niềm vui hoan hỷ.  Hôm nay Giáo Hội mừng lễ của Mẹ, chúng con thích thú lắng nghe câu chuyện cuộc đời Mẹ.

Mẹ Monica mở mắt chào đời năm 332 trong một gia đình đạo đức ở làng Sucara bên Phi Châu.  Từ nhỏ người ta chứng kiến cô bé Monica với nhiều nhân đức.  Họ hy vọng lớn lên cô sẽ được hạnh phúc trong đời sống gia đình.  Tuy nhiên Thiên Chúa lại trao cho Mẹ thánh giá mà tưởng chừng quá nặng đối với một người mẹ chân yếu tay mềm như Monica.  Ở độ tuổi 22, Mẹ vâng lời kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi qúy phái.  Ông là người ngoại đạo với tính tình ngang ngược, độc ác mà tuổi lại gấp đôi.  Hơn nữa, làm dâu trong một gia đình không cùng tôn giáo, với mẹ chồng không mấy tốt lành, người ta chứng kiến biết bao bất công mà Mẹ phải chịu đựng.  Nước mắt mẹ tuôn rơi, nhưng mẹ vẫn vui vẻ sống cảm hóa chồng và gia đình bên chồng.  Mẹ hy vọng một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ đoái thương Mẹ và cả gia đình.

Sau mấy năm nên nghĩa vợ chồng, Mẹ đã có ba người con mà Augustinô là con đầu lòng.  Nhẫn nại trong lời cầu nguyện và không ngừng than thở với Thiên Chúa, Mẹ đã dần cảm hóa được chồng.  Ngày Patricius rửa tội, đánh dấu một thời gian lâu dài Mẹ thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thánh giá này Chúa đã gởi đến cho con, con xin lãnh nhận.  Là phận hèn yếu đuối, xin giúp sức cho con lãnh nhận linh hồn Patriciô để hoán cải chàng.”  Nước mắt mẹ tưởng chừng như vơi đi khi thấy chồng mỗi ngày yêu mến Chúa hơn.  Nhưng không!  Thiên Chúa quả muốn hun đúc đức tin của Mẹ.  Ngài muốn Mẹ cộng tác vào việc huấn luyện nuôi dạy con cái theo đường lối của Chúa.

Dĩ nhiên Mẹ hằng yêu thương con cái, nhất là đối với Augustinô.  Mẹ đặt nhiều hy vọng vào cậu.  Với trí thông minh và tinh thần ham học hỏi, Mẹ chờ đợi con Mẹ sẽ nên người tài đức.  Nhưng càng hy vọng, nước mắt Mẹ càng tuôn rơi.  Cậy vào trí thông minh lanh lợi, Augustinô không ít lần hỗn hào với bố mẹ.  Càng lớn cậu càng rơi vào con đường ham mê lạc thú danh vọng.  Cậu sẵn sàng lừa dối Mẹ để thỏa mãn bản tính tự nhiên.  Đến nỗi trong sách Tự Thuật, Augustinô thú nhận rằng: “Mẹ khóc cho tôi còn hơn bà mẹ mất đứa con một.  Theo mẹ tôi đã chết, chết vì không tin, chết về tinh thần.  Kết quả là bà không thể đem tôi ngồi cùng bàn ăn với bà hay về nhà.  Bà không chịu nổi những câu nói lộng ngôn của tôi hay những sự đả phá của tôi.”

Vì là người học giỏi nên Augustinô được du học ở Carthage.  Tại đây Mẹ lại tiếp tục khóc vì những thói ăn chơi của con mình.  Thời gian này Augustinô ham mê tri thức chạy theo bè rối Manikê vốn chống lại Giáo Hội.  Là người con tốt lành của Chúa, dĩ nhiên Mẹ đau lòng chứng kiến con mình rơi vào đường tội lỗi như thế.  Mẹ khóc nhiều hơn.  Khóc để kêu cầu Thiên Chúa giúp con Mẹ thoát khỏi vòng u mê đó.  Và Thiên Chúa đã nhận lời để Augustinô nhận ra bè rối Manikê không hợp lý chút nào.

Sau đó con của Mẹ nhận được một công việc tại Milan nước Ý.  Thế là trong vai trò giáo sư cho thành phố Milan, Augustinô phải làm việc gần gũi với vị giám mục Milan là thánh Ambrosiô.  Không yên tâm với con mình nơi đất khách quê người, Mẹ lên đường để tìm kiếm và tiếp tục khuyên nhủ con.  Thế là Augustinô lúc này vừa có Mẹ bên cạnh như nguồn tình cảm nâng đỡ cho cậu, vừa có Đức Giám mục như nguồn tri thức giúp cậu nhận ra chân lý.

Thiên Chúa không để Mẹ khóc nhiều hơn nữa.  Mẹ vui sướng khi biết Augustinô quyết định trở về với Giáo Hội.  Như lời chia sẻ của Augustinô: “Tôi muốn thành dự tòng đi học giáo lý cho đến khi tôi thấy được chân lý chắc chắn.  Khỏi cần phải nói, mẹ tôi sung sướng lắm.”  Dĩ nhiên bất cứ cha mẹ nào cũng đều vui sướng khi thấy con mình chọn đường ngay nẻo chính để bước đi.  Mẹ cũng thế. Lúc này chắc nước mắt Mẹ cũng rơi, nhưng đó là hai dòng cảm xúc của hạnh phúc dâng trào.  Từ đây con của Mẹ không những là con của Chúa, mà là Linh mục, giám mục tài đức, và là vị thánh nổi tiếng trong lẫn ngoài Giáo Hội.

Sau khi hạnh phúc chứng kiến con mình chịu phép rửa, Mẹ đã qua đời năm 387 và được an táng tại Ostia.  Sau này Mẹ hạnh phúc được chôn cất bên người con mà Mẹ tốn rất nhiều nước mắt.  (Xác thánh nữ được đem về nhà thờ Thánh Augustinô ở Rôma vào năm 1430.)

Mẹ biết không, khi chiêm ngắm cuộc đời Mẹ đắm chìm trong nước mắt, chúng con có dịp nhớ đến những người mẹ Công giáo đang đau khổ vì chồng con.  Thời đại hôm nay tiếc là còn nhiều người vợ, người mẹ giống như hoàn cảnh của Mẹ năm xưa.

Là bổn mạng các bà mẹ Công giáo, xin Mẹ giúp mỗi người nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ có được tinh thần tín thác nơi Chúa như Mẹ Monica.  Rồi khi gia đình gặp nhiều khó khăn khiến người vợ, người mẹ đau lòng, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho họ được mạnh mẽ trong đức tin.  Xin Chúa lau khô nước mắt của họ.  Được như thế, chúng con hy vọng trong gia đình công giáo lúc nào cũng tràn ngập niềm vui hạnh phúc.

Mừng lễ thánh Monica, Bổn Mạng Các Bà Mẹ Công Giáo

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Nguồn http://dongten.net

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐỨC KITÔ LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT (có Youtube)

Nếu chúng ta còn nhớ cách đây không lâu ở Mỹ này, nhà văn Dan Brown viết cuốn sách Da Vinci code, nó trở thành cuốn sách bestseller, được đóng thành phim, và được phổ biến khắp thế giới, trở thành “hiện tượng Da Vinci code” và làm nhiều người công giáo bị sốc.  Bởi vì trong đó Dan Brown giới thiệu một Đức Giêsu hoàn toàn khác biệt với Đức Giêsu ở trong Kinh Thánh.  Ngài là một người bình thường như mọi người, đã có gia đình, có vợ có con và giòng giống của ngài vẫn tồn tại cho đến hôm nay.  Và Giáo hội chỉ là một tổ chức chính trị và quyền lực hoàn toàn nhân loại.  Nhiều người công giáo bị sốc và lung lay đức tin và có người đã nói rằng: mấy chục năm theo đạo, tôi đã bị lừa… bây giờ người ta mới tìm biết ra Chúa Giêsu chỉ là một người đàn ông bình thường… v v….

Tôi nhắc lại sự kiện đó để chúng ta thấy rằng: Câu hỏi của Chúa Giêsu với các tông đồ hôm nay vẫn còn mang tính thời sự:  Người ta bảo Thầy là ai?  Thời Chúa Giêsu dư luận dân chúng cũng biết mù mờ về Ngài: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêremia hay một tiên tri nào đó.”  Ngày hôm nay Chúa cũng đang hỏi chúng ta:  Người ta bảo thầy là ai?  Nhiều người mang danh là Kitô hữu nhưng biết rất mơ hồ về Ngài.  Chúng ta thưa: Dạ thưa Chúa: kẻ thì nói Chúa là một nhà sáng lập tôn giáo, một nhà cách mạng tinh thần… còn Ông Dan Brown bảo Chúa lấy bà Mađalêna và có quan hệ với bà nên có vợ con đề huề….

Ngày hôm nay chúng ta đang sống trong một thế giới bùng nổ thông tin và của thị trường tự do.  Tất cả mọi thứ người ta có thể rao bán và quảng cáo.  Về mặt tư tưởng cũng thế, tôn giáo và các hệ tư tưởng cũng bị biến thành thị trường cạnh tranh mua bán, và người ta cứ việc mua thứ tôn giáo nào hợp với sở thích của mình.  Đức Kitô cũng bị nhào nặn, được đánh bóng theo sở thích và lợi nhuận của họ để rao bán khắp nơi.  Nói như Cha Cantalamessa, ngày xưa Chúa bị bán bởi Giuđa, còn hôm nay Chúa cũng bị bán bởi các nhà viết sách và làm phim, mà lợi nhuận không phải ba mươi đồng bạc nhưng là cả triệu dollar!

Nhưng chúng ta phải tỉnh thức, vì đó không phải là Đức Kitô của Kinh Thánh, của niềm tin Giáo hội, mà là Đức Kitô của “người ta”: một Đức Kitô của tưởng tượng và sự hiếu kỳ của họ.  Chúng ta không cần phải hoang mang và lo sợ gì!

Niềm tin của chúng ta vào đức Kitô được gói ghém trong câu hỏi thứ hai của Chúa Giêsu “Còn các con bảo Thầy là ai?”  Anh chị em và tôi bảo Đức Giêsu là ai?  Câu này mới là quan trọng.  Nhân danh tất cả, Phêrô trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”  Đây là mạc khải và là trung tâm điểm niềm tin chúng ta vào Đức Kitô, và kể từ năm 325 (Công Đồng Nicée) trở thành định tín Kitô học của Giáo hội mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh tin Kính: “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.  Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng.  Thiên Chúa Thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Cha, nhờ người mà muôn vật được tạo thành.  Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế…”.  Nghĩa là Đức Kitô đó là Thiên Chúa thật và người thật, vrai Dieu et vrai homme.  Ngài cũng biết khóc biết cười, Ngài cũng có nhu cầu ăn uống và nghỉ ngơi, Ngài giống chúng ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi thôi.  Nhưng Ngài là “Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, nghĩa là Ngài là chính Thiên Chúa.  Ngài nhập thể để cứu độ chúng ta nên Giáo hội tuyên xưng Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát của nhân loại.  Và nói như thánh Gioan: Ai tin vào con của Người thì được cứu độ (x. Ga 3,14).  Chỉ nhờ Ngài mà chúng ta được cứu độ.  Chỉ qua Ngài chúng ta tới Thiên Chúa.

Đức tin đó không phải là một sự hiểu biết suông, nhưng là một sự gắn bó đời mình với Đức Kitô.  Người Kitô hữu là người xây dựng cuộc đời và những dự phóng đời mình trên Đức Kitô, lấy Đức Kitô làm trung tâm điểm của cuộc sống.  Bởi vì nơi Ngài chúng ta tìm được tất cả những giải đáp cho những thắc mắc, những khát vọng sâu thẳm nhất về ý nghĩa cuộc đời.  Đó là một đức tin trưởng thành, mang tính cá vị và không bị lung lay trước thử thách.

LM Phêrô Nguyễn Hương

******************

Con tin Thiên Chúa, Cha của mọi sự sống.
Người có trước lâu những ngân hà tràn đầy vũ trụ.
Khi Người phán, con người chỗi dậy, chỗi dậy trong phẩm cách,
chỗi dậy trong những gì có thể được trong đời mình.
Người ở khởi đầu mọi sự mang lại lẽ sống cho con người. 

Con tin Con Thiên Chúa.
Ðấng đuợc sai đến, Ðấng được chọn,
Ðấng không ngừng phán lời hằng sống,
lời hi vọng, lời mở các cửa. 
Người là bạn, là người anh.
Nhờ Người, cơm bánh được chia sẻ,
Và trở nên hơn cơm bánh.

Con tin Chúa Thánh linh.
Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con.
Người đã đến để chúng ta biết sự thiếu sót, sự vắng mặt.
Người là Ðấng đã xuống
Khi Chúa Con đã lên.
Từ đó, lửa không ngừng bừng cháy
Trong lòng người. 

Con tin Giáo hội.
Một Giáo hội đón nhận mọi người,
người quyền thế cũng như người thấp kém.
Một Giáo hội phát sinh trong mong đợi và hi vọng.
Một Giáo hội của thế giới công bằng và chân chính,
Dám làm những gì mình nói và công bố.
Với tất cả các tiên tri,
Chúng con nói rằng Ðấng hằng sống
ở trong Giáo hội luôn mãi.

Hiền Hoà chuyển dịch

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.