THÁNH MATTHÊU, TÔNG ĐỒ, THÁNH SỬ

Ít có ai chuộng người thu thuế.  Vào thế kỷ I tại Palestine điều này còn rõ hơn nữa, khi mà họ thủ lợi được nhờ dọa dẫm và gian dối.  Nhưng dù có lương thiện đi nữa nhân viên thu thuế cũng không được cấp lãnh đạo Do Thái chấp nhận vì họ làm việc cho lương dân.  Họ là người nhơ uế theo luật pháp và bị loại khỏi xã hội.  Khi nhận một người thu thuế vào môn đồ của Người, Chúa Giêsu quả đã khinh thường tiên kiến của dân chúng.

Điều cần ghi nhận là Matthêu không phải đi từ cửa nhà này tới cửa nhà khác để thu thuế.  Ông có một văn phòng tại Capharnaum, thành phố quê hương của Phêrô và đại bản doanh của Chúa Giêsu khi thi hành sứ vụ tại Galilê.

Đi ngang qua, Chúa Giêsu thấy Lêvi con của Alphê ngồi nơi sở thu thuế và Người nói: “Hãy theo Ta” và ông đứng dậy đi theo Người” (Mc 2,14).

Đó là lời mời gọi làm tông đồ, rất giống lời gọi dành cho Simon và Anrê (x. Mc 1,16t).  Dầu vậy, Lêvi không có tên trong danh sách nhóm mười hai (x. Mc 3,16; Mt 10,3; Lc 6,14t; Cv 113).  Ơn gọi người thu thuế được ghi lại trong Tin Mừng thứ nhất, trong đó ông được gọi là Matthêu (x. Mt 9,9tt).  Như vậy, tông đồ đồng hoá mình với Mathêu có trong danh sách các tông đồ.  Lời giải thích tự nhiên được tiếp nhận rộng rãi là Matthêu với Lêvi chỉ là một người với hai tên gọi khác nhau.  (Chẳng hạn anh em Macabê, 1 Mcb 2,2-5).  Cũng có thể chính Chúa Giêsu đã đặt tên cho Matthêu như đã đặt tên Phêrô cho Simon (Mattai theo tiếng Aramêô có nghĩa là ấn bản của Thiên Chúa).

Từ đó Matthêu bỏ sổ sách và học theo hoa đồng và chim trời, những thứ không thể tính toán cho đời sống mình (x. Mt 6,25tt).  Chủ nhân của ông không còn là Antipas, con cáo gian xảo (x. Lc 13,32) mà là một Đấng khác hẳn loài cáo, lại chẳng có lấy một căn nhà (x. Mt 8,20).  Sự thay đổi đã hủy diệt trọn tương lai trần gian của Matthêu.  Simon và Andrê còn có thể trở lại với nghề chài lưới, còn Matthêu bị tống khứ khỏi nghề cũ và không thể trở lại được nữa.  Trong cộng đoàn tông đồ không phải ông mà là Giuda giữ quỹ của nhóm (x. Ga 13,29).

Sau khi được gọi, Matthêu biến dạng khỏi Tân ước và chỉ còn để lại tên trong danh sách các vị Tông đồ.  Ngài đã ra thế nào?  Chúng ta có được một câu văn của Giám mục Papias trong cuốn giải thích Lời Chúa (khoảng năm 125): “Matthêu viết một tường thuật có thứ tự về Lời Chúa, theo năng khiếu của ngài” (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 39).  Cuốn Tin Mừng Matthêu viết bằng tiếng Aramêô cho người Do Thái trở lại.  Khi thời thế đòi hỏi, con người Matthêu bị xã hội loại bỏ ấy đã cầm lấy viết để trước tác cuốn “Tin Mừng theo Thánh Matthêu.”

Theo bản văn tiếng Hy Lạp còn lại, chúng ta thấy tính khí theo toán học với những con số rõ rệt: 7 dụ ngôn về nước trời, 7 lời nguyền rủa bọn biệt phái, 7 lời cầu trong kinh Lạy Cha, và có lẽ 7 mối phúc thật.  Cả con số 5 nữa: 5 cuộc tranh luận với biệt phái, 5 chiếc bánh, 5 lượng vàng, nhất là 5 phần của cuốn sách.  Sau cùng như chúng ta mong đợi có dấu chỉ về sự hiểu biết tinh tường về phương diện tài chính như đồng bạc nộp thuế thay vì đồng “denarius” trong Mác-cô và Luca hay như thuế đền thờ, với những loại thuế gián thu, thuế phân…

Như vậy, Matthêu đã chuyển nghề nghiệp cũ vào một việc phụng sự mới, từ người kế toán thành người viết Tin Mừng.  Thật không ngạc nhiên gì khi một mình ngài ghi lại lời này của Chúa: “Phàm ký lục nào đã được thụ giáo về Nước Trời thì cũng giống như gia chủ biết rút từ trong kho của ông ra điều mới và điều cũ” (Mt 13,52).

Không có khí cụ hèn hạ nào của chúng ta mà lại không được dùng một cách hoàn hảo và xứng đáng vào việc phụng sự Chúa.

Cuốn Tin Mừng thứ nhất là một kỷ vật của Thánh Matthêô được Giáo Hội ưa chuộng.  Nhưng công cuộc tông đồ sau này của ngài lại bị mai một.  Ngài đã rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái tại Palestina có lẽ trong 15 năm (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 24,265) nhưng sự lầm lẫn giữa tên ngài với thánh Matthias (x. Cv 1,26) làm chúng ta lưỡng lự giữa những truyền thống khác nhau.  Ethiopia, Parthia, Macedonia và cả những xứ của những kẻ ăn thịt người đều được ghi nhận là nơi thánh nhân đã làm việc tông đồ.

Thường người ta cho rằng: ngài chịu tử đạo, nhưng ý kiến cũng không được đồng nhất.  Điều chắc chắn là ngài đã sống đời của một vị tử đạo và thế là đủ.  Đối với chúng ta, ngài luôn luôn là một người đã biết được tiền của là gì, lẫn việc không có tiền của là gì.

Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

CUỘC CHIẾN GIỮA ĐAVÍT & GÔLIÁT – CUỘC CHIẾN ĐỨC TIN

Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa hằng sống.  Người khác với tượng thần của chư dân, bởi thần của chư dân là những vị thần hư vô, không tồn tại:

“Tượng thần chúng chỉ là vàng bạc,
Chỉ do tay người thế tạo thành:
Có mắt có miệng không nhìn không nói,
Có hai tai mà chẳng thể nghe chi
Không chút hơi thở nơi mồm, nơi miệng” (Tv 134(135),15-17)

Người là Thiên Chúa quyền năng tuyệt đối, trung tín, công minh và chính trực vô cùng, nhưng lại rất gần gũi với dân riêng Người.  Người luôn luôn đồng hành với dân, dẫn dắt dân thông qua các giao ước, giáo huấn và người đại diện, nhưng cũng sẵn sàng sửa phạt dân khi họ dám lìa xa Người mà đến với thần ngoại (x. Đnl 12,26-28).  Tuy nhiên, khi dân nhận ra những lỗi lầm của mình và tỏ lòng sám hối, Người lại tha thứ và cứu họ khỏi án phạt, vì Người là Đấng giàu lòng thương xót (x. Lc 1,50; Ep 2,4).

Hôm nay, dân Chúa đang gặp nạn bởi sự uy hiếp của quân Philitinh, một đội quân hùng mạnh hơn hẳn quân Israel cả về số lượng cũng như chất lượng (x. 1 Sm 13).  Hơn nữa, trong quân đội của Philitinh xuất hiện một gã khổng lồ Gôliát cao to, khỏe mạnh khác người, là sức mạnh và chỗ dựa tinh thần của quân Philitinh (x. 1 Sm 17,4-7), nhưng nó lại là nỗi khiếp sợ, hoang mang của quân Israel (x. 1 Sm 17,24).  Chính trong những tình thế mà sức mạnh dân Chúa cảm thấy bất lực trước các thế lực dân ngoại, thì Thiên Chúa đã ra tay uy quyền để cứu dân (x. 1 Sm 17,40-54).

Đavít, một cậu bé chăn cừu dễ thương lại chính là vũ khí sống động mà Thiên Chúa dùng để hạ nhục kẻ thù của dân Người.  Người đã không hành động một cách trực tiếp, mà hành động qua con người nhỏ bé được Thiên Chúa xức dầu thánh hiến (x. 1 Sm 16).  Trước một Gôliát khổng lồ đầu đội mũ chiến bằng đồng, toàn thân được trang bị bảo vệ bằng đồng, tay cầm giáo rất đáng sợ lại là một cậu bé chăn cừu Đavít nhỏ bé, tay cầm chiếc dây phóng đá và mấy hòn đá cuội nhỏ, đại diện cho quân đội Israel để giao đấu tay đôi với hắn (x. 1 Sm 17,40).  Dưới con mắt của bao người, chỉ cần tên Gôliát kia dậm chân một cái thì Đavít cũng khó mà đứng vững được, đúng là “lấy trứng chọi đá,” quả  là một cuộc chiến không cân xứng.

Giữa hai thế lực, một bên là sức mạnh con người được thể hiện tất cả ra bên ngoài với những võ trang hiện đại và tối tân qua hình ảnh Gôliát; bên còn lại là sức mạnh của Thần Minh được thể hiện qua sự nhỏ bé, yếu đuối của con người qua hình ảnh cậu bé Đavít.  Sức mạnh của Thần Minh thì tiềm tàng ở bên trong chứ không ở những gì mà con người nhìn thấy, sức mạnh ấy phải được nhìn dưới con mắt của đức tin, và nhờ đức tin thì sức mạnh ấy mới được thực hiện (x. 1 Sm 17,34-37).

Đavít nói với tên Gôliát: “Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao.  Còn tao, tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Israel mà mày thách thức” (1 Sm 17,45).  Đavít đã tuyên bố rõ ràng, cậu đến không phải là với sức mạnh của cậu hay của người Israel, nhưng đến với sức mạnh của một vị Thiên Chúa sống động đã chọn Israel là dân riêng Người.  Có thể nói những lời cậu vừa dõng dạc tuyên bố, đó là lời nói của một đức tin trọn vẹn, có thể lời đó không là gì với người Philitinh, và cũng chỉ như trò cười trước mặt Gôliát.  Thế nhưng, với Israel đó là chỗ cậy dựa vững chắc đối với họ, và qua đó Thiên Chúa cũng nhắc nhở cho dân về niềm tin, khi họ đang quên Đấng luôn đồng hành với họ và là Vua đích thực của họ.  Qua sự xuất hiện của Đavít, Thiên Chúa cho mọi người thấy rằng đây chính là cuộc chiến của Thiên Chúa để bảo vệ dân chứ không phải là của quân đội Israel (x. 1 Sm 17,47).

Cuộc chiến bắt đầu khi tên Gôliát mạnh mẽ xông lên tiến về phía Đavít, đây là lúc sức mạnh Thiên Chúa thể hiện, Đavít xông lên và dùng dây phóng ném chỉ một hòn đá nhỏ vào trán, khiến tên Gôliát ngã sấp mặt xuống đất ngay lập tức.  Sau đó, Đavít đã dùng chính gươm của hắn, mà chặt đầu hắn mang về Giêrusalem như cậu đã tuyên bố trước quân đội hai bên (x. 1 Sm 17,48-51).  Đavít đã làm những gì theo ý Chúa và đã thành công.  Vũ khí thô sơ như đồ chơi của trẻ em đó, Thiên Chúa đã dùng để cho sức mạnh của Người được thể hiện, sức mạnh của hòn đá và hướng đi của hòn đá hoàn toàn xuất phát từ Thiên Chúa, chứ không phải là Đavít.

Có thể nói ý Chúa thật nhiệm mầu, bởi Người đâu cần phải dùng đến Đavít, mà chỉ cần phán một lời thì cả Gôliát và quân Philitinh sẽ không còn trên mặt đất.  Thế nhưng, qua Đavít Thiên Chúa muốn nói với dân người cách riêng và toàn thể chư dân nói chung đó là, “những gì mà con người cho là mạnh mẽ thì đối với Chúa chẳng có là gì, và những gì mà con người cho là yếu đuối thì trước mặt Chúa đó quả là mạnh mẽ, khi con người biết đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa” (1 Cr 1,26-30).  Kết quả, quân Philitinh đã tan tác như ong vỡ tổ và dân Israel được an toàn (x. 1 Sm 17,51).

Qua cuộc chiến tay đôi giữa Đavít và tên Gôliát, cho chúng ta có được một cảm nghiệm về đời sống đức tin ngay giữa lòng thế giới hôm nay.  Trước hết, hình ảnh về một Đavít thật yếu ớt và nhỏ bé trước mắt Gôliát cao to khỏe mạnh, như là hình ảnh của một dân Israel giữa muôn dân trên mặt đất, như là hình ảnh của Giáo Hội ngày nay đang trong hành trình tiến về quê trời giữa biết bao nhiêu là sóng gió và thử thách.  Còn Gôliát là một hình ảnh của các thế lực thù địch xung quanh như các học thuyết sai lạc, trào lưu xã hội bài trừ tôn giáo, bách hại…  Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi hãy trung thành và can đảm trong đức tin qua Giáo Hội, vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Giữa thế gian, các con sẽ phải đau khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).

Cách đặc biệt hơn khi nhìn vào chính con người của mỗi chúng ta, để thấy được cuộc chiến đấu giữa một Đavít và Gôliát vẫn diễn ra thường ngày trong con người của mình, giữa những chọn lựa, nhất là trong hành trình đức tin, như cảm nghiệm của Thánh Phaolô: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).  Hình ảnh Đavít, tượng trưng cho con người chúng ta thật yếu đuối và mỏng manh giống như một “ngọn gió thoảng qua.”  Còn Gôliát cao to, khỏe mạnh tượng trưng các thế lực xấu vẫn hằng ngày tìm cách để cám dỗ và loại bỏ chúng ta, hầu làm cho chúng ta xa dần tình yêu của Thiên Chúa (x. 1 Pr 5,8).  Chính vì thế, chúng ta dù yếu đuối và mỏng manh, chúng ta cũng luôn phải chiến đấu và chiến đấu tới cùng để không bị các thế lực sự dữ thống trị chúng ta (x. 1 Pr 5,9).

Thế nhưng, để có thể chiến thắng được quân thù, tự sức chúng ta không thể, vì quân thù rất mạnh và mưu mô; chúng ta chỉ có thể chiến thắng khi chúng ta có vũ khí trong tay đó là đức tin.  Nếu chúng ta dùng đức tin để chiến đấu, thì không phải chúng ta chiến đấu, mà chính Thiên Chúa sẽ chiến đấu thay cho chúng ta, giống như hình ảnh Đavít năm xưa trước Gôliát, và chắc chắn chúng ta sẽ dành được chiến thắng (x. Ep 6,10-14).

Thiên Chúa luôn gần gũi với con người, còn về phía chúng ta, chúng ta có để cho Thiên Chúa ở gần và ở trong ta hay không?  Chúng ta có giống như Đavít làm theo ý Chúa trong chương trình của Người hay không?  Mỗi người chúng ta hãy mở lòng mình để cho ý Chúa được thể hiện, chính những lúc đó, chúng ta sẽ có được cảm nghiệm như Thánh Phaolô, “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Chúng ta hãy sống theo sự hướng dẫn dưới con mắt đức tin, để có thể nhận ra được những dấu chỉ của Thiên Chúa trong cuộc sống và trong vũ trụ.  Trong cuộc sống, đứng trước những sự dữ, đau khổ, bất công… và nhất là sự chết, nếu có không có đức tin, chắc chắn chúng ta cảm thấy thất vọng và buông xuôi mọi thứ (x. Rm 4,21).  Chỉ có trong đức tin, chúng ta mới tìm ra được ý nghĩa và lời giải đáp cho bản thân, cũng như người thân trong những trường hợp tưởng như là ngõ cụt (x. Ga 20,29).  Hơn nữa, nhờ đức tin, chúng ta sẽ có sức để chiến đấu vượt qua thử thách chông gai trong cuộc sống, vì “chính Chúa gìn giữ bạn khỏi lưới kẻ thù giăng, khỏi tai ương tàn khốc” (Tv 90[91], 3).

Trong vũ trụ này, với những thay đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực, nhưng dù chúng ta phải đối diện với những thay đổi theo hướng nào đi nữa thì hãy xác tín rằng, Chúa chính là chủ của vũ trụ và Người đang hướng dẫn để đưa chúng đạt đến sự hoàn hảo.  Vì thế, dù là những điều nhỏ bé và tầm thường đang diễn ra trong vũ trụ thì cũng nằm trong ý định của Chúa.  Chính Chúa đang dùng những gì tầm thường ấy để thực hiện chương trình nhiệm mầu của Người.

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa sống động, Người đã, đang và tiếp tục yêu thương ta, bởi Người là tình yêu (x. 1 Ga 4,16).  Người là khởi đầu và cũng là cùng đích của cuộc sống chúng ta (x. Kh 22,13).  Vì thế, dù trong hoàn cảnh khó khăn nào, chúng ta hãy luôn nhớ rằng Thiên Chúa luôn ở ngay bên ta và trong ta để giúp ta, nếu ta biết dành chỗ cho người (x. Tv 90(91)).  Hãy tín thác và dâng lên cho Người tất cả những vui buồn và khó khăn, để Người ban ơn và giúp ta vượt qua như Đavít xưa.  Hãy can đảm và dựa vào ơn Chúa, loại bỏ trong chúng ta những gì là ích kỷ hẹp hòi, những gì là tự kiêu, tự phụ… để luôn ngoan ngoãn trong Chúa.  Hãy tin tưởng rằng Thiên Chúa đang làm cho vũ trụ này đạt đến sự hoàn thiện qua sự cộng tác của mỗi người chúng ta.  Như thế, chúng ta sẽ luôn giữ được sự bình an trong cuộc sống, vì có Chúa luôn ở cùng.

John Phạm

TƯỞNG LẦM

Trong đời sống có rất nhiều điều hiểu lầm.  Chẳng hạn xưa kia khi thấy mặt trời cứ sáng mọc tối lặn, người ta tưởng rằng trái đất đứng yên và mặt trời di chuyển chung quanh trái đất.  Nhưng khoa học tiến bộ đã minh chứng mặt trời đứng yên, chính trái đất mới xoay chung quanh mình và chung quanh mặt trời.  Trong đời sống đạo cũng đã có những hiểu lầm như thế.  Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế sẽ uy nghi từ trên mây trời hiện đến.  Không ngờ Người lại do một thôn nữ dưới đất sinh ra.  Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải ngự trong lâu đài sang trọng của vua chúa.  Nhưng không ngờ Người lại sinh ra trong chuồng bò lừa.  Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải uy quyền lẫm liệt.  Nhưng không ngờ Người lại quá hiền lành khiêm nhường.  Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế phải đánh đông dẹp bắc, đập tan quân thù, đưa nước Do Thái lên địa vị bá chủ.  Nhưng không ngờ Người chịu thua hết mọi người, chịu hành hạ, chịu sỉ nhục, chịu chết như một kẻ tội lỗi.  Người ta cứ tưởng Đấng cứu thế là một ông vua có kẻ hầu người hạ.  Nhưng không ngờ chính Người lại quỳ xuống hầu hạ, rửa chân cho các môn đệ.

Có quan niệm sai lầm về Thiên Chúa, người ta cũng sai lầm về người môn đệ.  Người ta cứ tưởng theo Chúa thì sẽ được chức cao quyền trọng trong Nước Chúa.  Nên bà Giêbêđê mới xin Chúa cho hai người con là Gioan và Giacôbê được ngồi bên tả và bên hữu Chúa trong Nước Chúa.  Nhưng không ngờ Chúa không hứa cho chức quyền mà chỉ hứa cho uống chén Người sẽ uống, nghĩa là phải chết.  Người ta cứ tưởng người làm lớn trong Nước Chúa sẽ được trọng vọng, được phục dịch.  Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: “Ai trong anh em muốn làm lớn thì phải phục vụ anh em.”  Người ta cứ tưởng theo Chúa thì Chúa sẽ cho mọi sự may mắn ở đời, được thành công, được giàu sang.  Nhưng không ngờ Chúa lại bảo: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo.”

Hôm nay, sau khi nghe các môn đệ báo cáo về dư luận quần chúng, Đức Giêsu thấy họ quá sai lầm về Người, về vai trò Cứu thế của Người, về con đường cứu chuộc.  Nên Người đã dậy rõ ràng cho các môn đệ biết Đấng Cứu thế thực là Con Thiên Chúa.  Nhưng con đường Người đi là con đường thập giá.  Người phải chịu đau khổ, chịu hành hạ, chịu sỉ nhục, và phải chịu chết.

Người cũng cho các môn đệ biết ai muốn theo Người cũng sẽ phải đi vào con đường của Người.  Phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Người.

Phải chăng Thiên Chúa muốn hành hạ con người, muốn con người tàn lụi chứ không muốn con người phát triển, muốn con người phải chịu đau khổ chứ không muốn con người được hạnh phúc?  Tại sao trên trần gian, người ta thường hứa hẹn cho những người theo mình hạnh phúc sung sướng mà Chúa thì làm ngược lại, chỉ hứa cho những người theo mình thánh giá và đau khổ?  Thưa, chắc chắn Chúa muốn cho con người được hạnh phúc.  Chính vì muốn con người được hạnh phúc mà Chúa đã phải xuống trần gian để cứu chuộc con người.  Nhưng thứ hạnh phúc mà Chúa muốn ban tặng cho con người không phải là thứ hạnh phúc giả tạo dễ dàng và mau qua.  Chúa muốn cho con người được hạnh phúc vĩnh cửu, hạnh phúc đích thật, hạnh phúc không bao giờ tàn úa.  Muốn được hạnh phúc đó, con người phải kinh qua những vất vả, đau đớn.  Đau đớn nhất là phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình.  Những vất vả đau đớn không phải là vì Chúa độc ác muốn hành hạ con người.  Những đau đớn từ bỏ mình không phải là vì Chúa muốn con người đi vào tàn lụi diệt vong.  Nhưng đó là qui luật, là điều kiện để được sự sống, được hạnh phúc đích thật.

Chính Đức Giêsu cũng phải đi qua con đường thập giá khổ nhục mới đến hạnh phúc.  Chính Người phải kinh qua cái chết đau đớn mới tới ngày phục sinh vinh quang.  Nên Chúa đã nói với các môn đệ: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”

Thành ra, đau khổ Chúa hứa không phải để hành hạ con người, nhưng là con đường dẫn con người đến hạnh phúc đích thực.  Thập giá và cái chết không phải để đưa con người vào tàn lụi, nhưng chính là điều kiện để con người được tái sinh và triển nở trong đời sống mới, đời sống vĩnh cửu với hạnh phúc không bao giờ tàn.

Những lời Chúa nói hôm nay, tuy khó nghe và khó chấp nhận.  Nhưng đó là sự thật và là con đường đưa ta đến hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu.  Chúa đã không lừa mị ta, không hứa hẹn cho ta những gì dễ dãi, chóng qua.  Chúa chỉ cho ta đường ngay nẻo chính.  Chúa mời gọi ta phải dũng mạnh, can đảm và quyết liệt trong cuộc chạy đua dành lấy hạnh phúc nước trời.

Lạy Chúa, xin cho con biết từ bỏ mình, vác thập giá mình mà bước theo Chúa.  Amen!

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

Đã là người, không ai tránh khỏi thập giá.  Thập giá có thể làm tê liệt hoặc hủy hoại con người, nhưng nó cũng có thể là phương tiện giúp người ta nhận ra sự thực về chính mình, giúp người ta gần gũi và tùy thuộc Thiên Chúa hơn.

1) Thập Giá

Khi một người đang đi xe trên đường, gặp một cây lớn nằm vắt ngang; việc đưa chiếc xe vượt qua cản trở này là một vất vả với họ; cây nằm ngang đường đúng là “thập giá”.  Tùy cây đó lớn nhỏ mà người ta có thể vượt qua chướng ngại đó hay không.  Chuyện cái cây vắt ngang đường chỉ là một hình ảnh, “thập giá” cũng có thể là “cây” mà người ta đã ấn trên vai Đức Giêsu, và bắt Ngài vác ra gò Sọ, nơi mà chẳng ai muốn cho mình.  Trên đường đời, có bao nhiêu cản trở vắt ngang; nó có thể là những bệnh tật, những thất bại trong đường công danh sự nghiệp, điều không được như ý trên đường tình duyên.

Thập giá đã hủy diệt nhiều người, nếu người ta không vượt qua được mà cũng không sẵn sàng chấp nhận thập giá.  Có nhiều người cảm thấy bất hạnh khi gặp những bệnh nan y, thế nhưng cũng có những người chấp nhận bệnh hoạn, và vui sống trong hoàn cảnh của mình.  Có những người mắc bệnh phong, nhưng vẫn vui trong tình trạng và hoàn cảnh của họ; họ còn lạc quan hơn nhiều người không mắc bệnh gì.

Vượt qua cái cây đổ ngang trên đường, là điều có thể làm được.  Tránh khỏi thập giá người ta ấn trên vai như trường hợp Đức Giêsu bị dẫn trên đường đến gò Golgotha, là điều không thể.  Có lúc người ta vượt qua thập giá, nhưng có lúc người ta phải chấp nhận thập giá; chấp nhận thập giá cũng là một cách vượt qua thập giá.  Đức Giêsu là người đã vượt qua thập giá bằng cách chấp nhận; và các Kitô hữu anh hùng tử đạo cũng là những người đã noi gương Đức Giêsu, vượt qua thập giá bằng cách chấp nhận; các ngài đã lãnh nhành thiên tuế.

2) Thập Giá của Đức Giêsu

Thời Đức Giêsu, người Do Thái sống dưới ách thống trị của người Roma, hình phạt chết treo thập giá là một điều khủng khiếp, một mối nhục.  Người Roma không bị kết án chết trần truồng trên thập giá.  Án thập giá chỉ dành cho những dân bị trị.  Án thập giá là án ô nhục nhất giữa những hình phạt dành cho tội nhân.  Đức Giêsu đã bị thi hành án ở gò Sọ, gần thành Yêrusalem, bên đường đi.  Sở dĩ những người lãnh án bị hành hình nơi có người qua lại như thế, là nhằm răn dạy những người còn sống: nếu họ hành xử như vậy, họ cũng sẽ bị hình phạt như thế.  Những người cầm quyền mong rằng, khi người ta nhìn thấy cảnh khủng khiếp của những tội nhân tử hình như vậy, người ta sẽ khiếp sợ mà không phạm tội nữa.

Đức Giêsu đã bị chết treo thập giá giữa hai người trộm cướp.  Ngài bị người ta liệt vào đồng hàng với những người tệ nhất trên đời.  Hình phạt tử hình thập giá cho Ngài như cao điểm thập giá trong đời Ngài, tuy nhiên thập giá đã không thiếu trong suốt đời Đức Giêsu.  Sinh trong một gia đình nghèo, thiếu điều kiện sống và ăn học, cũng là thập giá đối với nhiều người; sống trong một làng nghèo, với nhiều người, cũng là một thập giá.  Khi đi rao giảng, Đức Giêsu đã bị nhiều người chống đối; Ngài bị người ta cho là người mất trí, một kẻ lộng ngôn phạm thượng, một kẻ thuộc phe quỷ vì lấy quyền của tướng quỷ mà trừ quỷ, một tội nhân.  Bao nhiêu chống đối, bao nhiêu bất lợi trên đời: đó cũng là những thập giá đối với Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã không bị hủy diệt bởi dư luận, bởi thế lực phàm trần.  Người ta có thể vu oan giá họa cho Ngài, người ta có thể giết Ngài, nhưng người ta không thể bắt Ngài khuất phục.  Ngài là con người tự do với tất cả: tự do với tiền bạc, tự do với dư luận khen chê, tự do với mọi thế lực hãm hại Ngài.  Ngài vẫn cố sống cho ra người, trong mọi hoàn cảnh, và sống yêu thương.  Tất cả những hoàn cảnh và thái độ của người ta đối với Ngài, vẫn không thay đổi được thái độ thẳm sâu của Ngài đối với mọi người: yêu thương.  Ngài yêu thương tất cả con người, thông cảm với những giới hạn của con người, ngay cả đối với những người thù ghét và giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết.”

3) Thập giá tôi luyện con người

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức.”  Đường gian nan, sông khúc khuỷu, mới biết tay đua giỏi. “Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai.”  Con người ta lộ diện mình là ai, khi gặp những lúc gian nan sóng gió.  Trước khi đưa một vật tưởng là vàng mà không phải là vàng thật vào lửa, người ta có thể lầm tưởng nó là vàng thật; nhưng một khi đưa nó vào lửa, lửa giúp người ta nhận ra sự thật: nếu là vàng thật nó sẽ không biến đổi, còn nếu là vàng giả thì nó sẽ biến đổi màu.

Thập giá giúp con người biết rõ về mình, biết mình là ai.  Thập giá giúp mình nhận ra mình thật mong manh mỏng dòn, và cần Thiên Chúa giúp để có thể vượt qua những sóng gió chông gai trên đường đời.  Thập giá, đối với những ai thuộc về Thiên Chúa, có thể giúp con người cậy dựa vào Thiên Chúa, tùy thuộc Thiên Chúa, gần gũi Thiên Chúa, thuộc trọn về Thiên Chúa hơn.

Thập giá không phải luôn luôn đến từ sự dữ, nhưng giả sử nếu nó do sự dữ thì con người vẫn chiến thắng sự dữ nhờ vào Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã chiến thắng sự dữ nhờ Thiên Chúa.  “Khi con người bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta.”  Chính khi sự dữ giết được Đức Giêsu, thì lúc đó nó chiến bại.  Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu.  Thiên Chúa chiến thắng sự dữ.  Những ai kết hiệp với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa, thì sẽ chiến thắng sự dữ, vì Thiên Chúa chiến thắng sự dữ qua chính người đó.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Giáo hội mừng kính ngày sinh nhật Đức Maria từ thế kỷ thứ sáu.  Ngày sinh nhật được chọn trong tháng Chín vì Giáo Hội Đông Phương bắt đầu niên lịch phụng vụ từ tháng Chín.  Chọn ngày mùng 8 vì lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội là ngày 8 tháng 12 (chín tháng trước).

Ngày lễ sinh nhật Đức Mẹ là niềm vui lớn lao của toàn thể nhân loại, vì là ngày mừng kính mầu nhiệm khởi đầu của ơn cứu chuộc, như lời thánh Anrê Giám mục thành Crêta nói: “Chúng ta mừng kính việc Mẹ Thiên Chúa sinh ra như mầu nhiệm khởi đầu, còn tận cùng là việc Ngôi Lời mặc lấy xác phàm.

Quả vậy, Đức Trinh Nữ được sinh ra, nuôi dưỡng và khôn lớn, để chuẩn bị làm Mẹ Thiên Chúa.”  Nhờ đó, chúng ta được hai mối lợi: một là được tới Chân Lý, hai là được thoát khỏi cảnh sống nô lệ cho lề luật.  Điều đó xảy ra thế nào và bằng cách nào?  Chắc chắn ánh sáng tới thì bóng tối lui đi, và ân sủng đem lại tự do cho con người: ngày lễ trọng hôm nay chính là ranh giới, đem Chân Lý đến tiếp vào những hình bóng loan báo cũ, và lấy các điều mới đến thay cho những cái xưa.

Vì vậy, mọi tạo vậy hãy đồng ca và nhảy mừng, và cùng nhau hoan hỷ trong ngày này.  Hôm nay trời và đất hãy cùng nhau mừng lễ.  Dưới thế và trên trời hãy cùng nhau mở hội.  Vì chưng hôm nay đã thiết lập đền thánh cho Đấng Tạo Dựng mọi loài, và nhờ một sự an bài mới mẻ và tuyệt diệu, một tạo vật đã nên nhà mới đón tiếp Đấng tạo hóa.”

Giáo Hội không mừng ngày sinh của các thánh.  Ngày sinh của con cái Ađam là một ngày u buồn tràn đầy nước mắt, và cái di sản thảm khốc của tội lỗi mà chúng ta mang theo khi vào đời.  Nhưng trong lịch sử phụng vụ Công giáo, chúng ta thấy có ba lễ mừng sinh nhật: của chính Đức Giêsu, của Trinh nữ Maria, và của thánh Gioan Tẩy Giả.  Lý do là vì chỉ có ba vị xứng đáng được mừng ngày sinh nhật, vì các ngài không vướng mắc tội tổ tông truyền, được thánh hóa ngay từ lúc nằm trong lòng mẹ, việc chào đời của các ngài là một biến cố vui mừng đặc biệt.  Riêng với Đức Trinh Nữ Maria, những lễ kính ngài là “Những lễ kính nhớ biến cố sinh ơn cứu rỗi, trong đó Chúa Giêsu và Mẹ maria đi liền với nhau, như lễ sinh nhật Đức Maria ngày mà hy vọng và vầng hồng cứu rỗi ló dạng trên trần gian” (Marialis cultus 7).

Bởi vậy, ngày sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria, Giáo hội hân hoan ca tụng: “Lạy Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, việc Mẹ sinh ra loan báo niềm vui cho cả thế gian.  Vì từ lòng mẹ phát sinh mặt trời công chính là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con.  Đấng xóa bảo án phạt mà ban phúc lành, tiêu diệt sự chết và ban sự sống đời đời cho chúng con.” (ad Bened , ad laudes).

Kinh Thánh không đề cập gì đến việc sinh hạ Đức Maria.  Tuy nhiên, bản văn mà người ta cho là phúc âm nguyên thủy của Thánh Giacôbê có đề cập đến sự kiện này.  Bản văn này không có giá trị lịch sử, nhưng nó cho thấy quá trình sùng kính đạo của Kitô hữu.  Theo bản văn, bà Anna và ông Gioankim vì hiếm muộn nên cầu xin cho được một đứa con.  Họ được hứa cho một người con mà trẻ này sẽ giúp hình thành kế hoạch cứu chuộc trần gian của Thiên Chúa.  Cũng như nhiều câu truyện khác trong Tin Mừng, câu truyện trên cho thấy sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc đời Đức Maria ngay từ đầu.

Thánh Augustinô nối kết việc sinh hạ của Đức Maria với công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu.  Thánh nhân nói trái đất hãy vui mừng và bừng sáng vì việc sinh hạ Đức Maria: “Ngài là bông hoa trong cánh đồng mà từ đó đã nảy sinh hoa huệ quý nhất vùng châu thổ.  Qua sự sinh hạ của ngài, bản chất mà chúng ta thừa hưởng từ cha mẹ đã thay đổi.”

“Ngày hôm nay bà Anna hiếm muộn vỗ tay reo mừng, trái đất bừng sáng, các vua hát mừng, các tư tế hân hoan chúc lành, toàn thể vũ trụ vui mừng, vì ngài là hoàng hậu và là nàng dâu trinh khiết của Chúa Cha đã nảy sinh từ gốc Giêsê” (phỏng Kinh Nhật Tụng của Đông Phương).

Truyền Thông Thái Hà tổng hợp từ Lm. Giuse Phạm Đức Tuấn
Nguồn:  http://nhathothaiha.net

ĐIẾC VÀ NGỌNG

“Con người là một sinh vật xã hội.”  Đây là tiền đề của triết gia Bergson khởi xướng một hệ phái triết học.  Ông ta cũng phần nào có lý khi cho rằng con người không thể sống cô lẻ một mình, nhưng phải sống với những tương quan xã hội.  Sống trong một cộng đồng và tiếp cận với những người khác, chúng ta cần phải có hai kỹ năng: nghe và nói.  Không nói được và không nghe được, không đơn thuần chỉ là khuyết tật về thể lý, nhưng là nỗi bất hạnh lớn nhất vì chúng ta bị cắt đứt khỏi những tương giao với cận nhân.  Câu chuyện trong Tin mừng hôm nay kể lại sự kiện Chúa chữa lành một người bị điếc và ngọng, mang chở nhiều chiều kích: chiều kích nhân học cũng như chiều kích thần học.  Nhưng trên hết, thánh sử Marcô muốn chúng ta chiêm ngắm dung mạo cứu thế nơi Đức Giêsu.  Ngài đến trần gian để mở tai, giúp chúng ta nghe được những gì Chúa nói.  Ngài cũng dùng quyền uy để mở miệng, giúp chúng ta biết nói về Chúa, và rao giảng Tin mừng của Chúa cho mọi người.

Giêsu, “vị lang băm” kỳ diệu

Văn phòng của Marcô khá dung dị và mộc mạc.  Người bình dân thời bấy giờ rất dễ hiểu.  Marcô mô tả Đức Giêsu chẳng khác gì một lang băm miền quê.  Vị lang băm này “đặt ngón tay vào lỗ tai, và nhổ nước miếng xuống đất, bôi vào lưỡi anh” (Mc 7,23).  Có lẽ khi vừa nghe thoáng qua, không ít người khó chịu trước kiểu chữa bệnh xem ra mất vệ sinh và phản khoa học như thế.  Ngài lại còn lẩm bẩm đọc một “câu thần chú”: Ep-pha-ta tựa như trong câu truyện thần thoại Aladin và cây đèn thần.  Chúng ta đừng quá ngây thơ một cách thô thiển nhìn vào câu chuyện với nhãn quan quá hẹp hòi như thế.  Đây chỉ là những biểu tượng nơi phép lạ của Đức Giêsu nhưng mang chở ý nghĩa rất sâu xa.

Chắc chắn Đức Giêsu không phải là một lang băm nhà quê, càng không phải là một thầy bùa chuyên chữa bệnh bằng cách niệm thần chú.  Ngài là một Thiên Chúa đầy quyền lực.  Khi đến trần gian, Ngài sống kiếp con người rất con người, nhưng Đức Giêsu vẫn là một Thiên Chúa rất Thiên Chúa.  Ngài chữa lành các bệnh nhân để bày tỏ tình yêu vô bờ bến dành cho con người, đặc biệt những người cùng khổ và bất hạnh.  Điều con người không thể làm được, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể làm được (Mt 19,26).  Đức Giêsu là Đấng quyền năng có thể làm được mọi sự, và chúng ta đừng bao giờ đơn sơ nghĩ tưởng Ngài chỉ là một lang băm quê kệch và dốt nát.

Phép lạ Chúa Giêsu thực hiện, xuất phát từ một trái tim yêu thương.  Ngài đồng cảm trước nỗi đau của con người.  Câm không nói được và điếc không nghe được, vẫn là nỗi bất hạnh lớn nhất.  Những dạng thức bất hạnh đó có liên đới với tội lỗi.  Đức Giêsu đến “giải phóng” con người khỏi những cột trói của Satan và hỏa ngục.  Theo não trạng của dân Do Thái thời xưa, bệnh tật là sự khống chế của ma quỷ nhưng là hậu quả của tội lỗi do con người gây ra, đặc biệt tội của chính bệnh nhân.  Đức Giêsu phá bỏ quan niệm hẹp hòi này, rõ nhất khi Ngài chữa một người mù bên hồ Silôác mà Tin mừng Gioan thuật lại.  Ngài đến trần gian để giải cứu con người một cách toàn diện.  Trong thơ Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian và tội lỗi gây nên sự chết thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người sẽ được công chính hóa (Rm 5, 12-21).  Đức Giêsu không phải là một lang băm nhà quê, nhưng Ngài là Đấng Cứu thế, Đấng Công chính hóa.  Ngài chính là vị “Anh hùng Giải phóng” toàn diện và đúng nghĩa nhất.

Điếc và ngọng trong tâm hồn

Bệnh nhân được Chúa Giêsu chữa lành mà Tin mừng hôm nay nói tới, có lẽ bị điếc ngay từ nhỏ.  Vì điếc, anh ta không thể nghe người khác nói để bắt chước, nên dần dần anh ta bị ngọng.  Lưỡi anh ta vẫn có thể nhúc nhích, anh vẫn nói được, nhưng chỉ lờ lợ và chẳng ai hiểu anh ta muốn nói gì.  Đây là hai khiếm khuyết song đôi: điếc và ngọng.  Về mặt tâm linh, chúng ta cũng dễ mắc phải hai khuyết tật này, không phải do bẩm sinh nhưng do sự xói mòn đức tin trong tâm hồn.  Cậu bé Samuel ngủ trong đền thờ với thầy Hêli giữa đêm khuya đã nghe tiếng Chúa gọi, nhưng cậu không nhận ra tiếng gọi của Chúa, bởi vì cậu chưa từng gặp Chúa.  Cũng vậy, có thể chúng ta không phải là người điếc, nhưng chúng ta sẽ không nghe được tiếng Chúa nói nếu không tiếp cận Ngài, không đi sâu vào tương quan thân tình với Ngài.  Chúa nói với chúng ta qua nhiều dạng thức.  Ngài ngỏ lời với chúng ta qua những biến cố trong cuộc sống đời thường.  Ngài nói qua sự nhắc nhở của lương tâm, qua các cử hành phụng vụ, khi chúng ta đọc hay nghe Kinh thánh.  Ngài nói với chúng ta qua từng người chúng ta gặp gỡ, qua một cụ già ốm yếu đang quặn đau nằm trên giường bệnh, qua một đứa bé mặt mũi lem luốc đang bới rác tìm cái gì để ăn, qua một bạn trẻ ngồi trên xe lăn với tay chân không còn lành lặn.  Mẹ Têrêsa Calcutta đã nghe được rất rõ tiếng Chúa Giêsu đang rên la thảm thiết trên Thánh giá trước khi Ngài tắt thở: Ta khát.”  Đức Thánh Cha Phanxicô luôn mời gọi chúng ta ra tận “vùng ven” để gặp Đức Giêsu ở đó.  Ngài hiện diện nơi những con người sống dở chết dở trong một nền “văn hóa loại trừ”, một thứ văn hóa vô thần mà những con người ích kỷ hôm nay đang tạo ra.  Ngài vẫn đang nói, đang thét gào trong đau đớn, nhưng nhiều khi chúng ta “bưng tai bịt mắt, không thèm nhìn cũng chẳng nghe” giống dân Israel ngày xưa (Is 42,20).  Đó là bệnh điếc kinh niên, một thứ bệnh nan y mãn tính và rất khó chữa.  Muốn được chữa lành, chúng ta phải ý thức mình đang điếc để khiêm tốn đến với Chúa Giêsu giống như bệnh nhân trong Tin mừng hôm nay.

Bệnh câm hay ngọng cũng thế.  Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Một con chó câm không biết sủa, thì chỉ đáng đưa lên mâm.”  Cũng vậy, một Kitô hữu không biết mở miệng để nói có khác gì một kẻ câm.  Nhưng điều quan trọng là chúng ta nói cái gì. “Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng cãi ngang phè phè.”  Đây là hai câu thơ trào phúng mang tính dân gian, nhưng nó cũng gợi nhắc cho ta điều mà thánh Giacôbê nhấn mạnh: “Mỗi người hãy mau nghe đừng vội nói” (Gac 1,19).  “Ai cho mình đạo đức mà không biết kiềm chế miệng lưỡi, đó chỉ là đạo đức hão.  Ai không vấp ngã về miệng lưỡi, ấy là người hoàn hảo” (1,26).

Một câu ngạn ngữ phương tây đã viết: “Có một thanh gươm không bao giờ rỉ sét đó là cái lưỡi con người.”  Có lẽ, rất ít người trong chúng ta bị câm về thể lý, nhưng xét về mặt thiêng liêng, chúng ta lại giống như một người không biết nói, hoặc nói ngọng nói ngịu.  Có nghĩa là, chúng ta cứ thích nói những gì chúng ta không nên nói, nhưng lại không biết nói những gì chúng ta cần phải nói.  Nhiều khi chúng ta lại còn dùng miệng lưỡi như một thanh gươm không han gỉ để sát hại lẫn nhau một cách ác tâm và phũ phàng.  Vậy, chúng ta phải nói những gì?  Chúng ta nhìn lại thái độ của chàng thanh niên trong Tin mừng hôm nay, dù Đức Giêsu cấm không được kể chuyện đó với ai, nhưng Người càng cấm họ càng đồn ra (c. 36b).  Tin tức tốt lành được loan đi, chắc chắn do người thanh niên này trước tiên.  Anh ta kể lại câu chuyện anh được chữa lành cho người khác, và cứ thế Tin mừng được nhân rộng, lây lan đến mọi người.

Điều chúng ta cần nói, chính là Tin Mừng. “Anh em hãy đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” (Mc16,15).  Rao giảng Tin mừng tức là kể lại những câu chuyện về Chúa cho người khác, nhất là những câu chuyện liên quan tới chúng ta.  Chúng ta không thể thực hiện công việc này, nếu chúng ta không tiếp cận với Chúa Giêsu, không gặp gỡ Ngài, không cảm thấu được tình yêu của Ngài, không để Ngài cuốn hút, và không để Ngài viết nên câu chuyện lịch sử trong đời sống của chúng ta.  Nếu không thực hiện được điều ấy, chúng ta chỉ là những người vừa câm vừa điếc, và giả như không bị câm, thì có nói, cũng chỉ biết nói ngọng nói ngịu chẳng ra thể thống gì.

Các anh em tu sĩ dòng Đaminh được gọi là các anh em giảng thuyết (Ordo predicatorum).  Châm ngôn của thánh phụ Đaminh là: “Hãy chiêm niệm và chuyển giao những điều chiêm niệm cho người khác” (contemplari et comtemplata aliis tradere).  Nguyên tắc này rất đơn giản: Không ai có thể cho người khác cái mà mình không có.  Không ai có thể dạy người khác điều mình không biết.  Phải chiêm niệm Lời Chúa, phải để cho Lời Chúa thẩm thấu vào tâm hồn, chúng ta mới có thể rao giảng Lời Chúa cho người khác.  Nếu không cắm sâu vào mầu nhiệm Đức Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha, chúng ta không thể nói về Ngài, và loan báo Tin mừng của Ngài cho mọi người.

Nói và nghe bằng cõi lòng

Năm 1974, Giám mục giáo phận Beauvais bên Pháp truyền chức phó tế vĩnh viễn cho Thầy Jacques Lebreton.  Thầy bị mù hai mắt và cụt hai tay.  Người ta thắc mắc, một con người khuyết tật như thế làm sao có thể thi hành sứ vụ phó tế, nhất là giảng Lời Chúa.  Đức Cha trả lời: Thầy ấy không còn đôi mắt, không còn đôi tay, nhưng còn trái tim.  Chúng ta nghe lại tâm sự của Thầy được kể lại trong buổi hành hương Lộ Đức năm 1982:

“Cách đây khá lâu, tôi là một quân nhân.  Trong một trận đánh ở El Alamen, tôi và một vài người bạn khác làm nhiệm vụ gỡ mìn.  Một anh bạn cầm trái mìn, vô tình mở chốt và trao cho tôi, không hiểu sao tôi lại cầm lấy.  Trái đạn nổ tung.  Tôi thấy tối tăm mặt mũi, và dường như tôi đang chết.  Tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi tay và cặp mắt, mình mẩy đầy các mảnh đạn.  Tỉnh dậy trong bệnh viện, tôi toan tính tự tử.  Một tu sỹ đến săn sóc cho tôi và giúp tôi cầu nguyện vì tôi đã bỏ đạo từ lâu.  Tôi làm theo và cuộc đời tôi đã biến đổi.  Tôi đã gặp lại Đức Giêsu và cùng với Ngài, tôi cầu xin tha thiết: “Lạy Cha nếu có thể, xin hãy cất chén này xa con, nhưng đừng theo ý con, mà chỉ xin theo ý Cha mà thôi.”  Tại Evreux, tôi gặp một người đàn bà toàn thân bất toại đến nỗi bà ta không thể nói được, cũng không cử động được.  Duy nhất chỉ có ngón chân cái là còn có thể nhúc nhích.  Bà đã dùng ngón chân ấy viết trên một tấm bảng nhỏ để nói chuyện với mọi người.  Bà cũng dùng ngón chân ấy viết tặng tôi một bài thơ với tựa đề “Nụ cười.”  Tôi cũng gặp một người đàn ông khác bị điếc từ năm 14 tuổi, và bị mù chỉ 2 năm sau đó. Trên giường bệnh, người đàn ông 87 tuổi này vẫn nở một nụ cười mãn nguyện và nói với mọi người: “Tôi đã trải qua một cuộc đời rất tốt đẹp.  Tôi cám ơn Chúa và xin cám ơn mọi người”.

Thầy phó tế Jacques Lebreton kết luận: “Cuộc đời của tôi, dù không còn mắt cũng chẳng còn tay, vẫn là một cuộc đời tốt đẹp trong sự yêu thương của Chúa.  Cuộc đời chỉ thực sự bất hạnh khi chúng ta cắt đứt tương giao với Chúa, khi chúng ta không còn thiết tha cầu nguyện để gặp gỡ Ngài và đi sâu vào sự thân tình với Ngài.”

Có gặp gỡ Chúa, chúng ta mới nghe được tiếng nói của Ngài.  Có nghe tiếng của Ngài, tâm hồn chúng ta mới có thể mở ra.  Khi tâm hồn được mở ra, đến lượt chúng ta, chúng ta mới có thể nói về Chúa cho người khác.  Nếu không, chúng ta chỉ là những kẻ vừa điếc vừa ngọng.  Điều này cần thiết cho mọi tín hữu, nhất là cho các anh em linh mục.  Nếu không biết mở miệng nói về Chúa, chúng ta chỉ là những người câm.  Nếu không để Lời Chúa thẩm thấu vào tâm hồn, dù có đứng trên bục giảng để khua tay múa chân và thao thao bất tuyệt, cuối cùng chúng ta cũng chỉ là những tên ngọng mà thôi.  Vừa điếc lại vừa ngọng, là nỗi bất hạnh lớn nhất nơi mỗi người.

Lm GB Văn Hào SDB

HÌNH TƯỢNG MẸ TÊRÊSA CALCUTTA

Một con người

Mẹ Têrêsa sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo Albani, vùng Skopje, Macedonie.  Phần lớn cộng đồng Albani tại đây theo Hồi giáo.

Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm, chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ và quan tâm giúp đỡ những người nghèo khổ và túng thiếu.  Trong các kỳ nghỉ, cả nhà có thói quen đến tĩnh tâm tại Letnice – một nơi hành hương kính Đức Mẹ.

Khi còn niên thiếu, Mẹ rất thích đi nhà thờ, đọc sách, cầu nguyện và ca hát.  Thân mẫu Mẹ tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy.  Mỗi ngày hai lần, bà đến giặt rửa và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con.  Những ngày bà không đi được, Mẹ Têrêsa thay bà đi làm các việc bác ái đó.  Khi bà góa qua đời, những người con của bà ta đến sống với gia đình Mẹ như con ruột trong nhà.

Những năm trung học, Mẹ Têrêsa dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Legio Mariae.  Vì giỏi ngoại ngữ, Mẹ phụ giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ.  Khi lên 12, Mẹ mong muốn hiến trọn đời mình cho Chúa.

Sống trong một gia đình đạo hạnh, Mẹ Têrêsa đã thể hiện hình tượng một người con ngoan, liên đới với thân mẫu, siêng năng trong các việc đạo đức và có chí hướng đi tu như mọi người được ơn gọi sống đời thánh hiến.  Cuộc đời niên thiếu thật bình thường, giản dị, không hề có dấu hiệu của một thiên tài!

Hình tượng một người giống như mọi người là bản tính của Mẹ kể cả sau này khi trở thành người nổi tiếng thế giới.  Khi được giải Nobel Hòa Bình, có người đặt câu hỏi: “Mẹ đang điều khiển một nhà dòng có ảnh hưởng khắp thế giới, vậy có bao giờ Mẹ nghĩ Mẹ sẽ về hưu không?  Khi về hưu Mẹ sẽ làm gì?”  Mẹ đã thẳng thắn trả lời: “Tôi sẵn sàng về hưu lắm chứ.  Việc của Chúa đã có Chúa lo.  Còn tôi sẽ làm gì ấy à?  Tôi có thể ở với các chị em của tôi tại Washington này để dọn dẹp nhà vệ sinh cho các chị, để các chị có thời giờ đi giúp đỡ những người nghèo ở thủ đô của một nước giàu nhất thế giới.”  Khó thể ngờ đây là câu trả lời đơn sơ, hồn hậu của một vị đương nhiệm bề trên một hội dòng quốc tế!

Một nữ tu

Trong 87 năm trần thế, Mẹ Têrêsa trải qua 69 năm (1928-1997) đời tu hành đạo một cách thiết thực và sống động.  Cuộc sống thánh hiến của Mẹ chỉ nhằm phục vụ người nghèo, không chỉ là những người đói khát, thiếu áo quần, không nhà ở, mà còn là những người bị bỏ rơi, không ai chăm sóc, không được hưởng sự yêu thương.  Mẹ từng nói: “Tôi chỉ là cây bút chì của Chúa, để Ngài gởi bức thư tình yêu của Ngài cho thế giới.”

Mẹ Têrêsa đã hội nhập vào nền văn hóa Ấn Độ trong tu phục với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng.  Hằng ngày, người nữ tu nhỏ bé như hóa thân thành người bản địa, len lỏi trong những khu ổ chuột nơi thành Calcutta chăm sóc bệnh nhân và người cùng khổ, bất hạnh.  Do vậy, tên Têrêsa của Mẹ đã gắn liền với thành Calcutta.

Các tu sĩ của hội dòng cũng theo gương mẫu Mẹ.  Hội dòng quy định người đầu tiên khi mới đến, muốn gia nhập cộng đoàn đều được mời sang nhà hấp hối, tức là nhà đón tiếp những người sắp chết.  Có một thiếu nữ tìm đến xin gia nhập hội dòng và Mẹ nói với cô: “Con đã nhìn thấy vị linh mục dâng thánh lễ, con đã thấy ngài cầm Thánh Thể trong tay cách cung kính và mến yêu chừng nào, con cũng hãy đi và làm như thế nơi nhà hấp hối, bởi vì con tìm gặp được Chúa Giêsu trong thân thể của người anh em khốn khổ đó.”  Lúc sau, cô trở lại và nói với Mẹ: “Thưa Mẹ, con đã sờ đến thân thể Chúa Kitô suốt ba tiếng đồng hồ.”  Cảm nhận của cô chính là điều Mẹ Têrêsa đã từng thâm tín: “Mỗi người trong số họ, chính là Chúa Giêsu cải trang.”

Hai nét đặc trưng trong đời tu của Mẹ là cầu nguyện – sứ mạng bắt đầu mỗi ngày, trước lúc rạng đông, trước Bí Tích Thánh Thể – và trong ngày là chăm sóc người nghèo nơi các vùng ngoại biên, đã hình thành một chứng từ lôi cuốn biết bao người đồng cảm.  Chỉ riêng các nữ tu với tấm khăn choàng sari ngày nay đã lên tới con số hàng ngàn và hiện diện ở hơn 130 quốc gia.  Việt Nam đã từng là nơi Mẹ 5 lần ghé thăm và hiện cũng đã có đông đảo tu sĩ thuộc hội dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô theo linh đạo của Mẹ.

Thật đáng ngưỡng mộ một nữ tu nhỏ bé đã sáng lập một trong những hội dòng lớn nhất trong Giáo hội hiện thời, nhất là với đường hướng tu trì làm rung động biết bao trái tim con người bất kể màu da, tôn giáo!

Một vị thánh

Mẹ Têrêsa đã sống một cuộc đời thánh thiện và sau khi từ trần đã sớm được Giáo hội tôn vinh là THÁNH.  Ngày 19.10.2003, trong một nghi thức của Giáo hội, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố Mẹ Têrêsa là Chân phước trước 300.000 khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô.  Trong bài giảng, ngài đã gọi Mẹ Têrêsa là “một trong những nhân cách xứng đáng của thời đại chúng ta” và là “hình ảnh của người Samari nhân hậu.”  Ngài nói rằng cuộc đời của Mẹ Têrêsa là “bản tuyên ngôn can đảm của Phúc Âm”.

Ngày 4.9.2016, Mẹ chính thức được tuyên THÁNH.  Mẹ còn tỏ lộ hình ảnh của một vị thánh qua hai phép lạ đã được Giáo hội công nhận.  Phép lạ thứ nhất xảy ra với bà Monica Besra, một phụ nữ bộ tộc Bengali, được chữa khỏi khối u ở bụng nhờ đặt một bức ảnh của Mẹ lên bụng.  Phép lạ thứ hai đến với một kỹ sư người Braxin được chữa khỏi ung thư não bộ khi vợ ông khẩn cầu sự chuyển cầu của Mẹ lên Thiên Chúa.

Một cuộc sống nên thánh đối với Mẹ là một điều bình dị và ai cũng có thể nên thánh.  Mẹ nói: “Thánh không phải là chuyện xa hoa, nghĩa là chỉ dành cho một ít người.  Thánh là bổn phận đơn giản của mỗi chúng ta.  Thánh là nhận bất cứ cái gì Chúa Giêsu ban cho ta và cho Chúa Giêsu bất cứ cái gì Người đòi nơi ta với một nụ cười thật tươi.”

Mẹ cũng phân biệt rạch ròi ơn gọi và công việc: “Nhiều người lầm lẫn công việc và ơn gọi.  Ơn gọi của chúng ta là yêu mến Chúa Giêsu.”  Đắm chìm trong tình yêu Chúa, Mẹ lắng nghe tiếng Chúa dạy và thể hiện những công việc Chúa muốn, như trong thư của Thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.  Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20).

Hình tượng Mẹ Têrêsa Calcutta nơi trần thế đã được khắc họa đúng như Mẹ đã từng thổ lộ: “Theo huyết thống, tôi là người Anbani.  Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ.  Theo đức tin, tôi là một nữ tu Công giáo.  Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian.  Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu.”

Phạm Ngọc

BUÔNG BỎ

Ai ơi!  Làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe tiếng lòng dâng khúc hát
Để lắng lòng tìm lại chính bản thân
Để biết trân trọng từng hơi thở
Để tâm bén nhạy lòng tỉnh thức
Để sống cho trọn kiếp nhân sinh
– Hoa Dại –

Cuộc sống có nhiều khoảng lặng để gọi tên.  Sau những vất vả với cuộc mưu sinh, ta thích lắng lòng theo những dòng suy tưởng.  Một góc NGẪM bình yên, ta muốn tìm về sau những ngày tất bật, để ngẫm về cuộc đời trong kiếp nhân sinh.

Bên ly cà phê tôi cảm nhận được vị lạnh của đá, vị đắng của cà phê.  Tôi ngồi một mình, một mình đối diện với chính mình, ngồi để ngẫm về sự đời.  Ngồi miên man, mân mê ly cà phê, tôi lại nhớ đến câu chuyện mà tôi đã từng được nghe:

Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi:

– Thưa thầy, con muốn buông bỏ một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.

Nhà sư đưa cho cô gái một cốc nước và bảo cô cầm, đoạn ông liên tục rót nước nóng vào cốc, nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị nóng quá, cô buông tay làm vỡ cốc.

Lúc này nhà sư từ tốn nói:

– Đau rồi tự khắc sẽ buông!

“Đau” trong câu chuyện về cô gái là chỉ những khổ đau, tổn thương, những vấp ngã gây ra cho tâm hồn.  Đôi khi những việc này xảy đến sẽ tạo động lực để người ta buông bỏ đi những điều trĩu nặng lên tinh thần như tham vọng, u sầu, vị kỷ, nóng giận…

Không phải ai cũng đủ dũng cảm, đủ vững vàng để bước qua những nỗi đau.  Nhưng một khi tim đã không thể còn đau thêm nữa, nước mắt đã không thể chảy thêm nữa thì đã đến lúc ta phải học cách buông bỏ chúng để yêu thương lấy chính mình.

Hạnh phúc nào rồi cũng tàn.  Phù phiếm, xa hoa nào rồi cũng tan.  Cảm xúc nào rồi cũng chai sạn.  Có chăng một thứ hư vô nào đó là vĩnh cửu?

Cuộc sống luôn chật vật giữa yêu và buông; bởi có yêu thì mới có buông, có buông mới biết mình có yêu.  Yêu và buông cứ như hai sợi dây vô hình đan vào nhau, thắt lại tạo một mớ bòng bong để con người ta ngụp lặn trong đó không biết lối ra.  Người ta thích nắm hơn buông, mặc dù trên nguyên tắc buông dễ hơn nắm.  Những ai biết buông – hoặc biết cách nắm như thế nào cho đúng cách – sẽ không phải chìm trong đau khổ.  Nắm đúng cách chính là sự tinh tế của kiếp nhân sinh.  Buông đúng lúc, nắm đúng cách ta mới có được sự quân bình, an lạc.  Nói thì dễ, nhưng thực hành mới khó làm sao!  Mà khó nhất chính là làm sao buông được để rảnh tay mà nắm đúng!

Một thầy giáo hỏi học sinh: “Giả dụ các em nhóm bếp để đun một nồi nước nhưng khi mới đun được một nửa thì củi đã sắp hết.  Lúc đó, các em sẽ làm thế nào?”  Có em nói sẽ sang hàng xóm xin ít củi, có em trả lời sẽ ra ngoài mua thêm.  Thầy giáo nghe vậy, liền nói: “Sao không ai nghĩ đến chuyện đổ bớt nước trong nồi đi nhỉ?”

Tương tự như vậy, mọi chuyện trên đời này có được ắt có mất, chứ không thể lúc nào cũng suông sẻ, viên mãn được.  Đến một lúc nào đó, bạn sẽ phải chấp nhận đánh đổi để đạt được mục đích của mình.

Với nhịp sống hối hả này, tôi và bạn đã quá mệt mỏi.  Lúc này, ta cần làm không phải là gồng mình lên gắng gượng mà là thả lỏng bản thân, cho phép mình được thư giãn.  Khi cảm thấy đã nghỉ ngơi đủ thì mới nên tiếp tục làm những việc còn đang dang dở, kết quả sẽ có thể tốt đến không ngờ.  Ngược lại, nỗ lực một cách cố chấp thì sẽ chỉ càng làm hỏng việc mà thôi.

Tôi nhận ra một điều: Tôi được sinh ra không phải để sống cho quá khứ hay sống cho tương lai mà sống cho hiện tại này, như vậy là quá đủ rồi.  Có lẽ tôi chưa đủ kiến thức để hiểu, chưa đủ lớn để nhận thức được nhiều vấn đề nan giải nhưng có một điều đơn giản “Sống là để học cách yêu thương, biết che lấp nỗi đau, nỗi buồn và tự tìm cho mình một niềm vui trong cuộc sống này.”  Như Oprah Winfrey đã từng nói: “Hít thở.  Bước tiếp.  Và nhắc nhở bản thân rằng giây phút này là của riêng bạn.”

Một đời người trong cõi nhân sinh!
Cát bụi trở về cát bụi…còn lại gì?

Giuse Phạm Minh Thành, mf

VỚI CẢ TÂM TÌNH

Truyện thiền kể có hai nhà sư xuống núi.  Dọc đường các ngài gặp một thiếu nữ đứng bên vũng nước sâu.  Thiếu nữ muốn đi qua mà không sao đi được.  Thấy vậy, một nhà sư liền bế thiếu nữ vượt qua vũng nước.  Trở về gần đến chùa, nhà sư kia trách bạn: “Sao anh lại bế một thiếu nữ như thế?”  Nhà sư trả lời: “Tôi đã để cô ta lại bên vũng nước, sao anh còn mang cô ta về đến tận chùa.”

Câu chuyện ý nhị trên đã minh họa rõ nét về hai lối sống đạo.  Lối sống đạo theo hình thức và lối sống đạo theo nội tâm.  Nhà sư trọng hình thức không dám động đến thiếu nữ, nhưng tâm hồn ông lại nặng vấn vương.  Thế mà ông vẫn yên tâm cho rằng mình đã giữ trọn luật giới sắc.  Ông tự hào về mình và trách móc bạn đã vi phạm luật tu hành.  Ông đã hoàn toàn giữ luật theo hình thức bề ngoài mà không xét đến nội tâm của mình.

Những người Biệt phái và Luật sĩ trong đạo Do Thái cũng giữ đạo theo hình thức như thế.  Họ rất trọng những lề luật theo hình thức bề ngoài.  Họ cho rằng giữ những hình thức bề ngoài là đủ.  Theo họ, đạo là lề luật.  Giữ trọn lề luật là giữ đạo.  Đặc biệt là luật thanh sạch.  Người Do Thái có nhiều cấm kỵ ô uế.  Bị coi là ô uế những người mắc bệnh phong, những người phụ nữ sau khi sinh con, người ngoại đạo.  Ai tiếp xúc với những người ô uế sẽ bị lây nhiễm ô uế.  Ngay cả những đồ vật bị người ô uế động đến cũng trở thành ô uế.  Ai động đến những đồ vật đã bị ô uế cũng sẽ bị lây nhiễm ô uế.  Ô uế là tội lỗi.  Những người bị ô uế sẽ không được dâng lễ vật cho Chúa.  Để tránh ô uế, người Do thái luôn rửa tay, rửa bát bên ngoài cho sạch.

Đức Giêsu chê trách họ là giả hình.  Vì họ chỉ lo giữ sự trong sạch bề ngoài mà không lo giữ sự trong sạch bề trong.  Họ lo rửa tay chân mà không lo rửa lương tâm.  Họ sợ tiếp xúc với người bệnh nhưng họ vẫn ấp ủ những ý đồ xấu xa trong tâm hồn.  Có lần Đức Giêsu đã sánh ví họ với những mồ mả, bên ngoài thì tô vôi, sơn phết đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt hôi hám xấu xa.

Vì quá chú trọng đến những luật lệ tỉ mỉ bên ngoài, họ biến đạo thành một mớ những nghi thức trống rỗng vô hồn.  Đọc kinh cho đủ bổn phận mà không cầu nguyện.  Ăn chay để giữ đúng luật hơn là để hạn chế tính mê tật xấu.  Làm việc bác ái để phô trương hơn là để chia sẻ với người anh em cơ nhỡ.  Tệ hại nhất là họ giữ đạo mà không thật lòng yêu mến Chúa.  Nên hôm nay, Đức Giêsu đã nặng lời chỉ trích họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta.”

Những hình thức bên ngoài không phải là không cần thiết.  Nhưng những hình thức bên ngoài, muốn có giá trị, cần phải phát xuất từ tâm tình bên trong.  Nội tâm con người là nguồn mạch của mọi hành vi.  Nội tâm có tốt thì hành vi mới tốt.  Nội tâm có chân thật thì hành vi mới có giá trị.

Đạo Chúa không phải là hình thức.  Đạo Chúa là tình yêu.  Tình yêu chân thật phát xuất từ đáy lòng.  Giữ hình thức mà không có tình yêu thì chưa phải là giữ đạo.  Làm những việc lớn lao mà không có tình yêu cũng chỉ là vô ích, như lời thánh Phaolô dạy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng.  Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.  Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.”

Vì thế, khi làm việc gì, điều cần thiết là cho cử chỉ phản ánh trung thực tâm hồn.  Tất cả mọi việc làm lời nói ra bên ngoài phải phát xuất từ tâm hồn chân thực.  Nhất là phải làm sao cho mọi nghi thức tôn giáo phát nguồn từ trái tim yêu mến chân thành.  Việc từ thiện phải phát nguồn từ một tình yêu mến huynh đệ, thành thực muốn chia sẻ.  Lời cầu nguyện phải phát xuất từ một trái tim yêu mến của người con hiếu thảo đối với Cha trên trời.  Việc ăn chay phải khởi đi từ ý muốn chế ngự các nết xấu.  Nghi thức thanh tẩy phải cử hành trong tâm tình sám hối.  Có như thế, khi môi miệng đọc kinh, lòng ta mới gần gũi Chúa.  Khi ăn chay, tâm hồn ta mới tan nát vì tội lỗi.  Khi làm việc bác ái, ta tránh được thói phô trương.  Khi rửa tay, tâm hồn ta mới được thanh tẩy nên trong trắng.

Với tất cả tâm tình, những nghi thức mới trở nên có hồn, thành thực.  Với tất cả tâm tình, ta mới thực sự sống đạo.  Với tất cả tâm tình, đạo mới đưa ta đến gần Chúa.

Lạy Chúa, xin ban cho con thêm lòng yêu mến Chúa.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ BỊ TRẢM QUYẾT

Có những cái chết để lại cho đời niềm thương nhớ khôn nguôi.  Có những sự ra đi làm cho con người thương nhớ, nhắc nhở tên người chết mãi mãi không ngơi.  Có những cái chết khiến người khác trề môi, phỉ nhổ.  Chết là trở về nơi cũ.  Chết là ra đi.  Chết là trở về với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và tác sinh.  Cái chết của thánh Gioan tẩy Giả mà Giáo Hội mừng kính hôm nay khiến nhân loại phải ghi nhớ, khiến nhiều người thương tiếc, nhưng cũng không khỏi nguyền rủa sự điên rồ, ngạo nghễ và dại gái, khôn nhà dại chợ của Hêrôđê, một vị vua tàn ác và thiếu tư cách làm người.

MỘT CÁI ĐẦU, MỘT SỰ TRẢ GIÁ VÔ BIÊN

Hêrôđê đã đi vào con đường tội lỗi.  Sự dại gái, khôn nhà dại chợ của Hêrôđê đã khiến vị vua này trở nên ngông cuồng điên dại.  Sống trong tội lỗi, tâm hồn của Hêrôđê đã trở nên mù quáng, tối tăm.  Ở trong bóng tối, Hêrôđê đã không còn biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái.  Ông đã hành động tùy tiện việc nước, đã ăn chơi, chè chén trác táng.  Ông không còn biết nhận ra sự thật.  Hêrôđê đã cướp vợ của người em mình.  Sự loạn luân không thể tha thứ, đã làm cho Gioan Tẩy Giả phải lên tiếng quở trách nặng lời hành động vô luân của Hêrôđê và Hêrodias, vợ loạn luân của Hêrođê.  Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan.  Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng…” ( Ga 1, 6-7 ).

Gioan không phải là ánh sáng, nhưng Gioan tới để minh chứng về ánh sáng.  Vì chứng minh cho Chúa Giêsu là sự thật, là ánh sáng, Gioan đã không bao giờ chịu khuất phục trước những việc chướng tai gai mắt của con người, của xã hội đương thời và của nhân loại.  Gioan đã có lần nói: “Có Đấng đến sau tôi và tôi không xứng đáng cởi giây dép của Ngài.”  Gioan quả thực đã tới trần gian để dọn đường cho Chúa cứu thế.  Làm công tác dọn đường, Gioan đã sống đích thực sứ mạng của vị tiên tri.  Ngôn sứ phải nói lên sự thật và không bao giờ sợ nguy hiểm cho dù công tác của vị ngôn sứ luôn gặp hiểm nguy.  Để làm chứng cho Đấng cứu thế, Ngài đã nói công khai với mọi người khi họ lầm tưởng Gioan là Đức Kitô: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.”  Gioan đã lớn lên trong sự minh chứng cho sự thật.  Chống lại hành động loạn luân và dâm dật của đôi dâm phụ Hêrôđê và Hêrodias.  Gioan Tẩy Giả đã phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời ngôn sứ của mình: cái chết.  Hêrôdias vì không chấp nhận sự thật, không chịu nổi lời quở trách của vị tiên tri.  Nên đã căm thù tìm cơ hội khử trừ vị ngôn sứ đầy uy tín.  Với sự nhảy múa cuồng nhiệt nhân ngày sinh nhật, Hêrodiađê đã làm ngây ngất vua Cha.  Cái đầu, là kết quả sự căm tức ngông cuồng của Hêrôdias.  Đầu của vị ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã nằm gọn trong chiếc dĩa trước mặt Hêrôđê.

LỜI CHỨNG ĐÁNG GIÁ NHẤT CỦA NGÔN SỨ GIOAN TẨY GIẢ

Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan Tẩy Giả vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị ngôn sứ.  Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời chứng của mình.  Gioan Tẩy  Giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình.  Cái đầu phải trả là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị ngôn sứ sau cái chết chịu đóng đinh nơi thập giá đối với người Do Thái lúc đó.  Gioan Tẩy Giả đã tự xóa nhòa mình để cho Đấng cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại.  Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa: “Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa.  Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý.”

Lạy Thánh Gioan Tẩy Giả xin ban cho chúng con lòng can đảm để chỉ biết nói lên sự thật và làm chứng cho sự thật.  Xin ban cho chúng con biết nhỏ lại với con người yếu hèn, tội lỗi của mình và luôn để Chúa lớn lên trong chúng con.  Xin ban cho chúng con tâm hồn và sức sống của các vị ngôn sứ của Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT