KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI

Bước vào Tháng Mười, Tháng Mân Côi, chúng ta thấy một hình ảnh truyền thống tuyệt đẹp về Ðức Bà Mân Côi, một tay bồng Chúa Giê-su Hài Ðồng, còn tay kia thì trao Tràng Chuỗi Mân Côi cho thánh Ða-minh, chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đa-minh, để con cái Chúa nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một hơn.

Ma-ri-a đầy ơn phúc

“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc” là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc.  Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gáp-ri-en chào Đức Ma-ri-a lúc truyền tin: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Ê-li-sa-bét: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Bà gồm phúc lạ.”

Những lời của sứ thần Gáp-ri-en và của bà Ê-li-sa-bét trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Mẹ.  Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử.”

Quả Phúc Giê-su

Hằng ngày, khi đọc lại lời chào của thiên thần và lời chào của bà Ê-li-sa-bét chúng ta khám phá ra Quả Phúc nơi cung lòng Đức Mẹ là Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Đây chính là hoa trái mà tiên tri I-sai-a đã báo trước: “Ngày đó, chồi non Đức Chúa cho mọc lên sẽ là vinh quang và danh dự, và hoa màu từ ruộng đất trổ sinh sẽ là niềm hãnh diện và tự hào” (Is 4,2).  Người Con ấy thuộc miêu duệ Abraham, đã xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít, được đầy tràn Thần Khí Chúa.  Thiên Chúa đã đặt nơi Người muôn phúc lành và muôn dân nhờ Người mà được chúc phúc, như có lời chép: “Như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nở hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân” (Is 61,11).

Kinh Kính Mừng trong Tháng Mân Côi

“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc.” “Mẹ đầy ơn phúc” (Lc 1, 28), vì từ đời đời Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế và gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, nên nơi Mẹ không có chỗ cho tội lỗi.  Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a (x. Ga 1,14).  Chúng ta cũng được kêu gọi lắng nghe Chúa nói và đón nhận ý Chúa vào trong cuộc đời Mẹ để trở nên người có phúc như Mẹ.

Đức Chúa Trời ở cùng Bà

Chúng ta ca tụng Đức Ma-ri-a là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần chào.  Phúc của Mẹ thật cao vời khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận: “Em thật có phúc” (Lc 1,42).  Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng.  Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy đầy ơn phúc.

Trong Cựu Ước, có bao người được Thiên Chúa ở cùng, để rồi được Ngài sai đi phục vụ Dân Chúa.  Nhưng Thiên Chúa ở cùng Đức Mẹ một cách độc nhất vô nhị.  Khi được đầy tràn Thánh Thần và cưu mang Ngôi Lời, Mẹ trở nên như Hòm Bia, như Ðền Thánh, nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện giữa loài người.

Điều đã xảy ra nơi Đức Mẹ Đồng Trinh khi có Thiên Chúa ở cùng, thì cũng xảy ra nơi chúng ta trong mức độ tâm linh.  Chúng ta đón nhận Lời Chúa bằng con tim vui vẻ, chân thành và biết đem ra thực hành.  Chúa Giê-su đã cư ngụ nơi lòng Mẹ, Người cũng đến và ở trong những ai yêu mến và tuân giữ lời Người, đón rước Người khi chịu lễ.  Thế nên Giáo Hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này: “Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà” để tôn vinh Mẹ.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

Phúc nơi Mẹ trổi vượt hơn hết mọi người nữ vì Mẹ đã đầu tư vốn liếng cả cuộc đời cho thánh ý Thiên Chúa.  Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Ma-ri-a là người hạnh phúc hơn hết vì được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Phúc của Mẹ thật khôn ví, vì tâm hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa.  Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin như lời bà Ê-li-sa-bét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45).

Và Chúa Giê-su Con lòng Bà gồm phúc lạ

Ở mức độ tự nhiên, Mẹ đón nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần rồi dâng hiến máu thịt mình cho Con Thiên Chúa để Người được hình thành nơi Mẹ. Xét về mặt thiêng liêng, Mẹ đón nhận ân sủng và đáp lại điều đó bằng đức tin của mình”. Về điều này thánh Au-gút-ti-nô giải thích rằng: Đức Trinh Nữ “trước hết đã thụ thai trong tâm hồn và sau là trong cung lòng Mẹ. Mẹ đã thụ thai trước là đức tin và sau là Thiên Chúa”.

Bằng việc đón nhận hài nhi Giêsu để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Thánh Tử, Đấng là Hồng Phúc ngay trong lòng mình.  Mẹ trở nên người gồm phúc lạ.  Mẹ có phúc vì được làm Mẹ Đức Giêsu.  Mẹ của chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người (x. Ga 1,14; Mt 1,23).  Mẹ hạnh phúc hơn vì đã trở thành môn đệ Chúa, như lời Chúa Giêsu Con Mẹ đã đáp lại lời một phụ nữ khen ngợi người mẹ đã có công sinh thành nuôi dưỡng Người: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời.  Chỉ Thiên Chúa là Ðấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện.  Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời, vì Mẹ được chọn làm Mẹ Ðức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và vì chẳng ai thực thi ý Chúa trọn vẹn như Mẹ.  Chúng ta chẳng được diễm phúc sinh ra Ðức Giêsu, nhưng chính Chúa Giêsu lại mời gọi ta làm mẹ của Người: “Mẹ tôi và anh em tôi là những ai nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).

Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử

Hành trình tiến về quê Trời của Đức Maria đã bắt đầu “từ tiếng thưa “vâng” ở Nazareth, khi đáp lại lời của Sứ thần Gabriel, người đã loan báo cho Mẹ biết ý muốn của Thiên Chúa.  Và thực sự là như thế, mỗi khi chúng ta thưa “xin vâng” theo ý Thiên Chúa là chúng ta tiến một bước về quê Trời, tiến về cuộc sống vĩnh cửu.”  Chúng ta hãy phó thác cho Đức Ma-ri-a cuộc sống hiện tại và tương lai.  Chẳng có gì Ðức Ma-ri-a được hưởng mà chúng ta lại không được dự phần.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

BỐN ĐIỀU THÁNH FAUSTINA DẠY TÔI VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

Thánh Maria Faustina Kowalska là một khí cụ khiêm nhường của Chúa, thánh nữ đã khát khao đời sống tu trì từ khi chỉ mới bảy tuổi.

Có thể bạn sẽ nghĩ: Lúc bảy tuổi, tôi còn đang đổi bánh Nilla Wafers lấy Oreo ở sân chơi, chứ chưa hề nghĩ về ơn gọi của mình.  Nhưng với Faustina, vai trò trong gia đình đã khiến cô trưởng thành sớm.  Đến năm 16 tuổi, Faustina đã chăm sóc và hỗ trợ cho chín người em như một quản gia của gia đình.

Dù rất vâng lời theo mong muốn của cha mẹ là ở nhà, Faustina thường tìm kiếm Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, mang trong lòng khát khao gia nhập tu viện từ khi còn trẻ.  Năm 1924, Faustina có thị kiến đầu tiên về Chúa Giê-su, Người đã bảo Faustina rời nhà để vào tu viện ở Warsaw, Ba Lan.  Faustina sau đó đã gia nhập Hội Dòng Nữ Tử của Đức Mẹ Thương Xót và tuyên khấn lần đầu làm nữ tu vào năm 1928, khi mới 22 tuổi.

Thánh Faustina nổi tiếng với việc ghi chép lại những thị kiến của mình về Chúa Giê-su trong một cuốn nhật ký.  Bạn có thể đã quen thuộc với hình ảnh Chúa Giê-su là Vua của Lòng Thương Xót, mặc áo trắng với những tia sáng đỏ và nhạt phát ra từ trái tim.  Hình ảnh này lấy từ một trong những thị kiến của thánh Faustina.  Từ các thị kiến này, Lễ Kính Lòng Thương Xót cũng đã được thiết lập (khi Chúa Giê-su cho biết Người muốn hình ảnh Lòng Thương Xót được “làm phép trọng thể vào Chúa Nhật đầu tiên sau Lễ Phục Sinh”), cùng với Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót, một kinh nguyện chuyển cầu dùng trên tràng hạt Mân Côi để tưởng nhớ đặc biệt cuộc Khổ nạn của Chúa.

Học theo đường thương xót

Nhờ có các thánh như Faustina, chúng ta hiểu rõ hơn về trái tim đầy thương xót của Chúa Giê-su và tìm cách thực hành lòng thương xót ấy trong cuộc sống của mình.  Tôi muốn chia sẻ với mọi người cách mà câu chuyện nhỏ của thánh Faustina đã biến đổi trái tim bình thường của tôi ra sao, với hy vọng rằng câu chuyện cũng sẽ truyền cảm hứng cho nhiều người.

1. Thiên Chúa không bủn xỉn với lòng thương xót của Ngài

Lòng thương xót của Thiên Chúa được ban tặng cách nhưng không, chứ không phải là điều chúng ta xứng đáng đạt được.  Lựa chọn của Thiên Chúa khi khiêm nhường sai Con của Ngài xuống trần gian, chịu chết trên thập giá vì chúng ta, là minh chứng rõ ràng nhất cho trái tim đầy thương xót của Ngài.  Hết lần này đến lần khác, Ngài tự hiến mình mỗi khi chúng ta tham dự bí tích Thánh Thể trong Thánh lễ.

Lần tới khi bạn dự Lễ, hãy đếm xem có bao nhiêu lần bạn đọc các lời nguyện xin Chúa thương xót.  Mặc dù Ngài luôn ban tặng lòng thương xót ấy, chúng ta vẫn ý thức rằng lòng thương xót của Ngài là cần thiết và vô cùng quan trọng cho đời sống thiêng liêng của mình.

2. Đau khổ có thể làm cho chúng ta trở nên thánh thiện hơn

Trong một đoạn nhật ký của mình, Thánh Faustina viết: “Đau khổ là một ân sủng lớn lao; qua đau khổ, linh hồn trở nên giống Đấng Cứu Thế; trong đau khổ, tình yêu trở nên trong sáng; đau khổ càng lớn, tình yêu càng tinh khiết” (#57, trang 29).

Nói cách khác, khả năng chịu đựng đau khổ, dù lớn hay nhỏ, đang giúp chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su hơn.  Thật lòng mà nói, không ai muốn đau khổ.  Nhưng, thánh Faustina mời gọi chúng ta xem những thử thách này như cơ hội để dựa vào tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Chúa Giê-su mong muốn ở gần chúng ta.  Ngài mời gọi ta mở rộng trái tim để đón nhận sự gần gũi ấy và tin tưởng rằng Ngài đang hoạt động trong tâm hồn ta, bất kể hoàn cảnh nào.  Thánh Faustina cũng chia sẻ: “Khi thấy gánh nặng vượt quá sức mình, tôi không suy xét hay phân tích nó, mà chạy đến với Thánh Tâm Chúa Giê-su như một đứa trẻ và chỉ thốt lên một lời: ‘Ngài có thể làm mọi sự’” (#1033, trang 392).

3. Lòng thương xót là cốt lõi của cộng đoàn

Lần đầu tiên tôi đọc Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót là cách đây vài năm, cùng với nhóm các nhà truyền giáo của chương trình Life Teen.  Một trong các nhà truyền giáo có ý cầu nguyện cho người thân bị bệnh.  Không chút do dự, tất cả chúng tôi đã cùng nhau vào nhà nguyện với tràng hạt trong tay để cầu nguyện.

Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót thường được đọc trong những lúc cầu nguyện cho người bệnh và người hấp hối.  Chuỗi Kinh cũng thường được đọc sau khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể trong Thánh lễ.  Qua nhiều lần tỏ mình, Chúa Giê-su đã khẳng định rằng Chuỗi Kinh này không chỉ dành cho người đang đọc mà còn dành cho toàn thế giới.  Thánh Faustina kết thúc lời nguyện trong một đoạn nhật ký bằng câu “vì cuộc khổ nạn đau thương của Ngài, xin thương xót chúng con” (#475), và đoạn tiếp theo được sửa đổi thành “xin thương xót chúng con và toàn thế giới” (#476).

Tôi suy ngẫm về sự thay đổi này và vì sao Chúa Giê-su nhấn mạnh đến điều đó.  Dù lời cầu nguyện chung này chủ yếu dành cho những ai sắp lìa đời, tôi nghĩ rằng Chúa Ki-tô có ý dành cho bất kỳ ai cần đến lòng thương xót của Chúa (tất cả chúng ta!).  Cùng nhau cầu nguyện bằng những lời kinh này sẽ mang lại sức mạnh và lòng can đảm, xin ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn không chỉ cho riêng chúng ta mà cho toàn thế giới.

4. Sự tha thứ của chính chúng ta là cần thiết cho lòng thương xót

Nói thì dễ hơn làm, phải không?  Đối với tôi, lời dạy khôn ngoan này của thánh Faustina thực sự là một thử thách lớn.  Cũng như Thiên Chúa ban cho chúng ta lòng thương xót vô tận của Ngài, ta cũng được mời gọi thực hành lòng thương xót đó với người khác.  Điều này có thể thể hiện qua lòng kiên nhẫn với đứa em đang làm ta khó chịu, tha thứ cho một người bạn mà ta cảm thấy đã làm mình tổn thương, hoặc thậm chí là lòng thương xót đối với chính bản thân mình khi ta nhận ra những thiếu sót trong tình yêu và niềm tin vào Chúa Giê-su.

Thành thật mà nói, tôi không nghĩ mình luôn là một người bạn tốt.  Đôi khi, tôi chìm đắm trong sự tự trách và đổ lỗi cho bản thân về mọi điều mình có thể đã nói hay làm sai.  Lúc khác, tôi đổ hết trách nhiệm lên người khác.  Nhưng chính trong những lúc như vậy, tôi được mời gọi không chỉ đón nhận lòng thương xót của Chúa mà còn được mời gọi chia sẻ lòng thương xót ấy: “Ai biết tha thứ sẽ chuẩn bị cho mình nhiều ân sủng từ Thiên Chúa.  Mỗi khi nhìn lên thập giá, tôi sẽ tha thứ với cả trái tim mình” (#390, trang 175).

Bước theo đường thương xót

Cuộc đời của Thánh Faustina chứng minh rằng Chúa Giê-su có thể biến điều bình thường thành phi thường.  Dù chúng ta có thể không trải nghiệm những hình ảnh sâu sắc như vậy về Chúa Giê-su trong cuộc sống hàng ngày, nhưng chúng ta có thể nhìn vào thánh Faustina như một khí cụ của sự khiêm nhường và lòng tín thác hoàn toàn vào Chúa.

Nếu bạn thấy cuộc đời của Thánh Faustina khó hiểu hoặc thậm chí quá khó tin, hãy tự hỏi tại sao.  Hãy mời Thánh Faustina cầu nguyện cùng bạn và xin Chúa mở tâm trí bạn cho những tiềm năng về lòng thương xót và tình yêu của Ngài.  Như Thánh Faustina nhắc nhở chúng ta, tất cả những gì ta cần làm là chạy đến với Chúa như một đứa trẻ và chỉ thốt lên một lời: “Ngài có thể làm mọi sự.”

Maddy Bass
Joseph Nguyễn Tro Bụi chuyển ngữ từ https://lifeteen.com

ĐỨC TIN CHÂN THẬT

Bài Tin Mừng của Phụng vụ hôm nay có thể làm chúng ta hoang mang: trong thực tế, chúng ta không có khả năng để lệnh cho cây dâu bật rễ để đến mọc dưới biển.  Vậy phải chăng chúng ta chưa có đức tin?  Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất lãm đều ghi lại giáo huấn này của Chúa, và đều nằm trong ngữ cảnh khuyên bảo các môn đệ hãy kiên trung và cầu nguyện (x. Mt 17,20 và Mc 11,22).

Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, một số Ki-tô hữu chưa có một khái niệm chính xác về đức tin Ki-tô giáo.  Có hình thức đức tin vụ lợi, tức là theo Đạo để được may mắn, để khỏi ốm đau bệnh tật và khỏi gặp khó khăn thất bại trong cuộc sống.  Có hình thức đức tin giống như một nếp sống văn hóa truyền thống, tức là cha ông tôi có Đạo thì tôi cũng là người có Đạo, và tôi tuân giữ những gì cha ông truyền lại cho tôi, vậy là đủ rồi.  Lại có hình thức đức tin hời hợt, tức là tôi vẫn tham dự thánh lễ, nhưng những gì tôi nghe và đọc trong nhà thờ chẳng tác động gì đến cuộc sống của tôi.  Những hình thức đức tin kể trên, rất dễ bị mai một khi gặp khó khăn thử thách.  Chúa mời gọi chúng ta hãy thanh lọc để có một đức tin tinh tuyền và chân thật.

Đức tin không dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài hay ở những hình thức phô trương bóng bẩy.  Đức tin cũng không phải sự trấn an tâm lý, để làm dịu đi cảm thức tội lỗi mình đã phạm.  Đức tin cũng không phải là sự ủy mị tình cảm lãng mạn, như thi thoảng chúng ta nghe những bài hát được gọi là “thánh ca” mang nội dung thuần túy tình cảm ướt át.

Đức tin trước hết là quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta khi chúng ta lĩnh nhận bí tích Thanh tẩy.  Đức tin phải được ăn rễ sâu và xây dựng vững chắc nơi tâm hồn và cuộc đời mỗi cá nhân chúng ta.  Đức tin ấy lớn lên mỗi ngày, nhờ cố gắng kiên trì của bản thân, với thiện chí và lương tâm ngay thẳng, nhằm mục đích rập khuôn đời mình theo gương Chúa Giê-su.

Khi so sánh đức tin với hạt cải, là thứ hạt rất nhỏ bé so với các loại hạt khác, Đức Giê-su muốn dạy chúng ta: đức tin vào Chúa không được đo bằng dung lượng to nhỏ hay trọng lượng nặng nhẹ, nhưng ở sự gặp gỡ Chúa trong tâm hồn mình.  Theo thánh nữ Tê-rê-xa A-vi-la, mỗi chúng ta, dù tin vào Ngài hay không, đều có Chúa hiện diện.  Nên thánh là hành trình khám phá sự hiện diện của Chúa mỗi ngày một rõ hơn trong cuộc đời mình, để rồi được gặp gỡ Chúa và kết hợp thâm sâu với Người.  Những tâm hồn đạo đức càng ngày càng tiến sâu vào lâu đài nội tâm là tâm hồn mình, để gặp gỡ Chúa và cảm nhận được sự ngọt ngào Chúa ban.

Nếu Chúa Giê-su đã dùng hình ảnh hạt cải để nói về đức tin, thì thực ra đức tin của chúng ta là vô hình, không thể đong đếm và đo lường.  Tin là thái độ, là sự tín thác trao gửi cuộc đời và tương lai mình nơi sự dẫn dắt quan phòng yêu thương của Chúa.  Dầu là vô hình, đức tin lại có sức mạnh phi thường đến nỗi cảm hóa bản thân và môi trường xung quanh, nếu chúng ta có đức tin chân thật.

Khi có đức tin trưởng thành, tín hữu ý thức mình chỉ là đầy tớ có Chúa là Ông Chủ.  Bổn phận người đầy tớ là đoán trước Chủ muốn gì để làm theo ý của Chủ mình.  Khi tự nhủ: “Tôi chỉ là đầy tớ vô dụng” là thể hiện sự tín thác và phụ thuộc hoàn toàn vào Chúa.  Tất cả những gì mình làm được là do Chúa và nhằm để tôn vinh Người.  Người tín hữu đạt tới mức hoàn thiện sẽ có thể nói như thánh Phao-lô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Tin là gặp gỡ, nhưng là gặp gỡ Đấng Vô Hình.  Vì thế, người tín hữu thường bị thử thách về đức tin, nhất là trong lúc bệnh tật hoặc khó khăn thất bại.  Tác giả sách ngôn sứ Kha-ba-cúc đã nhập vai một người đau khổ cùng cực, và ông kêu lên cùng Chúa.  Lời kêu van kèm theo ý trách móc của ông phản ánh tâm trạng của chính chúng ta, khi cầu nguyện mà không thấy Chúa nhận lời.  Trong trường hợp của Kha-ba-cúc, Chúa đã đáp lời ông.  Ngài hứa sẽ ra tay cứu chữa những người công chính, tức là người trung thành với Chúa và sống hài hòa với anh chị em mình.  Hôm nay Chúa cũng đang nói với chúng ta như thế.

Được đón nhận hồng ân đức tin, sứ mạng của tín hữu là góp phần mình để xây dựng Giáo Hội của Chúa Ki-tô giữa trần gian.  Thánh Phao-lô đã khuyên người môn sinh của mình là ông Ti-mô-thê: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (Bài đọc II).   Nếu chúng ta chưa có thể khiến cây dâu bứng rễ để trồng dưới biển, thì chúng ta lại có thể gieo mầm những đóa hoa của lòng nhân ái yêu thương xung quanh chúng ta.  Khi nhiệt thành sống đức tin, chúng ta sẽ làm cho cuộc đời bóng đêm bao phủ này được ngập tràn ánh sáng và bình an của Chúa.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên