KIẾP BỤI TRO

Không chỉ trong Mùa Chay, mà cả đời người Công giáo luôn phải ghi nhớ thực-tế-thật này: “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về bụi đất” (St 3:19).

Tuy không là Kitô hữu, nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng chân nhận kiếp người chẳng là gì trong ca khúc “Cát Bụi”, với lời lẽ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy…  Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…  Bao nhiêu năm làm kiếp con người chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày…  Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu xoay mòn thành đá cuội… Ôi cát bụi phận này, vết mực nào xóa bỏ không hay.”

Ca từ da diết trong giai điệu trầm lắng.  Triết lý kiếp người là sự yếu đuối, mỏng dòn, bất túc, bất trác,… vì kiếp người chỉ là cát bụi, là bụi tro, là bụi cát, là bụi đất – không được là hạt cát hoặc hạt đất, mà chỉ là hạt bụi quá bé nhỏ!

Cũng với nỗi niềm về thân phận con người, nhạc sĩ Lê Dinh đã trải tâm sự qua ca khúc “Trở về Cát Bụi” (*), ca từ rõ ràng hơn và gần gũi với tư tưởng Công giáo: “Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó.”  Tất cả những gì chúng ta sở hữu và tận hưởng đều không do tài năng của mình, vì thế mà phải chân nhận tích cực: “Trời đã ban cho, ta cám ơn trời, dù sống thương đau.”  Tất cả đều là Hồng Ân Thiên Chúa, Ngài CHO hay LẤY LẠI là quyền của Ngài, chúng ta không thể đòi hỏi, vả lại rồi ai cũng “trắng tay” như nhau: “Mai kia chết rồi, trở về cát bụi, giàu khó như nhau, nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”  Số phận mai sau là do mình quyết định qua cách sống trên trần gian này: Được hưởng phúc trường sinh, hoặc chịu án phạt đời đời.

Nhạc sĩ Lê Dinh có cách lý giải bình dân mà vẫn thâm thúy: “Này nhà lớn lầu vàng son, này lợi danh, chức quyền cao sang, có nghĩa gì đâu, sao chắc bền lâu, như nước trôi qua cầu.”  Tất cả sẽ qua như “nước trôi qua cầu” mà không thể lấy lại.  Thế mà người ta vẫn vênh vang tự đắc khi sống ung dung hơn người khác, nhưng Chúa Giêsu nói rõ: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3).  Vậy người giàu đừng vội “hãnh diện,” còn người nghèo đừng quá “tủi thân.”  Thiên Chúa nói là làm.  Chắc chắn như vậy.  Nhưng ngày nay chưa ai biết, quan trọng là kiếp sau!

Về vật chất đã vậy, về tinh thần cũng thế.  Tất cả đều giả dối: “Này lời hứa, này thủy chung, này tình yêu, chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi, sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời.”  Cái CÓ mà như KHÔNG, cái KHÔNG mà như CÓ.  Ngay cả lời hứa tưởng chừng “chắc chắn” mà cũng chỉ như “mây cuối trời,” mà mây thì luôn di động, thay đổi thất thường.  Người ta gọi là “hứa cuội.”  Vui cười chỉ trong thoáng chốc, nỗi buồn lo cứ đằng đẵng theo tháng ngày.  Tiệc cưới một ngày mà vui được bao nhiêu phút?  Tết cả ba ngày mà vui được bao lâu?  Thực tế phũ phàng đó có giúp chúng ta cảm nghiệm được gì về tâm linh chăng?  Ý Chúa muốn gì qua các biến cố cuộc đời – dù lớn hay nhỏ?

Nhạc sĩ Lê Dinh nói về cuộc đời và nhắc nhở mọi người, nhất là với người giàu: “Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất, cuộc sống mong manh, xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen.  Nào người sang giàu, đừng vì tham tiền, bỏ nghĩa anh em.  Người ơi, xin nhớ cát bụi là ta, mai này chóng phai.”  Thánh Gióp đã từng nhận thức rất rõ: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng” (G 1:20).  Thế nên, dù mất tất cả và bản thân cũng bệnh tật đau đớn, ngài vẫn không than trách và vẫn tạ ơn Chúa.  Một tấm gương sáng ngời để chúng ta cố gắng noi theo!

Lời nhắc nhở đó được lặp đi lặp lại ở phần kết (coda), cũng là lời xoáy sâu vào tâm khảm của mỗi chúng ta: “Người nhớ cho ta là cát bụi, trở về cát bụi, xin người nhớ cho!”  Nốt kết không ở chủ âm mà ở át âm, cứ lơ lửng, cứ ngân vang, như lời nhắc nhở không ngừng và mỗi người phải suy nghĩ đêm ngày, nhất là trong Mùa Chay này…

Kinh thánh đã so sánh rất cụ thể: “Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn” (Kn 15:10).  Quả thật, thân phận con người chẳng là gì cả.  Vì thế, hãy bắt chước Thánh Phaolô: “Nếu phải tự hào, tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11:30).

Đã bao lần chúng ta chứng kiến những người thân nhất của mình “ra đi,” dù y học có tân tiến đến đâu và các thầy thuốc có cố gắng hết sức thì cũng vẫn đành “bó tay” trước lưỡi hái của Tử Thần.  Họ nhắm mắt và xuôi tay, một đi không hẹn trở lại, và đã bao lần chúng ta tiễn đưa người khác ra nghĩa trang.  Đất lấp đầy huyệt là xong một kiếp người!  Chúng ta suy nghĩ điều gì?

Lá cứ rụng, dù xanh hay vàng.  Nhưng với người Công giáo, chết không là hết, mà chỉ là biến đổi (1 Cr 15:51), vì “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).  Chúng ta tin sẽ được sống lại trong ngày sau hết, đó là niềm tin chắc chắn, không mơ hồ hoặc ảo tưởng, thế nên chúng ta vẫn dâng lời cảm tạ: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118; Tv 136).

Lạy Chúa, xin thương xót những tội nhân chúng con, xin giúp chúng con can đảm chết với Con Chúa để có thể được đồng phục sinh vinh quang. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Trầm Thiên Thu
Nguồn: Mạng lưới cầu nguyện

CẢM NGHIỆM SA MẠC CỦA ĐỨC GIÊSU

Khi mùa đông bắt đầu ở Nam Cực, các đêm thật dài bắt đầu.  Mặt trời biến dạng ở dưới chân trời và nó không lộ diện cho đến bốn tháng rưỡi sau đó.  Ngày nào cũng giống nhau: 24 giờ đồng hồ trong bóng tối.

Nhiều năm trước, nhà thám hiểm Richard Byrd sống một mình trong suốt mùa đông ở Nam Cực.  Trong bốn tháng rưỡi, ông hoàn toàn sống trong bóng tối, chôn vùi dưới tuyết trong một căn phòng nhỏ.  Nhiệt độ trong phòng đó xuống tới 50 độ dưới số không.

Mỗi ngày ba lần, ông Byrd leo cầu thang lên mái nhà của căn phòng, mở cánh cửa nhỏ và đẩy đống tuyết ra, rồi ông đi vào cái giá lạnh và tối tăm để ghi nhận sự thay đổi của thời tiết.

Tại sao ông Byrd lại chọn sống một mình trong những tháng hoàn toàn tối tăm?

Ông trả lời câu hỏi đó trong cuốn Alone của ông.  Ông nói ông làm như thế là vì ông muốn tránh xa mọi thứ.  Ông muốn thực hiện một số suy nghĩ nghiêm trọng.  Ông viết:

“Và điều đó đã xảy ra với tôi… ở đây là cơ hội….  Tôi có thể sống đúng như tôi muốn, không phải chiều theo sự tiện nghi nhưng phải chịu đựng những trận gió giá lạnh của đêm tối, và không phải tuân theo luật lệ của bất cứ ai ngoài chính mình.”

Sau một tháng đầu sống cô độc, ông Byrd ghi nhận một vài điều “tốt” đang xảy đến.  Ông khám phá thấy rằng ông có thể sống một cách thâm sâu hơn nếu ông giữ lối sống đơn giản và đừng vướng bận với nhiều thứ vật chất.

Ông Byrd ra khỏi căn phòng đó là một con người thay đổi.  Ông kết thúc cuốn sách với những lời này:

“Tất cả điều này đã xảy ra bốn năm trước.  Sự văn minh không làm thay đổi các ý định của tôi.  Bây giờ tôi sống đơn giản hơn, và bình an hơn.”

Richard Byrd thuộc về một chuỗi người đã sống cô độc trong một thời gian để kiểm điểm lại chính bản thân và đời sống của mình.

Ông Môsê đã làm như thế; ông Êligia đã làm như thế; ông Gioan Tẩy Giả đã làm như thế.

Và chúng ta không ngạc nhiên khi Đức Giêsu cũng đã làm như thế.  Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên là những gì đã xảy ra khi Đức Giêsu đi vào sa mạc một mình để suy nghĩ và cầu nguyện.  Người bị quỷ cám dỗ.

Điều này khiến chúng ta tự hỏi, “Tại sao Thiên Chúa lại để Con mình bị cám dỗ bởi quỷ?  Mục đích của điều đó là gì?”

Trong nhiều thế kỷ, các văn sĩ đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi đó.  Chúng ta hãy ngắn gọn nhìn đến hai câu trong các câu trả lời ấy.

Trước hết, sự cám dỗ trong sa mạc đem cho chúng ta một cái nhìn sáng suốt vào tâm trí của Đức Giêsu mà rất có thể chúng ta không để ý đến.

Hãy nghĩ đến sự cám dỗ.  Phúc Âm nói cho chúng ta biết sự cám dỗ xảy đến khi Đức Giêsu mệt và đói.  Thật dễ dàng chừng nào để Người dùng đến quyền năng biến các hòn đá thành cơm bánh và không còn đói nữa.  Nhưng Đức Giêsu đã từ chối dùng đến quyền năng của mình cho sự lợi lộc và thoải mái chính bản thân.

Điều này tiết lộ một vài điều mỹ miều về Đức Giêsu.  Nó cho chúng ta thấy Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động. Người hoàn toàn sống bởi thần khí.

Sau này chúng ta sẽ thấy điều này dữ dội hơn trong vườn Cây Dầu.  Ở đó, Đức Giêsu bị ngập tràn sự khổ não.  Mỗi một phần thân thể của Người đều nổi loạn chống với sự đau đớn và sự chết trước mắt.  Thánh sử Mátthêu nói rằng điều đó tệ hại đến độ Đức Giêsu “sấp mặt xuống đất và cầu nguyện, ‘Cha ơi, nếu có thể, xin lấy chén đau khổ này khỏi con!  Nhưng, không theo ý con, mà theo ý cha’.” (Mt 26:39)

Đức Giêsu là một con người không để thân xác điều khiển tinh thần.  Người đã không để cảm xúc ảnh hưởng đến hành động.

Một người như thế thật lôi cuốn.  Chúng ta không thể không thán phục những ai sống hoàn toàn bởi tinh thần.

Thật ngạc nhiên, chúng ta có thể tìm thấy loại quyết tâm này nơi người trẻ.  Tôi đang nghĩ về một học sinh trung học ở Chicago, em ở trong nhóm đấu vật.  Em thật nổi tiếng trong loại trọng lượng của em.

Tuy nhiên, vào năm lớp 12, điều nguy hiểm là em đang lên cân, không còn trong loại trọng lượng của mình.  Điều này đưa cả nhóm vào tình trạng bất lợi.  Vì thế em đã nhịn ăn suốt năm.  Thật vậy, em nhịn ăn đến nổi cha mẹ em sợ nguy hại đến sức khỏe của em.

Bất cứ bạn trẻ nào sau trận đấu thể thao thường dừng chân ở McDonald hay Burger King thì mới hiểu được sự hy sinh của học sinh này như thế nào.

Tôi cũng nhớ đến một nhạc sĩ vĩ đại là Arturo Toscanini.  Khi là một thanh niên, anh theo học Viện Âm Nhạc Hoàng Gia ở Parma, Ý Đại Lợi.

Vì xuất thân từ một gia đình nghèo, anh thường bán thịt trong bữa ăn tối cho các học sinh khác để lấy tiền mua bản nhạc.  Khi anh tốt nghiệp, anh nhớ đến hàng trăm bản nhạc.

Phải, một người sống hoàn toàn bởi tinh thần thì thật mỹ miều.

Chúng ta lại càng thán phục hơn nữa người sẵn sàng hy sinh rất nhiều cho ước mơ của mình.

Đức Giêsu là một người như thế.  Người thuộc về nhóm người đặc biệt đó, họ đã làm cho thế giới cao quý hơn bởi tinh thần độ lượng của họ.  Không hy sinh nào được coi là quá lớn đối với họ.  Không thử thách nào được coi là quá đòi hỏi đối với họ.  Không ước mơ nào được coi là không thể đối với họ.

Điều này đem chúng ta đến câu trả lời thứ hai về sự cám dỗ của Đức Giêsu trong sa mạc.  Nó ngắn, nhưng rất quan trọng.

Vì chính Đức Giêsu cảm nghiệm sự cám dỗ, Người biết cách làm thế nào để vượt qua sự cám dỗ.  Người cũng biết thật dễ dàng chừng nào khi bị sự cám dỗ cuốn trôi.

Vì lý do này, Đức Giêsu có thể cảm thông với chúng ta khi bị cám dỗ.  Người hiểu khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.  Vì Người đã bị cám dỗ như chúng ta, Đức Giêsu là người mà chúng ta có thể tìm đến khi bị cám dỗ và ngay cả sau khi chúng ta chiều theo sự cám dỗ.

Và như thế các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy hai điều về Đức Giêsu.  Trước hết, chúng cho thấy một Giêsu mà chúng ta thán phục.  Chúng cho thấy một Giêsu không xa cách với chúng ta mà chúng ta không thể noi gương Người.  Thứ hai, chúng cho thấy một Giêsu là người cảm thông với sự yếu đuối của chúng ta khi bị cám dỗ.

Chúng ta hãy kết thúc với những lời thích hợp trong Thư gửi Tín Hữu Do Thái:

Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.  Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa… để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.  (Dt 4:15-16)

Lm. Mark Link S.J.

CHA HIỆN DIỆN NƠI KÍN ẨN

Cứ đến Thứ Tư Lễ Tro là chúng ta lại được nghe bài Tin Mừng này.

Đức Giêsu nói đến ba việc đạo đức quan trọng của người Do Thái:  cầu nguyện, bố thí, ăn chay.

Chẳng phải cứ đợi đến Mùa Chay chúng ta mới làm ba việc đó.  Nhưng Mùa Chay là thời gian thuận lợi để ta tập trung chú ý hơn.  Tập trung vào cầu nguyện là làm mới lại tương quan với Thiên Chúa, từ bỏ những gì làm tôi xa Chúa và dứt bỏ mọi tội lỗi quen phạm.  Tập trung vào bố thí là chia sẻ của cải cho những người nghèo hơn, tự nguyện bỏ bớt một phần tiện nghi để giúp những ai đói khổ.  Tập trung vào chay tịnh là làm cho thân xác, tâm hồn mình trở nên nhẹ nhàng, thoát khỏi những kéo xuống nặng nề, những cám dỗ sống hưởng thụ, ích kỷ.  Cả ba việc này có tương quan chặt chẽ với nhau.

Khi làm tốt một việc, ta sẽ dễ làm hai việc còn lại hơn.  Ăn chay giúp chúng ta hàn gắn lại tình bạn với Chúa, và lớn lên trong sự thân mật đối với Ngài.  Ăn chay giúp ta tránh tội và tránh mọi thứ dẫn đến tội.  Ăn chay là thoát ra khỏi sự thèm muốn tự nhiên về cơm bánh vật chất, để nếm cảm sự cần thiết của tấm bánh tinh thần.  Nhờ ăn chay con người thấy mình được tự do hơn để sống theo ý Chúa.

Khi chịu đói nơi thân xác, chúng ta sẽ thấy tim mình đói khát Thiên Chúa và mong Ngài đến với ta để làm ta mãn nguyện.  Nhưng ăn chay cũng giúp ta mở mắt trước tình cảnh thiếu thốn của tha nhân.  Nhờ ăn chay, chúng ta không còn sống cho chính mình nữa, nhưng biết sống cho Chúa và tha nhân.  Ăn chay giúp ta chế ngự được tính ích kỷ làm ta co lại, nhờ đó ta có thể mở lòng ra trước nhu cầu của anh chị em mình và chia sẻ cho họ điều mình đã tiết kiệm được từ ăn chay.

Ngay cả một người có hai áo cũng có thể chia sẻ được cho người trần trụi.  Người chỉ còn vài lon gạo cũng có thể chia cho người đang đói.  Chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình 40 ngày Mùa Chay.

Không phải chỉ là ăn chay, mà là sống chay.  Chay tịnh phải là một thái độ thấm vào cuộc sống.  Khi bớt nuông chiều những đòi hỏi ngày càng nhiều của thân xác, chúng ta sẽ thắng được những cám dỗ của thèm muốn vô độ.

*******************************

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu SJ

THINH LẶNG: Ý NGHĨA HAY VÔ NGHĨA?

Ngày nay người ta sợ thinh lặng, người ta chạy trốn thinh lặng bằng đủ mọi cách khác nhau vì nghĩ rằng thinh lặng là trống rỗng và vô nghĩa, là phí phạm thời giờ cách vô ích.  Bởi vì chúng ta đã quá quen sống trong vòng quay liên tục, náo nhiệt của việc làm, của âm nhạc, của phim ảnh và mọi thứ âm thanh.

Trong thời đại mà tốc độ đóng một vai trò quyết định: xe có tốc độ càng nhanh càng tốt, internet phải có đường truyền siêu tốc, fast food ngày càng phổ biến… nói chung cái gì tiết kiệm được thời gian thì càng tốt.  Đây quả là những điểm đáng khen ngợi vì giúp con người có thể thực hiện được nhiều công việc hơn, phục vụ tha nhân tốt hơn.

Tuy nhiên, mọi việc đều có tính hai mặt của nó: tích cực và tiêu cực, lợi và hại; nhưng có lúc người ta quá đề cao lợi mà quên đi hại, nhấn mạnh tích cực mà bỏ quên tiêu cực thì có nguy cơ dẫn đến phiến diện và trở nên khập khiễng.  Cụ thể, mặt tiêu cực của việc sống nhanh, ăn vội, yêu gấp, làm liền làm con người dễ căng thẳng, thiếu kiên nhẫn, hay nản chí, mong muốn mau chóng đạt thành công và đó là nguy cơ đánh mất chính mình.

Quả thật, người ta không còn thời giờ để suy nghĩ về những việc mình đã và đang làm có ý nghĩa gì.  Phải thành thật mà nói, xét ở một phương diện nào đó chúng ta cũng có tật hay bắt chước như loài khỉ, không biết có phải vì được sinh ra từ khỉ nên ta có tật đó chăng?  Làm vì thấy người khác làm, rồi từ từ cả bầy đều làm.  Làm mà chẳng biết tại sao mình làm, lý do duy nhất là thấy người khác làm và mình làm theo.

Mặt khác, khi đề cao và tận dụng tốc độ, người ta ít chú ý đến sự liên hệ giữa tinh thần và thể xác.  Gần đây, người ta bắt đầu nhấn mạnh trở lại về việc tinh thần có ảnh hưởng rõ ràng đến sức khỏe thể xác, và dần dà người ta bắt đầu nhận thấy thinh lặng có khả năng chữa lành và gia tăng sức mạnh nội tâm.  Ngày nay, các bác sĩ tâm thần thường khuyên những người bị trục trặc về đời sống tinh thần phải dành thời gian thinh lặng nhất định nào đó trong ngày để có thể lành bệnh chứ không chỉ đơn thuần cho họ dùng thuốc an thần.

Tại sao người ta lại sợ thinh lặng đến thế nhỉ ?

Thứ nhất, bởi vì người ta muốn tận dụng thời gian để làm thật nhiều việc càng tốt, và công việc nói lên giá trị của một con người.  Người nào thành công nhiều, người ấy có giá trị cao.  Nhưng có thật như thế không?  Nếu vậy những người bệnh tật, tâm thần cần phải loại bỏ đi.

Thứ hai, khi thinh lặng người ta phải đối diện với chính mình, với lương tâm và với Thiên Chúa.  Tất cả những gì mà tôi đã, đang và sắp làm sẽ bị chất vấn làm cho tôi khó chịu.  Thế là đành phải tìm cách dẹp bỏ những tiếng nói nội tâm ấy đi.  Đôi khi chúng ta hăng say làm việc đến mức quên ăn, quên ngủ, quên các mối liên hệ bạn bè và gia đình chẳng qua là một cách khéo léo mà tiềm thức chúng ta tung ra để chúng ta đang chạy trốn thinh lặng, và chạy trốn chính mình.

Thinh lặng không chỉ đơn thuần là im lặng, không có tiếng ồn nhưng sâu xa hơn là một trạng thái nội tâm giúp ta tách khỏi những gì ngăn cản ta ý thức về chính bản thân mình, về các mối tương quan giữa ta với Thiên Chúa, và giữa ta với người khác, về những gì mình đang làm và đang theo đuổi,…  Như vậy thinh lặng đi liền với suy tư phản tỉnh.

Người ta phân biệt thinh lặng bề ngoài là chủ động không nghe, không nhìn, không đọc; thinh lặng nội tâm là lắng nghe tiếng lương tâm và tiếng Chúa.  Cần phải có thinh lặng bề ngoài để đạt tới thinh lặng nội tâm.

Ngay chính trong đời sống tâm linh chúng ta cũng thích bầu khí ồn ào, phải có kinh để đọc, phải có đàn hát… nói chung phải có cái gì đó để làm, chứ không để “giờ chết.”  Phải chăng thói quen đó cũng đã ăn sâu vào đời sống đạo?

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thực tế một chút.  Ngày nay để tạo được bầu khí thinh lặng thật là khó.  Sống với hàng xóm và gia đình, chúng ta cảm nhận rõ được khó khăn này.  Chúng ta không thể bắt người thân của chúng ta giữ thinh lặng nếu họ không muốn.  Nhưng nếu điều kiện có thể, chúng ta cần chủ động tìm nơi thinh lặng và giờ thinh lặng cho chính mình.

Thật đáng mừng vì ngày nay, có nhiều giáo xứ có nhà nguyện Thánh Thể được trang hoàng nhẹ nhàng, và đặc biệt là có bầu khí thinh lặng.  Ai cũng có thể đến để viếng Chúa vào bất cứ giờ nào.  Nhiều bạn trẻ đã chia sẻ rằng, mỗi lần họ tìm đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chỉ cần ngồi đó thinh lặng để… nghỉ mệt và có khi ngủ gục nữa vì một ngày đã quá mệt với công việc và mọi thứ linh tinh.  Họ không đọc kinh, không đàn hát, nhưng trong thinh lặng cầu nguyện và đối thoại với Chúa, và đây chính là lúc họ tìm được bản thân và nhận biết chính mình thực sự.  Vì khi đến với Chúa, đến bên Chúa thì mọi thứ mặt nạ, các thứ giả vờ trong lời nói và hành động mà mình sử dụng để đối phó với người khác phải rớt xuống vì chẳng có gì còn có thể che dấu được nữa.  Chính lúc ấy tôi sống thật với con người tôi.

Một lần nữa xin được lặp lại lời của Đức Hồng Y Mercier: “hằng ngày, hãy dành một số lúc nhắm mắt trước những gì thuộc về giác quan và bịt tai trước những ồn ào của thế gian, để đi vào chính tâm hồn bạn.  Ở đó trong sự thánh thiện của linh hồn được rửa tội là đền thờ của Chúa Thánh Thần hãy thân thưa: “lạy Chúa Thánh Thần, người yêu của linh hồn con, con thờ lạy Ngài.  Xin hãy soi sáng con, hướng dẫn con, thêm sức cho con, an ủi con… xin giúp con biết được thánh ý Ngài.”

Nguồn: Giesulove.net