Ý NGHĨA CON SỐ 40 TRONG KINH THÁNH

Khi bước vào Mùa Chay Thánh, Giáo hội Công giáo dành ra 40 ngày – khởi đầu từ Thứ Tư Lễ Tro – để nhắc nhở các tín hữu sống tinh thần sám hối, chay tịnh, tập luyện nhân đức và chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh.  Vậy tại sao lại là 40 ngày mà không phải một con số khác?  Con số 40 trong Kinh Thánh ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, gắn liền với những sự kiện quan trọng, đánh dấu những cột mốc “thanh tẩy”, “chuẩn bị” hay “hoán cải” trong lịch sử cứu độ.

I. Con số 40 trong Cựu ước

 – 40 ngày lụt Đại hồng thủy (St 7, 4.17)

Theo sách Sáng Thế, cơn lụt Đại hồng thủy kéo dài 40 ngày đêm, như một cuộc thanh tẩy hoàn toàn trái đất khỏi những gian ác của con người.  Khi nước rút, ông Nô-ê và gia đình bắt đầu một khởi đầu mới, biểu tượng cho lòng thương xót của Thiên Chúa và sự đổi mới trong đời sống đức tin.

Ý nghĩa: Thời gian 40 ngày ở đây mang hàm ý “thanh tẩy”, “tái sinh” và “bắt đầu một giai đoạn mới” cho nhân loại.

– 40 ngày ông Môsê lên núi Sinai (Xh 24, 18; 34, 28)

Ông Môsê đã lên núi Sinai 40 ngày để lắng nghe lời Thiên Chúa, đón nhận Thập Giới và giao ước.  Thời gian này đánh dấu sự chuẩn bị và kết hiệp sâu xa giữa con người với Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Tìm kiếm Lời Chúa” và “được biến đổi” trong tương quan với Ngài.  Con số 40 cho thấy quá trình tập trung, kiên trì và sẵn sàng đón nhận những chỉ dẫn mới cho cuộc sống dân Chúa.

– 40 năm dân Israel lưu lạc trong sa mạc (Ds 14, 33-34)

Sau khi rời khỏi Ai Cập, dân Israel mất 40 năm để băng qua sa mạc tiến về Đất Hứa.  Trong thời gian này, họ trải qua vô vàn khó khăn, thử thách, đồng thời học cách tin tưởng, phó thác hoàn toàn vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Thử thách” và “rèn luyện” đức tin.  Hành trình 40 năm này biểu thị giai đoạn thanh luyện cần thiết để dân Chúa được xứng đáng bước vào miền đất hứa.

– 40 ngày ông Môsê đi khám phá vùng đất mới (Ds 13, 25)

Môsê cử các thám tử đi dò xét vùng đất Ca-na-an trong 40 ngày để chuẩn bị cho việc định cư của dân Israel.

Ý nghĩa: “Khám phá” và “tìm kiếm” hướng đi mới.  40 ngày này là thời gian để cân nhắc, đánh giá thực trạng và lập kế hoạch cho tương lai.

– 40 ngày ông Giona dành cho thành Ninivê (Gn 3, 4)

Tiên tri Giona loan báo cho dân thành Ninivê biết rằng họ chỉ còn 40 ngày để sám hối nếu không sẽ bị hủy diệt.  Cuối cùng, họ đã hoán cải và được Thiên Chúa tha thứ.

Ý nghĩa: “Sám hối” và “hoán cải” để được cứu rỗi.  40 ngày đánh dấu cơ hội cuối cùng để thay đổi cuộc sống, từ bỏ đường tội lỗi.

– 40 năm trị vì của vua Đavít và vua Salômôn (2 Sm 5,4; 1 V 11,42)

Kinh Thánh ghi lại rằng vua Đavít và vua Salômôn đều cai trị 40 năm.  Triều đại của họ là thời gian thiết lập và củng cố vương quốc, xây dựng đền thờ, thúc đẩy sự thờ phượng đúng đắn.

Ý nghĩa: “Chuẩn bị” và “xây dựng” đời sống đức tin.  Dưới thời trị vì 40 năm, dân Chúa được hưởng một giai đoạn an bình, tạo điều kiện để tôn vinh và phụng sự Thiên Chúa.

II. Con số 40 trong Tân Ước

– 40 ngày Chúa Giêsu vào sa mạc (Mt 4, 1-2; Mc 1, 12-13; Lc 4, 1-2)

Trước khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện suốt 40 ngày.  Ở đây, Người chịu ma quỷ cám dỗ nhưng đã chiến thắng nhờ sự kết hiệp với Chúa Cha.

Ý nghĩa: “Chay tịnh và cầu nguyện” để chuẩn bị bắt đầu sứ vụ.  Đây cũng là tấm gương cho các Kitô hữu noi theo: trước khi làm việc lớn, cần có thời gian tĩnh lặng, kết hợp với Thiên Chúa và canh tân đời sống thiêng liêng.

– 40 ngày Chúa Giêsu ở lại thế gian trước khi lên trời (Cv 1, 3)

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong 40 ngày, dạy dỗ và củng cố đức tin cho họ, trước khi về trời.

Ý nghĩa: “Xây dựng và củng cố” đức tin.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ hiểu rõ sứ mạng, đồng thời nhận lãnh Thánh Thần để tiếp tục công cuộc loan báo Tin Mừng.

III. Con số 40 và mùa Chay Thánh

Từ những sự kiện Cựu Ước và Tân Ước, ta thấy con số 40 gắn liền với ý niệm “thanh tẩy”, “rèn luyện”, “sám hối” và “chuẩn bị” cho một giai đoạn mới.  Trong Mùa Chay, Giáo hội Công giáo dành 40 ngày để nhắc nhở các Kitô hữu:

– Tập luyện nhân đức và canh tân đời sống: Bằng cách thực hành chay tịnh, hãm mình, cầu nguyện, và làm việc bác ái, mỗi tín hữu được mời gọi bước vào cuộc hành trình nội tâm, sửa đổi những yếu đuối và định hướng lại đời sống theo tinh thần Tin Mừng.

– Sám hối và hoán cải: 40 ngày là thời gian để kiểm điểm lương tâm, ý thức tội lỗi, xin ơn tha thứ và đón nhận bí tích Hòa Giải, chuẩn bị tâm hồn để kết hợp mật thiết hơn với Chúa.

– Thông phần cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu: Mùa Chay gắn liền với biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Khi ăn chay, cầu nguyện và làm việc lành, ta cùng chia sẻ nỗi khổ đau của Chúa, để sau đó được vui mừng đón nhận ơn Phục Sinh.

– Đón nhận niềm vui Phục Sinh: Qua 40 ngày tập luyện, thanh luyện bản thân, chúng ta sẽ hân hoan mừng đại lễ Phục Sinh với một tâm hồn mới mẻ, tràn đầy niềm tin và ơn sủng.

– Kiên trì và bền chí: Con số 40 gợi nhắc đến sự bền chí trong thời gian dài. Hành trình đức tin đòi hỏi chúng ta kiên trì vượt qua thử thách, cám dỗ, không chỉ trong Mùa Chay mà suốt cả đời sống.

– Tâm tình sám hối và hoán cải: Mỗi Mùa Chay là một dịp để chúng ta “làm mới” lại giao ước với Chúa, làm mới lại tương quan với anh chị em, và quan trọng hơn là học cách bỏ đi những gì cản trở ta đến với Thiên Chúa.

– Chuẩn bị cho tương lai: Dân Israel đã trải qua 40 năm sa mạc trước khi vào Đất Hứa, Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày trước khi bắt đầu sứ vụ. Tương tự, 40 ngày Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho đại lễ Phục Sinh, giúp chúng ta canh tân tinh thần và sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.

Con số 40 trong Kinh Thánh không chỉ là một con số mang tính biểu tượng, mà còn chất chứa những thông điệp sâu xa về sự thanh tẩy, sám hối, rèn luyện và chuẩn bị cho một cuộc sống mới.  Đối với người Kitô hữu, 40 ngày của Mùa Chay Thánh là cơ hội quý báu để sống lại những sự kiện cứu độ trong lịch sử dân Chúa, đồng thời canh tân mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân.

Bằng việc tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, chay tịnh, cầu nguyện, và làm việc bác ái trong 40 ngày này, chúng ta được mời gọi biến đổi nội tâm, để sẵn sàng cùng Chúa Giêsu bước vào cuộc Thương Khó và Phục Sinh.  Cũng như Chúa Giêsu đã dùng 40 ngày sa mạc để chuẩn bị cho sứ vụ công khai, chúng ta hãy dùng 40 ngày Mùa Chay để thanh luyện tâm hồn, củng cố đức tin và đón nhận niềm vui Phục Sinh cách trọn vẹn hơn.

Lm. Anmai, CSsR

KIẾP BỤI TRO

Không chỉ trong Mùa Chay, mà cả đời người Công giáo luôn phải ghi nhớ thực-tế-thật này: “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về bụi đất” (St 3:19).

Tuy không là Kitô hữu, nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng chân nhận kiếp người chẳng là gì trong ca khúc “Cát Bụi”, với lời lẽ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy…  Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…  Bao nhiêu năm làm kiếp con người chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày…  Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu xoay mòn thành đá cuội… Ôi cát bụi phận này, vết mực nào xóa bỏ không hay.”

Ca từ da diết trong giai điệu trầm lắng.  Triết lý kiếp người là sự yếu đuối, mỏng dòn, bất túc, bất trác,… vì kiếp người chỉ là cát bụi, là bụi tro, là bụi cát, là bụi đất – không được là hạt cát hoặc hạt đất, mà chỉ là hạt bụi quá bé nhỏ!

Cũng với nỗi niềm về thân phận con người, nhạc sĩ Lê Dinh đã trải tâm sự qua ca khúc “Trở về Cát Bụi” (*), ca từ rõ ràng hơn và gần gũi với tư tưởng Công giáo: “Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó.”  Tất cả những gì chúng ta sở hữu và tận hưởng đều không do tài năng của mình, vì thế mà phải chân nhận tích cực: “Trời đã ban cho, ta cám ơn trời, dù sống thương đau.”  Tất cả đều là Hồng Ân Thiên Chúa, Ngài CHO hay LẤY LẠI là quyền của Ngài, chúng ta không thể đòi hỏi, vả lại rồi ai cũng “trắng tay” như nhau: “Mai kia chết rồi, trở về cát bụi, giàu khó như nhau, nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”  Số phận mai sau là do mình quyết định qua cách sống trên trần gian này: Được hưởng phúc trường sinh, hoặc chịu án phạt đời đời.

Nhạc sĩ Lê Dinh có cách lý giải bình dân mà vẫn thâm thúy: “Này nhà lớn lầu vàng son, này lợi danh, chức quyền cao sang, có nghĩa gì đâu, sao chắc bền lâu, như nước trôi qua cầu.”  Tất cả sẽ qua như “nước trôi qua cầu” mà không thể lấy lại.  Thế mà người ta vẫn vênh vang tự đắc khi sống ung dung hơn người khác, nhưng Chúa Giêsu nói rõ: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3).  Vậy người giàu đừng vội “hãnh diện,” còn người nghèo đừng quá “tủi thân.”  Thiên Chúa nói là làm.  Chắc chắn như vậy.  Nhưng ngày nay chưa ai biết, quan trọng là kiếp sau!

Về vật chất đã vậy, về tinh thần cũng thế.  Tất cả đều giả dối: “Này lời hứa, này thủy chung, này tình yêu, chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi, sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời.”  Cái CÓ mà như KHÔNG, cái KHÔNG mà như CÓ.  Ngay cả lời hứa tưởng chừng “chắc chắn” mà cũng chỉ như “mây cuối trời,” mà mây thì luôn di động, thay đổi thất thường.  Người ta gọi là “hứa cuội.”  Vui cười chỉ trong thoáng chốc, nỗi buồn lo cứ đằng đẵng theo tháng ngày.  Tiệc cưới một ngày mà vui được bao nhiêu phút?  Tết cả ba ngày mà vui được bao lâu?  Thực tế phũ phàng đó có giúp chúng ta cảm nghiệm được gì về tâm linh chăng?  Ý Chúa muốn gì qua các biến cố cuộc đời – dù lớn hay nhỏ?

Nhạc sĩ Lê Dinh nói về cuộc đời và nhắc nhở mọi người, nhất là với người giàu: “Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất, cuộc sống mong manh, xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen.  Nào người sang giàu, đừng vì tham tiền, bỏ nghĩa anh em.  Người ơi, xin nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai.”  Thánh Gióp đã từng nhận thức rất rõ: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng” (G 1:20).  Thế nên, dù mất tất cả và bản thân cũng bệnh tật đau đớn, ngài vẫn không than trách và vẫn tạ ơn Chúa.  Một tấm gương sáng ngời để chúng ta cố gắng noi theo!

Lời nhắc nhở đó được lặp đi lặp lại ở phần kết (coda), cũng là lời xoáy sâu vào tâm khảm của mỗi chúng ta: “Người nhớ cho ta là cát bụi, trở về cát bụi, xin người nhớ cho!”  Nốt kết không ở chủ âm mà ở át âm, cứ lơ lửng, cứ ngân vang, như lời nhắc nhở không ngừng và mỗi người phải suy nghĩ đêm ngày, nhất là trong Mùa Chay này…

Kinh thánh đã so sánh rất cụ thể: “Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn” (Kn 15:10).  Quả thật, thân phận con người chẳng là gì cả.  Vì thế, hãy bắt chước Thánh Phaolô: “Nếu phải tự hào, tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11:30).

Đã bao lần chúng ta chứng kiến những người thân nhất của mình “ra đi,” dù y học có tân tiến đến đâu và các thầy thuốc có cố gắng hết sức thì cũng vẫn đành “bó tay” trước lưỡi hái của Tử Thần.  Họ nhắm mắt và xuôi tay, một đi không hẹn trở lại, và đã bao lần chúng ta tiễn đưa người khác ra nghĩa trang.  Đất lấp đầy huyệt là xong một kiếp người!  Chúng ta suy nghĩ điều gì?

Lá cứ rụng, dù xanh hay vàng.  Nhưng với người Công giáo, chết không là hết, mà chỉ là biến đổi (1 Cr 15:51), vì “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).  Chúng ta tin sẽ được sống lại trong ngày sau hết, đó là niềm tin chắc chắn, không mơ hồ hoặc ảo tưởng, thế nên chúng ta vẫn dâng lời cảm tạ: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118; Tv 136).

Lạy Chúa, xin thương xót những tội nhân chúng con, xin giúp chúng con can đảm chết với Con Chúa để có thể được đồng phục sinh vinh quang. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Trầm Thiên Thu
Nguồn: Mạng lưới cầu nguyện

CẢM NGHIỆM SA MẠC CỦA ĐỨC GIÊSU

Khi mùa đông bắt đầu ở Nam Cực, các đêm thật dài bắt đầu.  Mặt trời biến dạng ở dưới chân trời và nó không lộ diện cho đến bốn tháng rưỡi sau đó.  Ngày nào cũng giống nhau: 24 giờ đồng hồ trong bóng tối.

Nhiều năm trước, nhà thám hiểm Richard Byrd sống một mình trong suốt mùa đông ở Nam Cực.  Trong bốn tháng rưỡi, ông hoàn toàn sống trong bóng tối, chôn vùi dưới tuyết trong một căn phòng nhỏ.  Nhiệt độ trong phòng đó xuống tới 50 độ dưới số không.

Mỗi ngày ba lần, ông Byrd leo cầu thang lên mái nhà của căn phòng, mở cánh cửa nhỏ và đẩy đống tuyết ra, rồi ông đi vào cái giá lạnh và tối tăm để ghi nhận sự thay đổi của thời tiết.

Tại sao ông Byrd lại chọn sống một mình trong những tháng hoàn toàn tối tăm?

Ông trả lời câu hỏi đó trong cuốn Alone của ông.  Ông nói ông làm như thế là vì ông muốn tránh xa mọi thứ.  Ông muốn thực hiện một số suy nghĩ nghiêm trọng.  Ông viết:

“Và điều đó đã xảy ra với tôi… ở đây là cơ hội….  Tôi có thể sống đúng như tôi muốn, không phải chiều theo sự tiện nghi nhưng phải chịu đựng những trận gió giá lạnh của đêm tối, và không phải tuân theo luật lệ của bất cứ ai ngoài chính mình.”

Sau một tháng đầu sống cô độc, ông Byrd ghi nhận một vài điều “tốt” đang xảy đến.  Ông khám phá thấy rằng ông có thể sống một cách thâm sâu hơn nếu ông giữ lối sống đơn giản và đừng vướng bận với nhiều thứ vật chất.

Ông Byrd ra khỏi căn phòng đó là một con người thay đổi.  Ông kết thúc cuốn sách với những lời này:

“Tất cả điều này đã xảy ra bốn năm trước.  Sự văn minh không làm thay đổi các ý định của tôi.  Bây giờ tôi sống đơn giản hơn, và bình an hơn.”

Richard Byrd thuộc về một chuỗi người đã sống cô độc trong một thời gian để kiểm điểm lại chính bản thân và đời sống của mình.

Ông Môsê đã làm như thế; ông Êligia đã làm như thế; ông Gioan Tẩy Giả đã làm như thế.

Và chúng ta không ngạc nhiên khi Đức Giêsu cũng đã làm như thế.  Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên là những gì đã xảy ra khi Đức Giêsu đi vào sa mạc một mình để suy nghĩ và cầu nguyện.  Người bị quỷ cám dỗ.

Điều này khiến chúng ta tự hỏi, “Tại sao Thiên Chúa lại để Con mình bị cám dỗ bởi quỷ?  Mục đích của điều đó là gì?”

Trong nhiều thế kỷ, các văn sĩ đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi đó.  Chúng ta hãy ngắn gọn nhìn đến hai câu trong các câu trả lời ấy.

Trước hết, sự cám dỗ trong sa mạc đem cho chúng ta một cái nhìn sáng suốt vào tâm trí của Đức Giêsu mà rất có thể chúng ta không để ý đến.

Hãy nghĩ đến sự cám dỗ.  Phúc Âm nói cho chúng ta biết sự cám dỗ xảy đến khi Đức Giêsu mệt và đói.  Thật dễ dàng chừng nào để Người dùng đến quyền năng biến các hòn đá thành cơm bánh và không còn đói nữa.  Nhưng Đức Giêsu đã từ chối dùng đến quyền năng của mình cho sự lợi lộc và thoải mái chính bản thân.

Điều này tiết lộ một vài điều mỹ miều về Đức Giêsu.  Nó cho chúng ta thấy Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động. Người hoàn toàn sống bởi thần khí.

Sau này chúng ta sẽ thấy điều này dữ dội hơn trong vườn Cây Dầu.  Ở đó, Đức Giêsu bị ngập tràn sự khổ não.  Mỗi một phần thân thể của Người đều nổi loạn chống với sự đau đớn và sự chết trước mắt.  Thánh sử Mátthêu nói rằng điều đó tệ hại đến độ Đức Giêsu “sấp mặt xuống đất và cầu nguyện, ‘Cha ơi, nếu có thể, xin lấy chén đau khổ này khỏi con!  Nhưng, không theo ý con, mà theo ý cha’.” (Mt 26:39)

Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người đã không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động.

Một người như thế thật lôi cuốn.  Chúng ta không thể không thán phục những ai sống hoàn toàn bởi tinh thần.

Thật ngạc nhiên, chúng ta có thể tìm thấy loại quyết tâm này nơi người trẻ.  Tôi đang nghĩ về một học sinh trung học ở Chicago, em ở trong nhóm đấu vật.  Em thật nổi tiếng trong loại trọng lượng của em.

Tuy nhiên, vào năm lớp 12, điều nguy hiểm là em đang lên cân, không còn trong loại trọng lượng của mình.  Điều này đưa cả nhóm vào tình trạng bất lợi.  Vì thế em đã nhịn ăn suốt năm.  Thật vậy, em nhịn ăn đến nổi cha mẹ em sợ nguy hại đến sức khỏe của em.

Bất cứ bạn trẻ nào sau trận đấu thể thao thường dừng chân ở McDonald hay Burger King thì mới hiểu được sự hy sinh của học sinh này như thế nào.

Tôi cũng nhớ đến một nhạc sĩ vĩ đại là Arturo Toscanini.  Khi là một thanh niên, anh theo học Viện Âm Nhạc Hoàng Gia ở Parma, Ý Đại Lợi.

Vì xuất thân từ một gia đình nghèo, anh thường bán thịt trong bữa ăn tối cho các học sinh khác để lấy tiền mua bản nhạc.  Khi anh tốt nghiệp, anh nhớ đến hàng trăm bản nhạc.

Phải, một người sống hoàn toàn bởi tinh thần thì thật mỹ miều.

Chúng ta lại càng thán phục hơn nữa người sẵn sàng hy sinh rất nhiều cho ước mơ của mình.

Đức Giêsu là một người như thế.  Người thuộc về nhóm người đặc biệt đó, họ đã làm cho thế giới cao quý hơn bởi tinh thần độ lượng của họ.  Không hy sinh nào được coi là quá lớn đối với họ.  Không thử thách nào được coi là quá đòi hỏi đối với họ.  Không ước mơ nào được coi là không thể đối với họ.

Điều này đem chúng ta đến câu trả lời thứ hai về sự cám dỗ của Đức Giêsu trong sa mạc.  Nó ngắn, nhưng rất quan trọng.

Vì chính Đức Giêsu cảm nghiệm sự cám dỗ, Người biết cách làm thế nào để vượt qua sự cám dỗ.  Người cũng biết thật dễ dàng chừng nào khi bị sự cám dỗ cuốn trôi.

Vì lý do này, Đức Giêsu có thể cảm thông với chúng ta khi bị cám dỗ.  Người hiểu khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.  Vì Người đã bị cám dỗ như chúng ta, Đức Giêsu là người mà chúng ta có thể tìm đến khi bị cám dỗ và ngay cả sau khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.

Và như thế các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy hai điều về Đức Giêsu.  Trước hết, chúng cho thấy một Giêsu mà chúng ta thán phục.  Chúng cho thấy một Giêsu không xa cách với chúng ta mà chúng ta không thể noi gương Người.  Thứ hai, chúng cho thấy một Giêsu là người cảm thông với sự yếu đuối của chúng ta khi bị cám dỗ.

Chúng ta hãy kết thúc với những lời thích hợp trong Thư gửi Tín Hữu Do Thái:

Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.  Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa… để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.  (Dt 4:15-16)

Lm. Mark Link S.J.

CHA HIỆN DIỆN NƠI KÍN ẨN

Cứ đến Thứ Tư Lễ Tro là chúng ta lại được nghe bài Tin Mừng này.

Đức Giêsu nói đến ba việc đạo đức quan trọng của người Do Thái:  cầu nguyện, bố thí, ăn chay.

Chẳng phải cứ đợi đến Mùa Chay chúng ta mới làm ba việc đó.  Nhưng Mùa Chay là thời gian thuận lợi để ta tập trung chú ý hơn.  Tập trung vào cầu nguyện là làm mới lại tương quan với Thiên Chúa, từ bỏ những gì làm tôi xa Chúa và dứt bỏ mọi tội lỗi quen phạm.  Tập trung vào bố thí là chia sẻ của cải cho những người nghèo hơn, tự nguyện bỏ bớt một phần tiện nghi để giúp những ai đói khổ.  Tập trung vào chay tịnh là làm cho thân xác, tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng, thoát khỏi những kéo xuống nặng nề, những cám dỗ sống hưởng thụ, ích kỷ.  Cả ba việc này có tương quan chặt chẽ với nhau.

Khi làm tốt một việc, ta sẽ dễ làm hai việc còn lại hơn.  Ăn chay giúp chúng ta hàn gắn lại tình bạn với Chúa, và lớn lên trong sự thân mật đối với Ngài.  Ăn chay giúp ta tránh tội và tránh mọi thứ dẫn đến tội.  Ăn chay là thoát ra khỏi sự thèm muốn tự nhiên về cơm bánh vật chất, để nếm cảm sự cần thiết của tấm bánh tinh thần.  Nhờ ăn chay con người thấy mình được tự do hơn để sống theo ý Chúa.

Khi chịu đói nơi thân xác, chúng ta sẽ thấy tim mình đói khát Thiên Chúa và mong Ngài đến với ta để làm ta mãn nguyện.  Nhưng ăn chay cũng giúp ta mở mắt trước tình cảnh thiếu thốn của tha nhân.  Nhờ ăn chay, chúng ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng biết sống cho Chúa và tha nhân.  Ăn chay giúp ta chế ngự được tính ích kỷ làm ta co lại, nhờ đó ta có thể mở lòng ra trước nhu cầu của anh chị em mình và chia sẻ cho họ điều mình đã tiết kiệm được từ ăn chay.

Ngay cả một người có hai áo cũng có thể chia sẻ được cho người trần trụi.  Người chỉ còn vài lon gạo cũng có thể chia cho người đang đói.  Chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình 40 ngày Mùa Chay.

Không phải chỉ là ăn chay, mà là sống chay.  Chay tịnh phải là một thái độ thấm vào cuộc sống.  Khi bớt nuông chiều những đòi hỏi ngày càng nhiều của thân xác, chúng ta sẽ thắng được những cám dỗ của thèm muốn vô độ.

*******************************

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

THINH LẶNG: Ý NGHĨA HAY VÔ NGHĨA?

Ngày nay người ta sợ thinh lặng, người ta chạy trốn thinh lặng bằng đủ mọi cách khác nhau vì nghĩ rằng thinh lặng là trống rỗng và vô nghĩa, là phí phạm thời giờ cách vô ích.  Bởi vì chúng ta đã quá quen sống trong vòng quay liên tục, náo nhiệt của việc làm, của âm nhạc, của phim ảnh và mọi thứ âm thanh.

Trong thời đại mà tốc độ đóng một vai trò quyết định: xe có tốc độ càng nhanh càng tốt, internet phải có đường truyền siêu tốc, fast food ngày càng phổ biến… nói chung cái gì tiết kiệm được thời gian thì càng tốt.  Đây quả là những điểm đáng khen ngợi vì giúp con người có thể thực hiện được nhiều công việc hơn, phục vụ tha nhân tốt hơn.

Tuy nhiên, mọi việc đều có tính hai mặt của nó: tích cực và tiêu cực, lợi và hại; nhưng có lúc người ta quá đề cao lợi mà quên đi hại, nhấn mạnh tích cực mà bỏ quên tiêu cực thì có nguy cơ dẫn đến phiến diện và trở nên khập khiễng.  Cụ thể, mặt tiêu cực của việc sống nhanh, ăn vội, yêu gấp, làm liền làm con người dễ căng thẳng, thiếu kiên nhẫn, hay nản chí, mong muốn mau chóng đạt thành công và đó là nguy cơ đánh mất chính mình.

Quả thật, người ta không còn thời giờ để suy nghĩ về những việc mình đã và đang làm có ý nghĩa gì.  Phải thành thật mà nói, xét ở một phương diện nào đó chúng ta cũng có tật hay bắt chước như loài khỉ, không biết có phải vì được sinh ra từ khỉ nên ta có tật đó chăng?  Làm vì thấy người khác làm, rồi từ từ cả bầy đều làm.  Làm mà chẳng biết tại sao mình làm, lý do duy nhất là thấy người khác làm và mình làm theo.

Mặt khác, khi đề cao và tận dụng tốc độ, người ta ít chú ý đến sự liên hệ giữa tinh thần và thể xác.  Gần đây, người ta bắt đầu nhấn mạnh trở lại về việc tinh thần có ảnh hưởng rõ ràng đến sức khỏe thể xác, và dần dà người ta bắt đầu nhận thấy thinh lặng có khả năng chữa lành và gia tăng sức mạnh nội tâm.  Ngày nay, các bác sĩ tâm thần thường khuyên những người bị trục trặc về đời sống tinh thần phải dành thời gian thinh lặng nhất định nào đó trong ngày để có thể lành bệnh chứ không chỉ đơn thuần cho họ dùng thuốc an thần.

Tại sao người ta lại sợ thinh lặng đến thế nhỉ ?

Thứ nhất, bởi vì người ta muốn tận dụng thời gian để làm thật nhiều việc càng tốt, và công việc nói lên giá trị của một con người.  Người nào thành công nhiều, người ấy có giá trị cao.  Nhưng có thật như thế không?  Nếu vậy những người bệnh tật, tâm thần cần phải loại bỏ đi.

Thứ hai, khi thinh lặng người ta phải đối diện với chính mình, với lương tâm và với Thiên Chúa.  Tất cả những gì mà tôi đã, đang và sắp làm sẽ bị chất vấn làm cho tôi khó chịu.  Thế là đành phải tìm cách dẹp bỏ những tiếng nói nội tâm ấy đi.  Đôi khi chúng ta hăng say làm việc đến mức quên ăn, quên ngủ, quên các mối liên hệ bạn bè và gia đình chẳng qua là một cách khéo léo mà tiềm thức chúng ta tung ra để chúng ta đang chạy trốn thinh lặng, và chạy trốn chính mình.

Thinh lặng không chỉ đơn thuần là im lặng, không có tiếng ồn nhưng sâu xa hơn là một trạng thái nội tâm giúp ta tách khỏi những gì ngăn cản ta ý thức về chính bản thân mình, về các mối tương quan giữa ta với Thiên Chúa, và giữa ta với người khác, về những gì mình đang làm và đang theo đuổi,…  Như vậy thinh lặng đi liền với suy tư phản tỉnh.

Người ta phân biệt thinh lặng bề ngoài là chủ động không nghe, không nhìn, không đọc; thinh lặng nội tâm là lắng nghe tiếng lương tâm và tiếng Chúa.  Cần phải có thinh lặng bề ngoài để đạt tới thinh lặng nội tâm.

Ngay chính trong đời sống tâm linh chúng ta cũng thích bầu khí ồn ào, phải có kinh để đọc, phải có đàn hát… nói chung phải có cái gì đó để làm, chứ không để “giờ chết.”  Phải chăng thói quen đó cũng đã ăn sâu vào đời sống đạo?

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thực tế một chút.  Ngày nay để tạo được bầu khí thinh lặng thật là khó.  Sống với hàng xóm và gia đình, chúng ta cảm nhận rõ được khó khăn này.  Chúng ta không thể bắt người thân của chúng ta giữ thinh lặng nếu họ không muốn.  Nhưng nếu điều kiện có thể, chúng ta cần chủ động tìm nơi thinh lặng và giờ thinh lặng cho chính mình.

Thật đáng mừng vì ngày nay, có nhiều giáo xứ có nhà nguyện Thánh Thể được trang hoàng nhẹ nhàng, và đặc biệt là có bầu khí thinh lặng.  Ai cũng có thể đến để viếng Chúa vào bất cứ giờ nào.  Nhiều bạn trẻ đã chia sẻ rằng, mỗi lần họ tìm đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chỉ cần ngồi đó thinh lặng để… nghỉ mệt và có khi ngủ gục nữa vì một ngày đã quá mệt với công việc và mọi thứ linh tinh.  Họ không đọc kinh, không đàn hát, nhưng trong thinh lặng cầu nguyện và đối thoại với Chúa, và đây chính là lúc họ tìm được bản thân và nhận biết chính mình thực sự.  Vì khi đến với Chúa, đến bên Chúa thì mọi thứ mặt nạ, các thứ giả vờ trong lời nói và hành động mà mình sử dụng để đối phó với người khác phải rớt xuống vì chẳng có gì còn có thể che dấu được nữa.  Chính lúc ấy tôi sống thật với con người tôi.

Một lần nữa xin được lặp lại lời của Đức Hồng Y Mercier: “hằng ngày, hãy dành một số lúc nhắm mắt trước những gì thuộc về giác quan và bịt tai trước những ồn ào của thế gian, để đi vào chính tâm hồn bạn.  Ở đó trong sự thánh thiện của linh hồn được rửa tội là đền thờ của Chúa Thánh Thần hãy thân thưa: “lạy Chúa Thánh Thần, người yêu của linh hồn con, con thờ lạy Ngài.  Xin hãy soi sáng con, hướng dẫn con, thêm sức cho con, an ủi con… xin giúp con biết được thánh ý Ngài.”

Nguồn: Giesulove.net

HÃY BIẾT MÌNH

“Hãy biết mình!”  Đó là một trong những luận đề quan trọng trong triết lý của Socrates, ông tổ của triết học Hy Lạp, sống ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên.  Bên Đông phương, cụ Khổng Tử cũng chung một quan điểm, khi chủ trương “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”  Bản thân một người chưa trưởng thành hoặc thiếu tài đức thì không thể làm gì cho gia đình và xã hội.  Chúa Giê-su đã dùng những hình ảnh đơn sơ dễ hiểu mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay, để giáo huấn chúng ta: Hãy xem lại mình trước khi góp ý người khác.  Thông thường, chúng ta có thói quen để ý, thậm chí soi mói lỗi lầm của người khác, trong khi mình còn nhiều khiếm khuyết thì không lưu ý sửa đổi.  Ông La Fontaine, một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng của văn học Pháp, đã viết câu chuyện một người mang hai chiếc giỏ, một chiếc đằng trước và một chiếc đàng sau.  Những lỗi lầm của người khác thì bỏ vào giỏ đàng trước; và những lỗi lầm của mình thì bỏ vào giỏ phía sau.  Câu chuyện ngụ ngôn này thật đúng với tâm lý chung của chúng ta.  Biết mình là can đảm khiêm tốn nhận ra những thiếu sót để thiện chí sửa đổi, nên hoàn thiện hơn mỗi ngày.  Trong cuộc sống, có nhiều người không biết bản thân, quá tự tin nên ảo tưởng về quyền lực, hậu quả là trở thành trò cười cho thiên hạ.

Con người sinh ra chưa biết gì.  Cần phải có thời gian học hành tập luyện.  Người khiêm tốn học hỏi sẽ biết đối nhân xử thế, kính trên nhường dưới và xây dựng một mối tương quan hài hòa với những người xung quanh.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chuyên tâm sửa mình để có con mắt sáng.  Một khi có tâm hồn trung thực và ngay thẳng, chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác sống tốt.  Người mù không thể dắt người mù!  Điều đó đã quá rõ.  Để hướng dẫn người khác đi đúng đường, chúng ta phải quen biết con đường đó, nếu không tất cả sẽ mất hướng.  Không ai trên đời là hoàn hảo, vì vậy mọi người phải giúp đỡ nhau để cùng nên hoàn thiện.  Động viên khích lệ và sửa lỗi cho nhau, đó chính là đức Ái Ki-tô giáo.

Lời giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ nhằm tới cá nhân, mà cả cộng đoàn tín hữu.  Ngay từ thuở sơ khai, giữa các tín hữu đã có sự cạnh tranh ghen tỵ, phân biệt giữa những người đàn bà góa gốc Hy Lạp (x. Cv 6,1-7).  Những cộng đoàn xứ họ của chúng ta ngày nay cũng thế.  Có những cộng đoàn bị tổn thương nghiêm trọng do những cá nhân tự phụ hoặc thiếu hiểu biết, thiếu thiện chí.  Xem quả biết cây, một cộng đoàn chia rẽ và thường xuyên xảy ra xung đột, thì không thể là một cộng đoàn đạo đức và như thế không có khả năng diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Những mâu thuẫn bất hòa giữa các xứ họ là lực cản của công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội, là sứ vụ quan trọng nhất mà Chúa Giê-su đã trao phó.  Tình liên đới hài hòa và cộng đồng trách nhiệm chính là hoa trái của một cộng đoàn đức tin sinh động, có khả năng giới thiệu Chúa cho con người của thời đại hôm nay.

Bài đọc I trích sách Huấn Ca mang nội dung rất gần với những ca dao tục ngữ của người Việt Nam chúng ta.  Tác giả dạy mọi người phải thận trọng khi khen chê cũng như khi nhận định về một con người, một sự việc.  Ông bà ta dạy: người khôn ngoan uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.  Đó là lời dạy về sự thận trọng trong ngôn từ để tránh mất lòng và mất mát tình cảm.  Người xưa cũng nói: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” có nghĩa là một lời nói ra dù bốn ngựa khó đuổi.  Hãy nhớ rằng, một lời đã nói ra thì không thể lấy lại.  Khi nói ra những điều thiếu tế nhị có thể khiến cuộc sống của chúng ta trở nên tồi tệ, và làm rạn nứt những mối quan hệ xung quanh.

Ki-tô hữu không chọn một nhân vật trần thế làm lý tưởng cho mình, nhưng là chọn Chúa Giê-su.  Nói cách khác, hành trình đức tin cũng là hành trình hoàn thiện bản thân để nên giống như Chúa Giê-su.  Trong hành trình này, cần phải kiên trì nhẫn nại và nhất là cần phải khiêm tốn, biết mình.  Thánh Phao-lô khích lệ giáo dân Cô-rin-tô hãy kiên tâm bền chí để đạt tới sự hoàn thiện.  Ngài khẳng định: “Trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (Bài đọc II).

“Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-ban.”  Hình ảnh tươi đẹp tràn đầy sức sống của cây dừa và cây hương bá được tác giả Thánh vịnh dùng để diễn tả những ai sống tốt lành và luôn phó thác cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa.  Giữa cuộc sống còn đầy những âu lo trăn trở và bộn bề hôm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta vẫn ngẩng cao đầu, như đóa sen sống giữa bùn lầy mà vẫn tỏa hương thơm ngát cho những người xung quanh.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TÌM NGƯỜI ĐỂ XƯNG TỘI

Có lẽ hơn hết thảy, trong vô thức, chúng ta đều mong tìm được một cha giải tội, một người mà chúng ta có thể trải lòng ra, hoàn toàn không hề giấu diếm điều gì, giải bày hết các hoang mang trong lòng, thừa nhận tội lỗi của mình mà không e ngại.  Sâu bên trong cuộc kiếm tìm người tri âm của chúng ta là kiếm tìm một người để xưng tội.  Nhưng tìm một cha giải tội tốt không phải là chuyện dễ dàng.  Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất Brooklyn, tác giả Colm Toibin đưa ra một trong những lý do như sau:

Nhân vật chính, Eilis, một cô gái trẻ người Dublin, đến New York và phải lòng chàng trai Tony.  Sau vài tháng yêu nhau, Eilis phải trở về Ireland vì em gái Rose của cô qua đời.  Cảm thấy bất an và sợ rằng Eilis sẽ không quay lại, Tony thuyết phục cô kết hôn theo thủ tục dân sự với anh trước khi đi.

Trở lại Dublin, ở với mẹ, đau buồn trước cái chết của người em gái và phải trì hoãn việc trở lại New York vì đám cưới của một người bạn, Eilis được chàng trai Jim Farrell đeo đuổi, cô hẹn hò nhiều lần với anh mà không nói với anh về người chồng Mỹ của mình.  Nhưng cô bị ám ảnh bởi việc giấu diếm này và đau khổ không biết nên xử sự ra sao.  Điều cô tha thiết muốn làm nhất là nói cho anh biết bí mật, giải bày mớ rối rắm trong lòng mình, để anh là người nghe cô xưng tội, và nhờ anh giúp cô giải quyết chuyện này, nhưng sự ngây thơ trong trắng của anh khiến cô ngần ngại.  Toibin viết: Liệu cô có thể nào nói cho Jim biết những gì cô đã làm chỉ trước đó một thời gian ngắn ở Brooklyn?  Người ly hôn duy nhất mà ai trong thành phố đó cũng biết là Elizabeth Taylor và có lẽ vài siêu sao màn bạc khác.  Cũng có thể giải thích được với Jim nguồn cơn khiến cô đi tới hôn nhân, nhưng anh là một người chưa từng bao giờ sống ở đâu khác ngoài Dublin.  Cô nghĩ, sự ngây thơ và lịch duyệt của anh, hai đức tính khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi gần bên anh, thật ra có thể lại là những hạn chế, đặc biệt nếu nêu ra điều gì đó chưa từng nghe nói đến và ngoài sức suy nghĩ hay trải nghiệm của anh như chuyện ly hôn.  Cô nghĩ, tốt nhất là gạt toàn bộ chuyện này ra khỏi tâm trí.

Doris Lessing từng nhận xét về George Eliot rằng Eliot chắc hẳn sẽ viết hay hơn, sâu sắc hơn, nếu bà không quá đức hạnh như vậy.  Dường như sự ngây thơ có thể là những hạn chế, điều cản trở thông cảm và thấu hiểu, như cả Eilis và Doris Lessing đều lo sợ.  Nhưng có đúng như vậy không?

Ngày nay có cả một luồng tư tưởng phổ biến mạnh mẽ cho rằng đúng như vậy.  Bạn sẽ thấy những dạng thô của điều này ở chủ nghĩa khắc kỷ trong văn hóa của chúng ta về sự trinh bạch và ngây thơ trong trắng, mà cả hai đều được đồng nhất một cách giản đơn quá mức với ngây thơ khờ khạo và chưa trưởng thành.  Trên thực tế, việc thiếu kinh nghiệm tình dục được đặc biệt coi là khờ khạo nhất trong những sự ngây thơ khờ khạo.  Phổ biến nhất là con tính đơn giản đánh đồng trải nghiệm với “việc từng hẹn hò quanh quất” và đánh đồng “từng hẹn hò quanh quất” với việc hiểu đời.  Các sách giáo lý xưa của chúng ta dạy rằng khi A-đam và E-và ăn trái cấm, tâm trí họ trở nên tăm tối.  Suy nghĩ phổ thông ngày nay nhấn mạnh rằng lúc đó họ lại sáng mắt ra, cái trải nghiệm đó, dù đúng đắn hay không, là cái làm cho họ mở mang tâm trí.  Từ đó, người ta dễ dàng có suy nghĩ rằng con người lý tưởng để nghe xưng tội, con người hiểu đời, là một người nào đó “từng hẹn hò quanh quất.”

Nhưng chúng ta không thật sự tin điều đó.  Tại sao vậy?  Bởi vì những gì chúng ta tìm kiếm trong vô thức ở một người để xưng tội chứng tỏ điều ngược lại.  Trong khi tìm kiếm một người để xưng tội (không nhất thiết là một người nghe xưng tội theo nghĩa bí tích), không phải là chúng ta đi tìm một ông bạn nhậu, một tay đồng lõa phạm tội, một người sẽ không phê phán chúng ta bởi vì đời họ cũng rối rắm và xáo trộn y như đời chúng ta.  Khi kiếm tìm một người để xưng tội, một cách có ý thức hay vô thức, chúng ta đang đi tìm một người mà sự thông hiểu và chấp nhận của người đó sẽ đưa chúng ta tới một chỗ khác, vượt qua tình trạng rối rắm và yếu ớt của chúng ta.  Trong sâu thẳm chúng ta biết rằng tội lỗi của chúng ta sẽ không được chữa lành bằng tội lỗi của một người khác, mà thay vào đó, nó cần phải tiếp xúc được với một điều gì đó ngây thơ hơn, giống Chúa hơn, giống như tấm lòng khoan dung của người cha đối với đứa con trai hoang đàng.

Nhưng không phải kiểu ngây thơ nào cũng vượt qua được thử thách này.  Sự ngần ngại của Eilis trong việc thổ lộ những dằn vặt của mình trước sự ngây thơ của Jim Farrell thật ra có thể lại là một quyết định đúng đắn.  Có một loại ngây thơ mà, vì nó cố tình không nhìn thấy ở một điểm nào đó, nên miễn nhiễm một cách không lành mạnh đối với những điều phức tạp.  Nhưng cũng có một loại ngây thơ – đó là loại chúng ta kiếm tìm trong vô thức – thật sự vượt qua được thử thách này.

Một lần nọ, một chủng sinh trẻ đau đầu với các vấn đề tình dục viết thư cho Têrêxa Lisieux để tìm lời khuyên.  Anh nói bóng gió tới các vấn đề của mình nhưng lại bảo bà: “Nếu tôi chia sẻ với bà những gì tôi đang thật sự vất vả chống đỡ, tôi sợ rằng bà sẽ bị sốc nặng và cảm thấy chướng tai gai mắt quá rồi sẽ không viết thư trả lời tôi.”  Têrêxa viết đáp lại: “Nếu anh nghĩ như vậy, thì thật sự anh không hiểu tôi rồi!”

Cha xứ d’Ars là một người hết sức giản dị và vô cùng ngây thơ trong trắng.  Ấy vậy mà trong khi còn sống, ông có lẽ là người được nhiều người mong muốn gặp để xưng tội nhất.  Chúng ta khao khát chính một người như vậy để xưng tội, một người mà với họ chúng ta có thể thoải mái giải bày tâm tư phức tạp của mình, nhưng người đó không mắc những tội lỗi như chúng ta.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

SỰ CHẾT DẠY CHÚNG TA ĐIỀU GÌ VỀ CÁC MỐI TƯƠNG QUAN CỦA MÌNH

Nếu có thể, tôi sẽ trao tặng bất cứ thứ gì để ông ấy sống lại.

Đây không phải là một dòng trong một bản tình ca buồn, ít ra cũng không phải là một câu hát mà tôi biết.

Trái lại, đây thực sự là một lời cầu nguyện chân thành mà tôi đã nói với Chúa cách đây vài tháng khi bố tôi đột ngột qua đời.  Tôi biết điều đó là không thể nhưng tôi chỉ muốn bày tỏ ước muốn sâu sắc nhất của tôi với Chúa cho dù điều đó nghe có vẻ vô lý hay sai lầm về mặt thần học đến mức nào.

Lúc ấy, tôi không hề nhận ra rằng cái chết đang dạy cho tôi một trong những bài học quan trọng nhất trong cuộc đời.  Qua kinh nghiệm, tôi học được rằng điều quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta là mối tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và với người khác.  Khi trải nghiệm sự ra đi của người thân, chúng ta thấy mọi thứ khác như lu mờ đi so với việc có những giây phút quý giá ở bên những người mình yêu thương.

Sự hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa và với người khác có vị trí ưu tiên trong cuộc sống này, trước hết là vì Thiên Chúa là mối tương quan của các Ngôi vị – Cha, Con và Thánh Thần.  Thiên Chúa cũng mong muốn đưa chúng ta vào sự hiệp thông sâu sắc hơn với Ngài và với người khác, đến nỗi đã chia sẻ sự sống của chính Ngài với chúng ta bằng ân sủng ngay trong hiện tại, và bằng vinh quang trong tương lai, “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.

Đây không phải là mong muốn hão huyền về phía Thiên Chúa.  Thiên Chúa sẽ ban cho và làm bất cứ điều gì để đưa chúng ta vào mối tương quan sâu sa hơn với Ngài.  Thiên Chúa đã ban Con Một của Ngài vì mối tương quan với chúng ta như là con cái của Ngài.  Con Thiên Chúa là Đức Giêsu đã phó mình trên thập giá cũng vì mối tương quan này, “chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Ðấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Ðức Kitô Giêsu, Ðấng tự hiến làm giá chuộc mọi người.” (1Tm 2, 5-6)  Chúng ta nhận được Chúa Thánh Thần cũng là để biến mối tương quan được thừa nhận này thành hiện thực.  Thiên Chúa không ngừng tha thứ tội lỗi và ban cho chúng ta những ân sủng vì mục đích này.

Được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, chúng ta cần tự vấn xem mình sẵn sàng để làm gì, để cho đi điều gì, và để lớn lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và người khác?  Liệu chúng ta có đang nhận được lòng thương xót và ân sủng biến chúng ta thành con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta lại đã không cố gắng để yêu mến Thiên Chúa và người lân cận không?

Người quản gia bất lương trong Tin Mừng Lc 16, 1-13 là một đầy tớ ích kỷ và hoang phí, anh ta dường như thường lạm dụng tài sản của ông chủ.  Anh đã bừng tỉnh khi nghe ông chủ nói, “Anh hãy phúc trình về công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa” (c. 3).  Thời gian phục vụ của anh ta đã kết thúc.  Đây chẳng phải là điều mà Thiên Chúa cũng sẽ nói với chúng ta khi chúng ta trút hơi thở cuối cùng và thời gian phục vụ trên trần gian của chúng ta cũng đến hồi kết sao?

Người quản lý đã biển thủ tiền bạc và trở thành người sử dụng tất cả những gì anh ta có trong tay – những tờ hẹn trả nợ – để đảm bảo tương lai của mình thông qua các mối tương quan tốt hơn với người khác.  Giờ đây, anh ta đầu tư vào các mối tương quan chứ không phải vào những mong muốn và mục tiêu ích kỷ của bản thân nữa, “Mình biết phải làm gì rồi, để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ!” (c. 4).

Đức Giêsu hướng sự chú ý vào người quản lý như một điển hình về cách chúng ta tận dụng hiệu quả tất cả những gì chúng ta đang có trong hiện tại, bởi vì tương lai của chúng ta phụ thuộc vào các mối tương quan của chúng ta hiện nay, “Thầy bảo cho các con biết: hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” (c. 9). Bất kể kiếm được và sử dụng như thế nào, thì sớm muộn gì của cải, dù đó là tiền bạc, sức khỏe, thành công, danh vọng, thú tiêu khiển,… cũng sẽ lụi tàn.

Nhưng sự hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa và với người khác trên trái đất này chuẩn bị cho chúng ta sự giàu có không phai nhạt trên thiên đàng.

Có 3 câu hỏi giúp chúng ta tự phân định rằng liệu chúng ta có thực sự tận dụng mọi thứ để lớn lên trong mối tương quan với Thiên Chúa và với người khác không:

1. Những thứ này kiếm được như thế nào?

Có phải tôi thủ đắc những thứ này theo cách tôi tôn trọng quyền của Thiên Chúa không? Có phải do tham lam, trộm cắp, hoặc thiếu trung thực mà tôi giành được nó không?  Có phải tôi tìm kiếm và sở hữu của cải mà không quan tâm gì đến ý muốn của Thiên Chúa không?

Tôi có chà đạp lên quyền và phẩm giá của người khác; Tôi có lợi dụng người khác để có được của cải này không?

2. Của cải đang được sử dụng như thế nào?

Của cải có được sử dụng để giúp tôi làm theo ý Chúa và giúp người khác cũng làm như thế hay nó là cách để tôi tự thỏa mãn hoặc tự khoe khoang?  Của cải có được sử dụng để phục vụ và quan tâm đến người khác hay để thống trị họ?  Của cải có đang làm vinh danh Chúa hay góp phần vào vương quốc bóng tối?  Của cải giúp tôi lớn lên trong sự thánh thiện hay khiến tôi trở nên xấu xa hơn?

3. Ảnh hưởng của vật này đối với tôi là gì?

Món đồ này làm cho tôi biết ơn và tin tưởng vào Chúa hơn hay nó làm cho tôi kiêu ngạo và tự phụ?  Món đồ này có giúp tôi nhạy cảm với nhu cầu của người khác không?  Món đồ này khiến tôi trở nên ích kỷ hay vị tha hơn?  Món đồ này có phải là thần tượng, thứ mà tôi tôn thờ và khao khát khôn nguôi không?  Nó làm cho tôi nên tệ hại hay mang lại điều tốt nhất nơi tôi?

Chúng ta cần tự vấn với những câu hỏi này nếu chúng ta muốn tìm kiếm và tận hưởng của cải theo cách thế giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và người khác. Mọi thứ trong cuộc đời của chúng ta – thời gian, của cải, và tài năng – đều được trao cho chúng ta để chúng ta lớn lên trong tình yêu bằng việc sử dụng một cách thận trọng tất cả những gì chúng ta đón nhận từ Thiên Chúa.  Chúng ta lãng phí khi tìm cách thu nhận và sử dụng chúng theo cách làm tổn thương mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với người khác.

Vào giờ chết, sự phục vụ trên trần gian của chúng ta sẽ kết thúc.  Chúng ta phải tường trình với Thiên Chúa về tất cả những hồng ân mà Ngài ban cho chúng ta và chúng ta đã sử dụng những ân ban ấy như thế nào.  Thiên Chúa rất quảng đại khi ân ban nhưng Ngài chẳng hề lãng phí.  Hiện tại là thời điểm để chúng ta phát triển mối tương quan với Thiên Chúa và người khác bằng những khả năng, và sự hỗ trợ của ân sủng.

Thiên Chúa, Đấng thiết lập các mối tương quan, luôn nỗ lực để đưa chúng ta đi vào mối tương quan sâu sắc hơn với Ngài.  Thiên Chúa đến với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể để làm mới lại tình yêu của chúng ta đối với Ngài và người khác.  Thiên Chúa luôn hành động vì mối tương quan tốt lành và lâu dài này đối với chúng ta và người khác.  Ngài mời gọi chúng ta hãy luôn làm như vậy đối với tất cả những gì chúng ta sở hữu.

Chúng ta đừng đợi đến giây phút lâm chung – giờ chết của người thân hay của chính mình – để rút ra bài học này.

Lm. Nnamdi Moneme, OMV
Chuyển ngữ: Nt. Anna Ngọc Diệp, OP catholicexchange.com (20. 9. 2022)

LÒNG VỊ THA 

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi nói đến lòng vị tha, chúng ta giống như người nghệ sĩ vụng về chơi một cung đàn lạc điệu.  Những tin tức hằng ngày tại xã hội Việt Nam mà chúng ta đọc thấy trên mạng truyền thông cho thấy con người ngày càng hung dữ đối với đồng loại, thậm chí ngay cả trong gia đình.  Như một quán quân cần phải tập luyện gian khổ mới xứng nhận phần thưởng, Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta phải vượt lên lối ứng xử của thời đại để trở nên những người vị tha nhân hậu.  Nền tảng cho lòng vị tha của Ki-tô hữu là “vì Chúa là Đấng từ bi nhân hậu.  Người chậm giận và giàu tình thương” (Thánh vịnh 102 trong phần Đáp ca).  Con người được mời gọi sống nhân hậu, vì chính mỗi người cũng đã hơn một lần đón nhận lòng nhân hậu của Thiên Chúa, mặc dù có thể họ không nhận ra.  Như người con chẳng mấy khi ý thức hoặc nhận ra lòng tốt của cha mẹ, trong khi tình thương cha mẹ thì luôn mênh mông tràn đầy.

Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, và những ai tin vào Ngài cũng phải sống nhân hậu.  Đó là thông điệp chính mà Lời Chúa hôm nay muốn chuyển đến chúng ta.  Vua Đa-vít là một mẫu gương về lòng vị tha.  Chính lúc đang bị Sa-un truy đuổi để sát hại, vì ghen tương, Đa-vít có cơ hội tiếp cận Sa-un trong một cái hang rộng lớn.  Lúc này, ông có thể giết chết người đang truy đuổi mình một cách dễ dàng.  Tuy vậy, Đa-vít không làm thế, vì ông là người trung nghĩa.  Ông tôn trọng người đã được Thiên Chúa xức dầu, mặc dù người đó có lỗi lầm đến đâu chăng nữa.  Vua Đa-vít để lại tiếng thơm cho các thế hệ người Do Thái và cho tất cả chúng ta.  Ông được tôn vinh là “Thánh Vương” và là niềm tự hào của dân tộc Do Thái.

Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa.  Người được sai xuống trần gian để rao giảng về lòng từ bi nhân hậu của Chúa Cha.  Trong giáo huấn của Người, Người luôn nhấn mạnh đến lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên những người lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống cho người công chính cũng như kẻ bất lương.  Người đã chúc phúc cho những ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương (x. Mt 5, 7).  Những đề nghị của Người trong Tin Mừng hôm nay xem ra vô cùng khó khăn và đòi hỏi Ki-tô hữu phải có nhân đức tới mức anh hùng.  Những đề nghị của Chúa trong Tin Mừng cũng đi ngược hoàn toàn với quan niệm đời thường.  Bởi lẽ người đời tự nhiên có khuynh hướng hơn thua, ăn miếng trả miếng, chứ nhất định không chịu thiệt.  Đó cũng là quan niệm của Kinh Thánh Cựu ước, theo giáo huấn của ông Môi-sen.  Trong khi đó, Chúa Giê-su dạy chúng ta: hãy tha thứ và cầu nguyện cho kẻ làm hại mình.  Đức bác ái Ki-tô giáo đạt tới mức siêu việt ở những điểm này.  Đối với các môn đệ của Chúa Giê-su, không ai còn là kẻ thù, nhưng tất cả là huynh đệ trong cùng một gia đình có Chúa là Cha.  Như trên đã nói, nền tảng của lòng vị tha Ki-tô giáo đặt để trên chính bản tính của Thiên Chúa.  Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta thực thi lòng nhân hậu, là vì Chúa là Đấng nhân hậu.  Chính chúng ta cũng đã từng đón nhận lòng nhân hậu của Chúa, nên chúng ta hãy sống nhân từ như Chúa Cha.  Thực thi lòng nhân hậu, đôi khi phải chịu thiệt thòi về danh dự hoặc những điều khác.  Hãy nhìn lên thập giá, nơi Đức Giê-su chịu khổ hình.  Người bị người đời xỉ vả khinh thường, nhưng cũng qua biến cố này, Chúa Giê-su trở nên nguyên nhân cứu rỗi và là gương mẫu cho chúng ta trong sự hy sinh và lòng quảng đại.

Dẫu đang sống trong cuộc đời dương thế, Ki-tô hữu là người thuộc về thượng giới.  Thánh Phao-lô đã dùng hình ảnh ông A-đam để so sánh với Chúa Giê-su.  A-đam tượng trưng cho những gì thuộc về đất (lưu ý, trong nguyên ngữ Do Thái, chữ “A-đam” có nguồn gốc từ chữ ADAMA có nghĩa là “đất”), và Chúa Giê-su tượng trưng cho những gì thuộc về trời.  Nhờ tin vào Chúa Giê-su, chúng ta thuộc về trời, và đang tiến bước tiến về quê trời.  “Hướng về trời”, đó là cách nói diễn tả những cố gắng nỗ lực để nên hoàn thiện trong chính hoàn cảnh cụ thể của mình, trong mối tương quan với Chúa và với anh chị em đồng loại.

Giữa bối cảnh xã hội còn nhiều xung đột và bạo lực, Ki-tô hữu được mời gọi trở nên dấu chỉ của lòng nhân hậu.  Khi thực thi bác ái và tha thứ, sẽ có nhiều hệ lụy kèm theo, nhưng chắc chắn một điều, là khi tha thứ, chính bản thân chúng ta cảm nhận niềm vui và chính chúng ta cũng được Chúa thứ tha.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

LÀM NGƯỜI MÔN ĐỆ CHÚA THƯƠNG

Tin mừng theo thánh Gioan cho chúng ta thấy một hình ảnh thần nghiệm rất hùng hồn mà khá trần tục.  Khi thánh Gioan mô tả Bữa Tiệc Ly, ngài cho chúng ta biết rằng trong bàn tiệc, người môn đệ mà Chúa thương ngồi ngả đầu vào ngực Chúa.

Tôi tin là các họa sĩ nắm bắt sức mạnh của hình ảnh này tốt hơn là các thần học gia và học giả Kinh thánh.  Các họa sĩ và diễn giải nghệ thuật thường thể hiện hình ảnh này như sau: Người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa với một tai hướng thẳng vào tim Chúa Giêsu, nhưng mắt thì nhìn thẳng vào thế giới.

Đúng là một hình ảnh hùng hồn!  Nếu đặt tai vào ngực người khác, bạn có thể nghe được tiếng tim họ đập.  Thế thì người môn đệ này là người hòa chung nhịp tim của Chúa và đang nhìn ra thế giới từ điểm quy chiếu đó.

Xa hơn nữa, thánh Gioan cho chúng ta một loạt hình ảnh để thực tế hóa những hệ quả từ việc nghe tiếng tim Chúa.

Trước hết, người môn đệ Chúa thương đã đứng cạnh Đức Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu.  Hình ảnh này gói gọn điều gì?  Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu thừa nhận là đôi khi bóng tối có vẻ lấn át sự thiện và dường như Thiên Chúa bất lực.  Đôi khi bóng tối lấn lướt!  Cái chết của Chúa Giêsu là một trong những lúc như thế, và người môn đệ Chúa thương, cũng như Đức Mẹ, không thể làm gì khác ngoài đứng đó bất lực giữa muôn trùng tối tăm và bất công.  Chẳng thể làm được gì ngoài đứng đó bất lực.  Nhưng khi đứng đó, người môn đệ Chúa thương cũng chung vai sát cánh với hàng triệu người nghèo và những nạn nhân trên khắp thế giới, những người chẳng thể làm gì trước cảnh ngộ của mình.  Khi người ta đứng đó bất lực, khi chẳng thể làm được gì, khi sự hữu hạn của con người câm nín, thì có thể nảy lên lời cầu nguyện thâm sâu nhất.  Rồi sau đó, người môn đệ Chúa thương đưa Đức Mẹ về nhà mình, một hình ảnh không cần phải giải nghĩa gì thêm.

Tuy nhiên, có một hình ảnh thứ hai liên kết với người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa, mà chúng ta cần giải nghĩa đôi chút.  Khi người môn đệ đó ngả vào ngực Chúa, thì có một cuộc đối thoại đáng để ý diễn ra.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ là một người trong số họ sẽ phản bội Ngài.  Thánh Phêrô quay sang người môn đệ Chúa thương mà nói: “Hỏi thầy xem đó là ai?”  Điều này gợi lên chất vấn: Tại sao Phêrô không tự hỏi Chúa câu đó?  Thánh Phêrô đâu có ngồi xa Chúa đến mức không thể tự mình hỏi Chúa câu đó.

Hơn nữa, câu hỏi của thánh Phêrô có tầm quan trọng thực sự khi xét theo bối cảnh sử học.  Các học giả ước chừng Tin Mừng theo thánh Gioan được viết vào khoảng những năm 90 đến 100.  Khi đó thánh Phêrô đã được công nhận là giáo hoàng và đã chịu tử đạo rồi.  Đoạn Tin Mừng này đang nói lên rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu cao hơn bất kỳ điều gì khác, kể cả vai vế trong giáo hội, kể cả có là giáo hoàng đi chăng nữa.  Lời cầu nguyện của tất cả mọi người đều đi qua người môn đệ Chúa thương.  Đức Giáo hoàng không thể cầu nguyện với tư cách Giáo hoàng, nhưng là với tư cách một người môn đệ được Chúa thương như bao Kitô hữu khác.  Đức Giáo hoàng có thể cầu nguyện cho thế giới và giáo hội với tư cách Giáo hoàng, nhưng chỉ có thể cầu nguyện riêng với tư cách người môn đệ Chúa thương.

Cuối cùng, trong Tin Mừng theo thánh Gioan nêu bật lên khái niệm rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu thì quan trọng hơn vai vế trong Giáo hội, và điều này được mô tả rõ hơn nữa trong buổi sáng ngày Phục Sinh.  Maria Magdalena chạy từ mộ về và bảo các môn đệ là ngôi mộ trống.  Thánh Phêrô và người môn đệ Chúa thương liền chạy ngay đến mộ.  Ta có thể dễ dàng đoán ra ai là người đến đó trước.  Người môn đệ Chúa thương dễ dàng đến trước thánh Phêrô, không phải bởi có lẽ do trẻ hơn, nhưng là do tình yêu thì mạnh hơn vị thế.  Đức Giáo hoàng cũng có thể đến đó trước, nếu ngài chạy với tư cách người môn đệ Chúa thương chứ không phải tư cách giáo hoàng.

Và mọi người cho rằng người môn đệ Chúa thương chính là thánh Gioan.  Có thể đúng là thế, nhưng đấy không phải điều mà những đoạn Tin Mừng này muốn nói.  Thân thế theo sử học của người môn đệ Chúa thương được bỏ ngỏ một cách có chủ đích, là bởi Tin mừng muốn khái niệm về người môn đệ Chúa thương là một lời mời gọi và một vai trò hợp với bạn, với mọi Kitô hữu trên đời, bao gồm cả giáo hoàng nữa.

Vậy ai là người môn đệ Chúa thương?  Người môn đệ Chúa thương có thể là bất kỳ ai, nam nữ trẻ em, miễn là mật thiết với Chúa Giêsu đủ để hòa nhịp với nhịp tim của Chúa, và nhìn thế giới từ góc nhìn của sự mật thiết đó, cầu nguyện từ sự mật thiết đó, và ra đi trong yêu mến đến tìm Chúa Giêsu Phục sinh và hiểu được ý nghĩa của ngôi mộ trống.

Các hình ảnh thần nghiệm được giải nghĩa rõ nhất nhờ các nhà thần nghiệm khác.  Nghĩ như thế, tôi xin để lại cho các bạn một hình ảnh từ Đan phụ Sa mạc thế kỷ IV, Evagrius Ponticus.

Ngực Đức Chúa
Vương quốc Ngài
Ai ngả vào đấy
Là thần học gia

Rev. Ron Rolheiser, OMI