NGŨ TUẦN MỚI

“Bà Elisabeth được đầy Thánh Thần.”

“Điều Giáo Hội cần ngày nay không phải là máy móc hiện đại, các tổ chức bề thế hay các kế hoạch quy mô; điều Giáo Hội cần là những con người cầu nguyện mà Chúa Thánh Thần có thể sử dụng!  Chúa Thánh Thần không tuôn tràn ân sủng qua các kế hoạch, mà qua con người; không đến bằng máy móc, mà bằng con người; không xức dầu cho các tổ chức, mà xức dầu con người – những con người cầu nguyện.  Ở đâu có họ, ở đó có một lễ Ngũ Tuần mới!” – E. M. Bounds.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ở đâu có những con người cầu nguyện, ở đó có một lễ ‘Ngũ Tuần mới!’”  Tin Mừng ngày lễ Đức Mẹ Thăm Viếng cho thấy Đức Maria là một trong những con người đó.

Vậy thì điều gì đã thôi thúc Maria mạo hiểm thực hiện một cuộc du hành đầy rủi ro và vội vã đến thế?  Thưa đó là sức mạnh không thể cưỡng lại đang tác động trong Mẹ!  Chính sự hiện diện của Thánh Thần từ ngày Truyền Tin đã làm lu mờ người thôn nữ và lấp đầy ‘thiếu nữ Sion’ này.  Chính Thánh Thần giục giã Mẹ cất bước cùng lúc với sự thôi thúc bên trong của hài nhi Giêsu Mẹ cưu mang.  Để rồi, Mẹ cùng Con, Con cùng Mẹ, đồng hành với Thánh Thần trong niềm vui; và như thế, sấm ngôn của Xôphônia được ứng nghiệm, “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!” – bài đọc một.  Cũng Thánh Thần đó, đã ngập tràn Elizabeth khi bà vừa nghe lời chào của người em họ, đến nỗi, Gioan trong dạ mẹ cũng nhảy lên vì vui sướng.

Có thể nói, cuộc viếng thăm của Đức Maria là một lễ ‘Ngũ Tuần mới’ mà Elizabeth tự coi mình bất xứng để tham phần, “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?”  Câu hỏi bồi hồi của Elizabeth phản ánh cùng một đức tính cần thiết nơi một con người cầu nguyện, đó là sự khiêm nhường!  “Hãy luôn luôn và trên hết là những linh hồn cầu nguyện, tôn thờ, yêu thương.

Catharina Siêna một con người cầu nguyện đã từng viết, “Trong bản chất của Ngài – Đấng Tối Cao Vĩnh Cửu – con sẽ biết bản chất của con!”  Và chị thánh tự hỏi, “Bản chất của con là gì?  Đó là lửa!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

“Bà Elisabeth được đầy Thánh Thần.”  Nhờ cuộc thăm viếng của Maria, Elisabeth ngập tràn niềm vui và lửa Thánh Thần.  “Đây là niềm vui mà trái tim cảm nhận khi chúng ta quỳ gối để tôn thờ Chúa Giêsu trong đức tin.  Niềm vui mang Chúa Kitô, đầy Thánh Thần với lòng biết ơn đối với Thiên Chúa vốn thúc đẩy chúng ta mang Chúa đến cho người khác một cách tất yếu!” – Bênêđictô XVI.  Vì thế, khi cất lên Magnificat, Mẹ không còn dè giữ niềm vui cho mình, nhưng nghĩ tưởng về những gì Chúa làm cho nhân loại, cho dân tộc mình; một dân tộc, rồi đây, sẽ nhận biết ơn cứu độ nơi Đấng Mẹ cưu mang.  Kìa!  “Đấng Thánh cao cả của Israel ở giữa ngươi!” – Thánh Vịnh đáp ca.  Ước gì, niềm vui cầu nguyện, niềm vui sống trong lửa Thánh Thần cũng mang đến một lễ ‘Ngũ Tuần mới’ cho gia đình, cho những người thân yêu, cho những anh chị em chung quanh cuộc sống của bạn và tôi!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con trở nên một cỗ máy vô hồn, nhưng là một con người cầu nguyện đầy Thánh Thần; để ở đâu có con, ở đó có một lễ Hiện Xuống mới!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KHÔNG CÓ KẾ HOẠCH HẬU THUẪN

Chúa Giêsu trao cho các môn đệ nhiệm vụ hoàn tất công trình của Người bằng cách chia sẻ Tin Mừng cho toàn thể thế giới.

Có một huyền thoại xưa về việc lên trời của Đức Giêsu.  Theo huyền thoại này, khi Đức Giêsu đến thiên đường, thân thể của Người vẫn còn các vết thương của khổ hình thập giá.

Chân tay của Người vẫn còn mang vết đinh.  Cạnh sườn Người vẫn còn dấu vết của cây giáo.  Lưng của Người vẫn còn các vết sẹo vì roi vọt, và đầu của Người vẫn còn các thương tích vì gai nhọn.

Khi các thánh trên trời nhìn thấy các dấu vết này, họ phủ phục trước mặt Chúa Giêsu.  Họ bàng hoàng khi thấy sự đau khổ Người đã gánh chịu.  Sau đó thiên thần Gabrien đứng lên nói với Chúa Giêsu:

“Lạy Chúa, sự đau khổ mà Ngài gánh chịu ở thế gian thật lớn lao chừng nào!  Nhưng tất cả mọi người dưới thế có biết và có cảm kích những gì Ngài đã kinh qua vì họ, và yêu thương họ như thế nào không?”

Chúa Giêsu trả lời:

“Ô, không! Chỉ có một ít người ở Palestine biết điều đó.  Phần còn lại thì không nghe biết gì về ta.  Họ không biết ta là ai.  Họ không biết ta phải đau khổ thế nào, và ta yêu thương họ thế nào.”

Thiên thần Gabrien bàng hoàng khi nghe thế. Sau đó người nói với Chúa Giêsu:

“Làm thế nào những người còn lại ở dưới thế có thể biết về sự đau khổ và tình yêu của Ngài?”

Chúa Giêsu nói:

“Trước khi từ giã, ta có nói với Phêrô, Giacôbê, và Gioan, và một vài người bạn của họ, là hãy đi nói với toàn thể thế giới về ta.

“Họ nói với nhiều người mà họ có thể.  Những người ấy, đến lượt họ, sẽ nói với người khác.  Theo cách ấy, sau cùng toàn thể thế giới sẽ biết về tình yêu của ta dành cho họ.”

Bấy giờ thiên thần Gabrien lại càng bối rối hơn nữa.  Vì thiên thần biết loài người dễ thay đổi chừng nào.  Người biết họ dễ quên chừng nào.  Người biết họ dễ hồ nghi chừng nào.  Do đó người quay sang Chúa Giêsu và nói:

“Nhưng, lạy Chúa, nếu Phêrô, Giacôbê, và Gioan mệt mỏi hay thất bại thì sao?  Nếu họ quên Ngài thì sao?  Nếu họ bắt đầu có những hồ nghi về Ngài thì sao?

“Và ngay cả khi không có điều gì xảy ra, nếu những người được nghe họ nói trở nên thất vọng thì sao? Nếu họ quên đi thì sao?  Nếu họ bắt đầu có những hồ nghi về Ngài thì sao?

“Ngài không nghĩ đến các điều này hay sao?  Ngài không có một kế hoạch hậu thuẫn hay sao – nếu trong trường hợp?”

Chúa Giêsu trả lời:

“Ta có nghĩ đến tất cả những điều này, nhưng ta quyết định không có một kế hoạch hậu thuẫn.  Đây là kế hoạch duy nhất ta có.

“Ta trông nhờ vào Phêrô, Giacôbê, và Gioan không làm ta thất vọng.  Ta trông nhờ vào những người mà họ nói không làm ta thất vọng.”

Hai mươi thế kỷ sau, Chúa Giêsu vẫn không có kế hoạch nào khác.  Người trông nhờ vào Phêrô, Giacôbê, và Gioan, và họ đã không làm Người thất vọng.  Người trông nhờ vào những người mà các tông đồ nói với họ, và họ đã không làm Người thất vọng.  Và giờ đây Chúa Giêsu trông nhờ vào chúng ta.

Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng nhất của niên lịch phụng vụ.

Đó là ngày mà chúng ta cử hành việc Chúa Giêsu trở lại với Chúa Cha.

Chúng ta có thể so sánh Lễ Thăng Thiên với việc chuyền gậy từ lực sĩ này sang lực sĩ kia trong cuộc chạy đua tiếp sức.

Vào ngày này 2,000 năm trước, Chúa Giêsu đã chuyền chiếc gậy công việc của Người cho ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan.  Sau đó, đến lượt họ chuyền gậy này sang những người sau họ.  Lần lượt, những người này chuyền gậy cho chúng ta.  Và giờ đây đến lượt chúng ta chuyền gậy cho những người khác.

Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì?

Có phải nó có nghĩa chúng ta hãy ra đi và rao giảng về Chúa Giêsu, như các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan đã làm?  Có phải điều đó có nghĩa hãy đặt loa phóng thanh trong các thương trường và nói với mọi người về Chúa Giêsu?

Nó có thể có nghĩa như thế cho một số người, nhưng với hầu hết chúng ta nó có nghĩa căn bản hơn việc này.  Nó có nghĩa cơ bản hơn.  Nó có nghĩa sống lời giảng dạy của Chúa Giêsu ngay trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Cách bắt đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho thế gian là bắt đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho chính mình.  Một ngạn ngữ Trung Hoa có nói:

“Nếu có điều đúng trong tâm hồn, sẽ có sự mỹ miều trong con người.
Nếu có sự mỹ miều trong con người, sẽ có sự hài hòa trong gia đình.
Nếu có sự hài hòa trong gia đình, sẽ có trật tự trong quốc gia.
Nếu có trật tự trong quốc gia, sẽ có hòa bình trên thế giới.”

Cách mở đầu rao giảng về Chúa Giêsu cho thế gian là bắt đầu sống lời Chúa trong cuộc đời mình.  Một khi chúng ta bắt đầu thi hành điều này, thông điệp của Chúa Giêsu sẽ bắt đầu gợn sóng trong thế giới.  Và nếu có đủ Kitô Hữu làm điều này, gợn sóng đó sẽ trở nên một cơn thủy triều, và thủy triều đó sẽ thay đổi mặt đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ mơ tưởng có thể được.

Đây là thông điệp của buổi lễ hôm nay.  Đây là thách đố mà các bài đọc hôm nay đề ra cho chúng ta.

Chúa Giêsu trông nhờ vào chúng ta.

Hãy kết thúc với những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Bài Giảng Trên Núi.  Trong ánh sáng của những gì chúng ta vừa nói, những lời này có một ý nghĩa đặc biệt.  Chúa Giêsu nói:

“Các con giống như muối cho toàn thể nhân loại.  Nhưng nếu muối mất vị mặn của nó, không cách chi làm cho nó mặn lại.  Nó trở nên vô dụng, bị quăng ra ngoài và người ta chà đạp lên.

“Các con giống như ánh sáng cho toàn thế giới.  Một thành xây trên núi thì không thể che giấu được.  Cũng thế, ánh sáng của các con phải chiếu tỏa trước mọi người, có như thế họ sẽ thấy những điều tốt lành các con làm và ngợi khen Cha các con ở trên trời.” (Mt 5:13-16).

Lm. Mark Link, S.J.

NƯỚC MẮT VÀ HẠNH PHÚC

Tôi cười khi tôi vui.  Tôi khóc lúc khổ đau.  Nụ cười biểu hiệu cho hạnh phúc.  Nước mắt tượng trưng cho nỗi buồn.  Như thế, trong hạnh phúc không có nước mắt.  Nhưng nước mắt có thể mời gọi hạnh phúc trở về.  Nước mắt là những lời giải thích về đau khổ.  Tôi có đau khổ tuyệt vọng, tôi có đau khổ ăn năn.  Bởi đấy, nước mắt cũng có hai dòng, một dòng tuyệt vọng, một dòng sám hối.

Nước mắt tuyệt vọng là nước mắt của con tim oán than chối từ một niềm tin.  Càng chối từ niềm tin bao nhiêu thì nỗi đắng cay càng oan nghiệt bấy nhiêu.  Nước mắt tuyệt vọng là ngọn than hồng thắp lửa thêm cho đau khổ và khi đau khổ bùng cháy sẽ tiêu diệt đời mình.

Nước mắt ăn năn là nỗi nhớ thương của một tâm hồn gởi một tâm hồn. Nước mắt ăn năn sẽ lôi kéo tình yêu trở về và nước mắt ăn năn là mời gọi duy nhất tình yêu không thể chối từ.

Lầm lẫn và yếu đuối giăng mắc đó đây, do đó tình yêu hoen ố, bởi đấy hạnh phúc chông chênh.  Vì lầm lẫn, tôi có thể làm người yêu tôi buồn.  Vì yếu đuối, tôi có thể phản bội người yêu tôi.  Yếu đuối và lầm lẫn như những thành tố làm nên cuộc đời.  Tôi chẳng thể tránh được yếu đuối.  Tôi không thể thoát khỏi lầm lẫn.  Dù không muốn, chúng vẫn chẳng thiếu vắng trong đời tôi.  Có yếu đuối là có bất toàn, có lầm lẫn là không trọn vẹn.  Vì thế không có tình yêu tuyệt hảo và hạnh phúc vô song trên cõi đời này.  Chỉ có hạnh phúc tương đối nên hạnh phúc ấy có thể nhạt nhòa.  Không có hạnh phúc tuyệt hảo thì cũng không có đau khổ vô cùng.  Bởi đó, trong dại dột tôi có thể học được khôn ngoan.  Trong đau đớn tôi vẫn có hy vọng tìm về niềm vui.

Lầm lẫn và yếu đuối gây thương tích cho hạnh phúc.  Thương tích nơi hạnh phúc chỉ được xoa dịu và tái sinh bằng nước mắt ăn năn.  Xin cho tôi biết khóc, biết chua xót ăn năn.  Bởi nếu tôi không biết khóc, biết xót xa hối hận thì tôi chẳng bao giờ mời gọi được hạnh phúc tôi đã đánh mất trở về.  Và như thế, đời tôi nghèo nàn, cơ cực.

Tình yêu là giây đàn rung lên hạnh phúc.  Chỉ cần sẽ chạm tay cũng đủ làm giây đàn im tiếng.  Chỉ cần một tư tưởng phản bội cũng làm cho tình yêu hoen ố.  Chỉ cần một chút oán thù cũng đủ làm cho mặt hồ bình an thành mờ đục.  Nhưng cái mầu nhiệm của tình yêu là chỉ cần một giọt nước mắt ăn năn cũng đủ để tình yêu tha thứ gọi hạnh phúc trở về.  Tình yêu nào khi nghe nước mắt sám hối nhớ thương mời gọi mà không trở về thì đấy không còn là tình yêu nữa.

Nước mắt rơi trong im lặng nhưng tiếng nói của nước mắt lại sâu như lòng biển, lại dài như chiều cao của trời.

Nhìn khóe mắt Phêrô, nước mắt đã chảy, và Chúa Yêsu chẳng còn cách nào khác là yêu thương bằng một tình yêu rộng lớn hơn.

Nhìn khóe mắt Mai Ðệ Liên, nỗi u buồn đọng đó, và Chúa Yêsu chẳng còn cách nào khác là để nỗi buồn đó thấm vào tim mình bằng những dòng máu tha thứ và yêu thương vô bờ.

Tội và đau khổ là định mệnh trong cuộc đời.  Tôi phải khiêm tốn nhìn nhận mình chẳng thể tránh khỏi.  Nhưng tội và đau khổ không có toàn năng lực chế ngự vĩnh cửu cuộc sống, chúng bị phá đổ bởi nước mắt.

Lạy Cha, xin cho con biết khóc mỗi khi tội trần con phạm.
Xin cho con được rửa tội hồn con bằng nước mắt ăn năn.

Và lạy Cha,

Ðừng bao giờ để con tuyệt vọng vì mất niềm tin là mất cả cuộc đời.

LM Nguyễn Tầm Thường S.J

NHÂN LOẠI ĐANG RẤT CẦN BÌNH AN GIÊSU

Trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, bình an luôn là khát vọng thiêng liêng và bất tận của con người.  Đây không chỉ là trạng thái không có chiến tranh, mà còn là điều kiện tiên quyết để con người sống và yêu thương nhau.  Quả thật, con người ở mọi nơi mọi thời luôn khao khát bình an, muốn sống tự do, hạnh phúc, không có chiến tranh.  Thế giới hòa bình giúp con người ngồi lại với nhau, bắt tay nhau xây dựng địa cầu.

Trải qua bao thăng trầm, nhất là trong thế kỷ XX đầy biến động với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng loạt cuộc xung đột khu vực, nhân loại đã rút ra một chân lý không thể chối cãi: chiến tranh chưa bao giờ là lối thoát, hòa bình mới là đích đến.

Thực tế cho thấy, chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào, luôn đi kèm với những hệ lụy, không chỉ tàn phá cơ sở vật chất, chiến tranh còn để lại những vết thương tinh thần kéo dài qua nhiều thế hệ.  Từ những thành phố đổ nát ở Ukraine, Dải Gaza, Sudan đến Yemen, Lebanon, Myanma…, hàng chục triệu người đã buộc phải rời bỏ nhà cửa, trở thành nạn nhân của các cuộc chiến mà họ không hề lựa chọn.

Báo cáo mới nhất của Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn cho biết, thế giới hiện có hơn 114 triệu người phải di tản, con số cao nhất trong lịch sử hiện đại.  Nạn nhân luôn là kẻ yếu người thua, dân thường, trẻ em và phụ nữ.

Giữa tiếng bom rơi và các loại máy bay tối tân gào rít trên bầu trời ở một số quốc gia, máu của người dân ở dải Gaza và ở Trung Đông cùng cuộc xung đột Nga – Ukraina kéo dài hơn 2 năm nay, đã và đang cướp đi hàng triệu người dân vô tội.

Nền hòa bình của nhân loại đang bị đe dọa nghiêm trọng.  Những người có lương tri trên thế giới luôn theo dõi sát sao và kêu gọi các bên liên quan ngừng bắn để ngồi lại với nhau giải quyết thông qua đàm phán hòa bình.

Trong bối cảnh đó, “bình an” càng trở nên có ý nghĩa.  Bởi lẽ, trong thế giới ngày nay, bình an không còn là điều hiển nhiên, mà là một lựa chọn có ý thức.  Bình an cần được nâng niu, trân trọng và gìn giữ Chúa đã nói với các tông đồ rằng: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con…” (Ga 14,27).  Thế giới hiện nay đang khao khát bình an của Chúa.

Bình an của Đức Ki-tô

Bình an cho anh em!” (Lc 24,36) là lời đầu tiên của Chúa Giêsu sau khi sống lại và hiện ra với các môn đệ ngày thứ nhất trong tuần.

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao là ‘bình an’ mà không phải là giàu sang, tài giỏi, sức khỏe hay điều gì khác?

Thưa, vì nếu con người có tất cả những thứ đó mà không có bình an thì coi như chẳng có gì.  “Bình an” là quà tặng cao quý của Thầy để lại cho các học trò trước lúc ra đi.  Đó cũng là “Bình an” sau khi sống lại Chúa Giêsu sẽ tặng cho các môn đệ đang cửa đóng then cài vì sợ hãi.  “Bình an” là điều các ông đang cần đến hơn bao giờ hết.  Thế nên, với nghĩa nặng tình sâu trong tình thầy trò, đang lúc các môn đệ ưu sầu lo lắng.  Chúa Giêsu nói với các ông: “Anh em đừng xao xuyến!  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1); “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.   Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.  Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).  Người ban cho họ bình an, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng.

Tại sao bình an của Chúa Giêsu thế gian không thể ban tặng?

Thưa, vì Chúa Giêsu chính là bình an; là nguồn bình an, Người ban cho các môn đệ chính bình an của Người, bình an nội tâm, bình an tuyệt đối, bình an vượt xa sự hiểu của con người.  Có bình an Giêsu, con người các ông hoàn toàn đổi mới, ngờ vực trở nên vững tin, nhút nhát nên người can đảm, sống cửa đóng then cài, nay đi rao giảng Chúa Giêsu chết bị chôn trong mồ đã sống lại hiển vinh, mà chính các ông làm chứng, không sợ chết.

Bình An có tên là Giêsu

Chúa Giêsu chính là bình an đích thực.  Có bình an của Chúa Giêsu đồng nghĩa với có chính Chúa, “Bình An Giêsu.”  Có được Bình An Giêsu người ta sẽ cảm nhận được tâm hồn thanh thản, thể xác lành mạnh, bình an cả xác hồn.  Bình an này hướng các môn đệ về mầu nhiệm cách chung, nhiệm cục cứu độ, chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an này.

Bình an nội tâm của con tim, của con người với chính mình và với Thiên Chúa.  Đây là sự bình an nền tảng nhất.  Không có sự bình an này, thì không bình an nào khác có thể tồn tại.  Chúa Giêsu đã chào các môn đệ: “Bình an cho các con,” Người cũng truyền cho các ông: “Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: Bình an cho nhà này” (Lc 10, 5-6).

Chúa Giêsu là chính sự bình an: “Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy.”  Các ông chỉ có được khi tuân giữ lệnh Chúa truyền là “yêu thương nhau” (Ga 13, 34).  Về vấn đề này, Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II nói: “Con đường của bình an chung cục phải đi qua trong tình thương và hướng tới việc tạo nên một nền văn minh tình thương.  Giáo hội chăm chú nhìn về Đấng là Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con và bất chấp mọi đe dọa không ngớt gia tăng, Giáo hội không ngừng hy vọng, Giáo hội không ngừng kêu cầu và phục vụ hoà bình của nhân loại trên trái đất” (Dominum et Vivificantem đoạn 67).

Không thể có bình an nếu không có sự tha thứ.  Hãy tuân giữ luật yêu thương, và tha thứ cho nhau, ngay cả kẻ thù của mình (Mt 5, 44), thay vì luật báo thù.  Bạo lực sẽ dẫn đến bạo lực.  Báo thù không dẫn đến hoà bình.  Chỉ có tình thương mới đem lại bình an thực sự, vì Thiên Chúa là Tình yêu là nguồn bình an (Ga 4, 8, 16; Rm 16, 20).

Lạy Chúa, xin thương ban cho Hội Thánh được hiệp nhất và bình.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

NHƯNG CÒN LÀ GIÁO HỘI

“Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”

“Để làm công việc của Chúa Kitô – đúng theo nghĩa đen – Giáo Hội là đôi tay; để lên đường rao truyền Chúa Kitô, Giáo Hội là đôi chân; để công bố Lời Chúa Kitô, Giáo Hội là tiếng nói.  Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” – William Barclay.

Kính thưa Anh Chị em,

Khi nói “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy,” Chúa Giêsu không chỉ nói đến tình yêu của chúng ta đối với Ngài; ‘nhưng còn là Giáo Hội’ của Ngài!

Như Eva hình thành từ cạnh sườn Ađam, Giáo Hội hình thành từ cạnh sườn Chúa Kitô.  Bạn không thể nói, “Lạy Chúa, vâng! Và Giáo Hội, không!”  Chính nhờ Giáo Hội, chúng ta chào đời trong đức tin, lãnh nhận bao ân tứ đức tin và lớn lên trong đức tin.

Tình yêu của Chúa Kitô thể hiện rõ nét qua ‘tông sắc’ của ‘Công Đồng đầu tiên’ về việc “Cắt bì hay không cắt bì!”  Các tông đồ với sự trợ giúp của Thánh Thần đã tìm ra giải pháp tối ưu cho nan đề!  Nhờ đó, Giáo Hội tránh được những thực hành không là trọng tâm của đức tin; cùng lúc loại bỏ những gì không thiết yếu – cho dẫu “cắt bì” là một truyền thống hàng ngàn tuổi.  Nguyên tắc vàng ‘khoan dung’ và ‘hiệp nhất’ được tuân thủ từ cả hai phía ‘bảo thủ’ lẫn ‘tiến bộ.’  Nhờ vậy, Tin Mừng tiếp tục toả lan, “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Gần gũi chúng ta hơn, tình yêu của Chúa Kitô thể hiện tỏ tường qua mật nghị bầu chọn Đức Lêô XIV.  Hồng y người Pháp Pierre nhận xét – bằng cách đảo ngược câu nói thời danh của nhà thơ Charles Péguy – theo đó, “Mọi thứ bắt đầu bằng thần bí và kết thúc bằng chính trị;” “Trong mật nghị, tôi đã trải nghiệm rằng, mọi thứ bắt đầu bằng chính trị và kết thúc bằng thần bí!”  Thế giới bàng hoàng!  Bạn có tin cơn lốc của Thánh Thần đã vần vũ một góc trời Rôma trong những ngày qua?  Hãy tin và biết rằng, Chúa Kitô muốn chúng ta yêu thương các Giám mục, Linh mục; đặc biệt, Đức Thánh Cha.  Chỉ cần một chút thời gian, bạn có thể tiếp cận ngài; biết các khó khăn của các mục tử, cả sự kiên trì của họ.  Chính nhờ các ngài, Thánh Thể hiện diện khắp nơi.  Hãy cám ơn Đức Thánh Cha, các Giám mục, Linh mục; cám ơn Giáo phận, Giáo xứ và cộng tác theo sức mình!

Anh Chị em,

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội!”  “Bạn không trở thành Kitô hữu từ phòng thí nghiệm; Giáo Hội sinh chúng ta như bà mẹ sinh con!  Tại giếng Rửa Tội Latêranô, có một bản khắc Latin: “Nơi đây, sinh ra một dân tộc, dòng dõi Thiên Chúa, bởi Thánh Thần, Đấng làm nước này nên phong phú.  Mẹ Giáo Hội sinh con cái trong sóng nước này!”  Đẹp không?  Chúng ta không thuộc về Giáo Hội như thuộc về một hiệp hội; nhưng như ‘cuống rốn’ nối kết sinh tử với mẹ mình!”  Mọi bà mẹ đều thiếu sót.  Khi ai nói tới các thiếu sót của mẹ mình, chúng ta che lại, chúng ta yêu chúng, thế thôi!  Tôi có yêu Giáo Hội như yêu Mẹ tôi?  Tôi có giúp Mẹ tôi đẹp hơn không?” – Phanxicô.  Đừng quên, tôi càng thánh thiện, khuôn mặt Mẹ tôi càng xinh; tôi càng bất xứng, khuôn mặt Mẹ tôi càng khó nhìn!  Mẹ tôi sáng láng hay lấm lem, tùy ở tôi!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không chỉ là con, ‘nhưng còn là Giáo Hội’ và Giáo Hội là Mẹ con.  Đừng để con quên, khuôn mặt Mẹ con xinh đẹp hay lấm lem, tuỳ con!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN THẬT SỰ CÓ ÍCH KHÔNG?

Nếu Thiên Chúa biết điều chúng ta cần trước khi chúng ta xin Người, vậy mục đích của lời cầu nguyện là gì?

Tất cả chúng ta đều biết lời cầu nguyện không phải là câu “thần chú” mà con người sử dụng đối với Thiên Chúa.  Hành vi cầu nguyện không phụ thuộc vào việc kể lể dài dòng hoặc phát minh ra một vài công thức phép thuật cho phép chúng ta điều khiển thời gian và những biến cố để giảm bớt nỗi sợ hãi, cũng như thỏa mãn mong muốn của mình.  Chúa Giêsu đã dạy rất rõ về điểm này: “Khi cầu nguyện anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời” (Mt 6, 7).  Điều lạ lùng là lời cầu nguyện không tác động nhiều trên Thiên Chúa, nhưng nó lại tác động nhiều trên chúng ta.

Đó là lý do tại sao Thánh Tông đồ Phaolô kêu gọi chúng ta “cầu nguyện luôn” (1Tx 5, 17).  Chúng ta phải luôn cầu nguyện để: quay về với Thiên Chúa, mở lòng hướng về sự hiện diện của Người, lắng nghe điều Người nói với chúng ta, đặt Người vào trong cuộc sống chúng ta và trong anh chị em chúng ta, kết hiệp chúng ta với Thánh ý Người.  Đằng sau mỗi lời cầu xin cá nhân, cần có một điều cơ bản, đó là ước muốn của chúng ta phải vì Chúa.  Không có điều đó, chúng ta có nguy cơ rơi vào mâu thuẫn thiêng liêng, và đời sống thiêng liêng của chúng ta sẽ bị suy yếu.  Thật vậy, lời cầu xin vì Chúa bao gồm việc mong đợi tất cả mọi sự theo Chúa, nhưng sẽ là mâu thuẫn khi trong thực tế chúng ta không mong đợi gì theo Chúa.

Thiên Chúa rất vui khi chúng ta cầu nguyện

Thánh Gioan Thánh giá khuyến cáo chúng ta: chúng ta nên yêu mến Thiên Chúa là Đấng ban ơn, hơn là yêu thích ơn mà Người ban cho ta.  Trong cùng một logic như thế, chúng ta nên hiểu những lời đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng thứ tư: “Các anh tìm gì?”  Chúng ta đang háo hức tìm kiếm quá nhiều thứ!  Nhưng chính Đức Giêsu là Đấng cho chúng ta câu trả lời đúng đắn: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 33).  Điều này cũng soi sáng cho chúng ta về “những ý nguyện” rõ ràng trong lời cầu nguyện của mình.

Chúng ta có thể dễ dàng xin Thiên Chúa hàng ngàn điều liên quan đến những vấn đề toàn cầu trong đời sống chúng ta, cũng như đến những chi tiết nhỏ bé, dựa trên tình huống mà những điều này liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến vinh quang Thiên Chúa.  Như Thánh Augustinô đã viết ở phần kết trong lá thư gửi Proba về cầu nguyện: “Chúng ta không xin gì, nhưng những điều chúng ta xin đã thật sự chứa trong Kinh Lạy Cha.”  Lời Kinh mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta cũng là lời nguyện của chính Ngài, đã trở thành lời nguyện của chính chúng ta: “Xin cho Ý Cha được thể hiện.”  Vì thế, lúc này chúng ta có thể trở lại với vấn đề ban đầu của chúng ta: Nếu Cha chúng ta ở trên Trời biết con cái Người cần gì ngay cả trước khi họ nói với Người, và nếu Người luôn mong muốn ban cho họ điều tốt nhất, thì tại sao chúng ta phải thưa với Người về những ước muốn của chúng ta?

Chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa Cha không phải là người cha theo chủ nghĩa gia trưởng.  Người không muốn chống lại ý muốn của chúng ta, kể cả khi cứu chúng ta.  Vì thế, Thiên Chúa hạnh phúc khi chúng ta biết kết hợp và thêm tình yêu và sự dấn thân của chúng ta vào lời cầu nguyện mạnh mẽ, thuần khiết và hoàn hảo của Con Yêu Dấu của Ngài, một lời cầu nguyện vốn luôn được nhậm lời.  Và Thiên Chúa cũng hạnh phúc khi chúng ta cầu nguyện nhân Danh Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần – Đấng chuyển cầu cho chúng ta được theo như ý Thiên Chúa muốn.

Lm Alain Bandelier
Dung Hạnh chuyển ngữ từ aleteia.org

PHIM NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN

Tôi chắc chắn nhiều người đã biết loạt phim truyền hình The Chosen (Người Được Chọn) về cuộc đời Chúa Giêsu.  Phim phát hành từ năm 2019, đã ra rạp, đã phát trên mạng và đã có hơn 200 triệu người xem.  Phim được dịch ra 50 ngôn ngữ và có 13 triệu người theo dõi trên mạng xã hội, với khoảng 30% khán giả không phải là tín hữu Kitô.

Phim được nhà sản xuất Dallas Jenkins dàn dựng, ông là tín hữu kitô phái Phúc âm với sự hiểu biết về đại kết và liên tôn rất sâu đậm.  Jonathan Roumie, người công giáo La-mã sốt sắng, đóng vai Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu trong phim có cái gì đó khác với Chúa Giêsu chúng ta thường thấy trong các minh họa và các phim khác.  Trong phim này, đạo diễn giới thiệu một Chúa Giêsu gần gũi và dễ gần và vì thế có một tác dụng rất hữu ích.

Đó là tác dụng nào?  Linh mục Dòng Tên Joe Hoover viết trên báo America: “Tôi được rửa tội, là tín hữu Kitô đã 53 năm, học trường công giáo và ở Dòng Tên đã 30 năm… loạt phim The Chosen đem lại cho tôi nhận thức, gắn kết với cuộc đời Chúa Kitô và các môn đệ mà tôi không có được ở bất cứ đâu khác.  Không có bài giảng, không có lời tán tụng thần học, không có bằng thạc sĩ, không có lớp học về thánh Gioan, Thánh Máccô hay Thánh Luca, không có hội thảo linh đạo, không có khóa tĩnh tâm Kinh Thánh 30 ngày nào, nhưng bộ phim đã tái hiện Kinh Thánh, làm cho Đức Kitô và dân của Ngài trở nên rất thật và dễ gần với tôi.”

Tôi cũng cảm thấy như vậy.  Người Được Chọn cũng có ảnh hưởng tương tự như vậy trên tôi.  Như linh mục Joe Hoover, tôi được rửa tội khi mới sinh, được dạy theo truyền thống công giáo La-mã, là tu sĩ của một hội dòng, có bằng cấp thần học, đã dự nhiều khóa hội thảo về linh đạo, đã nghiên cứu Phúc âm dưới sự hướng dẫn của một vài học giả có tầm vóc thế giới, nhưng loạt phim này cho tôi thấy gương mặt của Chúa Giêsu mà tôi không thấy được trong những gì tôi đã từng học, nó giúp tôi nhiều trong việc cầu nguyện và trong tương quan với Chúa Kitô.

Về căn bản, đó là những gì bộ phim Người Được Chọn mang lại cho tôi, giới thiệu một Chúa Giêsu mà tôi muốn ở bên cạnh Ngài.  Có phải tất cả chúng ta đều muốn ở bên cạnh Ngài đó không?  Đúng như vậy, nhưng nếu chúng ta thành thật với chính mình, thì Chúa Giêsu thường được giới thiệu không phải là người chúng ta muốn dành nhiều thì giờ để ngồi riêng với Ngài, là người chúng ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên không cần phải màu mè gì.

Nhìn chung trong các phim, Chúa Giêsu thường bị cho là thiếu hơi ấm tình người, xa cách, nghiêm nghị, thoát tục, quá sùng kính, có ánh mắt làm chúng ta cảm thấy áy náy vì tội của mình mà Chúa bị đóng đinh.  Chúa Giêsu đó cũng không vui, gần như Chúa không bao giờ đem nụ cười đến với thế gian, không bao giờ đem sự nhẹ nhàng vào giữa mọi người.  Ngài không phải là Chúa Giêsu mà chúng ta thấy thoải mái khi ở bên cạnh Ngài.

Đáng tiếc thay, đó lại là Chúa Giêsu thường thấy trong các bài giảng, bài giáo lý, trong các khóa thần học và trong linh đạo bình dân.  Chúa Giêsu chúng ta thấy ở đó, với mọi chân lý và mặc khải Ngài đem lại cho thế gian, thường vẫn quá thần thánh và quá sùng kính để chúng ta có thể thoải mái ở bên cạnh theo kiểu con người.  Ngài là Chúa Giêsu chúng ta ngưỡng mộ, có khi còn ái mộ, người mà chúng ta tin tưởng đủ để dâng cả tâm hồn cho những điều lớn lao.  Nhưng Ngài cũng là Chúa Giêsu mà chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở gần, người chúng ta sẽ không chọn để ngồi bên cạnh trong bàn ăn, để cùng đi nghỉ mát, người quá cách biệt với chúng ta đến nỗi chúng ta dễ dàng xem Ngài là người thầy đáng kính hơn là người bạn thân thiết, lại càng không phải là người yêu để chúng ta gắn kết tâm hồn.

Tôi nói vậy không phải để nhân bản hóa Chúa Giêsu (như thỉnh thoảng thời nay người ta vẫn thường làm) bằng cách biến Ngài thành người tử tế rao giảng về tình yêu nhưng không nói lên chân lý bất di bất dịch của Thiên Chúa.  Phim Người Được Chọn không làm vậy.  Hoàn toàn không.

Phim Người Được Chọn giới thiệu một Chúa Giêsu với sự thần thánh mà chúng ta không bao giờ nghi ngờ, dù Ngài nồng hậu và cuốn hút, Ngài có một nhân tính làm chúng ta cảm thấy thoải mái khi ở bên Ngài, thực sự là lôi cuốn chúng ta vào sự hiện diện của Ngài.  Khi xem Người Được Chọn, khán giả không bao giờ có khoảnh khắc nào hoài nghi về chuyện Chúa Giêsu có mối liên kết đặc biệt và bất khả phân ly với Chúa Cha, Ngài cho chúng ta chân lý và sự mặc khải của Thiên Chúa một cách toàn vẹn, không suy suyển.  Nhưng Chúa Giêsu này cũng đem lại cho chúng ta nụ cười của Thiên Chúa, sự nồng hậu, sự chúc phúc của Thiên Chúa trên cuộc đời vốn thường xuyên thiếu vắng những điều này.

Nhà thần nghiệm Julian thành Norwich đã mô tả Thiên Chúa: Thiên Chúa ngồi trên trời, hoàn toàn buông thả, gương mặt Ngài như một bản hòa âm tuyệt diệu.

Người Được Chọn cho chúng ta thấy được khuôn mặt thư thái của Thiên Chúa nhưng tiếc thay, chúng ta lại quá hiếm khi được thấy.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG

Trong suốt mùa Phục sinh, Phụng vụ cho chúng ta nghe nội dung sách Công vụ Tông đồ, mà thánh Lu-ca là tác giả.  Như một phóng sự dài, chủ đề chính của cuốn sách này nói về hoạt động của các tông đồ, đời sống đức tin và sự phát triển của cộng đoàn Giáo hội tiên khởi.  Tác giả khẳng định: Đấng Phục sinh luôn hiện diện giữa các tín hữu.  Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa nhanh chóng lan rộng và số tín hữu ngày càng thêm đông.  Các tông đồ hăng say đi khắp mọi nơi để làm chứng về Chúa Giê-su phục sinh.  Niềm xác tín nơi các ông mạnh mẽ đến nỗi các ông sẵn sàng chịu đau khổ, thậm chí chấp nhận cái chết, để làm chứng cho lời rao giảng của mình.  Những địa danh khác nhau được tác giả sách Công vụ liệt kê (Bài đọc I), cho thấy nỗ lực loan báo Lời Chúa của các tông đồ và hoạt động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần.  Tuy vậy, dù phát triển nhanh chóng, cộng đoàn tín hữu cũng phải đối diện với những khó khăn từ phía người Do Thái.  Họ đã giết Chúa Giê-su, người mà họ lên án là “phản loạn,” và nay họ tiếp tục tẩy chay các tông đồ và vu khống cho các ông mọi điều xấu xa.  Hai vị tông đồ là Phao-lô và Bác-na-ba đã khích lệ động viên các cộng sự, củng cố tinh thần của họ, với lời khẳng định: “Chúng ta phải chịu nhiều đau khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”

Cộng đoàn tín hữu của sách Công vụ Tông đồ trải dài trong lịch sử hai ngàn năm và hôm nay lan rộng toàn thế giới.  Mỗi Ki-tô hữu chúng ta đều là những người nối tiếp anh chị em tín hữu tiên khởi, tiếp tục sống đức tin và loan báo Lời Chúa, với niềm xác tín Chúa Phục sinh đang hiện diện, với tác động của Chúa Thánh Thần.  Chính Chúa Thánh Thần đã nối kết mọi nền văn hóa và mọi ngôn ngữ chủng tộc, đồng thời vẫn tôn trọng và lưu giữ những khác biệt.  Giáo hội của Chúa Giê-su mang tính duy nhất trong những dị biệt, làm nên một Giáo hội phong phú đa dạng và cùng tôn thờ một Thiên Chúa là Cha chung của gia đình nhân loại, lấy đức yêu thương làm luật căn bản.

Các Ki-tô hữu tin vào sự hiện diện của Chúa Giê-su, và cùng nhau làm nên những cộng đoàn yêu thương.  Từ thời ban đầu, Đạo Ki-tô được gọi với cái tên rất dễ mến là “Đạo yêu thương.”  Lời mời gọi yêu thương của Chúa Giê-su chính là nền tảng cho các cộng đoàn Ki-tô hữu, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.  Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta hồi tưởng giờ phút linh thiêng sau bữa tiệc ly.  Chúa Giê-su đã truyền lại một di chúc quan trọng.  Người gọi đó là “giới răn mới.”  Yêu thương là điều kiện cốt yếu để trở nên môn đệ của Chúa Giê-su, đồng thời cũng là dấu chỉ để mọi người nhận ra Chúa Giê-su đang hiện diện nơi các tín hữu, cá nhân cũng như cộng đoàn.

Yêu thương là cốt lõi của Ki-tô giáo.  Đó cũng là lời mời gọi thường xuyên được nhắc lại trong giáo huấn của Giáo hội.  Tuy vậy, lời mời gọi này có nguy cơ trở thành một công thức lỗi thời và nhàm chán đối với một số tín hữu.  Đây đó vẫn tồn tại những Ki-tô hữu chỉ mang danh nghĩa mà thiếu chiều sâu.  Vì vậy đức tin không thực sự thấm nhập vào cuộc đời, để tác động và chi phối hành vi, lời nói và cử chỉ của các tín hữu.  Vẫn còn đó những cộng đoàn chỉ sống đức tin một cách hình thức mà thiếu lòng đạo đức nội tâm.  Một đức tin hời hợt, khi đối diện với thử thách hoặc tranh chấp quyền lợi, sẽ dễ bị nhường chỗ cho xung đột, chia rẽ và bất hòa.

Nếu Bài đọc I trích sách Công vụ Tông đồ, nhắc cho chúng ta về quá khứ, là thời sơ khởi của Giáo hội, thì Bài Tin Mừng lại là giáo huấn dành cho hiện tại, và Bài đọc II lại hướng chúng ta về tương lai.  Thánh Gio-an đã được chiêm ngắm khung cảnh huy hoàng của Thiên Đàng, đó là Trời mới Đất mới.  Nơi đó sẽ không còn nước mắt và tang tóc, nhưng tràn ngập niềm vui.  Nơi đây, điều mà hai tông đồ Phao-lô và Bác-na-ba khích lệ các cộng sự: “Chúng ta phải chịu nhiều đau khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” đã trở thành hiện thực.  Khung cảnh Trời mới Đất mới là nguồn động viên chúng ta trong hành trình đức tin.  Đó cũng là câu trả lời cho những vấn nạn về tương lai và hậu vận của con người.  Đối với những ai tin cậy yêu mến Chúa, Ngài sẽ dành cho họ vinh quang vĩnh cửu.  Chúa Giê-su cũng mời gọi chúng ta ngay ngày hôm nay và trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, hãy cùng cộng tác với Người để đổi mới bộ mặt thế giới, làm cho tình yêu thương lan tỏa nơi mọi nẻo đường trần thế, và như vậy, Nước Thiên Chúa đang ngự đến giữa chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CHÚA CHỌN AI

Cái chết của anh Giuđa chẳng những là một điều đáng tiếc, mà còn để lại một khoảng trống trong nhóm Mười Hai.  Nhóm Mười Hai trở thành nhóm Mười Một (Mc 16, 14).  Giuđa đã được tham dự vào công việc phục vụ của nhóm.  Sự ra đi của anh khiến cho chức vụ này cần người bổ sung.

Trong cuộc gặp mặt giữa khoảng một trăm hai mươi anh em, Phêrô, trưởng nhóm, đã muốn tìm người thay thế (cc. 15-20).  Theo Phêrô đâu là điều kiện để có thể được chọn vào nhóm Mười Hai?  Anh phải là người đã đồng hành với nhóm này trong suốt thời gian Chúa Giêsu sống giữa họ.  Thời gian đi với nhóm được kể từ lúc ông Gioan làm phép rửa cho Chúa, cho đến ngày Ngài được phục sinh và được đưa lên trời (c. 21).

Như thế để được nhập vào nhóm Mười Hai, phải là người có kinh nghiệm sống đời sống của nhóm, và kinh nghiệm sống với Thầy Giêsu trong suốt sứ vụ của Ngài.  Chỉ ai đã từng có kinh nghiệm đi với nhóm, đói no vất vả với nhóm, người ấy mới được là thành viên mới của nhóm.  Chỉ ai đã đi sát với Thầy Giêsu, đã lắng nghe bao bài giảng của Thầy, đã chứng kiến bao việc kỳ diệu Thầy thực hiện, chỉ ai có kinh nghiệm về việc Thầy bị giết và được phục sinh, người ấy mới có thể trở nên chứng nhân về sự phục sinh ấy cùng với cả nhóm anh em (c. 22).

Có hai người được đề cử vì hội đủ điều kiện: Giôxếp và Mátthia.  Khi không biết chọn ai, thì cộng đoàn đã cầu nguyện.  Cầu nguyện cho thấy họ muốn được soi sáng để chọn ý Chúa.  “Xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai để kế tục sứ vụ tông đồ” (c. 25).  Họ đã không chọn bằng cách bầu phiếu theo đa số, nhưng bằng cách rút thăm để tìm người Thiên Chúa chọn.  Cách này là cách truyền thống để tìm ý Chúa trong Do thái giáo (Lv 16, 8).  Matthia đã trúng thăm và trở nên vị tông đồ thứ mười hai.

Khi mừng lễ thánh Matthia, chúng ta mừng lễ một vị tông đồ, tuy không trực tiếp được Đức Giêsu gọi và chọn, nhưng đã được chọn gián tiếp qua các tông đồ khác và cộng đoàn.  Thiên Chúa vẫn chọn qua lựa chọn của con người, mãi đến tận thế, nên Giáo hội vẫn có người được gọi để phục vụ.  Xin cho mọi chọn lựa của chúng ta đều nhắm đến vinh danh Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Xưa Chúa đã sai các môn đệ ra khơi thả lưới,
nay Chúa cũng sai chúng con đi vào cuộc đời.

Chúng con phải đối diện
với bao thách đố của cuộc sống,
của công ăn việc làm, của gánh nặng gia đình,
của nghề nghiệp chuyên môn.

Xin đừng để chúng con sa vào cạm bẫy
của vật chất và quyền lực,
nhưng cho chúng con
giữ nguyên lý tưởng thuở ban đầu,
lý tưởng phục vụ quê hương và Hội Thánh.

Lạy Chúa Giêsu,
xin dạy chúng con sống thực tế,
nhưng không thực dụng;
biết xoay xở nhưng không mưu mô;
lo cho tương lai cá nhân,
nhưng không quên bao người bất hạnh cần nâng đỡ.
Giữa cơn lốc của trách nhiệm và công việc,
giữa những xâu xé trước bao lựa chọn,
xin cho chúng con
biết tìm những phút giây trầm lắng,
để múc lấy ánh sáng và sức mạnh,
để mình được thật là mình trước mặt Chúa.

Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu,
xin cho chúng con thật sự trở nên chứng nhân,
làm tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh,
và phẩm giá con người được tôn trọng. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

THÁNG NĂM – NHỮNG ĐÓA HOA DÂNG MẸ

Tháng Năm về, một tháng trong năm với tên gọi thật thơ mộng, thật tươi vui: Tháng Hoa.

Mỗi độ tháng Hoa về, các Nhà thờ rộn rã mùa dâng hoa kính Đức Mẹ.  Phụng vụ Mùa Hoa tưng bừng nhộn nhịp với nhiều thể loại phong phú Rước hoa và Dâng hoa tuỳ mỗi tập quán mỗi đặc trưng văn hoá địa phương.

Nói tới hoa là nghĩ về một kỳ công của Thiên Chúa.  Hoa muôn màu muôn sắc, hoa tươi xinh, hoa thơm ngào ngạt.  Hoa tô thắm vũ trụ nên xinh tươi.  Hoa mời gọi ong bướm đến hút mật.  Hoa khoe sắc thắm, nhoẻn cười với con người.  Lời của hoa thật dịu huyền giữa thiên nhiên.  Hoa hòa vào lòng người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Loài hoa nào cũng đẹp. Loài hoa nào cũng gởi cho ta một sứ điệp yêu thương.  “Hoa Hướng Dương biểu trưng cho mặt trời toả sáng, sưởi ấm lòng người.  Hoa Mười Giờ gởi ta một tình yêu thuỷ chung, son sắt.  Dù đời em chỉ toả sáng lúc mười giờ, nhưng trọn đời em vẫn yêu thương.  Thật vấn vương khi nhắc đến loài Hoa Phượng.  Loài hoa gợi ta nhớ lại những phút giây vui đùa trên sân trường thuở nhỏ, một tuổi thơ mơ tiên, hồn nhiên, trong trắng, thơ ngây, tuổi ô mai, tuổi vấn vương, tuổi học trò.  Màu hoa tươi tắn là tình yêu chan chứa cho cuộc đời khô cằn nắng cháy và cũng là ước nguyện, sức sống cho tương lai.  Hoa Lưu Ly là lời tha thiết yêu thương “xin đừng quên tôi.”  Cuộc đời là muôn đời liên kết “xin đừng quên tôi” hỡi người tôi yêu!  Đó phải chăng là những ai còn nhớ và những ai đã quên, nhất là khi ta vắng mặt sau cuộc đời trần thế.” (Sứ điệp loài hoa, trg 11.)

Hoa đã trở thành bạn thân thiết với con người.  Khi vui người ta tặng hoa để chúc mừng nhau.  Khi buồn người ta cũng trao gởi lẵng hoa như trao gởi tấm lòng đồng cảm thân thương.  Hoa khích lệ lòng người.  Hoa hướng con người nhớ tới Đấng tạo hoá đã xoay vần vũ trụ bốn mùa xinh tươi.  Hoa mơn man lòng người đau khổ.  Hoa khích lệ những ai thất bại.  Hoa chúc mừng những ai chiến thắng.  Hoa ca vang kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa.  Đôi khi, chỉ một cánh hoa đủ trào dâng lòng mến của Thánh Têrêxa Hài Đồng.  Nhiều lần, một dàn hoa làm tâm hồn Thánh Phanxicô ngây ngất tình Chúa.

Lắng nghe tiếng nói huyền diệu của hoa, Thánh Bênađô biết được tâm trạng của hoa.  Chẳng hạn, Hoa Hồng giàu lòng yêu mến.  Hoa Huệ biểu tượng đức Khiết trinh, Hoa Tím là duyên đức đoan trang khiêm tốn.  Thánh nhân ca ngợi các nhân đức Đức Mẹ qua ý nghĩa các loài hoa.  Hoa Hồng đức mến, Hoa Huệ đức Khiết trinh, Hoa Tím đức Khiêm nhường.  Đức Mẹ là Hoa Huệ khiết trinh.  Đức Mẹ là Hoa Hồng yêu mến.  Hương thanh khiết và tình yêu của Mẹ đã làm cho mùa xuân trần gian được hồi sinh.  Ơn cứu độ được ban tặng cho trần đời nhờ hoa lòng của Mẹ hằng đẹp lòng Thiên Chúa.

Sứ Thần Gabriel đã cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!” (Lc 1,28).  “Ðấng đầy ơn phước” là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn.  Đức Mẹ tuyệt đẹp vì không vương vấn tội, vẻ đẹp của sự thánh thiện vô tỳ tích, một vẻ đẹp không chỉ do con người nỗ lực thanh tẩy mà còn do ân sủng Thiên Chúa trao ban.

Tháng Năm về, mỗi lần thưởng thức hương hoa, ta hãy hướng về Đức Mẹ, xin Mẹ tỏa hương thiên đàng của người, ấp ủ ta thành những đóa hoa tươi thắm của Mẹ.  Mỗi khi hái hoa dâng tiến Đức Mẹ, ta hãy mượn hương sắc và lời huyền diệu của hoa để ca tụng hoặc cầu xin người.  Dâng Hoa Hồng, xin Mẹ cho ta được yêu mến Mẹ nhiều hơn.  Dâng Hoa Huệ, ta ca ngợi đức khiết trinh của Mẹ.  Xin Mẹ lấy hương huệ trinh nguyên của hồn Mẹ ướp hồn ta nên trong trắng.

Tháng Năm về, mỗi tín hữu yêu mến Hoa Mân Côi cách đặc biệt hơn.  Hoa Mân Côi là sứ điệp Yêu Thương, sứ điệp Ơn Cứu Độ, là kinh nguyện Phúc Âm được kết dệt từ các mầu nhiệm chính trong đạo: Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Mầu Nhiệm Cuộc Đời Dương Thế, Vượt Qua và Thăng Thiên, được suy gẫm qua 20 Mầu Nhiệm “Hoa Mân Côi” : Năm Sự Vui, Năm Sự Sáng, Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng.

Mỗi khi cất lên lời kinh: Kính mừng Maria đầy Ơn Phước… là chúng ta kết thành Hoa Mân Côi kính dâng Mẹ.  Từ trời cao, Đức Mẹ mừng vui và ban muôn ơn lành cho đoàn con cái sốt mến thành tâm hướng về Mẹ.

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình, nhưng chồng cứng lòng mãi.

Năm ấy, đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục . Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Maria Vianey.

Ngài là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người xem là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Vianey liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha Vianey nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.  Nghe xong lời cha Vianey, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (trích từ: Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trg 10).

Chỉ có mấy bông hoa nhỏ dâng kính Đức Mẹ mà người đàn ông khô khan ấy cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy.  Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, yêu thương nâng đỡ.  Chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của bậc thầy lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa.  Hãy luôn vững lòng cậy trông với niềm tin yêu.  Đức Mẹ hằng yêu thương phù trợ mỗi người chúng ta.

Trong tháng Năm này, chúng ta tham dự những buổi dâng Hoa, rước kiệu, lần hạt Mân Côi… dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh tật… chắc sẽ được Đức Mẹ ban nhiều ơn lành.  Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng cậy, hoa Đỏ của lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hy sinh hãm mình, hoa Vàng của niềm tin, hoa Hồng của tình yêu sắt son chung thủy.

Xin dâng lên Mẹ hoa Trắng của sự trinh trong, xin Mẹ giúp chúng con gìn giữ tâm hồn luôn trong trắng, thánh thiện.

Xin dâng lên Mẹ hoa Xanh của niềm cậy trông và hy vọng, xin đừng để chúng con thất vọng chùn bước trước bất cứ khó khăn nghịch cảnh nào của cuộc sống.

Xin dâng lên Mẹ hoa Vàng của niềm tin kiên vững, xin Mẹ dạy chúng con sống phó thác tin tưởng vào tình thương và sự quan phòng của Chúa như Mẹ.

Xin dâng lên Mẹ hoa Hồng của lòng yêu mến, xin Mẹ dạy chúng con biết yêu Chúa hết lòng và yêu anh chị em mình như Chúa đã yêu chúng con.

Xin dâng lên Mẹ hoa Tím của những đau khổ, bệnh tật, thất bại, xin Me dạy chúng con biết vui lòng chấp nhận Thánh Giá Chúa gởi đến để trung thành bước theo Đức Kitô, Con của Mẹ.

Lạy Mẹ Maria, những đoá hoa lòng đơn sơ, chân thành nhưng đượm tình yêu mến, chúng con xin dâng lên Mẹ, xin Mẹ thương nhận lấy và chúc lành cho chúng con.  Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An