THÁNG NĂM: TỪ HOA ĐỒNG CỎ NỘI ĐẾN HOA CÕI LÒNG

WHĐ (01/5/2026) – Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc.

Dẫn nhập

Trong nếp sống đạo của tín hữu Công giáo Việt Nam, tháng Năm có vị trí đặc biệt.  Trong tháng này, từ những giáo xứ to lớn đến các họ lẻ nhỏ bé, không gian đều rộn ràng tiếng nhạc, lời ca tiếng hát và ngát hương hoa.  Tháng Hoa kính Mẹ Maria không chỉ là truyền thống nề nếp nhà đạo, mà còn là sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, văn hóa dân tộc và niềm tin sắt son của người tín hữu Việt Nam với người Mẹ Thiên Quốc.

1. Trong tháng Hoa, thiên nhiên hòa cùng đức tin

Việc tháng Năm trở thành tháng dâng kính Mẹ Maria khởi đi từ cái nôi trời Tây của truyền thống này.  Sau những tháng mùa đông dài dằng dặc, bầu trời xám xịt và giá rét lạnh căm, tháng Năm tại châu Âu là thời điểm “Xuân phân” đạt đến độ rực rỡ nhất.  Cả đất trời như bừng tỉnh, cây cối đâm chồi nảy lộc, không khí ấm áp trở lại, và đặc biệt là muôn hoa đua nở khắp các cánh đồng, núi đồi và thung lũng.

Vẻ đẹp thanh khiết, đầy sức sống của thiên nhiên lúc này đã trở thành một biểu tượng tâm linh mạnh mẽ.  Các tín hữu sơ khai nhìn thấy vẻ đẹp của hoa cỏ phản chiếu vẻ đẹp của Đức Trinh nữ Maria, người nữ “đầy ân phúc,” là “Bông hoa đẹp nhất” mà Thiên Chúa đã tạo dựng.  Nếu như hoa xuân mang lại niềm vui cho trần thế sau mùa đông u ám, thì Mẹ Maria, qua tiếng “Xin vâng,” đã mang Đấng Cứu Thế đến để mang lại sự sống vĩnh cửu cho nhân loại sau “mùa đông ảm đạm” của tội lỗi.

Truyền thống dành tháng Năm cho Mẹ Maria không xuất hiện ngay lập tức mà là một hành trình tích lũy qua nhiều thế kỷ.  Thời trung cổ, tại các quốc gia như Tây Ban Nha hay Pháp, người dân đã có thói quen thực hành các việc đạo đức đặc biệt để tôn vinh Mẹ Maria vào tháng Năm, nhằm thay thế cho các lễ hội ngoại giáo mừng mùa xuân, vốn có những yếu tố đa thần đôi khi biểu lộ cách thô thiển.  Các tín hữu muốn thánh hóa thời gian này, thay vì chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên thì họ qui hướng mọi vẻ tươi đẹp đó về Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng và Mẹ Maria.

Vào thế kỷ XVI, Thánh Philipphê Nêri dạy các thiếu nhi thu lượm hoa tươi trong vườn để dâng trước bàn thờ Mẹ Maria.  Ngài muốn trẻ em tìm thấy Chúa và Mẹ Maria thông qua vẻ đẹp đơn sơ của cỏ hoa.  Thế kỷ XVIII, các tu sĩ Dòng Tên tại Ý chính thức dành trọn 31 ngày tháng Năm với các bài suy niệm, bài hát hướng về Mẹ Maria và khuyến khích giáo dân thực hiện việc này tại gia đình cũng như tại nhà thờ, đưa phong trào lan rộng toàn cầu.  Sang thế kỷ XIX – XX, truyền thống này được các Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận.  Đặc biệt, qua Thông điệp Mense Maio – Tháng Năm (1965), Đức Phaolô VI khẳng định tháng Năm là dịp đặc biệt để cầu nguyện cho hòa bình và những nhu cầu của Giáo hội.

2. “Vãn dâng hoa” là sự sáng tạo độc đáo của người tín hữu Việt Nam khi xưa.

Khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã rất khôn ngoan khi không chỉ áp dụng các nghi thức phương Tây xa lạ khó nắm bắt đối với người dân Việt.  Các ngài khuyến khích giáo dân diễn tả đức tin Công giáo theo cách riêng của tâm hồn dân Việt, vốn thấm đẫm thi ca, tha thiết diễn xướng và náo nức lễ hội, như Linh mục Léopold Michel Cadière (1869-1955) đúc kết: “Khi nhận ra nguồn cội sâu xa mà các thần linh thuộc thế giới siêu nhiên đã gieo vãi trong tâm hồn người Việt Nam, người ta không thể phủ nhận rằng dân tộc này là một dân tộc hết sức sùng đạo…  Người ta khấn vái kêu cầu, bằng ngôn ngữ trang trọng, kèm theo âm nhạc và vũ khúc…  Người ta bái lạy, một cách chậm rãi, trang nghiêm, tôn kính, cúi đầu cung kính với áo thụng bằng lụa, khăn mão uy nghi,[1] “vãn dâng hoa” và việc dâng hoa của người Công giáo Việt Nam ra đời trong tâm thế văn hóa đậm chất tâm linh đó.

Tại Việt Nam, dâng hoa không chỉ là đặt một bó hoa lên bàn thờ rồi thôi, nhưng đó là một cách biểu lộ tâm tình đạo hạnh dưới hình thức nghệ thuật.  Người tín hữu Công giáo Việt Nam khi xưa đã soạn ra những bài “vãn dâng hoa,” dựa theo thể thơ lục bát, song thất lục bát, giàu hình ảnh, dễ thuộc, dễ thấm, để ngợi ca vẻ đẹp của Mẹ Maria cũng như nói lên những nỗi niềm, thân phận và niềm hy vọng cậy trông của người tín hữu Việt Nam nơi Mẹ, giữa những lao nhọc vất vả của đời sống.

Đền vàng quỳ trước dâng hoa
Trông lên tháp bảo thấy tòa Ba Ngôi
Mười hai nhân đức gương soi
Kính dâng Đức Mẹ đời đời ngửa trông
”…

…“Bảy hoa mượn chỉ nghĩa mầu.
Hình dong ơn phúc kính tâu ngợi mừng.
Hợp cùng năm sắc điều dâng,
Dường mười hai ngọc kết tầng Triều thiên
”…

…“Ban ơn cho chúng con nhờ,
Được lòng sốt sắng phượng thờ cho liên.
Đời này được sự bằng yên,
Đời sau lại được ngợi khen hát mừng… Amen
.”[2]

Về hình thức, vãn hoa là một “lễ hội đức tin” rộn rã, đậm chất văn hóa Việt.  Từ những tà áo truyền thống đến những điệu nhạc quen thuộc, tất cả tạo nên bầu không khí náo nức, gắn kết bà con xóm đạo.  Trong đoàn rước hoa dâng kính Mẹ Maria, mọi tín hữu không phân biệt giàu nghèo đều cùng hướng về Mẹ, biến nghi thức dâng hoa, hội nhập hoàn toàn vào tình tự dân tộc, thành một phần ký ức sâu sắc.

Ngày nay, việc dâng hoa trong tháng Hoa được tổ chức ngày càng quy mô và lộng lẫy hơn.  Các giáo xứ lớn tổ chức các đoàn dâng hoa lên tới hàng trăm người, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, với hệ thống ánh sáng, âm thanh hiện đại.  Những giáo xứ miền quê nhỏ bé cũng tổ chức dâng hoa cho Mẹ Maria, một cách đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng.  Trang phục được đầu tư đáng kể, kỹ năng múa được tập luyện bài bản, ngày càng trở nên nghệ thuật, chuyên nghiệp.

3. Những thao thức mục vụ của ngày hôm nay

Tuy nhiên, sự rực rỡ ấy vẫn nhắc nhở mọi người: Chúng ta đang dâng lên Mẹ Maria tâm tình hiếu thảo hay chỉ lo lắng đến việc biểu diễn?  Thực tế, việc quá chăm chút vào kỹ thuật, trang phục đôi khi khiến người tham gia lo lắng “sai nhịp” hơn là hướng lòng về Mẹ.  Khi tính biểu diễn lấn át tinh thần suy niệm, buổi lễ chỉ để lại sự trầm trồ về hình thức mà thiếu đi sứ điệp thiêng liêng trong tâm hồn.  Tính “biểu diễn” lấn át tinh thần “suy niệm cầu nguyện”.

Để tháng Hoa tiếp tục là nguồn mạch nuôi dưỡng đức tin cho người tín hữu hôm nay cũng như các thế hệ mai sau, việc dâng hoa cần phải là một buổi suy niệm sống động, kết nối mỗi động tác, mỗi sắc hoa với Lời Chúa và các nhân đức của Mẹ Maria.

Hoa trắng không chỉ là sắc màu của sự thanh khiết, nhưng còn là biểu tượng Ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Khi dâng hoa trắng, người tín hữu được mời gọi thanh tẩy tâm hồn, sống trung thực và trong sạch giữa một xã hội đầy dẫy sự gian dối.  “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mátthêu 5:8).

Xinh thay hoa trắng tốt lành,
Ví cùng nhân đức đồng trinh Đức Bà.
Nguyên tuyền hơn ngọc hơn ngà,
Sáng trong hơn tuyết cùng là hơn gương.
” *

Hoa đỏ tượng trưng cho sự hy sinh, tình yêu nồng cháy và những đau khổ mà Mẹ đã gánh chịu dưới chân Thập giá.  Đây là cơ hội để suy niệm về sự kiên trì và lòng yêu người, giúp người ta biết chấp nhận gian khổ để dấn thân phục vụ.  “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15:13).

Nhiệm thay hoa đỏ hồng hồng,
Nhuộm thêm Máu thánh thơm chung lòng người.
Vì thương con gánh tội đời,
Chịu như dao sắc thâu nơi lòng mình.
” *

Hoa vàng là biểu tượng của vinh quang Thiên Chúa và lòng tin sắt son.  Dâng hoa vàng là cam kết giữ vững đức tin trước những lôi cuốn của chủ nghĩa vật chất, lối sống thực dụng.  “Vàng thử lửa, đức tin thử gian nan… để khi Chúa Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin ấy sẽ trở thành lời ca tụng, vinh quang và danh dự” (1 Phêrô 1:7).

Quý thay này sắc hoa vàng,
Sánh nhân đức mến Bà càng trọng hơn.
Một niềm tin kính nhơn nhơn,
Vững vàng cậy mến trong cơn vui sầu.
” *

Hoa tím là màu của thống hối và khiêm nhường.  Trong một thế giới của cái tôi kiêu hãnh, sắc tím nhắc nhở chúng ta về sự nhỏ bé của mình trước nhan Chúa như Mẹ đã từng tự nhận là “nữ tỳ hèn mọn”.

Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Luca 1:52).

Dịu thay hoa tím càng màu,
Ý trên Bà những cúi đầu vâng theo.
Bằng lòng chịu khó trăm chiều,
Khiêm nhường nhịn nhục hằng yêu hãm mình.
” *

Hoa xanh nhắn đến niềm hy vọng và sự bình an.  Giữa những lo âu về cơm áo gạo tiền, sắc xanh dâng Mẹ là lời cầu xin sự bình an trong tâm hồn và niềm cậy tin vào tương lai tươi sáng. “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa, và có Chúa làm chỗ nương thân.  Người ấy như cây trồng bên dòng nước” (Giêrêmia 17:7-8).

“Lạ thay là sắc hoa xanh,
Mừng Bà nhân đức trọn lành cực cao.
Dờn dờn sau trước một màu,
Quản chi sương nắng dãi dầu ngày đêm.” *

4. Tháng Hoa giúp biến đổi đời sống thành vườn hoa thánh thiện

Nếu mỗi buổi dâng hoa đều kèm theo Lời Chúa và lời suy niệm ngắn gọn, súc tích, người dâng hoa và người thưởng lãm gặp gỡ được Mẹ Maria của Tin Mừng, chứ không chỉ đi xem một hình thức phô diễn nghệ thuật.

Nhằm bảo vệ môi trường theo tinh thần của Thông điệp Laudato Si’, các cuộc dâng hoa có thể được khuyến khích dâng hoa trong những chậu, nhỏ to khác nhau.  Sau buổi dâng hoa, số hoa này có thể trồng tại khuôn viên thánh đường hoặc tặng lại cho giáo dân chăm sóc, giúp tạo nên “Vườn hoa Đức Mẹ” xanh tươi quanh năm.

Đỉnh cao của việc dâng hoa là sống cuộc đời “Per Mariam ad Jesum – Nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu,” biến đời sống thành vườn hoa nhân đức, mến Chúa yêu người, theo mẫu gương “Fiat – Xin vâng” của Mẹ Maria.  Mỗi người cần hiểu rằng một lời tử tế, một bữa cơm cho người nghèo hay sự trung thực trong công việc mới là đóa hoa ngát hương mà Mẹ Maria mong muốn nhất để giúp chúng ta nên thánh.  Mẹ không cần hoa, chính chúng ta mới là người cần đến hoa nhằm biểu lộ rằng đôi bàn tay vốn đang dâng lên Mẹ những bông hoa đầy hương sắc cũng là đôi bàn tay đã biết chia sẻ cụ thể những buồn vui, lo âu với những người chung quanh, và rằng cõi lòng chúng ta đang dần biến đổi để biết yêu thương, hy sinh như Mẹ.  Một tháng Năm mà mỗi tín hữu hăng hái làm việc bác ái, trao gửi nụ cười và sự quan tâm chân tình mới thực sự là một tháng Hoa ý nghĩa.

5. Khuyến khích giới trẻ tiếp nối và đào sâu truyền thống đạo hạnh

Tháng Năm về, giữa cái nắng oi bức của mùa hè Việt Nam, những giai điệu “Mùa hoa về rồi muôn hoa xinh con hái dâng Mẹ.  Mùa hoa về rồi muôn hương thơm bay trước nhan Mẹ…” (Trầm Hương) lại vang lên đầy thân thương.  Truyền thống tháng Hoa là một kho tàng vô giá mà cha ông đã để lại.  Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho ngọn lửa ấy luôn cháy sáng bằng cách thổi vào đó hơi thở của ngày hôm nay, với các bản thánh ca có điệu nhạc tươi mới, ngôn từ gần gũi nhưng vẫn trang trọng, đúng với Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, khơi gợi được cảm thức đức tin – sensus fidei.

Sử dụng khéo léo các phương tiện truyền thông hiện đại sẽ giúp việc dâng hoa không còn là nghi thức “cổ xưa” mà trở thành cảm nghiệm tâm linh tươi mới.  Khi được gạn đục khơi trong đúng với tâm tình, các bạn trẻ sẽ tham gia với tất cả sự nhiệt huyết và đức tin cá vị, thay vì chỉ làm theo tập tục phong trào.

Tuy nhiên, nếu tháng Hoa chỉ dừng lại ở tiếng nhạc, trang phục thướt tha, hoặc “hứng thú nghệ thuật,” thì chúng ta chỉ là khán giả đi xem một buổi trình diễn văn nghệ chứ không phải người mong muốn hoán cải nội tâm.  Chỉ khi bước ra khỏi nhà thờ sau buổi dâng hoa, mỗi người biết sống tử tế, hy sinh, tôn trọng và yêu thương nhau hơn, thì lúc đó, chúng ta mới thực sự trở thành những đóa hoa sống động làm đúng ý Chúa và Mẹ Maria.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] Trường Đại học Khoa học xã hội và nhận văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, https://hcmussh.edu.vn/news/item/25727

[2] Và các câu thơ khác (*) tại http://gdptttvn.org/nam-sac-bay-mau-hoa-dang-kinh-duc-me/

THÁNH GIUSE – ĐƯỜNG NÊN THÁNH

Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời.  Đó là hoa hướng dương.  Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để tỏa hương khoe sắc.  Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.  Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý.  Thánh Giuse được sách Tin Mừng gọi là “người công chính.”  Theo Kinh Thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2, 4; Rm 1, 17; Gal 3, 11).  Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham.  Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm.  Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.  Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa.  Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.  Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành.

Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm.  Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng.  Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền.  Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách.”  Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).  Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1, 20).  Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa” Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Ai Cập sống kiếp lưu đày.  Trước mắt là gian truân vất vả, đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).

Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.  Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.  Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel” (Mt 2, 21).  Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn.  Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Ai Cập, từ Ai Cập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.  Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1, 38).

Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại.  Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11,3).

Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người.  Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường.  Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị.  Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống.  Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường.  Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn.  Những người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến là “bác thợ mộc.”  Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy.  Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã tạo được thiện cảm và lòng yêu mến của nhiều người.  Ngày nay có bao nhiêu người chức nọ, quyền kia, có học vị, có địa vị, rất giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ…  Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng.  Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình…  Thánh Giuse là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm,” một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó.  Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên Ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.

Theo gương thánh Giuse, sống đạo là tin tưởng, cậy trông, yêu mến Thiên Chúa.  Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác nguyện cầu và sống theo Ý Chúa.

Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse.  Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse.  Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống, tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.

Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi.  Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.  Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.  Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày.  Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại.”  Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.  Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành.  Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình.  Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống thường ngày.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An