CHA FELIPE GÓMEZ, S.J. – NGƯỜI CHIẾN SĨ THẦM LẶNG TRONG CHÚA

Không ai chọn nơi mình sinh ra, nhưng có những người dám chọn nơi để gắn bó cả cuộc đời.

Cha Felipe Gómez Gonzalo, SJ hay như nhiều người Việt quen gọi là cha Ngô Minh, không sinh ở Việt Nam, nhưng ngài đã sống như thể được sinh ra để phục vụ mảnh đất này.

Cha Felipe Gómez sinh tại Tây Ban Nha vào năm 1935, vào Dòng Tên năm 1953, giữa những năm hậu chiến đầy biến động.  Nhưng không phải châu Âu mời gọi trái tim ngài.  Không phải giảng đường, cũng không phải những vinh quang học thuật.  Nhưng đó lại là một đất nước nhỏ tại vùng trung Đông Nam Á, nơi người ta còn đang học cách cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ, với phong trào bình dân học vụ thời ấy.  Và đó mới chính là nơi mà Thiên Chúa kêu gọi và mời cha đến.

 Năm 1960, cha đặt chân đến Việt Nam.  Không ai biết cha sẽ ở lại bao lâu, cũng không ai biết ngài sẽ âm thầm gieo những hạt giống gì.  Ngài bắt đầu bằng việc học tiếng Việt, rồi dạy tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp cho lớp tập sinh đầu tiên của Dòng Tên Việt Nam.  Từng chữ cái, từng dấu sắc huyền ngã nặng, ngài kiên nhẫn lượm lặt như thể đang học chính ngôn ngữ của đức tin tại một vùng đất mới.

Ngày 29 tháng 4 năm 1966, tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, cha được truyền chức linh mục.  Từ đó, ơn gọi của ngài không chỉ là tu sĩ, mà là một linh mục truyền giáo, trao truyền Chúa Ki-tô nơi các thừa tác vụ bí tích.

Ngài là người góp phần dịch các văn kiện Công đồng Vaticanô II sang tiếng Việt, một công việc âm thầm nhưng mang chiều sâu thần học và ảnh hưởng lâu dài đến đời sống Giáo hội tại Việt Nam.  Những năm làm bề trên Học viện Dòng Tên, rồi Khoa trưởng Phân khoa Thần học tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X Đà Lạt (1971–1975), cha đã hiện diện như là người thầy, người bạn, người chứng nhân trong những chuyển giao của thế hệ, của thời cuộc như một ngọn đèn không rực sáng, không ồn ào, nhưng bừng cháy lặng lẽ và liên lỉ.

Từ năm 1971 cho đến khi qua đời, cha vẫn tiếp tục đọc, viết, dạy, nghe và yêu mến Giáo hội Việt Nam bằng tiếng Việt.  Cha đã xuất bản nhiều tác phẩm thần học bằng tiếng Việt: từ Chúa Ba Ngôi đến Kitô học, từ Truyền Giáo học đến Thánh Mẫu Học, rồi đến những tác phẩm về Kinh Tin kính, về Chúa Thánh Thần trong Thần học và Linh đạo.  Ngôn ngữ cha chọn trình bày chính là ngôn ngữ của người bản địa để nói với người bản địa, vừa cố gắng giữ được những triết lý và học thuyết cao siêu, vừa có thể diễn giải để nhiều người có thể hiểu được.

Khi nhìn lại cuộc đời và ơn gọi của mình nhân dịp kỷ niệm 50 năm linh mục, ngài từng nói: “Ơn gọi của tôi không chỉ là đi tu.  Mà là đi truyền giáo.”

Ban đầu, cha xin đi truyền giáo tại châu Mỹ và Trung Hoa, nhưng Bề trên không đồng ý.  Và cuối cùng, cha đến Việt Nam, không theo tính toán và dự định của mình, nhưng theo điều mà cha gọi là “sự quan phòng dịu dàng của Thiên Chúa.”  Cha nói:

“Chúa luôn có cách của Người.  Nhìn lại cuộc đời, tôi chỉ có thể thốt lên lời cảm tạ.”

Với những ai hỏi cha làm sao để truyền giáo, cha trả lời bằng sự đơn sơ của người từng sống trọn đời giữa những người chưa biết Chúa:

“Đừng giảng giáo lý. Hãy kể cho họ nghe niềm hy vọng của bạn.”
“Hãy để Lời Chúa tự lên tiếng.  Còn chúng ta, cứ làm phần của mình, phần còn lại… để Chúa lo.”

Có những người truyền giáo bằng tài giảng thuyết của mình, cũng có những người truyền giáo bằng cả một đời sống trung tín và kiên cường trong những điều nhỏ bé.  Nơi cha Gómez, người ta tìm thấy một nhà giảng thuyết và một vị tông đồ trung tin, một người tìm Chúa nơi một đất nước không phải của mình, nhưng cuối cùng lại trở thành quê hương của tâm hồn mình.

Cha Felipe Gómez Gonzalo, S.J. thực sự là một nhà truyền giáo Tây Ban Nha với một trái tim Việt Nam, người kể về Chúa cho người Việt Nam.  Giữa thời đại mà người ta dễ mỏi mệt với những lời mời gọi “ra đi,” đời sống của cha nhắc nhở chúng con rằng ra đi không có nghĩa là bỏ lại, nhưng là quyết sống trọn vẹn ở một nơi không quen thuộc, cho một dân tộc không phải ruột thịt, và bằng một tình yêu không hề ép buộc.

Nguyện xin Chúa là Đấng ngài từng hết lòng yêu mến và phục vụ, đón nhận ngài vào nơi bình an vĩnh cửu.  Và xin tiếp tục gửi đến cho Giáo Hội chúng con những chứng nhân của các nhà truyền giáo bằng tình yêu, sự trung tín, niềm vui và hy vọng.  Xin cho chúng con cũng học cách sẵn sàng ra đi, học ngôn ngữ mới, yêu những con người mới, và trao dâng cả cuộc đời như một chứng tá sống động cho Tin Mừng.

Trần Đỉnh, S.J.
Nguồn: https://dongten.net

KITÔ HỮU LÀ TÁC PHẨM KỲ DIỆU CỦA CHÚA BA NGÔI

Chúng ta vừa cùng với Giáo hội Hoàn vũ cử hành những mầu nhiệm căn bản của đức tin Kitô giáo: đó là cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Đức Giê-su; sự lên trời vinh hiển của Người; Chúa Thánh Thần hiện xuống khai sinh Giáo hội.  Hôm nay, Phụng vụ mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Thiên Chúa, trong vinh quang viên mãn của Ngài.  Ngài là Thiên Chúa duy nhất, nhưng không đơn độc.  Giáo hội Kitô  tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi.  Thiên Chúa là Cha, và Con và Thánh Thần.

Trong cuộc đời dương thế, Đức Giê-su nói về Chúa Cha là Đấng Sáng tạo và là cội nguồn của sự thánh thiện.  Người nói về Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo trợ xuất phát từ nơi Chúa Cha.  Đấng ấy sẽ ở cùng các môn đệ, để tiếp nối công cuộc loan báo Tin Mừng mà Đức Giê-su đã khai mở.  Trong những lần tranh luận với người Do Thái, Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là Cha, và Người là Con Một của Chúa Cha.  Tâm tình “Cha-Con” được diễn tả đặc biệt thân tình trong lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với Chúa Cha mà thánh Gioan đã ghi lại (x. Ga 17).  Dựa vào những chứng cứ trong Tin Mừng, Giáo hội Kitô  ngay từ thuở ban đầu đã khẳng định: Đức Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian; Chúa Thánh Thần là Đấng luôn hiện diện trong vũ trụ và đặc biệt trong Giáo hội do Đức Giê-su đã thành lập.  Mặc dù có nhiều trào lưu khẳng định ngược lại (những bè rối ở thế kỷ II và thế kỷ III), tín điều Chúa Ba Ngôi đã được khẳng định bởi các Công đồng.  Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đã được công đồng La-tê-ra-nô (năm 1339) tuyên tín như sau: “Chúng tôi tin cách vững vàng và tuyên xưng cách đơn sơ rằng: “Chỉ có một Thiên Chúa chân thật, vĩnh cửu vô hạn và bất biến, vô phương hiểu thấu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Ba Ngôi vị, nhưng chỉ có một yếu tính, một bản thể hoặc một bản tính toàn đơn nhất.”

Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo nói về Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như sau: “Mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh là mầu nhiệm trung tâm của Đức tin và đời sống Kitô  hữu.  Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể cho ta biết được mầu nhiệm ấy, khi Ngài tự mạc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (số 261).

Như chúng ta thấy trong Phụng vụ, khi cộng đoàn Giáo hội dâng lời cầu nguyện, là Giáo hội cầu nguyện với CHÚA CHA, nhờ công nghiệp của CHÚA GIÊSU, trong sự hiệp nhất của CHÚA THÁNH THẦN.  Như thế, lời cầu nguyện của cộng đoàn tín hữu quy hướng trực tiếp về Chúa Cha.  Tuy vậy, vì con người bất xứng, nếu tự mình thì lời cầu nguyện không có giá trị, nên phải cậy nhờ công nghiệp của Đức Giêsu, tức là cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người, để xứng đáng dâng lên Chúa Cha những ước nguyện.  Và, những ước nguyện ấy được thân thưa trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần, tức là với ơn soi sáng phù trợ của Ngôi Ba Thiên Chúa.

Không chỉ trong Phụng vụ, mà trọn vẹn đời sống của người Kitô hữu đều được chìm ngập trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.  Nhờ vậy, chúng ta được chia sẻ sức sống thần linh với Đấng Tối Cao.

Đâu là mối tương quan giữa mầu nhiệm Ba Ngôi với cá nhân người tín hữu?  Mỗi chúng ta, tuy nhỏ bé, nhưng là tác phẩm của Chúa Ba Ngôi.  Giáo lý truyền thống dạy chúng ta: con người được Chúa Cha tạo dựng; được Chúa Con cứu chuộc và được Chúa Thánh Thần thánh hóa.  Mỗi chúng ta đều là tác phẩm của Thiên Chúa, là hình ảnh sống động của Ngài.  Chúa Ba Ngôi hiện diện trong tâm hồn người tín hữu từ khi được Thanh tẩy.  Chúa Ba Ngôi cũng là đích điểm cuộc đời chúng ta, vì hạnh phúc thiên đàng chính là được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi trong hạnh phúc trường tồn.

Khi mừng lễ Chúa Ba Ngôi, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy nhận ra quyền năng cao cả của Đấng chúng ta tôn thờ (Bài đọc I).  Hơn nữa, Kitô  hữu còn là con Thiên Chúa và là đồng thừa kế với Đức Kitô, nhờ mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Giê-su và nhờ Thánh Thần hướng dẫn (Bài đọc II).  Đức Giê-su Phục sinh đã trao các môn đệ và chúng ta hôm nay sứ mạng làm chứng cho tình yêu của Chúa Ba Ngôi, bằng cách sống tốt lành thánh thiện và nhiệt tâm loan báo sứ điệp yêu thương của Đức Giê-su, Đấng luôn hiện diện giữa chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TRỪ QUỶ BẰNG THINH LẶNG

Kinh Thánh tường thuật câu chuyện các môn đệ của Chúa Giêsu không thể trừ được một con quỷ. Khi họ hỏi Chúa Giêsu tại sao lại như vậy, Ngài trả lời có những con quỷ không thể trục xuất bằng lời cầu nguyện.  Con quỷ Chúa Giêsu nói đến trong chuyện này đã nhập vào một người câm điếc.

Tôi muốn nêu tên một con quỷ khác có vẻ cũng không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, đó là con quỷ luôn phá hoại các mối liên hệ cá nhân, gia đình, cộng đồng và Giáo hội của chúng ta bằng hiểu lầm và chia rẽ, làm chúng ta mãi mãi khó khăn trong việc hiệp thông mang sự sống đến cho người khác.

Chúng ta cần lời cầu nguyện đặc biệt nào để trục xuất con quỷ này?  Đó là lời cầu nguyện thinh lặng chung, gần giống với lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker.

Lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker là gì?

Tôi xin nói qua về lịch sử Quaker: Quaker là một nhóm các giáo phái Tin Lành, với các thành viên gọi nhau là giáo hữu, nhưng họ thường được gọi là Quaker vì một tuyên bố lừng danh của nhà sáng lập George Fox (1624-1691).  Chuyện kể rằng trước mặt một vài quan chức chính quyền đang cố uy hiếp ông, ông cầm quyển Kinh Thánh lên và nói: Đây là lời của Thiên Chúa, hãy run rẩy đi! (run rẩy = quake).

Với những người Quakers, nhất là ở thời kỳ đầu, việc cầu nguyện chung của họ chủ yếu là ngồi lại với nhau trong thinh lặng, chờ Thiên Chúa phán với họ.  Họ thinh lặng ngồi, chờ quyền năng Thiên Chúa đến và cho họ điều gì đó mà họ không thể tự đem lại cho mình, cụ thể là sự hiệp thông thực sự để cùng nhau vượt lên các chia rẽ đang chia cách họ.  Dù họ ngồi riêng từng người, nhưng lời cầu nguyện của họ là chung một cách triệt để.  Họ ngồi đó như một thân thể duy nhất, cùng nhau chờ Thiên Chúa cho họ sự hiệp nhất mà họ không thể tự đem lại cho mình.

Có lẽ đây là việc mà tín hữu Kitô giáo chúng ta có thể thực hành hôm nay, khi thấy mình bất lực trước sự chia rẽ ở khắp nơi (trong gia đình, giáo hội và đất nước)?  Suy cho cùng, tín hữu Kitô chúng ta là một cộng đồng trong Thân thể Chúa Kitô, một cơ thể hữu cơ duy nhất, và khoảng cách vật chất không thật sự phân chia chúng ta được, vì thế có lẽ tín hữu Kitô chúng ta nên bắt đầu cầu nguyện thường xuyên, ngồi lại với nhau trong thinh lặng của phái Quaker, như một cộng đồng, thinh lặng ngồi đó, cùng nhau chờ đợi, chờ Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông mà chúng ta không đủ sức để mang lại cho mình.

Về mặt thực tế, làm thế nào để được như vậy?  Tôi xin đề nghị: mỗi ngày, chúng ta dành một thời gian để ngồi thinh lặng, một mình hoặc lý tưởng nhất là với người khác, trong một thời gian cố định (15 hoặc 20 phút), với dự định trước hết không phải là nuôi dưỡng sự mật thiết với Thiên Chúa (như trong việc suy niệm riêng), nhưng ngồi với nhau trong sự hiệp thông với tất cả mọi người trong Thân thể Chúa Kitô (và với tất cả những ai thiện tâm ở khắp nơi) để xin Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông vượt lên chia rẽ.

Đây cũng có thể là một nghi thức mạnh mẽ cho hôn nhân và gia đình.  Có lẽ một trong những liệu pháp chữa lành nhất trong hôn nhân chính là hai người thường xuyên ngồi lại với nhau trong thinh lặng, xin Thiên Chúa cho họ điều mà họ không thể tự cho mình, cụ thể là hiểu nhau vượt lên căng thẳng của cuộc sống hằng ngày.  Tôi nhớ hồi nhỏ, gia đình tôi lần hạt chung với nhau mỗi tối, và nghi thức này cũng có hiệu quả như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, xoa dịu các căng thẳng tích tụ trong ngày, làm gia đình chúng tôi bình an hơn.

Tôi gọi đây là lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, nhưng có nhiều dạng suy niệm và chiêm niệm khác nhau cũng có cùng ý này.  Chẳng hạn Thánh Eugene de Mazenod nhà sáng lập Dòng Hiến sĩ đã để lại cho chúng tôi lời cầu nguyện gọi là Hương nguyện Oraison.  Ý nghĩa của việc cầu nguyện này là: các Hiến sĩ phải sống với nhau trong cùng một cộng đoàn, nhưng chúng tôi là Hội dòng trải rộng trên 60 quốc gia trên thế giới.  Làm sao chúng tôi có thể hiệp thông với nhau bất chấp khoảng cách?

Bằng lời cầu nguyện Oraison.  Thánh Eugene khuyên chúng tôi dành nửa tiếng mỗi ngày để ngồi trong thinh lặng, một thời gian để không chỉ hiệp thông với Thiên Chúa, mà còn hiệp thông với mọi Hiến sĩ trên toàn thế giới.  Cũng giống như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, đây là lời cầu nguyện mà mỗi người ngồi một mình, trong thinh lặng, nhưng hiệp thông, xin Thiên Chúa hình thành nên sự hiệp thông nối kết mọi khoảng cách và khác biệt.  Khi Chúa Giêsu nói có những con quỷ không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, là Ngài đang nói về chuyện này.  Có lẽ con quỷ được nhắc đến cụ thể nhất chính là con quỷ hiểu lầm và chia rẽ.  Chúng ta đều biết mình bất lực thế nào trong việc trục xuất nó. Ngồi lại với nhau trong thinh lặng chung, xin Thiên Chúa làm cho chúng ta một điều vượt quá sức chúng ta, như vậy có thể trừ đi con quỷ hiểu lầm và chia rẽ.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THỜI CỦA THÁNH THẦN

Sách Công vụ Tông đồ được gọi là “Phúc âm của Chúa Thánh Thần.”  Điều đó có nghĩa: nội dung của cuốn sách diễn tả và minh chứng về hoạt động của Chúa Thánh Thần sau khi Đức Giê-su đã lên trời.  Trước đó Chúa Giê-su đã hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14,16).  Với sự kiện Lễ Ngũ Tuần, lời hứa đó đã được thực hiện.  Chúa Giê-su đã thiếp lập Giáo Hội và Người đã trao cộng đoàn đó cho Chúa Thánh Thần để tiếp nối những công việc Chúa đã làm.  Nếu Chúa Thánh Thần hoạt động cách vô hình, thì những hiệu quả đến với Giáo Hội lại từ chính những con người bằng xương bằng thịt.  Đó là các Tông đồ và sau đó là mọi thế hệ tín hữu, liên tục cho đến chúng ta hôm nay.

Nếu như trước đây Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với Đức Giê-su trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, thì nay, Chúa Thánh Thần luôn hiện diện giữa cộng đoàn tín hữu.  Nhờ Chúa Thánh Thần mà các tông đồ làm được những phép lạ giống như Chúa Giê-su đã làm.  Đó là trường hợp ông Phê-rô nhân danh Chúa Giê-su chữa lành người thanh niên què chân ăn xin ở cửa đền thờ Giê-ru-sa-lem (x. Cv 3,1-10).  Không chỉ dân chúng, mà chính các tông đồ cũng ngạc nhiên vì thấy lời thực hiện lời Chúa Giê-su đã nói trước đó: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.  Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhầm thuốc độc, thì cũng chẳng sao.  Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe” (Mc 16, 17-18).

Thời của Thánh Thần cũng là thời của Giáo Hội, tức là thời của chúng ta.  Bởi lẽ Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội hôm nay, y như Ngài đã hoạt động trong cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi.  Nói đúng hơn, Ngài liên tục hiện diện trong Giáo Hội kể từ ngày lễ Ngũ Tuần.  Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo diễn tả như sau: “Bởi vì Chúa Thánh Thần là sự Xức Dầu của Đức Ki-tô, nên Đức Ki-tô, là Đầu của thân thể, tuôn đổ Thánh Thần cho các chi thể của Người để nuôi dưỡng và chữa lành họ, cắt đặt họ vào trong các phận vụ đối với nhau, làm cho họ được sống, sai họ đi làm chứng, liên kết họ vào việc Người dâng mình lên Chúa Cha và vào việc Người chuyển cầu cho khắp cả trần gian.  Qua các bí tích của Hội Thánh, Đức Ki-tô truyền thông cho các chi thể của Người Thần Khí của Người, là Đấng Thánh và là Đấng Thánh Hóa” (Số 739).  Nội dung trích dẫn trên cho thấy hoạt động của Chúa Thánh Thần rất phong phú trong vũ trụ, trong Giáo Hội và trong đời sống con người, cách riêng các Ki-tô hữu.

Nếu hoạt động của Chúa Thánh Thần rất phong phú trong đời sống Ki-tô hữu, thì trong thực tế, rất ít khi chúng ta ý thức về sự hiện diện của Ngài.  Lời Thánh vịnh được xướng lên trong Thánh lễ hôm nay diễn tả tác động của Chúa Thánh Thần như một chiếc “mô tơ” cho mọi chuyển động của công trình tạo thành: “Ngài lấy sinh khí lại, là chúng (công trình tạo dựng) tắt thở ngay, mà trở về cát bụi; Ngài gửi sinh khí của Ngài tới, là chúng được dựng nên và Ngài đổi mới mặt đất này.”  Với ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta lắng nghe Chúa Thánh Thần để hiểu và sống lời giáo huấn của Chúa Giê-su, đồng thời cộng tác với Ngài làm cho vũ trụ được đổi mới.  Vũ trụ đó, trước hết làm con người cá nhân trong cách ứng xử, sau đó là gia đình, cộng đoàn đức tin và xã hội chúng ta đang sống.

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã đến để liên kết mọi sắc tộc và ngôn ngữ, cùng hiểu một tiếng nói chung, đó là đức tin vào Đức Giê-su.  Hôm nay, Ngài vẫn liên kết Giáo Hội, nhờ đó mà Giáo Hội vẫn gắn bó với nhau trong tình hiệp thông.  Thượng Hội đồng Giám mục thế giới năm 2023 và năm 2024 mời gọi các tín hữu lắng nghe và cộng tác với Chúa Thánh Thần để có thể xây dựng một Giáo Hội hiệp hành, cùng nhau loan báo Tin Mừng.  Thánh Phao-lô đã so sánh Giáo Hội như một thân thể, có Đức Ki-tô là Đầu. Mỗi tín hữu là một chi thể trong thân thể huyền nhiệm đó (Bài đọc II).  Trên con đường đạt tới sự hoàn thiện, vị Tông đồ dân ngoại kêu mời các tín hữu hãy sống theo Thần Khí, qua đó đón nhận những hoa trái tốt lành là quà tặng của Ngôi Ba Thiên Chúa cho những ai thành tâm thiện chí theo Chúa Giê-su và nỗ lực cố gắng để trở nên giống như Người.

Chúng ta đang sống trong “Thời của Thánh Thần” và “Thời của Giáo Hội.”  Với ơn soi sáng phù trợ của Ngôi Ba Thiên Chúa, mỗi chúng ta đều có trách nhiệm làm cho hình ảnh Đức Ki-tô được tỏa sáng trong môi trường sống cụ thể hôm nay.  Xin Chúa Thánh Thần giúp sức trong sứ mạng cao cả này. Amen.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

KHI NHỮNG GÌ QUÝ GIÁ BỊ TƯỚC ĐI

Có lẽ thực tế khó chấp nhận nhất trong đời là sự thực bất di bất dịch rằng, cuối cùng, những gì quý nhất của chúng ta sẽ bị tước đi, theo một cách nào đó.  Con cái lớn lên xa nhà, bạn bè đi xa, người thân mất đi, sức khỏe giảm sút, và rồi cuối cùng chúng ta ra đi.  Ngay cả những gì quý giá nhất của chúng ta là đức tin và các giá trị chúng ta có suốt cả cuộc đời cũng phải chịu chung số phận: sự vật thay đổi, suy nghĩ và cảm xúc đổi thay, các nền tảng từng là chỗ nương tựa vững chắc cho chúng ta bị lung lay, nỗi hoài nghi len vào, nền móng sụp đổ, còn lại chúng ta trơ trọi và tự hỏi: mình thật sự tin vào cái gì và cái gì thật sự có thể tin tưởng được.

May mắn thay, đây mới chỉ là một vế của phương trình: Những gì mất đi, cuối cùng sẽ quay trở lại với chúng ta một cách sâu đậm hơn.  Con cái trưởng thành đến không ngờ và bắt đầu phụng dưỡng cha mẹ, bạn bè liên lạc lại dù ở cách xa, chúng ta lại có những mối liên hệ sâu xa và bền vững hơn đến những người thân yêu đã mất, chúng ta tìm thấy một điều gì đó sâu kín và lâu bền hơn là sức khỏe thể chất.  Cái chết mở ra cho chúng ta chạm đến vô tận, và nền móng những niềm tin xưa cũ sụp đổ đưa chúng ta rơi tự do xuống tới một nơi mà ở đó chúng ta đặt chân lên nền đá, một nền tảng vững chắc, an toàn tới nỗi không bao giờ còn bị lung lay nữa.

Chúng ta thấy điều này trong Sách Thánh, qua câu chuyện của cộng đồng dân Do-Thái và cuộc lưu đày ở thành Ba-bi-lon.  Câu chuyện như sau:

Sau khi đến Pa-lét-xtin (“Đất Hứa”), dân Do-Thái mất nhiều thế hệ mới gây dựng được cơ nghiệp, thống nhất các bộ lạc về một mối, xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem thành trung tâm thờ phượng.  Các vị vua vĩ đại Đa-vít và Sa-lô-môn đã thực hiện điều này, và người dân cảm thấy an tâm cả về chính trị lẫn tôn giáo.  Đặc biệt họ cảm thấy vững mạnh trong đức tin.  Thiên Chúa hứa ban đất, bây giờ họ có đất; Thiên Chúa hứa ban một vị vua, bây giờ họ có vua; Thiên Chúa hứa ban đền thờ, bây giờ họ có đền thờ.  Họ thấy ba thực tế: đất hứa, vua, đền thờ là bằng chứng chắc chắn cho sự hiện diện và thánh ý Thiên Chúa đối với họ.  Những lời hứa của Thiên Chúa rõ ràng đã trở thành hiện thực.

Nhưng ngay khi dân Do-Thái mãn nguyện trong vỏ bọc an toàn này, thì người At-xi-ri đến, chiếm lấy đất đai, đày họ đến Ba-bi-lon, giết vua, phá hủy đền thờ cho đến viên đá cuối cùng.  Với những chuyện như vậy, đất đai, vua, đền thờ bị mất đi, thế giới của họ bị sụp đổ, cả về nghĩa đen lẫn về mặt tôn giáo.  Những gì từng bảo đảm an toàn cho họ đã bị tước đi và họ cảm thấy mình bị lưu vong, không những đối với quê hương mình, mà đối với cả Chúa và tôn giáo của mình.  Nếu sự hiện diện của Chúa được bảo đảm ở đất hứa, vua, và đền thờ, mà những điều này bị mất đi, vậy Chúa ở đâu?  Làm sao bạn có thể tiếp tục tin, tin tưởng và hân hoan sống khi tất cả những gì từng làm chỗ dựa vững chắc cho niềm tin, lòng tin tưởng và niềm vui của bạn bị tước đi?

Câu trả lời của Thiên Chúa lúc đó là: Các con sẽ lại tìm thấy Ta khi các con tìm một cách sâu sắc hơn, với tất cả trái tim, khối óc và tâm hồn.  Ngày nay Chúa cũng cho chúng ta câu trả lời đó bất cứ lúc nào chúng ta cảm thấy mình bị phản bội, bơ vơ, và mất phương hướng.

Và đây là bài học sâu sắc: Trong các giá trị và đức tin của chúng ta, những gì không thuộc về Thiên Chúa, cho dù tuyệt vời và chính xác tới đâu, cuối cùng sẽ đi ra khỏi cuộc đời chúng ta.  Tại sao?  Vì chúng không thuộc về Thiên Chúa.  Chúng có thể là biểu tượng của chúng ta trong nhất thời, nhưng những biểu tượng được nắm giữ quá chặt, quá lâu đã trở thành các thần tượng mà chúng ta cần dẹp bỏ.

Điều này cũng đúng kể cả đối với những gì quý giá nhất trong tôn giáo chúng ta – Sách Thánh, giáo lý đức tin, Giáo Hội, các vị thánh lớn, các tư tưởng gia vĩ đại.  Dù cho tất cả những điều đó có tuyệt vời đến thế nào, rốt cuộc đó cũng không phải là Chúa.  Đó có thể là những phương tiện tuyệt diệu để đưa chúng ta đến với Chúa, là những biểu tượng, là các bài trình bày PowerPoint về Chúa, nhưng không phải là Chúa.  Và bao giờ cũng vậy, bằng cách này hay cách khác, cuối cùng, cần phải đập vỡ thần tượng, không phải là không đau đớn và thất vọng sâu xa, nhưng chúng ta sẽ học được bài học này qua kinh nghiệm cay đắng.  Tất cả các sách vở thiêng liêng, kể cả Sách Thánh đều nói rõ ràng về điều này.

Các biểu tượng trợ dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, còn thần tượng ngăn cản chúng ta tiếp cận Thiên Chúa.  Một thần tượng chỉ đơn giản là một biểu tượng bị nắm giữ quá lâu.  Và chính vì thế trong bản chất truyền thừa của đức tin đã ghi rõ động năng giúp thanh lọc: Chúng ta được trao một số điều nào đó để nương theo trong một thời gian: một ngôn ngữ nhất định, những lễ nghi nhất định, giáo lý và tín điều nhất định, một cách hiểu nhất định về đức tin của chúng ta, những vị thánh nào đó làm hình mẫu, những sách thánh để nuôi dưỡng chúng ta, và, không kém phần quan trọng, một cảm thức tin tưởng và an toàn nhất định trong sâu xa rằng tất cả những điều này là tốt lành, đúng đắn, và trong một cách nào đó chính là Thiên Chúa

Tất cả điều này là tốt, trong một thời gian.  Nhưng rồi ngày đó sẽ đến, thường là đi kèm với nỗi đau và mất mát sâu xa, khi nền móng sụp đổ và chúng ta suy sụp trong trạng thái rơi tự do, ta cố gắng bám vào cái gì cũng không được, cho tới khi chúng ta cuối cùng chạm chân vào một cái gì vững chắc như nền đá tảng, và đó chính là Thiên Chúa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

NGŨ TUẦN MỚI

“Bà Elisabeth được đầy Thánh Thần.”

“Điều Giáo Hội cần ngày nay không phải là máy móc hiện đại, các tổ chức bề thế hay các kế hoạch quy mô; điều Giáo Hội cần là những con người cầu nguyện mà Chúa Thánh Thần có thể sử dụng!  Chúa Thánh Thần không tuôn tràn ân sủng qua các kế hoạch, mà qua con người; không đến bằng máy móc, mà bằng con người; không xức dầu cho các tổ chức, mà xức dầu con người – những con người cầu nguyện.  Ở đâu có họ, ở đó có một lễ Ngũ Tuần mới!” – E. M. Bounds.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ở đâu có những con người cầu nguyện, ở đó có một lễ ‘Ngũ Tuần mới!’”  Tin Mừng ngày lễ Đức Mẹ Thăm Viếng cho thấy Đức Maria là một trong những con người đó.

Vậy thì điều gì đã thôi thúc Maria mạo hiểm thực hiện một cuộc du hành đầy rủi ro và vội vã đến thế?  Thưa đó là sức mạnh không thể cưỡng lại đang tác động trong Mẹ!  Chính sự hiện diện của Thánh Thần từ ngày Truyền Tin đã làm lu mờ người thôn nữ và lấp đầy ‘thiếu nữ Sion’ này.  Chính Thánh Thần giục giã Mẹ cất bước cùng lúc với sự thôi thúc bên trong của hài nhi Giêsu Mẹ cưu mang.  Để rồi, Mẹ cùng Con, Con cùng Mẹ, đồng hành với Thánh Thần trong niềm vui; và như thế, sấm ngôn của Xôphônia được ứng nghiệm, “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!” – bài đọc một.  Cũng Thánh Thần đó, đã ngập tràn Elizabeth khi bà vừa nghe lời chào của người em họ, đến nỗi, Gioan trong dạ mẹ cũng nhảy lên vì vui sướng.

Có thể nói, cuộc viếng thăm của Đức Maria là một lễ ‘Ngũ Tuần mới’ mà Elizabeth tự coi mình bất xứng để tham phần, “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?”  Câu hỏi bồi hồi của Elizabeth phản ánh cùng một đức tính cần thiết nơi một con người cầu nguyện, đó là sự khiêm nhường!  “Hãy luôn luôn và trên hết là những linh hồn cầu nguyện, tôn thờ, yêu thương.

Catharina Siêna một con người cầu nguyện đã từng viết, “Trong bản chất của Ngài – Đấng Tối Cao Vĩnh Cửu – con sẽ biết bản chất của con!”  Và chị thánh tự hỏi, “Bản chất của con là gì?  Đó là lửa!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

“Bà Elisabeth được đầy Thánh Thần.”  Nhờ cuộc thăm viếng của Maria, Elisabeth ngập tràn niềm vui và lửa Thánh Thần.  “Đây là niềm vui mà trái tim cảm nhận khi chúng ta quỳ gối để tôn thờ Chúa Giêsu trong đức tin.  Niềm vui mang Chúa Kitô, đầy Thánh Thần với lòng biết ơn đối với Thiên Chúa vốn thúc đẩy chúng ta mang Chúa đến cho người khác một cách tất yếu!” – Bênêđictô XVI.  Vì thế, khi cất lên Magnificat, Mẹ không còn dè giữ niềm vui cho mình, nhưng nghĩ tưởng về những gì Chúa làm cho nhân loại, cho dân tộc mình; một dân tộc, rồi đây, sẽ nhận biết ơn cứu độ nơi Đấng Mẹ cưu mang.  Kìa!  “Đấng Thánh cao cả của Israel ở giữa ngươi!” – Thánh Vịnh đáp ca.  Ước gì, niềm vui cầu nguyện, niềm vui sống trong lửa Thánh Thần cũng mang đến một lễ ‘Ngũ Tuần mới’ cho gia đình, cho những người thân yêu, cho những anh chị em chung quanh cuộc sống của bạn và tôi!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con trở nên một cỗ máy vô hồn, nhưng là một con người cầu nguyện đầy Thánh Thần; để ở đâu có con, ở đó có một lễ Hiện Xuống mới!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KHÔNG CÓ KẾ HOẠCH HẬU THUẪN

Chúa Giêsu trao cho các môn đệ nhiệm vụ hoàn tất công trình của Người bằng cách chia sẻ Tin Mừng cho toàn thể thế giới.

Có một huyền thoại xưa về việc lên trời của Đức Giêsu.  Theo huyền thoại này, khi Đức Giêsu đến thiên đường, thân thể của Người vẫn còn các vết thương của khổ hình thập giá.

Chân tay của Người vẫn còn mang vết đinh.  Cạnh sườn Người vẫn còn dấu vết của cây giáo.  Lưng của Người vẫn còn các vết sẹo vì roi vọt, và đầu của Người vẫn còn các thương tích vì gai nhọn.

Khi các thánh trên trời nhìn thấy các dấu vết này, họ phủ phục trước mặt Chúa Giêsu.  Họ bàng hoàng khi thấy sự đau khổ Người đã gánh chịu.  Sau đó thiên thần Gabrien đứng lên nói với Chúa Giêsu:

“Lạy Chúa, sự đau khổ mà Ngài gánh chịu ở thế gian thật lớn lao chừng nào!  Nhưng tất cả mọi người dưới thế có biết và có cảm kích những gì Ngài đã kinh qua vì họ, và yêu thương họ như thế nào không?”

Chúa Giêsu trả lời:

“Ô, không! Chỉ có một ít người ở Palestine biết điều đó.  Phần còn lại thì không nghe biết gì về ta.  Họ không biết ta là ai.  Họ không biết ta phải đau khổ thế nào, và ta yêu thương họ thế nào.”

Thiên thần Gabrien bàng hoàng khi nghe thế. Sau đó người nói với Chúa Giêsu:

“Làm thế nào những người còn lại ở dưới thế có thể biết về sự đau khổ và tình yêu của Ngài?”

Chúa Giêsu nói:

“Trước khi từ giã, ta có nói với Phêrô, Giacôbê, và Gioan, và một vài người bạn của họ, là hãy đi nói với toàn thể thế giới về ta.

“Họ nói với nhiều người mà họ có thể.  Những người ấy, đến lượt họ, sẽ nói với người khác.  Theo cách ấy, sau cùng toàn thể thế giới sẽ biết về tình yêu của ta dành cho họ.”

Bấy giờ thiên thần Gabrien lại càng bối rối hơn nữa.  Vì thiên thần biết loài người dễ thay đổi chừng nào.  Người biết họ dễ quên chừng nào.  Người biết họ dễ hồ nghi chừng nào.  Do đó người quay sang Chúa Giêsu và nói:

“Nhưng, lạy Chúa, nếu Phêrô, Giacôbê, và Gioan mệt mỏi hay thất bại thì sao?  Nếu họ quên Ngài thì sao?  Nếu họ bắt đầu có những hồ nghi về Ngài thì sao?

“Và ngay cả khi không có điều gì xảy ra, nếu những người được nghe họ nói trở nên thất vọng thì sao? Nếu họ quên đi thì sao?  Nếu họ bắt đầu có những hồ nghi về Ngài thì sao?

“Ngài không nghĩ đến các điều này hay sao?  Ngài không có một kế hoạch hậu thuẫn hay sao – nếu trong trường hợp?”

Chúa Giêsu trả lời:

“Ta có nghĩ đến tất cả những điều này, nhưng ta quyết định không có một kế hoạch hậu thuẫn.  Đây là kế hoạch duy nhất ta có.

“Ta trông nhờ vào Phêrô, Giacôbê, và Gioan không làm ta thất vọng.  Ta trông nhờ vào những người mà họ nói không làm ta thất vọng.”

Hai mươi thế kỷ sau, Chúa Giêsu vẫn không có kế hoạch nào khác.  Người trông nhờ vào Phêrô, Giacôbê, và Gioan, và họ đã không làm Người thất vọng.  Người trông nhờ vào những người mà các tông đồ nói với họ, và họ đã không làm Người thất vọng.  Và giờ đây Chúa Giêsu trông nhờ vào chúng ta.

Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng nhất của niên lịch phụng vụ.

Đó là ngày mà chúng ta cử hành việc Chúa Giêsu trở lại với Chúa Cha.

Chúng ta có thể so sánh Lễ Thăng Thiên với việc chuyền gậy từ lực sĩ này sang lực sĩ kia trong cuộc chạy đua tiếp sức.

Vào ngày này 2,000 năm trước, Chúa Giêsu đã chuyền chiếc gậy công việc của Người cho ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan.  Sau đó, đến lượt họ chuyền gậy này sang những người sau họ.  Lần lượt, những người này chuyền gậy cho chúng ta.  Và giờ đây đến lượt chúng ta chuyền gậy cho những người khác.

Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì?

Có phải nó có nghĩa chúng ta hãy ra đi và rao giảng về Chúa Giêsu, như các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan đã làm?  Có phải điều đó có nghĩa hãy đặt loa phóng thanh trong các thương trường và nói với mọi người về Chúa Giêsu?

Nó có thể có nghĩa như thế cho một số người, nhưng với hầu hết chúng ta nó có nghĩa căn bản hơn việc này.  Nó có nghĩa cơ bản hơn.  Nó có nghĩa sống lời giảng dạy của Chúa Giêsu ngay trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Cách bắt đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho thế gian là bắt đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho chính mình.  Một ngạn ngữ Trung Hoa có nói:

“Nếu có điều đúng trong tâm hồn, sẽ có sự mỹ miều trong con người.
Nếu có sự mỹ miều trong con người, sẽ có sự hài hòa trong gia đình.
Nếu có sự hài hòa trong gia đình, sẽ có trật tự trong quốc gia.
Nếu có trật tự trong quốc gia, sẽ có hòa bình trên thế giới.”

Cách mở đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho thế gian là bắt đầu sống lời Chúa trong cuộc đời mình.  Một khi chúng ta bắt đầu thi hành điều này, thông điệp của Chúa Giêsu sẽ bắt đầu gợn sóng trong thế giới.  Và nếu có đủ Kitô Hữu làm điều này, gợn sóng đó sẽ trở nên một cơn thủy triều, và thủy triều đó sẽ thay đổi mặt đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ mơ tưởng có thể được.

Đây là thông điệp của buổi lễ hôm nay.  Đây là thách đố mà các bài đọc hôm nay đề ra cho chúng ta.

Chúa Giêsu trông nhờ vào chúng ta.

Hãy kết thúc với những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Bài Giảng Trên Núi.  Trong ánh sáng của những gì chúng ta vừa nói, những lời này có một ý nghĩa đặc biệt.  Chúa Giêsu nói:

“Các con giống như muối cho toàn thể nhân loại.  Nhưng nếu muối mất vị mặn của nó, không cách chi làm cho nó mặn lại.  Nó trở nên vô dụng, bị quăng ra ngoài và người ta chà đạp lên.

“Các con giống như ánh sáng cho toàn thế giới.  Một thành xây trên núi thì không thể che giấu được.  Cũng thế, ánh sáng của các con phải chiếu tỏa trước mọi người, có như thế họ sẽ thấy những điều tốt lành các con làm và ngợi khen Cha các con ở trên trời.” (Mt 5:13-16).

Lm. Mark Link, S.J.

NƯỚC MẮT VÀ HẠNH PHÚC

Tôi cười khi tôi vui.  Tôi khóc lúc khổ đau.  Nụ cười biểu hiệu cho hạnh phúc.  Nước mắt tượng trưng cho nỗi buồn.  Như thế, trong hạnh phúc không có nước mắt.  Nhưng nước mắt có thể mời gọi hạnh phúc trở về.  Nước mắt là những lời giải thích về đau khổ.  Tôi có đau khổ tuyệt vọng, tôi có đau khổ ăn năn.  Bởi đấy, nước mắt cũng có hai dòng, một dòng tuyệt vọng, một dòng sám hối.

Nước mắt tuyệt vọng là nước mắt của con tim oán than chối từ một niềm tin.  Càng chối từ niềm tin bao nhiêu thì nỗi đắng cay càng oan nghiệt bấy nhiêu.  Nước mắt tuyệt vọng là ngọn than hồng thắp lửa thêm cho đau khổ và khi đau khổ bùng cháy sẽ tiêu diệt đời mình.

Nước mắt ăn năn là nỗi nhớ thương của một tâm hồn gởi một tâm hồn. Nước mắt ăn năn sẽ lôi kéo tình yêu trở về và nước mắt ăn năn là mời gọi duy nhất tình yêu không thể chối từ.

Lầm lẫn và yếu đuối giăng mắc đó đây, do đó tình yêu hoen ố, bởi đấy hạnh phúc chông chênh.  Vì lầm lẫn, tôi có thể làm người yêu tôi buồn.  Vì yếu đuối, tôi có thể phản bội người yêu tôi.  Yếu đuối và lầm lẫn như những thành tố làm nên cuộc đời.  Tôi chẳng thể tránh được yếu đuối.  Tôi không thể thoát khỏi lầm lẫn.  Dù không muốn, chúng vẫn chẳng thiếu vắng trong đời tôi.  Có yếu đuối là có bất toàn, có lầm lẫn là không trọn vẹn.  Vì thế không có tình yêu tuyệt hảo và hạnh phúc vô song trên cõi đời này.  Chỉ có hạnh phúc tương đối nên hạnh phúc ấy có thể nhạt nhòa.  Không có hạnh phúc tuyệt hảo thì cũng không có đau khổ vô cùng.  Bởi đó, trong dại dột tôi có thể học được khôn ngoan.  Trong đau đớn tôi vẫn có hy vọng tìm về niềm vui.

Lầm lẫn và yếu đuối gây thương tích cho hạnh phúc.  Thương tích nơi hạnh phúc chỉ được xoa dịu và tái sinh bằng nước mắt ăn năn.  Xin cho tôi biết khóc, biết chua xót ăn năn.  Bởi nếu tôi không biết khóc, biết xót xa hối hận thì tôi chẳng bao giờ mời gọi được hạnh phúc tôi đã đánh mất trở về.  Và như thế, đời tôi nghèo nàn, cơ cực.

Tình yêu là giây đàn rung lên hạnh phúc.  Chỉ cần sẽ chạm tay cũng đủ làm giây đàn im tiếng.  Chỉ cần một tư tưởng phản bội cũng làm cho tình yêu hoen ố.  Chỉ cần một chút oán thù cũng đủ làm cho mặt hồ bình an thành mờ đục.  Nhưng cái mầu nhiệm của tình yêu là chỉ cần một giọt nước mắt ăn năn cũng đủ để tình yêu tha thứ gọi hạnh phúc trở về.  Tình yêu nào khi nghe nước mắt sám hối nhớ thương mời gọi mà không trở về thì đấy không còn là tình yêu nữa.

Nước mắt rơi trong im lặng nhưng tiếng nói của nước mắt lại sâu như lòng biển, lại dài như chiều cao của trời.

Nhìn khóe mắt Phêrô, nước mắt đã chảy, và Chúa Yêsu chẳng còn cách nào khác là yêu thương bằng một tình yêu rộng lớn hơn.

Nhìn khóe mắt Mai Ðệ Liên, nỗi u buồn đọng đó, và Chúa Yêsu chẳng còn cách nào khác là để nỗi buồn đó thấm vào tim mình bằng những dòng máu tha thứ và yêu thương vô bờ.

Tội và đau khổ là định mệnh trong cuộc đời.  Tôi phải khiêm tốn nhìn nhận mình chẳng thể tránh khỏi.  Nhưng tội và đau khổ không có toàn năng lực chế ngự vĩnh cửu cuộc sống, chúng bị phá đổ bởi nước mắt.

Lạy Cha, xin cho con biết khóc mỗi khi tội trần con phạm.
Xin cho con được rửa tội hồn con bằng nước mắt ăn năn.

Và lạy Cha,

Ðừng bao giờ để con tuyệt vọng vì mất niềm tin là mất cả cuộc đời.

LM Nguyễn Tầm Thường S.J

NHÂN LOẠI ĐANG RẤT CẦN BÌNH AN GIÊSU

Trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, bình an luôn là khát vọng thiêng liêng và bất tận của con người.  Đây không chỉ là trạng thái không có chiến tranh, mà còn là điều kiện tiên quyết để con người sống và yêu thương nhau.  Quả thật, con người ở mọi nơi mọi thời luôn khao khát bình an, muốn sống tự do, hạnh phúc, không có chiến tranh.  Thế giới hòa bình giúp con người ngồi lại với nhau, bắt tay nhau xây dựng địa cầu.

Trải qua bao thăng trầm, nhất là trong thế kỷ XX đầy biến động với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng loạt cuộc xung đột khu vực, nhân loại đã rút ra một chân lý không thể chối cãi: chiến tranh chưa bao giờ là lối thoát, hòa bình mới là đích đến.

Thực tế cho thấy, chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào, luôn đi kèm với những hệ lụy, không chỉ tàn phá cơ sở vật chất, chiến tranh còn để lại những vết thương tinh thần kéo dài qua nhiều thế hệ.  Từ những thành phố đổ nát ở Ukraine, Dải Gaza, Sudan đến Yemen, Lebanon, Myanma…, hàng chục triệu người đã buộc phải rời bỏ nhà cửa, trở thành nạn nhân của các cuộc chiến mà họ không hề lựa chọn.

Báo cáo mới nhất của Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn cho biết, thế giới hiện có hơn 114 triệu người phải di tản, con số cao nhất trong lịch sử hiện đại.  Nạn nhân luôn là kẻ yếu người thua, dân thường, trẻ em và phụ nữ.

Giữa tiếng bom rơi và các loại máy bay tối tân gào rít trên bầu trời ở một số quốc gia, máu của người dân ở dải Gaza và ở Trung Đông cùng cuộc xung đột Nga – Ukraina kéo dài hơn 2 năm nay, đã và đang cướp đi hàng triệu người dân vô tội.

Nền hòa bình của nhân loại đang bị đe dọa nghiêm trọng.  Những người có lương tri trên thế giới luôn theo dõi sát sao và kêu gọi các bên liên quan ngừng bắn để ngồi lại với nhau giải quyết thông qua đàm phán hòa bình.

Trong bối cảnh đó, “bình an” càng trở nên có ý nghĩa.  Bởi lẽ, trong thế giới ngày nay, bình an không còn là điều hiển nhiên, mà là một lựa chọn có ý thức.  Bình an cần được nâng niu, trân trọng và gìn giữ Chúa đã nói với các tông đồ rằng: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con…” (Ga 14,27).  Thế giới hiện nay đang khao khát bình an của Chúa.

Bình an của Đức Ki-tô

Bình an cho anh em!” (Lc 24,36) là lời đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi sống lại và hiện ra với các môn đệ ngày thứ nhất trong tuần.

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao là ‘bình an’ mà không phải là giàu sang, tài giỏi, sức khỏe hay điều gì khác?

Thưa, vì nếu con người có tất cả những thứ đó mà không có bình an thì coi như chẳng có gì.  “Bình an” là quà tặng cao quý của Thầy để lại cho các học trò trước lúc ra đi.  Đó cũng là “Bình an” sau khi sống lại Chúa Giêsu sẽ tặng cho các môn đệ đang cửa đóng then cài vì sợ hãi.  “Bình an” là điều các ông đang cần đến hơn bao giờ hết.  Thế nên, với nghĩa nặng tình sâu trong tình thầy trò, đang lúc các môn đệ ưu sầu lo lắng.  Chúa Giêsu nói với các ông: “Anh em đừng xao xuyến!  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1); “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.   Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.  Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).  Người ban cho họ bình an, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng.

Tại sao bình an của Chúa Giêsu thế gian không thể ban tặng?

Thưa, vì Chúa Giêsu chính là bình an; là nguồn bình an, Người ban cho các môn đệ chính bình an của Người, bình an nội tâm, bình an tuyệt đối, bình an vượt xa sự hiểu của con người.  Có bình an Giêsu, con người các ông hoàn toàn đổi mới, ngờ vực trở nên vững tin, nhút nhát nên người can đảm, sống cửa đóng then cài, nay đi rao giảng Chúa Giêsu chết bị chôn trong mồ đã sống lại hiển vinh, mà chính các ông làm chứng, không sợ chết.

Bình An có tên là Giêsu

Chúa Giêsu chính là bình an đích thực.  Có bình an của Chúa Giêsu đồng nghĩa với có chính Chúa, “Bình An Giêsu.”  Có được Bình An Giêsu người ta sẽ cảm nhận được tâm hồn thanh thản, thể xác lành mạnh, bình an cả xác hồn.  Bình an này hướng các môn đệ về mầu nhiệm cách chung, nhiệm cục cứu độ, chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an này.

Bình an nội tâm của con tim, của con người với chính mình và với Thiên Chúa.  Đây là sự bình an nền tảng nhất.  Không có sự bình an này, thì không bình an nào khác có thể tồn tại.  Chúa Giêsu đã chào các môn đệ: “Bình an cho các con,” Người cũng truyền cho các ông: “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này” (Lc 10, 5-6).

Chúa Giêsu là chính sự bình an: “Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy.”  Các ông chỉ có được khi tuân giữ lệnh Chúa truyền là “yêu thương nhau” (Ga 13, 34).  Về vấn đề này, Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II nói: “Con đường của bình an chung cục phải đi qua trong tình thương và hướng tới việc tạo nên một nền văn minh tình thương.  Giáo hội chăm chú nhìn về Đấng là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con và bất chấp mọi đe dọa không ngớt gia tăng, Giáo hội không ngừng hy vọng, Giáo hội không ngừng kêu cầu và phục vụ hoà bình của nhân loại trên trái đất” (Dominum et Vivificantem đoạn 67).

Không thể có bình an nếu không có sự tha thứ.  Hãy tuân giữ luật yêu thương, và tha thứ cho nhau, ngay cả kẻ thù của mình (Mt 5, 44), thay vì luật báo thù.  Bạo lực sẽ dẫn đến bạo lực.  Báo thù không dẫn đến hoà bình.  Chỉ có tình thương mới đem lại bình an thực sự, vì Thiên Chúa là Tình yêu là nguồn bình an (Ga 4, 8, 16; Rm 16, 20).

Lạy Chúa, xin thương ban cho Hội Thánh được hiệp nhất và bình.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

NHƯNG CÒN LÀ GIÁO HỘI

“Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”

“Để làm công việc của Chúa Kitô – đúng theo nghĩa đen – Giáo Hội là đôi tay; để lên đường rao truyền Chúa Kitô, Giáo Hội là đôi chân; để công bố Lời Chúa Kitô, Giáo Hội là tiếng nói.  Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” – William Barclay.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi nói “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy,” Chúa Giêsu không chỉ nói đến tình yêu của chúng ta đối với Ngài; ‘nhưng còn là Giáo Hội’ của Ngài!

Như Eva hình thành từ cạnh sườn Ađam, Giáo Hội hình thành từ cạnh sườn Chúa Kitô.  Bạn không thể nói, “Lạy Chúa, vâng! Và Giáo Hội, không!”  Chính nhờ Giáo Hội, chúng ta chào đời trong đức tin, lãnh nhận bao ân tứ đức tin và lớn lên trong đức tin.

Tình yêu của Chúa Kitô thể hiện rõ nét qua ‘tông sắc’ của ‘Công Đồng đầu tiên’ về việc “Cắt bì hay không cắt bì!”  Các tông đồ với sự trợ giúp của Thánh Thần đã tìm ra giải pháp tối ưu cho nan đề!  Nhờ đó, Giáo Hội tránh được những thực hành không là trọng tâm của đức tin; cùng lúc loại bỏ những gì không thiết yếu – cho dẫu “cắt bì” là một truyền thống hàng ngàn tuổi.  Nguyên tắc vàng ‘khoan dung’ và ‘hiệp nhất’ được tuân thủ từ cả hai phía ‘bảo thủ’ lẫn ‘tiến bộ.’  Nhờ vậy, Tin Mừng tiếp tục toả lan, “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Gần gũi chúng ta hơn, tình yêu của Chúa Kitô thể hiện tỏ tường qua mật nghị bầu chọn Đức Lêô XIV.  Hồng y người Pháp Pierre nhận xét – bằng cách đảo ngược câu nói thời danh của nhà thơ Charles Péguy – theo đó, “Mọi thứ bắt đầu bằng thần bí và kết thúc bằng chính trị;” “Trong mật nghị, tôi đã trải nghiệm rằng, mọi thứ bắt đầu bằng chính trị và kết thúc bằng thần bí!”  Thế giới bàng hoàng!  Bạn có tin cơn lốc của Thánh Thần đã vần vũ một góc trời Rôma trong những ngày qua?  Hãy tin và biết rằng, Chúa Kitô muốn chúng ta yêu thương các Giám mục, Linh mục; đặc biệt, Đức Thánh Cha.  Chỉ cần một chút thời gian, bạn có thể tiếp cận ngài; biết các khó khăn của các mục tử, cả sự kiên trì của họ.  Chính nhờ các ngài, Thánh Thể hiện diện khắp nơi.  Hãy cám ơn Đức Thánh Cha, các Giám mục, Linh mục; cám ơn Giáo phận, Giáo xứ và cộng tác theo sức mình!

Anh Chị em,

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội!”  “Bạn không trở thành Kitô hữu từ phòng thí nghiệm; Giáo Hội sinh chúng ta như bà mẹ sinh con!  Tại giếng Rửa Tội Latêranô, có một bản khắc Latin: “Nơi đây, sinh ra một dân tộc, dòng dõi Thiên Chúa, bởi Thánh Thần, Đấng làm nước này nên phong phú.  Mẹ Giáo Hội sinh con cái trong sóng nước này!”  Đẹp không?  Chúng ta không thuộc về Giáo Hội như thuộc về một hiệp hội; nhưng như ‘cuống rốn’ nối kết sinh tử với mẹ mình!”  Mọi bà mẹ đều thiếu sót.  Khi ai nói tới các thiếu sót của mẹ mình, chúng ta che lại, chúng ta yêu chúng, thế thôi!  Tôi có yêu Giáo Hội như yêu Mẹ tôi?  Tôi có giúp Mẹ tôi đẹp hơn không?” – Phanxicô.  Đừng quên, tôi càng thánh thiện, khuôn mặt Mẹ tôi càng xinh; tôi càng bất xứng, khuôn mặt Mẹ tôi càng khó nhìn!  Mẹ tôi sáng láng hay lấm lem, tùy ở tôi!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không chỉ là con, ‘nhưng còn là Giáo Hội’ và Giáo Hội là Mẹ con.  Đừng để con quên, khuôn mặt Mẹ con xinh đẹp hay lấm lem, tuỳ con!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế