HOA VÀ RÁC

Những ngày gần Tết, hoa và cây cảnh được bày bán khắp mọi nẻo đường phố thị.  Đủ mọi loại hoa kiểng, lắm màu hương sắc.  Gia đình nào cũng mua hoa chưng Tết.  Tôi cũng mua cây mai nhiều nụ và mấy chậu hoa hồng hoa cúc để làm đẹp phòng khách.  Nâng niu, chăm sóc thật kỹ lưỡng.  Đến Mồng Ba Tết, hoa đã héo rụng đầy phòng.  Phải quét rác thôi, gom cả mai cả hoa đi đốt.  Ôi Hương sắc của hoa!  Hôm qua tươi đẹp, hôm nay héo tàn rụng úa.  Hôm qua “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa,” hôm nay quét bỏ như rác rưởi.

Thứ Tư Lễ Tro, nghĩ về hoa và rác như nghĩ về thân phận tro bụi của kiếp người theo lời Thánh Vịnh 102:

Đời sống con người giống như hoa cỏ
Như bông hoa nở trên cách đồng
Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi
Nơi nó mọc không còn mang vết tích.

Đời người cũng tựa đời hoa.  Khi tươi nở, hoa rực rỡ khoe sắc, hoa ngào ngạt toả hương, ai cũng yêu cũng quý.  Khi ủ rũ héo tàn, hương sắc của hoa rụng úa tàn tạ, chỉ mau vứt vào thùng rác.  Hôm trước nâng niu, hôm sau vứt bỏ.  Một đời hoa chóng tàn phai như lời sách Giảng viên:

“Phù hoa nối tiếp phù hoa,
chi chi chăng nữa cũng là phù hoa”(Gv 1, 2).

Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu.  Linh mục đọc “Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro” và xức tro trên trán tín hữu.  Đây là lời Thiên Chúa báo cho Ađam biết khi ông vừa phạm tội.  Giáo Hội cũng sẽ lặp lại những lời ấy trong phần xức tro để nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.

Nghi thức xức tro bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của dân Do thái.  Trong Cựu ước, mỗi khi muốn tỏ lòng ăn năn hối cải, người Do thái thường xức tro trên đầu, ngồi trên đống tro và mặc áo vải thô hoặc xé áo ra.  Việc xức tro và xé áo trước hết nói lên sự buồn phiền đau đớn vì đã phạm nhiều tội lỗi.  Việc xức tro và xé áo cũng làm cho tội nhân ý thức thân phận con người bọt bèo, cuộc đời mau chóng tàn phai như giấc mộng.  Đời người như một nắm tro bụi, chỉ một làn gió nhẹ thoảng qua đủ xoá sạch vết tích.

Sách Giảng Viên viết rằng: “Tất cả chỉ là phù vân.”  Phù là trôi nổi, huyền ảo.  Vân là mây.  Phù vân là bèo dạt mây trôi, là hay thay đổi, mau qua, tàn phai.  Mọi của cải vật chất trên trần gian này, kể cả cuộc sống của mỗi người đều là phù vân.  Văn chương Việt nam khi nói tới cái gì bấp bênh, vô định, chóng tàn, thường dùng hình ảnh bọt bèo:

“Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”(Nguyễn Du).

Bọt là bong bóng nước mong manh, tan trong chốc lát.  Hình ảnh bọt diễn tả cái vắn vỏi của cuộc đời.  Bèo gợi lên ý tưởng về sự lênh đênh, trôi nổi, vô định:

“Lênh đênh duyên nổi phận bèo.
Tránh sao cho khỏi nước triều đầy vơi”(Ca dao).

“Bèo dạt, mây trôi đành với phận” (Chu Mạnh Trinh)

Cuộc đời làm sao mà không bi đát khi nó là phù vân, khi nó vừa là bọt chóng tan, vừa là bèo trôi nổi, dật dờ không bến?

Cuộc đời tuy có là bèo bọt.  Phận người dù phù hoa, mau chóng tàn phai trở về bụi đất.  Con người bởi đất nhưng con người không bằng đất, con người có sinh khí, có hơi thở.  Sự cao cả của con người là bắt nguồn từ chính Đấng là Sự Sống, Đấng Hằng Sống, con người là hình ảnh và họa ảnh của Đấng dựng nên mình, Đấng vô thuỷ vô chung, nên sự sống con người mang hình thái bất diệt, vượt xa các loài được tạo dựng.  Lòng thương xót của Thiên Chúa không dựng nên con người, theo cái bên ngoài của Thiên Chúa, nhưng cho con người mang hình ảnh của Người.  Theo quan niệm của Nho Giáo, con người là sự tích tụ của tinh thần và khí chất nên con người có sự sáng suốt để hiểu các sự vật.  Là hoạ ảnh và hình ảnh của Thiên Chúa, con người có một phẩm giá trổi vượt trên các loài được tạo dựng, con người một phần giống Thiên Chúa bởi quyền cai quản trên vạn vật và bởi con người có trí khôn, tự do.

Ba việc đạo đức được nhắc nhở rất nhiều trong mùa chay là: Bố thí, ăn chay và cầu nguyện.  Đây là ba vũ khí tuyệt hảo để chống lại sự tấn công của ma quỷ và đền bù tội lỗi mình.  Những việc lành phúc đức này, khi được thi hành thì hãy làm với tất cả tấm lòng của mình; không làm để khoe khoang.  Chỉ cần Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho chúng ta là đã đủ rồi.  Đừng làm để được người đời khen và vì thế mà chúng ta mất đi lời khen tặng của Thiên Chúa. (x.Mt 6, 1-6).

Ăn chay và kiêng thịt, chịu tro chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi.  Canh tân nội tâm vẫn là trọng tâm của mùa chay.  Kiêng bớt các tội là điều mà Thiên Chúa mong muốn.  Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn.  Bớt nói hành, nói xấu, lười biếng việc đạo đức là điều phải thực hành.

Nói một cách hình tượng, thì con người của Mùa Vọng là một con người ÐI, con người hành hương, lòng tràn trề hy vọng đang tiến về cùng đích tối hậu của cuộc đời; con người của Mùa Phục Sinh là một con người ÐỨNG, tự do, chủ động và tự tin đối diện với thế giới, còn con người của Mùa Chay thì NGỒI trong thái độ chiêm nghiệm, trầm tư.  (Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống).

Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi.”  Ý nghĩa của lời đó quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết.  Vậy anh lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui…, anh nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng v.v… nhưng khi chết đến, anh mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho anh?  Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời?  Ðâu là bậc thang giá trị đời anh?

Có ba quan niệm sống có thể tạo ra một thái độ tiêu cực trước cuộc đời.

Một là cho rằng chết là hết, không còn gì tồn tại.  Nếu quả thực mọi sự sẽ chấm dứt với cái chết, nếu số phận người tốt kẻ xấu đều sẽ như nhau sau khi chết, thì người ta sẽ có lý mà lập luận rằng: Ta hãy ăn uống, vui chơi, hãy hưởng thụ giây phút hiện tại cho thoả thích, vì chết rồi sẽ chẳng còn gì!

Hai là tin vào thuyết định mệnh, nghĩa là tin rằng mọi sự đã được an bài sẵn và số phận của mỗi người đã được thần thánh định đoạt.  Nếu thế thì con người chẳng cần và chẳng có thể làm gì nữa, mọi cố gắng đều vô ích.

Ba là tin vào thuyết luân hồi, cuộc sống là một vòng luân chuyển, hết kiếp này qua kiếp khác.  Nếu kiếp này chưa đạt cõi phúc thì sẽ chờ kiếp sau, khi được đầu thai lại, luân hồi theo vòng nghiệp chướng.  Dĩ nhiên thuyết luân hồi không đương nhiên dẫn tới tiêu cực, nhưng dù sao cũng không dành cho cuộc sống hiện tại một giá trị và tầm quan trọng quyết định đối với số phận mỗi người.

Khác với ba quan niệm trên, Kitô giáo dạy rằng: Thiên Chúa thực sự giao cho ta chịu trách nhiệm về thế giới này và về sự thành công của cuộc đời chúng ta. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cữu. Chúa Giêsu khuyên chúng ta “phải lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”bằng cách “Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá”.

Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn minh họa bài học tỉnh thức của Mùa Chay.

Dụ ngôn người đầy tớ đợi chủ về: tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn.”  Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ.  Tỉnh thức để đợi chủ về.  Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm, chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình.  Vì thế người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời một cách hết sức tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay bây giờ.  Dụ ngôn người quản gia trung thành.  Quản gia chỉ là quản lý mà “ông chủ đặt lên coi sóc gia nhân, cấp phát thóc gạo đúng giờ đúng lúc.”  Mỗi người chúng ta là người quản lý của Thiên Chúa.  Sự sống, tài năng, trí thông minh, sức khoẻ, sắc đẹp… tất cả đều là do Chúa ban tặng.  Những gì mà ta có đều là của Chúa.  Người quản lý khôn ngoan phải biết nhìn xa, làm sao cho sự sống, trí tuệ, tài năng… giúp ta hướng tới những giá trị vĩnh cửu.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành.  Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa.  Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa.  Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn.  Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử.

Chờ đợi hướng về tương lai tức là hy vọng.  Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin.  Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng.  Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô.  Nhờ đức tin chúng ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.

Biết mình đang đi về đâu, người có lòng tin không vì thế mà đương nhiên hết còn cảm nhận tính bi đát của cuộc đời “phù vân, bèo bọt” vì họ vẫn là con người như mọi người, nhưng họ có một niềm hy vọng giúp họ giữ được thái độ lạc quan và an bình.

Biết rằng mình được cứu chuộc bằng giá máu Chúa Kitô, người Kitô hữu luôn có được điểm tựa an toàn cho hạnh phúc đích thực.

Con người là “hoa” và cũng là “rác,” nhưng với tình yêu Chúa Kitô, con người không còn là bèo bọt, không là phù hoa mà là con người của thần khí, trổ sinh những hoa quả của Thánh Linh (Gal 5, 22).  Làm việc thiện, luôn bình an, thư thái, tự chủ.  Nhờ đó, chúng ta sống một Mùa Chay thánh thiện.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

VỮNG TIN BƯỚC VÀO NĂM MỚI

Vậy là, cánh cửa của năm cũ đã chính thức khép lại, và ngay giây phút này, chúng ta đang đứng trước một trang giấy trắng tinh khôi của năm mới Bính Ngọ, đứng trước ngưỡng cửa của 365 ngày còn nguyên khôi phía trước, lòng mỗi chúng ta thường đan xen giữa niềm vui hy vọng và những lo âu thầm kín.  Chúng ta lo cho công việc, lo cho sức khỏe, và lo cho tương lai của con cái.  Nỗi lo ấy đôi khi giống như một gánh nặng làm chùn bước chân ta ngay từ vạch xuất phát.

Có một câu chuyện kể về cậu bé cùng cha đi băng qua khu rừng tối.  Khi bóng đêm bủa vây và những tiếng động lạ vang lên, cậu bé run rẩy nắm chặt lấy gấu áo cha mình.  Thấy vậy, người cha dừng lại và bảo: “Con đừng nắm áo cha nữa, hãy đưa bàn tay nhỏ bé của con đây để cha nắm lấy.”  Cậu bé ngạc nhiên hỏi cha sự khác biệt.  Người cha ôn tồn giải thích: “Nếu con nắm áo cha, khi con vấp ngã hay quá sợ hãi, con có thể tự buông tay ra.  Nhưng nếu cha là người nắm lấy tay con, thì dù con có vấp ngã hay mệt mỏi thế nào, cha cũng sẽ không bao giờ buông tay con ra đâu.”

Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe hôm nay: “Đừng lo lắng cho ngày mai” chính là lời mời gọi của một người Cha vĩ đại.  Thiên Chúa đang nói với mỗi chúng ta rằng: Hãy thôi nắm lấy những lo âu tự thân, mà hãy đưa tay ra để Ngài nắm giữ.  Bởi vì khi Chúa nắm tay ta, ngày mai không còn là một ẩn số đáng sợ, mà là một hành trình được bảo đảm bằng tình yêu quan phòng.

Năm nay là năm con Ngựa, một loài vật biểu tượng cho sức mạnh, sự bền bỉ và lòng trung thành.  Hình ảnh con ngựa sải bước trên đường dài mang lại cho chúng ta những suy tư sâu sắc về đời sống đức tin trong năm mới này.

Trước hết, con ngựa vốn nổi tiếng với sự bền chí.  Nó không bao giờ đi giật lùi, mà luôn lao về phía trước.  Chúa dạy chúng ta “đừng lo cho ngày mai” không phải để chúng ta đứng yên hay thụ động, nhưng là để chúng ta dồn toàn bộ năng lượng của “sức ngựa” vào giây phút hiện tại.  Thay vì mệt mỏi vì những giả định chưa tới, hãy bền bỉ sống tốt, làm việc công chính và yêu thương ngay hôm nay.  Khi chúng ta tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước hết, nghĩa là chúng ta đang đặt hướng chạy của đời mình vào đúng quỹ đạo của sự thiện.

Thứ đến, con ngựa là loài vật nhạy bén với ý chủ.  Một con ngựa quý không chỉ chạy nhanh, mà còn phải biết dừng, biết rẽ theo ý người cầm cương.  Trong năm mới này, Thiên Chúa chính là người cầm cương cuộc đời chúng ta.  Sống tín thác là biết lắng nghe những “cái giật dây cương” của lương tâm, của Lời Chúa, để dù cuộc đời có nhiều ngã rẽ cám dỗ, chúng ta vẫn không lạc lối.  Con ngựa chỉ thực sự oai phong khi nó thuộc về một người chủ giỏi; chúng ta chỉ thực sự bình an khi cuộc đời chúng ta thuộc trọn về Chúa.  Cuối cùng, con ngựa còn tượng trưng cho lòng trung thành.  Người ta bảo “khuyển mã chi tâm” để nói về sự tận tụy.  Bước vào năm mới, chúng ta hãy xin Chúa cho mình một trái tim trung thành như thế.  Dù hành trình phía trước có gập ghềnh như đường rừng, có nắng cháy như sa mạc, xin cho ta đừng vì một chút khó khăn mà buông bỏ đức tin, đừng vì một chút lợi lộc mà đánh mất đức công chính.

Thưa cộng đoàn, Chúa hứa rằng nếu chúng ta ưu tiên tìm kiếm Nước Ngài, Ngài sẽ lo liệu mọi thứ khác cho chúng ta.  Tìm kiếm Nước Thiên Chúa không phải là điều gì cao siêu, mà là sống trọn vẹn bổn phận của mình với lòng mến.  Là người cha biết hy sinh, là người mẹ biết bao dung, là người con biết hiếu thảo, và là người thợ biết trung thực.  Đó chính là lúc ta đang thắp sáng ánh sáng của Chúa giữa trần gian.

Trong ngày Mùng 1 Tết này, chúng ta thường chúc nhau “Mã đáo thành công.”  Với người Kitô hữu, thành công lớn nhất không phải là thu tích được nhiều của cải, mà chính là “Mã đáo Hồng Ân,” có được Hồng ân của Thiên Chúa trong cuộc đời, là ta thấy mình gần Chúa hơn và yêu người hơn.

Ngày Mùng 1 Tết, xin Chúa chúc lành cho “sức ngựa” của mỗi người chúng ta.  Xin cho chúng ta đừng là những con ngựa bất kham chạy theo những ham muốn mù quáng, nhưng hãy là những chiến mã trung thành của Tin Mừng.

Nguyện xin Chúa Xuân ban cho chúng ta đôi chân vững chãi để vững bước, một trí tuệ minh mẫn để nhận ra ý Chúa, và một tâm hồn bình an để luôn tin tưởng rằng: Chỉ cần có Chúa cầm cương dẫn dắt, mỗi bước chân của chúng ta trong năm mới này đều sẽ dẫn tới bến bờ hạnh phúc và ân sủng.  Ước mong trong suốt 365 ngày tới, dù hành trình có gập ghềnh hay bằng phẳng, mỗi chúng ta luôn biết bình thản bước đi dưới sự điều khiển của Thiên Chúa.  Bởi khi Chúa cầm cương, mỗi bước chân của chúng ta: “Bính Ngọ Tiến Bước” đều là bước chân của bình an, và mỗi chặng đường chúng ta đi qua đều thấm đẫm ân sủng của Nước Trời: “Mã Đáo Hồng Ân.”  Amen!

Lm Paul N.N

SỰ CÔNG CHÍNH VÀ NHỮNG “LƯỠI DAO” VÔ HÌNH

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một cái “click” chuột hay một dòng bình luận trên mạng xã hội.  Cách đây không lâu, dư luận từng bàng hoàng trước câu chuyện về một nữ sinh trung học.  Chỉ vì một vài tấm ảnh bị cắt ghép và những lời đồn thổi ác ý trên Facebook, cô bé đã phải gánh chịu làn sóng “bạo lực mạng” khủng khiếp.  Hàng ngàn người không hề quen biết đã nhảy vào sỉ nhục, chửi bới bằng những lời lẽ tàn độc nhất.  Không chịu nổi sức ép của dư luận và sự nhục nhã, cô bé đã chọn cách tự kết thúc cuộc đời mình để chứng minh sự trong sạch.

Chúng ta thường bước vào nhà thờ với một sự an tâm nhất định về lương tâm mình.  Chúng ta tự nhủ: “Tôi không trộm cắp, tôi không ngoại tình, và quan trọng nhất, tôi không giết người.”  Thế nhưng, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng một thanh gươm sắc bén của Lời Chúa để đâm thấu vào sự tự mãn đó.  Ngài kiện toàn lề luật cũ không phải bằng cách nới lỏng, mà bằng cách đẩy nó đến tận cùng của căn nguyên: trái tim con người.

Chúa nói: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ giết người…  Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa.”  Chúa đang chỉ cho chúng ta thấy một thực tế phũ phàng: Có những cái chết không cần đến gươm giáo, và có những kẻ sát nhân vẫn đang thản nhiên mặc áo trắng đi dự tiệc thánh mỗi ngày.  Đó chính là tội “giết người không dao.”  Hãy nhìn vào xã hội hôm nay, nơi mà không gian mạng đã trở thành một “pháp trường” không tiếng súng.  Mỗi dòng bình luận ác ý là một nhát dao.  Mỗi lượt chia sẻ đầy sự phán xét là một lần bóp cò.  Nạn nhân ngã xuống, còn những kẻ “sát nhân mạng” vẫn vô tư tắt máy tính, đi ngủ và tin rằng mình vẫn là người công chính vì đôi tay họ chưa hề chạm vào máu.  Nhưng “vũ khí” không chỉ nằm trên bàn phím.  Nó nằm ngay trong lời nói hằng ngày của chúng ta.  Một lời vu khống có thể hủy hoại cả danh dự của một đời người.  Một sự im lặng lạnh lùng trong gia đình có thể giết chết niềm vui của người bạn đời.  Một ánh mắt khinh miệt có thể dập tắt hy vọng của một người đang lầm lỡ.

Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã thấu suốt bản chất của sự ác khi Ngài dạy: “Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra hỏa hình.”  Ngài cảnh báo chúng ta rằng, tội giết người không chỉ bắt đầu khi máu chảy, mà nó bắt đầu ngay từ khi sự kính trọng đối với nhân phẩm người khác bị dập tắt trong lòng chúng ta.

Ngày nay, “giết người không dao” còn mang nhiều hình thái tinh vi và đáng sợ hơn nữa:

Giết chết danh dự bằng sự vu khống: Chúng ta dễ dàng chia sẻ một tin đồn thất thiệt về đồng nghiệp, về người láng giềng mà không cần kiểm chứng.  Một khi danh dự bị bôi nhọ, dù sau này có được minh oan, vết sẹo trong lòng họ và cái nhìn của xã hội vẫn không bao giờ mờ đi.

Giết chết tâm hồn bằng sự lạnh lùng: Trong gia đình, đôi khi vợ chồng không đánh chửi nhau, nhưng lại dùng “chiến tranh lạnh.”  Sự im lặng đáng sợ, sự thờ ơ không quan tâm đến cảm xúc của nhau cũng là một cách giết chết dần mòn mầm sống của tình yêu và sự hạnh phúc.

Giết chết tương lai bằng sự xét đoán: Khi chúng ta dán nhãn một người lầm lỡ là “kẻ xấu” và không cho họ cơ hội phục thiện, chúng ta đang đóng sầm cánh cửa cuộc đời của họ.  Đó là một kiểu giết chết niềm hy vọng.

Thưa cộng đoàn, Sự công chính mà Chúa đòi hỏi ở người Kitô hữu là một sự công chính đầy xót thương.  Chúa không chỉ bảo ta đừng cầm dao, mà Ngài còn bảo ta hãy để của lễ lại trên bàn thờ mà đi làm hòa với anh em trước đã.  Thiên Chúa không chấp nhận của lễ từ những bàn tay đang nắm chặt sự oán hờn.  Ngài không nghe lời kinh từ những đôi môi vừa mới thốt ra những lời độc địa làm tan nát lòng người.  Chúa dạy chúng ta rằng, nếu tay ta sạch mà lòng chúng ta đầy nọc độc của sự giận ghét, thì chúng ta vẫn chưa thể bước vào Nước Trời.  Người công chính không chỉ là người không cầm dao, mà là người biết dùng môi miệng để chúc lành, dùng đôi tay để nâng dậy, và dùng trái tim để bao dung cho những khiếm khuyết của anh em mình.

Xin Chúa giúp chúng ta ý thức rằng, mỗi lời nói của mình đều có sức mạnh: hoặc là gieo mầm sống, hoặc là gieo sự chết.  Xin cho chúng ta luôn chọn gieo mầm sống bằng tình yêu và sự thật.  Xin ban cho chúng con một trái tim mới – một trái tim đủ rộng lớn để bao dung, đủ khiêm nhường để làm hòa, và đủ công chính để sống theo sự thật.  Nhờ đó, cuộc đời chúng con sẽ trở thành một bài ca chúc tụng lòng thương xót Chúa, hôm nay và mãi mãi. Amen.

Lm Paul N.N

TINH TÚY CỦA LỀ LUẬT

Trong năm 1998, tờ Washington Post có đăng một câu chuyện của Mục Sư Daniel Crocker sống ở ngoại ô Virginia.  Ông làm quản lý một kho hàng nên đời sống khá tươm tất, nhưng ông không thực sự hạnh phúc bởi vì lương tâm của ông vẫn bị ray rứt bởi một điều bí ẩn, đó là mười chín năm trước, ông đã giết một phụ nữ ở Kansas tên là Tracy Fresquez và người ta không tìm ra thủ phạm.

Tuy vụ án đã chìm vào quên lãng nhưng ông Daniel không thể quên được.  Sau cùng, ông trở về với Thiên Chúa để xin ơn tha thứ và trở nên một Kitô Hữu.  Ông lập gia đình, có hai con và ngày càng lớn lên trong đức tin và chính ông trở thành một mục sư trong Giáo Hội Tin Lành.  Tuy vậy, ông vẫn không đủ can đảm để trình diện với nhà chức trách về tội ác ghê tởm mà ông đã phạm mười chín năm trước đây.

Mục Sư Daniel làm tuyên uý nhà tù và một ngày kia sau khi thi hành công tác mục vụ ở nhà tù về, ông tiết lộ bí mật đó với vợ ông, bà Nicolette.  Sau đó hai người bàn tính việc thú tội với nhà chức trách ở Kansas.  Điều khó khăn nhất cho ông là phải nói thế nào với hai con nhỏ của ông, một đứa chín tuổi và một đứa tám tuổi, về việc từ giã các con để đi tù.

Đến ngày ra đi, các con ông khóc nức nở, nài nỉ ông đừng đi, và ông nói: “Bố phải trình diện thú tội.  Vì nếu bố dậy các con phải sống Lời Chúa mà bố lại không thi hành thì bố là người giả hình.”  (trích và dịch trong Prison Fellowship Ministries).

Câu chuyện này, nói chung, đưa đến hai phản ứng khác nhau của người nghe.  Có người khâm phục Mục Sư Daniel vì đã can đảm sống đức tin của mình, nhưng cũng có người cho là ông đã dại dột ra trình diện để bị tù, bởi vì tội giết người của ông đã chìm vào quên lãng.  Hai phản ứng này tiêu biểu cho những người có đức tin vào Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu nhưng cũng vô cùng công bằng, và những người không tin có sự sống bất diệt ở đời sau nên cũng không có Đấng nào để xét xử.

Xã hội loài người cần có các luật lệ để điều hòa trật tự trong xã hội.  Trong Do Thái Giáo và Kitô Giáo có Mười Điều Răn để hướng dẫn đời sống con người nói chung, nhưng vì ảnh hưởng của tội nguyên thủy nên con người không thể làm chủ chính mình, do đó trong Do Thái Giáo, họ còn viết ra hàng trăm điều luật để hướng dẫn tín hữu.  Giáo Hội Công Giáo cũng có bộ Giáo Luật để hướng dẫn đời sống giáo dân.  Chúa Giêsu cũng xác nhận sự cần thiết của lề luật, “Đừng nghĩ rằng Thầy đến để phá bỏ lề luật hay lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải để bác bỏ nhưng để kiện toàn” (c. 17).

Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật như thế nào?  Qua bài phúc âm hôm nay, chúng ta thử đưa ra một vài điểm của lề luật để có thể áp dụng vào đời sống theo tinh thần của Chúa Giêsu.

Trước hết, chúng ta cần nhìn thấy lý do sâu xa của lề luật.  Thí dụ, lý do của luật đi đường là giữ an toàn cho mọi người, nhưng người vượt đèn đỏ gây tai nạn bởi vì họ chỉ nhìn thấy đèn xanh đỏ và không có bóng dáng cảnh sát, chứ họ không nghĩ đến sự an toàn là lý do chính của luật.

Hoặc Giáo Hội kêu gọi chúng ta tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật với hy vọng là qua các bài đọc, bài giảng, nghi thức phụng vụ, chúng ta sẽ thay đổi lối sống của mình ngày càng tốt hơn, chứ đừng cho rằng các hình thức đạo đức bên ngoài là đã chu toàn bổn phận của một tín hữu Kitô.

Chúa Giêsu đã cảnh cáo các môn đệ ngày xưa, và gián tiếp cảnh cáo chúng ta ngày nay về thái độ đạo đức bề ngoài, “Nếu sự công chính của anh [chị] em không trổi vượt hơn các kinh sư và Biệt Phái, anh [chị] em sẽ không vào được Nước Trời.”  Các kinh sư và Biệt Phái là những người tuân giữ lề luật rất cặn kẽ, họ giảng dạy người khác về luật của Chúa nhưng họ không thay đổi đời sống theo tinh túy của lề luật.  Vì thế Chúa nói, “Hãy thi hành và tuân giữ mọi điều họ nói với anh em, nhưng đừng theo gương của họ.  Vì họ giảng dạy nhưng họ không thực hành” (Mt 23:3).  Nói cách khác, nếu chúng ta chỉ chú ý đến các hình thức đạo đức bên ngoài thì Kitô Giáo sẽ chẳng ích lợi gì cho chúng ta.

Khi không thấy được lý do sâu xa của luật lệ, người ta sẽ coi luật lệ của Hội Thánh là một cản trở sự tự do của con người.  Thực tế là việc chuẩn bị hôn nhân.  Giáo Hội yêu cầu các đôi nam nữ phải trải qua sự chuẩn bị này trước khi kết hôn với hy vọng là họ sẽ được chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bước vào một đời sống mà chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn.  Rất tiếc, nhiều người coi đó như một gánh nặng của lề luật nên họ tìm cách tránh né hoặc thi hành cách hời hợt.

Điểm thứ hai là chúng ta cần để ý đến động lực của hành động.  Việc giết người có thể phát sinh từ động lực là sự tức giận.  Chúa nói, “ai tức giận anh em mình thì đáng bị luận phạt.”  Chỉ tức giận thôi, chưa cần phải giết người thì cũng đã bị lên án.  Điểm chính là Chúa muốn chúng ta ngăn chặn hành động xấu xa ngay từ bên trong tâm hồn, bởi vì người ta có thể giết người không cần gươm giáo, súng đạn mà bằng những âm mưu thâm độc.

Tương tự như vậy đối với tội ngoại tình.  Chúa nói, “Ai nhìn người đàn bà với sự thèm muốn thì đã ngoại tình với người ấy trong tâm hồn.”  Chúa Giêsu nhìn đến trọng tâm của hôn nhân là tình yêu.  Nếu vợ chồng không kềm hãm động lực của ngoại tình là sự thèm muốn, hậu quả là gia đình sẽ tan vỡ vì tình yêu vợ chồng không còn nguyên vẹn, đằm thắm như trước.

Điểm cuối cùng là sống ngay thẳng.  Chúa dạy chúng ta, “Có thì nói có, không thì nói không.  Mọi sự thêm bớt là từ ác quỷ.”  Có lẽ đây là điểm khó khăn nhất cho chúng ta, những người muốn theo Chúa Kitô mà phải sống trong một xã hội tân tiến, dồi dào tiện nghi nên sinh ra nhiều cám dỗ đủ mọi loại – giầu sang, danh vọng, chức quyền, v.v…, và rồi chúng ta buông xuôi, sống trôi nổi theo dòng đời.

Điều nguy hiểm khi sống không ngay thẳng là lương tâm của chúng ta không còn đúng đắn theo các lời khuyên của Chúa trong Phúc Âm, và thay vì trở nên “muối cho đời, và ánh sáng cho thế gian”, thay vì đem đạo vào đời, chúng ta lại đưa đời vào đạo trong các đoàn thể, các sinh hoạt đạo đức trong nhà thờ.  Như thế, những công việc phục vụ Giáo Hội và tha nhân, thay vì giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của đời sống và rèn luyện bản thân, nó có thể trở nên cơ hội để kiếm danh vọng, địa vị, để được tiếng khen là đạo đức mà những cám dỗ ấy quá mạnh đến độ chúng ta không còn ngay thẳng, không còn chính trực trong lối đối xử.

Tóm lại, luật lệ, nói chung, để đem lại hạnh phúc cho con người, và Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật bằng cách nêu cao mục đích sâu xa của lề luật, đó là để giúp chúng ta có được hạnh phúc đích thực mà hạnh phúc đó không do bởi thỏa mãn dục vọng, hay ý muốn riêng của mình nhưng bởi làm chủ được con người của mình.

Con người được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, và một trong những điểm quan trọng là sự tự do.  Thiên Chúa có tự do hành động thì loài người cũng được tự do lựa chọn.  Trong cuộc sống hàng ngày, hầu như lúc nào chúng ta cũng phải lựa chọn, đúng như bài đọc I hôm nay đã nói, “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, ai thích điều gì thì sẽ được điều đó…  Nếu con chọn tuân giữ các giới răn, các giới răn đó sẽ giải thoát con.”  (Dịch theo New American Bible, Revised Edition – Sir. 15:15-17).  Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay cũng nói, “Phúc cho ai tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa!”  Cầu mong sao chúng ta thấy được tinh túy của lề luật và can đảm vâng phục.

Pt Giuse Trần Văn Nhật

KHIÊM TỐN, BẢN NGÃ VÀ CAO CẢ

Đối với đa số chúng ta, tôi ngờ rằng chữ bản ngã có một nghĩa tiêu cực.  Kết án ai có bản ngã to là kết án họ quá tin vào họ, tự thổi phồng, tự cao và thiếu khiêm tốn.  Lúc nào chúng ta cũng cho bản ngã và khiêm tốn là ngược nhau.  Có bản ngã to là không khiêm tốn.

Nhưng điều này có vẻ đơn giản và sai.  Có bản ngã mạnh và lớn không nhất thiết là xấu.  Đúng ra, đó là một điều cần thiết, đặc biệt khi chúng ta thực hiện một cái gì có giá trị.  Không một ai làm một cái gì lớn mà không có bản ngã mạnh, và điều này không có nghĩa là họ không khiêm tốn.

Ví dụ:

Ít ai nghĩ mẹ Têrêxa có bản ngã lớn.  Khi nghĩ về mẹ, chúng ta nghĩ đó là một người khiêm tốn bẩm sinh.  Nhưng, rõ ràng, mẹ có một bản ngã khổng lồ, một hình ảnh tự hào rất mạnh, cho phép mẹ đứng thẳng trước toàn cầu để xác quyết chân lý, xác quyết mẹ có giá trị và tin chắc tầm quan trọng của mẹ.  Mẹ có thể đứng trước bất cứ ai trên thế giới và cho họ biết con người của mẹ và lời nói của mẹ là quan trọng.  Phải có một bản ngã rất mạnh mới làm được điều này, bản ngã của họ mạnh hơn bản ngã của đa số chúng ta.  Mẹ ý thức mẹ là khí cụ duy nhất và được Chúa chúc phúc trong thế giới này, mẹ đủ yên tâm để hành động.

Dù vậy mẹ lại khiêm tốn.  Lúc nào mẹ cũng ý thức rằng những điều làm mẹ trở nên duy nhất, cá biệt và vững mạnh không bao giờ xuất phát từ bản thân mẹ mà đến từ Thiên Chúa.  Mẹ chỉ là một băng tần của quyền năng và ân sủng của một ai đó.  Mẹ có một bản ngã khổng lồ nhưng mẹ không ích kỷ.  Mẹ không bao giờ chứa đầy cái tôi, mẹ chỉ chứa đầy Thiên Chúa.

Người ta cũng có thể nói như vậy với đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: ngài khiêm tốn nhưng rõ ràng ngài có một bản ngã cũng khổng lồ.  Ngài có thể đứng trước hàng triệu người, giang tay ra và nói: “Cha thương các con!” (Với cả hệ luận đi kèm?), “Và quan trọng là các con phải nghe cha!”  Bản ngã của ngài phải rất mạnh mới nói được như vậy.  Đa số chúng ta sẽ run khi làm như vậy.  Chúng ta sẽ bị khống chế bởi hàng trăm rào cản nội tâm, chúng làm chúng ta tê liệt với các câu: “Bạn nghĩ bạn là ai mà nói như vậy!  Ai cho bạn có quyền nghĩ rằng cả thế giới muốn nghe bạn nói bạn thương họ?”

Thêm một lần nữa, cũng giống như mẹ Têrêxa, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng sẽ nói  như vậy và ngài vẫn khiêm tốn, vì ngài biết rõ, những gì tạo nên ngài là người duy nhất, ân sủng không đến từ ngài và thuộc về ngài.  Ngài chỉ là băng tần.  Ngài có thể tiếp cận tầm cao cả và tự nhiên với tầm cao cả này, nhưng ngài không tự cho mình là cao cả và đòi hỏi tầm cao cả này cho riêng mình.  Đó là khác biệt giữa khiêm tốn và cao cả, giữa cao lớn và ích kỷ.  Một người ích kỷ có thể tiếp cận cao cả, nhưng khác với các vị thánh, người ích kỷ lấy bản sắc mình ở đó và cho rằng tự mình làm nên chuyện cao cả này.

Về mặt thiêng liêng, chung chung người ta khó chấp nhận tầm quan trọng của bản ngã và thường chối bỏ thẳng thừng vai trò của bản ngã trên tầm cao cả, đặc biệt là tầm cao cả thiêng liêng.  Cách này cách khác, chúng ta không chấp nhận các thánh như thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng là những người có bản ngã khổng lồ – những người có niềm tự phụ lớn, nghĩ rằng họ là những người quan trọng đặc biệt.  Thay vào đó, chúng ta thường phản chiếu lên họ một hình ảnh sai về khiêm tốn, mà đối với họ thì không đúng và làm chúng ta tổn thương.

Nó làm chúng ta tổn thương, vì đa số chúng ta, vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta, kể cả đời sống thiêng liêng, chính là bản ngã của chúng ta quá yếu.  Chúng ta mang một hình ảnh quá yếu đến mức không cho phép chúng ta làm một cái gì thật sự lớn hoặc đúng để trải rộng tình thương và lòng nhiệt thành.

Bởi vì hình ảnh chúng ta quá yếu, không giống như mẹ Têrêxa và đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, chúng ngăn không cho chúng ta mở rộng lòng ra, nói lên chân lý và tình yêu đích thực của chúng ta.  Chúng ta có quá nhiều tiếng nói bên trong (chắc chắn nguồn gốc của nó là từ những tiếng nói bên ngoài) làm chúng ta bị tê liệt với những câu nói thường lệ: “Bạn nghĩ bạn là ai!  Đúng là tự hào và kiêu hãnh!  Đúng là bản ngã!  Bạn chưa có năng khiếu hoặc chưa giỏi để làm!  Không ai cần đến bạn!”

Như thế, không phải vì bản ngã chúng ta mạnh nhưng vì nó yếu nên chúng ta mới cần bảo vệ nó.  Chúng ta chiến đấu để trở nên yếu mềm, chứ không phải chiến đấu để thành hoang tưởng và bảo vệ chúng ta.  Tại sao?  Chính xác vì chúng ta không đủ tự tin bên trong, vì bản ngã và niềm tự tin của chúng ta lung lay.  Thánh Phanxicô Assisi, Têrêxa Avila, Gioan Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng không bao giờ cần tự bảo vệ họ.  Họ đủ yên tâm để tỏ ra yếu mềm.  Họ có bản ngã vững mạnh.

Chúng ta nên luôn luôn biết mệt về tính kiêu căng và ích kỷ.  Tuy nhiên, khiêm tốn giả tạo không làm cho chúng ta tránh được kiêu căng.  Thay vào đó, nó ngăn cản chúng ta đến với  nhiệt thành, yêu thương và những điều cao cả.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

MỘT ĐỜI LÀM MUỐI, MỘT ĐỜI LÀM ÁNH SÁNG

Khi tôi mới về giáo xứ, có lần đi xức dầu vào lúc 2 giờ sáng, đi ngang qua những cánh rừng cao su bạt ngàn, tôi thấy một cảnh tượng lạ lùng: những ánh đèn le lói ẩn hiện giữa màn đêm đặc quánh.  Tôi bấu vai ông trùm kêu lên… cái gì kìa?… và cuối cùng cũng chợt nhận ra: khi cả thế giới còn đang chìm trong giấc ngủ sâu, có những “vầng trăng nhỏ” bắt đầu lay động.  Đó là ánh đèn soi trên trán của những người cha, người mẹ làm nghề cạo mủ.  Họ đi vào bải lô khi trời còn chưa rõ mặt người.  Trong bóng tối lạnh lẽo và mùi mủ nồng nặc, họ lặng lẽ làm việc.  Dưới ánh đèn pin leo lét, bàn tay cha thoăn thoắt những nhát dao bén ngọt, chuẩn xác để dòng “vàng trắng” tinh khôi chảy đều vào bát sứ, đôi tay mẹ gầy guộc hứng trọn từng giọt mồ hôi rơi xuống cùng dòng mủ.  Họ chấp nhận thức, khi đời đang ngủ, chấp nhận bào mòn sức lực giữa cái lạnh thấu xương của sương đêm để đổi lấy manh áo, quyển vở cho con đến trường.  Quả là một sự hy sinh lớn lao.

Sự hy sinh đó chính là minh chứng sống động nhất cho lời Chúa dạy: “Chính anh em là muối cho đời… là ánh sáng cho trần gian.”  Chúa không bảo ta “hãy làm” muối, Ngài khẳng định: “Anh em  muối.”  Để bát canh thêm đậm đà, hạt muối phải chấp nhận tan biến.  Nếu muối không tan, nó chỉ là những tinh thể vô dụng.  Nếu ta chỉ sống cho riêng mình, giữ lại “độ mặn” cho bản thân, chúng ta sẽ không thể làm cho cuộc sống của những người xung quanh trở nên ý nghĩa hơn.  Còn ánh sáng, Ánh sáng cũng vậy, không ồn ào, chỉ cần được thắp lên là bóng tối phải lùi xa.  Ánh đèn soi trên trán người thợ cạo mủ tuy nhỏ bé, nhưng nó đủ để họ không bước hụt vào hố thẳm, đủ để nhìn rõ dòng mủ quý giá.  Ánh đèn ấy hướng về phía trước để soi đường.

Vì thế, lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, cách riêng các bậc cha mẹ trong xứ đạo ta: Hãy giống như hạt muối phải tan đi mới làm cho thức ăn đậm đà, hãy “tan đi” tuổi trẻ, giấc ngủ và sức khỏe của mình để cuộc đời con cái không bị nhạt nhẽo, bần hàn, để nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác các con.  Hãy là Ánh sáng: Ánh đèn soi của người thợ cạo không soi sáng cả cánh rừng, nhưng đủ để thấy thân cây, thấy từng đường dao phải cạo cho đúng.  Chỉ cần lệch tay, cây sẽ bị tổn thương, mủ sẽ cạn dần.  Ánh đèn soi của người thợ cạo không chiếu sáng cho chính họ, mà chiếu vào thân cây để tìm dòng mủ, chiếu xuống con đường để bước đi vững chãi.  Kitô hữu cũng phải là ánh sáng, không phải để khoe mình, nhưng để soi đường cho người khác nhận biết sự nhân lành của Thiên Chúa.

Con cái ta, chúng không nhìn vào những gì ta nói, mà chúng nhìn vào cách ta sống.  Khi cha mẹ chấp nhận thức dậy từ lúc trời còn tối mịt, khi đôi bàn tay chai sần vì nhát dao cạo, khi những giọt mồ hôi mặn chát thấm vào lòng đất đỏ, ấy là lúc cha mẹ đang dạy con bài học lớn nhất về sự hy sinh.  Đó chính là lúc cha mẹ đang là “Muối.”  Hạt muối không bao giờ kể công, nó âm thầm tan đi để bát cơm của con được ngọt, để tương lai của con được đậm đà hơn.  Xin đừng sợ mình bị hao mòn, vì chính sự “tan ra” của cha mẹ là dưỡng chất nuôi lớn tâm hồn và nhân cách của con cái.

Hãy nhớ rằng chiếc đèn soi trên trán cha mẹ giữa rừng đêm không chỉ để tìm dòng mủ, mà nó còn là hình ảnh của “Ánh sáng” đức tin mà con cái đang dõi theo.  Nếu cha mẹ sống trung thực, con cái sẽ không biết dối lừa.  Nếu cha mẹ sống yêu thương và bao dung, con cái sẽ không biết hận thù.  Đừng để ánh đèn soi của mình chỉ hướng xuống đất để tìm lợi ích vật chất, nhưng hãy ngước lên để nhìn thấy trời cao, để soi đường cho con cái bước đi trong sự thiện lương.

Làm muối cho đời không phải là làm những điều vĩ đại, mà là giữ cho lòng mình không bị “nhạt” đi trước những cám dỗ của tiền bạc hay sự vô cảm.  Làm ánh sáng cho trần gian không phải là rực rỡ hào quang, mà là giữ cho ngọn lửa mến Chúa luôn cháy trong gian bếp nhỏ, trong bữa cơm gia đình và trong cách đối đãi với xóm giềng.

Hỡi những người cha, người mẹ, hãy là những “cuốn Tin Mừng sống” đầu tiên mà con cái mình đọc được.  Hãy là thứ muối mặn nồng của tình yêu và là ánh sáng ấm áp của gương lành, để dù cuộc đời có tăm tối đến đâu, con cái vẫn tìm được lối về nhà, lối về với Chúa, nhờ vào chính bước chân hy sinh của cha mẹ chúng hôm nay.  Hãy tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp từ chiếc đèn soi nhỏ bé để dẫn lối cho con cái đi, và giữ cho cuộc đời của các con luôn “đậm đà” vị nghĩa tình, không bị nhạt nhẽo giữa những cám dỗ cuộc đời.  Xin Chúa cho các bậc cha mẹ trong cộng đoàn chúng ta, đặc biệt nơi vùng cao su thân thương này, biết tiếp tục thắp lên ánh sáng của đời sống gương mẫu, và âm thầm làm muối mặn bằng chính mồ hôi và tình yêu mỗi ngày, để con cái, khi bước vào đời, luôn nhớ đến con đường ngay thẳng đã được soi từ chính mái nhà của mình. Amen!

Lm Paul N.N

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Muối và ánh sáng là hai chất liệu rất bình thường và cũng rất cần thiết cho cuộc sống con người.  Muối và ánh sáng không hiện hữu cho bản thân, nhưng hiện hữu để phục vụ.  Muối làm cho đồ ăn thêm hương vị và cần thiết cho sức khỏe.  Ánh sáng giúp con người phân biệt và nhận ra đường lối phải đi.  Bài Tin Mừng hôm nay được đặt trong ngữ cảnh bài giảng trên núi, liền ngay tám mối phúc thật mà chúng ta đã suy niệm tuần trước.  Giữa bài giảng về tám mối phúc thật và đoạn Tin Mừng hôm nay có mối liên hệ sâu sắc: những gì Chúa Giê-su mời gọi chúng ta thực hiện (trở nên muối và ánh sáng) là điều kiện để đạt được những mối phúc mà Người đã nói trước đó.

Dưới ánh sáng của bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hiểu rõ hơn lời ngôn sứ I-sai-a (Bài đọc I).  Vị ngôn sứ kêu gọi Ít-ra-en quảng đại chia sẻ với người nghèo, cứu giúp và nâng đỡ những ai lâm cảnh bần cùng đói khổ.  Khi làm như thế, “ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành.”  Những gì vị ngôn sứ diễn tả tiếp đó chứng minh một sự thật này: khi quảng đại chia sẻ với tha nhân, sự thánh thiện và niềm vui thiêng liêng sẽ thấm đượm cuộc đời chúng ta, và khi ấy, Chúa sẽ nhận lời chúng ta kêu cầu.  Ở đoạn cuối của Bài đọc này, vị ngôn sứ khẳng định một lần nữa: “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói… thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu tỏa trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”  Thật là kỳ diệu, những việc thiện hảo có khả năng phát ra ánh sáng thần thiêng, đồng thời làm cho những người thực hiện công việc ấy cũng trở nên ánh sáng.

Ý tưởng ánh sáng còn được nhắc tới trong Thánh vịnh 111 được đọc trong phần Đáp ca.  Ánh sáng của Chúa chiếu rọi kẻ ngay lành, nhờ đó họ cũng trở nên ánh sáng và lan tỏa xung quanh soi cho những người đang đi trong tối tăm.  Cũng như muối và ánh sáng hiện hữu để phục vụ, Ki-tô hữu trở nên muối và ánh sáng để giúp nhiều người nhận biết Chúa.  Những việc thiện chúng ta làm sẽ giúp cho mọi người ca tụng Chúa, và như thế, Chúa được tôn vinh nơi chúng ta.  Không ai thắp đèn rồi để dưới đáy thùng.  Chiếc đèn không để sử dụng cho riêng mình, nhưng cho người khác.  Ki-tô hữu là ánh sáng để giúp cho người khác nhận ra đường đi.  Đó là con đường của Chân lý.

Thánh Phao-lô (Bài đọc II) lại muốn suy tư về ánh sáng trong mầu nhiệm thập giá.  Thông thường, người ta tự hào về những vinh quang danh giá.  Ngược lại, Phao-lô lại tự hào về thập giá Đức Ki-tô.  Hơn nữa, trong quãng đời còn lại của mình, ông không còn chú tâm đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su, mà là Đức Giê-su chịu đóng đinh.  Sở dĩ như thế vì Phao-lô đã cảm nhận rõ nét sức mạnh và ân sủng của Chúa, khi ông chấp nhận những gian nan vì Danh Ngài.  Ông luôn xác tín vào lời Chúa hứa: “Ơn Ta đủ cho con!”  Lời hứa ấy đã giúp ông tìm được sức mạnh giữa những thử thách.

Ki-tô hữu sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian.  Cuộc sống chúng ta luôn bị bủa vây bởi những cám dỗ tư bề.  Có những lúc muối đức tin trở nên nhạt và vô dụng.  Tại sao muối lại nhạt?  Chắc chắn Chúa Giê-su không nói về muối theo nghĩa hóa học, vì theo lẽ thường, muối không thể tự nhiên mất vị mặn.  Ở đây, Người muốn nói đến người môn đệ đánh mất căn tính, sống đức tin hời hợt, không còn sức ảnh hưởng đối với môi trường xung quanh.  Chúa Giê-su cảnh báo: đức tin có thể bị “nhạt” nếu ta thỏa hiệp; đời sống thiêng liêng có thể “mất vị” nếu ta sống theo thế gian; người môn đệ có thể trở nên vô dụng nếu đánh mất tinh thần Tin Mừng.  Đây không phải lời kết án, mà là lời mời gọi trở lại với nguồn mặn của mình: Lời Chúa, Thánh Thể, và đời sống yêu thương.

Khi Chúa Giê-su dùng hình ảnh muối để nói với chúng ta, là Người dựa vào thực tế ở đất nước Ít-ra-en.  Tại đó, có một loại muối trong lòng đất hay muối mỏ, không tinh khiết như muối biển tinh luyện ngày nay.  Nó trộn lẫn với đất, thạch cao và khoáng chất.  Khi gặp ẩm, natri clorua tan hết, chỉ còn lại cặn trắng trông giống muối nhưng không còn mặn.  Vì thế, người ta vứt ra đường cho người ta giẫm lên – đúng như lời Chúa nói.

Cuộc sống hôm nay còn nhiều khó khăn, nhưng “thà thắp nên một ngọn nến nhỏ còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”  Thay vì bình luận, chỉ trích và phê phán, mỗi chúng ta hãy cố gắng gieo mầm yêu thương giữa trần gian.  Như muối làm cho thực phẩm thêm hương vị, Ki-tô hữu hãy sống thánh thiện để đem hương vị Tin Mừng vào cuộc sống.  Như ánh sáng giúp soi đường đi, Ki-tô hữu hãy thực thi bác ái để góp phần chiếu sáng thế gian.  Thánh Phao-lô khẳng định: đức tin của chúng ta không dựa vào lẽ khôn ngoan của người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.  Quả vậy, Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện nơi chúng ta những điều kỳ diệu, nếu chúng ta biết cậy trông nơi Ngài.

Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta đã viết: “Tình yêu là hoa trái lúc nào cũng đang đúng mùa, và ai cũng có thể với tay chạm tới – Love is a fruit in season at all times, and within reach of every hand.”  Điều này cũng có nghĩa: đừng than trách không có hoa trái, chỉ là do mình có đưa tay ra hái hay không thôi.  Xin cho chúng ta nhận ra những cơ hội luôn hiện hữu xung quanh mình để trở nên muối và ánh sáng cho cuộc sống hôm nay.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CHO NÓ ĂN!

“Cho con bé ăn!”

“Khi con cái chúng ta gặp khủng hoảng và cần sự nuôi dưỡng tâm linh, liệu chúng ta có biết cách cho chúng điều đó không?  Và làm sao có thể làm được điều đó, nếu chính chúng ta không được nuôi dưỡng bởi Tin Mừng?” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay ghi lại một chi tiết rất đời thường: Chúa Giêsu bảo họ, “Cho con bé ăn!”  Không phải một phép lạ khác, không một diễn từ dài; chỉ một mệnh lệnh giản dị – ‘cho nó ăn!’

Chúng ta thích dừng lại ở khoảnh khắc phép lạ – một bàn tay nắm lấy tay em bé và tiếng gọi “Talitha kum!”  Nhưng Chúa Giêsu không chỉ trả lại sự sống; Ngài bảo đảm sự sống ấy được nuôi dưỡng.  Phục sinh không phải là một cảm xúc cao trào; phục sinh phải được chăm sóc mỗi ngày.  Có bao nhiêu “con bé” quanh chúng ta đang sống mà như chết?  Những người trẻ mất phương hướng; những tâm hồn mỏi mệt; những đứa con khoá cửa phòng, khoá luôn trái tim.  Chúng ta có thể cầu xin cho chúng một phép lạ; nhưng sau phép lạ, ai sẽ ‘cho nó ăn?’  Và điều này đòi hỏi sự quên mình!  “Phương thuốc cho mọi thứ là nước mặn: mồ hôi, nước mắt, hoặc biển cả!” – Isak Dinesen.

Đức Lêô XIV đặt một câu hỏi rất thật: “Nếu chúng ta không được nuôi bằng Tin Mừng, làm sao nuôi được người khác?”  Một người cha cạn kiệt đức tin, một người mẹ nguội lạnh cầu nguyện, một mục tử không còn sống với Lời – lấy gì để trao?  Bánh chúng ta trao sẽ mang hương vị của chính đời sống mình.  “Những gì bạn để lại không phải là khắc trên bia đá, mà là dệt nên trong cuộc sống của người khác!” – Pericles.  Marcô còn kể chuyện một phụ nữ băng huyết len vào đám đông, chạm vào áo Chúa Giêsu.  Bà đói!  Đói một “sự chạm đến cứu độ.”  Và bà được no – Ngài là nguồn lương thực!

Sau cùng, câu hỏi không chỉ dành cho những đứa trẻ; chính trong mỗi chúng ta cũng có một “con bé” mong manh – phần hồn dễ tổn thương, dễ bỏ cuộc.  Nếu không được nuôi bằng Lời và Thánh Thể, phần ấy sẽ dần lịm tắt.  ‘Cho nó ăn!’ – một mệnh lệnh nhỏ, nhưng là chương trình mục vụ của cả đời sống Kitô hữu: được nuôi dưỡng và biết nuôi dưỡng!  “Khi bạn lớn lên, bạn sẽ nhận ra mình có hai bàn tay: một để giúp bản thân, và một để giúp người khác!” – Maya Angelou.

Anh Chị em,

Một tâm hồn không được nuôi bằng sự thật sẽ lớn lên bằng ảo tưởng; một trái tim không được nuôi bằng tình yêu sẽ đi tìm những thay thế rẻ tiền.  ‘Cho nó ăn!’, vì thế, không chỉ là việc của cha mẹ; đó còn là trách nhiệm của mọi người lớn trước những tâm hồn bé nhỏ.  Một lời khích lệ đúng lúc, một giờ đọc Kinh Thánh chung, một Thánh Lễ được tham dự với ý thức – đó là những mẩu bánh nuôi dưỡng sự sống nội tâm.  Vì thế, trước hết, chúng ta phải no; phải để mình được Tin Mừng đánh thức; phải để Chúa Kitô nắm tay mình và nói, “Trỗi dậy!”  Một người đói không thể cho người khác no; lắm khi họ chỉ trao đi sự thiếu thốn của mình!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đói mà tưởng mình no, xin đánh thức con; con khát mà tưởng mình say, xin hồi tỉnh con; con rỗng mà tưởng mình đầy, xin đổ tràn con bằng chính Ngài!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

MỘT DẠNG NGHÈO KHÓ TINH TẾ HƠN

Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời.  Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác.  Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh.  Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế.  Vì sao?  Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó.  Câu chuyện của anh tôi là thế này.

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó.  Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình.  Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp.  Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà.  Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình.  Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải.  Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời.  Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại.  Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức.  Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế!  Chị tôi cũng thế!  Bố tôi cũng thế!  Mẹ tôi cũng thế!

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không?  Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc?  Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó?  Đừng hiểu lầm ý tôi.  Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả.  Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng.  Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có.  Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta.  Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình.  Đây có thể là chị mình.  Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội.  Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỂ HẠNH PHÚC THỰC SỰ

Hạnh phúc là từ được người ta nói nhiều đến trong xã hội.  Trên mạng xã hội, người ta khoe hạnh phúc.  Trong quảng cáo, người ta bán hạnh phúc.  Ngoài xã hội, người ta chạy đua để tìm hạnh phúc.  Thế nhưng, nghịch lý thay, cũng chưa bao giờ con người lo âu, trầm cảm, bất an, bất hạnh như thời đại chúng ta đang sống.

Giữa một thế giới đầy biến động: kinh tế khó khăn, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng gia đình, người trẻ mất phương hướng, người lớn tuổi cô đơn…  Câu hỏi được đặt ra: Hạnh phúc thật sự nằm ở đâu?

Hạnh phúc là điều mà ai trong chúng ta cũng khao khát.  Có người tìm hạnh phúc trong tiền bạc, thành công, quyền lực, hưởng thụ, danh tiếng…  Thế nhưng, càng tìm, nhiều khi lại càng thấy trống rỗng.  Trong Chúa Nhật IV Thường Niên hôm nay, Chúa Giê-su trao cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc đích thực, không theo kiểu thế gian, nhưng theo cái nhìn của Thiên Chúa.

Hạnh phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, mời gọi: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước… hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường” (Xp 2,3).

Lời trên chạm đến hoàn cảnh của rất nhiều người: những gia đình chật vật vì cơm áo gạo tiền, những người lao động bấp bênh,  những người cảm thấy mình nhỏ bé, thua thiệt, không tiếng nói trong xã hội.  Thiên Chúa không chọn kẻ quyền thế, nhưng chọn những người khiêm nhường, người đặt trọn niềm tin cậy nơi Chúa.  Hạnh phúc không hệ tại ở việc “có nhiều,” mà ở chỗ có Chúa, thuộc trọn về Chúa.

Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca khẳng định: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ, và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Tv 146).

Thánh Phao-lô trong bài đọc II nhắc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình: “Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1,26–28).  Để rồi kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1,31).

Hiến chương hạnh phúc của người Ki-tô hữu

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại việc Chúa Giê-su lên núi và công bố Tám Mối Phúc (Mt 5,1–12).  Các giáo phụ gọi đây là “Hiến chương Nước Trời,” hay “con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

Điều gây sốc là: những người được Chúa Giê-su tuyên bố “phúc” lại chính là những người mà thế gian thường cho là bất hạnh: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại.

Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.”  Chúa Giê-su không phủ nhận nỗi đau của họ, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới, nơi đau khổ không phải là dấu chấm hết, mà là con đường dẫn tới sự sống.

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì…

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì trước hết phải biết nghèo khó trong tâm hồn. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).  Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là không bám víu, không đặt an ninh đời mình nơi tiền bạc, quyền lực, hay cái tôi.  Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời từng nói: “Nghèo trong tinh thần là để cho Thiên Chúa chiếm chỗ trung tâm, chứ không phải cái tôi của mình.”

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải sống hiền lành và xót thương. “Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,5).  Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của tình yêu, biết kiềm chế bạo lực, biết tha thứ.  Trong một thế giới đầy đối đầu và hận thù, người hiền lành chính là chứng nhân của Nước Trời.

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải chấp nhận khát khao sự công chính và sẵn sàng chịu thiệt. “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5,10).  Theo Chúa không hứa hẹn cuộc sống dễ dàng, nhưng hứa ban ý nghĩa, niềm hy vọng và sự sống đời đời.

Tóm lại: Tám Mối Phúc không phải là những khẩu hiệu đẹp treo trên tường, mà là con đường sống, là chìa khóa hạnh phúc mà Chúa Giê-su trao vào tay mỗi người chúng ta.  Hạnh phúc Ki-tô giáo không phải là tránh né đau khổ, mà là sống đau khổ trong tình yêu và niềm tin.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những lo toan của cuộc sống, biết quay về với lời Chúa hôm nay, để can đảm chọn con đường hẹp của Tin Mừng.  Vì như thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc mà lòng mình khao khát.”  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ