BẪY NGẦM

Người Eskimo bắc cực có cách bẫy chó sói rất độc đáo.  Họ mài những con dao thật bén, rồi đem nhúng dao đó vào máu súc vật cho đến khi lưỡi dao bọc toàn máu.  Đêm đến, họ đem dao đó cắm ngoài đồng.  Chó sói thính hơi nghe mùi máu, chạy đến liếm lưỡi dao tới tấp.  Đến khi chính lưỡi nó bị dao cắt đứt, máu chảy ra, nó vẫn mải mê cắm đầu liếm mà không biết mình đang liếm máu mình cho tới lúc kiệt sức ngã lăn ra chết.

***************

Con sói vì mê say liếm máu tươi nên bị cạm bẫy mà chết.  Còn con người chúng ta thì sao?  Có khôn ngoan hơn không?  Chúng ta cũng bị nhiều cạm bẫy đang rút dần rút mòn cuộc sống mình mà không biết.  Hôm nay, trong câu chuyện Đức Yêsu bị cám dỗ trong sa mạc, tác giả Luca đã khéo léo lồng vào ba loại cám dỗ mà chúng ta thường mắc phải trong đời thường: ăn sung mặc sướng, vinh hoa phú quý, và danh vọng thành đạt.

Cạm bẫy thứ nhất đánh vào bản năng tự nhiên để sinh tồn, vào nhu cầu thể xác cơm ăn áo mặc.  Đành rằng có thực mới vực được đạo, nhưng con người không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần những giá trị tinh thần để nuôi dưỡng đời sống.  Biết bao nhiêu cảnh đời éo le đã và đang xảy ra quanh ta chỉ vì nhiều người chỉ lao đầu quần quật lo thỏa mãn nhu cầu vật chất mà quên đi ý nghĩa cuộc đời. Ta sống làm gì?  Sống cho ai?

Cạm bẫy thứ hai đánh vào nhu cầu tâm lý có voi đòi tiên.  Nó tạo ra cho chúng ta nhiều nhu cầu giả tạo về vật chất, cũng như tinh thần.  Đồ dùng phải là hàng hiệu.  Quần áo thì phải nhãn mác.  Xe cộ, nhà cửa phải bằng người ta.  Cái tâm lý muốn có tất cả, không muốn thua kém ai, nếu không biết tiết chế sẽ đưa chúng ta vào bẫy sập của lòng ham muốn vô độ.

Cạm bẫy thứ ba lại càng tinh vi hơn. Thành công, được trọng vọng, được người khác tri ân biết đến mình là một nhu cầu tinh thần.  Đo lường cuộc sống bằng thành công luôn là một cái bẫy nguy hiểm kể cả cho những ai tưởng mình đã thoát tục.  Một câu khen tặng có thể làm ta ngây ngất đến trời mây.  Một vài lời phê bình chỉ trích cũng có thể làm ta rơi vào lửa hận thù ghen ghét.  Còn thất bại thì sao?  Nó có làm cho ta thối chí nản lòng, rồi đâm ra ganh tị bất mãn không?  Nó có làm cho ta nghi ngờ vào tình thương của Thiên Chúa, vào sự hiện diện của Người không?

Ăn sung mặc sướng, vinh hoa phú quý, và danh vọng thành đạt là các bẫy ngầm làm chúng ta dễ dàng đánh mất đi giá trị của chính mình là “con cái Thiên Chúa.”  Ngay cả các tu sĩ linh mục cũng chưa chắc thoát ra được những cạm bẫy này.  Nếu ma quỷ không bỏ qua cho Đức Yêsu, dễ gì chúng bỏ qua cho chúng ta.  Bạn và tôi, chúng ta cần xin ơn Chúa để sớm nhận ra những cạm bẫy này trong đời sống hàng ngày, và tìm cách tránh xa chúng.

Sống trong một xã hội hưởng thụ, chúng ta dễ dàng bị hoa mắt bởi muôn vàn lời mời mọc quyến rũ. Tất cả những nhu cầu vật chất cũng như tinh thần, tự chúng không phải là điều xấu.  Chúng trở nên cám dỗ khi chúng ta dựa vào chúng để tìm hạnh phúc.  Chúng là những bẫy ngầm trói buộc chúng ta khi ta dành quá nhiều thời gian của cuộc sống để chạy theo chúng.

Nếu không cẩn thận chúng ta rất dễ lầm lẫn giữa “những gì tôi muốn” và “những gì tôi cần”. Lòng ham muốn sẽ chi phối, ảnh hưởng trên cuộc sống chúng ta.  Những quyến luyến dính bén, rất dễ đưa chúng ta vào con đường thỏa mãn chính mình và xa rời Thiên Chúa. Chúng ta cũng sẽ như con sói liếm máu mình cho đến chết.  Satan chỉ chờ có thế!

Mùa Chay.  Mùa của sự tỉnh thức, là thời gian để hồi tâm cảnh tỉnh trước những cạm bẫy của cuộc đời.  Mùa Chay cũng là lúc Hội thánh mời gọi chúng ta vào sa mạc của cõi lòng mình, để cùng đồng hành với Đức Kitô trên đường thao luyện tâm linh.   Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta phải tỉnh thức để không bị mê hoặc.

***************

Lạy Chúa Yêsu,  Chúa đã trải qua 40 ngày trong sa mạc để chịu thử thách.  Xin cho chúng con được ơn biết nhận ra những bẫy ngầm trong cuộc sống, và có sức mạnh để chống trả.  Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.  Nhưng xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ.  Amen!

Bảo Lộc

NẾU CÓ THỂ HÃY THA THỨ

“Điều cốt yếu là thuận vợ thuận chồng, nuôi nấng con cái thành người chứ không phải là bắt ghen, trị tội, làm cho ra lẽ, chẳng ích lợi gì…”. Đó là lời khuyên của một người đã trở thành bà nội đối với con cháu mình. Câu chuyện được kể như sau:

Tôi và vợ tôi là sinh viên học cùng khoa Xây dựng Trường ĐH Bách khoa. Sau 2 năm tìm hiểu, chúng tôi đã yêu nhau. Ra trường, cả hai đều có việc làm ổn định, rồi kết hôn. Cô con gái xinh xắn ra đời càng làm cho cuộc sống vợ chồng tôi thêm hạnh phúc.

Tuy nhiên, do yêu cầu công việc (cả hai đều là kỹ sư xây dựng) nên chúng tôi thường xuyên phải xa nhà để theo những công trình. Có khi con gái được nội, ngoại giữ suốt mấy tháng trời mà chẳng gặp ba mẹ. Vì vậy những giây phút bên nhau của chúng tôi cực kỳ quý báu. Tôi tận dụng thời gian đó để chăm sóc vợ, dạy bảo con. Trong thời gian xa cách, dẫu có nhiều cám dỗ nhưng tôi vẫn luôn giữ mình để xứng đáng với lòng tin yêu của vợ.

Thế nhưng vợ tôi lại không làm được như vậy, cô ấy đã sa ngã khi theo một công trình xây dựng ở tỉnh nọ. Trong những tháng ngày tham gia giám sát thi công, cô đã được người thầu quan tâm, chăm sóc. Trước, ông ta làm thế chỉ để lấy cảm tình của vợ tôi, giúp nghiệm thu công trình dễ dàng hơn. Nhưng dần dà, sự tán tỉnh quá mức của hắn đã khiến vợ tôi mê đắm. Cô ấy trở thành tình nhân của hắn mà tôi không hề hay biết.

Dù nghe nhiều người xì xào về đức hạnh của vợ mình, tôi vẫn luôn minh oan cho vợ, vẫn một mực cho rằng vợ mình vô tội. Cho đến một ngày, chính anh ruột tôi đến thẳng nơi làm việc tìm tôi, đưa cho tôi một vé máy bay kêu đi theo anh ấy về nhà, có việc cần. Vừa xuống máy bay, anh đưa tôi đến thẳng khách sạn, lên một phòng, gọi cửa. Khi cửa vừa hé mở, anh xông thẳng vào và chỉ cho tôi thấy người vợ thân yêu đang ở trong đó cùng ông chủ thầu. Hắn nhanh chóng chuồn khỏi, để lại vợ tôi cúi gằm mặt không nói được lời nào.

Anh trai tôi dằn mặt cô ấy… Tôi cảm thấy thật nhục nhã. Tôi muốn làm một cái gì đó để xả giận nhưng tay chân tôi như cứng đờ. Đột nhiên, cô ấy quỳ xuống, khóc lóc, xin tôi tha thứ – hãy vì con mà tha thứ cho cô ấy. Nhưng anh tôi lại xen vào: “Thế lúc cô phản bội chồng, cô có nghĩ đến con không?”.

Tôi lẳng lặng viết đơn ly dị đưa cho cô ấy. Trong thời gian chờ tòa xử, gia đình tôi đã thóa mạ, mắng chửi cô ấy thậm tệ, cấm cô ấy không được về thăm con. Những lần cãi vã, đứa con gái bé bỏng của chúng tôi mắt ngơ ngác hết nhìn ba rồi quay sang mẹ, miệng mếu máo nhưng chẳng ai để ý, vì chúng tôi còn mải chì triết, trách móc lẫn nhau. Ngày xưa, chỉ cần cháu sụt vài trăm gram là cả nhà đã lo sốt vó. Lúc này cháu gầy trơ xương, tối nào ngủ cũng giật mình khóc thét, lại hay cáu gắt, đôi lúc lại trầm tư chẳng muốn nói chuyện với ai…

Sau hai, ba lần hòa giải không thành, tòa án đã quyết định cho chúng tôi ly hôn, giao cho cô ấy được nuôi con.

Hôm ấy, tôi đang cho cháu ăn sáng, nghe tiếng xe mẹ về, cháu chạy vội ra, hai bàn tay bé xíu vỗ vỗ vào nhau, miệng cười thật tươi: “A, mẹ về, mẹ về”. Ngày xưa, những lúc ấy, tôi thường chạy lại đỡ xe cho vợ để cô ấy ôm con. Nhưng lúc đó tôi tỉnh bơ nhìn cô ấy khó nhọc dắt xe lên cái bục cao, mặc con bé giơ tay đòi mẹ ẵm. Cô ấy vào nhà, lấy mấy bộ đồ của con cho vào túi rồi dắt nó đi. Con bé một tay ôm con gấu bông, một tay nắm tay mẹ, vừa đi vừa nhìn lại phía sau xem tôi có đi theo không.

Cháu đi được một quãng rồi chạy trở lại, ôm lấy tôi hôn. Tôi rơi nước mắt, siết cháu vào lòng. Tôi ngước nhìn vợ, cô ấy xanh xao, hốc hác, mắt thâm quầng, chắc đã nhiều đêm không ngủ. Về với cô ấy con tôi sẽ ra sao khi không có cha? Còn nếu ở với tôi mà không có mẹ thì ai sẽ chăm sóc, vỗ về con? Trong lúc cô ấy đến nắm tay con để dắt đi, tôi chụp tay con lại thì vô tình chạm vào tay cô ấy. Bàn tay mềm mại ngày nào tôi đã siết để đặt lên lời thề suốt đời có nhau. Tôi khó nhọc bảo:

– Hay là thôi, em ở lại chăm sóc con cùng anh.

Đôi mắt cô ấy sáng lên nhưng rồi cụp ngay xuống.  Mãi khi tôi nhắc đến lần thứ ba cô ấy mới quăng túi đồ, ôm lấy tôi mà khóc.

Tha thứ thì dễ, nhưng quên đi thì quá khó. Tôi đã rất đau đớn mỗi khi nhớ lại sự việc và càng đau đớn hơn khi luôn bị gia đình dằn vặt. Tôi đã sống trong sự bức bối như vậy suốt một thời gian dài. Đã có lúc tôi bị khủng hoảng tưởng như không thể chịu đựng nổi, nhưng khi nhìn con vui vẻ, hạnh phúc, nằm ngủ ngon lành với ba một bên, mẹ một bên thì mọi chuyện lại vơi đi. Vợ tôi sau đó đã xin về gần nhà làm công tác hành chính để có thời gian chăm sóc tôi và con chu đáo hơn. Giờ đây, cuộc sống của tôi chẳng có gì đáng phàn nàn. Trong một lần về quê, bà nội tôi đã la rầy anh tôi:

– Vợ chồng nó hòa hợp lại với nhau là điều đáng mừng, sao tụi bây cứ mong cho chúng xào xáo? Lẽ ra khi hay vợ nó làm bậy, tụi bây phải khuyên răn để nó quay về với chồng nó. Đằng này đứa nào cũng chỉ muốn bắt quả tang, muốn quậy cho gia đình nó tan đàn xẻ nghé. Điều cốt yếu là thuận vợ thuận chồng, nuôi nấng con cái thành người chứ không phải là bắt ghen, trị tội, làm cho ra lẽ, chẳng ích lợi gì.

Nội tuy già nhưng sáng suốt hơn nhiều người trẻ. Nghe lời nội, tôi cố quên và dần dần cảm nhận được niềm hạnh phúc ngọt ngào của gia đình. Tôi viết bài này với mong ước thành thật: khi xảy ra điều lầm lỗi, nếu vợ chồng còn có thể tha thứ được, hãy vui vẻ tha thứ cho nhau. Bởi vì sự tha thứ là nền móng vững chắc nhất để xây dựng gia đình. Có nó, thì dù sóng to, bão lớn nào cũng có thể qua đi…

Sưu tầm

***************

Lạy Chúa Giêsu, trước khi học bài học “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6:27), xin dạy con biết tha thứ cho những người thân thương của chính mình trưóc.  Xin cho con ý thức rằng hạnh phúc cuộc sống nằm trong bàn tay con.  Bài học tha thứ tuy khó, xin Cha kiên nhẫn dạy con từng bước như dạy con thơ: “vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”.  Amen!

THA THỨ

Chúng ta sống tha thứ cho nhau để tâm hồn được nhẹ bớt buồn phiền và tiến tới trên đường đời, niềm hy vọng và an vui.  Ông Thomas Lenin văn sĩ người Hoa Kỳ đã kể lại mẫu gương tha thứ của một người cha đã ảnh hưởng trên suốt cuộc đời của ông như sau:

Tôi đã học bài học tha thứ đầu tiên từ cha tôi.  Lúc còn nhỏ, sinh sống tại một thành phố nhỏ, tôi đã thường được nghe cha tôi kể lại những tủi nhục khi đến xin làm công cho một ông chủ tiệm bánh ngọt giàu có nhất trong vùng.  Chính ông chủ đích thân chọn người làm công và chỉ cho làm trong một ngày, ngày hôm sau muốn làm phải ghi danh xin làm lại.

Câu hỏi quyết định là:  Anh theo đạo nào?  Công giáo hay Tin lành?  Chỉ những ai trả lời theo đạo Tin lành thì được ưu tiên nhận trước mà thôi.  Còn những ai xưng mình là Công giáo thì thường phải đợi đến phút cuối cùng.  Nếu ông chủ tiệm bánh chưa có đủ số nhân công thì mới được nhận vào làm việc trong ngày đó mà thôi.  Nhiều ngày cha tôi phải xấu hổ nói dối là mình theo đạo Tin lành để được ông nhận làm công trong ngày đó vì gia đình tôi cần số tiền sống ngày hôm đó.

Nhưng rồi vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng, ông chủ tiệm bánh ngọt bị sạt nghiệp.  Phần cha tôi thì may mắn được trở thành người lãnh đạo trong vùng.

Một buổi sáng nọ, người con của ông chủ tiệm bánh ngọt bị sạt nghiệp kia đến gõ cửa xin cha tôi tìm việc làm vì đã thất nghiệp từ lâu, gia đình anh ta trở nên túng thiếu.  Cha tôi niềm nở tiếp đón và chỉ một tuần sau là tìm được cho người con ông chủ tiệm bánh ngọt đó một chỗ làm khá tốt trong xưởng đóng tàu.

Tôi rất bỡ ngỡ hỏi cha tôi.  Đây là dịp để trả thù cho những tủi nhục trước kia.  Tại sao cha không trả thù?  Cha tôi bình tĩnh trả lời:

– Những gì đã xảy ra ngày trước không phải là do lỗi của anh ta, có lẽ cũng không do lỗi của ai cả, có thể họ là nạn nhân của những thành kiến, hiểu lầm. Thái độ tha thứ của cha tôi đó đã không ngừng gợi hứng cho trọn cả cuộc đời tôi sau đó.

***************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Tha thứ là một điều khó thực hiện và đòi hỏi nhiều nghị lực tinh thần.  Tha thứ thường đi ngược lại đòi hỏi của bản năng trả thù tìm lợi lộc riêng cho mình.  Trong cuộc sống thường nhật, cha mẹ anh chị em trong gia đình và bạn bè không thể nào tránh khỏi những xúc phạm đến ta, nhưng nếu không tha thứ thì tất cả mọi người đều bị vướng vào trong vòng lẩn quẩn của sự trả thù qua trả thù lại mãi mãi.  Trên bình diện nhân bản, nếu suy nghĩ cho cùng thì giải pháp tha thứ là giải pháp khó khăn nhất.  Nhiều người bị lâm bệnh vì ôm ấp trong lòng sự phiền muộn và không tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình.

Trên bình diện thiêng liêng thì sự tha thứ có giá trị thật tích cực, chứng tỏ tình thương làm phát sinh niềm an vui trong tâm hồn:  Nếu chúng con không thật lòng tha thứ cho nhau thì Thiên Chúa Cha trên trời cũng không tha thứ cho chúng con.  Sống tha thứ chúng ta mới sống hiệp nhất với nhau để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Là người Kitô hữu, hàng ngày lãnh nhận sự tha thứ của Chúa, chúng ta hãy nêu gương thực hành tha thứ đối với anh chị em xung quanh.

***************

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết sống tha thứ cho tất cả những ai xúc phạm đến chúng con và như thế con được trở thành dụng cụ mang niềm vui, hiệp nhất trong tình thương của Chúa đến mọi người.  Amen!

R. Veritas

KINH KÍNH MỪNG

Tôi đến thăm em, hai vợ chồng trẻ có đứa con 13 tháng tuổi vừa mới qua đời. Khi tôi bước vào nhà, người vợ với thân hình tiều tụy hốc hác, với đôi mắt đỏ hoe, trong thinh lặng và bình tĩnh, em dẫn tôi vào thăm xác cháu bé. Ngược lại người chồng không còn giữ được bình tĩnh, em ngồi trên ghế khóc nức nở. Trong tiếng than khóc đó, tôi nghe được tiếng than trách của em:

– “Chúa ơi! Chúa ở đâu ? Sao Chúa không nghe tiếng con cầu xin!!! ”  

***************

Nhớ lại thời gian một năm trước, ngay sau khi sanh con ra đời, em đã phải bồng bế con đi hết nhà chuyên môn này đến nhà chuyên môn khác, đi hết nhà thương này đến nhà thương khác, sau cùng là nhà thương Stanford Medical Center, nơi có những bác sĩ giỏi nhất nước Mỹ, nơi có những thuốc men và phương tiện y khoa tối tân hiện đại nhất thế giới. Nhưng tất cả đành bó tay trước căn bệnh nan y hiểm nghèo này. Sau đó, em phải mang con về nhà, phải nghỉ việc làm trong sở để ở nhà săn sóc cho con. Ngày đó em nói với tôi:

– “ Em có thể bán nhà cửa, xe cộ, nữ trang … bán tất cả để lấy tiền chữa bệnh cho con, miễn sao con em được sống.”

Tôi cúi đầu im lặng, không biết nói với em điều gì đây để an ủi nâng đỡ em.  Trong thinh lặng, tôi nhận thấy rõ nỗi khát khao mong mỏi cũng như hoàn cảnh khó khăn tuyệt vọng mà em đang gánh chịu. Trong thinh lặng, tôi cũng liên tưởng đến hoàn cảnh và cuộc sống của chính mình với hai đứa con được sanh ra khỏe mạnh, khôn lớn và ngoan hiền. Tôi cứ ngỡ rằng đó là “may mắn”, là “lẽ tự nhiên” trong cuộc đời mà chưa một lần nhận ra rằng đó là “ơn ban” từ trời cao để dâng 1 lời tạ ơn, để làm 1 việc đền đáp …

Ngày đó, ngồi bên em, tôi đề nghị với em là hãy trở về với “niềm tin” của mình, hãy trở về với thánh lễ, với bí tích, với cầu nguyện để gặp gỡ Thiên Chúa vì Ngài là đấng yêu thương và hay nâng đỡ cứu giúp.  Em đưa mắt nhìn tôi không phản đối nhưng cũng không tán thành. Tôi nhận ra sự e dè sợ hãi của em vì đã lâu lắm rồi em không đi nhà thờ, không tham dự thánh lễ.  Lần sau cùng em đến nhà thờ có lẽ là ngày em làm lễ cưới cách đây 5, 7 năm. Tôi biết ý, muốn tôn trọng em và  không muốn làm em khó chịu nên đã nói sang chuyện khác …

Ngày tháng sau đó tôi vui mừng ngạc nhiên vì gặp lại em trong thánh lễ Chúa nhật của cộng đoàn, và cả trong Thánh lễ chữa lành cho bệnh nhân nữa. Nhìn em bồng bế con tham dự thánh lễ, lòng tôi chùng xuống …Tôi thầm dâng lên Chúa lời cầu xin cho con em, cho gia đình em .

***************

Hôm nay đến thăm em, nghe tiếng khóc nức nở của người chồng với lời than trách : “Chúa ơi! Chúa ở đâu? Sao Chúa không nghe tiếng con cầu xin!”. Tôi hiểu được rằng niềm tin nhỏ bé vừa được thắp sáng trong em đang đứng trước phong ba bão táp, niềm tin non trẻ ấy đang gặp gian nan thử thách … Cầm tay em trong nhẹn ngào, tôi nói nhỏ vào tai em :”Cố gắng lên em nhé! Chúa không bỏ em đâu, Chúa vẫn thương em, vẫn ở bên em; trong căn phòng này với con em và gia đình em.  Hãy tin như vậy em nhé”.

Mấy tuần sau tôi có dịp trở lại thăm em, ngồi tâm tình với đôi vợ chồng trẻ, trong bình tĩnh và nhỏ nhẹ, em nói cho tôi nghe thật nhiều về chặng đường mà em vừa đi qua:

– Em đã bỏ nhà thờ lâu lắm rồi, em đã có 1 thời hoang đàng trác táng… Em cứ nghĩ rằng vì em tội lỗi, vì em bỏ Chúa nên Chúa đã không cho con của em được sống. Chúa đã không thương em nên đã để những đau khổ vất vả xảy đến trong gia đình em … Nhưng không phải thế, em đã nghĩ sai, Em thấy Chúa vẫn thương em, vẫn ở bên em, Chúa đã cùng sống với em trong những ngày đau khổ vất vả này, Chúa vẫn mang đến cho em bình an, tin tưởng và phó thác khi em mang con đi tham dự thánh lễ. Trong những ngày khó khăn ấy, em bắt đầu cuộc “trở về“ bằng 1 vài câu kinh vào ban tối trong gia đình, em thích đọc kinh Kính Mừng nhất vì kinh Kính Mừng đã giúp em chạy đến với Đức Mẹ, giúp em gần gũi với Đức Mẹ nhiều hơn, bởi vì cuộc đời của Mẹ cũng có nhiều đau thương vất vả vì con giống như em vậy. Kinh Kính Mừng đã dạy em hiểu về Mẹ nhiều hơn: “Mẹ là người trong sạch thánh thiện nhất, Mẹ là người sống đẹp lòng Chúa nhất, Mẹ là người được Chúa yêu thương nhiều nhất, nhưng Mẹ cũng là người chịu nhiều đau thương vất vả nhất”.

Nghe em nói chuyện, tôi cảm nhận một niềm vui trào dâng, tôi đọc thầm trong lòng kinh Kính Mừng để cám ơn Mẹ đã mang hai người bạn trẻ của tôi về với Chúa. Mẹ đã làm cho niềm tin đã chết trong nhiều năm nay sống lại, Mẹ đã khơi dậy một niềm tin nguội lạnh héo úa, nay bừng sống vươn lên… Đến với Mẹ, cầu xin Mẹ phù hộ cứu giúp, không ai phải về tay không… Em tâm sự thêm:

– Em đã mất đi thân xác của đứa con, nhưng em đã tìm lại được linh hồn của chính mình. Qua thất vọng và đau khổ, em đã” trở về”, em đã tìm gặp được chính Chúa, Ngài dạy cho em hiểu thêm về ý nghĩa của đau khổ. Qua cơn bệnh ngặt nghèo và cái chết của con em, em xác tín hơn về quyền năng cao cả của Thiên Chúa và sự giới hạn yếu đuối của con người . Đau khổ và sự chết không làm hại được em, nhưng đã giúp em đứng vững hơn, tin tưởng và phó thác hơn …

Thật tuyệt vời … Còn lời nói nào thâm sâu và cao qúy cho bằng lời em nói với tôi hôm nay? Còn cảm nghiệm nào sâu sắc cho bằng cảm nghiệm mà em chia sẻ với tôi trong lúc này? Thân xác của em thì yếu ớt, sự hiểu biết của em thì giới hạn nhỏ bé, nhưng lời nói và cảm nghiệm của em thì thật tuyệt vời …

Người bạn trẻ ơi! Cám ơn em nhé! Em đã dạy cho tôi về ý nghĩa và sự huyền nhiệm của kinh Kính Mừng, em đã dạy cho tôi bài học về sự “trở về”, em đã dạy cho tôi về ý nghĩa của “đau khổ và sự chết”. Em dạy tôi không phải bằng mớ kiến thức sách vở từ cái đầu nhưng bằng chính cảm nghiệm từ con tim và cuộc sống thực tế của riêng mình …

Linh Xuân Thôn

ÐÓN NHẬN

Truyện cổ Trung Hoa kể:

Ở miền núi Hô-Phu, có một người đàn bà bán rượu tên là Wong.  Một hôm, xuất hiện một vị thiền sư đạo đức đến trọ ở gần quán, dù không có tiền, ngài cũng được bà chủ quán tiếp đái nồng hậu.  Vị thiền sư ở đó khoảng ba năm.  Trước khi cáo từ, ngài đào một giếng cạnh quán.  Mọi người ngạc nhiên khi một dòng nước trong vắt vọt lên, họ nếm thử thì thấy đó là một loại rượu hảo hạng.  Từ đó, bà chủ quán trở thành nổi tiếng và giàu có.

Ít lâu sau, vị thiền sư lại ghé ngang quán, ngài hỏi thăm bà chủ quán về giếng rượu.  Bà này than phiền:

– Rượu tốt nhưng tôi không bao giờ có dư để dự trữ.

Vị thiền sư mỉm cười rồi lẳng lặng viết lên tường:

– Trời đất thật bao la, nhưng lòng tham của con người còn mênh mông hơn thế nữa. Dù không tốn kém bà chủ vẫn có rượu để bán thế mà vẫn không hài lòng.

Viết xong thiền sư lẳng lặng ra đi, và dòng rượu cũng khô cạn.

***************

Người đàn bà thay vì biết ơn và ca ngợi lòng đại lượng của trời, bà lại than phiền vì không có nhiều rượu để dự trữ.  Ðôi khi chúng ta cũng giống như người đàn bà đó: “Có voi đòi tiên “.  Kinh nghiệm thông thường cho thấy:  Ít người được thoả mãn với chính mình, họ thường sa vào tình trạng “Ðứng núi này trông núi nọ”, và cho rằng mình kém may mắn hơn người khác. Chúng ta thường mang tật so sánh và hay lập lại câu: “Giá tôi được như người này người nọ”.  Chúng ta quá bận tâm với nhứng ý nghĩ viễn vông, mà quên vui hưởng những ơn phúc hiện tại.

Thấu hiểu tâm trạng này Chúa Giêsu đã đưa ra dụ ngôn “Ông chủ thuê người làm vườn nho” để giáo dục chúng ta qua các nhân vật trong đó.  Ông chủ có lòng nhân ái vì ông thuê thợ làm việc không phải vì nhu cầu của công việc, nhưng vì muốn cho người thợ nào cũng có công ăn việc làm, để bảo đảm đời sống hàng ngày, vì thế ông đã trả lương đồng đều mà không tính toán hơn thiệt.

Cũng vậy, những ơn lành hồn xác mà ta đang hưởng dùng là do lòng nhân lành Chúa ban.   Những ơn đó vượt quá những gì chúng ta đáng được.  Vì thế, tạ ơn Chúa là bổn phận suốt đời chúng ta.  Thánh Phaolô đã viết: “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr 15, 10).  Hơn nữa lòng nhân ái của ông chủ không bị lệ thuộc vào khế ước hay ranh giới nào, nhưng chỉ là lợi ích của người lãnh nhận.  Thiên Chúa ban ơn không do công lao chúng ta nhưng là vì lợi ích phần rỗi của mỗi người.  Như thế, điều phải làm là khiêm nhường đón nhận ơn Chúa mà không kiêu căng tự mãn.  Chúng ta hãy dùng những ơn lành Chúa ban để phục vụ Chúa và anh em như lời Thánh Phaolô dạy:  Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác? (Pl 2,4)

***************

Lạy Chúa, con biết rằng do lòng nhân lành mà Chúa luôn ban cho con những ơn phúc có khi còn vượt quá lòng con mong đợi.  Xin Chúa mở rộng tâm hồn con để biết đón nhận ơn Chúa với lòng tri ân, và biết dùng khả năng Chúa ban để phục vụ Chúa và anh em con. Amen.

Thiên Phúc

NGHÈO VÌ NƯỚC TRỜI

Tết sắp đến, những lời chúc “an khang thịnh vượng”, “ăn nên làm ra” sắp được bung ra như pháo nổ đầu xuân.  Đầu năm mới, các nước trên thế giới đều phấn đấu để kinh tế phát triển, tăng thu nhập cho toàn dân.  Thế nhưng Lời Chúa hôm nay lại nói:  “Hỡi anh em là những kẻ nghèo khó, anh em thật có phúc, vì Nước Thiên Chúa là của anh em.”  Phải chăng Chúa Giêsu phản lại tiến bộ, muốn nhân loại tụt hậu?

Không, Chúa Giêsu không nói về kinh tế, nhưng nói về hạnh phúc.  Vật chất có thể góp phần vào hạnh phúc, nhưng vật chất tự nó chưa phải là hạnh phúc.  Câu chuyện về công nương Diana là một minh họa rõ nét.

Mùa hè năm 1997, cả thế giới xôn xao về cái chết của công nương Diana.  Công nương Diana là một phụ nữ xinh đẹp.  Từ khi kết hôn với thái tử Charles, con của nữ hoàng nước Anh, công nương trở thành người có danh vọng và đồng thời cũng có nhiều tiền của vào bậc nhất trên thế giới.  Có lẽ ai cũng nghĩ rằng một phụ nữ đẹp đẽ, giàu sang, phú qúi như thế phải là người hạnh phúc nhất trên đời.  Nhưng không đúng như thế.  Công nương rất đau khổ vì cảnh gia đình thiếu tình yêu thương chân thực.  Thái tử Charles vẫn lén lút quan hệ với người tình cũ.  Đau khổ mà chẳng thể nói ra, vì cả gia đình bên chồng muốn giữ gìn uy tín cho hoàng gia.  Chán nản với đời sống gia đình, công nương đã tìm vui bên người bạn trai mới.  Trong một chuyến đi chơi ở Paris, cả hai bị thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi.  Có nhiều người cho rằng chính hoàng gia Anh đã gây ra tai nạn.  Không ai nghĩ rằng cuộc đời công nương có hạnh phúc, dù bà có tất cả:  sắc đẹp, tiền của, danh vọng.

***************

Chúa không lên án vật chất, nhưng chỉ lên án thái độ sử dụng vật chất.  Vật chất do Chúa dựng nên để phục vụ con người.  Chúa dựng nên và Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp.  Nhưng con người đã làm sai chương trình của Chúa.  Thay vì sử dụng vật chất như phương tiện, người ta đã biến nó thành mục đích.  Thay vì sử dụng vật chất phục vụ đồng loại, người ta đã sử dụng đồng loại để phục vụ vật chất.  Đó là những thái độ bị Chúa lên án.  Những thái độ ấy biến vật chất thành chướng ngại ngăn cản ta đạt đến hạnh phúc Nước Trời.

Chúa không khuyến khích cảnh nghèo, càng không khuyến khích những người vì lười biếng mà trở nên nghèo.  Chúa chỉ khuyến khích những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.

Những người vì Nước Trời mà tự nguyện trở nên nghèo là những người hiểu biết giá trị thực sự của tiền bạc.  Biết rõ tiền bạc chỉ là phương tiện nên họ dùng tiền bạc mà không dính bén, có tiền mà không nô lệ cho đồng tiền, nhất là biết dùng tiền vào những việc hữu ích cho đồng loại.  Vì tha nhân, vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo.

Những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo như thế không làm cho xã hội tụt lậu, trái lại giúp phát triển xã hội, đưa nhân loại tiến lên.  Không chỉ tiến lên về văn minh vật chất mà còn tiến về nền văn minh tình thương.

Những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo như thế giúp nâng cao nhân phẩm con người, đem niềm vui cho người sầu khổ, gieo niềm hy vọng cho những người bị bỏ quên, đem tình thương đến cho những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Những người vì Nước Trời mà tự nguyện sống nghèo như thế không phải là những người lười biếng, hèn nhát, ủy mị, bạc nhược.  Trái lại đó là thái độ của những tâm hồn dũng mãnh, luôn phấn đấu với chính mình để nâng tâm hồn mình và nâng cả thế giới lên.

Tự nguyện sống nghèo như thế là một mối phúc cho thế giới, cho nhân loại.  Thế giới sẽ tốt đẹp biết bao nếu có nhiều người tự nguyện như thế.

Sau đám tang của công nương Diana một tuần lễ, thế giới lại xôn xao về một đám tang khác:  đám tang của mẹ Têrêxa Cancutta.  Khắc hẳn với công nương Diana, mẹ Têrêxa là một nữ tu già nua, sống một đời nghèo.  Trong phòng của mẹ chỉ có một chiếc ghế và một chậu thau đựng nước.  Người ta cho mẹ nhiều tiền, nhưng mẹ tự nguyện sống nghèo, dành hết tiền của để giúp những người nghèo, những trẻ mồ côi, tàn tật.  Khi Đức Giáo hoàng sang thăm Ấn độ, thấy mẹ đi lại công tác nhiều, tặng mẹ một xe ô tô sang trọng.  Nhưng khi Đức Giáo Hoàng về, mẹ đã bán xe lấy tiền giúp người nghèo.  Có 40 nguyên thủ quốc gia đến tham dự đám tang của mẹ.  Và Ấn độ, một nước không ưa gì đạo Công giáo, đã cử hành quốc táng cho mẹ.  Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn mẹ trong khi các vị nguyên thủ quốc gia quyền uy đứng cúi đầu kính cẩn trước thi hài vị nữ tu già nua, nghèo khó.  Mẹ đã thực hành Lời Chúa:  Phúc cho anh em là người nghèo khó, vì Nưóc Trời thuộc về anh em.”.

TGM Ngô Quang Kiệt

***************

Lạy Chúa, chúng con sợ nghèo!  Nghèo! như một hình phạt dành cho kẻ xấu số.  Chúng con chạy trốn cảnh nghèo bằng cách ăn cướp thời giờ của vợ chồng, con cái, thời giờ phụng sự Chúa để ngày đêm làm việc, học hành, thậm chí đạp lên nhau… để thoát cảnh nghèo.  Đâu ngờ rằng Chúa lại ban phước lành cho cái nghèo.  Nghèo vật chất thì được Chúa chúc phúc, còn nghèo tâm hồn, nghèo tình thương mà cứ ngỡ mình giàu có thì sao hở Chúa.  Lạy Chúa, xin giúp chúng con, những tâm hồn còn nặng tính xác phàm biết tập sống tinh thần nghèo khó, không dính bén với của cải thế gian, biết mở lòng chia sẻ với người nghèo để nhận thấy rằng mình không nghèo về tầm hồn và tình yêu.  Amen!

TẠI SAO NGÀI IM LẶNG

Buổi sáng ngày 25 tháng 4 năm 1986, em trai tôi hớn hở sắp xếp đồ đạc lên xe đi chơi với bạn bè. Em giơ tay vẫy chào từ giã mọi người trong gia đình lần cuối, vì em không bao giờ trở về nữa . Tối hôm đó cảnh sát điện thoại báo tin em đã bị tử nạn xe hơi gần một khúc quanh trơn trợt. Em qua đời khi vừa tròn 20 tuổi. Trưa hôm sau, tôi đáp phi cơ từ Adelaide về Melbourne để nhận xác em. Em nằm ngủ bình yên. Nước mắt tưởng chừng như đã cạn, bây giờ lại trào ra đầm đìa trên má . Tôi phóng xe tới nhà thờ thánh Phanxico, cửa đã đóng, tôi đứng hét giữa trời  “Tại sao em con lại chết ? Tại sao?”.  Như một thằng điên tôi khàn giọng hỏi Chúa nhưng Ngài vẫn im lặng .

Tháng 12 cùng năm ấy, chị tôi gọi điện thoại nức nở báo tin bố tôi vừa mất tại Việt Nam trên giường bệnh. Tất cả các con đều ở hải ngoại chẳng có ai bên cạnh trước giờ nhắm mắt . Lần  này , tôi quỳ gối lặng lẽ, toàn thân cứng đờ bất động, tuyệt vọng nhìn lên thánh giá tôi thều thào: “Lạy Chúa! tại sao?”, nhưng Ngài vẫn im lặng.

Gia đình tôi mấy đời đạo gốc, chúng tôi tin rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng quyền phép vô biên, nhân từ và luôn yêu thương loài người như cha mẹ đối với con cái. Ngài sẽ ân thưởng nếu chúng tôi biết vâng lời tuân theo luật Chúa, Ngài sẽ răn dạy nếu chúng tôi hư đốn phạm tội, Ngài sẽ bảo vệ chúng tôi khỏi những ám hại xấu xa của kẻ thù. Hồng phúc Thiên Chúa ban cho con người nhiều hay ít tôi khó thấy được nhưng đau khổ thì cứ hiện diện trước mắt . Năm 1986 hai cái đại tang trong gia đình tôi, trước đó anh tôi vượt biên mất tích. Những người tôi yêu thương đều lần lượt lìa trần, bố tôi đã già tôi còn hiểu được nhưng em tôi, đứa em đẹp trai vui vẻ dễ thương nhất nhà, em tôi có tội tình gì mà cũng tức tưởi ra đi khi tuổi đời còn son trẻ với một tương lai hứa hẹn rực rỡ .

Mười năm sau, mẹ tôi vẫn còn khóc mỗi khi ra thăm mộ em. Gần mười năm rồi mà vết thương vẫn chưa lành. Gia đình tôi vẫn thường nhớ tới sinh nhật của em để tính tuổi và tưởng tượng tương lai của em. Mười năm sau, tôi không còn hỏi Ngài tại sao, bởi vì Ngài vẫn im lặng, vẫn gục đầu trên Thánh Gía.

….

Trong một cuộc triển lãm tranh ảnh của những họa sĩ nổi tiếng, khách thưởng ngoạn đặc biệt chú ý tới một bức tranh về Chúa Giêsu đứng trước cửa một căn nhà tồi tàn. Người ta rất thích thú khi khám phá ra rằng trên cửa lại không có cái nắm cửa để mở. Chẳng lẽ họa sĩ lại quên đi một chi tiết tầm thường nhưng cũng rất quan trọng như vậy hay sao? Chỉ khi mọi người xì xầm thắc mắc, tiếp tục ngắm nghía cẩn thận và ngẫm nghĩ hồi lâu, họ mới “ngộ” ra cái dụng ý tuyệt diệu của họa phẩm:

Thiên Chúa luôn luôn kiên nhẫn chờ đợi bên ngoài cánh cửa lòng của chúng ta, dù tuyết rơi, mưa đổ, gió bão, phong ba thi nhau ập tới, Ngài cũng không nề hà chờ đợi. Nhưng Ngài không thể vô nhà vì nắm cửa nằm bên trong. Quyền quyết định ở trong tay chúng ta, Ngài chỉ có thể bước vào và ngự trị trong tâm hồn chúng ta nếu chúng ta mở cửa cho Ngài .

Khi đau khổ hành hạ xác thân tâm hồn chúng ta, chúng ta gào thét trách mắng Thiên Chúa “Lạy Chúa, tại sao Ngài im lặng ?”. Chúng ta quên mở cửa cho Ngài, quên nhào vào lòng Ngài để tìm kiếm nơi nương tựa ủi an, để được xoa dịu vỗ về trong lúc tuyệt vọng. Ngài vẫn đứng đó, chờ đợi, kiên nhẫn, chịu đựng, mong mỏi và hy vọng.

Chúng ta hãy thử nhìn lại cuộc đời mình xem đã bao lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước những khổ đau của kẻ khác? Đã bao lần chúng ta quên Ngài khi cuộc sống thảnh thơi sung sướng? Đã bao lần chúng ta từ chối Ngài vì theo Ngài là phải “bỏ mình” để tuân giữ những giới răn Ngài dạy bảo? Đã bao lần lương tâm thúc giục trở về mà chúng ta vẫn tỉnh bơ bước sâu vào vũng lầy tội lỗi ?

Hỏi rằng chúng ta phải trả lời như thế nào nếu Ngài thì thầm bên tai mỗi người chúng ta :

“Này con, tại sao con im lặng ???”

Giuse Đinh Thanh Bình, SDB

KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

“Tương lai mỗi tội nhân là một vị thánh.  Quá khứ mỗi vị thánh là một tội nhân.”  Saint Augustine

Không phải kẻ nào mang án tử hình cũng hoàn toàn tuyệt vọng, mất đi niềm tin về sự sống còn của mình. Thảm trạng cùng nhục cảnh tù đày nhiều lúc lại là môi trường, cơ hội tốt để con người có thể phát huy, ghi lại những suy tư, những khổ ải, gian truân mà họ đã kinh qua, chiêm nghiệm… Tác phẩm của họ thường được người đọc ưu ái đón nhận và được xem, liệt vào hàng kiệt tác trong các lãnh vực báo chí, văn học, chính trị……

Cuộc đời của Wilbert Rideau (WR) mang nhiều sắc thái đặc thù, đầy hấp lực và là một tấm gương trong sáng. Nhờ những nỗ lực vươn mình hướng thiện không ngừng mà ông, từ một kẻ sát nhân, mang án tử hình, bị thất học, trong thời gian chờ ngày lên đoạn đầu đài đã chịu khó tự học, đọc sách để trở thành một nhà báo, nhà văn được nhiều giải thưởng và sự nể trọng, ưu ái của mọi giới, mọi người.

Wilbert Rideau (WR) sanh ngày 13 tháng 3 năm 1942 trong một gia đình da đen nghèo, bất ổn tại Louisiana.  Cha mẹ li dị, lúc nhỏ ông thường phải nhịn đói đi học và bị nạn kỳ thị chủng tộc đè bẹp xuống tận đất đen.  Năm 13 tuổi ông bỏ học đi lêu lổng, 16 tuổi làm công việc dọn dẹp cho một tiệm tạp hoá.  Năm 19 tuổi cướp ngân hàng.  Khi bị phát hiện, để thoát thân WR đã bắt cóc ông giám đốc và 2 nữ nhân viên làm con tin. Cả 3 đều là người da trắng. Trên đường đào tẩu, khi ra tới vùng ngoại ô thì cô Julia Ferguson cho xe chạy chậm lại và họ tìm cách trốn thoát.  Kêu dừng lại không được, Wilbert đã nã hết 6 viên đạn và làm 3 người bị thương. Khi Julia gượng đứng dậy thì WR dùng dao đâm vào ngực cô. Theo lời của cảnh sát thì cô này gượng dậy để xin tha mạng. Còn theo lời khai của Wilbert thì ông dự tính sau khi đến nơi có thể thoát thân ông sẽ thả họ về. Việc giết cô Julia chỉ là hành động thiếu suy nghĩ trong lúc lo sợ, bối rối.

Bị buộc tội cố sát và kết án tử hình 3 lần vào các năm 1961, 1964, 1970, với các bồi thẩm đoàn toàn người da trắng. Nhưng các phán quyết trên đều lần lượt bị các Toà Thượng Thẩm, Toà Phá Án liên bang tiêu hủy bởi vì các tiến trình xử án này đều bị xem là bất hợp lệ, sai lầm, thiếu vô tư. Sau đó không lâu, vào năm 1972 Toà Thượng Thẩm lại tuyên bố hình phạt tử hình là vi hiến. Nhờ vậy WR thoát chết, trở thành tù nhân chung thân khổ sai và năm 1973 ông được đưa ra khỏi khu biệt lập dành cho những người chờ ngày ra pháp trường thọ lệnh hành quyết.

Cảm thấy ân hận về tội lỗi của mình Wilberg bất đầu miệt mài tự học và đọc sách. Ông đọc một cách say mê các sách về tôn giáo, thánh kinh mà luật lệ nhà giam cho phép cũng như những thể loại, đề mục khác bị cấm. Qua sách vở cũng như sự thân cận, trợ giúp của những người trong trại tù ông thấy xã hội, đời sống quanh ông đầy dẫy những nhân vật anh hùng và người tốt bụng. Trường hợp kề cận bên ông nhất là những nhân viên cải huấn – những người có nhiệm vụ canh chừng ông, cải tạo ông lại là người thường lén lút cung cấp sách vở bị cấm đoán cho ông trau dồi kinh sử và mở mang kiến thức. Tưởng cũng cần nói thêm là những người tạo dựng con đường thăng tiến cho Wilbert ở đây đều là người da trắng. Điều này đã giúp Wilbert thay đổi hẳn nhãn quan của mình. Có lẽ đối với ông, đó là một dấu mốc quan trọng, mới mẻ. Ông nhìn cuộc đời và con người bằng một lăng kính trong sáng hơn. Những ý niệm vẩn đục, mơ hồ cũ đã hoàn toàn tan tác theo sương khói.

Sau một thời gian tự học hỏi, ông thấy hứng thú trong việc sáng tác và bắt đầu viết.

Nhiều nguồn tin cho biết trong suốt 44 năm trong trại giam ông luôn giúp đỡ các bạn tù khác và tuân thủ luật lệ, qui điều nghiêm ngặt và cũng chưa bao giờ bị sai phạm.

Với những hoạt động, đóng góp tích cực, không ngừng như vậy ông đã được trao tặng nhiều giải thưởng và tuyên dương danh dự của các giới chức hành pháp, tư pháp, hiệp hội báo chí, luật gia, truyền thông, truyền hình…

Trong thời kỳ sửa soạn việc tuyển chọn giải Oscar năm 1999 cho cuốn Life Sentences ông là chủ đề trong các bài tường thuật, phỏng vấn trên các đài Good Morning America, CBS, Fox, CNN… trên các báo nội địa Hoa kỳ và các quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức, Úc, Hoà Lan, Bỉ… Trong hơn 30 năm qua ông luôn là đề tài chính cho vô số bài viết lưu truyền khắp nơi.

Ngoài 2 cuốn Life Sentences, ông còn thực hiện nhiều phim tài liệu, tranh ảnh, videotape cho các lớp học… Riêng cuốn phim tài liệu The Farm chẳng những trúng giải trong kỳ đại hội Sundance 1998 mà còn được đề bạt giải Oscar.

***************

Nhờ sự tranh đấu của nhiều lực lượng, hội đoàn hỗ trợ để xin cải danh tội trạng, đặc biệt là sự can thiệp, tiếp tay của NAACP và Educational Fund cùng sự bào chữa của luật sư Johnnie Cohran ông được giảm án và tức khắc được trả tự do ngày 15 tháng 01 năm 2005 vì thời gian ông ở tù đã gấp đôi hình phạt dành cho tội ngộ sát. Nhiều người cho rằng ông phải nằm khám 44 năm có thể vì ông là một tù nhân đặc biệt và quá nổi tiếng,

Sau khi gặp lại gia đình ông cho biết: tôi phải tập làm quen với ý nghĩ được tự do. Tôi phải tập thích ứng với một thế giới tương đối khác biệt với thế giới trước ngày tôi vào tù….

WR đang định viết sách và muốn chuộc lại lỗi lầm, cũng như làm những việc hữu ích cho đời, cho những người đã đặt kỳ vọng, niềm tin nơi ông bao nhiêu năm qua có thể nhìn thấy. Mới đây, có nguồn tin cho rằng Rideau sắp ký một hợp đồng đầu tiên trị giá năm trăm ngàn Mỹ kim. Bây giờ, với trình độ cao và nhiều kinh nghiệm, mỗi ngày được tự do đi lại, có nhiều thời giờ nghỉ ngơi, làm những điều mình ưa thích, tâm nguyện chắc hẳn là một niềm vui vô bờ cho riêng ông: một-người-về-từ-cõi-chết.

http://www.viet.no/content/view/243/87/

Phan Bá Thụy Dương

***************

Lạy Cha nhân ái, cuộc đời con lao đao nhiều bất hạnh, những bất hạnh thật nhỏ bé, con đã từng vấp ngã, những cái té nhẹ nhàng, con đã từng phạm tội nhưng chưa bao giờ bị bắt, thế mà con không ngớt kêu trời trách phật, oán Chúa bỏ nhà thờ mỗi khi gặp chuyện không vừa ý.  Xin cho con biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã như người tử tội trên, đừng bao giờ nản lòng vì những tội lỗi xấu xa của mình. Xin cho con luôn biết phấn đấu trước mọi nghịch cảnh và đặt trọn niềm cậy trông nơi Chúa.  Amen!

TẠI SAO LẠI CƯỜI?

Vis-nu là một trong những vị thần rất được người theo Ấn Giáo thờ kính.  Những người có một niềm tin sâu sắc đều nhận ra thần Vis-nu trong tất cả mọi sự.

Một tín đồ nọ sống rất siêu thoát.  Nhưng ông lại bị những người khác coi như là một người khờ dại.

Ngày kia, sau khi đã khất thực trong một ngôi làng, người tín đồ thánh thiện này ra trước cổng làng và ngồi bên vệ đường để ăn những của thiên hạ bố thí.

Ðang lúc ông dùng bữa thì một con chó đói từ đâu chạy tới.  Người tín đồ bèn dành phần lương thực của mình cho con chó.  Không mấy chốc người và vật trở nên đôi bạn thân.

Thấy cảnh kỳ lạ, dân chúng trong làng đổ xô đến xem.  Nhưng một người trong đám đông lên tiếng:

– Có gì lạ khiến chúng ta phải mất giờ đến xem. Người này chỉ là một tên khờ khạo.  Bởi vì hắn không phân biệt được người với thú vật.

Nghe thế, nhiều kẻ phá lên cười chế diễu, còn người thánh thiện điềm tĩnh trả lời:

– Tại sao các ngươi lại cười? Các ngươi không thấy rằng Vis-nu đang ngồi bên cạnh Vis-nu sao? Các ngươi không thấy rằng Vis-nu đang cho ăn và Vis-nu đang được cho ăn sao?  Tại sao các ngươi lại cười, hỡi các Vis-nu?

***************

Câu chuyện trên đây có thể là một bài học về đức tin.  Thiên Chúa đến với con người trong những cái tầm thường và bất ngờ nhất của cuộc sống.  Ðể nhận ra Chúa, con người cần phải vượt qua cái nhìn hẹp hòi, gò bó trong những ý niệm quen thuộc của mình.

Những người đồng hương Nazarét có lẽ đã nghe đồn thổi về tiếng tăm của Chúa Giêsu và họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghe Ngài phát biểu trong hội đường của họ nhân một lần Ngài trở về thăm quê.  Sự khôn ngoan của Ngài mà họ đã chứng kiến tận mắt, những phép lạ mà Ngài đã thực hiện tại một vài nơi, những thành tích này làm dấy lên trong đầu họ một câu hỏi: “Phải chăng Ngài không phải là đấng cứu tinh mà Thiên Chúa hứa gửi đến cho dân tộc?”

Và người ta bắt đầu tra cứu với một phương pháp rất khoa học.  Họ dở Kinh Thánh ra và thấy nói rằng Ðấng cứu tinh xuất thân từ một nơi khác chứ không phải là người làng nghèo nàn tăm tối như Nazarét. Họ điều tra về nguồn gốc của Chúa Giêsu và thấy rằng cha mẹ Ngài, anh em, dòng họ, bà con của Ngài đều là những người nghèo hèn mà họ biết rõ ngọn nguồn.

Với cách suy nghĩ và lý luận rất khoa học ấy, những người đồng hương của Chúa Giêsu đã khước từ Ngài. Nguồn gốc tăm tối của Ngài đã là một màn chắn khiến những người Nazarét không tin nhận Chúa Giêsu.

***************

Lạy Chúa, xin Chúa ban thêm đức tin để chúng con dứt mình ra khỏi cái nhìn gò bó hẹp hòi của chúng con, và mở mắt để chúng con không ngừng nhận ra Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong cuộc sống thường ngày.  Xin Chúa ban thêm đức tin để chúng con biết đón nhận Ngài trong những biến cố bất ngờ và nghịch thường nhất, để chúng con biết đón nhận Thiên Chúa nơi người anh em, nhất là nơi những kẻ thấp hèn, những kẻ bất hạnh và ngay cả nơi những kẻ thù ghét chúng con.

R. Veritas

SỨC MẠNH SIÊU PHÀM

Hoàng đế César Augusto của đế quốc La Mã là người đã biến La Mã gạch ngói thành một La Mã nguy nga tráng lệ, với những toà nhà cẩm thạch.

Nhưng trong triều đại của César Augusto, một biến cố đã thay đổi cục diện của thế giới và lịch sử nhân loại, mà ông không hề biết tới.

Ông làm sao có thể biết trẻ Giêsu chào đời trong một tỉnh lẻ xa xôi, sẽ biến La Mã cẩm thạch của ông thành những vương cung thánh đường vĩ đại nhất.

Ông đâu có ngờ các thần linh của ông sẽ phải lui bước để nhường chỗ cho một Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện và chân thật.

Ông cũng không ngờ trẻ Giêsu ấy lại có một sức mạnh siêu phàm đảo lộn mọi giá trị hiện có, và thiết lập một bậc thang giá trị hoàn toàn mới mẻ.

***************

Sức mạnh siêu phàm ấy hôm nay đã bắt đầu xuất hiện.  Đức Giêsu giải thích Thánh Kinh trong hội đường khiến cho nhiều người phải kinh ngạc, vì:  “Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ” (Mc 1,22).

Có uy quyền vì Người dùng quyền mình mà giảng dạy chứ không lệ thuộc vào quyền của người khác.  Quyền này được chứng tỏ khi Người sửa sai các tập tục tiền nhân:  “Người xưa đã dạy rằng….  Phần Ta, Ta bảo các ngươi” (Mt 5,21).

Khác với các luật sĩ, họ chỉ đọc và giải thích Kinh Thánh mà không dám thêm một ý tưởng mới.  Họ gò bó con người vào lề luật hơn là dùng luật để giải thoát con người.

Lời Người là “Giáo lý mới mẻ”.  Cái mới mẻ đó làm cho người ta tin nhận Người là Đấng Cứu Thế.  Cái mới mẻ đó làm cho danh tiếng Người lan tràn khắp vùng lân cận Galilê.

Lời Người là:  “Lệnh truyền cho cả các thần ô uế và chúng phải vâng theo” (Mc 1,27).  Chính thái độ tuân phục của ma quỉ trước uy quyền của Đức Giêsu đã nói lên thời cứu độ đã tới.

Là tín hữu Kitô, chúng ta cần học hỏi, suy niệm và sống Lời Chúa, để khám phá ra sự mới mẻ của Lời Người, đồng thời nhận ra quyền năng Chúa tỏ bày trong vũ trụ.

G. Courtois khẳng định: “Nếu chúng ta khiêm nhu sống Lời Chúa trong môi trường của mỗi người, chúng ta sẽ âm thầm trở nên “muối, men” cho cả nhân loại vì “ánh sáng” của những người sống Lời Chúa chiếu tỏ xa hơn người ta tưởng rất nhiều”.

Jacques Delarue viết:  “Mọi phần tử trong Giáo hội phải sống Lời Chúa và yêu mến với cùng một tình yêu của Đức Giêsu, chính vì thế mà ngày Chúa nhật họ đi gặp gỡ Chúa trong Lời Người và trong Thánh Thể trước khi nghe đọc:  “Hãy ra đi bình an”.  Hãy ra đi, đừng ở lại.  Các bạn được sai đi cho mọi tạo vật”.

Sống Lời Chúa chính là soi mình vào tấm gương Giêsu để tìm cho mình một phong cách đẹp nhất, vì:

“Lời Chúa là đèn soi cho con bước,
Là ánh sáng chỉ đường cho con đi” (Tv 118,105)

***************

Lạy Chúa, qua Kinh Thánh, Chúa vẫn giảng dạy cho chúng con; qua Bí tích Giải tội Chúa vẫn trừ quỷ cho chúng con; qua Bí tích Thánh thể, Chúa vẫn sống trong chúng con.  Xin cho chúng con luôn biết sử dụng những phương tiện Chúa ban để nên giống Chúa hơn và làm sáng danh Chúa nhiều hơn.

Thiên Phúc