MẦU NHIỆM SỰ CHẾT

Mùa Chay, đặc biệt trong tuần thánh-là đỉnh cao của phụng vụ Ki-tô giáo, chúng ta đặc biệt cử hành cuộc vượt qua của Con Thiên Chúa, tức là mầu nhiệm đau khổ, sự chết và phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô.  Chiều Thứ Sáu tuần thánh là thời khắc tột cùng nhất, đụng chạm đến sự yếu hèn, giới hạn và sự bất lực nhất của Đức Giê-su Ki-tô trong thân phận con người, đó là sự chết.

Triết học về con người coi con người là một huyền nhiệm.  Trong huyền nhiệm đó, sự chết là một huyền nhiệm dường như vẫn chưa ai có thể lý giải cách rốt ráo về ý nghĩa của sự chết.  Sự hiện hữu của con người, Max Scheler đã diễn tả, cuộc đời như một cuộc tiến bước đến cái chết.  Và theo lẽ nhân sinh, đứng trước huyền nhiệm con người thì, sự chết vẫn là một điều gì đó khủng khiếp nhất của thân phận con người, vì nó cắt đứt hết mọi liên lạc giữa người sống và người chết.

Tuy nhiên, với niềm tin Ki-tô giáo, sự chết không đến nỗi bi quan và thất vọng đến thế.  Đức tin Ki-tô giáo dạy rằng, sự chết là cửa ngõ mở ra cho ta một sự sống mới, để đi vào sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa.  Chính Đức Giê-su đã nói: “Ví như hạt lúa mì rơi xuống đất, nếu không chết đi, không thối đi, thì nó sẽ trơ trọi, nhưng nó phải chết đi, phải thối đi, thì nó mới sinh được nhiều bông hạt.”  (x.Ga 12,24) và chính Ngài đã phải chết đi trong thân phận con người rồi mới đạt tới phục sinh vinh quang.

Huyền nhiệm sự chết là hạn từ đã được thánh Ambrôsiô giám mục tiến sĩ Hội Thánh – một giáo phụ thế kỷ thứ 4, sử dụng để diễn tả điều sẽ xảy ra khi chúng ta dám chết đi cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa.  Ngài ám chỉ lời thánh Phaolô Tông đồ đã viết “vì được dìm vào cái chết của Đức Ki-tô, chúng ta cũng được mai táng với Người,” nghĩa là huyền nhiệm sự chết đích thực nhất là khi chúng ta được dìm vào trong bí tích Thánh Tẩy.

Thánh Phanxicô Sale cũng nối tiếp tư tưởng này, ngài cho rằng việc nối kết giữa người được yêu và sự chết làm sao để nên dấu chỉ cao nhất của tình yêu, đó là dám sẵn lòng chết đi cho người khác.  Các thánh tử đạo là dấu chứng cho điều này: sự vĩ đại của tình yêu là trao ban sự sống cho Đức Kitô và tha nhân.

Sau này, Thánh Phaolô Thánh Giá, Đấng sáng lập Dòng Thương Khó Chúa Giêsu, đã nâng mầu nhiệm này lên một tầm cao mới: suốt cuộc đời, ngài luôn chiêm ngắm và suy gẫm về mầu nhiệm sự chết trong sự hiệp thông với Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô, đồng thời nối kết với sự chết và niềm hy vọng của con người vào sự phục sinh của Đức Giê-su Kitô.  Huyền nhiệm sự chết mà thánh nhân ám chỉ là khi ngài nói đến sự dự phần vào sự chết của Đức Giêsu trên thập giá.  Thánh nhân đã đi đến khao khát được ‘đồng hình đồng dạng vào sự chết của Đức Giêsu Ki-tô,’ đến nỗi thánh Phao-lô Thánh Giá đã thốt lên rằng, “Lạy Chúa, con khao khát được chết với sự chết của Chúa trên thập giá, nơi các linh hồn được đắm chìm trong Đấng lang quân của mình, nơi mà Ngài đã nằm trên đồi Canvê xưa.  Các linh hồn chết đi bởi một cái chết đau đớn của thân xác, để họ cùng được sống lại với Ngài, Đấng đã chiến thắng khải hoàn thiên quốc.”

Còn với các tu sĩ của mình, thánh Phao-lô Thánh Giá làm nổi bật lời khấn Dòng về mầu nhiệm sự chết khi nói với họ rằng, “Các con có biết điều gì làm nên ý nghĩa lời khấn dòng chúng ta không?  Nó có nghĩa là, chỉ như sự chết tách biệt linh hồn ra khỏi thể xác; bởi thế, lời khấn dòng là một sự chết huyền nhiệm, bằng việc một tu sĩ phải chết đi tất cả mọi trần tục cùng với một sự từ bỏ hoàn toàn, và khước từ ý riêng của mình, buông đi ý riêng và thánh hiến chính mình cho Thiên Chúa mà tuân theo ý định của Bề Trên.”

Trong cuộc sống con người, sự sinh ra thì có trước sự chết, nhưng trong đời sống nội tâm sâu xa của tinh thần thì ngược lại: mầu nhiệm sự chết có trước mầu nhiệm sinh ra.  Thánh Phaolô Thánh Giá ước mong cha Tô-ma Fossi, một tu sĩ Thương Khó, kinh nghiệm được mầu nhiệm sự chết, nhờ vậy ngài có thể cảm nhận được sự sinh ra.  Nghịch lý của sự chết được thể hiện qua cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô.  Các thánh Giáo Phụ thường gọi sự phục sinh là sự tái sinh của Ngài, sự tái sinh của Ngài cho một sự sống mới và sự sống trỗi dậy.

Chiêm ngắm và quảng bá về mầu nhiệm sự chết, đặc biệt là hiệp thông vào sự chết của Đức Giêsu, là một phần linh đạo của Dòng Thương Khó Chúa Giêsu.  Mầu nhiệm sự chết là cách để nối kết với đau khổ và sự chết của chúng ta.  Mầu nhiệm này giúp chúng ta ở lại để lùi vào sự cô tịch nội tâm, nhờ cảm nếm được giá trị của sự chết, nó sẽ mang lại ơn tái sinh trong Đấng Cứu Độ – đó là tất cả niềm hy vọng của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con học lấy giá trị nơi mầu nhiệm sự chết của Chúa, để từng ngày trong đời sống chúng con, chúng con cũng chết đi con người yếu hèn của mình, ngõ hầu mai sau chúng con cũng hy vọng được thừa hưởng sự sống vĩnh cửu với Chúa trên quê trời bất diệt.  Amen.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu, C.P.

NGUỒN SUỐI TRƯỜNG SINH

Nước là sự sống.  Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai.  Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước.  Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh.  Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này.  Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời.  Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống.”  Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.

Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước.  Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu.  Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.

Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a.  Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a.  Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ.  Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành.  Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo.  Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su.  Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.

Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người.  Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn.  Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.

Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng.  Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục.  Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng.  Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc.  Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng.  Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta.  Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh.  Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta.”  Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa.  Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.

Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào.  Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.

Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thanh tẩy.  Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống.  Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô.  Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”

Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn.  Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân.  Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

GIẤC MƠ GHẾ

“Họ ưa ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường!”

“Khiêm nhường không chỉ là cúi mắt bước đi… mà là khiêm nhường của Chúa Giêsu kết thúc trên thập giá; đây là quy tắc vàng cho mọi Kitô hữu: kiên trì và hạ mình!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nhắc lại quy tắc vàng: kiên trì và hạ mình.  Những ai thích danh xưng, quên phục vụ đúng nghĩa… cuối cùng, sẽ thấy mình mơ giữa ban ngày những ‘giấc mơ ghế’.

Chúng ta thường mất ngủ chạy theo những lễ nghi, hết sức cho những gì người ta có thể nhìn thấy, tự hào về sự chăm chỉ, nhiệt thành, mà quên nhìn vào trái tim mình.  Trong giáo phận, trong nhóm, trong gia đình hay cộng đoàn, ai cũng muốn được khen, muốn “ghế cao”, coi chức tước, danh xưng như là thước đo giá trị.  Chúng ta có thể giảng dạy, cầu nguyện lớn tiếng, làm mọi điều đúng, nhưng lòng vẫn đau đáu tìm một cái gì đó hơi hướm thế tục; nói rõ ra, tìm kiếm việc được nhìn nhận trong mắt mọi người và nhất là kẻ trên.  Chính trong cuộc đua tội nghiệp đó, chúng ta mất tự do, sĩ diện; và từ đó, ‘giấc mơ ghế’ nảy mầm.

Mùa Chay, mùa “rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác”; mùa “tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình” – bài đọc một.  Vì nếu chúng ta chỉ chăm chú hình thức, tất cả chỉ là rỗng không.  Bởi lẽ, chỉ “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn  cứu độ Chúa Trời” – Thánh Vịnh đáp ca – không phải hoàn hảo nghi thức, mà hoàn hảo trong lòng; nói cách khác, hạ mình tôn trọng Chúa Kitô trong các “nhà tạm di động” của Ngài thật sự.  “Không có khiêm nhường, không thể có nhân bản!” – John Buchan.

Chúng ta có thể thức trắng vì mục vụ, nhưng cũng có thể mất ngủ vì ghế.  Trái tim bận tìm chỗ nhất không bao giờ tìm thấy bình an, trong khi trái tim biết hạ mình lại sống dồi dào.  Chúa Giêsu mời chúng ta rửa chân cho nhau, trao đời sống, chọn chỗ cuối, vác thập giá, bước theo con đường Ngài đã đi – không mơ ghế, không tìm chỗ đứng, chỉ giữ tình yêu và sự hiệp nhất.  Chỉ trong cầu nguyện, chúng ta mới thấy tất cả danh dự, ghế cao, lời khen… là gió thoảng; và chỉ khi trái tim biết quỳ gối chúng ta mới nhận ra cái gì là giá trị thực.  Khi những giấc mơ ghế nhoà đi, chúng ta mới thấy Chúa và được Chúa nhìn thấy; bấy giờ, ân sủng Ngài mới bắt đầu hành động.

Anh Chị em,

Nhìn lên thập giá, chúng ta thấy Đức Giêsu, Đấng không giữ ghế, không tìm danh xưng, nhưng từ bỏ hết vì chúng ta.  Ngài trao tình yêu không điều kiện, chịu đóng đinh thay nhân loại, hầu chuộc lại chúng ta là những bạn hữu của Ngài.  Vậy, nếu đã đi quá xa, bạn và tôi hãy quay trở lại, học nên giống Ngài, để nhận ra rằng quyền lực lớn nhất không phải ở vị trí cao, mà ở trái tim biết cúi xuống.  “Khiêm nhường nghĩa là nhận ra chúng ta không ở thế gian này để biết mình có thể trở nên quan trọng đến mức nào, mà để thấy mình có thể tạo ra khác biệt đến mức nào trong đời người khác!” – Gordon B. Hinckley.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con từ bỏ mọi khao khát được nhìn nhận, để trái tim con chỉ tìm thấy niềm vui trong phục vụ và hạ mình!”  Amen!

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)