MỜI CHÚA ĐẾN NHÀ

Những ngày tháng cuối năm các đám cưới đua nhau tổ chức.  Mùa cưới rộ lên làm cho mùa đông bớt vẻ ảm đạm tiêu điều.  Đám cưới nào thường cũng vui.  Trong đám cưới người ta chỉ nói chuyện vui.  Nhưng niềm vui kéo dài được bao lâu?  Những lời chúc trăm năm hạnh phúc có thật sự đem hạnh phúc đến cho đôi tân hôn và làm cho hạnh phúc suốt đời không?  Nhìn vào thực trạng đời sống gia đình hôm nay, ta thấy có được hạnh phúc gia đình là một điều rất khó, hạnh phúc trăm năm thì lại càng khó hơn.

Đám cưới Cana hôm nay cũng suýt lâm vào cảnh bế tắc.  Tiệc đang nửa chừng thì hết rượu.  Hết rượu là một bấc trắc không ngờ.  Trong gia đình, những bấc trắc có thể đưa đến bất đồng.  Bất đồng dễ đưa tới bất hòa.  Đã bất hoà thì đường đến bất hạnh không xa.

Đám cưới Ca-na thật khôn ngoan nên đã mời Chúa Giêsu đến dự tiệc.  Việc Chúa Giêsu đến tham dự bữa tiệc cưới nói lên sự quan tâm của Thiên Chúa đối với con người.  Thiên Chúa yêu thương con người nên đã đến ở giữa loài người.  Không những đến ở giữa loài người, Thiên Chúa còn trở nên một người bạn thân thiết của con người, đồng hành với con người, chia vui sẻ buồn với con người.  Chưa bao giờ người ta thấy một Thiên Chúa gần gũi đến thế, thân tình đến thế.  Với tình thân, Thiên Chúa đã đến chia vui với gia đình trong dịp đại hỉ.  Và việc Thiên Chúa đến nhà đã cứu gia đình mới khỏi cảnh bất hạnh ngay trong ngày đầu tiên chung sống.

***************

Có lẽ ai trong chúng ta cũng muốn mời Chúa đến nhà.  Sự hiện diện của Chúa giúp ta vượt qua được những bấc trắc trong đời sống gia đình.  Những bất trắc thì nhan nhản trong đời sống hàng ngày.

Việc thiếu rượu của gia đình Cana nói lên những thiếu thốn của gia đình chúng ta.  Có những thiếu thốn về vật chất:  cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thiếu tiền cho con đi học, thiếu thuốc men khi bệnh tật.  Có những thiếu thốn về tinh thần:  thiếu quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thiếu khuyên bảo dạy dỗ con cháu, thiếu kính trọng trong đối xử, thiếu tế nhị trong lời nói.  Nhưng trầm trọng nhất là những thiếu thốn về đời sống đạo đức:  thiếu đức tin, thiếu lòng đạo đức sốt sắng, thiếu công bằng bác ái, thiếu trách nhiệm duy trì đời sống đức tin trong gia đình.

Đời sống gia đình lúc đầu rất vui, nhưng sau đó, nếu không khéo giữ gìn sẽ trở nên nhạt nhẽo như nước lã.  Nhạt nhẽo vì tình nghĩa phai dần.  Nhạt nhẽo vì những bổn phận nặng nề, nhàm chán.  Nhạt nhẽo vì những khuyết điểm không tránh được của mọi người.

Những thiếu thốn và những nhạt nhẽo ấy hầu như vượt ngoài khả năng giải quyết của ta, nên ai cũng muốn mời Chúa đến nhà để giải cứu gia đình khỏi sự tan vỡ, sụp đổ.

Thế nhưng mời Chúa đến không phải là tổ chức làm phép nhà cho long trọng, ăn tân gia cho linh đình.  Mời Chúa đến không phải chỉ là làm bàn thờ cho đẹp, treo thật nhiều ảnh tượng.  Muốn mời Chúa đến, việc đầu tiên cần thiết là phải làm theo ý Chúa.  Như Đức Mẹ dạy các gia nhân:  “Người bảo gì thì phải làm theo”.  Nhờ làm theo lời Chúa mà gia đình Cana thoát khỏi cảnh xấu hổ, hạnh phúc gia đình được bền vững.

Gia đình muốn sống trong vui tươi, muốn giữ vững được hạnh phúc hãy làm theo Lời Chúa.  Đọc Phúc Âm, học hỏi và đem ra thực hành.  Để Lời Chúa hướng dẫn mọi lời ăn tiếng nói của mình.  Để Lời Chúa soi sáng những suy nghĩ của mình.  Để Lời Chúa điều khiển mọi việc làm của mình.  Lộc Xuân mà chúng ta rút được trong ngày Tết phải là châm ngôn hướng dẫn toàn bộ đời sống gia đình trong suốt năm mới này.

Sống theo Lời Chúa, gia đình sẽ được Chúa dẫn dắt vượt qua những thiếu thốn.  Sống với Chúa, hạnh phúc gia đình sẽ luôn nồng nàn tươi mới như chất rượu ngon.  Sống trung thành kết hiệp với Chúa, gia đình sẽ được Chúa đưa vào dự bữa tiệc cưới trên trời, lúc đó chàng rể đích thật là Đức Kitô sẽ cho ta nếm thứ rưọu tuyệt ngon trên thiên đàng, đó là hạnh phúc không bao giờ tàn phai.

***************

Lạy Chúa, xin đến với chúng con.  Lạy Chúa, xin hướng dẫn chúng con.  Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con.  Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

ÔNG KÝ NÀ TOÒNG

Lạng Sơn ngày ….

Bạn thân mến,

Mình theo ÐC Lạng Sơn lên Nà Toòng, thuộc giáo xứ Bó Tờ, cách TGM Lạng Sơn 140km để cử hành lễ an táng cho bà Maria Ký, người dân tộc Tày. Một đám tang đơn sơ, nhưng đã để lại cho mình những ấn tượng thật khó quên.

Ấn tượng thứ nhất là cái chết của người quá cố. Bà Ký chết vì quá thương con. Con gái bà chết vì bệnh ung thư. Quàng xác con tại nhà chờ ngày chôn cất, bà Ký không cầm nổi nước mắt khóc thương. Và khi xác con chưa kịp đưa ra đồng thì mẹ cũng theo con cho thỏa nỗi nhớ thương. Bà chết sau con gái 4 ngày !

Ấn tượng thứ hai là gia đình của bà Ký.  Ðây là gia đình công giáo duy nhất trong làng Nà Toòng.

….

Chuyện ông Ký trở lại đạo cách đây hơn 70 năm cũng thật là hi hữu. Theo lời ÐC Lạng Sơn thì hồi đó gia đình ông Ký tội nghiệp lắm.  Mẹ ông sinh ba bốn lần nhưng đứa con nào cũng chết sớm. Khi sinh ra ông Ký, thấy con èo uột, hết bệnh này đến bệnh kia, bà lo lắm, chỉ sợ thằng bé rồi cũng bị “ma” bắt như các anh, các chị nó thôi. Thế rồi một hôm, nghe người ta mách, cách làng Nà Toòng khoảng 15km, có ông cha theo đạo thờ “Cái Chúa” giỏi lắm.  Cứ mang con ra đó rửa tội, “Cái Chúa” sẽ phù hộ, không để “ma” bắt mất đâu. Nghe lời, người mẹ mang bé Ký ra xin “ông cha” rửa tội.  Ông cha dậy bé Ký làm dấu thánh giá, đọc kinh lạy cha, cho bé Ký quyển sách kinh nhỏ rồi rửa tội cho bé.  Về nhà ít lâu, bé Ký tự nhiên ăn được, ngủ được, người béo khỏe ra. Lớn lên đi học, lại có trí nhớ tốt hơn chúng bạn, thế mới lạ!

Mấy năm sau đó, chiến cuộc nổ ra, dân làng ly tán.  Không có linh mục tới lui nên nhà thờ Bó Tờ cũng thành nơi hoang vắng. Mẹ của Ký cũng chẳng nghĩ gì đến việc mình có đứa con “đi đạo” nữa.  Và cứ thế, năm tháng dần trôi, chốn sơn khê heo hút này, dường như chẳng còn ai biết là có “Cái Chúa” ở trên đời.

Thế rồi một hôm, người mẹ làng Nà Toòng ấy giật nẩy mình khi nghe đứa con mình mang đi rửa tội, đem cho “Cái Chúa” ngày xưa ấy, xin phép làm bàn thờ kính “Cái Chúa” ở trong nhà.  Bà tự nhủ : Mình đem nó “rửa tội”, cho nó theo “Cái Chúa” là chỉ có ý mong nó khỏi chết, chứ đạo nghĩa gì đâu.  Làng này, mọi người theo “thày mo” tất, có ai biết “Cái Chúa” là gì.  Ðể nó làm bàn thờ kính “Cái Chúa”, người ta không cười vào mặt cho à ! Nghĩ thế, bà cương quyết từ chối, rồi nói thật với con:  Mẹ để con “đi đạo” là cốt cho con khỏi chết thôi. Giờ con khỏe mạnh thế này, cần gì phải giữ nữa. Nhưng anh Ký cương quyết thưa

– Mình đã tin “Cái Chúa” thì phải tin cho thật. Ðã “đi đạo” thì phải giữ cho tròn. Nếu Mẹ không bằng lòng, con sẽ ra ở riêng để làm bàn thờ, vì con đã tin “Cái Chúa”.

Thấy con khẳng khái nhất mực, tuổi mình cũng đã cao, nó giận, nó ra ở riêng thì mình biết lấy ai săn sóc, nên cuối cùng bà mẹ cũng bằng lòng.

Những năm khó khăn ấy kiếm đâu ra ảnh tượng mà làm bàn thờ nên anh Ký chỉ biết lấy than vẽ trên vách nhà hình cây thánh giá, bên dưới nắn nót hàng chữ “Tôi tin Thiên Chúa Ba Ngôi”, thêm một ngọn đèn dầu nhỏ trên chiếc bàn con. Chỉ bằng ấy thôi cũng đã đủ cho một tấm lòng thành diễn tả niềm kính mến.

Dân làng Nà Toòng có ai biết “Cái Chúa” là gì. Thấy bàn thờ nhà Ký chẳng có hương hoa, không có hình ảnh ông bà, khác hẳn bàn thờ nhà họ, chỉ biết lắc đầu bảo Ký:  “Bàn thờ nhà mày lạ quá, chẳng có nến hương, chẳng có tiên tổ, giống hệt bàn bán thịt lợn, Ký ạ.” Nghe thế, Ký chỉ cười cho qua câu chuyện, chẳng biết nói gì hơn.

Vì Ký theo đạo lạ, nên dân làng tẩy chay.  Mỗi khi có cúng giỗ, “làm then”, mỗi lần dân làng mở hội, chẳng ai thèm mời Ký nữa. Họ bảo: Nó theo “Cái Chúa” phản bội dân làng, mình cần gì nó nữa. Nhưng dù họ có giận, Ký cũng chẳng để lòng. Anh vẫn tham gia việc làng, vẫn vui vẻ giúp đỡ mọi người những khi cần thiết. Thỉnh thoảng, vẫn có người bảo anh:

– Tưởng mày đi đạo thì bỏ chúng tao rồi chứ.

– Ðạo là việc riêng tư. Tôi vẫn là người làng, làm sao bỏ được bà con.

Vì biết “cái chữ”, cộng thêm tính hiền hòa, chịu thương chịu khó nên Ký được dân làng tín nhiệm bầu làm thư ký xã.  Rồi Ký lập gia đình. Con cái sinh ra không được rửa tội, không đến nhà thờ kinh lễ vì biết đi đâu bây giờ. Bó Tờ thì chẳng còn cha, mà Cao Bằng, Lạng Sơn lại xa xôi quá ! Thế là ông Ký đem hết vốn liếng nghèo nàn của mình dậy cho con biết Chúa, biết đạo. Ông thường nhắc nhở con cháu:

– “Mình đã tin thì phải tin cho thật. Tin đến suốt đời. Ðời cha truyền sang đời con. Ðời con truyền sang đời cháu, cho đức tin vững bền mãi mãi.”

Có được niềm tin vững chắc ấy là vì ông cảm nhận rõ ràng tình Chúa thương ông.  Bên nội, bên ngoại nhà ông chỉ còn có mình ông sống sót.  Ðó chẳng phải tình Chúa thương ông là gì? Làng xóm cũng thấy rõ Chúa thương ông.  Này nhé, ông có phải tốn tiền đón thầy mo về nhà cúng giỗ đâu thế mà con cháu ông vẫn khỏe mạnh, lợn gà nhà ông không chết, ruộng rẫy nhà ông vẫn tốt tươi.  Họ bảo nhau: “Cái Chúa” nhà thằng Ký mạnh thật !

Chuyện ông Ký làng Nà Toòng xa xôi ấy đi theo “Cái Chúa” tưởng chừng cũng chỉ là “dấu chân trên cát” sẽ xóa nhòa theo năm tháng cuộc đời! Nào có ai ngờ, phải! nào có ai ngờ… Năm 1999, sau khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Lạng Sơn, ÐC Giuse Ngô Quang Kiệt đến thăm những người giáo dân Tày còn sót lại của họ đạo Bó Tờ năm xưa.  Nghe dân nói trong làng Nà Toòng có một người giữ đạo, Ngài vội vàng đến thăm.  Ðường đi trắc trở, xe không tới được. May thay có chiếc máy cày to, thế là cha con chất chồng nhau lên tìm đến nhà ông Ký.

60 năm giữ đạo âm thầm hôm nay mới gặp được “ông cha” làm sao nói được hết nỗi niềm, vì thế ông Ký miệng thì ấp úng, mà nước mắt cứ trào tuôn.

Từ đó, nhà ông Ký tự nhiên trở thành điểm hẹn. Bức vách với hình thánh giá bằng than nhòa dần theo năm tháng nhưng bàn thờ trong tâm hồn ông càng ngày càng thêm rõ nét. Ông có chờ, có đợi được niềm hạnh phúc ấy đâu, thế mà “Cái Chúa” vẫn còn nhớ đến ông nơi góc biển chân trời này !

……

Ngủ đêm tại Cao Bằng, 4g30 sáng ÐC Lạng Sơn, cha Hạnh, cha Thế và mình lên xe đến Nà Toòng.  Ðường chỉ dài 70km, nhưng dốc núi cheo leo nên mãi 7g mới tới được nhà thờ Bó Tờ. Ăn vội mỗi người một gói mì tôm, gọi thêm mấy cháu ca đoàn rồi tiếp tục con đường thiên lý.

Nhà ông Ký nằm sâu trong bản, phải lội bộ một quãng dài. Ðêm trước, trời lại mưa nên cha con vừa xách dép vừa đi. Tới nhà ông Ký, sau khi chào hỏi người sống, thắp hương người chết, mọi người túa ra, ai lo phận nấy. Kẻ dọn bàn thờ, người lo giở sách, kẻ tìm bài hát, người sắp xếp chỗ ngồi…

Trong thánh lễ, lúc hát đáp ca, nghe các cháu thiếu nhi trong ca đoàn nhà thờ Bó Tờ hát bài “Chúa chăn nuôi tôi”, nhìn ông Ký và con cháu lặng lẽ đứng bên quan tài người quá cố, quan sát những dân làng im lặng tham dự thánh lễ lần đầu tiên trong đời, dõi mắt qua cửa nhà ra những rặng núi chập chùng xa xa, lòng mình chợt thấy nao nao không sao tả được. Một niềm tin mộc mạc, chân thành.  Một con chiên lẻ bầy nơi góc biển chân trời. Thế mà, người Mục Tử Nhân Lành vẫn chẳng lãng quên, dù đã hơn 60 năm trời biền biệt! Ngôi nhà tranh vách lá, có hình thánh giá vẽ bằng than trên bức vách, có bàn thờ lẻ loi như “bàn bán thịt lợn”, có ai ngờ lại có ngày trở thành một ngôi “thánh đường” với thánh lễ do chính ÐGM giáo phận cùng đồng tế với hơn một nửa “linh mục đoàn” của mình !

Sau thánh lễ, mình đến bên ông Ký để chia buồn về nỗi mất mát lớn lao. Ông chỉ đơn sơ bảo mình:

– Tôi buồn lắm nhưng không dám khóc, ông cha ạ ! Mình làm bố mà khóc thì các con cháu sẽ òa lên cả.  Lúc ấy làm sao mà dự “Cái Lễ” cho yên được !

– Thế bây giờ cụ muốn gì nhất hả cụ Ký ?

– Tôi chỉ muốn lâu lâu lại được có “Cái Lễ” ở đây, để dân làng biết “Cái Chúa” thương người ta như thế nào thôi !

Một ước mơ quá đỗi thánh thiện ! Một khát mong giản dị đến thế là cùng ! Khi chia tay cụ Ký, mình thầm nhủ sẽ hết sức cố gắng để thực hiện ước mơ giản dị này.

Thế rồi, vì công việc, mình được điều về Hà Nội, những chuyến về Lạng Sơn thưa dần. Ngày trở lại Bó Tờ dâng một “Cái Lễ” theo ý cụ Ký lại càng thêm xa…

Cách đây vài tháng, một buổi chiều đang đứng vẩn vơ cạnh nhà nguyện Fatima trong khuôn viên tòa giám mục Hà Nội thì ÐC Kiệt bảo mình: Ông Ký chết rồi, Diễm ạ.

Mình lặng người đi, không nói được gì cả. Biết rằng, cuộc ra đi có lẽ sẽ tốt đẹp cho ông đấy.  Ông sẽ gặp được Ðấng mà ông “đã tin thì phải tin cho thật. Tin đến suốt đời. Ðời cha truyền sang đời con. Ðời con truyền sang đời cháu, cho đức tin vững bền mãi mãi”. Ông sẽ gặp lại được bà Ký thân yêu đã cùng đồng hành với ông trọn con đường đời nhiều gian nan, vất vả mà vẫn vững mãi niềm tin, sẽ gặp lại người con gái mến thương mà ông đã dốc lòng truyền lại cho cô đức tin bỏng cháy của mình.  Nhưng nghĩ lại vẫn thấy tội cho ông.  Một ước mơ đơn sơ, chỉ mong được tham dự ít “Cái Lễ” mà đến lúc chết vẫn chẳng thành !

Bạn thân mến!

Viết cho bạn những dòng này, mình chỉ muốn thay mặt ông Ký nhắn với bạn rằng:  Nếu có lúc nào đó bạn ngại ngùng, không muốn tham dự thánh lễ, thì xin bạn hãy nhớ lại, tại làng Nà Toòng xa xôi, nơi phương trời biền biệt kia, có những người dân tộc chỉ ước mơ được tham dự  “Cái Lễ” vài lần trong đời thôi, nhưng vẫn chưa được đấy, bạn ạ !

LM. Giuse Nguyễn V. Diễm

ĐÔI GIẦY THỂ THAO

Frank Dailly là một cầu thủ bóng rổ từ thời còn học tiểu học, và từng là ngôi sao trong tất cả các môn thể thao.  Nhưng vì mới đây nhà trường không chọn cậu trong danh sách những cầu thủ trong đội tuyển.  Đột nhiên Frank cảm thấy như mình không còn tồn tại, và trở thành vô hình.  Giờ đang ngồi trên xe bus để về nhà.

Một phụ nữ mang thai nặng nề níu lấy tay vịn bằng sắt và từ từ bước lên xe.  Khi ngồi vào chiếc ghế phía sau tài xế, bà giơ chân lên và Frank thấy bà ta đang mang vớ dài.  Khi bác tài xế cho xe tiếp tục chạy, không quay đầu lại, bác hỏi lớn :

– Giầy bà đâu rồi? Bên ngoài bây giờ cũng phải 10 độ chứ ít gì !

Giọng người phụ nữ chùng xuống :

– Tôi không đủ tiền mua giầy !

Bà kéo cổ áo đã sờn lên che gió, vài cậu bé phía sau nhìn nhau mỉm cười.  Người phụ nữ tiếp lời:

– Tôi lên xe chỉ để cho ấm chân, nếu ông không phiền tôi sẽ đi suốt chuyến với ông !

Bác tài xế gãi đầu hét lớn :

– Bây giờ hãy kể cho tôi nghe vì sao bà không mua nổi đôi giầy?

– Tôi có tám đứa con và phải mua sắm cho bọn chúng, nên không đủ tiền mua giầy cho tôi nữa … Nhưng không sao, Chúa sẽ lo cho tôi mà.

Frank nhìn xuống đôi giầy thể thao mới mang hiệu Nike.  Đôi chân cậu vẫn ở đó, ấm áp và ngay ngắn. Cậu nhìn người phụ nữ, vớ của bà đã bị rách… Từ “vô hình” chợt hiện lên trong đầu: một người vô hình, bên lề xã hội, bị mọi người quên lãng, nhưng vì một lý do khác… Frank chợt nghĩ: Nó sẽ dễ dàng sắm được giầy, còn bà ấy lại không bao giờ sắm được. Cậu thấy mạnh mẽ trong quyết tâm của mình.  Frank dùng mũi giầy này đặt vào gót giày kia cởi ra dưới gầm ghế.

Khi xe bus dừng lại ở cuối chặng, Frank đợi cho mọi người xuống hết, rồi cậu cúi xuống gầm ghế, cầm đôi giầy thể thao lên, Frank đi nhanh về phía người phụ nữ, trao giày cho bà và nói :

– Bà ơi, cháu biếu bà đôi giầy này.

Rồi Frank vội vã bước ra cửa xuống xe, không kịp thấy người phụ nữ đang ngỡ ngàng.  Bà kêu lên:

– Xem này, đôi giầy mới vừa làm sao chứ!

Bác tài nói với theo :

– Này cậu bé, trong 20 năm lái xe bus, tôi chưa hề chứng kiến một việc như thế này đấy!

Người phụ nữ bật khóc, bà mếu máo :

– Cám ơn cậu nhiều lắm! Bác tài thấy không, tôi đã bảo là Chúa sẽ lo cho tôi mà!

Frank quay lại mỉm cười với người phụ nữ :

– Thưa bà, không có chi lớn lao đâu! Vả lại sắp lễ Giáng Sinh rồi!

Frank vội vã đi. Dường như đám mây xám trong lòng cậu đã tan biến. Trên đường về nhà với đôi chân trần, cậu chẳng thấy chân mình lạnh chút nào cả!

***************

Cảm nhận được cái nỗi thống khổ của người khác, đó là một nghĩa cử đẹp.  Nhưng cảm nhận được trong khi chính mình đang mang tâm trạng của một con người không còn tồn tại, vô hình.  Thật là quả cảm, đáng trân trọng hơn.

Đức Giêsu đã dạy : “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại” (Lc 6,38).

Ngưòi phụ nữ trong niềm cậy trông phó thác, đã thực hiện hết sức của mình để lo cho con cái được ấm áp, đến phần bản thân mình bà chỉ biết phó thác vào Thiên Chúa, rồi giờ đây bà cảm nhận được Chúa đã sắp xếp cho bà, qua tấm lòng thương cảm của anh chàng Frank.

Hai con người, hai hoàn cảnh khác nhau hoàn toàn.  Nhưng cả hai đã thể hiện nơi bản thân mình một niềm tin thật sâu sắc.  Một người đã làm hết sức lực khả năng của mình, rồi đặt hết cả niềm tin vào sự sắp đặt của Thiên Chúa.  Còn người kia biết quan tâm đến người khác, cảm nhận được sự thiếu thốn của người sống quanh mình, từ đó phát sinh tấm lòng thương người. Cả hai đều cảm nhận được niềm vui và sự thanh thản.

Barbara A. Louis

***************

Lạy Chúa, cho con cảm nhận được Chúa đang hiện diện trong những con người khốn khổ đó, như mẹ Têrêsa, cha Đamiêng … hôm nay trong câu chuyện, qua nghĩa cử đẹp của anh chàng Frank, và còn biết bao những tấm gương sáng khác đáng cho con học hỏi và thực hành, để con biết cảm thông, chia sẻ với những người cùng khổ đang sống chung quanh con.  Amen!

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

Nhà đại thiên văn Kepler khám phá ra rằng vào năm Chúa Giáng Sinh, có một hiện tượng bất bình thường xảy ra giữa các vì sao.  Ông nói về hai ngôi sao Jupiter và Saturn rằng, bình thường chúng vẫn quay cách đều nhau, năm đó chúng sáp lại gần nhau đến độ ánh sáng của ngôi sao này cộng hưởng với ánh sáng của ngôi sao kia, tạo ra một luồng ánh sáng khác thường và kéo dài đến cả mấy tháng.

Phải chăng đó chính là ngôi sao lạ đã dẫn đường cho Ba Vua tìm ra Chúa Hài Nhi?

***************

“Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông” (Mt 2,2).  Người xưa cho rằng ngày ra đời của các vĩ nhân thường được báo hiệu bằng sự xuất hiện của các ngôi sao lớn.  Các chiêm tinh gia thường nghiên cứu chuyển động của các vì tinh tú để đoán biết định mệnh con người.  Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra sự sinh hạ của Đấng Cứu Thế, Vua dân Do Thái.

Quả thật, người Do thái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ bao thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh:  “Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17).  Tiên tri Mikha cũng đã tiên báo:  “Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các chi tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel” (Mk 5,1).

Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Người cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Bêlem để gặp Đấng Cứu Tinh.

Nhưng có một sự thật vô cùng trớ trêu: là khi vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ đợi chờ, dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm, các thượng tế và kinh sư thì dửng dưng thụ động, cho dù họ thông thạo Kinh thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế.  Hêrôđê lại còn hoảng hốt vì sợ ngai vàng của mình bị lung lay.  Chỉ có các đạo sĩ đại diện cho lương dân lại hăng hái lên đường, hăm hở tìm kiếm, cho dù cuộc tìm kiếm đầy phiêu lưu trắc trở.  Và khi tìm được rồi, Đấng Cứu Thế cũng chẳng có vẻ gì là một quân vương, không uy nghi trong cung điện đền vàng, nhưng họ vẫn vui mừng đón nhận, xin được bái kiến và dâng lễ vật quí giá với tất cả tấm lòng thành.

Sau này, Chúa Giêsu đã phải thốt lên:  “Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời.  Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài” (Mt 8, 11-12).

Lễ Hiển Linh là lễ Chúa tỏ mình cho dân ngoại, nhắc chúng ta nhớ đến việc truyền giáo.

Nhờ ngôi sao lạ mà các đạo sĩ đã tìm ra Đấng Cứu Thế; chúng ta cũng hãy là những ánh sao sáng thu hút những tâm hồn đang khao khát tìm kiếm Chúa.

Nếu con người đang đi trong bóng tối của gian dối, hận thù; chúng ta hãy là những ánh sao của chân thành, phục vụ và yêu thương.

Nếu thế giới đang chìm đắm trong bóng tối của buồn phiền, thất vọng; chúng ta hãy là những ánh sao của niềm vui, an bình và hy vọng.

Nếu Chúa đã gọi:  “chúng con là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14), thì đó là một vinh dự vô cùng lớn lao, nhưng cũng là một trách nhiệm nặng nề.

Chúng ta đừng chỉ lo nguyền rủa bóng tối, nhưng hãy dấn thân thắp lên những ngọn nến sáng:  Nến sáng của tin yêu và hy vọng, của bác ái và vị tha, để cả trái đất này tràn ngập ánh sáng tình yêu Chúa.

Chúng ta đừng chỉ lo gìn giữ ngọn nến của ngày chịu phép rửa tội, nhưng hãy can đảm thắp sáng những ngọn nến còn trong bóng tối lầm lạc và tội lỗi, để thế giới này luôn đi trong ánh sáng chân thật của Chúa.

***************

Lạy Chúa Hài Đồng, cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối vẫn còn tiếp diễn trên thế giới này và trong lòng mỗi người chúng con.  Xin cho chúng con biết kín múc nơi Chúa là chính Nguồn Sáng, để chúng con có khả năng đẩy lui mọi bóng tối trong chúng con và trong lòng mọi người.  Amen!

Thiên Phúc

NHỮNG CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH: 5 XU

Tình thế thật tuyệt vọng.  Ngay ngày đầu tiên vào lớp bảy, Willard P. Franklin đã thu mình trong một thế giới riêng.  Nó đóng sập cánh cửa tình cảm đối với các bạn trong lớp, và cả với tôi, thầy giáo của nó.  Nỗ lực tạo ra một mối quan hệ thân thiện của tôi chỉ gặp phải sự thờ ơ lạnh nhạt.

Ngay cả mỗi khi tôi chào buổi sáng cũng chỉ được đáp lại bằng những tiếng ừ hử.  Bạn bè thì hoảng sợ. Willard cô đơn tuyệt đối, nó không thấy cần thiết phải hạ thấp cái rào cản của sự im lặng mà nó đã dựng lên – nhưng tôi biết chắc chắn không phải đó là cách nó muốn chơi nổi hay gây sự chú ý.

Sau dịp lễ Tạ ơn vài ngày, chúng tôi nhận được thông báo về sự quyên góp cho lễ Giáng Sinh.

“Giáng Sinh là dịp lễ để chúng ta trao tặng,” tôi nói với lũ trẻ trong lớp.  “Có thể có ai đó đang học ở đây không được hưởng một mùa Giáng Sinh hạnh phúc.  Bằng việc đóng góp, chúng ta sẽ giúp mua thức ăn, quần áo và đồ chơi cho những người thiếu thốn đó.  Các em có thể mang phần của mình đến vào ngày mai.”

Vào ngày hôm sau, khi tôi hỏi về chuyện quyên góp, tôi phát hiện ra rằng tất cả mọi người đều quên béng đi mất – tất cả mọi người, trừ Willard P. Franklin.  Thằng bé thọc tay rất sâu trong túi quần trong lúc chậm chạp bước lên bàn tôi.  Nó cẩn thận bỏ vào lọ một đồng năm xu.

“Em không cần uống sữa vào giờ ăn trưa,” nó lầm bầm. Trong một khoảnh khắc, chỉ một giây ngắn ngủi, nó mỉm cười.  Tôi đứng nhìn nó quay về chỗ.

Chiều tối hôm đó, sau giờ học, tôi lấy chỗ tiền quyên góp ra – một đồng năm xu – và đưa cho thầy hiệu trưởng.  Tôi không thể không kể cho thầy nghe về cá tính của người đã đóng góp số tiền ít ỏi đó.

“Không biết đúng không, nhưng tôi tin rằng Willard đã sẵn sàng hội nhập với thế giới xung quanh,” tôi nói với thầy hiệu trưởng.

“Vâng, tôi cũng hy vọng vào điều đó,” ông gật đầu. “Và tôi còn có linh cảm rằng chúng ta cũng thấy hài lòng khi cậu bé cho chúng ta được chia sẻ chút đỉnh vào cái thế giới riêng của nó.  Tôi cũng vừa nhận được danh sách của những gia đình nghèo trong trường đang cần giúp đỡ trong mùa Giáng Sinh. Xem thử đi.”

Và khi liếc qua, tôi nhận thấy rằng Willard P. Franklin và gia đình của mình được xếp đầu danh sách.

Không có ai quá khó khăn đến nổi không thể giúp người khác.  “Hãy yêu mến người thân cận như chính mình” ngay từ Giáng Sinh năm nay bạn nhé.

Sưu tầm

Ý NGHĨA SÂU XA CỦA HANG ĐÁ BÊ-LEM

Biến cố lịch sử Chúa Giáng Sinh và Hang đá Bê-lem là hai sự kiện luôn gắn chặt với nhau bất khả tách rời, đến nỗi người ta không thể tưởng tượng được một Lễ Giáng Sinh mà lại thiếu sự hiện diện một Hang đá tại các Giáo đường cũng như tại đa số các gia đình.  Nhưng một điều mà nhiều người chưa hiểu rõ được về Hang đá Bê-lem, nơi Chúa giáng sinh, đó là ý nghĩa đặc trưng của những hình tượng được trình bày trong đó.

Trước hết các kiểu cách và hình thức trưng bày Hang đá trên thế giới rất đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào quan niệm và truyền thống văn hóa của các dân tộc.  Nhưng tất cả mọi trưng bày về Hang đá đều mang một nội dung đồng nhất:  Trình bày quang cảnh mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh!

Về nguồn gốc sự trưng bày Hang đá Bê-lem người ta có thể nói được rằng, đó là một khám phá của thánh Phanxicô Assisi.  Vào năm 1223 trước khi thuyết giảng ở Greccio về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa giáng sinh làm người trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nghèo hèn, thánh nhân đã cho dàn dựng lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội một Hang đá bằng gỗ, bên cạnh có các con bò lừa.  Từ thế kỷ XV, các hình tượng bằng nhựa được tưng bày đầy đủ để mọi người có thể chiêm ngắm.  Nhưng một điều mà nhiều người chưa biết rõ được là những hình tượng được trưng bày trong Hang đá Giáng Sinh còn mang những ý nghĩa rất sâu xa, chứ không chỉ dừng lại nơi hình thức trình diễn nghệ thuật mà thôi.  Mỗi hình tượng có một ý nghĩa tượng trưng riêng biệt.

1) Chúa Hài Đồng

Hình tượng nhỏ nhất trong Hang đá phải kể là tượng Chúa Hài Đồng, và tuy nhỏ nhất nhưng lại là trọng tâm của Hang đá, được đặt nằm trong một chiếc máng ăn của loài vật lót đầy cỏ khô và được bọc một chiếc khăn trắng.  Chiếc máng ăn của chiên bò và nắm cỏ khô lót trên đó là tượng trưng cho sự nghèo hèn tột độ, đến trở thành vô sản đúng nghĩa.  Còn chiếc khăn trắng bọc lấy Hài Nhi Giêsu là dấu hiệu báo trước chiếc khăn trắng liệm xác Người sau cái chết thảm thương trên núi sọ vì tội lỗi nhân loại.

2) Mẹ Maria

Từ năm 1400 trở đi, tượng Mẹ Maria được trưng bày trong Hang đá như một người Mẹ đang chìm sâu vào trong sự thờ lạy và suy ngắm mầu Giáng sinh của Chúa Cứu Thế mà Mẹ đã từng được diễm phúc cưu mang và sinh hạ.  Nhưng lòng Mẹ Maria cũng không tránh được những băn khoăn lo âu như bao người mẹ khác khi sinh con đầu lòng, với những tư tưởng buồn vui lẫn lộn, chẳng hạn như: rồi đây Con Mẹ sẽ lớn lên thế nào trong một gia đình vô sản như gia đình Mẹ và Thánh Giuse, trăm bề thiếu thốn nghèo nàn?  Hay: Con Mẹ sẽ sống ra sao trong một thế giới thiếu tình người và chỉ biết ích kỷ, hận thù và ghen ghét?  Đó là tất cả những điều được trình bày trên nét mặt đầy suy tư của tượng Mẹ Maria.  Dĩ nhiên, tuy Mẹ băn khoăn suy nghĩ, nhưng Mẹ không buồn phiền thất vọng, vì Mẹ tín thác tất cả cho sự quan phòng của Thiên Chúa tình thương.

3) Thánh Giuse

Thánh Giuse mang một chiếc áo choàng rộng, tượng trưng cho sứ mệnh cao cả nhưng đầy khó khăn mà Thiên Chúa Cha đã giao phó cho thánh nhân.  Đó là bảo vệ Con Một của Người, Ấu Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế của cả nhân loại cùng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thánh của Người. Chiếc đèn thắp sáng mà thánh nhân cầm trong tay muốn nói lên sứ mệnh săn sóc gìn giữ Chúa Hài Đồng Giêsu, ánh sáng vĩnh cửu “chiếu soi mọi người đang ngồi trong bóng tối sự chết”. Tượng Thánh nhân được đặt đứng ở phía phải, bên cạnh các con bò và đang chiêm ngắm Chúa Hài Đồng với vẻ mặt vui sướng và tin tưởng.

4) Các Thiên thần

Trong đêm Thiên Chúa giáng sinh trong hang chiên lừa xa xôi hẻo lánh, thiếu bóng người qua lại thăm viếng, nhưng ca đoàn các Thiên Thần từ trời cao hiện đến thờ lạy và ca hát mừng Chúa Hài Đồng với những điệu nhạc thiên đàng du dương huyền diệu: “Gloria in excelsis Deo”: Vinh Thiên Chúa trên chốn trời cao thẳm!  Chính các Thiên thần là những vị đã báo tin cho các chú mục đồng đang ngủ vùi trong đêm đông về tin vui hồng ơn cứu độ của nhân loại.

5) Các Mục đồng

Các chú mục đồng với nét mặt vô cùng vui mừng và ngạc nhiên chiêm ngắm Ấu Chúa Giêsu mới giáng sinh, họ là biểu tượng cho từng lớp nhân loại nghèo hèn mà Thiên Chúa đặc biệt quan tâm ưu ái. Chính họ là đối tượng được Chúa Cứu Thế sau này yêu thương, bảo vệ và đề cao, vì “họ sẽ chiếm hữu được Nước Thiên Chúa làm của mình”.  Chính Người đã muốn trở nên một người trong họ và hoàn toàn đứng vào hàng ngũ của họ qua sự sinh hạ trong cảnh cực kỳ thiếu thốn nghèo hèn.  Hơn thế nữa, Người đã tự đồng hóa với họ khi tuyên bố: “Những gì các ngươi làm hay không làm cho một kẻ nghèo hèn bé mọn nhất, là các ngươi đã làm hay không làm cho chính Ta vậy.”

6) Các con bò và lừa

Các con loài vật thực sự là “các bầy tôi” dễ thương phục dịch cho Ấu Chúa Giêsu, Vua của các vua, ngay từ giờ phút đầu tiên khi Người cất tiếng chào đời.  Những con bò tượng trưng cho Do-thái giáo đang phải gồng mình dưới sức nặng của Luật pháp, nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực.  Còn những con lừa tượng trưng cho dân ngoại đang phải mang kiếp con vật chuyên chở trên mình bao gánh nặng tội lỗi, trong đó có gánh nặng nề nhất là tội không nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tối Cao duy nhất và Tạo Hoá muôn loài.  Nhưng những con lừa cũng tượng trưng cho sự lao công và sự thờ tự.  Sự hiện diện của những con bò và lừa trong Hang đá Bê-lem muốn nói lên rằng Đức Kitô gánh vác mọi tội lỗi nhân loại và sau cùng sẽ hiến tế thân mình làm lễ đền tội cho họ.

7) Ba Vua

• Melchior quì gối dâng lên Ấu Chúa Giêsu vàng, tượng trưng cho quyền lực và sự giàu sang.  Ông là một người Âu Châu.
• Balthasar đứng ôm trên tay bình đựng nhũ hương, tượng trưng của lễ hiến tế và sự cầu nguyện.  Ông là người Á Châu.
• Caspar là vị đạo sĩ trẻ nhất, đứng sau hai vị kia và ôm trên tay bình đựng mộc dược, tượng trưng cho sự đau khổ và sự chết.  Ông là người gốc Phi Châu với nước da đen sậm.
• Một vị vua thứ bốn tên là Artaban, ít khi được nhắc đến và được trưng bày trong Hang đá, tượng trưng bằng viên đá quý.

Ở Đức quốc, hằng năm vào dịp Lễ Chúa Hiển Linh hay cũng được gọi là Lễ Ba Vua, tất cả các thiếu niên Công Giáo trong các Giáo Xứ và Giáo Họ trên toàn quốc tổ chức thành các nhóm nhỏ – gồm có ba em đóng vai ba vị vua, một em cầm ngôi sao lạ đi đầu và một em cầm bị đựng tiền – để đi thăm viếng tất cả mọi gia đình trong Giáo xứ, mang đến cho họ sứ điệp Giáng Sinh và đồng thời lạc quyên tiền bạc cho các trẻ em ở các nước nghèo, mỗi năm số tiền lên tới từ 40 đến 50 triệu Euro.  Khi đến thăm các gia đình như thế, các em đã viết lên cửa nhà các gia đình dấu hiệu: 20+C+M+B +08.  Đó là tên Ba Vua như đã nói trên.  Nhưng ý nghĩa thực sự của ba chữ viết tắt đó là câu chúc lành bằng tiếng La-tinh: “Christus mansionem benedictat”-2008: xin Chúa Kitô chúc lành cho nhà này trong năm 2008.

8) Các hình tượng khác

Tùy theo quan niệm văn hóa và sở thích của mỗi nơi, mỗi miền, người ta còn trưng bày trong Hang đá những hình tượng khác nữa, mặc dù trên thực tế những tượng đó không có chỗ đứng chính thức và quen thuộc trong số các hình tượng của Hang đá, nhưng mỗi hình tượng cũng mang một ý nghĩa tượng trưng rất sâu sắc.  Ví dụ: tượng bác nông phu đang cầm cày, tượng trưng cảnh thiên nhiên chốn thiên đàng trong Đêm Giáng Sinh.  Bác tiều phu, tượng trưng cho người quản trị những mầu nhiệm nguyên thuỷ của nhân loại, mà ngày nay trong thời đại kỹ thuật đã bị đào thải.  Bác ngư phủ tượng trưng cho sự cứu thoát đã được thực hiện.  Và sau cùng là các nhạc công tượng trưng cho sứ mệnh đi loan báo Tin Mừng cho mọi người.

Nguyện xin Chúa Hài Đồng, qua lời bầu cử của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, ban cho quý vị và các bạn một Lễ Giáng Sinh đầy ơn phúc Thiên đàng và niềm vui tâm hồn.

Lm Nguyễn Hữu Thy – VietCatholic News

TRUYỀN TIN

Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc.1:38)

Bạn thân mến ! Trên đây là lời nói “Xin Vâng” mà Đức Maria đã thân thưa lên cùng Thiên Chúa trong ngày xứ thần Gabrien truyền tin cho Đức Maria cách đây hơn hai ngàn năm về trước, ngày mà mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng trinh nữ Maria đã thực sự bắt đầu.

Khi suy gẫm về Mầu Nhiệm Nhập Thể,  ta thường nghĩ ngay tới biến cố Chúa sinh ra ở Bêlem.  Thật ra mầu nhiệm Nhập Thể đã bắt đầu ngay từ giây phút Truyền Tin,  giây phút mà  Đức Maria nói lên hai tiếng xin vâng trước Thánh Ý Thiên Chúa.

Với tâm tình đầy tin tưởng, vâng phục và phó thác. Hai tiếng “Xin Vâng” của Đức Maria đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới, đã khai mở kỷ nguyên cứu rỗi, đã đem lại cho muôn dân muôn nước niềm hy vọng và bình an.

Với hai tiếng “Xin Vâng”, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự hủy thân phận mình là Thiên Chúa, là  đấng “tạo hoá” đầy quyền năng để trở thành một “tạo vật” với một hai tế bào nhỏ bé trong cung lòng Trinh Nữ Maria.  Với hai tiếng “Xin Vâng”, Ngôi Lời đã trở thành một thai nhi, lớn lên trong lòng Đức Mẹ như bao nhiêu con người bình thường khác.

Mẹ Maria đã nói lời xin vâng để làm theo Thánh Ý Thiên Chúa trong ngày truyền tin.  Mẹ Maria không chỉ nói lời xin vâng một lần với Thiên Chúa, không chỉ thốt lên một lần để thay cho tất cả, nhưng lời xin vâng đã đi theo suốt cuộc đời của Mẹ, đã liên lỉ gắn bó trong trọn một kiếp người.

Với hai tiếng xin vâng, Mẹ Maria đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, đã cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc.  Từ tiếng “Xin vâng” đầy phó thác và tuân phục vào ngày Truyền Tin đến lời “Xin vâng” trọn vẹn tin yêu và chấp nhận dưới chân thập giá Đức Giêsu.  Mẹ đã chấp nhận đứng dưới chân Thập Giá để dâng hiến Người Con Duy Nhất của Mẹ lên cho Thiên Chúa Cha.

Không phải chỉ có Đức Maria được mời gọi, mà mỗi người chúng ta cũng đều được mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta hôm nay cũng đều được Thiên Chúa viếng thăm và truyền tin trong từng ngày, từng biến cố của cuộc sống.  Ước chi ta có trái tim rộng mở của Đức Maria, có tâm hồn vâng phục trong khiêm nhường của người trinh nữ nơi thôn làng Nadarét để luôn biết “Xin Vâng” trước những lời mời gọi của Thiên Chúa.

Mùa vọng với biến cố Truyền Tin được nhắc đến trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, phải chăng đó lại là một “cơ hội thuận tiện” để tất cả chúng ta hăng hái lên đường đáp trả lời mời gọi của Tin Mừng : ăn năn sám hối, chay tịnh và chia sẻ.

Sống mầu nhiệm “Truyền Tin” phải chăng đó là biết can đảm  để “xin vâng” trước lời mời gọi của Tin Mừng, “xin vâng” trước mọi nghịch cảnh của cuộc đời, “xin vâng” trước bệnh tật đói nghèo mà vẫn bình an thanh thản, “xin vâng” trước những đòi hỏi phải hy sinh, chối từ để giữ tâm hồn trong sạch, lương tâm công chính, “xin vâng” trước những bổn phận và trách nhiệm đòi hỏi phải đầu tắt mặt tối, tất bật vất vả với nước mắt mồ hôi, “xin vâng” khi phải cúi xuống để rửa chân cho anh em, hay phải đứng lên để can đảm bênh vực cho công bằng và chân lý, cho hòa bình và bác ái, cho dù phải mất mát thiệt thòi hay ngục tù tử đạo. 

***************

Lạy Mẹ Maria!  xin Mẹ giúp chúng con luôn biết noi gương bắt chước Mẹ nói lời “xin vâng” trong suốt cuộc lữ hành trần thế này.  Xin Mẹ cho con biết mở lòng và cộng tác với Ơn Chúa để hoàn thành sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho mỗi người chúng con. Amen

Trích từ R. Veritas

SỨ ĐIỆP GIÁNG SINH CỦA VỢ HIỀN QUÁ CỐ

… Tôi trở lại Paris sau thời gian dài vắng nhà.  Trên xấp thư để nơi bàn, tôi chú ý ngay tấm thiệp với chữ “khẩn”, được gạch dưới hai lần.  Tấm thiệp của Marco.  Chàng có dịp đến thủ đô Paris và ngỏ ý muốn gặp tôi.  Từ mấy chục năm qua, chúng tôi bặt tin nhau.  Marco là chồng của Isabella, bạn gái tôi.  Nàng bị mật vụ đức quốc xã giết tại Varsava, thủ đô Ba Lan, vào đầu năm 1944.  Giờ đây nhìn nét chữ Marco, lòng tôi bồi hồi xúc động, nhớ lại bao kỷ niệm thời xuân trẻ.

Marco và Isabella là cặp tình đặc biệt.  Isabella vừa đẹp vừa đoan trang.  Nàng sống trọn vẹn niềm tin Kitô.  Marco là thanh niên vô thần.  Khi đôi bạn tuyên bố lấy nhau, nhóm sinh viên Công Giáo chúng tôi hết sức ngạc nhiên.  Marco dõng dạc tuyên bố:

– Chúng tôi tôn trọng quan điểm riêng của mỗi người.

Lễ thành hôn diễn ra vào tháng 5 năm 1939.  Bốn tháng sau, thế chiến thứ hai bùng nổ.  Chúng tôi tản mác mỗi người một phương.  Mãi đến năm 1945, tôi mới biết Isabella bị giết.

***************

…Chúng tôi vui mừng gặp lại nhau.  Tôi hồi hộp muốn biết rõ về cái chết của Isabella, và về cuộc sống hiện tại của Marco.  Sau khi nghe tôi kể chuyện, Marco bắt đầu nói về người vợ hiền quá cố như sau.

Khi chiến tranh xảy ra, ngôi biệt thự chúng tôi ở thủ đô Varsava trở thành nơi gặp gỡ lén lút của nhóm kháng chiến.  Tiếp đến là trung tâm in lậu các tờ báo chống Đức.  Isabella là con tim của tất cả các hoạt động này.  Tôi bận việc nơi công xưởng.  Nàng ở nhà và lao mình vào việc phổ biến sách báo in lậu.  Tôi biết rõ việc nàng làm, nhưng không dám ngăn cản.  Một ngày tháng 12 năm 1943, tôi nói cho nàng biết nỗi lo sợ của mình:

– Anh sẽ ra sao nếu người ta giết em?

Nhìn thẳng vào mắt tôi, nàng âu yếm trả lời:

– Nếu em chết, em sẽ trở lại nói cho anh biết là có đời sau!

Tôi chỉ im lặng nhún vai nghi ngờ.  Đối với tôi lúc đó, chết là hết! Vài ngày sau, nàng bị bắt lúc đang phân phát các sách báo kháng chiến.  Nàng bị đưa đến nhà tù khủng khiếp nhất của Đức quốc xã ở thủ đô Varsava và bị tra tấn dã man.  Sau đó xác nàng bị vứt ra nơi bãi xác công cộng.  Khi đứng trước thân xác – trước đó tuyệt đẹp – giờ chỉ còn là đống thịt nhầy nhụa, tôi bỗng như người bị rơi xuống vực sâu.  Có điều lạ lùng, cho đến lúc đó, tôi hoàn toàn không tin linh hồn bất tử, tôi bỗng tin nhận rằng, chết không phải là hết!.

***************

Sau cái chết của vợ hiền, tôi mất trí và được đưa vào nhà thương điên.  Chỉ một tư tưởng duy nhất ngày đêm ám ảnh tôi:  “Nàng hứa sẽ tỏ dấu cho tôi biết.  Nếu linh hồn nàng bất tử, nàng sẽ giữ lời hứa!”

Tôi được chữa trị trong vòng hai năm.  Ngày 15-12-1945, tôi rời bệnh viện tâm thần.  Mấy người bạn thân có nhã ý mời tôi đến Gorbi, gần thành phố Kielce, nơi chúng tôi hưởng tuần trăng mật lúc vừa lấy nhau.  Bao kỷ niệm êm đềm hiện về xâu xé lòng trí tôi.

Ngày vọng Lễ Giáng Sinh năm đó, 24 tháng 12, khoảng 10 giờ sáng, tôi rời nhà đi lang thang trong cánh đồng phủ tuyết trắng tinh.  Tôi buồn vô cùng và lẩn quẩn ý muốn tự tử.  Bỗng phép lạ xảy ra.

Một người đàn ông đang khó nhọc bước về hướng tôi.  Khi chạm mặt tôi ông hỏi:

– Không rõ ông có biết một người ở đây tên là Marco .. không?

Tôi đáp ngay:

– Chính tôi.

Ông ta mừng rỡ nói:

– May quá! Tôi mang đến cho ông sứ điệp của vợ ông!

Ông ta không để ý phản ứng “chết đứng” của tôi lúc bấy giờ.  Ông đút tay vào túi áo trong, rút ra một phong thư, đưa cho tôi và nói:

– Nàng trao cho tôi hôm trước ngày bị hành quyết. Lúc đó tôi là y sĩ được gọi đến dãy nhà giam phụ nữ.  Nàng nói với tôi:  “Bằng mọi giá, xin ông làm ơn trao thư này tận tay chồng tôi.  Tôi sẽ cầu nguyện để ông không gặp chuyện chẳng lành”.  Lúc đó tôi còn là đảng viên cộng sản.  Vậy mà tôi đã hứa với nàng và tôi đã giữ lời hứa.  Tôi cẩn thận mang lá thư trong mình như chiếc bùa hộ mệnh.  Và suốt hai năm qua, tôi gặp không biết bao khốn cực, nhưng tôi đã thoát qua hết!  Tôi không biết diễn tả như thế nào.  Nhưng hiền thê ông đúng là người đàn bà đức hạnh và phi thường.  Bà đã làm vẻ vang cho giống nòi và cho dân tộc Ba Lan.  Từ ngày hân hạnh biết bà, tôi mới tin rằng, chết không phải là hết!

Tôi mời vị ân nhân đến nhà nhưng ông lễ độ từ chối và nói:

– Rất may tôi gặp ông ở đây. Ông thấy không, tôi nhất định trao cho ông bức thư này, chính ngày hôm nay.  Đó là món quà Giáng Sinh của vợ ông. Thôi, chào ông.

***************

Kể đến đây, Marco rút trong túi áo tờ thư đã cũ và trao cho tôi.  Tôi cảm động đọc những hàng chữ sau đây:

“Marco, ngày mai mọi sự sẽ hết.  Hay nói cho đúng, mọi sự sẽ bắt đầu.  Tha thứ cho em vì đã đột ngột từ biệt anh như thế.  Em nghĩ đến nỗi cô đơn vô bờ của anh sau khi em chết.  Nhưng em sẽ cầu nguyện thật nhiều cho anh để anh hiểu và đón nhận Đức Tin.  Điều người ta gọi là CHẾT, thật ra là cuộc SINH RA mới.  Em sẽ ở trong Tình Yêu của Chúa.  Và với tình yêu, không gì không thể làm được!  Em yêu anh: Không phải chỉ ở trần gian này, mà còn hơn thế nữa, trong thế giới bên kia.  Bắt đầu từ ngày mai, sẽ là hiện tại vĩnh cửu.  Em biết rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời em cầu xin.  Chúa đã hứa, bởi vì em cầu xin ơn cứu độ cho anh nhân danh Người…  Marco anh à, điều gì em không làm được nơi trần gian, em sẽ làm trên Thiên Quốc.  Với Chúa, anh sẽ tìm thấy An Bình và Niềm Vui…

Xin anh tha thứ vì em đã không sinh đứa con nào cho anh.  Nhưng anh biết đó, sau cuộc chiến này, sẽ có nhiều đứa trẻ không cha không mẹ… Em trìu mến hôn anh.  TẠM BIỆT ANH!”.

Đọc xong thư, tôi nghẹn ngào, không thốt được lời nào. Marco mỉm cười nhìn tôi và nói:

– Bạn biết không, bức thư của vợ hiền quá cố nhận được vào buổi sáng Vọng Lễ Giáng Sinh, đã biến đổi hẳn con người tôi. Bây giờ tôi mong ngày hội ngộ trên Thiên quốc và cố gắng sống xứng đáng với người phụ nữ, mãi mãi là hiền thê đức hạnh của tôi!

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

HOA HỒNG TRONG ĐÊM GIÁNG SINH

Tuyết đang rơi.  Bobby đang ngồi ở khoảng sân sau nhà, nó thấy lạnh hơn.  Bobby không mang giày ống cao.  Nó không thích, mà nó cũng chẳng có đôi nào.  Chiếc áo khoác mỏng tanh không đủ giữ ấm cho Bobby.  Nó lạnh lắm.

Tuyết vẫn không ngừng rơi.  Hơn một giờ trôi qua, nó nghĩ mãi chưa ra món quà Giáng sinh tặng mẹ.  “Ôi, thật là chán. Giờ đây nếu có nghĩ ra mua gì thì mình cũng đâu có tiền mà mua.”  Nó lắc đầu, mặt buồn rười rượi.

Đã ba năm kể từ khi bố nó qua đời.  Ba năm qua, cả nhà năm miệng ăn đánh vật từng ngày với cuộc sống.  Không phải vì mẹ nó không quan tâm, mà chỉ vì không biết bao nhiêu mới đủ.  Mẹ làm cả ca đêm ở bệnh viện, nhưng đồng lương nhỏ bé cũng chỉ đủ chống chọi qua ngày.

Càng thiếu tiền và những thứ khác, cả nhà càng thương yêu và bảo bọc nhau hơn.  Cùng với anh chị và một đứa em, Bobby đảm trách mọi việc nhà khi mẹ vắng.  Ba chị em gái của nó đã chuẩn bị những món quà Giáng sinh rất dễ thương cho mẹ rồi.  Còn Bobby thì vẫn tay trắng, dù bây giờ đã là đêm Giáng sinh.

Lau vội dòng nước mắt, nó đá chân vào tuyết và đi xuống phố, nơi các cửa hiệu đang lấp lánh ánh đèn màu và nhộn nhịp tiếng nhạc Giáng sinh.  Một thằng bé sáu tuổi mồ côi cha, sao giờ đây nó thấy rất cần một người đàn ông để chuyện trò.  Nhưng sao khó quá!

Bobby đi dọc theo các cửa hiệu, nhìn đăm đắm vào những tủ kính được trang trí thật lộng lẫy. Mọi thứ sao mà đẹp đến thế, mà cũng xa tầm tay nó đến thế!  Trời tối dần. Bobby đành phải quay về nhà.  Bỗng mắt nó bắt gặp một tia sáng nhỏ từ phía chân tường.  Nó cúi xuống và phát hiện ra đó là một đồng tiền sáng chói.

Giây phút đó, Bobby như thấy mình là kẻ giàu có hạnh phúc nhất thế gian . Một làn hơi ấm chạy dọc cơ thể.  Nó chạy nhanh về phía cửa hiệu đầu tiên nó nhìn thấy.  Nhưng rồi lòng phấn khích bỗng tan thành mây khói khi người chủ hiệu bảo rằng nó sẽ chẳng mua được thứ gì với đồng tiền này.

Nó trông thấy một hàng hoa và quyết định bước vào trong chờ tới lượt mình.

“Gì vậy cháu?”, người bán hoa hỏi.

Bobby chìa đồng xu ra và nói rằng liệu nó có thể mua một bông hoa làm quà Giáng sinh cho mẹ không.

Người bán hoa nhìn vào đồng 10 xu.  Đặt tay lên vai thằng bé, ông trả lời: “Hãy đợi ở đây.  Để chú xem chú có thể giúp cháu được gì nhé!”.

Đứng đợi, Bobby nhìn những bông hoa đầy màu sắc xung quanh.  Dù là một thằng con trai nhưng nó có thể tưởng tượng được rằng mẹ và các chị em gái nó yêu những bông hoa như thế nào.

Tiếng cánh cửa đóng lại của người khách cuối cùng đưa Bobby trở về với hiện tại.  Chỉ còn một mình trong cửa hiệu, nó cảm thấy cô đơn và hơi chút lo sợ.

Bỗng người bán hoa xuất hiện, đi tới quầy.  Ông lấy lên mười hai bông hồng đỏ thắm, với những cành lá xanh điểm xuyến những chấm hoa trắng li ti, được bó lại với một chiếc nơ bạc thật xinh.  Tim Bobby như lặng đi khi người chủ hiệu đặt bó hoa vào một chiếc hộp màu trắng trong.

“Đây, của cháu đây.  Tất cả là 10 xu.” Ông nói rồi chìa tay ra.  Bobby đưa đồng xu một cách rụt rè.  Ôi, không biết mình có nằm mơ không đây?  Ai lại bán cả một bó hoa tuyệt đẹp thế kia với chỉ 10 xu cơ chứ!  Dường như cảm nhận được vẻ lưỡng lự của thằng bé, người chủ hàng hoa nói: “Chú đang bán giảm giá mười hai bông 10 xu, cháu có thích chúng không nào?”.

Nghe vậy, Bobby không còn ngần ngại nữa.  Khi chạm tay vào chiếc hộp dài xinh xắn, nó mới tin rằng đó là sự thật.  Bước ra khỏi hàng hoa, nó còn nghe giọng người bán hoa gọi với theo, “Giáng sinh vui vẻ nhé, con trai!”.

Người bán hoa quay vào, cùng lúc vợ ông đi ra. “Chuyện gì vậy anh?”

Nhìn ra ngoài cửa sổ, cố ngăn dòng nước mắt, ông nói: “Một điều kỳ lạ vừa mới xảy ra sáng nay. Em biết không, trong lúc anh sửa soạn mở hàng, anh nghe một giọng nói bảo rằng hãy dành ra một tá hoa hồng để làm một món quà đặc biệt.  Rồi mải mê với công việc anh cũng không nhớ tới nó lắm; nhưng vừa rồi không biết sao anh lại để mười hai bông hoa sang một bên.  Chỉ một vài phút sau, một thằng bé bước vào và hỏi mua một bông hoa tặng mẹ chỉ với một đồng mười xu.  Anh bỗng nhớ lại…..

Đã lâu lắm, khi ấy anh là một thằng bé rất nghèo, không có lấy một đồng mua quà Giáng sinh cho mẹ.  Đêm Giáng sinh năm ấy, khi đang lang thang một mình trên đường, anh gặp một người đàn ông xa lạ.  Ông ấy ngỏ lời cho anh mười đôla.  Đêm nay, khi gặp thằng bé, anh đã biết giọng nói ban sáng là của ai.  Và anh đã để lại mười hai bông hoa đẹp nhất.”

Hai người ôm nhau thật lâu.  Rồi họ bước ra khỏi nhà trong cái giá rét đêm Giáng sinh.  Trời lạnh lắm, nhưng trong lòng họ ấm áp hơn bao giờ.

Dạ Thư

***************

Chúa ơi, Một mùa Giáng Sinh lại về với vạn vật đất trời, một mùa để “cho” và “nhận”.  Xin cho con nghe được tiếng Chúa nói trong tâm hồn như người đàn ông bán hoa trong câu chuyện trên để con biết Chúa Hài Đồng Giêsu đang thực sự cần những món quà gì.  Xin cho con biết trao tặng những món quà ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh này mà không tính toán thiệt hơn, và cho những nơi mà con không mong được nhận lãnh lại.  Amen!

CHỨNG NHÂN TUYỆT VỜI

Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan.
Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin.
Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. (Gn.1:6)

***************

Bạn thân mến!  Lẽ sống của Gioan là làm chứng. Cuộc đời của Gioan là cuộc đời làm chứng, vì Ông được sai đến để làm chứng. Ông là nhân chứng đầu tiên và cũng là nhân chứng tuyệt vời nhất của Đức Giêsu.  Gioan không làm chứng cho mình hay về mình, bởi lẽ ông không phải là Ánh Sáng nhưng chỉ là ngọn đèn (Ga.5:35). Ông làm chứng để giúp mọi người tin vào Ánh Sáng thật là Ðức Kitô.

Thời gian ấy, sau khi nhiều người tuốn đến chịu phép rửa, tiếng tăm của Gioan trở nên lừng lẫy. Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã sai đến một nhóm người để tìm hiểu con người của ông.

Khi được hỏi lần thứ nhất: Ông là ai ? Gioan đã đưa ra ba câu trả lời phủ định: “Tôi không phải là Ðức Kitô” – “Không phải” – “Không”. Những tiếng không dứt khoát và trung thực. Ông không nhận những danh hiệu người ta nghĩ về ông. Ông chẳng phải là một Êlia tái giáng hay một vị Ngôn Sứ phi thường như Môsê. Gioan chỉ sợ người ta đánh giá quá cao về mình khiến Ðấng ông giới thiệu bị che khuất.

Lần thứ hai được hỏi: Ông là ai ? Gioan đã định nghĩa mình là một tiếng hô trong hoang địa, là lời mời gọi con người sửa đường cho Ðức Kitô. Ông biết rõ mình là người đến trước nhưng vị đến sau lại có trước ông và trổi vượt hơn ông ngàn trùng (Ga.1:30). “Tôi không đáng cởi quai dép cho Người.”  Ông nhận mình không xứng đáng làm đầy tớ cho Ðức Kitô.  Gioan tự  xóa mình trước Ðức Kitô. Ông chẳng sợ mất uy tín trước bao người ngưỡng mộ.  Ông nhìn nhận phép rửa của ông chỉ nhằm chuẩn bị cho một phép rửa lớn hơn trong Thánh Thần.  Gioan không ngần ngại giới thiệu môn đệ của mình đi theo Ðức Giêsu, và ông bình an và vui mừng khi người ta đổ xô đến với Ngài để chịu phép rửa (Ga.3:26).

Gioan không tìm mình, ông vượt lên trên cái vòng danh lợi. Có ai siêu thoát như Gioan không?  Ông từ bỏ mọi sự trong niềm vui hồn nhiên. Ông hạnh phúc vì mình đã hoàn thành sứ mạng. “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga.3:30). Sự khiêm hạ đã làm cho lời chứng của Gioan đáng tin tưởng hơn.

Gioan không chỉ là một người chứng.  Ông còn là người dọn đường.  Ông đã đóng vai trò người dọn đường cách tuyệt vời nhất.  Cả cuộc đời ông là một lời kêu gọi. Tiếng kêu vang lên ngay từ khi còn trong bụng mẹ để hướng lòng con người lên cùng Thiên Chúa. Tiếng kêu lớn dần qua cuộc sống từ bỏ, để nhắc nhở con người hãy canh tân dọn đường cho Chúa đến. Tiếng kêu càng cấp bách hơn bằng chính cái chết của ông, hầu thức tỉnh con người mau mau sám hối trở về.

Thời nào Thiên Chúa cũng cần có những người dọn đường, những Gioan thời đại dám vang lên tiếng kêu để thức tỉnh nhân loại, để chỉ dạy cho con người nhận ra Ơn Cứu Độ.  Dọn đường là lội ngược dòng, là chấp nhận bị thua thiệt, bị khước từ.  Người dọn đường không chọn lối sống lập dị, nhưng dám sống một cách khác thường trong chính cuộc sống bình thường của mình.

Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.”(Gn.1:26)  Hôm nay Ðức Giêsu vẫn còn là Ðấng xa lạ với nhiều người. Con người vẫn khắc khoải đi tìm những nẻo đường cứu độ, trong khi Ðấng Cứu Ðộ đã đến từ 2000 năm trước. Xin mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy xin được làm người chứng như Gioan, để giới thiệu cho bạn bè Ðấng Cứu Độ mà họ đang tìm kiếm.  Và cũng xin được làm người dọn đường như Gioan, để vang lên tiếng kêu mời làm thức tỉnh con người, để con người nhận ra Ơn Cứu Độ đến từ trời cao.

Trích từ R. Veritas

***************

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế Người là tất cả của đời tôi.

Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi,
đến với Người trong mọi sự,
và dâng Người tình yêu trong mọi lúc.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì,
nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người.

Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì,
nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người
và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi.

R. Tagore