ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG 

Phụng vụ Tuần Thánh mở đầu bằng nghi thức làm phép lá và rước lá, sau đó là thánh lễ mà đỉnh cao là trình thuật về cuộc thương khó của Đức Giê-su.  Các Bài đọc Kinh Thánh, nhất là Bài Thương khó, nêu bật hai khía cạnh của cuộc thương khó Đức Giê-su: Đau khổ và Vinh quang.  Hai khía cạnh này hòa quyện với nhau, tạo nên nét độc đáo và làm cho cuộc tử nạn của Chúa Giê-su trên đồi Can-vê năm xưa không giống như bất kỳ vụ thi hành án nào trong lịch sử.

Bài đọc I trích sách Ngôn sứ I-sa-i-a nói với chúng ta về một nhân vật bị đánh bầm dập, thân mình mang đầy thương tích.  Tuy vậy, nhân vật được trình bày lại chấp nhận đau khổ như một tự nguyện.  Nhân vật ấy là Người Tôi tớ Đức Gia-vê.  Vị Tôi tớ luôn trong trạng thái tỉnh thức để lắng nghe lời giáo huấn của Thiên Chúa, và niềm tin cậy phó thác đã đem lại cho Người sức mạnh trong gian nan.  Dưới lăng kính Ki-tô giáo, đây chính là hình ảnh của Đức Giê-su chịu khổ hình.  Cuộc thương khó vừa là một khổ hình do người Do Thái gây nên, đồng thời cũng là một hành vi tự nguyện của Chúa Giê-su, vì vâng lời Chúa Cha.  Mặc dù sợ hãi đến mức toát mồ hôi máu, Đức Giê-su, người Tôi tớ Gia-vê đã tự nguyện bước vào cuộc thương khó, với niềm xác tín “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi.”  Cần lưu ý là sách ngôn sứ I-sai-a có bốn bài ca về Người Tôi tớ Đức Gia-vê.  Mỗi bài diễn tả một khía cạnh, và tất cả bốn bài ca đó đã trở thành hiện thực nơi Đức Giê-su.  Bài cuối cùng ở chương 52 được đọc trong Phụng vụ suy tôn Thánh giá chiều thứ Sáu tuần Thánh, với nội dung diễn tả cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giê-su qua biến cố thập giá.

Hai khía cạnh đau khổ và vinh quang cũng được thánh Phao-lô quảng diễn trong Bài đọc II.  Đức Giê-su là Thiên Chúa tối cao.  Người đã hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, chỉ ngoại trừ tội lỗi.  Người đã trút bỏ vinh quang để mang thân phận nô lệ.  Sự hạ mình của Ngôi Lời vừa thể hiện qua mầu nhiệm nhập thể, vừa thể hiện qua biến cố khổ nạn thập giá.  Nói cách khác, sự khiêm tốn vâng lời liên lỉ của Đức Giê-su, được trải dài từ ngày Truyền tin đến đỉnh đồi Can-vê.  Tuy vậy, thánh Phao-lô khẳng định, cái chết và nấm mộ không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa.  Sau thập giá là vinh quang.  Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Đức Giê-su, và ban cho Người danh hiệu “trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu.”  Điều thánh Phao-lô viết trong thư gửi giáo dân Phi-líp-phê hôm nay đã được thực hiện: đó là hàng tỷ Ki-tô hữu trên hoàn cầu tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Cứu độ.

Trình thuật thương khó theo thánh Lu-ca như một vở kịch gồm nhiều phân cảnh, với nhiều cung bậc cảm xúc.  Vở kịch này khởi đầu từ phòng tiệc ly và kết thúc trên đồi Can-vê.  Chúng ta thấy mỗi khi Đức Giê-su nói về những gì đang xảy ra trong hiện tại, thì Người cũng liên hệ tới tương lai.  Nếu bữa tiệc ly là lần cuối cùng Người uống chén rượu nho vật chất, thì Người cũng hứa sẽ được cùng với các môn đệ dùng rượu nho mới khi triều đại của Thiên Chúa đến.  Khi bị bắt trong vườn Cây Dầu, dù bị quân lính bao quanh sát khí đằng đằng, Chúa Giê-su vẫn khảng khái nói: Đây là giờ của quyền lực tối tăm.  Nhân vật Phi-la-tô được trình bày nổi bật trong cuộc thương khó của Đức Giê-su.  Ông này vừa kính phục Chúa Giê-su, nhưng lại sợ người Do Thái.  Thực sự ông muốn cứu Chúa Giê-su, và ông đã tìm một lối mở, đó là đưa ra trường hợp Ba-ra-ba như một lá bài để thương thuyết.  Ấy vậy mà người Do Thái đồng thanh xin tha cho một kẻ giết người.  Trong cuộc thương khó, giữa tiếng ồn ào của đám đông bị kích động, Con Thiên Chúa thì bị án tử, và kẻ sát nhân lại được tha!  Chi tiết này đã làm cho cuộc thương khó của Chúa Giê-su thêm phần bi kịch.

Trình thuật thương khó kết thúc ở nấm mồ.  Các môn đệ và những người phụ nữ trước đây đã theo Chúa Giê-su đang ở trong một tâm trạng hoang mang tột độ.  Họ không biết những gì sẽ tiếp tục xảy đến.  Với lòng yêu mến và kính trọng Thầy mình, các môn đệ đã hạ xác Chúa và vội vàng an táng trong mồ.  Những người phụ nữ thì chuẩn bị thuốc thơm để sau ngày nghỉ lễ sẽ xức xác Chúa.  Bài Thương khó kết thúc như những dấu chấm lửng, dường như muốn cho các độc giả hãy đón đọc ở phần sau, với nhiều hấp dẫn mới.  Sau khi cử hành Phụng vụ Lễ Lá, Phụng vụ Tuần Thánh giúp các tín hữu tiếp tục suy tư về những gì mình đã được chứng kiến trong trình thuật hôm nay.  Chúng ta sẽ dần dần từng bước cử hành những biến cố quan trọng trong những ngày cuối đời dương thế của Chúa Giê-su.   Nói cách khác, trình thuật Thương khó như một dẫn nhập để đưa các tín hữu tới những nghi thức long trọng của Tuần Thánh.

Nếu đau khổ và vinh quang cùng đan xen trong biến cố khổ nạn của Chúa Giê-su, thì hôm nay, trong cuộc sống của chúng ta, đau khổ và vinh quang cũng vẫn đang cùng nhau hòa quyện.  Người tín hữu nhìn thấy qua mầu nhiệm thập giá vinh quang của Thiên Chúa.  Vinh quang ấy chiếu tỏa cho mọi thế hệ, để những ai đến với thập giá Chúa Ki-tô, sẽ tìm được bình an và hướng đi cho đời mình.  Trong cuộc sống đầy gian nan thử thách, những ai tin cậy phó thác nơi Chúa, sẽ cảm thấy gánh cuộc đời nhẹ nhàng hơn.  Chúa Giê-su đã mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).  Chúng ta hãy tham dự nghi thức Tuần Thánh với niềm phó thác cậy trông để có thêm nghị lực bước đi trên con đường thập giá cuộc đời.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI LINH HỒN MÌNH

Chúng ta có nhiều ảnh của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.  Chị Céline của Thánh Têrêxa đã chụp nhiều ảnh của Têrêxa, nhưng trên những ảnh này có một điểm đáng chú ý.  Nữ tu dòng người Anh dòng Cát Minh Ruth Burrows từng nghiên cứu những tấm ảnh này, sơ thấy trong các bức ảnh đó, không hiểu vì sao Têrêxa luôn cô đơn, kể cả khi chụp ảnh chung.

Đây là điều bất thường.  Têrêxa là người thân ái, nồng hậu, giỏi giao tiếp và được quá nhiều người yêu mến.  Nhưng trong mọi tấm ảnh chụp, kể cả khi chụp Thánh Têrêxa chụp chung với gia đình mà ngài thương yêu hết lòng, vẫn luôn có một nỗi cô đơn nào đó, một sự cô độc rõ ràng.  Tuy nhiên, cô đơn mà ngài thể hiện không phải kiểu cô độc của người xung khắc với gia đình và cộng đồng, mà là một tách biệt nào đó của linh hồn, một điều có thể gọi là nỗi cô đơn tinh thần.  Nó là gì?  Linh hồn của chúng ta có thể cô đơn khi đang đắm mình trong tình bạn, tình yêu và gia đình sao?

Có, và nó đúng với tất cả chúng ta, đúng với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và đúng với Chúa Giêsu.

Nhìn vào các sách phúc âm mô tả cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta thấy điều mà các thánh sử nhấn mạnh không phải là nỗi đau thể xác.  Trong khi những đau đớn thể xác đó rất khủng khiếp, nhưng các phúc âm không chăm chăm vào đó.  Điều mà các thánh sử nêu bật là sự thống khổ về cảm xúc của Chúa Giêsu, sự cô độc, cô đơn của linh hồn khi Ngài chịu khổ nạn và chịu chết.  Các phúc âm viết, trong giờ tuyệt vọng nhất, khi chỉ còn một mình, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị hiểu lầm, bị sỉ nhục, trở thành kẻ bị tất cả đồng lòng loại ra, thì nỗi đau khổ Ngài phải chịu là nơi tâm hồn hơn là thể xác.

Phúc âm theo thánh Luca nói, cơn thống khổ của Ngài diễn ra trong vườn Giếtsêmani.  Và điều này thể hiện quá rõ ràng.  Chúa Giêsu cũng chịu đau khổ ở nhiều nơi khác, trong đền thờ, nơi sa mạc, ở quê nhà, nhưng cơn thống khổ khốc liệt nhất diễn ra trong vườn Giếtsêmani.  Tại sao lại là trong vườn? Như chúng ta biết, trong khuôn mẫu văn học, khu vườn không phải là nơi trồng rau, mà là nơi của niềm vui.  Khu vườn hình mẫu là một nơi huyền bí của niềm vui, nơi tình nhân gặp gỡ, nơi bạn bè nâng chén thù chén tạc, nơi Adam và Eva trần truồng, ngây thơ, chưa biết đến tội.  Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu không phải là Chúa Giêsu Thầy dạy, Chúa Giêsu Chữa lành hay Chúa Giêsu Làm phép lạ.  Trong vườn, Ngài là Chúa Giêsu người yêu, một người vui mừng trong tình yêu và đau khổ trong tình yêu, và Ngài gọi mời chúng ta đến với khu vườn của đau khổ, thân mật và vui mừng này.

Các phúc âm nhấn mạnh, điều Chúa Giêsu chịu đựng nhất khi bị đóng đinh không phải là nỗi đau của đòn roi và bị đóng đinh xuyên qua tay, nhưng là sự cô đơn sâu sắc của tâm hồn, một nỗi đau quá lớn so với những đau đớn thể xác kinh khủng đó.  Chúa Giêsu không phải là một chiến sĩ về thể chất, nhưng là chiến sĩ về tinh thần, đang chiến đấu với tâm hồn mình.

Sự cô đơn tinh thần là gì?

Lần đầu tiên tôi gặp từ này là khi đọc những bài viết của tác giả Robert Coles mô tả bà Simone Weil.  Và từ này nói lên, trong mỗi người chúng ta có một chốn thâm sâu, một tâm điểm thuần khiết, nơi mọi dịu hiền, thiêng liêng, đáng trân quý được giữ gìn và bảo vệ.  Chính ở đó, chúng ta là chính mình một cách chân thực nhất, chân thành nhất và ngây thơ nhất.  Đó là nơi chúng ta vô thức nhớ ra rằng, rất lâu trước khi có ý thức, chúng ta đã được nâng niu bởi đôi tay êm ái hơn đôi tay của chúng ta nhiều.  Đó là nơi chúng ta vẫn cảm nhận được nụ hôn ban đầu của Thiên Chúa.

Ở nơi này, hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng ta sợ sự khắc nghiệt, vô lễ, sỉ nhục, giễu cợt, bạo hành, dối trá.  Ở nơi này, chúng cực kỳ dễ bị tổn thương và vô cùng cẩn trọng về việc để cho ai bước vào không gian này, dù không gian sâu sắc nhất của chúng ta là tìm được ai đó để chia sẻ không gian này với mình.  Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình ở không gian đó về mặt tinh thần, trở thành người tri kỷ của mình.  Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta chính là được hòa hợp về tinh thần.

Nhưng không dễ có được thế.  Người bạn đời tinh thần hoàn hảo rất hiếm gặp, kể cả trong tình bạn hoặc trong một hôn nhân tốt đẹp.  Và chúng ta luôn mãi đối diện với một cám dỗ kép: Giải quyết xung lực này bằng cách an phận với những thứ bù đắp nào đó, giúp ta sống qua tạm hôm nay, hoặc tệ hơn nữa, vì chúng ta quá nhức nhối không thể sống nổi, nên đã thả mình chiều theo cay đắng, giận dữ và cay nghiệt, khinh rẻ ước mơ lớn lao của mình.  Dù cách này hay cách khác, chúng ta đều bán rẻ mình và an phận với cái tốt thứ hai.

Trong cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu với nỗi cô đơn tinh thần, có điều gì đó để chúng ta rút ra không?  Đó là Ngài từ chối cả chấp nhận thứ bù đắp và chai đá tâm hồn.  Ngài vẫn tiếp tục hành trình và đưa xung lực này đến điểm tới hạn của nó.

Sự cô đơn tinh thần của chúng ta có thể kinh khủng lắm.  Tuy nhiên, nó không phải là sự phê chuẩn hay lời mời gọi để bắt đầu từ bỏ những cam kết, trách nhiệm, luân lý, hay bất kỳ điều gì cần thiết để tìm được người tri kỷ khó tìm mà chúng ta thiết tha mong mỏi.  Điều mà Chúa Giêsu (và những người như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và triết gia Simone Weil) làm gương cho chúng ta, chính là cách mang lấy xung lực đó một cách lý tưởng, cách để đưa cô độc của mình lên một tầm cao mới, và cách để bất chấp đang đau đớn như thế nào, cũng vẫn đương cự lại việc xem cái tốt thứ hai như là cái tốt nhất có thể.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

ĐỪNG NÉM ĐÁ.  XIN ĐỪNG.  HÃY BỎ ĐÁ XUỐNG

Đoạn Tin Mừng Thánh Gio-an (Ga 8,1-11) kể lại việc người ta đem đến cho Chúa Giê-su một thiếu phụ, chị này không có tên, cũng chẳng có danh tính nào khác: chỉ biết chị là một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, có vậy thôi.  Chị bị mắc kẹt trong một tình huống đặc biệt gây tò mò (x.Ga 7,53-8,11).  Tuy nhiên, trên hết cô ấy là một tội nhân được tha thứ.

Đối với một kẻ ngoại tình, cần có ba người, nghĩa là có vợ, chồng và nhân tình.  Nhưng ở đây chỉ có một mình thiếu phu được các luật sĩ và biệt phái đưa đến trước mặt Chúa Giê-su.  Ban đầu, người ta không quan tâm đến chị mấy: điều quan trọng nhất là các nhà thông luật đã thử Chúa Giê-su, nên đặt Người vào một tình huống tế nhị.  Liệu Chúa có minh oan cho người phụ nữ này, đi ngược lại luật Mô-sê không?  Hay Chúa quyết định lên án chị?

Mọi người có mặt đều hồi hộp đợi Chúa trả lời.  Nhưng Chúa Giê-su thay vì từ chối trả lời câu hỏi một cách trực tiếp của các luật sĩ và biệt phái, Người đã xoay chuyển tình thế: từ câu hỏi của các ông về việc áp dụng Luật Mô-sê, sang việc yêu cầu các ông tự chất vấn lương tâm của chính mình với câu:  “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8,7).

Chúng ta không biết gì về thái độ của người thiếu phụ trong vụ án này, vì chị không có tên.  Chị từ đâu đến chúng ta cũng chẳng hay, ngoại trừ lỗi lầm của chị, một lỗi lầm công khai không thể nghi ngờ, một lỗi lầm mà bất cứ người phụ nữ nào cũng không tự bảo vệ được mình.  Chúng ta hình dung ra chị đứng trước đám đông với cáo trạng, chắc chị đang sợ hãi, xấu hổ, có lẽ nhếch nhác, đầu tóc, quần áo, “bị bắt quả tang” mà.

Câu nói của Chúa Giê-su với chị: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi?  Không ai kết án chị ư?” ( Ga 8,11).  Nghĩa là chỉ sau khi những người buộc tội chị ra đi hết, chị mới có thể mở miệng và nói được mấy từ để đáp lại Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, không ai cả” (Ga 8, 11).  Từ “Thầy” ở đây không phải là một lời tuyên xưng đức tin, mà là một cách xưng hô tôn trọng cùng người đối thoại với chị.  Cuộc đối thoại ngắn gọn, nhưng những lời cuối cùng của Chúa Giê-su nói lên điều cốt yếu.  Cũng một câu: “Ai trong các ông sạch tội hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8.7), khiến các thẩm phán con người đã tự xét xử mình, và vị thẩm phán thiêng liêng, ban sự tha thứ cho thiếu phụ phạm tội ngoại tình, đồng thời khuyến khích mọi người đừng phạm tội nữa.

Qua câu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7), Chúa Giêsu muốn hướng con người nhìn về tâm hồn mình, để nhận biết tội lỗi bản thân và ăn năn trước khi kết tội anh chị em đồng loại.  Hơn nữa việc kết tội không thuộc quyền của con người mà là đặc quyền của Thiên Chúa.  Chỉ có Thiên Chúa mới có thẩm quyền kết án con người.  Khi con người kết án anh chị em mình là lúc họ đặt mình ngang quyền với Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng muôn vật.

Khi bàn về câu truyện này, thánh Au-gút-ti-nô dùng hai từ bằng tiếng La tinh là Miseria và misericordia (Khổ đau và lòng thương xót) bởi vì “Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3,17).

“Bấy giờ Chúa Giê-su đứng thẳng dậy và bảo nàng: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi?  Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai.”  Chúa Giê-su bảo: “Ta cũng thế, Ta không kết tội chị.  Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8, 10-11).

Đoạn Tin Mừng này có thể được gọi với tiêu đề là: “Tội nhân được tha thứ.”  Khi đọc đoạn này, nhiều người đã tập trung vào chiều kích tội lỗi và lời buộc tội chị được các biệt phái và luật sĩ đưa ra.  Tuy nhiên, điểm nổi bật hơn cả của câu chuyện liên quan đến sự tha thứ mà Chúa Ki-tô ban cho một người phụ nữ bị những người đàn ông sẵn sàng lên án tử.  Một người phụ nữ vô danh, đại diện cho những nạn nhân, hay những người yếu đuối nhất, đến nỗi bị coi như một đồ vật, nhưng lại là những người mà Chúa Ki-tô dành cho họ cái nhìn với sự chú ý, nhất là sự tha thứ yêu thương và giải phóng của Người.

Câu chuyện Người đàn bà ngoại tình theo truyền thống là tên được đặt cho đoạn Phúc âm Gio-an 7, 53 – 8,11.  Đoạn văn ghi lại ý định ném đá một phụ nữ bị cáo buộc về tội ngoại tình của những người thuộc phái Pha-ri-sêu.  Vào thế kỷ thứ 4, Thánh Au-gút-ti-nô hỏi liệu những người chồng ghen tuông, lo lắng về sự tự do mà Chúa Giê-su ban cho những người vợ, có xé trang này ra khỏi Kinh thánh của họ không!  Trên thực tế, đoạn văn này không được tìm thấy trong hầu hết các bản viết tay tiếng Hy Lạp trước thế kỷ 12, và cũng không có trong một số bản viết tay tiếng Latinh.

Đừng ném đá vào người phụ nữ ngoại tình/Tôi đứng đằng sau chuyện đó!” (Georges Brassens, “Dưới bóng những người chồng”).  Đoạn văn này là một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất trong Tin Mừng, và câu nói “đừng ném đá” bắt nguồn trực tiếp từ đó.

Thông điệp của Chúa Giê-su rất rõ ràng: Thiên Chúa tha thứ vô ngần vô hạn, vượt quá mọi mức độ.  Ngài là như vậy, Ngài hành động vì tình yêu và sự nhưng không.  Chúng ta không thể trả ơn Thiên Chúa, nhưng khi chúng ta tha thứ cho anh chị em của mình, chúng ta bắt chước Thiên Chúa.  Đừng ném đá vào người phụ nữ ngoại tình.  Xin đừng ném đá.  Hãy bỏ đá xuống khỏi tay.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ