MỘT DẠNG NGHÈO KHÓ TINH TẾ HƠN

Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời.  Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác.  Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh.  Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế.  Vì sao?  Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó.  Câu chuyện của anh tôi là thế này.

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó.  Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình.  Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp.  Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà.  Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình.  Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải.  Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời.  Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại.  Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức.  Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế!  Chị tôi cũng thế!  Bố tôi cũng thế!  Mẹ tôi cũng thế!

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không?  Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc?  Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó?  Đừng hiểu lầm ý tôi.  Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả.  Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng.  Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có.  Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta.  Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình.  Đây có thể là chị mình.  Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội.  Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỂ HẠNH PHÚC THỰC SỰ

Hạnh phúc là từ được người ta nói nhiều đến trong xã hội.  Trên mạng xã hội, người ta khoe hạnh phúc.  Trong quảng cáo, người ta bán hạnh phúc.  Ngoài xã hội, người ta chạy đua để tìm hạnh phúc.  Thế nhưng, nghịch lý thay, cũng chưa bao giờ con người lo âu, trầm cảm, bất an, bất hạnh như thời đại chúng ta đang sống.

Giữa một thế giới đầy biến động: kinh tế khó khăn, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng gia đình, người trẻ mất phương hướng, người lớn tuổi cô đơn…  Câu hỏi được đặt ra: Hạnh phúc thật sự nằm ở đâu?

Hạnh phúc là điều mà ai trong chúng ta cũng khao khát.  Có người tìm hạnh phúc trong tiền bạc, thành công, quyền lực, hưởng thụ, danh tiếng…  Thế nhưng, càng tìm, nhiều khi lại càng thấy trống rỗng.  Trong Chúa Nhật IV Thường Niên hôm nay, Chúa Giê-su trao cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc đích thực, không theo kiểu thế gian, nhưng theo cái nhìn của Thiên Chúa.

Hạnh phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, mời gọi: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước… hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường” (Xp 2,3).

Lời trên chạm đến hoàn cảnh của rất nhiều người: những gia đình chật vật vì cơm áo gạo tiền, những người lao động bấp bênh,  những người cảm thấy mình nhỏ bé, thua thiệt, không tiếng nói trong xã hội.  Thiên Chúa không chọn kẻ quyền thế, nhưng chọn những người khiêm nhường, người đặt trọn niềm tin cậy nơi Chúa.  Hạnh phúc không hệ tại ở việc “có nhiều,” mà ở chỗ có Chúa, thuộc trọn về Chúa.

Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca khẳng định: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ, và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Tv 146).

Thánh Phao-lô trong bài đọc II nhắc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình: “Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1,26–28).  Để rồi kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1,31).

Hiến chương hạnh phúc của người Ki-tô hữu

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại việc Chúa Giê-su lên núi và công bố Tám Mối Phúc (Mt 5,1–12).  Các giáo phụ gọi đây là “Hiến chương Nước Trời,” hay “con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

Điều gây sốc là: những người được Chúa Giê-su tuyên bố “phúc” lại chính là những người mà thế gian thường cho là bất hạnh: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại.

Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.”  Chúa Giê-su không phủ nhận nỗi đau của họ, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới, nơi đau khổ không phải là dấu chấm hết, mà là con đường dẫn tới sự sống.

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì…

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì trước hết phải biết nghèo khó trong tâm hồn. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).  Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là không bám víu, không đặt an ninh đời mình nơi tiền bạc, quyền lực, hay cái tôi.  Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời từng nói: “Nghèo trong tinh thần là để cho Thiên Chúa chiếm chỗ trung tâm, chứ không phải cái tôi của mình.”

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải sống hiền lành và xót thương. “Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,5).  Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của tình yêu, biết kiềm chế bạo lực, biết tha thứ.  Trong một thế giới đầy đối đầu và hận thù, người hiền lành chính là chứng nhân của Nước Trời.

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải chấp nhận khát khao sự công chính và sẵn sàng chịu thiệt. “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5,10).  Theo Chúa không hứa hẹn cuộc sống dễ dàng, nhưng hứa ban ý nghĩa, niềm hy vọng và sự sống đời đời.

Tóm lại: Tám Mối Phúc không phải là những khẩu hiệu đẹp treo trên tường, mà là con đường sống, là chìa khóa hạnh phúc mà Chúa Giê-su trao vào tay mỗi người chúng ta.  Hạnh phúc Ki-tô giáo không phải là tránh né đau khổ, mà là sống đau khổ trong tình yêu và niềm tin.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những lo toan của cuộc sống, biết quay về với lời Chúa hôm nay, để can đảm chọn con đường hẹp của Tin Mừng.  Vì như thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc mà lòng mình khao khát.”  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:

– Thiên Chúa là gì?

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy.

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời.

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:

– Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới.

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:

– Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:

– Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó.

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:

– Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.

– Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn.

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

– Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:

– Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả.

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:

– Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng.

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:

–   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:

–  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”.

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa.

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo.

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

VẺ ĐẸP CỦA LỜI CẦU NGUYỆN

“Cầu nguyện là thiết lập tình bạn với Chúa, bằng cách thường xuyên trò chuyện riêng tư với Ngài, Đấng mà chúng ta biết là yêu thương chúng ta.”  Đây là một trong những câu nói của thánh nữ Têrêsa thành Avila mà tôi yêu thích nhất, một người phụ nữ vô cùng thông thái.

Khi còn nhỏ, quan điểm của tôi về cầu nguyện rất cứng nhắc và khuôn mẫu.  Nhờ sự gương mẫu của cha mẹ và các thầy cô giáo Công giáo, tôi thuộc kinh Tin Kính, kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha, kinh Hãy Nhớ, kinh Sáng Danh…  Bạn nói đến kinh nào là tôi biết kinh đó.  Tôi thuộc làu các hình thức cầu nguyện theo cấu trúc như kinh Mân Côi, đàng Thánh Giá và tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi trải qua lại quá an toàn hoặc ít đụng chạm tới những bộn bề của cuộc sống.  Tôi lấp đầy giờ Chầu Thánh Thể bằng lời kinh Mân Côi, Lectio Divina[1]  hoặc các lời nguyện và suy tôn Thánh Thể, rồi sau đó nhanh chóng kết thúc giờ cầu nguyện bằng những lời nguyện cá nhân.  Mặc dù tất cả các phương pháp cầu nguyện này đều tốt lành và hữu ích, nhưng chúng ta nên ưu tiên dành cho Chúa không gian để đáp lại.

Không có lời cầu nguyện nào là hoàn hảo cả.  Thực tế thì đôi khi cầu nguyện có thể và trở nên lộn xộn. Giống như trong các mối quan hệ với con người, những cuộc trò chuyện có thể trở nên rối tung khi chúng ta tức giận, sợ hãi hoặc thất vọng về một tình huống hay một người nào đó.  Tôi nghĩ rằng nhiều lần chúng ta cố gắng lảng tránh những cảm xúc này trong cầu nguyện.  Chúng ta nghĩ rằng mình phải thể hiện bản thân tốt nhất, hoàn hảo nhất trước mặt Chúa, nhưng đó không phải điều Ngài mong muốn.  Chúa biết bản chất con người của chúng ta – Ngài dựng nên ra chúng ta – vì vậy chúng ta đừng sợ Ngài quay lưng lại khi chúng ta nói ra những thử thách và đau khổ của mình cho Ngài biết.  Chúa muốn chúng ta thành thật và bày tỏ hết những mỏng giòn, yếu đuối với Ngài, giống như với người bạn thân nhất.  Điều này có nghĩa là, đôi khi chúng ta có thể bước vào cầu nguyện trong cơn giận dữ với Chúa vì một điều gì đó đang diễn ra trong cuộc sống của mình, hãy cứ thế mà cầu nguyện.  Hãy kêu lên với Chúa, khóc với Chúa, và sẵn sàng để Ngài đón nhận trọn vẹn con người bạn.  Chỉ khi chúng ta thực sự chân thành với Chúa trong cầu nguyện thì mối quan hệ giữa ta với Ngài mới có thể phát triển.  Đó là lý do tại sao chúng ta cầu nguyện, đó là để củng cố mối quan hệ với Cha trên trời.

Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc, điều này thực sự diễn ra như thế nào?  Tôi có thể nói với bạn một điều chắc chắn rằng: việc cầu nguyện của mỗi người mỗi khác, nhưng mục tiêu cuối cùng là đi vào sự hiện diện thánh thiêng của Chúa.  Tôi khuyên bạn mỗi ngày hãy dành riêng một khoảng thời gian để trò chuyện với Chúa.  Đó có thể là 30 phút trong khi đi đến nơi làm việc, 10 phút đầu tiên của buổi sáng hoặc thậm chí 20 phút trước khi đi ngủ; nhưng hãy cố gắng dành riêng khoảng thời gian cụ thể này để cầu nguyện mỗi ngày.  Bạn có thể nghĩ rằng lịch trình của mình quá bận rộn để cầu nguyện hàng ngày, nhưng thưa bạn, ngay cả Chúa Giêsu cũng dành thời gian nghỉ ngơi khỏi việc chữa bệnh, giảng dạy, rao giảng và thực hiện phép lạ để cầu nguyện.  Cách cầu nguyện tốt nhất, đơn giản nhất và hiệu quả nhất là ở một mình với Chúa và nói chuyện với Ngài từ trái tim.  Và tôi có thể hứa rằng khi bạn dành thời gian cho những cuộc trò chuyện này với Chúa, mọi thứ khác sẽ đi đúng hướng.

Lời khuyên khác của tôi khi bạn đi sâu hơn vào mối quan hệ với Chúa là hãy phó thác mọi sự trong cuộc sống của bạn cho Ngài.  Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2611 nói rằng: “Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa,’ nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha.  Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.”  Khi cầu nguyện, chúng ta nên trình bày mọi niềm vui, tạ ơn, thử thách, đau khổ, lo lắng và mối quan tâm, nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng và mong muốn phó thác những điều đó cho Chúa, và tin rằng Ngài có một kế hoạch cho cuộc sống của chúng ta.  Chúa sẽ không bỏ rơi chúng ta bơ vơ hay mãi mãi trong đau khổ vì Ngài là một Thiên Chúa nhân từ; chúng ta phải có lòng tin!  Nếu bạn đang vật lộn với tư tưởng buông bỏ hoàn toàn, tôi khuyên bạn nên đọc Kinh Cầu Tín Thác, làm tuần Cửu nhật Dâng mình cho Chúa Giêsu, hoặc thậm chí chỉ cần chiêm ngắm linh ảnh Lòng Chúa Thương Xót: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.

Tôi cũng muốn nhân cơ hội này để củng cố sự tốt lành và cần thiết của việc cầu nguyện theo cấu trúc trong cuộc sống của chúng ta.  Tôi không đề nghị bạn từ bỏ Kinh Mân Côi hay Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, bởi vì đây là những công cụ cầu nguyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiện diện của chúng ta nơi Nước Trời.  Tôi muốn lưu ý rằng những công cụ thánh thiện này không phải là mục đích cuối cùng.  Tôi khuyến khích bạn mở lòng cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn lời cầu nguyện của bạn, và đừng để lời cầu nguyện theo cấu trúc trở thành phương tiện duy nhất để chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.

Lời khuyên cuối cùng của tôi là hãy cầu xin những điều lớn lao.  Không có ước muốn nào là quá lớn đối với Chúa, vì vậy hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Giống như trong bất kỳ mối quan hệ nào đặt tình yêu lên đầu, Chúa là Đấng yêu thương chúng ta luôn mong muốn tuôn đổ hồng ân dồi dào cho mỗi người chúng ta.  Khi cầu nguyện, hãy cho Ngài biết những nhu cầu của bạn!  Xin Chúa ban Thánh Thần của Ngài xuống trên bạn!  Xin Ngài hướng dẫn bạn khi chọn trường đại học, xin việc hoặc tìm kiếm bạn đời.  Hãy cho Chúa biết những ước muốn của bạn và lặng lẽ chờ đợi Ngài trả lời, bởi vì cầu nguyện luôn được cho là cuộc trò chuyện giữa chúng ta và Chúa, giúp tình bạn thiêng liêng triển nở.

Tác giả: Fr. Jpseph M. Esper – Chuyển ngữ: Lê Minh
Từ: Catholic Exchange

TỪ MIỀN ĐẤT XA LẠ

Bài Tin mừng Chúa nhật hôm nay vẫn còn là phần mở đầu sứ vụ của Ðức Giêsu.  Ngay từ những ngày đầu của cuộc đời công khai, Ðức Giêsu đã gây ra nhiều điều ngạc nhiên, cụ thể hôm nay là môi trường hoạt động.

Ðức Giêsu không bắt đầu giảng dạy tại Giêrusalem, thành phố tượng trưng cho uy quyền về tôn giáo lẫn xã hội.  Người không khởi đầu việc loan báo Tin mừng Cứu độ tại Thành Thánh, nơi có Ðền Thờ là biểu tượng nguy nga và linh thiêng của dân Do Thái, nơi tụ họp của những người cho rằng mình đạo đức.

Ðức Giêsu cũng không loan báo Nước Trời tại Giuđa, nơi Gioan đã khởi xướng phong trào Thiên Sai, nhưng đã bắt đầu sứ vụ tại Galilê, nơi có nhiều lương dân, nhiều người hèn kém, những người đang chìm đắm trong tối tăm ngoại giáo.

Miền Galilê được coi là miền đất của dân ngoại, bởi vì nó tiếp giáp với những vùng đất của dân ngoại.  Hơn thế nữa, nó cũng là nơi các dân ngoại lui tới làm ăn buôn bán, từ tả ngạn sông Giođan và từ các miền Dápbulon, Náptali.  Với người Do Thái, Galilê là nơi ngoại giáo hèn hạ, “Galilê các dân ngoại,” cho nên “không có một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả” (Ga 7,52).

Tại sao lại có chuyện nghịch thường này?  Tại sao Ðức Giêsu lại chọn miền Galilê làm địa bàn hoạt động trong suốt thời kỳ đầu của sứ vụ công khai, để rồi sau Phục Sinh, Người lại trở về vùng đất quen thuộc này để đưa ra lệnh truyền cuối cùng cho các môn đệ? (x. Mt 28,16-20).

Có nhiều lý do để giải thích sự kiện này

Trước hết, có lẽ Ðức Giêsu thấy xứ Giuđê quá gần nơi Gioan Tẩy Giả bị bắt, và cũng là pháo đài của Do Thái giáo.  Tình hình có vẻ xáo trộn và nguy hiểm: người Do Thái đã tống giam Gioan Tẩy Giả, họ cũng có thể loại trừ Ðức Giêsu.  Họ là những người lãnh đạo tinh thần và đạo đức của dân tộc, nên bất cứ ai có ảnh hưởng trên dân chúng, lại không thuộc về trường phái của họ, cũng có thể gây cho họ những thắc mắc, nghi ngại.

Có lẽ vì vậy mà tác giả Tin mừng đã dùng từ “lánh qua “, hay “rút về.”  Ðức Giêsu phải hoàn tất sứ vụ của Người.

Hãy tạm lùi một bước

Sau nữa, việc chọn địa bàn truyền giáo tại nơi xa lạ này có nhiều lợi điểm.  Miền đất này là nơi đô hội, tứ chiếng, giao thương với những miền xa xăm.  Tại đây, tục lệ kiêng cữ của người Do Thái bớt khắt khe.  Còn về tôn giáo, vì có nhiều người ngoại quốc, nên ở đây có xu hướng tự do tín ngưỡng và hòa đồng tôn giáo.  Do đó, lời giảng và các hoạt động của Ðức Giêsu sẽ ít gây phản ứng bất lợi nơi các nhà lãnh đạo tôn giáo, đồng  thời, nhờ giao thương dễ dàng, ảnh hưởng của Người dễ lan rộng sang các miền chung quanh.

Tuy nhiên, điều quan trọng và có ý nghĩa hơn cả là Tin mừng được loan báo cho muôn dân, đặc biệt là dân ngoại, như lời ngôn sứ Isaia đã báo trước (Is 9,1-4).

Chính tại miền đất mà người Do Thái ở Giêrusalem khinh dể, coi như không phải là chỗ Thiên Chúa mặc khải, thì Vị Hoàng Tử Bình An đã xuất hiện.  Chính tại miền đất của dân ngoại, miền đất tăm tối, ánh sáng của Vị Cứu Tinh đã bùng lên, Tin mừng giải phóng được loan báo.

Rõ ràng đây là một sự lựa chọn, một kế hoạch được tính toán kỹ càng.  Ðàng khác, sự kiện này còn cho thấy một quy luật: Thiên Chúa hoàn toàn độc lập, tự do chọn nơi chốn, thời kỳ và dụng cụ theo ý Người muốn.  Người hay chọn những điều thấp hèn, vô giá trị, nhỏ bé để thực hiện chương trình vĩ đại.

Tung bay trong gió

Từ nơi biên giới tiếp giáp với dân ngoại, Ðức Giêsu bắt đầu lên tiếng, bắt đầu công bố cho muôn dân biết Nước Thiên Chúa đã hiện diện.

Một trang sử mới được mở ra, một công trình mới được khởi đầu.  Thời của các ngôn sứ được chấm dứt với việc Gioan bị tống ngục: ông phải nhỏ đi để Ðấng khác lớn lên; ông im tiếng để Lời được công bố.  Cánh cửa nhà tù khép kín cuộc đời Gioan cũng là dấu chấm hết của tiếng-nói-ngôn-sứ.  Từ trước tới nay, Ðức Giêsu vẫn giữ im lặng, bây giờ Người xuất hiện và lên tiếng nói.

Có lẽ dân chúng không hiểu hết lời giảng của Ðức Giêsu, nhưng họ cũng cảm nhận được nơi con người lạ lùng này một điều gì khác lạ.  Danh tiếng của Người lan ra khắp nơi và dân chúng tuốn đến với Người.  Theo quan điểm của người Do Thái, chẳng có gì tốt từ Galilê.  Nhưng chính cho miền đất đó mà Isaia loan báo ánh sáng thiên sai của Ðấng Emmanuen.  Và cũng chính cho miền đất xa lạ ấy mà Ðức Giêsu ngỏ lời: “triều đại Thiên Chúa đã đến gần.”  Ðức Giêsu là “người loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52,7).

Ðúng thế, Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Sai, Ðấng làm cho Vương quyền Thiên Chúa trên dân được chọn và qua họ, trên cả thế giới, được hoàn thành.  Chính Người sẽ thực hiện Vương quyền đó, không phải bằng một chiến thắng quân sự hay chính trị như dân chúng mong đợi, nhưng bằng cách thiêng liêng (Mc 1,34) với tư cách là “Con Người” (Mt 8,20) và “Tôi Tớ” (Mt 8,17).  Nói thế, bởi vì công trình cứu chuộc của Ðức Giêsu sẽ giúp loài người thoát quyền lực đô hộ của Xatan.  Vương quyền ấy là một điều có thực, một trật tự mới cho cả vũ hoàn, chứ không phải là điều trừu tượng, không tưởng.

Vậy, trong Ðức Giêsu, Nước Thiên Chúa đã đến, và vì vậy phải sám hối, phải thay đổi cách nhìn, phải thay đổi lối sống.

Thế đó, “Nước Thiên Chúa” đã được loan báo lần đầu tiên tại một miền biên giới xa lạ, đầy xáo trộn: đó không phải là hình ảnh về Hội thánh cũng sẽ phải hiện diện ở những nơi tiếp giáp của những vấn đề đó sao?  Hội thánh cũng sẽ phải tung bay theo gió của Thần Khí, như đã được khởi đầu.

Và, cũng tại miền đất hèn kém này, Ðức Giêsu đã kêu gọi những con người vô danh để họ trở thành môn đệ của Người.  Các môn đệ của Ðức Giêsu không phải là những người học thức, tài giỏi.  Họ chỉ là những ngư phủ, những người thất học.  Công việc thường ngày của họ là tìm kiếm trong lòng biển lương thực để nuôi sống mình và gia đình.  Ðức Giêsu đã gọi họ đi theo Người, gắn bó với Người và cộng tác vào kế hoạch lớn lao.  Người biến họ thành những người quăng lưới trên biển trần gian – biển bao la, sâu thẳm, luôn biến động vì bão táp.  Người muốn bắt lấy những con người từ biển trần gian, dù mặt nước luôn bị khuấy động.

Thực là một chọn lựa quan trọng.  Chọn những kẻ sẽ cùng Người đi quăng lưới, những kẻ sẽ đi khắp nơi để đánh cá.  Và chọn lựa này lại bắt đầu từ những người vô danh, tầm thường.

Như vậy, Hội thánh đã được khai sinh, tại miền đất biên giới, bên bờ hồ này, với vị mặn của muối và gió thổi lồng lộng báo trước những chuyến du hành, những cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm (đến độ có thể phá tiêu tan mọi sự).  Hội thánh đã được khai sinh tại nơi hội tụ của gió muôn phương, nơi mở ra những cuộc viễn du.

Ðó chính là nơi để nhận thấy rằng Tin mừng sẽ tung bay theo gió của Thần Khí, tung bay đến mọi nơi.

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật. O.P.

CƠN ĐÓI BIẾT NÓI

“Đavít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng?”

“Một cái bụng đói thì không thể lắng nghe!” – La Fontaine.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ những gì mà một ‘cơn đói biết nói’ dám nói.  Rất hiện sinh – các môn đệ đói nên bứt lúa mà ăn – vì “Một cái bụng đói thì không thể lắng nghe!”

Ở đây, ‘cơn đói biết nói’ không chỉ nói đến cái bụng trống, mà còn nói về những khoảng rỗng khác trong đời sống đức tin: đói được cảm thông, được đón nhận, sống thật với chính mình.  Chúng ta đến nhà thờ rất đúng giờ, giữ tốt mọi quy định, nhưng lại mang trong lòng những cơn đói không ai hỏi tới.  Chúng ta thấy người khác “không đúng”, liền xét đoán, mà quên hỏi – phải chăng họ đang đói một điều gì đó?  Vấn đề không nằm ở chỗ luật sai, mà ở chỗ con người dùng luật để khỏi chạm vào “nỗi thiếu của nhau,” để tự hỏi, “Ai đang cần được cứu?”  Bấy giờ, Kitô giáo trở thành một thứ “tôn giáo trang điểm” – không nhìn thấy những con người đang rách nát – cả xác lẫn hồn – ngay trước mắt mình!

‘Cơn đói biết nói’ còn nói với chính chúng ta về những khát khao mà mỗi người cố giữ cho im lặng: khát được nghỉ ngơi, khát được thở, được yếu đuối mà không bị phán xét.  “Sự yếu đuối là ngôn ngữ của tâm hồn và là tiếng nói của trái tim!” – Virginia Burges.  Nhiều lúc, chúng ta giữ cho nhịp sinh hoạt đều đặn, chu toàn các bổn phận, nhưng trong lòng thì đã cạn khô; và vì sợ bị coi là thiếu sốt sắng, chúng ta không dám để cho những cơn đói ấy lên tiếng.  Chúng ta chọn im lặng, rồi dần dần, thôi không còn mong được ai lắng nghe, cũng như không còn biết đến nhu cầu của ai khác.

Chính ở đó, lời Chúa Giêsu vang lên như một lời giải phóng, “Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabbat;” nghĩa là, không thực hành tôn giáo nào được phép trói buộc con người chịu đựng một tình trạng sống trong cô độc; Sabbat không là nơi để che giấu những thiếu thốn, mà là nơi để sự sống được ưu tiên!  Luật “được giữ” không bao giờ quan trọng hơn việc được sống; luật “được đúng” không bao giờ quý hơn việc được chữa lành.  Nếu một cộng đoàn chỉ giúp làm tròn các nghi thức nhưng không giúp bớt cô đơn, thì có lẽ, Giáo Hội đang có đủ lễ nghi mà thiếu một trái tim!

Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không chỉ kể lại một chuyện xưa về những bông lúa vào một ngày Sabbat.  Tin Mừng đang hỏi chúng ta, giữa bao nhiêu điều phải giữ, bạn và tôi có còn đủ tự do để nghe tiếng của những cơn đói đang cần được đáp lại?  Cơn đói của người bên cạnh, và cả cơn đói – rất kín kẽ – trong chính lòng mình.  Bởi lẽ, rất có thể, từ những tiếng nói mong manh ấy, Thiên Chúa đang chờ được nhận ra – không trong sự hoàn hảo của hình thức, mà trong sự thật của những thân phận đang khao khát được sống.  “Được lắng nghe gần như là được yêu – đến nỗi với người bình thường, hai điều ấy hầu như không thể phân biệt!” – David Augsburger.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con mệt, cho con được ở lại trong Ngài; khi con đói, cho con biết đói mà không xấu hổ.  Để con có thể ở lại bên những ai không còn sức!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

THÁNH ANTÔN VIỆN PHỤ

Antôn sinh năm 241 tại Cosma, nước Ai Cập trong một gia đình giàu có và đạo đức.  Ngay từ nhỏ Antôn đã được cha mẹ kiên tâm rèn luyện và giáo dục về tri thức, cũng như đời sống đạo.  Lúc Antôn 18 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời để lại cho Antôn và em gái một gia tài lớn.  Hai anh em luôn sống yêu thương, đùm bọc nâng đỡ nhau.

Năm 270, vào một buổi sáng Antôn tới nhà thờ tham dự Thánh lễ và nghe lời Chúa Giêsu nói với người thanh niên giàu có: “Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó.” (Mt 19, 21).  Antôn nhận ra đây là lời Chúa đang nói với chính mình, nên đã về bán hết của cải đem phân phát cho người nghèo khó.  Sau khi gửi em gái vào cộng đoàn các trinh nữ, ngài đã vào sa mạc sống kết hợp mật thiết với Chúa trong cầu nguyện, hãm mình và sống rất khắc khổ khi chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.

Trong 20 năm sống cô tịch giữa sa mạc hoang vu, thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài.  Dù thế, ma quỷ luôn rình rập, cám dỗ và thậm chí hành hạ ngài để lôi kéo thánh nhân nghiêng về những ham mê xác thịt, tiền của, danh vọng và nhất là từ bỏ lối sống ẩn tu, trở về với thế gian.  Nhưng ngài đã chống trả các cơn cám dỗ ấy bằng việc ăn chay, cầu nguyện và hãm mình nhiều hơn nữa.  Nhờ ơn Chúa, ngài không bao giờ chịu khuất phục nhưng luôn chiến thắng những cơn cám dỗ khốc liệt ấy.

Đời sống thánh thiện, và hương thơm nhân đức của thánh nhân đã lan tỏa khắp nơi và thu hút nhiều người tìm đến xin làm môn đệ; ngài kiên quyết từ chối nhưng sau đó, nhận ra ý Chúa, thánh nhân thành lập nhiều cộng đoàn.  Sa mạc cằn cỗi giờ đây mọc lên những mái chòi, ngày đêm vang lên những lời kinh ngợi khen Chúa, nhiều người đã nên thánh nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ của ngài.  Từ đây phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ, cha Antôn huấn đức và viết luật, trở nên vị tổ phụ của nếp sống ẩn tu.

Tuy thế, thánh nhân đã hai lần từ giã sa mạc để đáp ứng nhu cầu của Giáo hội:

Lần thứ nhất, vào năm 311, do cuộc bắt đạo của hoàng đế Maximinô Đaia, tại Alexandria sắp có cuộc xử tử một số tín hữu trung kiên nên cha Antôn quyết định rời sa mạc đi gặp các tù nhân để khuyên nhủ họ trung thành làm chứng cho Chúa, can đảm chết vì đạo.  Cuộc bách hại chấm dứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc, tiến sâu vào chân núi Kolzim và dựng một căn lều nhỏ vừa đủ để nằm và sống ở đó.

Lần thứ hai, vào năm 355, cha Antôn trở lại Alexandria theo lời mời của Giám mục Athanasiô, để giảng thuyết chống lại lạc giáo Ariô.  Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc kêu gọi mọi người trung thành với giáo huấn của Hội Thánh.  Dân chúng tuôn đến, lắng nghe những bài giảng và chứng kiến các phép lạ thánh nhân thực hiện.  Nhiều người tội lỗi ăn năn sám hối trở về, các lương dân bảo nhau: “Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa,” còn những nhà trí thức thì rất ngạc nhiên khi thấy cha Antôn, dù sống tách biệt với thế giới con người, không tiếp xúc với sách vở, với các nền văn hóa mà sao ngài lại thấu suốt mọi vấn đề.  Thực ra, họ đã không biết được rằng thánh nhân đã học biết về Chúa qua cảnh vật thiên nhiên.  Sau khi giúp Đức Giám Mục giải quyết xong vấn đề về lạc giáo, thánh nhân trở lại sa mạc tiếp tục lối sống ẩn dật, khắc khổ như trước.

Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi.  Vào năm 561, xác ngài được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria.  Giáo Hội đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

Thánh Antôn đã sống trọn một đời vâng phục thánh ý Chúa, yêu thương người nghèo khổ, sẵn sàng từ bỏ sự giàu sang, phú quý để sống cuộc đời ẩn tu, âm thầm, kết hợp mật thiết với Chúa.  Xin giúp chúng con biết noi gương thánh nhân luôn sống thánh thiện, can đảm thực thi ý Chúa, đón nhận hoàn cảnh sống hiện tại, dù là những trái ý, những đau khổ, khó khăn và quảng đại giúp đỡ những người nghèo khó xung quanh mình.  Amen!

Nt. Maria Phạm Hường, OP tóm lược

CHÚA GIÊSU LÀ AI?

Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện trước dân chúng.  Vì dân chúng chưa biết Chúa, nên Gioan Tẩy giả đã giới thiệu về Chúa cho mọi người.  Gioan đã giới thiệu Chúa bằng hai hình ảnh xem ra có vẻ tương phản với nhau: Ngài vừa là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, vừa là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn của Thiên Chúa.  Nhìn thoáng qua thì chúng ta thấy như vậy nhưng nhìn thật sâu, thật kỹ thì chúng ta thấy hai hình ảnh trên không những không đối chọi mà ngược lại còn bổ túc và soi sáng cho nhau: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang nhưng cuộc sống của Ngài ở trần gian là cuộc sống như một Người Tôi Tớ, Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa ở giữa loài người.  Nói một cách thật ngắn gọn thì chúng ta thấy Chúa đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng.

A. Chúa Giêsu là ai?

  1. Vâng Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang.

Điều này Gioan đã công khai làm chứng.  Lời chứng của Gioan có một giá trị hết sức đặc biệt.  Toàn bộ bài Tin mừng hôm nay nói lên điều đó.  “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian.  Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.  Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.”  Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người.  Tôi đã không biết Người.  Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”  Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.

Vâng đúng như vậy, Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang: Đấng xóa bỏ tội trần gian, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.  Có lẽ không còn từ nào nói về Chúa Giêsu cao hơn nữa.

2. Nhưng bên cạnh hình ảnh về một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang chúng ta lại còn thấy Gioan nói về Chúa như một Con Chiên của Thiên Chúa. Gioan đã có ý muốn nói gì khi giới thiệu về Chúa như thế?

Chúng ta biết Thành ngữ Chiên của Thiên Chúa là một thành ngữ hết sức kỳ diệu.

Chúng ta biết thời Cựu ước trong ngày lễ Đền tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế.  Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối.  Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc.  Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội.

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian,”  phải chăng ngài cũng có ý cho mọi người hiểu rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta.

Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân Do thái vào sa mạc.  Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết: Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn cả tội lỗi cả thế gian nữa (1Ga 2,2). Thánh Tông Đồ Phêrô còn nói rõ hơn: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính  (1Pr 2,24).  Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta đã thành thánh hết.  Lý do là vì thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn.  Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta.

B. Chúng ta hợp tác thế nào? 

Nói một cách thật vắn là chúng ta hãy sống như Chúa đã sống.  Cuộc sống của Chúa là bài học và cũng là tấm gương cho chúng ta.

Chúng ta tự hỏi Chúa đã sống như thế nào? Ngài đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng.

Qua Tin Mừng chúng ta thấy mặc dầu là Thiên Chúa nhưng Chúa đã sống hoà mình với mọi người.  Nhưng khi sống hòa mình với mọi người chúng ta thấy Ngài vẫn luôn giữ được phẩm giá của mình là Thiên Chúa.  Xin được gửi đến anh chị em một bài thơ mà tác giả là Rabindranath Tagore, một nhà văn hào được cả loài người kính nể và yêu mến.  Ông đã có rất nhiều cảm nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu mặc dù ông không phải là một người có đạo.  Đây là một bài thơ ông viết ra để mô tả về cuộc đời của Chúa, một cuộc đời cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài vẫn giữ được tâm hồn cao thượng.

Sáng hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng.

Con cứ thắc mắc mãi: ở nhà quê thì có gì vui đâu mà lại đi tổ chức… du lịch?

Vậy mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cầy đằng sau con trâu gầy còm của một bác nông dân.

Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ vào một mảnh ruộng khác đang khô nước.

Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa…

Con cũng đành phải làm theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những vất vả cực nhọc!  Rõ khổ!

Đến quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cầy chất phác và vui tính sau khi uống một bát nước vối họ mời.

Chúa quay lại bảo con: “Nào, chúng mình về một khu ngoại thành đi!”

Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành cho khách du lịch để nghỉ ngơi…

Vậy mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại đã ghé vào, xắn tay áo xin cùng làm với họ.

Chúa cũng xúc đá, cũng đội sọt cát trên vai hoặc lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường…

Cứ thế, vừa làm Chúa vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm lưng áo.

Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ mệt, hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.

Xập tối Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc sau khi rít một điếu thuốc rê với họ.

Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó.

Con cứ ngỡ phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối,

Đói bụng lắm rồi còn gì.

Thế mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng phong.

Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm đổ thuốc, lau mặt thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên mùi hôi tanh ghê sợ.

Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp hối sau đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng nỗi tủi nhục, bị con cháu và xã hội xua đuổi.

Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ giúp giặt khăn rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa…

Mãi đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt cho cụ già vừa qua đời.

Về lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây, khổ quá đi mất!

Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện, biết vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vạ vật như thế này…

Thế rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con: “Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé”

Con thở phào yên tâm.

Nhưng tối khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào?

Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha…”

Đến lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật lên lời tâm nguyện:

“Con cố gắng cúi mình khiêm nhu, xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi, vẫn không sao chạm được…

Vâng sống như Chúa Giêsu là sống như thế: Cao cả trong những cái tầm thường nhưng tầm thường với một tâm hồn cao cả.

Xin được kết cũng bằng một bài thơ khác của Tagore.

Lạy Thiên Chúa, đây lời con cầu nguyện: Xin tận diệt, tận diệt trong tim con mọi biển lận tầm thường. Xin cho con sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.  Xin cho con sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.  Xin cho con sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.  Xin cho con sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.  Và cho con sức mạnh tràn trề để nâng mình theo ý Ngài luôn.  Amen!

Giuse Đinh Tất Quý

SỰ THINH LẶNG CỦA Ý THỨC VÀ CỦA CÕI LÒNG

Trước hết, chính trên bình diện đối thoại nội tâm với chính mình mà con người cố gắng đọc và hiểu lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai của mình, cố gắng phân tích những thất bại và thành công, những ước mơ và thất vọng; những niềm vui nỗi buồn.  Tóm lại, cố gắng thống nhất đời sống mình trong thời gian, nếu mình không muốn biến thành một nút chai trôi dạt theo các lớp sóng liên hồi của thời gian đi qua.

Trong sự thinh lặng của ý thức, vang lên một cuộc tranh chấp giữa nhiều tiếng nói, qua đó sẽ xuất phát sự chọn lựa, các quyết định của mình.  Nơi ưu tuyển để thực thi tự do.  Sự tranh chấp giữa cái tốt nhiều, và cái tốt ít trong chính mình, giữa những giá trị mà mình chọn lựa hay từ chối.  Đây là lúc mà mình cố gắng tìm hiểu bí mật về mình, về căn tính đích thực và về vận mệnh của mình.

Ai lẩn tránh vùng thinh lặng này, người ấy đánh mất toàn bộ cuộc sống ý thức và chỉ còn phản ứng một cách hời hợt bằng cảm tính, bằng những cảm xúc ngoài da.  Người ấy chiều theo khẩu hiệu, thời trang và dư luận.  Không có nhân vị thực sự nếu không có sự tranh luận nội tâm trong thinh lặng của ý thức.

Thật hoàn toàn giả tạo nếu ta muốn xác định ranh giới  giữa sự thinh lặng của giác quan, sự thinh lặng tâm lý, sự thinh lặng của ý thức với sự thinh lặng của cõi lòng.  Những tác động qua lại giữa các bình diện ấy thì thật nhiều.  Hiểu như thế, thì cuộc đối thoại của con người với ý thức mình dù cần thiết và cảm động đến đâu, cũng không thể đồng hóa với sự thinh lặng của ‘cõi lòng.’

Chúng ta, nhất là những người phương tây, có khuynh hướng đối lập lòng với trí.  Trí là lãnh vực của đầu óc, của suy tư, của hiểu biết, của lý luận, của đúng sai.  Và lòng là trung tâm của tình cảm.

Thế nhưng ‘lòng’ trong truyền thống Kinh Thánh truyền thống Kitô Do Thái Giáo, và đặc biệt là trong truyền thống tâm linh ở Phương Đông, không chỉ hạn hẹp trong lãnh vực tình cảm mà thôi.

Trong Kinh Thánh, ‘lòng’ là trung tâm của sự sống con người.  Đấy là nơi mà đôi khi ta gọi là ‘tâm hồn’ ‘chiều sâu của con người mình.’  Nơi ưu tuyển để hội nhập, nơi cắm rễ; qui tụ; hòa hợp mọi khả năng con người, mọi biểu hiện của sự sống và mọi chức năng của thân thể.

Trên hết, ‘lòng’ là nơi mỗi một chúng ta ở gần Thiên Chúa, có thể liên lạc với Đấng cội nguồn Sự Sống.  Nó là cánh đồng mà Chúa Giêsu đã nói đến nơi ấy chứa đựng kho tàng Nước Trời (Mt 13, 44).

“Thật vậy, cõi lòng là chủ và vua của toàn bộ của các cơ quan trong thân thể, và khi ân sủng chiếm lấy đồng cỏ của cõi lòng, nó sẽ ngự trị trong mọi chi thể và mọi suy nghĩ, vì đấy là sự hiểu biết đích thực…” (Thánh Macaire, bài giảng XV, 20).

Và suốt lịch sử các tôn giáo, bao nhiêu người nam, nữ đã đi vào thinh lặng của ‘cõi lòng,’ đỉnh cao của con người mình, nơi đấy họ cảm nhận được một chiều kích mới của bản thân và của thế giới.  Sự thinh lặng đã đưa họ vào một ‘vũ trụ’ mà họ không tạo ra nhưng đã hiện diện trong họ, như là bị chôn vùi.  Rồi một hôm, họ bỗng ý thức được.

‘Cõi lòng’ hay tâm hồn có lẽ là ân huệ cao cả nhất, tốt đẹp nhất, và ẩn kín nhất mà Đấng Tác Tạo đã ban cho loài thọ tạo.

Như vậy, mọi người dù hữu thần hay vô thần, đều có ‘khả năng nội tâm’ này, và có thể thiết lập tương giao với Thiên Chúa, vì Người đã đặt vào đấy hơi thở của chính Người.

Trong sự thinh lặng của tâm hồn không phải con người đi bước trước, nhưng chính là Thiên Chúa, nhờ “Thần Khí Người kết hợp với lòng trí chúng ta.”  Con người không còn độc thoại với chính mình nhưng có thể lắng nghe Lời của Thiên Chúa.  Lời không thể nào diễn đạt bằng tiếng nói, tựa như tiếng reo của một dòng suối.  Ở đấy, giống như nhựa cây vươn lên và nuôi sống cây trong thinh lặng, Thần Khí Tác Tạo chạm lấy ‘cõi lòng’ của tạo vật bằng những can thiệp thật khẽ, mà chỉ có con người thinh lặng mới cảm nhận được.

Michel Hubaut
Trích trong tập sách NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THINH LẶNG

ĐẾN MỨC VÔ HÌNH

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”

Schleiermacher, triết gia Đức, có lần lang thang trong công viên về đêm, cảnh sát nghi là kẻ say. Khi được hỏi “Ông là ai?”, ông buồn buồn đáp, “Ước gì tôi biết!”

Kính thưa Anh Chị em,

Tiếng thở dài của triết gia Đức được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay khi các môn đệ Gioan chao đảo vì ghen tuông với Chúa Giêsu.  Gioan nói, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”  Đó là một ‘chọn lựa căn tính’ – dám rút khỏi trung tâm, nhỏ lại ‘đến mức vô hình!’

Trong đời sống tông đồ, chúng ta thường vất vả không vì nhiều việc, mà vì muốn giữ lại ánh sáng.  Lắm lúc, điều làm chúng ta đau không là thất bại của sứ vụ, mà là thành công của người khác.  Như vậy, tôi yêu hình ảnh của tôi hơn yêu Nước Trời.  Chúng ta không mệt vì phục vụ; nhưng mệt vì phải bảo vệ hình ảnh của mình khi phục vụ.  Vì thế, chúng ta dễ so sánh, dễ chạnh lòng khi thấy công việc của người khác phát triển nhanh hơn, được ghi nhận nhiều hơn.  Đằng sau sự nhiệt thành, đôi khi ẩn giấu một cơn khát được biết đến, được nhắc tên, được công nhận.  Khi những điều ấy không còn, chúng ta mệt mỏi, chán nản, thậm chí cay đắng.  Điều khó nhất không phải là làm nhiều hay làm ít, mà là chấp nhận lùi lại ‘đến mức vô hình.’  “Những thánh vĩ đại nhất là những người không ai trên thế gian biết đến!” – Mẹ Têrêxa.

Gioan mời gọi một con đường sâu hơn – không chỉ lu mờ, mà nhỏ đi đến mức mọi nhu cầu tự khẳng định được thanh luyện.  “Nhỏ lại” không chỉ để khiêm nhường, mà để được che khuất trước Đấng Messia.  Lu mờ ‘đến mức vô hình’ không phải là mất mát; đó là cách duy nhất để ánh sáng Chúa Kitô rực sáng.  Khi không còn bận tâm đến vị trí, danh dự, tiếng nói, chúng ta tự do để lắng nghe, để trao ban, và để ở lại trong niềm vui “người bạn của chú rể.”  “Công việc của Thiên Chúa thường được thực hiện trong bóng tối, nơi không ai thấy!” – Charles Spurgeon.

Về điểm này, Phaolô đã có một trải nghiệm tuyệt vời, “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi.”  Đó không phải là xoá bỏ nhân cách, mà là hoán cải tận căn – trung tâm đời sống.  Khi Chúa Kitô lớn lên, mọi ham muốn hơn thua, so đo, dần được thay thế bằng bình an và niềm vui.  “Khiêm nhường là sự thay thế bản ngã bằng việc tôn Chúa lên ngai!” – Andrew Murray.

Anh Chị em,

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”  Con đường nên thánh không luôn đi qua thành tựu rực rỡ, mà thường đi qua những chọn lựa âm thầm, những bước lùi không ai vỗ tay, những khoảnh khắc để cho mình chìm vào hậu trường của lịch sử cứu độ.  Vâng, cả ‘một lịch sử cứu độ!’  Sống ‘đến mức vô hình’ là chấp nhận để đời mình trở thành khoảng trống cho Thiên Chúa tự do hành động, là để niềm vui của Ngài trở thành niềm vui của chúng ta.  “Hãy trở nên không gì cả để Chúa Kitô là tất cả!” – Catharina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, thật xấu xí khi con ‘hơn thua’ trong sứ vụ.  Xin giải thoát con khỏi thèm khát được nhìn thấy.  Cho con biết lùi lại để Chúa nổi bật trong con, trong anh chị em con!”  Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)