LẠY CHÚA CỦA CON! LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!

Một người đã băng ngàn lội suối để kiểm chứng cho rõ về danh tiếng đồn đãi của Minh Sư.  Ông ta hỏi một đệ tử:

– Minh Sư của anh đã làm được những phép lạ nào?

– Này ông bạn, có những phép lạ khác nhau. Trong xứ bạn, người ta bảo phép lạ là khi Thượng Đế làm theo ý muốn của một người. Còn trong xứ chúng tôi, người ta bảo phép lạ là khi một người làm theo ý muốn của Thượng Đế .

(Anthony de Mello – Trích trong “ One Minute Wisdom”)

* * * * *

Bạn thân mến,

Trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay cũng thuật lại phép lạ Đức Giêsu đã làm khi Ngài từ cõi chết sống lại và đi thăm các môn đệ: Ngài đến giữa các ông trong khi cửa phòng đều đóng kín. (Ga:20.19).  Ngài đến giữa các ông và ban bình an cho các ông (Ga:20.19,21,26); thứ bình an ngay giữa những bất an, dao động . Ngài đưa các ông ra khỏi nỗi sợ hãi co quắp, đưa các ông ra khỏi căn nhà đóng kín cửa âm u.  Ngài cho các ông xem các vết thương (Ga:20.21). Qùa tặng mà Ngài mang đến cho các ông là: ”Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần”, và Ngài mời gọi các ông tham dự vào sứ mạng của Ngài: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga:20.21)

Các môn đệ vui mừng vì được xum họp với Thầy mình, nhưng chỉ có một người không vui, đó là Tôma.  Ông vốn có óc thực tiễn (Ga 11,16; 14,5).  Chẳng rõ vì sao ông bị hụt không gặp Chúa Giêsu Phục Sinh.  Chỉ biết ông đã “không ở với” các môn đệ, lúc Ngài đến.  Có vẻ giữa ông và cả nhóm có cái gì xa cách.  Sự xa cách này trở nên rõ rệt hơn khi ông thẳng thắn từ chối tin vào lời chứng của các bạn: “Chúng tôi đã thấy Chúa.”  Nhưng ông lại rất tin vào chính mình, vào giác quan của mình.  ” Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin đâu.” (Ga:20.25).  Ông có thái độ như một nhà khoa học thực nghiệm.

Chúa Giêsu Phục Sinh đến với nhóm, nhưng Ngài không quên một ai.  Ngài muốn gặp Toma và cho Tôma được toại nguyện. Tám ngày sau, khi Tôma ở với nhóm, thì Ngài lại hiện đến.  Ngài chê ông cứng lòng trước những lời chứng của anh em: ”Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga:20.27).  Trước lời nói đầy yêu thương và chân thật của Thầy mình, sự cứng lòng của Toma đã trở nên mềm nhũn, ông đã không nói thêm được điều gì khác ngoài việc tuyên xưng đức tin của mình: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga:20.28).

Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.  Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga:20.29).  Đó là lời nói mà Chúa Giêsu Phuc Sinh đã nói với Tôma xưa kia.  Lời nói ấy cũng là lời nói mà Chúa Giêsu Phục Sinh nói với mỗi người chúng ta hôm nay.  Ðức tin của chúng ta hôm nay dựa trên đức tin của những người đã thấy và đã tin, đã dám hy sinh mạng sống của mình để rao truyền về Chúa Giêsu Phục Sinh

Chúa Giêsu đã cho Tôma được “thấy và chạm” đến Ngài và ông đã tin. Tôi và bạn cũng được mời gọi cộng tác với Chúa Giêsu, với các môn đệ của Ngài để rao truyền về Chúa Giêsu Phục sinh, để đức tin của những người chung quanh ta cũng được thay đổi và kiên vững như Tôma xưa kia.

Truyền giáo là làm cho người ta tin, làm cho người ta thấy và chạm đến Thiên Chúa.  Nhưng trước hết, mỗi người chúng ta phải nói được rằng: “Tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,18).  Chúng ta cần thanh thoát như người đã đụng đến trời cao, cần bay lên khỏi cái nặng nề của thân xác như người đã cảm được cái nhẹ bổng của linh hồn.

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, Chúa đã sống trọn vẹn cuộc Vượt Qua của Chúa, xin cho con biết sống cuộc “vượt qua” mỗi ngày trong đời con:

  • Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
  • Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.
  • Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhọc nhằn của thân xác.
  • Vượt qua đêm tăm tối cô đơn trong đời sống thiêng liêng.
  • Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
  • Vượt qua những thành kiến con có về người khác…

Chính vì Chúa đã phục sinh, xin ban cho con sức mạnh và ơn can đảm để “vượt qua”, dù phải chịu mất mát và  thua thiệt.

Ước gì con biết noi gương Chúa Giêsu Phục Sinh, luôn gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui. Amen

(Trích từ R. Veritas)

MỘ TRỐNG

Vào Chúa Nhật Phục Sinh chúng ta được nghe công bố Tin Mừng Gioan 20:1-9, Ngôi Mộ Trống.  Nếu thấy ngôi mộ trống là tin Thầy mình, Đức Giêsu thành Nazarét, đã sống lại thì chưa đủ yếu tố để tin.  Giả thuyết xác bị trộm thì không đúng vì chẳng có ai đi ăn trộm xác chết đã bắt đầu sình thối mà lại bỏ giờ tháo các băng vải đầy máu me của xác chết ra, rồi xếp lại gọn gàng.  Chỉ có mấy tên điên mới làm điều đó.  Nhìn theo nghĩa đen thì chúng ta chỉ có thể chứng minh được như vậy, chúng ta được mời gọi nhìn biến cố này bằng một ánh mắt khác.  Mời anh chị em cùng tôi đi với Thánh Phêrô đến mồ sáng hôm đó.

Thánh sử Gioan kể rằng các phụ nữ sáng sớm ra mộ và thấy mộ trống thì hốt hoảng chạy về báo tin cho Thánh Phêrô và “người môn đệ Chúa yêu,” mà chúng ta thường liên tưởng đến Thánh Gioan Tông Đồ.  Lúc đó các môn đệ của Đức Giêsu đang hoang mang vì biến cố tang thương của Thầy mình và sợ hãi vì cuộc lùng bắt của các Thượng tế.  Khi nghe các phụ nữ báo tin, các Ngài càng thêm hoảng sợ.  Thử hình dung tâm trạng của Thánh Phêrô lúc đó, đang đau buồn vì chối Thầy mình và tức giận vì chúng nó giết Thầy mình.  Khi nghe tin các phụ nữ báo, Ngài nghĩ ngay đến đám Thượng tế và Pharisêu thế nào cũng là những kẻ chủ mưu trong vụ này.  Tức giận đến độ muốn phát điên, Ngài đã mở toang cửa bước ra.  Chúng nó “chơi bẩn” quá độ, chúng đã giết Thầy mình rồi mà nay cái xác của Thầy mình mà chúng cũng chẳng tha.  Tao sẽ “chơi” đủ với chúng.  Tao mà bắt được thằng nào làm chuyện này thì tới đâu tao cũng “chơi” hết.  Đi theo Thầy đã nhiều năm mà Ngài còn dám vác dao chém người ta thì thử nghĩ trước khi gặp Thầy Giêsu cuộc sống của ông Simon Phêrô này dữ tợn cỡ nào.  Khi mà ông ta đang tức giận và nổi khùng lên thì chắc chẳng ai dám bén mảng đến gần hay can gián Simon đâu.

Thánh Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu đi ra mộ.  Ngài quên mình là kẻ đang bị lùng bắt, ngài quên cả nỗi sợ hãi của mình, trong tâm trí Ngài lúc đó chỉ còn hình ảnh Thầy mình mà thôi.  Và Thánh sử viết: “Cả hai cùng chạy.”  Văn hóa, xã hội, tôn giáo và chính trị của Do Thái thì không có chạy, vì khi chạy là có chuyện náo động, ai chạy thì lính Roma bắt và đánh đập vì làm huyên náo.  Khi chạy, các Ngài đã thoát ra ngoài và vượt lên trên tất cả những lề luật của văn hóa, xã hội, tôn giáo và chính trị.  Người môn đệ Chúa yêu chạy đến mộ trước nhưng chờ Thánh Phêrô vào trước rồi mới theo vào sau.  Thánh Phêrô được Đức Giêsu chọn làm đầu Giáo Hội, là người đại diện Giáo Hội.  Người môn đệ Chúa yêu đi vào theo sau Thánh Phêrô là hình ảnh Người Môn Đệ của Chúa đi vào mồ với Giáo Hội và trong Giáo Hội.

Thánh Phêrô và Người Môn Đệ thấy ngôi mộ trống với các băng vải và khăn che mặt được xếp riêng một nơi.  Họ đi vào mồ với tâm trạng hoang mang, tức giận, hận thù và đau đớn… một tâm hồn đầy thương tích.  Thầy của họ, Đức Giêsu thành Nazarét, là Thiên Chúa và là một con người bằng xương bằng thịt, cũng đã vào mộ với những vết thương tích của trần thế và băng vải cột chặt theo văn hoá và tôn giáo của người Do Thái.  Đức Giêsu đã tháo gỡ tất cả những băng vải đã cột chặt, bó buộc Ngài với một văn hoá; một tôn giáo và một thân xác con người.  Đức Giêsu đã sống lại và trở lại với hình ảnh nguyên thủy của Ngài là một Chúa Giêsu, một Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã để lại tất cả những đau thương ràng buộc của đau khổ và Bóng Tối ở trong mồ, Ngài bước ra với một thân xác mới và một sự sống mới.  Với khả năng hạn hẹp của con người, chúng ta chưa ai có được sự cảm nghiệm thân xác Phục Sinh của Chúa Giêsu như thế nào, vì Ngài có thân xác để có thể ăn uống và đụng chạm được như chúng ta, nhưng lại có thể đi xuyên qua tường và có thể thay hình đổi dạng như bóng ma. (Mc 16:12).

Thánh Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu cũng đã đi vào mồ với những ràng buộc của thân xác con người: hoang mang, đau đớn, tức tưởi, hận thù, v.v… là những băng vải đã ràng buộc họ trong lề luật, văn hoá, tôn giáo, để được chính Chúa Giêsu tháo gỡ những băng vải đó.  Họ đã vào và đã tin, đã đi ra khỏi mồ với một thân xác mới, con người mới, một trái tim mới và một đức tin mới.  Họ ra khỏi mồ với một tâm hồn đầy Thần Khí Yêu Thương, Tha Thứ, Nhân Từ và xác tín vào Thiên Chúa.

Mỗi Người Môn Đệ của Chúa cũng được mời bước vào mồ với Thánh Phêrô và với Giáo Hội trong Tin Yêu để được chính Chúa Giêsu tháo gỡ những băng vải của tất cả những nỗi lo lắng, hoang mang, thành kiến, vết thương tâm hồn, hiểu lầm, uất ức, hận thù, ganh ghét, đam mê, v.v… để có thể bước ra khỏi mồ cùng với Thánh Phêrô và Giáo Hội với một thân xác mới, con người mới, một trái tim mới đầy tràn Thần Khí và Yêu Thương.  Nhờ vào ân sủng, lòng nhân từ và hay tha thứ của Thiên Chúa, Người Môn Đệ bước vào mồ để được bỏ lại trong mồ những gì thuộc về Bóng Tối của Sự Dữ để bước ra khỏi mồ với một sự sống mới trong Ánh Sáng Tin Yêu của Thiên Chúa và được sống sung mãn trong Ngài.  Người Môn Đệ đã sống lại với Chúa Giêsu.  Người Môn Đệ đã bước ra khỏi mồ với dấu ấn từ tấm khăn che mặt của Đức Giêsu được in lên trọn thân xác và tâm hồn mình để thân xác mới này chỉ còn mang một khuôn mặt: Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh.

Người môn đệ Chúa yêu này là ai?  Là Người Môn Đệ yêu Chúa và muốn dấn thân theo Chúa.

Người Môn Đệ là ai?  Là những người đón nhận Lời Chúa và đem ra thực hành.

Những người này là ai?  Họ không phải là các môn đệ của Đức Giêsu thành Nazarét năm xưa, mà họ là những Môn Đệ của Chúa Giêsu ngày hôm nay. Chính Thiên Chúa đã thương mời gọi họ làm nghĩa tử và làm môn đệ, để thay Chúa ; hợp tác với Chúa trong chương trình cứu độ của Ngài.  Họ là những anh chị em đã và đang đón nhận Ngài ; làm chứng nhân cho Ngài trong lời nói, cử chỉ và hành động trong cuộc sống mỗi ngày của họ.

Xin Thiên Chúa thương đón nhận mỗi người chúng con, dù rằng chúng con là những kẻ bất trung và bội ước, hay yếu đuối và mỏng dòn, được vào Ngôi Mộ của Chúa để chính Chúa tháo gỡ những băng vải ràng buộc chúng con trong Bóng Tối mà chúng con không có khả năng tự tháo gỡ, để chúng con được bước ra khỏi mồ với lòng đầy Tin Yêu và được sống Tự Do như Con Thiên Chúa, để thân xác và tâm hồn chúng con chỉ còn mang một hình ảnh là Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh.  Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
March 21, 2008

ĐỒI THẬP TỰ

Năm nào vào Tuần Thánh chúng ta cũng suy ngắm cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.  Mời anh chị em cùng tôi lên lại đồi Golgotha năm xưa để cùng suy ngắm biến cố đau thương, đầy ân sủng và trọng đại này.

Trên cây thập tự, Chúa Giêsu đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).  Chúa Giêsu đã nhìn thấy gì để rồi Ngài thốt lên lời này?  Ngài thấy các nạn nhân của Lề Luật và của cơ chế xã hội chính trị Roma mà người dân đang bị làm nô lệ.  Chúa Giêsu cũng thấy các tội nhân, vua Roma, quan Philatô, thượng tế, Pharisêu, kinh sư và luật sĩ, là những người dùng danh, quyền và tiền của mình để làm khổ các dân nghèo.  Nhưng trong ánh mắt của Chúa Giêsu, Ngài thấy các tội nhân này cũng là các nạn nhân.  Họ là nạn nhân của Bóng Tối.  Họ đang làm nô lệ cho Sự Dữ mà chính họ cũng không biết.  Khi Chúa Giêsu trên thập tự cầu nguyện: “Xin tha cho họ,” Ngài muốn ám chỉ đến những tội nhân này.

Lúc đó chắc Quỷ Vương và các Quỷ Con cũng đang hiện diện trên ngọn đồi ấy.  Chúng đang vui mừng lắm vì kế hoạch mà chúng đã dồn hết mọi nỗ lực vào nay sắp hoàn tất.  Chương trình của chúng là dụ dỗ con người chối bỏ Thiên Chúa, và hơn thế nữa, giết Con Thiên Chúa.  Chúng trông chờ giây phút Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng trong đau đớn, nhục nhã, ê chề, để bắt đầu cuộc liên hoan vì con người đã từ chối Ánh Sáng để chấp nhận sống kiếp nô lệ trong Bóng Tối Sự Dữ.  Họ trước là con cái của Thiên Chúa nhưng nay sẽ là con cái, nạn nhân và nô lệ dưới sự cai trị của Bóng Tối.

Thiên Chúa Cha cùng với triều thần Thiên Quốc lúc đó cũng đang chứng kiến cảnh này.  Bọn Quỷ vui mừng bao nhiêu thì Chúa Cha và các Thần Thánh trên Trời đau đớn bấy nhiêu.  Chúa Cha đau đớn vì nhìn thấy con mình đang vất vưởng, quằn quại trên cây thập tự; Ngài thấy các con cái của Ngài, các nạn nhân và tội nhân, đang từ chối lời mời gọi sống trong Ánh Sáng Yêu Thương, và chấp nhận làm tôi cho Bóng Tối Hận Thù.  Và Cha khóc trong im lặng.

Giây phút cuối cùng rồi cũng phải đến.  Chúa Giêsu gục đầu tắt thở.

Quỷ Vương, Quỷ Con vui mừng hớn hở vì cái bẫy chúng giăng ra nay đã thành công mỹ mãn.  Chúng reo mừng trong chiến thắng và chuẩn bị rút quân về để liên hoan.  Chúng nay không cần phải lo làm gì nữa vì tất cả con người đã thuộc về chúng, chúng không cần phải lo đi dụ dỗ con người nữa vì họ đã chấp nhận sống trong tội lỗi, hận thù, ganh ghét và chà đạp nhau.

Cả Triều Thần Thiên Quốc đau đớn và sững sờ chứng kiến cảnh Con Thiên Chúa gục ngã trên thập tự.  Chúa Cha vẫn im lặng, chờ đợi.  Chúa Cha đau khổ vì thấy con cái của Ngài đang ngụp lặn trong vũng bùn Tội Lỗi mà tưởng chừng như không có lối thoát.  Giây phút Chúa Giêsu tắt thở cũng là lúc Chúa Giêsu đã hoàn tất chương trình của Chúa Cha.  Chúa Giêsu không còn đau khổ vì thể xác con người nữa, nhưng Chúa Cha vẫn đau khổ vì các con cái của Ngài.

Khi có những người, như anh đại đội trưởng, nhìn cảnh thập tự hành hình ghê rợn nhất và tội lỗi nhất mà con người có thể làm ra, mà người tử tội tên Giêsu vẫn có thể can đảm tha thứ được cho con người, thay vì chửi rủa như các nạn nhân khác, thì anh ta đã tin: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54).  Đang ngụp lặn trong Bóng Tối mà anh đại đội trưởng nhìn ngắm lên thập tự và nhận lãnh được ân sủng như một tia Ánh Sáng kéo anh ta ra khỏi Bóng Tối Tội Lỗi.  Và từng người một, từng người ngắm thập tự và bước ra khỏi vùng Nô Lệ.

Quỷ Vương đang vui, nay sững sờ.  Chương trình của hắn đã dầy công sắp đặt đến độ hoàn chỉnh mà nay lại thấy từng người một đã từng là nô lệ của nó, mà lại có thể thoát ra khỏi quỹ đạo đó để quay trở về.  Nó tìm cách kéo lại, nhưng những tâm hồn này nay đang chìm ngập trong Thần Khí và tiếp tục đi về vùng Ánh Sáng.

Các Thần Thánh trên Trời cũng ngạc nhiên không kém.  Từ khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, tưởng rằng chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã đổ vỡ.  Ngờ đâu, nhờ thập tự đó mà lại có nhiều tâm hồn được lãnh nhận ơn cứu độ.  Cứ mỗi lần có một tâm hồn từ vùng Bóng Tối quay trở về vùng Ánh Sáng là lại một lần cả Triều Thần Thiên Quốc vui mừng rơi lệ trong sung sướng vì thấy anh chị em của họ đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. (Lc 15:24).

Chương trình cứu độ của Chúa Giêsu mà Chúa Cha giao phó đã hoàn tất và Chúa Giêsu trở về với Chúa Cha, nhưng chương trình cứu độ của Thiên Chúa thì vẫn chưa hoàn tất vì ngày hôm nay còn nhiều tâm hồn vẫn còn đang ngụp lặn trong Tội Lỗi và làm nô lệ cho Bóng Tối.  Ngày hôm nay, ngay giây phút này đây, Chúa Cha vẫn nhìn các con cái Ngài đang ngụp lặn trong Vũng Bùn mà lòng quặn đau.

Thử hình dung cu Tèo chạy về nhà thấy mẹ nó đang khóc, hỏi ra thì được biết ba nó vừa bị tai nạn xe cộ và đang chở đi cấp cứu, anh nó đi bắt cá bị lật ghe bây giờ chưa biết sống chết thế nào, người anh khác vừa bị đuổi việc… Nghe xong, nó nói với mẹ: “Mẹ cho con xin vài chục để … đi chơi game!”  Bạn nghĩ sẽ cho cu Tèo mấy điểm từ 1 đến 10?

Cha chúng ta đang đau khổ vì thấy nhiều con cái của Ngài đang sống trong cảnh nô lệ của Bóng Tối và Tội Lỗi, Ngài cũng có được những người con khác đang sống trong Ánh Sáng và Sự Thật, nhưng những đứa này cứ mỗi lần chạy đến là xin Cha cho con cái này, xin Cha cho con cái nọ, còn Cha nó đang vui hay buồn hay đau khổ thì hình như chúng chẳng quan tâm.

Nhiều người đã nhìn ngắm thập tự, được ơn cảm nghiệm Trở Về, và thấy khuôn mặt của Cha.  Họ không muốn rời Cha nữa.  Họ thấy Cha đau khổ quá và không muốn xin Cha cho họ cái gì nữa.  Họ chỉ muốn làm cái gì đó để giải khuây nỗi đau khổ của Cha.  Có người đã hiến mình để cả đời chỉ lủi thủi trong bốn bức tường của một tu viện để ngồi bên Cha như cô Maria (Lc 10:38-42), để “Con hát cho Cha nghe nhe, con quạt cho Cha mát nhe,” và để cầu nguyện cho những tâm hồn đang còn chìm đắm trong Bóng Tối được ơn trở lại.  Những lời cầu nguyện của những người này như những tia Ánh Sáng đi vào trong vùng Bóng Tối để kéo những tâm hồn đang ngụp lặn trong đó ra vùng Tự Do.  Những tâm hồn đón nhận Ánh Sáng thì được Thần Khí dẫn ra khỏi vùng Bóng Tối Tội Lỗi và được ngập lặn trong Thần Khí Yêu Thương.  Mỗi lần có một tâm hồn trở về là Cha vui mừng lắm.

Có những đứa con được ơn cảm nghiệm Trở Về nhờ lòng nhân từ của Cha, và họ muốn thét lên cho cả thế giới biết tình thương của Cha.  Họ đã chạy bôn ba khắp phố phường để đi tìm các con chiên lạc về cho Cha để làm Cha vui hơn.  Họ đi vào vùng Bóng Tối để tìm anh em họ, mỗi lần quay về là áo họ dính đầy “Bụi Bóng Tối,” nhưng họ quyết chí tiếp tục lên đường dù rằng sẽ tiếp tục bị dính “Bụi,” họ đi và dẫn về những tâm hồn cho Cha.

Anh chị em thân mến, Cha chúng ta vẫn đau khổ vì còn nhiều con cái của Ngài, là anh chị em của chúng ta, còn đang ngụp lặn trong vũng bùn Tội Lỗi.  Xin anh chị em cùng tôi cầu nguyện cho các tâm hồn đang còn sống xa Tình Yêu Thương.  Mến chúc anh chị em một Tuần Thánh đầy ơn cảm nghiệm Trở Về nhờ vào lòng nhân từ của Chúa.  Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con được ơn cảm nghiệm khuôn mặt của Chúa, để chúng con hiểu và cảm thông với Chúa hơn, yêu Chúa hơn, và chọn Chúa là đối tượng duy nhất của chúng con.  Amen.

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J.
March 19, 2008

CHÚA ĐÃ PHỤC SINH

Chúa Giêsu Ki-tô đã Phục Sinh…. Thánh Gioan đã tường thuật trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay như một nhân chứng mắt thấy tai nghe.  Ngài diễn tả hành trình mà các tông đồ, cụ thể là Maria Macđala, Phêrô và Gioan đã trải qua để tiến đến niềm tin ”Chúa đã Phục Sinh”.

Thánh Phaolô quả quyết: “Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta là điều vô ích,… chúng ta là những người khờ dại nhất vì chúng ta tin tưởng vào một điều hão huyền” (1Cr 15,12-19).

Vậy Phục Sinh là gì ? Đâu là ý nghĩa của biến cố Phục Sinh ?

Ðể hiểu thấu mầu nhiệm Phục Sinh, chúng ta cần dừng lại thật lâu bên mộ Chúa.  Một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai (Ga 19,41). Ngôi mộ này của ông Giô-xép, người trong Thượng Hội Ðồng, và cũng là một môn đệ âm thầm của Ðức Giêsu. Ông đã đến gặp chính quyền để xin xác của Thầy mình và tẩm liệm cẩn thận.  Hãy đến thăm mộ Chúa vào ngày thứ Bảy, thật vắng lặng, không có ai. Ngôi mộ nằm im lìm như trăm ngàn ngôi mộ khác.  Một tảng đá to ngạo nghễ che cửa mồ.  Kẻ thù Chúa đã hả hê vui sướng vì đã nhổ được một cái gai. Tử thần đắc ý vỗ tay reo vui vì Ðấng là Sự Sống đã bị thất bại.  Xác Ðức Giêsu nằm trong mộ tối tăm, như hạt lúa ủ trong lòng đất. Có ai nghe được tiếng hạt giống cựa mình không?  Có ai thấy được một mầm non đang nhú không?

Ðêm dài quá! Ba phụ nữ chỉ mong cho chóng sáng. Họ thấp thỏm không ngủ được, chỉ nghĩ đến ngôi mộ với xác của Thầy nằm trong đó. Và khi lóe lên những tia nắng đầu tiên của mặt trời, thì cả ba bà đã sẵn sàng ra thăm mộ, với dầu thơm vừa mua được để ướp xác.  Khi đi đường, họ chỉ có một nỗi bận tâm: “Ai sẽ lăn giùm tảng đá ra cho chúng ta?” Tảng đá to thật là một trở ngại… Nhưng lạ thay, khi đến nơi, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra một bên, và xác của Thầy cũng không còn ở trong mồ.

Từ ngôi mộ, từ tối tăm chết chóc và rữa nát, sự sống đã bật dậy, làm bàng hoàng sửng sốt. Không cần phải lăn tảng đá. Không cần phải xức dầu thơm.  Cửa mộ đã mở toang, vì ngôi mộ không thể chứa được Ðấng đã phục sinh …

Phục Sinh của Đức Giêsu không có nghĩa là hồi sinh trở về đời sống cũ, giống như trường hợp con trai bà góa thành Na-im (Lc 7,11-17), như con gái ông Gia-ia (Lc 8,40-56), và đặc biệt như ông La-za-rô (Ga 11,1-45).  Cả ba trường hợp này người chết đã sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ, và một ngày nào đó họ cũng phải theo số phận chung của loài người là phải chết một lần nữa, phải trở về với bụi đất. Họ vẫn còn nằm dưới quyền thống trị của sự chết.

Phục Sinh của Đức Giêsu là Ngài đã sống lại từ cõi chết. Ngài không sống lại một thời gian để rồi lại phải chết. Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết. Sự chết không còn làm gì được Ngài. Không định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài

Phục Sinh của Đức Giêsu đã trở nên nguồn mạch sự sống và sự sống lại của mỗi người chúng ta. “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,24)

* * * * *

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh,

Vẫn có những ngôi mộ trong đời con.  Những ngôi mộ chôn vùi bao ước mơ, hy vọng, bao điều con yêu mến và ấp ủ.  Chúng như dấu hiệu của mất mát, đổ vỡ, khổ đau, thất bại …  Nhưng sự Phục Sinh của Chúa làm con tin rằng chẳng có mất mát, khổ đau, thất bại nào lại không thể làm con bừng tỉnh, lớn lên và trưởng thành.  Ước gì giữa nước mắt, con cảm nghiệm được niềm vui, dám chôn đi điều phải chôn, mất đi điều phải mất.

Lạy Đấng là Nguồn Mạch Sự Sống,

Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con. Amen

(Trích từ  R. Veritas)

MẸ SẦU BI DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ

Hỡi Bà!  Đây là con bà.  Hỡi con!  Đây là Mẹ con.

Hỡi Bà!  Hỡi người đàn bà!  Mẹ Maria tượng trưng cho dân mới, cho những người nghèo, những người đang sống trong hy vọng được giải thoát và tự do.

Đối với Thánh sử Gioan, Mẹ của Chúa Giêsu là người tin và kêu gọi người khác vâng phục lời Chúa.  Mẹ biết tất cả nhu cầu của dân Chúa và trình lên với con Mẹ.  Và Mẹ cũng biết rằng, chỉ có thái độ vâng phục lời Chúa mới có thể mang lại những đổi thay.  Mẹ là mẫu mực của sự vâng phục, Mẹ đã đi theo Chúa Giêsu trong suốt cuộc hành trình và sứ vụ công khai của Ngài.  Từ lúc khởi đầu cho đến lúc Ngài chịu treo trên thập giá.

Dưới chân thập giá, Mẹ đã trở thành Mẹ của tất cả các môn đệ của Chúa Giêsu.  Nơi Mẹ cũng như Chúa Giêsu, họ hiểu được ý nghĩa của nghèo khó, khiêm hạ, vâng phục, cảm thông và xót thương.  Sau Thánh Thần là ơn ban đầu tiên, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ cho Giáo Hội, cho những người anh em của Ngài.

Dưới chân thập giá Chúa Giêsu, hình ảnh này của Mẹ vẫn được tiếp nối bởi không biết bao nhiêu người phụ nữ, những người mẹ can đảm trong lịch sử nhân loại.

***************

Vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh tại các nước châu Mỹ La-tinh được cử hành với một truyền thống rất đặc biệt, ở đó người ta sống lại sự hiện diện của Mẹ Maria dưới chân thập giá Chúa Giêsu:  các phụ nữ tập trung lại dưới chân thập giá, họ đi lại từng bước những khổ nạn của Chúa Giêsu trong tiếng hát, trong những lời cầu nguyện và cả trong tiếng khóc nữa.

Các tín hữu còn giữ một truyền thống khác gọi là “chia buồn”.  Truyền thống này được cử hành sau nghi thức phụng vụ của Giáo Hội vào chiều thứ sáu Tuần Thánh:  mọi người trở vào nhà thờ để an ủi Đức Mẹ sầu bi, như thể được ở bên Mẹ khi Mẹ đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu, dân chúng chia sẻ nỗi đau của Ngài, vừa nói lên chính nỗi đau của họ.

Trong nghi thức truyền thống chia sẻ nỗi đau buồn này là bức tượng của người phụ nữ mặc áo đen đứng dưới chân thập giá, khi xác Chúa Giêsu được tháo gỡ khỏi thập giá, thì bức tượng của người phụ nữ được đặt ở đầu chiếc quan tài.  Người phụ nữ mặc áo đen ấy dĩ nhiên tượng trưng cho Mẹ Maria, là Mẹ của người con bị hành quyết, là người đàn bà luôn phấn đấu để tin vào sứ điệp của con.  Mẹ đã phải dằn lại cơn giận dữ trước thái độ phản bội của dân chúng, và của những người môn đệ thân tín của Chúa Giêsu.  Mẹ đã phải tha thứ cho tất cả mọi người.

Sự hiện diện của Mẹ là một nhắc nhở cho dân chúng rằng:  Chúa Giêsu không hoàn toàn bị bỏ rơi trên thập giá, vẫn có một người đứng bên cạnh Ngài trong cơn hấp hối của Ngài.  Chính nhờ sự hiện diện này mà Mẹ đã trở thành Mẹ mẫu mực của chúng ta.  Sự hiện diện của Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu cũng gợi lên cho chúng ta không biết bao nhiêu khổ đau của con người.  Bóng thập giá bao phủ khắp nơi, khổ đau không miễn thứ bất cứ một người nào.

Dưới chân thập giá Chúa Giêsu, Mẹ Maria ôm lấy tất cả mọi con cái Ngài, tất cả đều được ủy thác cho Mẹ.  Mẹ đứng bên cạnh tất cả những ai đang đau khổ.  Mẹ âm thầm chia sẻ và chịu đựng nỗi khổ đau của từng người như thể của riêng Mẹ.  Con người dễ dàng liên đới và cảm thông trong đau khổ.

Đó là tư tưởng cần được nuôi dưỡng khi chúng ta chiêm ngắm Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu.  Bên Mẹ chúng ta cảm nhận được không biết bao nỗi khổ đau của những người xung quanh chúng ta.  Bên Mẹ, với tước hiệu Mẹ Sầu Bi, chúng ta được mời gọi chia sẻ, san sớt nỗi khổ đau của mọi người.

R. Veritas

***************

Lạy Mẹ Sầu Bi, xin cho con biết noi gương Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu để chấp nhận những khó khăn sầu khổ, những mất mát chia lìa, những phản bội đớn đau trong cuộc sống.  Xin luôn nhắc con nhớ rằng Mẹ luôn đồng hành bên con như xưa Mẹ đã cùng đồng hành với Chúa Giêsu con Mẹ lên đồi Golgotha.  Amen!

NÊN THÁNH GIỮA ĐỜI (có Youtube)

Theo giáo lý Công giáo, các thánh là những người sống tốt lành đạo đức trong cuộc sống trần gian, và nay, sau khi đã kết thúc hành trình trần thế, họ đang được hưởng hạnh phúc thiên đàng.  Khi sống ở đời này, họ đã kiên trì cộng tác với ơn Chúa, nỗ lực cố gắng để vượt qua những cám dỗ đời thường và sống trọn lành, thanh tịnh.  Giáo Hội Công giáo tôn những tín hữu này là những đấng thánh, vì họ phản ánh trung thành sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Có những vị thánh đã trung kiên theo Chúa và làm chứng cho Ngài, dù phải đổ máu, như trường hợp các thánh tử đạo.  Các vị thánh theo đúng nghĩa là những vị được tôn phong và được tôn kính trên các bàn thờ.  Cũng có những vị thánh, dù không được Giáo Hội phong thánh, nhưng trước mặt Chúa, họ tinh tuyền thánh thiện và đang cùng với triều thần ca ngợi vinh quang của Đấng Tối Cao.  Trong số đó, có những người thân của chúng ta, có những người suốt đời âm thầm gieo hạt công bình bác ái, có những người chỉ đơn giản chu toàn bổn phận của mình một cách trọn vẹn, có những người dù nghèo khổ, cơ hàn, bệnh tật, nhưng vẫn vững một niềm cậy trông.

Từ buổi sơ khai của Giáo Hội, những người tin Chúa và gia nhập Đạo được gọi là “các thánh” hoặc “dân thánh.”  Thánh Phaolô, trong các thư giáo huấn của ngài, đã để lại cho chúng ta những chứng từ này (x. 1Cr 1,2).  Họ hiệp thông với nhau trong kinh nguyện, trong đời sống và trong những nghĩa cử chia sẻ bác ái.  Nhờ lời giảng dạy của các tông đồ, họ say sưa tìm kiếm Đấng quyền năng vô biên mà họ gọi là Thiên Chúa.  Ngài là Đấng ngàn trùng chí thánh, hoặc là Nguồn của mọi cội nguồn.  Đức tin khẳng định với họ, Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ muôn loài.  Con tim nói với họ, Chúa là Đấng đáng yêu mến và kính tin.  Hành trình đức tin của họ cũng là hành trình tìm kiếm Chúa.  Những con tim khao khát Chúa chẳng bao giờ thỏa mãn, vì càng khám phá ra Chúa, thì lòng ao ước muốn kết hợp lại càng thâm sâu mãnh liệt hơn.  Thánh Augustinô là một ví dụ điển hình.  Ngài đã viết: “Lạy Chúa, Ngài đã dựng nên chúng con để hướng về Ngài, và tâm hồn chúng con không nghỉ ngơi cho đến khi nghỉ yên trong Ngài.”

Nên thánh là mục đích của đời sống Kitô hữu. “Chúng con hãy nên thánh, vì Ta là Thánh” (Lv 11,45).  Đó là lời mời gọi từ thời Cựu ước.  Chúa Giêsu không tách biệt khỏi giáo huấn của truyền thống, Người tiếp nối lời mời gọi ấy: “Hãy nên thánh thiện như Cha các con trên trời là Đấng thánh thiện” (Mt 5,48).  Nên thánh vừa là một chuỗi cảm nghiệm sự ngọt ngào của ân sủng, vừa là một cuộc chiến đấu gian nan không ngừng.  Bởi lẽ, con người sống ở trần gian như giữa sóng cả ba đào, phải khôn ngoan bền chí mới có thể đứng vững.  Sống trên đời là đi vào cuộc giao tranh khốc liệt giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa cái thanh tao và dung tục, giữa ánh sáng và tội lỗi, giữa chọn lựa Thiên Chúa và chọn lựa thế gian.  Cuộc giao tranh ấy xảy đến mỗi ngày, rất nghiệt ngã cam go.  Trong lịch sử, có nhiều người đã kiên gan trung tín, chiến thắng ba thù (ma quỷ, thế gian, xác thịt) để nên hoàn thiện.  Tuy vậy, cũng có những người không bền tâm vững chí, ngã gục trước những cám dỗ của cuộc đời.  Dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn không mất hy vọng.  Thiên Chúa là Cha yêu thương không bỏ rơi những ai cậy trông phó thác nơi Ngài. “Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, mỗi tội nhân đều có một tương lai”, những người đã một thời lầm lỗi, nay nhận ra con đường chân lý để sám hối trở về, sẽ được Chúa yêu thương tha thứ và giang rộng vòng tay thân thương đón nhận.  Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” trong Tin Mừng Thánh Luca đã chứng minh điều ấy.  Trong cuộc chiến đấu này chúng ta không đơn lẻ một mình, vì có Chúa luôn ở cùng với chúng ta.  Cùng với ơn Chúa, chúng ta còn sự nâng đỡ của cộng đoàn đông đảo các thánh trên trời, tức là những người đã đạt tới sự hoàn thiện.  Ngoài ra, chúng ta còn có tình hiệp thông huynh đệ của anh chị em tín hữu trong Giáo Hội, điều mà chúng ta gọi là “Mầu nhiệm các thánh cùng thông công.”  Nhờ sự hiệp thông huynh đệ này, chúng ta vững tin bước đi trong cuộc đời mà không còn sợ vấp ngã.

Nếu hiểu các thánh là những người, qua cuộc sống của mình, phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa Tối Cao, thì trong cuộc sống xung quanh ta, có rất nhiều vị thánh.  Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Ngài là nguồn mạch của sự thánh thiện.  Ngài là khởi nguyên của Chân, Thiện, Mỹ.  Tất cả những gì con người thực thi trong cuộc sống, nếu đó là những việc tốt, nhằm đem lại niềm vui và ích lợi cho mọi người, đều hướng về Thiên Chúa và đang góp phần xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nơi trần gian.  Vương quốc của Thiên Chúa là vương quốc tình yêu, công bình, bác ái.  Vì vậy, những việc làm xây dựng công bình bác ái và nối kết yêu thương đều làm cho vương quốc ấy sớm được thực hiện nơi trần thế này.  Xung quanh chúng ta, có những người đang âm thầm làm việc góp phần xây dựng công ích.  Họ là những thiện nguyện viên, tham gia những hoạt động bảo vệ môi trường, giúp đỡ người nghèo, mở mang đường sá, khai thông cống rãnh.  Họ cũng là những chị lao công âm thầm làm việc, những bác xích lô nghèo nhưng chân chính thanh bạch.  Họ là những thày cô giáo, vượt non cao đem cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số câu văn cái chữ, nhằm giúp các em hội nhập với thế giới hiện đại và có một tương lai tốt đẹp.  Họ còn là những nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ, đam mê thể hiện cái đẹp qua các tác phẩm của mình, để rồi, giúp cho độc giả, thính giả và khán giả khám phá vẻ đẹp diệu kỳ của Đấng làm nên vẻ đẹp của thiên nhiên vũ trụ và cuộc sống con người.  Những người này đang cố gắng để diễn tả Chân, Thiện, Mỹ ở nhiều khía cạnh khác nhau.  Người tín hữu tin rằng, vinh quang của Thiên Chúa phản chiếu nơi con người và mọi tạo vật.  Bởi lẽ khi sáng tạo, Thiên Chúa đã nhận định “mọi sự là tốt đẹp” (x St 1,31).  Khi chuyên cần lao động cũng như khi để tâm suy tư và tâm huyết sáng tạo, người lao động nói chung và người nghệ sĩ nói riêng đang cố gắng để làm cho những điều tốt đẹp hiện hữu trong cuộc đời.  Thánh Gioan Phaolô II Giáo Hoàng đã viết: “Đẹp là hình thức bên ngoài của cái tốt, cũng như tốt là điều kiện siêu hình của cái đẹp.  Người Hy Lạp rất hiểu rõ việc này, nên họ kết hợp hai khái niệm ấy, tạo nên một thuật ngữ bao gồm cả hai khái niệm đó là “kalok-agathia” hay “tốt đẹp”(Thư gửi các nghệ sĩ, năm 1999, số 3).  Ngài còn viết: “Bởi đó, Thiên Chúa cho con người hiện hữu, trao cho con người nhiệm vụ của những nghệ nhân.  Chính qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật ấy mà hơn bao giờ hết, con người cho thấy mình “giống Thiên Chúa” (Sđd, số 1).  Cái đẹp giúp ta nâng tâm hồn để gặp gỡ Đấng Tối Cao.  Nhà văn người Nga Dostoievski còn khẳng định: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới.”

Trong xã hội hôm nay, người ta có khuynh hướng để ý nhiều đến những vụ việc gây ấn tượng mạnh, hay những tin tức giật gân.  Nhiều người cũng thường chú trọng đến những thông tin hoặc vấn đề tiêu cực mà không quan tâm đến những việc tích cực.  Quả vậy, công bằng mà nói, dù cuộc sống này có nhiều xáo trộn, bạo lực, nhưng đây đó vẫn có những cá nhân hay tập thể đang âm thầm làm cho cuộc sống thêm tốt đẹp.  Họ làm việc mà không cần được tôn vinh ca ngợi.  Dù thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào, họ đang góp phần phản ánh sự thánh thiện của Thượng Đế.  Họ là những vị thánh giữa đời.

Không có ai sinh ra đã đương nhiên trở thành thánh.  Nên thánh là kết quả của những cố gắng suốt cuộc đời.  Mỗi chúng ta đều được mời gọi đạt tới mục tiêu cao cả ấy.  Hãy nên thánh từ ngày hôm nay, trong hoàn cảnh và bổn phận cụ thể của mỗi người, âm thầm, khiêm tốn, nhưng có giá trị giúp chúng ta nên hoàn thiện.  Hãy trở nên những vị thánh giữa đời, để trần gian này trở thành vương quốc bình an và công chính, là phác thảo của đời sau, nơi chúng ta sẽ được gặp gỡ, chiêm ngưỡng và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng ngàn trùng chí thánh.  Ngài là mẫu mực và là Cha Chung của chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

LỄ HỘI THÁNH NHÂN VÀ LỄ HỘI MA QUỶ (có Youtube)

Theo báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (số 30-10-2011), từ khoảng mươi năm nay, lễ hội Halloween được du nhập vào Việt Nam.  Đây là lễ hội ở các nước phương Tây, được tổ chức hằng năm vào ngày 31-10.  Sau đó, nhà báo giới thiệu những hình thức lễ hội Halloween ở một số địa điểm tại Sàigòn.

Nhắc đến ngày 31-10 là ngày hội Halloween, nhưng không nói gì đến ngày 1-11 vì không biết mối liên hệ giữa hai ngày này.  Ở nguồn gốc, ngày này được gọi là All Hallows’ Eve, nghĩa là buổi chiều áp lễ Các Thánh.  Kể từ thời Đức Grêgôriô III (năm 741), Lễ Các Thánh được cử hành vào ngày 1-11 hằng năm, là ngày ngài thánh hiến một nhà nguyện trong Đền Thánh Phêrô để tôn vinh toàn thể Các Thánh.  Rồi sau đó, Đức Grêgôriô IV (năm 835) truyền lệnh cử hành lễ này trong toàn thể Giáo Hội.  Nhưng thuở xa xưa, lễ này được cử hành vào Thứ Sáu sau lễ Phục sinh để làm nổi bật sự chiến thắng của Chúa Kitô trên tâm hồn của biết bao người, cụ thể là các thánh.  Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết và Người cũng chiến thắng ma quỷ qua việc chinh phục các tâm hồn.  Dù sau này, ngày cử hành lễ đã được thay đổi nhưng ý nghĩa chính yếu trên vẫn được giữ lại.

Các tín hữu thời xưa tin rằng vào ngày áp lễ Các Thánh 1-11, trái đất rung chuyển, đất đai nứt nẻ và ma quỷ từ địa ngục chui lên với nỗ lực cuối cùng nhằm lôi kéo các linh hồn về với nó.  Thế nên vào buổi chiều áp lễ Các Thánh, họ túa ra ngoài đường, mặc những trang phục kinh dị như ma quỷ, đồng thời miệng hô vang Danh Chúa Giêsu và khua chiêng gõ mõ để xua đuổi ma quỷ, đuổi chúng về địa ngục.  All Hallows’ Eve là thế.

Rất tiếc là ngày nay, ý nghĩa tôn giáo đó đã phai mờ, nếu không nói là biến mất, để chỉ còn là lễ hội Halloween mang tính giải trí thuần túy, tệ hơn nữa còn thành dịp ăn chơi đàng điếm.  Thay vì xua đuổi ma quỷ đi thì lại rước nó vào nhà mình, vào linh hồn mình.  Thế nên đã có những Giáo Hội phản ứng mạnh mẽ trước tình trạng này, cụ thể là Hội Đồng Giám Mục Philippines mới đây lên tiếng cảnh giác các tín hữu và gọi lễ hội Halloween là lễ hội phản Kitô.

Nhắc lại nguồn gốc ngày lễ như thế để thấy rõ hơn xu hướng tục hóa trong thời hiện đại, tước đoạt nội dung tôn giáo và thay vào đó bằng nội dung phản tôn giáo.  Đừng tưởng rằng xu hướng tục hóa chỉ diễn ra ở phương Tây!  Tiến trình tục hóa cũng đang diễn ra ngay tại Việt Nam, nhất là khi cái hay thì ít học mà cái dở lại tiếp thu rất nhanh.  Người ngoài công giáo không biết đã đành, nhưng đáng tiếc là cả người công giáo cũng không biết và cứ thế mà làm, người ta làm sao thì mình làm vậy, thay vì giúp người khác thấy được vẻ đẹp của Tin Mừng, thì lại thành kẻ tiếp tay để giết chết Tin Mừng!

Nhắc lại nguồn gốc của ngày lễ như thế còn để nhắc nhở nhau sống tinh thần lễ Các Thánh, tinh thần có thể tóm gọn trong lời kêu gọi nổi tiếng của Đức Chân phước Gioan Phaolô II: “Đừng sợ, hãy mở rộng cửa đón Chúa Kitô.”  Cách cụ thể, hãy mang trong lòng mình những tâm tư của Đức Kitô Giêsu: tâm tư hiền lành và khiêm nhường, thương xót và tha thứ, dấn thân và phục vụ.  Chính vì thế, bài Tin Mừng được công bố trong ngày lễ Các Thánh là Tin Mừng về Tám Mối Phúc Thật:

“Phúc thay những ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì lẽ công chính vì Nước Trời là của họ” (5,3-11).

Mang lấy tâm tư của Đức Kitô Giêsu giữa lòng thời đại hôm nay quả là không dễ, vì thời đại này cổ võ lối nghĩ và lối sống hầu như hoàn toàn ngược lại Tin Mừng.  Sách Khải Huyền (bài đọc II) diễn tả thực tế này bằng hình ảnh vừa bi hùng vừa sống động: “Những người mặc áo trắng kia là ai vậy?  Họ từ đâu đến?  Tôi trả lời: Thưa Ngài, Ngài biết đó.  Vị ấy bảo tôi: Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao.  Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,13-14).

Áo chỉ được trắng sạch khi được giặt bằng máu!  Thật lạ thường.  Nhưng sự thật là thế.  Phải chấp nhận cộng tác với tác động thánh hóa của Chúa Thánh Thần, giặt tấm áo cuộc đời bằng máu của hi sinh từ bỏ, chiến đấu chống trả cám dỗ, gian nan tập luyện các nhân đức.  Đó là tín thư mà lễ Các Thánh gửi đến tất cả chúng ta, những người cũng được gọi là “thánh” vì đã được thanh tẩy trong Đức Kitô, nhưng còn phải thể hiện tiềm năng thánh thiện ấy bằng chính cuộc sống của mình.  Để có thể hòa chung với Các Thánh trong lời chúc tụng:

“AMEN! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta
Lời chúc tụng và vinh quang,
Sự khôn ngoan và lời tạ ơn,
Danh dự, uy quyền và sức mạnh,
Đến muôn thuở muôn đời. AMEN!” (Kh 7,12)

Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

CON NGƯỜI HAY ROBOT? (có Youtube)

Trong bài luận văn về bệnh vô cảm của em Phan Hoàng Yến, học sinh lớp 9A2 trường trung học Chu Văn An, Hà Nội, đã gây ấn tượng mạnh trong xã hội hôm nay.  Bài văn được cô giáo cho 9,5 điểm với nhận xét: “Em có những phát hiện và suy nghĩ sâu sắc về hiện tượng đáng buồn này.  Một người có trái tim nhân hậu, đa cảm và tư duy sắc sảo như em thật đáng quý.”

Bài văn được viết như sau: “Có được một xã hội văn minh, hiện đại ngày nay một phần lớn cũng là do những phát minh vĩ đại của con người.  Một trong số đó chính là sự sáng chế ra robot, và càng ngày, robot càng được cải tiến cao hơn, tỉ mỉ hơn làm sao cho thật giống con người để giúp con người được nhiều hơn trong các công việc khó nhọc, bề bộn của cuộc sống.  Chỉ lạ một điều: Đó là trong khi các nhà khoa học đang “vò đầu bứt tóc” không biết làm sao có thể tạo ra một con chip “tình cảm” để khiến “những cỗ máy vô tình” biết yêu, biết ghét, biết thương, biết giận, thì dường như con người lại đi ngược lại, càng ngày càng vô tình, thờ ơ với mọi sự xung quanh.  Đó chính là căn bệnh nan y đang hoành hành rộng lớn, không những chỉ dừng lại ở một cá nhân, mà đang len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội – bệnh vô cảm.  Nhìn thấy cái xấu, cái ác mà không thấy bất bình, không căm tức, không phẫn nộ.  Nhìn thấy cái đẹp mà không ngưỡng mộ, không say mê, không thích thú.  Thấy cảnh tượng bi thương lại thờ ơ, không động lòng chua xót, không rung động tâm can.  Vậy đó còn là con người không hay chỉ là cái xác khô của một cỗ máy?

Một tháng trước, tôi đọc được một bài báo trên mạng có đưa tin về vụ một đứa bé Trung Quốc hai tuổi bị xe tải cán.

Thương xót, đau lòng làm sao khi nhìn cô bé đau đớn nằm trên vũng máu mà không một người nào qua đường để ý, cuống cuồng gọi cấp cứu.  Họ nhìn thấy rồi đấy nhưng họ lại cố tình như không thấy, đi vòng qua cô bé để tiếp tục con đường nhạt thếch, sáo mòn của mình.  Càng chua xót, đau lòng, phẫn nộ hơn khi chiếc xe tải tiếp theo nhìn thấy cô bé nằm đó, vẫn thoi thóp thở, bám víu lấy cuộc đời lại vô tình chẹt cả bốn bánh xe nặng trịch đi qua người cô bé, thản nhiên đi tiếp.  Người qua đường vẫn thế, vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra.

Cô bé xấu số chỉ được cấp cứu khi một người phụ nữ nhặt rác đi qua, thấy cảm thông, đau lòng nên đã bế cô đi bệnh viện.  Có những con người ích kỷ, vô tâm, tàn nhẫn như vậy đấy!  Không những thế, bây giờ ra đường gặp người bị cướp, bị trấn lột, bị đuổi chém nhưng lại không thấy anh hùng nào ra can ngăn, cứu giúp hay chỉ một việc nhỏ nhoi thôi là báo công an.  Đó là những con người “không dại gì” và cũng chính “nhờ” những người “không dại gì” đó mà xã hội ngày càng ác độc, hỗn loạn.  Chính lẽ đó mà căn bệnh vô cảm càng được thể truyền nhiễm, lây lan.

Quả thực, nếu con người sống không có tình yêu thì cũng chỉ là một Robot cô độc lạnh lùng mà thôi. Nhân loại ngày nay có thể sáng chế ra Robot để làm thay con người nhưng đáng tiếc Robot thì không có tình yêu, vì nó chỉ là cái máy không hồn.  Phải chăng nó cũng là phản ảnh lối sống vô cảm không hồn của con người thời đại hôm nay?  Có mọi sự nhưng thiếu tình yêu.

Robot ngày nay có thể đọc kinh, hát thánh ca nhưng không có tình yêu trong hành động của mình.

Robot ngày nay có thể đi chợ, quét nhà, ru em nhưng vô cảm với công việc của mình.

Nói đúng hơn, Robot có thể nói, có thể làm nhưng vô hồn, vô cảm, lạnh lùng vì thiếu tình yêu.

Đạo Công Giáo đặt nền tảng trên tình yêu.  Yêu Chúa, yêu người.  Yêu Chúa không dừng lại ở việc máy móc đi lễ hay đọc kinh nhàm chán mà phải đặt tình yêu của mình vào hành vi thờ phượng Chúa hết lòng.  Yêu người không dừng lại ở đầu môi chót lưỡi mà phải biết chạnh lòng xót thương trước những đau thương mà anh chị em mình đang trải qua.

Như thế tình yêu là lẽ sống, là vẻ đẹp của đời Kitô hữu.  Không có tình yêu thì mọi hành vi thờ phượng của người tín hữu chỉ là Robot.  Không có tình yêu thì người Kitô không thể sống chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa dòng đời.  Cuộc đời cần tình yêu như trái đất cần mặt trời để tạo nên vẻ đẹp của vạn vật muôn màu.  Cuộc đời thiếu tình yêu như đêm tối lạnh lùng cô liêu.  Cách đây mấy hôm tôi đi thăm một trại tâm thần.  Tôi nghe thấy họ đang đọc kinh.  Họ hát.  Họ đứng yên lặng cả gần 200 con người mặc dù họ bị bệnh tâm thần.  Tôi ngạc nhiên sao họ lại thuộc kinh đến thế!  Nhưng nhìn kỹ tôi thấy họ vô hồn.  Họ đứng đó môi mấp máy chỉ ú ớ theo lời kinh của máy ghi âm phát ra mà thôi!

Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh với chúng ta phải mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình.  Mến Chúa trên hết mọi sự là đặt việc thờ phượng Chúa, và thi hành ý Chúa trên mọi giá trị của cuộc sống.  Yêu tha nhân như chính mình là “nếu mình muốn người khác làm cho mình điều gì thì hãy làm cho họ như vậy.”  Đây là hai mệnh đề trong một giới răn yêu thương mà Chúa đòi buộc chúng ta phải thi hành.  Vì khi tạo dựng Chúa đã không tạo dựng chúng ta thành những Robot mà tạo dựng chúng ta có trái tim, có tự do để thăng tiến về hành vi yêu thương.

Xin cho chúng ta biết thăng tiến bản thân khi biết lồng vào những công việc của mình bằng tình yêu nồng nàn.  Một tình yêu trọn vẹn với Chúa để có thể kính mến Chúa trên hết mọi sự.  Một tình yêu với tha nhân thẳm sâu để có thể chia sẻ, cảm thông với nhau trong mọi vui buồn.  Amen!

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

NÓ-TÔI (có Youtube)

Nó – gọt cái đầu trọc lóc, giang hồ, làm nghề đòi nợ mướn.  Cái mặt nó lấc cấc trông khó ưa hết biết!

Nó – chẳng chút gì dễ thương để tôi muốn tiếp cận.  Thỉnh thoảng nó tụ tập bè nhóm đến xóm tôi nghịch phá, đánh bài, chửi thề…  Gặp tôi nó cũng biết cúi đầu: “Em chào chị.”  Tôi gật, cười cho qua vì không ưa nó.  Và nhiều lần như thế…

…………..

Một buổi sáng, nó giật mình khi nghe tôi gọi “Ê nhóc, vào đây chị bảo.  Chị có cái này cho em uống thử.  Chị làm.  Ngon lắm!  Rượu chùm ruộc đó!”  Nó uống, tấm tắc khen: “Ngon thiệt đó chị!”…

Tôi – Nó cùng chia sẻ, chuyện trò…

Tôi biết được nó vào đời năm 17 tuổi, sau ngày ba nó mất để lại mẹ và nó.  Tính đến nay đã là hơn tám năm.  Nó và tụi bạn đã có khá nhiều bài học trường đời, khi vui có lúc buồn có.  Vào tù ra khám không còn chuyện lạ với nó.

Nó lên làm đại ca được ba năm sau ngày thằng bạn bị bắt giam trong tù.  Bây giờ tiếng tăm nó lên như cồn, nhắc cái tên nó ai cũng biết.  Người ta đồn máu nó lạnh, đâm chém người không gớm tay.

Có lần, Nó gãi gãi đầu buột miệng nói: “Chị à, nhiều người nói nhóc nên quay đầu lại.  Quay đầu là bờ.  Nói thiệt!  Nhóc đi một quãng đã quá dài hơn 8 năm.  Bây giờ ngoảnh lại, nhóc chẳng biết đâu là bến?  Đâu là bờ?  Chi bằng cứ thế mà đi thì hơn.”

Nó cũng dễ thương đấy chứ!  Đâu đến nỗi máu lạnh như giang hồ thường đồn đại.

Tôi bắt đầu thấy thương cho tuổi trẻ của nó.  Nếu cứ tiếp tục công việc này tương lai nó sẽ về đâu?  Mong manh quá!  Tôi tự hỏi mình có thể giúp gì cho nó?  Rồi quyết định quan tâm và tự cho phép mình len lỏi vào cuộc đời nó như một người đồng hành tinh thần.  Tôi muốn chứng minh cho nó thấy rằng trên hành trình của nó luôn có những bến đỗ để nó có thể dừng chân, nghỉ ngơi, và tìm ra lối đi mới, tốt hơn cho đời nó…

Một ngày nọ tôi rủ nó đi thăm Mẹ Suối Sao.  Nó vốn rất nhạy bén nên như đọc được ý định của tôi liền nói: “Nè, đừng nói là chị đang truyền giáo cho nhóc đấy nhé!”  Tôi cười xòa bảo: “Truyền giáo cho nhóc hả?  Chị không dám đâu.  Nhóc sành điệu thế ai dám truyền giáo cho nhóc!  Tại đi vào thăm Mẹ Suối Sao phải xuống một con dốc gắt lắm chị run tay chạy xe không nổi nên nhờ nhóc.  Phần thì chị cũng muốn rủ nhóc đi chơi cho biết nơi đó và biết Mẹ vậy thôi.  Không dám truyền giáo đâu nha!”  Nó không thích nhưng cũng không thể từ chối khi tôi lên tiếng nhờ vả.

Cứ thế, Tôi nhờ hoài.  Nó đi riết đâm ra quen thuộc.  Rồi thích hồi nào không hay.  Nó thấy bình an hơn trong tâm hồn…  Mỗi lần đến với Mẹ, tôi luôn là người mua hoa, nhang, nến.  Còn nó luôn là người thắp những nén hương.  Hương trầm bay lên nghi ngút xen lẫn với lòng thành kính và những ước nguyện của tôi – nó dâng lên Mẹ.  Tôi tín thác và ước mong Mẹ sẽ biến đổi nó…

Trời chiều.  Gió thổi hiu hắt.  Nó – Tôi đứng dưới chân Mẹ…  Chợt!  Nó bâng quơ nhìn những chòm mây lang thang lơ lửng rồi thở dài: “Dạo này đi đánh nhau, đâm chém, nhóc thấy nhát tay sao sao ấy.  Nhóc muốn thay đổi.  Nhóc muốn bỏ nghề.  Nhóc muốn sống thanh thản, an bình…  Nhưng nhóc sợ có những ân oán trong kiếp giang hồ mà nhóc không thể lường được.”

Tôi ghé tai nó bảo nhỏ: “Nhóc tự thắt những nút dây cho đời mình, tám năm nhiều quá rồi, rối tinh lên, không gỡ được.  Nhưng Nhóc đừng sợ, hãy can đảm và vững tin.  Chúa và Mẹ sẽ tháo gỡ hết cho nhóc.  Nhóc hãy dâng hết phiền muộn lên cho Chúa và Mẹ, và nghĩ rằng mọi biến cố xảy đến trong đời mình đều có ý nghĩa riêng của nó.”

Tôi thấy nó vui, hạnh phúc, và bình an hơn.  Cái hạnh phúc khi đón nhận được sự quan tâm, chân thành.  Cái hạnh phúc khi được biến đổi từ sâu thẳm trong tâm hồn.  Nó vui.  Tôi vui và hạnh phúc nhiều hơn nó… Vì thấy ước nguyện của mình đang dần thành hiện thực.

………….

Biết nó.  Tôi cũng nhận ra được nhiều giá trị của cuộc sống và học hỏi những điều hay từ nó.  Nó và nhóm bạn thương nhau lắm, luôn biết chia sẻ và đùm bọc lẫn nhau.  Có những đứa bạn đi bụi, không gia đình, không bà con… đều một tay thằng nhóc kiếm tiền nuôi cơm, và trả tiền phòng trọ cho chúng…

Sau những chiến lợi phẩm kiếm được chút huê hồng khi đòi nợ.  Nhóm bạn bè lại rủ nhau ăn uống, chia sẻ những câu chuyện vui buồn lẫn những khó khăn khi đi làm…  Thật tình bạn và thật cộng đồng!

Hành trình, Can đảm, Vững tin và Lựa chọn.  Nó trăn trở.  Vì phải hy sinh, vì phải dứt bỏ những gì đang là hiện tại.  Nó là Đại Ca.  Nó không thể trốn tránh trách nhiệm.  Ai sẽ là người hướng dẫn, nâng đỡ cho đám bạn lang thang của nó?  Nó ưu tư khắc khoải, nhưng rồi cũng chấp nhận lựa chọn và đánh đổi.  Nó trốn tránh bằng cách mua một chiếc xe lớn chở hàng.  Chạy tối ngày sáng đêm để không còn giờ liên hệ với bạn bè…  Thời gian đầu quả là nhiêu khê và khó khăn với nó.

Nó khắc khoải.  Tôi cũng băn khoăn không kém.  Tôi e sợ chính mình lại là một nút dây làm rối thêm cuộc sống hiện tại của nó.  Sẽ ra sao với đám nhóc bạn nó?  Chúng nó sẽ sống thế nào khi mất đại ca, khi không có ai nuôi ăn, trả tiền phòng trọ hằng tháng?  Vòng luẩn quẩn ấy cứ lập đi lập lại trong tâm trí tôi.  Xoa đôi tay nhẹ lên mặt, tôi mong những suy nghĩ tan biến.

………………

Gió nhẹ.  Đám lá Chàm chạm khẽ vào nhau xào xạc.  Tôi một mình đứng dưới chân Mẹ, thầm cảm tạ hồng ân mà Mẹ và Chúa đã cho tôi nên như khí cụ nhỏ.  Thầm cảm tạ vì Chúa và Mẹ đã gửi nó đến với tôi, để học hỏi những kinh nghiệm sống trong trường đời.  Thầm cảm tạ Chúa và Mẹ đã cho nó tìm ra bến đỗ an toàn nhất cho đời nó là biết dừng nơi Bến của Chúa và Mẹ….

Bất giác, có bàn tay đặt nhẹ lên vai tôi.  “Sao chị đi một mình không rủ nhóc?”  Tôi lại cười xòa: “Tại bây giờ chị hết run tay….  Ồ, nhóc dạo này giỏi thiệt biết tự đến với Mẹ một mình ha!”…

……………..

Hôm nay, nghe đâu đó có tiếng chuông giáo đường vang vọng.  Tiếng dương cầm hòa với khúc thánh ca trầm bổng như tâm tư của nó “… Con quỳ đây dâng Chúa tiếng ca cảm tạ.  Chúa cho con người bạn đường giống như bạn đời…”   Nó quỳ gối chắp tay bên cạnh một nửa của mình.  Tôi không biết nó đang thưa gì với Chúa, nhưng chắc chắn rằng nó đang rất hạnh phúc.

Tôi mỉm cười nhìn nó trong lòng vui chi lạ!

Nó – bây giờ đã có tóc

Nó – bây giờ hết làm Đại Ca

Nó – bây giờ đã làm cha của đứa trẻ sắp chào đời.

Maria Đặng Thị Ánh Nga

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.

ĐỨC MARIA, MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO (có Youtube)

Đôi khi tôi tự hỏi, tại sao Chúa Nhật Truyền Giáo lại được nhắc đến trong tháng Mân Côi, tháng dâng kính Đức Mẹ, cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm tình thương của Thiên Chúa, bằng những tràng chuỗi đơn sơ và thành kính nhất qua lối cầu nguyện theo Tin Mừng.  Những dòng suy niệm này trả lời cho tôi câu hỏi đó.

Những trang Tin Mừng về Đức Maria thật là phấn khởi cho trần thế chúng ta.  Có một người phụ nữ, mang trọn vẹn sứ điệp Tin Mừng của Thiên Chúa vào trong lòng nhân thế.  Nhân loại vui mừng bởi sự đón nhận này của Mẹ Maria, “để từ nay mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.”  Thiên Chúa đã làm những kỳ công lớn lao nơi Mẹ, và còn làm những điều lớn lao ấy cho nhiều tâm hồn nhân thế chúng ta.

Sự chuẩn bị một tâm hồn vô tì tích là nhờ sự chuẩn bị của Thánh Thần, Chúa Thánh Thần thực hiện nơi Đức Maria những điều lớn lao, bởi Mẹ là người đã để Chúa Thánh Thần hoạt động và làm phát sinh hoa trái của Người.  “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1, 35), hoa trái của Chúa Thánh Thần là hoan lạc và bình an.  Mẹ đã mang hoan lạc và bình an của Thiên Chúa cắm rễ vào trong trái đất.  Maria, công trình tuyệt diệu của Chúa Thánh Thần thực hiện cho nhân loại, nhân thế có một con người được Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho sự toàn vẹn để xứng đáng đón nhận Đức Giêsu, Con thiên Chúa vào trong lòng nhân thế, lịch sử đã đổi hướng đi về nguồn ơn cứu độ, về niềm vui của Thiên Chúa đã hứa từ ngàn xưa, và trở nên hiện thực trong sự cưu mang này.

Maria là người Mẹ truyền giáo đúng nghĩa nhất, bởi sự tinh tuyền của Mẹ, bởi Mẹ là kỳ công của Chúa Thánh Thần hoạt động trên trái đất này.  Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa cho thế gian, và đưa Con Thiên Chúa vào trong thế gian, và đó là Tin Mừng đúng nghĩa nhất cho trần thế.  Từ nay, nhân loại nhận ra rằng: Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.  Đức Giêsu Con lòng Mẹ, một Người Con của nhân loại, một người Con của Thiên Chúa là nguồn ơn cứu độ, suối trào niềm vui cho nhân thế.

Người loan báo Tin Mừng là người được Chúa Thánh Thần tác động cách đặc biệt trên cuộc đời của họ. “Đức Maria lên đường vội vã” (Lc 1, 39).  Sự vội vã của con người mang niềm vui khôn tả, thúc đẩy mau mắn lên đường, nhắc lại hình ảnh xưa Isaia đã tiên báo: “Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị.” (Is 52, 7).  Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi, không thể không vui và niềm vui chất ngất, thúc đẩy lên đường loan báo tin vui.  Nếu trong lòng tôi và trong lòng bạn mang niềm vui ngập tràn như thế, tôi và bạn cũng sẽ vội vã lên đường loan báo.  Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng đúng nghĩa bởi vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần.  Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.

Không chỉ là loan báo mà thôi, Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng.  Người công bố là người đã xác tín một cách chắc chắn về những gì Thiên Chúa đã làm cho mình.  Đức Maria đã nghiệm thấy như thế trong cuộc đời của Mẹ: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1, 49).  Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình, người loan báo sẽ đi xa hơn nữa để công bố Tin Mừng Thiên Chúa đã làm cho mình.  Sự công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.  Sứ vụ loan báo Tin Mừng hôm nay, cần chứng nghiệm nơi người loan báo Tin Mừng như thế, bởi vì người ta đang cần chứng nhân hơn thày dạy.  Đức Maria nhận ra bàn tay Toàn Năng của Thiên Chúa thực hiện trong cuộc đời của Mẹ, nên Mẹ là người công bố sứ điệp chắc chắn về Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa cho nhân loại.

Niềm xác tín của Đức Maria mang một chiều kích rất riêng tư, nhờ Mẹ đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 3, 51).  Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình, là cuộc trao đổi, đối thoại giữa những khó khăn, thử thách.  Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.  Sự chiêm ngắm, đối thoại dẫn đến một xác tín riêng tư chắc chắn để đi đến một công bố cho muôn người.  Con đường cầu nguyện của Đức Maria đã đi qua là con đường mời gọi những người truyền giáo hôm nay thực hiện.

Truyền giáo không là công cuộc cày xới những mảnh đất hoang, cũng không là công cuộc cải đạo cho những người khác niềm tin.  Đối với Đức Maria truyền giáo có nghĩa là đem chính Đức Giêsu cho nhân loại.  Đức Giêsu có là niềm vui cho bạn không?  Trước khi là niềm vui công bố cho người chung quanh bạn, trở lại niềm xác tín này chúng ta trở lại niềm xác tín của Đức Maria, khi Mẹ xác tín: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1, 46).  Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui của Đức Giêsu trong lòng Mẹ.  Đức Maria không mang niềm vui nào khác ngoài niềm vui: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 47).  Niềm vui của Thiên Chúa trong ngày Thiên Chúa đoái thương, ngày nào không là ngày Thiên Chúa đoái thương, nhưng đôi lúc chúng ta lại quên mất cảm nghiệm thực sự điều này, để rồi sứ vụ truyền giáo của mỗi thành viên chúng ta cứ hoài dang dở.  Đức Maria đã mang chính Đức Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.

Dù là người loan báo, dù là người công bố Tin Mừng đi chăng nữa, Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.  Không thể tách rời Đức Maria khỏi hoạt động của Chúa Thánh Thần, dù Đức Maria có được như thế nào chăng nữa, Mẹ cũng luôn đặt mình trong tâm khảm của người: “phận nữ tỳ hèn mọn, Người đã đoái thương nhìn tới” (Lc 1, 48).  Người truyền giáo cũng thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được.  Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần mời gọi con người theo nhiều nẻo đường khác nhau, để quy tụ cho Thiên Chúa một Dân được thánh hiến.  Chúng ta là những dụng cụ Thiên Chúa dùng, và hãy đặt cuộc đời mình vào bàn tay của Thiên Chúa.

Không có công trình nào là thua mất cả với ánh mắt nhìn đức tin của Đức Maria, đôi khi gặp những người cứng cỏi quá sức, hãy phó dâng cho Thiên Chúa, như người gieo giống chỉ biết chờ đợi cho hạt giống nảy mầm.  Đức Maria đã nghiệm thấy điều này trong cuộc đời của Mẹ: “Chúa biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng” (Lc 1, 51).  Chúng ta cần biết chờ đợi điều Thiên Chúa sẽ cho mọc lên, sự chờ đợi là một bài học cuối kết thúc cho sứ vụ truyền giáo chúng ta học nơi Đức Maria.

Kính dâng Mẹ những suy nghĩ này, bởi hơn ai hết Mẹ là vị Thày tốt nhất dạy chúng con sống sứ vụ truyền giáo.

Lm Hoàng Kim Toàn

Nếu không nghe được Youtube hoặc có vấn đề về kỹ thuật, xin để lại lời nhắn ở mục “Comment” phía dưới, chúng tôi sẽ cập nhật lại đường link Youtube.