NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN THẬT SỰ CÓ ÍCH KHÔNG?

Nếu Thiên Chúa biết điều chúng ta cần trước khi chúng ta xin Người, vậy mục đích của lời cầu nguyện là gì?

Tất cả chúng ta đều biết lời cầu nguyện không phải là câu “thần chú” mà con người sử dụng đối với Thiên Chúa.  Hành vi cầu nguyện không phụ thuộc vào việc kể lể dài dòng hoặc phát minh ra một vài công thức phép thuật cho phép chúng ta điều khiển thời gian và những biến cố để giảm bớt nỗi sợ hãi, cũng như thỏa mãn mong muốn của mình.  Chúa Giêsu đã dạy rất rõ về điểm này: “Khi cầu nguyện anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời” (Mt 6, 7).  Điều lạ lùng là lời cầu nguyện không tác động nhiều trên Thiên Chúa, nhưng nó lại tác động nhiều trên chúng ta.

Đó là lý do tại sao Thánh Tông đồ Phaolô kêu gọi chúng ta “cầu nguyện luôn” (1Tx 5, 17).  Chúng ta phải luôn cầu nguyện để: quay về với Thiên Chúa, mở lòng hướng về sự hiện diện của Người, lắng nghe điều Người nói với chúng ta, đặt Người vào trong cuộc sống chúng ta và trong anh chị em chúng ta, kết hiệp chúng ta với Thánh ý Người.  Đằng sau mỗi lời cầu xin cá nhân, cần có một điều cơ bản, đó là ước muốn của chúng ta phải vì Chúa.  Không có điều đó, chúng ta có nguy cơ rơi vào mâu thuẫn thiêng liêng, và đời sống thiêng liêng của chúng ta sẽ bị suy yếu.  Thật vậy, lời cầu xin vì Chúa bao gồm việc mong đợi tất cả mọi sự theo Chúa, nhưng sẽ là mâu thuẫn khi trong thực tế chúng ta không mong đợi gì theo Chúa.

Thiên Chúa rất vui khi chúng ta cầu nguyện

Thánh Gioan Thánh giá khuyến cáo chúng ta: chúng ta nên yêu mến Thiên Chúa là Đấng ban ơn, hơn là yêu thích ơn mà Người ban cho ta.  Trong cùng một logic như thế, chúng ta nên hiểu những lời đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng thứ tư: “Các anh tìm gì?”  Chúng ta đang háo hức tìm kiếm quá nhiều thứ!  Nhưng chính Đức Giêsu là Đấng cho chúng ta câu trả lời đúng đắn: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 33).  Điều này cũng soi sáng cho chúng ta về “những ý nguyện” rõ ràng trong lời cầu nguyện của mình.

Chúng ta có thể dễ dàng xin Thiên Chúa hàng ngàn điều liên quan đến những vấn đề toàn cầu trong đời sống chúng ta, cũng như đến những chi tiết nhỏ bé, dựa trên tình huống mà những điều này liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến vinh quang Thiên Chúa.  Như Thánh Augustinô đã viết ở phần kết trong lá thư gửi Proba về cầu nguyện: “Chúng ta không xin gì, nhưng những điều chúng ta xin đã thật sự chứa trong Kinh Lạy Cha.”  Lời Kinh mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta cũng là lời nguyện của chính Ngài, đã trở thành lời nguyện của chính chúng ta: “Xin cho Ý Cha được thể hiện.”  Vì thế, lúc này chúng ta có thể trở lại với vấn đề ban đầu của chúng ta: Nếu Cha chúng ta ở trên Trời biết con cái Người cần gì ngay cả trước khi họ nói với Người, và nếu Người luôn mong muốn ban cho họ điều tốt nhất, thì tại sao chúng ta phải thưa với Người về những ước muốn của chúng ta?

Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa Cha không phải là người cha theo chủ nghĩa gia trưởng.  Người không muốn chống lại ý muốn của chúng ta, kể cả khi cứu chúng ta.  Vì thế, Thiên Chúa hạnh phúc khi chúng ta biết kết hợp và thêm tình yêu và sự dấn thân của chúng ta vào lời cầu nguyện mạnh mẽ, thuần khiết và hoàn hảo của Con Yêu Dấu của Ngài, một lời cầu nguyện vốn luôn được nhậm lời.  Và Thiên Chúa cũng hạnh phúc khi chúng ta cầu nguyện nhân Danh Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần – Đấng chuyển cầu cho chúng ta được theo như ý Thiên Chúa muốn.

Lm Alain Bandelier
Dung Hạnh chuyển ngữ từ aleteia.org

PHIM NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN

Tôi chắc chắn nhiều người đã biết loạt phim truyền hình The Chosen (Người Được Chọn) về cuộc đời Chúa Giêsu.  Phim phát hành từ năm 2019, đã ra rạp, đã phát trên mạng và đã có hơn 200 triệu người xem.  Phim được dịch ra 50 ngôn ngữ và có 13 triệu người theo dõi trên mạng xã hội, với khoảng 30% khán giả không phải là tín hữu Kitô.

Phim được nhà sản xuất Dallas Jenkins dàn dựng, ông là tín hữu kitô phái Phúc âm với sự hiểu biết về đại kết và liên tôn rất sâu đậm.  Jonathan Roumie, người công giáo La-mã sốt sắng, đóng vai Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu trong phim có cái gì đó khác với Chúa Giêsu chúng ta thường thấy trong các minh họa và các phim khác.  Trong phim này, đạo diễn giới thiệu một Chúa Giêsu gần gũi và dễ gần và vì thế có một tác dụng rất hữu ích.

Đó là tác dụng nào?  Linh mục Dòng Tên Joe Hoover viết trên báo America: “Tôi được rửa tội, là tín hữu Kitô đã 53 năm, học trường công giáo và ở Dòng Tên đã 30 năm… loạt phim The Chosen đem lại cho tôi nhận thức, gắn kết với cuộc đời Chúa Kitô và các môn đệ mà tôi không có được ở bất cứ đâu khác.  Không có bài giảng, không có lời tán tụng thần học, không có bằng thạc sĩ, không có lớp học về thánh Gioan, Thánh Máccô hay Thánh Luca, không có hội thảo linh đạo, không có khóa tĩnh tâm Kinh Thánh 30 ngày nào, nhưng bộ phim đã tái hiện Kinh Thánh, làm cho Đức Kitô và dân của Ngài trở nên rất thật và dễ gần với tôi.”

Tôi cũng cảm thấy như vậy.  Người Được Chọn cũng có ảnh hưởng tương tự như vậy trên tôi.  Như linh mục Joe Hoover, tôi được rửa tội khi mới sinh, được dạy theo truyền thống công giáo La-mã, là tu sĩ của một hội dòng, có bằng cấp thần học, đã dự nhiều khóa hội thảo về linh đạo, đã nghiên cứu Phúc âm dưới sự hướng dẫn của một vài học giả có tầm vóc thế giới, nhưng loạt phim này cho tôi thấy gương mặt của Chúa Giêsu mà tôi không thấy được trong những gì tôi đã từng học, nó giúp tôi nhiều trong việc cầu nguyện và trong tương quan với Chúa Kitô.

Về căn bản, đó là những gì bộ phim Người Được Chọn mang lại cho tôi, giới thiệu một Chúa Giêsu mà tôi muốn ở bên cạnh Ngài.  Có phải tất cả chúng ta đều muốn ở bên cạnh Ngài đó không?  Đúng như vậy, nhưng nếu chúng ta thành thật với chính mình, thì Chúa Giêsu thường được giới thiệu không phải là người chúng ta muốn dành nhiều thì giờ để ngồi riêng với Ngài, là người chúng ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên không cần phải màu mè gì.

Nhìn chung trong các phim, Chúa Giêsu thường bị cho là thiếu hơi ấm tình người, xa cách, nghiêm nghị, thoát tục, quá sùng kính, có ánh mắt làm chúng ta cảm thấy áy náy vì tội của mình mà Chúa bị đóng đinh.  Chúa Giêsu đó cũng không vui, gần như Chúa không bao giờ đem nụ cười đến với thế gian, không bao giờ đem sự nhẹ nhàng vào giữa mọi người.  Ngài không phải là Chúa Giêsu mà chúng ta thấy thoải mái khi ở bên cạnh Ngài.

Đáng tiếc thay, đó lại là Chúa Giêsu thường thấy trong các bài giảng, bài giáo lý, trong các khóa thần học và trong linh đạo bình dân.  Chúa Giêsu chúng ta thấy ở đó, với mọi chân lý và mặc khải Ngài đem lại cho thế gian, thường vẫn quá thần thánh và quá sùng kính để chúng ta có thể thoải mái ở bên cạnh theo kiểu con người.  Ngài là Chúa Giêsu chúng ta ngưỡng mộ, có khi còn ái mộ, người mà chúng ta tin tưởng đủ để dâng cả tâm hồn cho những điều lớn lao.  Nhưng Ngài cũng là Chúa Giêsu mà chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở gần, người chúng ta sẽ không chọn để ngồi bên cạnh trong bàn ăn, để cùng đi nghỉ mát, người quá cách biệt với chúng ta đến nỗi chúng ta dễ dàng xem Ngài là người thầy đáng kính hơn là người bạn thân thiết, lại càng không phải là người yêu để chúng ta gắn kết tâm hồn.

Tôi nói vậy không phải để nhân bản hóa Chúa Giêsu (như thỉnh thoảng thời nay người ta vẫn thường làm) bằng cách biến Ngài thành người tử tế rao giảng về tình yêu nhưng không nói lên chân lý bất di bất dịch của Thiên Chúa.  Phim Người Được Chọn không làm vậy.  Hoàn toàn không.

Phim Người Được Chọn giới thiệu một Chúa Giêsu với sự thần thánh mà chúng ta không bao giờ nghi ngờ, dù Ngài nồng hậu và cuốn hút, Ngài có một nhân tính làm chúng ta cảm thấy thoải mái khi ở bên Ngài, thực sự là lôi cuốn chúng ta vào sự hiện diện của Ngài.  Khi xem Người Được Chọn, khán giả không bao giờ có khoảnh khắc nào hoài nghi về chuyện Chúa Giêsu có mối liên kết đặc biệt và bất khả phân ly với Chúa Cha, Ngài cho chúng ta chân lý và sự mặc khải của Thiên Chúa một cách toàn vẹn, không suy suyển.  Nhưng Chúa Giêsu này cũng đem lại cho chúng ta nụ cười của Thiên Chúa, sự nồng hậu, sự chúc phúc của Thiên Chúa trên cuộc đời vốn thường xuyên thiếu vắng những điều này.

Nhà thần nghiệm Julian thành Norwich đã mô tả Thiên Chúa: Thiên Chúa ngồi trên trời, hoàn toàn buông thả, gương mặt Ngài như một bản hòa âm tuyệt diệu.

Người Được Chọn cho chúng ta thấy được khuôn mặt thư thái của Thiên Chúa nhưng tiếc thay, chúng ta lại quá hiếm khi được thấy.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG

Trong suốt mùa Phục sinh, Phụng vụ cho chúng ta nghe nội dung sách Công vụ Tông đồ, mà thánh Lu-ca là tác giả.  Như một phóng sự dài, chủ đề chính của cuốn sách này nói về hoạt động của các tông đồ, đời sống đức tin và sự phát triển của cộng đoàn Giáo hội tiên khởi.  Tác giả khẳng định: Đấng Phục sinh luôn hiện diện giữa các tín hữu.  Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa nhanh chóng lan rộng và số tín hữu ngày càng thêm đông.  Các tông đồ hăng say đi khắp mọi nơi để làm chứng về Chúa Giê-su phục sinh.  Niềm xác tín nơi các ông mạnh mẽ đến nỗi các ông sẵn sàng chịu đau khổ, thậm chí chấp nhận cái chết, để làm chứng cho lời rao giảng của mình.  Những địa danh khác nhau được tác giả sách Công vụ liệt kê (Bài đọc I), cho thấy nỗ lực loan báo Lời Chúa của các tông đồ và hoạt động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần.  Tuy vậy, dù phát triển nhanh chóng, cộng đoàn tín hữu cũng phải đối diện với những khó khăn từ phía người Do Thái.  Họ đã giết Chúa Giê-su, người mà họ lên án là “phản loạn,” và nay họ tiếp tục tẩy chay các tông đồ và vu khống cho các ông mọi điều xấu xa.  Hai vị tông đồ là Phao-lô và Bác-na-ba đã khích lệ động viên các cộng sự, củng cố tinh thần của họ, với lời khẳng định: “Chúng ta phải chịu nhiều đau khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”

Cộng đoàn tín hữu của sách Công vụ Tông đồ trải dài trong lịch sử hai ngàn năm và hôm nay lan rộng toàn thế giới.  Mỗi Ki-tô hữu chúng ta đều là những người nối tiếp anh chị em tín hữu tiên khởi, tiếp tục sống đức tin và loan báo Lời Chúa, với niềm xác tín Chúa Phục sinh đang hiện diện, với tác động của Chúa Thánh Thần.  Chính Chúa Thánh Thần đã nối kết mọi nền văn hóa và mọi ngôn ngữ chủng tộc, đồng thời vẫn tôn trọng và lưu giữ những khác biệt.  Giáo hội của Chúa Giê-su mang tính duy nhất trong những dị biệt, làm nên một Giáo hội phong phú đa dạng và cùng tôn thờ một Thiên Chúa là Cha chung của gia đình nhân loại, lấy đức yêu thương làm luật căn bản.

Các Ki-tô hữu tin vào sự hiện diện của Chúa Giê-su, và cùng nhau làm nên những cộng đoàn yêu thương.  Từ thời ban đầu, Đạo Ki-tô được gọi với cái tên rất dễ mến là “Đạo yêu thương.”  Lời mời gọi yêu thương của Chúa Giê-su chính là nền tảng cho các cộng đoàn Ki-tô hữu, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.  Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta hồi tưởng giờ phút linh thiêng sau bữa tiệc ly.  Chúa Giê-su đã truyền lại một di chúc quan trọng.  Người gọi đó là “giới răn mới.”  Yêu thương là điều kiện cốt yếu để trở nên môn đệ của Chúa Giê-su, đồng thời cũng là dấu chỉ để mọi người nhận ra Chúa Giê-su đang hiện diện nơi các tín hữu, cá nhân cũng như cộng đoàn.

Yêu thương là cốt lõi của Ki-tô giáo.  Đó cũng là lời mời gọi thường xuyên được nhắc lại trong giáo huấn của Giáo hội.  Tuy vậy, lời mời gọi này có nguy cơ trở thành một công thức lỗi thời và nhàm chán đối với một số tín hữu.  Đây đó vẫn tồn tại những Ki-tô hữu chỉ mang danh nghĩa mà thiếu chiều sâu.  Vì vậy đức tin không thực sự thấm nhập vào cuộc đời, để tác động và chi phối hành vi, lời nói và cử chỉ của các tín hữu.  Vẫn còn đó những cộng đoàn chỉ sống đức tin một cách hình thức mà thiếu lòng đạo đức nội tâm.  Một đức tin hời hợt, khi đối diện với thử thách hoặc tranh chấp quyền lợi, sẽ dễ bị nhường chỗ cho xung đột, chia rẽ và bất hòa.

Nếu Bài đọc I trích sách Công vụ Tông đồ, nhắc cho chúng ta về quá khứ, là thời sơ khởi của Giáo hội, thì Bài Tin Mừng lại là giáo huấn dành cho hiện tại, và Bài đọc II lại hướng chúng ta về tương lai.  Thánh Gio-an đã được chiêm ngắm khung cảnh huy hoàng của Thiên Đàng, đó là Trời mới Đất mới.  Nơi đó sẽ không còn nước mắt và tang tóc, nhưng tràn ngập niềm vui.  Nơi đây, điều mà hai tông đồ Phao-lô và Bác-na-ba khích lệ các cộng sự: “Chúng ta phải chịu nhiều đau khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” đã trở thành hiện thực.  Khung cảnh Trời mới Đất mới là nguồn động viên chúng ta trong hành trình đức tin.  Đó cũng là câu trả lời cho những vấn nạn về tương lai và hậu vận của con người.  Đối với những ai tin cậy yêu mến Chúa, Ngài sẽ dành cho họ vinh quang vĩnh cửu.  Chúa Giê-su cũng mời gọi chúng ta ngay ngày hôm nay và trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, hãy cùng cộng tác với Người để đổi mới bộ mặt thế giới, làm cho tình yêu thương lan tỏa nơi mọi nẻo đường trần thế, và như vậy, Nước Thiên Chúa đang ngự đến giữa chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CHÚA CHỌN AI

Cái chết của anh Giuđa chẳng những là một điều đáng tiếc, mà còn để lại một khoảng trống trong nhóm Mười Hai.  Nhóm Mười Hai trở thành nhóm Mười Một (Mc 16, 14).  Giuđa đã được tham dự vào công việc phục vụ của nhóm.  Sự ra đi của anh khiến cho chức vụ này cần người bổ sung.

Trong cuộc gặp mặt giữa khoảng một trăm hai mươi anh em, Phêrô, trưởng nhóm, đã muốn tìm người thay thế (cc. 15-20).  Theo Phêrô đâu là điều kiện để có thể được chọn vào nhóm Mười Hai?  Anh phải là người đã đồng hành với nhóm này trong suốt thời gian Chúa Giêsu sống giữa họ.  Thời gian đi với nhóm được kể từ lúc ông Gioan làm phép rửa cho Chúa, cho đến ngày Ngài được phục sinh và được đưa lên trời (c. 21).

Như thế để được nhập vào nhóm Mười Hai, phải là người có kinh nghiệm sống đời sống của nhóm, và kinh nghiệm sống với Thầy Giêsu trong suốt sứ vụ của Ngài.  Chỉ ai đã từng có kinh nghiệm đi với nhóm, đói no vất vả với nhóm, người ấy mới được là thành viên mới của nhóm.  Chỉ ai đã đi sát với Thầy Giêsu, đã lắng nghe bao bài giảng của Thầy, đã chứng kiến bao việc kỳ diệu Thầy thực hiện, chỉ ai có kinh nghiệm về việc Thầy bị giết và được phục sinh, người ấy mới có thể trở nên chứng nhân về sự phục sinh ấy cùng với cả nhóm anh em (c. 22).

Có hai người được đề cử vì hội đủ điều kiện: Giôxếp và Mátthia.  Khi không biết chọn ai, thì cộng đoàn đã cầu nguyện.  Cầu nguyện cho thấy họ muốn được soi sáng để chọn ý Chúa.  “Xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để kế tục sứ vụ tông đồ” (c. 25).  Họ đã không chọn bằng cách bầu phiếu theo đa số, nhưng bằng cách rút thăm để tìm người Thiên Chúa chọn.  Cách này là cách truyền thống để tìm ý Chúa trong Do thái giáo (Lv 16, 8).  Matthia đã trúng thăm và trở nên vị tông đồ thứ mười hai.

Khi mừng lễ thánh Matthia, chúng ta mừng lễ một vị tông đồ, tuy không trực tiếp được Đức Giêsu gọi và chọn, nhưng đã được chọn gián tiếp qua các tông đồ khác và cộng đoàn.  Thiên Chúa vẫn chọn qua lựa chọn của con người, mãi đến tận thế, nên Giáo hội vẫn có người được gọi để phục vụ.  Xin cho mọi chọn lựa của chúng ta đều nhắm đến vinh danh Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Xưa Chúa đã sai các môn đệ ra khơi thả lưới,
nay Chúa cũng sai chúng con đi vào cuộc đời.

Chúng con phải đối diện
với bao thách đố của cuộc sống,
của công ăn việc làm, của gánh nặng gia đình,
của nghề nghiệp chuyên môn.

Xin đừng để chúng con sa vào cạm bẫy
của vật chất và quyền lực,
nhưng cho chúng con
giữ nguyên lý tưởng thuở ban đầu,
lý tưởng phục vụ quê hương và Hội Thánh.

Lạy Chúa Giêsu,
xin dạy chúng con sống thực tế,
nhưng không thực dụng;
biết xoay xở nhưng không mưu mô;
lo cho tương lai cá nhân,
nhưng không quên bao người bất hạnh cần nâng đỡ.
Giữa cơn lốc của trách nhiệm và công việc,
giữa những xâu xé trước bao lựa chọn,
xin cho chúng con
biết tìm những phút giây trầm lắng,
để múc lấy ánh sáng và sức mạnh,
để mình được thật là mình trước mặt Chúa.

Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu,
xin cho chúng con thật sự trở nên chứng nhân,
làm tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh,
và phẩm giá con người được tôn trọng. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

THÁNG NĂM – NHỮNG ĐÓA HOA DÂNG MẸ

Tháng Năm về, một tháng trong năm với tên gọi thật thơ mộng, thật tươi vui: Tháng Hoa.

Mỗi độ tháng Hoa về, các Nhà thờ rộn rã mùa dâng hoa kính Đức Mẹ.  Phụng vụ Mùa Hoa tưng bừng nhộn nhịp với nhiều thể loại phong phú Rước hoa và Dâng hoa tuỳ mỗi tập quán mỗi đặc trưng văn hoá địa phương.

Nói tới hoa là nghĩ về một kỳ công của Thiên Chúa.  Hoa muôn màu muôn sắc, hoa tươi xinh, hoa thơm ngào ngạt.  Hoa tô thắm vũ trụ nên xinh tươi.  Hoa mời gọi ong bướm đến hút mật.  Hoa khoe sắc thắm, nhoẻn cười với con người.  Lời của hoa thật dịu huyền giữa thiên nhiên.  Hoa hòa vào lòng người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Loài hoa nào cũng đẹp. Loài hoa nào cũng gởi cho ta một sứ điệp yêu thương.  “Hoa Hướng Dương biểu trưng cho mặt trời toả sáng, sưởi ấm lòng người.  Hoa Mười Giờ gởi ta một tình yêu thuỷ chung, son sắt.  Dù đời em chỉ toả sáng lúc mười giờ, nhưng trọn đời em vẫn yêu thương.  Thật vấn vương khi nhắc đến loài Hoa Phượng.  Loài hoa gợi ta nhớ lại những phút giây vui đùa trên sân trường thuở nhỏ, một tuổi thơ mơ tiên, hồn nhiên, trong trắng, thơ ngây, tuổi ô mai, tuổi vấn vương, tuổi học trò.  Màu hoa tươi tắn là tình yêu chan chứa cho cuộc đời khô cằn nắng cháy và cũng là ước nguyện, sức sống cho tương lai.  Hoa Lưu Ly là lời tha thiết yêu thương “xin đừng quên tôi.”  Cuộc đời là muôn đời liên kết “xin đừng quên tôi” hỡi người tôi yêu!  Đó phải chăng là những ai còn nhớ và những ai đã quên, nhất là khi ta vắng mặt sau cuộc đời trần thế.” (Sứ điệp loài hoa, trg 11.)

Hoa đã trở thành bạn thân thiết với con người.  Khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng nhau.  Khi buồn người ta cũng trao gởi lẵng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương.  Hoa khích lệ lòng người.  Hoa hướng con người nhớ tới Đấng tạo hoá đã xoay vần vũ trụ bốn mùa xinh tươi.  Hoa mơn man lòng người đau khổ.  Hoa khích lệ những ai thất bại.  Hoa chúc mừng những ai chiến thắng.  Hoa ca vang kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa.  Đôi khi, chỉ một cánh hoa đủ trào dâng lòng mến của Thánh Têrêxa Hài Đồng.  Nhiều lần, một dàn hoa làm tâm hồn Thánh Phanxicô ngây ngất tình Chúa.

Lắng nghe tiếng nói huyền diệu của hoa, Thánh Bênađô biết được tâm trạng của hoa.  Chẳng hạn, Hoa Hồng giàu lòng yêu mến.  Hoa Huệ biểu tượng đức Khiết trinh, Hoa Tím là duyên đức đoan trang khiêm tốn.  Thánh nhân ca ngợi các nhân đức Đức Mẹ qua ý nghĩa các loài hoa.  Hoa Hồng đức mến, Hoa Huệ đức Khiết trinh, Hoa Tím đức Khiêm nhường.  Đức Mẹ là Hoa Huệ khiết trinh.  Đức Mẹ là Hoa Hồng yêu mến.  Hương thanh khiết và tình yêu của Mẹ đã làm cho mùa xuân trần gian được hồi sinh.  Ơn cứu độ được ban tặng cho trần đời nhờ hoa lòng của Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa.

Sứ Thần Gabriel đã cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!” (Lc 1,28).  “Ðấng đầy ơn phước” là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn.  Đức Mẹ tuyệt đẹp vì không vương vấn tội, vẻ đẹp của sự thánh thiện vô tỳ tích, một vẻ đẹp không chỉ do con người nỗ lực thanh tẩy mà còn do ân sủng Thiên Chúa trao ban.

Tháng Năm về, mỗi lần thưởng thức hương hoa, ta hãy hướng về Đức Mẹ, xin Mẹ tỏa hương thiên đàng của người, ấp ủ ta thành những đóa hoa tươi thắm của Mẹ.  Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và lời huyền diệu của hoa để ca tụng hoặc cầu xin người.  Dâng Hoa Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến Mẹ nhiều hơn.  Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi đức khiết trinh của Mẹ.  Xin Mẹ lấy hương huệ trinh nguyên của hồn Mẹ ướp hồn ta nên trong trắng.

Tháng Năm về, mỗi tín hữu yêu mến Hoa Mân Côi cách đặc biệt hơn.  Hoa Mân Côi là sứ điệp Yêu Thương, sứ điệp Ơn Cứu Độ, là kinh nguyện Phúc Âm được kết dệt từ các mầu nhiệm chính trong đạo: Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Mầu Nhiệm Cuộc Đời Dương Thế, Vượt Qua và Thăng Thiên, được suy gẫm qua 20 Mầu Nhiệm “Hoa Mân Côi” : Năm Sự Vui, Năm Sự Sáng, Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng.

Mỗi khi cất lên lời kinh: Kính mừng Maria đầy Ơn Phước… là chúng ta kết thành Hoa Mân Côi kính dâng Mẹ.  Từ trời cao, Đức Mẹ mừng vui và ban muôn ơn lành cho đoàn con cái sốt mến thành tâm hướng về Mẹ.

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình, nhưng chồng cứng lòng mãi.

Năm ấy, đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục . Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Maria Vianey.

Ngài là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người xem là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Vianey liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha Vianey nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.  Nghe xong lời cha Vianey, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (trích từ: Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trg 10).

Chỉ có mấy bông hoa nhỏ dâng kính Đức Mẹ mà người đàn ông khô khan ấy cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy.  Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ.  Chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của bậc thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa.  Hãy luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu.  Đức Mẹ hằng yêu thương phù trợ mỗi người chúng ta.

Trong tháng Năm này, chúng ta tham dự những buổi dâng Hoa, rước kiệu, lần hạt Mân Côi… dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh tật… chắc sẽ được Đức Mẹ ban nhiều ơn lành.  Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng cậy, hoa Đỏ của lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hy sinh hãm mình, hoa Vàng của niềm tin, hoa Hồng của tình yêu sắt son chung thủy.

Xin dâng lên Mẹ hoa Trắng của sự trinh trong, xin Mẹ giúp chúng con gìn giữ tâm hồn luôn trong trắng, thánh thiện.

Xin dâng lên Mẹ hoa Xanh của niềm cậy trông và hy vọng, xin đừng để chúng con thất vọng chùn bước trước bất cứ khó khăn nghịch cảnh nào của cuộc sống.

Xin dâng lên Mẹ hoa Vàng của niềm tin kiên vững, xin Mẹ dạy chúng con sống phó thác tin tưởng vào tình thương và sự quan phòng của Chúa như Mẹ.

Xin dâng lên Mẹ hoa Hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy chúng con biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu chúng con.

Xin dâng lên Mẹ hoa Tím của những đau khổ, bệnh tật, thất bại, xin Me dạy chúng con biết vui lòng chấp nhận Thánh Giá Chúa gởi đến để trung thành bước theo Đức Kitô, Con của Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, những đoá hoa lòng đơn sơ, chân thành nhưng đượm tình yêu mến, chúng con xin dâng lên Mẹ, xin Mẹ thương nhận lấy và chúc lành cho chúng con.  Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CHUYỆN TÌNH

Chủ Ðề: “Thiên Chúa mời gọi chúng ta tìm hiểu về Người, đi vào cuộc tình với Người, và sống hạnh phúc mãi mãi với Người.”

Nhiều năm trước đây có một cuốn phim nổi tiếng tên là Laura.  Cuốn phim nói về một thám tử trẻ được giao cho công tác điều tra cái chết của một phụ nữ trẻ đẹp tên là Laura mà một đêm kia, có người đã dùng súng sát hại cô ngay trong căn phòng của cô.

Trong năm ngày tiếp đó, người thám tử trẻ ở suốt trong phòng của Laura để tìm tòi, lục soát đủ mọi thứ của cô: quần áo, sách vở, hình ảnh.  Ngay cả đọc thư từ và nhật ký của cô để cố tìm ra manh mối đã dẫn đến cái chết của người phụ nữ này.

Và rồi điều lạ lùng xảy đến.  Viên thám tử thực sự bận tâm với Laura.  Anh bắt đầu có cảm tình.  Anh thấy mình yêu Laura.  Anh thấy mình yêu một người đã chết.

Một đêm kia khi đang trong phòng của Laura để tìm tòi, bỗng dưng anh nghe có tiếng chìa khóa lạch cạch ở cửa.  Và khi cửa mở, anh không tin nổi ở mắt mình, cô Laura đang đứng ngay đó.

Cô hạch hỏi, “Ông đang làm gì trong phòng của tôi?”  Viên thám tử giải thích cho cô những gì đã xảy ra.

Để rút ngắn câu chuyện, trong vài ngày qua cô Laura đã ra ngoại quốc, để lánh xa mọi sự.  Trong thời gian đó, cô không nghe phát thanh và cũng chẳng đọc báo.  Cô không biết gì về cái chết của chính mình.

Thì ra người phụ nữ bị giết là người đã dùng căn phòng của Laura trong thời gian cô đi vắng.

Cuốn phim kết thúc với cuộc tình của Laura và chàng thám tử, họ lấy nhau và sống hạnh phúc suốt đời.

Cuốn phim gồm ba cảnh.

Cảnh thứ nhất là chàng thám tử tìm tòi căn phòng của Laura, từ đó dẫn đến lòng thương yêu cô này.

Cảnh thứ hai là sự xuất hiện của Laura ở cửa phòng và chàng thám tử nhận ra cô.

Cảnh thứ ba là sự tỏ tình của chàng thám tử và anh kết hôn với Laura.

Ba cảnh này cũng là ba cảnh mà Thiên Chúa đã hoạch định cho mỗi người chúng ta.

Trước hết, Thiên Chúa đã tạo nên chúng ta và đặt chúng ta vào thế giới để tìm hiểu về Người, cũng như chàng thám tử được đặt trong phòng của Laura để tìm hiểu về cô này.

Thứ đến, Thiên Chúa, qua con người của Đức Giêsu Kitô, đã đi vào thế gian để được nhận biết bởi chúng ta, cũng như Laura đi vào căn phòng và được nhận biết bởi chàng thám tử.

Sau cùng, Thiên Chúa hoạch định để chúng ta đi vào cuộc tình với Người và sống hạnh phúc mãi mãi với Người, cũng như chàng thám tử đã yêu Laura và sống hạnh phúc bên cô.

Cảnh phim Laura và cảnh hoạch định của Thiên Chúa giúp chúng ta quý trọng hơn bài Phúc Âm hôm nay mà nó cũng phản ảnh một cảnh có ba phần.

Trước hết, Thiên Chúa đã đặt dân được chọn của Người trong Cựu Ước để tìm hiểu về Người.

Thứ hai, vào đúng thời đúng buổi, chính Thiên Chúa đã xuất hiện ở cửa ngõ lịch sử trong con người Đức Giêsu Kitô.

Sau cùng, những ai nhận Đức Giêsu là Chúa thì sẽ nghe tiếng Người, theo Người và được lãnh nhận sự sống đời đời từ Người.

Đây là điều Chúa Giêsu muốn nói trong bài phúc âm hôm nay, khi Người nói về những ai nhận biết Người:

Chiên ta thì nghe tiếng ta; và chúng theo ta.  Ta ban cho chúng sự sống đời đời.”  Vì “Chúa Cha và ta là một.”

Hãy xem thử chúng ta áp dụng điều này vào cuộc sống như thế nào.  Trước hết, hãy nhớ lại chàng thám tử trong cuốn phim và anh ta đã khảo sát thật kỹ lưỡng mọi thứ trong phòng cô Laura.  Không có ngõ ngách nào mà không được tìm kiếm để anh biết mọi sự về cô ta.

Kết quả là anh yêu cô nàng, dù chưa bao giờ gặp mặt.

Đó cũng là điều chúng ta phải thi hành trong thế giới.  Chúng ta phải nghiên cứu mọi sự. Và qua sự nghiên cứu thế giới và những bí ẩn cũng như sự mỹ miều của nó, và ngay cả những đau khổ, chúng ta phải đi vào cuộc tình với Thiên Chúa, mặc dù chúng ta chưa bao giờ diện đối diện với Người.

Thứ đến, chúng ta cũng phải nghiên cứu mọi thứ về Đức Giêsu Kitô.  Chúng ta phải học hỏi mọi thứ về Người nếu có thể.  Vì trong Đức Giêsu chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa diện đối diện, cũng như viên thám tử gặp gỡ Laura diện đối diện ở ngưỡng cửa căn phòng.

Chúa Giêsu nói, “Ai thấy ta là thấy Chúa Cha” (Gioan 14:9).

Sau cùng, chúng ta phải cố gắng tận tụy cuộc đời cho Chúa Giêsu, lãnh nhận sự sống đời đời nơi Người, và sống hạnh phúc mãi mãi với Người, cũng như chàng thám tử tận tụy cuộc đời cho Laura, kết hôn với cô, và sống hạnh phúc mãi mãi bên cô.

Nói cách khác, bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta tìm hiểu về Thiên Chúa qua những gì Người đã tạo nên trong vũ trụ.  Đó là những mấu chốt để chúng ta biết về Thiên Chúa, cũng như quần áo sách vở của cô Laura là các mấu chốt để chàng thám tử biết cô ta như thế nào.

Bài Phúc Âm hôm nay cũng mời gọi chúng ta tìm hiểu về Chúa Giêsu Kitô, đi vào cuộc tình với Người, theo Người, và sống hạnh phúc mãi mãi với Người, cũng như chàng thám tử yêu cô Laura, kết hôn với cô, và sống hạnh phúc bên cô.

Hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con,
Ngài đã dựng nên chúng con và ban sự sống cho chúng con.
Ngài đã đặt chúng con trong thế giới mỹ miều và đầy bí ẩn này
để tìm tòi, nghiên cứu và hiểu biết về Ngài.

Nhưng thường thì chúng con lại đi ngược.
Sự mỹ miều của đời sống đã khiến chúng con xa cách Ngài,
thay vì lôi kéo chúng con đến Ngài.
Nhưng Chúa đã không bỏ rơi chúng con.

Ngài gọi chúng con, Ngài la hét vào tai chúng con;
Ngài phá vỡ sự câm điếc của chúng con.
Ngài loé sáng trước mặt chúng con, Ngài lấy đi sự đui mù của chúng con.

Và bỗng dưng, chúng con bắt đầu nghe được tiếng Chúa
trong mọi cảnh tượng và trong mọi tiếng hát.

Chúng con bắt đầu thấy ánh sáng của Ngài
trong mọi ngôi sao và mọi bông hoa.

Và rồi cái ngày không thể nào quên được đã đến,
khi chúng con nghe tiếng Ngài
và thấy sự hiện diện của Ngài trong Đức Giêsu, Con Ngài.

Xin giúp chúng con lắng nghe Chúa Giêsu, đi theo Người,
và lãnh nhận sự sống đời đời từ Người.
Xin giúp chúng con chu toàn kế hoạch của Chúa dành cho chúng con
và sống hạnh phúc mãi mãi bên Chúa.

Lm. Mark Link, S.J.

MÃI NO THOẢ

“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”

Cha linh hướng của Catarina Siêna kể, “Một hôm, có việc phải đi sớm, tôi không dâng lễ; chiều về, Catarina đến thưa, “Thưa cha, con đói lắm!”  Tôi bảo, “Rất nhọc, không dâng lễ được!”  Catarina buồn rầu rời đi; nhưng vài phút sau, trở lại, thưa như trước.  Không cầm lòng, tôi ra kéo chuông và dâng lễ.  Lạ lùng thay, khi vừa bẻ Mình Thánh, một nửa trong tay tôi biến mất.  Tôi lo sợ tìm kiếm, nhưng Catarina nói, “Chúa đã đến với con!”  Lúc ấy, mặt chị sáng như mặt thiên thần!”

Kính thưa Anh Chị em,

‘Cơn đói của linh hồn’ chị thánh Catarina Siêna được Chúa Giêsu khai triển trong Tin Mừng hôm nay.  Ngài nói đến cơn đói siêu nhiên, nói đến “lương thực thường tồn” cho con người ‘mãi no thoả’; và ai tiếp nhận Ngài, mặt người ấy sẽ sáng như mặt thiên thần.

Trước hết, hãy xét xem bối cảnh!  Kìa, mới hôm qua, Chúa Giêsu nhân bánh cá ra nhiều để thết hàng ngàn người; và bây giờ, họ muốn điều đó tái diễn.  Nhân cơ hội này, Ngài dạy họ về Bánh Ban Sự Sống; Ngài cũng muốn làm như thế cho bạn và tôi!

Vậy bạn đói khát điều gì?  Có lẽ bạn có nhiều thức ăn, hoặc cũng có thể là không.  Nhưng như Catarina, một khi xác định được cơn đói sâu xa nhất của mình – đói Giêsu – bạn hãy cho phép Ngài nói với bạn về Bánh Hằng Sống.  Hãy nói với Ngài, “Đó là những gì con đói!”  Sau đó, hãy để linh hồn lắng nghe Ngài, “Ta muốn cho con nhiều hơn.  Ta là những gì con thực sự đói.  Hãy đến với Ta, con sẽ ‘mãi no thoả!’”  Đây là nội dung diễn từ Bánh Hằng Sống – suốt chương 6 Tin Mừng Gioan – Chúa Giêsu đã nói với người đương thời.

Đừng quên, Thánh Thể có khả năng biến đổi bạn ở mức độ sâu xa nhất!  Vậy mà chúng ta thường đến với Bí tích này cách uể oải và hay sao nhãng; kết quả, bạn và tôi thường không thực sự tiếp nhận Chúa Giêsu ở mức độ mang lại niềm vui, sự phấn khích, cũng như sự no thoả vô tận sâu sắc nhất.  Như Catarina, Têphanô – mặt sáng như mặt thiên thần – cho thấy sự no thoả đó, “Kìa, tôi thấy trời mở ra và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” – bài đọc một.  Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con!”.

Anh Chị em,

“Ai đến với tôi, không hề phải đói!”. “Bánh Ban Sự Sống” cho con người để nó không còn đói chính là Chúa Kitô, một quà tặng không chỉ có khả năng nâng đỡ tâm hồn và thể xác mà còn lôi kéo chúng ta vào niềm vui bất tận của thiên đàng.  “Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đừng quên rằng, nếu cần phải lo lắng về lương thực, thì điều quan trọng hơn nữa là nuôi dưỡng mối quan hệ của chúng ta với Ngài, củng cố đức tin của chúng ta vào Ngài, “Bánh Hằng Sống”, Đấng đã đến để thoả mãn cơn đói chân lý, cơn đói công lý và cơn đói tình yêu của chúng ta!” – Phanxicô.  Đến lượt mình, chúng ta hãy đi, mang theo bánh Giêsu và làm no thoả cơn đói tinh thần và vật chất của anh chị em mình; để như chúng ta, họ cũng ‘mãi no thoả’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đói lắm!  Bao anh chị em con trong thế giới đói lắm!  Cho con ‘no Chúa’ và con sẽ đi đến tận mút chân trời, mang bánh Giêsu đến cho anh chị em con!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

THẤY THẦY LÀ THẤY CHA

Được sống với Thầy, được nghe những bài giảng của Thầy về Chúa Cha, Philipphê nhận ra Chúa Cha là Đấng cao cả nhưng cũng rất tốt lành, là nguồn hạnh phúc, cho nên ông và các tông đồ khác đã ước ao được thấy Chúa Cha: Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện!  Qua đó, chúng ta thấy được tấm lòng khao khát tìm kiếm chân lý của Philipphê và các Tông đồ.

Ước nguyện ấy lại được Chúa Giêsu đáp ứng một cách dễ dàng không ngờ: ai thấy Thầy là thấy Cha!  Một ước vọng có vẻ cao sang nhưng lại được đáp ứng quá nhanh chóng đến độ bất ngờ như thế, thực sự là một tin vui hạnh phúc cho loài người chúng ta trên hành trình tìm kiếm chân lý, nhưng nhiều khi cũng vì quá dễ dàng, nên chân lý vĩ đại này lại thường bị bỏ quên.  Người ta thích đi con đường dài và  hiểm trở (để quan trọng hóa vấn đề) hơn là chọn con đường có vẻ quá đơn giản như thế.  Người ta đi tìm Chúa nơi nao trong khi Chúa ở rất gần, ở bên cạnh, ở trong lòng ta thì lại không biết, không thấy!  Người ta thích suy tư lý luận dài dòng phức tạp nhưng lại quên rằng Thiên Chúa của chúng ta và đường lối của Ngài lại rất đơn sơ.

Có lẽ Philipphê và Giacôbê cùng các Tông đồ sau khi được Chúa dạy dỗ bài học hôm nay, đã ý thức để sống thân mật với Chúa hơn, lãnh nhận chân lý với niềm tin yêu, và sau này các Ngài đã đổ máu đào để làm chứng cho chân lý ấy.

Đối với chúng ta hôm nay, chúng ta có khát khao tìm kiếm chân lý, tìm kiếm hạnh phúc đích thực không?  Có người vất vả đi tìm hạnh phúc tạm bợ, giả tạo nơi tiền bạc, danh vọng, lạc thú…; có người đi tìm ở triết thuyết này, đạo pháp kia; có người biết là phải đi tìm Chúa nhưng không biết tìm ở đâu!  Thì đây, Chúa Giêsu cho chúng ta câu trả lời dễ dàng đến bất ngờ:  Thầy là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.  Thì ra gặp Chúa Giêsu là gặp Chúa Cha nguồn Sự thật, thấy Chúa Giêsu là thấy Chúa Cha nguồn sự sống, yêu mến Chúa Giêsu là yêu mến chính Thiên Chúa là nguồn tình yêu.  Mà làm thế nào để tìm biết Chúa Giêsu?

Nếu anh biết Thầy, anh cũng sẽ biết Cha.  Khổ nỗi, cho đến hôm nay nhiều người trong chúng ta vẫn chưa biết Chúa Giêsu, mặc dù ta mang danh là Kitô hữu, ta vẫn nghe Kinh Thánh mỗi ngày, vẫn rước Chúa mỗi ngày!  Nếu một người lương dân hỏi: Chúa Kitô là ai?  Có lẽ phần đông chúng ta cũng gặp khó khăn trong câu trả lời đấy!  Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại cách sống đạo của chính mình, kẻo chúng ta cũng bị trách như Chúa Giêsu trách Philipphê: Thầy ở với anh bấy lâu mà anh không biết thầy ư?  Phải chăng chúng ta cần tiếp cận Kinh Thánh một cách ý thức hơn, dành thời giờ học hỏi Kinh Thánh nhiều hơn, để biết đọc, biết suy, biết cảm nếm, để chúng ta có thể gặp được Đức Kitô Phục sinh đang sống động trong từng trang, từng Lời Kinh Thánh và để chính Đức Kitô sống động trong cuộc sống thường ngày của ta.

Nhiều anh chị em sau khi tham gia những khóa học Kinh thánh đã phải thốt lên: bây giờ tôi mới biết Đức Kitô là ai, bây giờ tôi mới cảm nghiệm tình Chúa yêu tôi như thế nào!  Trước đó họ vẫn đọc Kinh Thánh chứ, vẫn nghe Kinh Thánh, vẫn học giáo lý, vẫn nghe giảng dậy hàng ngày, nhưng có lẽ những hiểu biết, Đức Tin, lòng yêu mến có được chỉ là vay mượn, không đích thật là của mình, cho nên nó hời hợt, không có chiều sâu và dễ bị nghiêng ngả chao đảo khi gặp thử thách đau khổ.  Chỉ khi nào chính mình khám phá, trải nghiệm thì Đức Tin vào Đức Ki tô mới kiên vững, tình mến vào Chúa Kitô mới nồng nàn, và như thế chúng ta sẽ gặp được Chúa Cha là nguồn chân lý, bình an và hạnh phúc, và khi đó, chúng ta có thể làm được những điều như Chúa Giêsu đã làm, đó là làm nhân chứng cho Tin Vui phục sinh ở mọi nơi, để Chúa Cha được tôn vinh nơi Chúa con, để nhân loại được hạnh phúc trong Tình yêu của Chúa Ba Ngôi.

Nguyện xin hai thánh Tông đồ Philipphe và Giacôbê cầu thay nguyện giúp để chúng con noi gương các Ngài, khao khát tìm Chúa, siêng năng học hỏi Kinh Thánh, rước Thánh Thể một cách ý thức hơn để chúng con thực sự găp được Chúa, có được cuộc sống thân mật với Chúa Kitô, từ đó chúng con trở thành nhân chứng sống động, dám sống và chết cho Tin mừng Phục sinh.  Amen!

Lm. Đaminh Trần Công Hiển

CHÚA PHỤC SINH ĐỂ Ý ĐẾN CÁC TÔNG ĐỒ

Đức Giêsu Phục Sinh vẫn luôn luôn ở với con người, nhưng có thể họ không nhận ra Ngài.  Đức Giêsu Phục Sinh luôn quan tâm săn sóc con người, như xưa Ngài quan tâm săn sóc các tông đồ.  Ngài không bao giờ bỏ con người, Ngài sẽ ở với con người cho đến ngày tận thế.

Hành vi không bình thường

Các tông đồ trở lại Galilê và ít nhất có bảy người tham dự đêm đánh cá với Simon Phêrô.  Sau một đêm mệt nhọc mà không được gì, Đức Giêsu đã chờ họ sẵn ở bờ hồ.  Ngài gợi chuyện, hỏi thăm, và tìm cách giúp đỡ: “thả lưới bên mạn thuyền thì có đó.”

Mẻ cá lạ giúp Gioan nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh: “Thầy đó.”  Chúa vẫn hiện diện đó, nhưng người ta không nhận ra Ngài.  Vẫn cần một dấu lạ, ngay cả đối với các tông đồ, để con người có thể nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh; và cũng phải nói, không phải ai cũng nhận ra.

Thái độ của Phêrô rất là tức cười.  Đang ở trần, nghe Gioan nói đó là Thầy, ông liền mặc đồ vào, rồi nhẩy xuống biển bơi vào bờ để gặp Chúa, bỏ các bạn ở lại với lưới cá dù rằng chính ông là người đề nghị các bạn đi đánh cá!  Tại sao vậy?  Vào bờ, ông nói gì với Chúa, hay ông chỉ làm vậy vì muốn gần Thầy mà thôi?

Cách hành xử của Đức Giêsu

Đức Giêsu đã dọn sẵn bánh và cá cho các tông đồ bên bờ hồ.  Đức Giêsu dọn ăn cho các tông đồ.  Đức Giêsu vẫn làm công việc của một người đầy tớ, Ngài vẫn luôn là người phục vụ những người Ngài yêu thương.

“Hãy mang cá các anh vừa bắt được lại đây.”  Một khi có bếp và lửa, có bánh và cá, tại sao Ngài không dọn cho đủ?  Thiên Chúa vẫn muốn có sự đóng góp của con người, ngay cả trong chuyện nhỏ nhất.

Tại sao lại là con số 153 con cá?  Có người nói rằng, vì đó là tất cả các loại cá mà con người ngày đó tìm được.  Con thuyền Giáo Hội, tung một mẻ lưới với sự trợ giúp của Đức Giêsu Phục Sinh, bao gồm tất cả mọi dân tộc trên hoàn vũ này.

Không một ai trong các ông dám hỏi “Ngài là ai,” vì tất cả đều biết đó là Chúa.  Dường như Ngài vẫn có một cái gì đó khác trước, vì nếu không thì tại sao lại “không ai dám hỏi Ngài là ai.”  Tuy vậy, không ai dám hỏi “Ngài là ai”, vì tất cả đều biết đó là Thầy.

Số phận và thái độ cần có của con người

Sau bữa ăn, Đức Giêsu hỏi Phêrô: “anh có yêu Thầy hơn những người này không?”  Nếu chỉ là câu hỏi: “anh có yêu Thầy hơn yêu những người này không,” chắc là Phêrô không cảm thấy khó khăn để trả lời.  Có lẽ câu hỏi là: “Phêrô, anh có yêu Thầy hơn những người này yêu Thầy không?”  Phêrô, trước đó khi ở bữa tiệc ly đã quả quyết: “dù tất cả mọi người bỏ Thầy, con thà chết chứ không bỏ thầy,” và hậu quả là Phêrô đã chối Thầy ba lần.  Bây giờ, Phêrô khiêm tốn hơn: “Vâng, Thầy biết rằng con yêu Thầy.”  Ba lần hỏi, bù vào ba lần chối.  Phêrô không còn dám tin vào mình nữa: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết rằng con yêu Chúa.”  Dường như Phêrô muốn nói: Với bao lần phản bội, Chúa biết con sẽ như thế nào trong tương lai, nhưng lúc này, Chúa biết rõ rằng con yêu Chúa.  Khiêm tốn là thái độ rất quan trọng của người lãnh đạo, chăn dắt đàn chiên của Chúa.

“Khi con còn trẻ, con muốn đi đâu tuỳ ý, nhưng khi con về già, con sẽ giang tay và người ta sẽ dẫn con tới nơi con không muốn.”  Phêrô được ơn biết tương lai mình.  Còn những người khác?  Tương lai của chúng ta ở trong tay Chúa, chúng ta không dám tin vào sức mình, nhưng có một điều rất chắc chắn: Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và Ngài sẽ làm điều tốt nhất cho chúng ta.  Thiên Chúa của chúng ta, là Thiên Chúa quyền năng trong tình yêu.

“Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta.”  Phêrô đã trả lời những người lãnh đạo dân Do Thái như vậy.  Đây là một tiêu chuẩn mà mỗi người tin vào Thiên Chúa đều phải áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, dù điều này có gây hại cho mình.  Thái độ tương tự như vậy, đã dẫn Phêrô và những người “làm chứng”đến cái chết.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

CẦU NGUYỆN NHƯ MỘT TÍN HỮU KITÔ

Trong Kitô giáo có bốn dạng cầu nguyện khác biệt.  Có lời cầu nguyện nhập thế, lời cầu nguyện thần nghiệm, lời cầu nguyện cảm xúc và lời cầu nguyện linh mục.  Vậy những lời cầu nguyện này là gì và khác nhau như thế nào?

Lời cầu nguyện nhập thế.  Thánh Phaolô mời gọi chúng ta “cầu nguyện luôn mãi.”  Làm sao có thể làm được?  Chúng ta có thể hay không thể cầu nguyện luôn mãi?  Điều mà thánh Phaolô mời gọi chúng ta cũng là điều Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta khi Ngài bảo “hãy đọc dấu chỉ của thời đại.”  Khi nói thế, Chúa Giêsu không bảo chúng ta hãy đọc mọi phân tích chính trị, kinh tế, xã hội mình tìm được.  Đúng hơn, Ngài mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm ngón tay của Thiên Chúa trong mọi sự kiện trong đời chúng ta.  Thế hệ cha mẹ tôi gọi điều này là hòa hợp với “sự quan phòng tối cao”, nghĩa là nhìn vào mọi sự kiện trong đời mình và những sự kiện chính của thế giới rồi tự vấn: “Thiên Chúa nói gì với chúng ta trong những sự kiện này?”  Nhưng khi làm việc này, chúng ta phải cẩn thận.  Thiên Chúa không gây ra tai nạn, bệnh tật, thương tâm, chiến tranh, nạn đói, động đất, trái đất nóng lên hay đại dịch, Thiên Chúa cũng không cho trúng số hay cho đội bóng chúng ta yêu thích thành vô địch, nhưng Thiên Chúa nói qua những sự việc này.  Chúng ta cầu nguyện nhập thế khi tìm ra tiếng nói đó.

Lời cầu nguyện thần nghiệm.  Cầu nguyện thần nghiệm không phải là việc có trải nghiệm thiêng liêng phi thường như thị kiến, xuất thần.  Thần nghiệm không phải hướng về những điều này.  Trải nghiệm thần nghiệm của tôi đơn giản là được Thiên Chúa chạm đến cách thâm sâu hơn những gì chúng ta có thể nắm bắt và hiểu được bằng trí tuệ và tưởng tượng, một hiểu biết vượt trên cả tâm và trí.  Nhận thức thần nghiệm hoạt động như sau: Cái đầu bảo cho chúng ta biết suy nghĩ nào của chúng ta là khôn ngoan để thực hiện, trái tim cho chúng ta biết điều chúng ta muốn và trung tâm thần nghiệm cho chúng ta biết chúng ta phải làm gì.  Ví dụ như tác giả C.S. Lewis mô tả trải nghiệm trở lại đạo của ông, ông kể lần đầu tiên ông quỳ gối và công nhận Chúa Kitô, ông đã không nhiệt tâm làm.  Thay vào đó, theo lời nổi tiếng của ông, ông đã quỳ gối “trong lần trở lại gượng ép nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Điều gì đã buộc ông làm điều này?  Ông nói: “Sự hà khắc của Chúa thì tốt hơn là sự dịu dàng của con người, và sự ép buộc của Chúa là sự giải phóng chúng ta.”  Chúng ta cầu nguyện thần nghiệm bất cứ khi nào chúng ta lắng nghe và nghe thấy tiếng nói cưỡng bức nhất trong chúng ta, tiếng nói mách bảo cho chúng ta biết điều mà Thiên Chúa và bổn phận kêu gọi chúng ta làm.

Lời cầu nguyện cảm xúc.  Đó là mọi lời cầu nguyện sốt mến (chầu Thánh Thể, đọc kinh cầu, kinh mân côi, những lời cầu nguyện xin Đức Mẹ hay các thánh cầu bàu) xét cho cùng, đây là lời cầu nguyện cảm xúc, là những dạng chiêm nghiệm và suy niệm.  Chúng đều như nhau về ý chỉ.  Đó là gì vậy?  Trong Phúc âm thánh Gioan, những lời đầu tiên Chúa Giêsu phán là một câu hỏi.  Dân chúng tò mò nhìn Ngài, và Ngài hỏi họ, “Các anh tìm gì?” Câu hỏi đó tồn tại xuyên suốt toàn bộ các phúc âm như một câu nền.  Nhiều điều diễn ra trên bề mặt, nhưng bên trong luôn có một câu hỏi day dứt, băn khoăn: “Các anh tìm gì?”

Chúa Giêsu chính xác trả lời cho câu hỏi này vào sáng ngày phục sinh.  Khi bà Maria Magđala đi tìm Ngài, đem theo thuốc thơm để xức xác Ngài.  Chúa Giêsu gặp bà, nhưng bà không nhận ra.  Rồi Ngài lặp lại cùng câu hỏi đã mở đầu Phúc âm: “Bà tìm ai?” và cho chúng ta câu trả lời thực sự.  Ngài gọi tên bà đầy yêu thương: “Maria.”  Khi làm như thế, Ngài mặc khải điều mà bà và hết thảy chúng ta đều luôn mãi tìm kiếm, đó là tiếng Chúa phán trực diện, với tình yêu thương vô điều kiện đang gọi tên chúng ta.  Mọi lời cầu nguyện sốt mến dù cho chúng ta, cho người khác hay cho thế giới, đều có mục đích tối hậu này.

Lời cầu nguyện linh mục.  Lời cầu nguyện linh mục là lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho thế giới thông qua giáo hội.  Kitô giáo tin rằng Chúa Kitô vẫn ở với chúng ta bằng lời của Ngài và bằng phép Thánh Thể.  Và chúng ta tin rằng bất cứ khi nào chúng ta tụ họp với nhau, trong nhà thờ hay nơi nào khác, để quây quần quanh Kinh thánh hoặc để cử hành phép Thánh Thể, là chúng ta đang bước vào lời cầu nguyện này.  Lời cầu nguyện này thường được gọi là lời cầu nguyện phụng vụ, đó chính là lời cầu nguyện của Chúa Kitô chứ không phải của chúng ta.  Hơn nữa, đây không phải là lời cầu nguyện trước hết cho bản thân chúng ta hay cho hội thánh, mà là lời cầu nguyện cho thế giới – “Thịt Ta là của ăn đem lại sự sống cho thế gian.”

Chúng ta đọc lời cầu nguyện phụng vụ, lời cầu nguyện linh mục, bất kỳ lúc nào chúng ta quây quần quanh Kinh thánh, phép Thánh Thể hay bất kỳ bí tích nào.  Chúng ta cũng cầu nguyện theo cách này khi cầu nguyện các giờ kinh phụng vụ, riêng tư hay với cộng đoàn.  Chúng ta được yêu cầu hãy đều đặn cầu nguyện cho thế giới nhờ thiên chức linh mục được truyền cho chúng ta trong phép rửa.

Một tín hữu Kitô lành mạnh về mặt thiêng liêng và trưởng thành cầu nguyện theo bốn cách này, và phân biệt rõ ràng bốn dạng cầu nguyện này có thể hữu ích để chúng ta cầu nguyện luôn mãi và cầu nguyện với Chúa Kitô.

Rev. Ron Rolheiser, OMI