THÁNH PHANXICÔ PAOLA ẨN TU (1416-1507)

Phanxicô chào đời tại Paola miền Calabria ngày 27 tháng 5 năm 1416.  Cha mẹ Ngài là những người nghèo khổ nhưng rất đạo đức.  Lập gia đình đã lâu mà không có con, họ xin thánh Phaxicô khó khăn cần bầu.  Họ được nhận lời và khi đưa con trẻ tới bờ giếng rửa tội, họ đã đặt tên cho con trẻ là Phanxicô để tỏ lòng biết ơn.

Người mẹ thánh thiện đã muốn tự mình nuôi dưỡng đứa trẻ và có thể nói, bà đã cho con hấp thụ nền đạo đức cùng với dòng sữa mẹ.  Bởi thế ngay từ thuở ấu thơ, Phanxicô đã yêu thích cầu nguyện và hy sinh là hết lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Một ngày trời lạnh, bà mẹ thấy con quỳ lần chuỗi ngoài vườn, bà bảo: “Cầu nguyện lâu như vậy sao con không lấy nón mà đội?”

Phanxicô nói mình phải để đầu trần vì: “Việc đó lại không phải để lòng tôn kính Đức Trinh Nữ là Nữ Vương Thiên quốc sao?”

Một trẻ em đạo đức cũng là một gương mẫu vâng phục.  Người ta kể lại rằng: ngày kia bà thân mẫu bảo Phanxicô ngừng cầu nguyện để giải trí đôi chút, thánh nhân đã mau mắn trả lời: “Mẹ biết con rất thích nói chuyện với Chúa, nhưng con xin vâng theo lời mẹ dạy.”

Lúc 13 tuổi, Phanxicô vào dòng thánh Marcô của các cha dòng Phanxicô, để thực hiện lời khấn của cha mẹ Ngài, khi Ngài bị bệnh sưng mắt.  Tại tu viện, Phanxicô dù không có lời khấn, nhưng đã sống đời gương mẫu nhiệm nhặt.  Các thầy dòng cảm kích vì gương mẫu của thánh nhân đã tìm cách giữ Ngài lại trong dòng.  Nhưng hai năm sau, Phanxicô cùng với cha mẹ đi hành hương Roma.  Trở về, Ngài biết rõ ý Chúa muốn kêu gọi mình cách khác.  Được sự đồng ý của cha mẹ, Ngài lui vào nơi thanh vắng và nhiệt tâm sống đời cầu nguyện hy sinh.

Hương thơm nhân đức của vị ẩn sĩ 15 tuổi lan rộng khắp nơi.  Đến năm 19 tuổi, vì sự khẩn nài tha thiết Ngài đã nhận một số bạn trẻ.  Họ làm ba phòng và một nhà nguyện gần hang đá của Ngài.  Hàng ngày một lần đến cử hành thánh lễ và ban các phép bí tích.  Đó là nguồn gốc của dòng Anh em rất hèn mọn (Minimes), được tòa thánh phê chuẩn năm 1506.  Các tu sĩ của dòng này kiên trì thực hành Đức khiêm tốn và Bác ái.  Ngoài ba lời khấn họ còn giữ chay trường.

Chắc chắn trong dòng không ai sống đời nhiệm nhặt khắc khổ, khiêm tốn và vui tươi hơn thánh Phanxicô.  Đời sống như một hiến tế không ngừng ấy làm đẹp lòng Chúa, khiến thánh nhân được ơn làm nhiều phép lạ.

Chúng ta ghi lại một vài phép lạ như sau:

– Một lần kia, thánh nhân muốn đi từ Calabria về Sicilia.  Nhưng vì không có tiền trả lộ phí cho mình và cho một người bạn đường, các thủy thủ đã không cho Ngài xuống tàu, Thánh nhân liền trải áo xuống nước và cùng với người bạn đường áp con tàu kỳ lạ này về Sicilia.

– Một lần khác công nhân xây cất tu viện của Ngài thiếu nước Ngài làm cho một cái giếng nước chảy ra từ một phiến đá.  Giếng này không bao giờ cạn.

– Đặc biệt nhất phải kể đến việc Ngài phục sinh cho đứa cháu của mình.  Em Ngài là Birgitta có một đứa con muốn vào tu dòng của cậu.  Nhưng với sự quyến luyến tự nhiên của một người mẹ, bà luôn tìm cách ngăn cản.  Đứa bé đã chết.  Bà tìm đến gặp anh mình để mong được an ủi.  Bà nói: – Chính em đã gây ra cái chết này, nếu em đồng ý cho nó đi tu thì nó đã không phải chết.

Thánh nhân trả lời em mình: – Nếu nó còn sống thì em có đồng ý không?

– Dĩ nhiên nhưng bây giờ thì đã quá muộn rồi.

Không nói thêm một lời, Phanxicô đến gần đứa trẻ và làm cho nó sống lại.  Người mẹ dường như không tin ở mắt mình nữa.  Người ta còn nói có tới 60 người được thánh nhân làm cho sống lại như vậy.

Đức giáo hoàng Phaolô II muốn biết rõ những lời đồn thổi về thánh nhân.  Ngài sai một người đến tìm hiểu thực hư.  Vị sứ giả đến tu viện mà không báo tin trước.  Thấy Phanxicô, Ngài muốn cung kính hôn tay thánh nhân, nhưng vị tu sĩ đã phản đối.

Ngài nói: – Chính con phải hôn đôi tay đã 33 năm dâng hy lễ mới phải.  Vị sứ giả rất đỗi kinh ngạc vì Phanxicô đã không hề biết tới Ngài trước đây.  Để sáng tỏ hơn, Ngài đàm luận riêng với thánh nhân và rất thán phục vì những lời đáp đầy khôn ngoan và đức tin của Thánh nhân.  Trở về trình bày cho Đức Giáo hoàng, vị sứ giả cho biết những lời đồn thổi về công việc và công đức của thánh Phanxicô Paola còn kém xa sự thực rất nhiều.

Vua Luy XI đau nặng.  Ông muốn mời thánh nhân đến Pháp để xin được chữa lành.  Thánh nhân còn ngập ngừng, nhưng vâng lệnh Đức giáo hoàng, Ngài liền lên đường không một suy nghĩ đắn đo.  Đáp lại nguyện vọng sống lâu của nhà vua Thánh nhân trả lời: – Cuộc sống của vua Chúa cũng có giới hạn như bao người khác.  Lệnh của Thiên Chúa không thể xoay đổi được, tốt hơn cả là hãy vâng theo ý Chúa và dọn mình chết lành.

Cảm động vì những lời khuyên này, nhà vua đã hối cải và qua đời cách thánh thịên.

Phanxicô vội trở về Italia.  Nhưng vua Charles VIII đã giữ ông lại.  Cả vua Luy XII sau này cũng vậy.  Thánh nhân được coi như vị cố vấn soi sáng lương tâm và trong cả việc nước của hai vị vua nước Pháp ấy.  Tại đây Ngài thiết lập nhiều nhà dòng.

Khi cảm thấy sắp phải lìa trần, thánh nhân như được tiếp nhận một tin vui.  Ngày thứ năm tuần thánh, Ngài tập họp các tu sĩ lại, khuyên họ giữ chay trường và luật dòng.  Cầm than nóng trong tay Ngài nói: – Cha đoan quyết với con rằng: đối với người yêu mến Chúa, việc hoàn thành điều mình đã hứa với Chúa không khó hơn việc Cha cầm lửa trong tay này đâu.

Sau đó dựa vào một tu sĩ, Ngài dự lễ và rước mình thánh Chúa.  Vì được ơn nói tiên tri và làm phép lạ, được mọi người từ vua quan tới dân chúng kính trọng, Ngài cột giây vào cổ và muốn người chết như một tội nhân.  Ngày thứ sáu tuần thánh sau khi chỉ định người kế vị, chúc lành cho con cái, Ngài hôn thánh giá và tắt thở.  Hôm ấy là ngày 02 tháng 04 năm 1507, hưởng thọ 91 tuổi.

Sưu tầm

GIUĐA PHẢN BỘI, PHÊRÔ CHỐI THẦY VÀ NGƯỜI TRỘM LÀNH DẠY CHO CHÚNG TA NHỮNG BÀI HỌC GÌ?

Hỏi: Nhân Mùa Chay, xin cha giải thích ý nghĩa việc Giuđa phản bội, người trộm lành sám hối và Phêrô chối Chúa như được ghi lại trong trong các Tin Mừng.

Trả lời: Mùa chay là thời điểm thuận lợi nhất để Giáo Hội mời gọi con cái mình suy niệm sâu xa hơn nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi đau khổ, sỉ nhục và chết trên thập giá để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội và có hy vọng được sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước Trời.

Mùa chay cũng là mùa sám hối, thúc dục mọi tín hữu nhìn nhận tội lỗi đã phạm để xin Chúa nhân lành khoan dung thứ tha vì Người “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” (1Tm 2:4).  Thiên Chúa là Cha rất nhân lành Người “chậm giận và giầu tình thương.”  Vì thế, ai có lòng trông cậy và kêu xin thì dù cho tội lỗi đến đâu cũng sẽ được tha thứ.  Chỉ có sự tuyệt vọng, không còn muốn xin Chúa thương xót tha thứ nữa mới làm bế tắc tình thương bao la của Thiên Chúa cho con người mà thôi.  Sau đây là nhũng bài học ta có thể rút ra từ việc Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa và người trộm lành sám hối.

Tin Mừng Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều ghi lại sự kiên Phêrô chối Thầy, Giuđa Ít-ca-ri-ốt, một trong 12 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã phản bội Thầy, bán Thầy và tuyệt vọng đến mức treo cổ tự tử sau đó (Mt 27: 5).

Riêng Tin Mừng Luca ghi lại sự kiện “Người gian phi sám hối và được vào Thiên Đàng với Chúa Giêsu”.

– Trường hợp của Giuda

Giuđa tượng trưng cho lớp người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa để phản bội người khác, kể cả ân nhân.  Giuđa là một trong Nhóm 12 Tông Đồ nòng cốt mà Chúa Giêsu đã chọn lựa cho tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa từ lúc ban đầu.  Giuđa đã được diễm phúc sống bên Chúa suốt 3 năm, đã được trực tiếp nghe lời giảng dạy của Chúa về Nước Trời, về tinh thần khó nghèo cũng như chứng kiến tận mắt đời sống khó nghèo của Chúa ở mức “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8: 20).  Vậy mà Giuđa đã không được cảm hóa theo gương khó nghèo của Chúa.  Vì thế Giuda đã cam tâm bán Chúa lấy 30 đồng bạc.  Nhưng khi chứng kiến cảnh Thầy mình bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, Giuđa đã hối hận đem tiền trả lại bọn thượng tế và kỳ mục Do Thái rồi đi thắt cổ chết.  Hắn tự tử vì quá tuyệt vọng, không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương, tha thứ của Chúa nữa.  Đây là điều rất đáng buồn cho anh ta và là gương xấu cho người khác.

Thật vậy, Giuđa đã trở thành gương xấu không những vì tham mê tiền của, phản bội mà nhất là tuyệt vọng về lòng xót thương của Chúa.  Đây là điều đáng nói nhất về người môn đệ phản bội này, vì y đã mất hết niềm tin vào Thiên Chúa nhân lành, sẵn lòng tha thứ hết mọi tội lỗi của con người trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội tuyệt vọng không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương tha thứ của Chúa nữa.  Giuđa đã phạm tội này khi tự tử chết.

Chúa Giêsu đã than thở như sau về sự phản bội của Giuđa:

“… Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” (Ga 17: 12)

lại nữa:

“… đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26: 24; Mc 14: 21).

Dầu vậy, Giáo Hội cũng không dám kết luận chắc chắn về số phận đời đời của Giuđa.  Việc này chỉ có một mình Thiên Chúa biết vì Người đã phán đoán Giuđa theo lượng từ bi và công bằng của Người.

Ngược lại, Giáo Hội chỉ lưu ý con cái mình về gương xấu của Giuđa mà thôi.  Gương xấu vì Giuđa đã mê tiền của hơn yêu mến Thầy, nên đã phản bội Thầy khi bán Người lấy 30 đồng bạc của các Thượng Tế và kỳ mục Do Thái.  Nhưng điều đáng nói nhất về Giuđa là sự tuyệt vọng của anh, khi không còn muốn sám hối để xin Chúa tha thứ nữa, để rồi đi treo cổ tự tử (cf. Mt 27:5).  Đây là gương xấu mà mọi tín hữu phải xa tránh vì thực chất của nó là mất hết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, là Cha nhân từ luôn sẵn lòng tha thứ cho kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.

– Phêrô chối Chúa

Ngược lại với Giuđa là kẻ nêu gương xấu về tham tiền và tuyệt vọng, Phêrô lại dạy cho chúng ta bài học quý giá về lòng ăn năn sám hối.

Phêrô cũng có khuyết điểm là quá tự tin nơi mình khi tuyên bố lúc ban chiều trước khi Chúa Giêsu bị bắt: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” (Mt 26:35).

Nhưng đúng như lời Chúa đã nói trước là đêm đó gà chưa gáy sáng thì Phêrô đã chối Chúa ba lần.  Nhưng chối xong và nhớ lại lời Chúa đã nói trước, Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (cf. Mt 26: 75; Lc 22: 62).  Ông khóc vì ăn năn hối hận đã hèn nhát chối Thầy trước những kẻ bắt bớ và hành hạ Người cách tàn nhẫn.  Chính vì thật sự thống hối ăn năn mà Chúa đã tha cho Phêrô tội công khai chối Chúa và còn tín nhiệm trao phó cho Phêrô sứ mệnh “chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Thầy” (Ga 21: 15-16).

Như thế đủ cho ta thấy là dù tội lỗi con người có nặng đến đâu, nhưng nếu biết sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa thì chắc chắn sẽ được tha thứ và nối lại tình thân với Người, sau khi đã lỡ sa ngã vì yếu đuối của nhân tính do hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại.

– Người gian phi sám hối (Lc 23:40-42)

Tin Mừng Luca kể rõ hai tên gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu, một đứa bên phải, một đứa bên trái, trong khi Matthêu nói đó là hai tên cướp (Mt 27: 38).  Chúng bị đóng đinh vì tội trôm cướp, và một trong hai tên gian phi này đã nhận biết tội của mình nên xin cùng Chúa Giêsu rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của Ông xin nhớ đên tôi.  Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 42-43)

Như thế, chỉ có lòng ăn năn sám hội thực sự là đáng kể vì là điều đẹp lòng Chúa, và Người sẽ tha hết mọi tội lỗi cho những ai nhận biết mình có tội và xin Chúa thứ tha.  Người gian phi sám hối hay còn được gọi là “kẻ trộm lành” đã vào Thiên Đàng bằng đường tắt nhanh chóng chỉ vì biết ăn năn sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa để xin tha thứ.

Người trộm lành này đã từng đi đàng tội lỗi không biết là bao nhiêu năm, nên bị đóng đanh vì những trọng tội mà xã hội Do Thái phải trừng phạt bằng cực hình đóng đanh.  Nhưng Chúa đã tha thứ cho anh mọi tội, từ tội nguyên tổ cho đến mọi tội cá nhân anh đã phạm cho đến ngày bị đóng đanh chung với Chúa, là Người lành vô tội, nhưng đã cam lòng chiu khổ hình thập giá để đền thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội.

Dĩ nhiên chúng ta không thể bắt chước “người trộm lành” bằng cách cứ sống tội lỗi rồi cuối cùng sám hối xin Chúa tha thứ để được vào Nước Trời.  Ta chỉ có thể noi gương tốt của anh về lòng sám hối và tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa để xin Người tha thứ mọi tội cho ta đã lỡ sa phạm vì yếu đuối của bản chất và vì ma quỉ cám dỗ.  Nhưng ta không thể bắt chước anh ta làm những việc sai trái hay đối nghịch với tình thương, sự thánh thiện và công bằng của Chúa để chờ xin tha thứ vào phút chót.  Không ai có thể biết ngày giờ nào mình phải ra đi, nên không thể liều mình sống trong tội chờ ngày sám hối được.  Cố ý sống như vậy là lợi dụng lòng thương xót, tha thứ của Chúa.  Và nếu ai cố ý liều lĩnh như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo nghiêm khắc sau đây:

“Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.  Phải chi ngươi lạnh hẳn đi, nhưng vì người hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Kh 3: 15-16)

Tóm lại, điều thiết yếu là ta phải cố gắng xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội là cản trở duy nhất cho ta sống đẹp lòng Chúa mỗi giây phút của đời mình trên trần thế này.  Tuy nhiên, vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, nhất là vì ma quỉ luôn rình rập để lôi kéo ta vào vòng tội lỗi, nên cần thiết cho ta phải xin ơn Chúa giúp sức để có thể đứng vững, sống theo đường lối của Chúa để được an vui ngay trên đời này trước khi được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
(Nguồn danchuausa.net)

TRỖI DẬY VÀ TRỞ VỀ 

Chúa nhật thứ bốn Mùa Chay là điểm giữa của hành trình Mùa Chay, Phụng vụ khích lệ chúng ta: nếu có trải qua những khổ chế hy sinh của Mùa Chay, là vì chúng ta đang hướng về nhà mình, về với Cha, Đấng nhân hậu hằng yêu thương và chờ đợi chúng ta trở về.  Quả thực, hành trình Mùa Chay là hành trình trở về, dù phải trải qua hy sinh, nhưng luôn đong đầy niềm vui và hy vọng.  Cũng vì lẽ đó mà luật Phụng vụ cho phép các linh mục có thể mặc lễ phục màu hồng trong Chúa nhật này, vì màu hồng biểu thị cho niềm vui và hy vọng.  Lễ phục màu hồng như dấu hiệu của niềm vui đi kèm với lời hứa về lễ Phục sinh.  Truyền thống cũng gọi Chúa nhật thứ bốn Mùa Chay là Chúa nhật “Laetare,” tiếng La-tinh có nghĩa là “vui mừng.”

Niềm vui trở về trước hết được diễn tả trong Bài đọc I trích sách Giô-suê.  Dân Do Thái sau bốn mươi năm lang thang trong sa mạc, nay đã trở về Ca-na-an, mảnh đất mà Thiên Chúa đã hứa cho các Tổ phụ.  Gọi là “trở về” vì đây chính là nơi ông Áp-ra-ham và vợ mình là bà Sa-ra đã sống và an nghỉ.  Trở về với Ca-na-an, người Do Thái về đất tổ của mình.  Chính Thiên Chúa ban cho họ đất này.  Họ không còn ăn những sản phẩm nhàm chán trong cuộc lữ hành, nhưng bắt đầu làm nhà định cư và được hưởng những thổ sản của địa phương.  Niềm vui của Dân Chúa thật tràn trề khi họ trở về đất hứa.

Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca là một trong những tuyệt tác văn chương của Kinh Thánh.  Dụ ngôn ấy vừa nói về lòng nhân hậu bao dung của người cha, vừa nêu bật niềm vui hân hoan của người con đã có thời đi hoang.  Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” mang ý nghĩa đặc biệt trong Năm Thánh Hy Vọng 2025 này.  Từng chi tiết của câu chuyện có thể tìm thấy trong hoàn cảnh cuộc đời của mỗi cá nhân chúng ta.  Nói cách khác, mỗi người chúng ta có thể nhận thấy chính mình trong câu chuyện này.

Có thể chúng ta là người con thứ đã có thời lầm lỗi, nay cảm nhận được hậu quả của tội lỗi cũng như sự sa vắng tình thương, nên trỗi dậy để quyết tâm trở về với cha mình.  Câu nói của người con thứ: “Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha, và thưa với người rằng: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha....”  Phạm tội trước hết là đắc tội với Trời, với Thiên Chúa.  Vì Ngài là Đấng dựng nên chúng ta, đồng thời dạy chúng ta sống tốt lành.  Phạm tội cũng là đắc tội với những người thân và anh chị em đồng loại, vì tội như một thứ bệnh truyền nhiễm, gây ảnh hưởng tiêu cực nơi môi trường sống và tác hại đến những người xung quanh.  Câu tự nhủ của người con thứ nói lên tình liên đới của con người do những hành động tốt hoặc xấu của một thành viên trong gia đình và xã hội.

Có thể chúng ta là người con cả.  Quanh năm ngày tháng anh vẫn ở với cha mình.  Anh được coi là người hiếu thảo, tận tâm chăm lo giúp đỡ cha trong lúc tuổi già.  Nhưng nếu anh hiếu thảo với cha, thì lại ghen tương và cố chấp đối với đứa em ruột thịt của mình.  Khi người em trở về, ai cũng vui mừng phấn khởi thì anh lại buồn.  Có thể anh buồn vì người em đã làm cho gia đình khốn khổ, đó là cái buồn do sự cố chấp.  Cũng có thể anh buồn vì người em trở về sẽ đòi chia gia tài, đó là nỗi buồn do tham lam.  Dù vì lý do nào, người cha cũng không chấp nhận.  Ông luôn yêu thương cả hai đứa, đứa vẫn chăm sóc ông bấy lâu nay cũng như đứa bỏ nhà ra đi rồi đến lúc phá sản, vì đơn giản ông là NGƯỜI CHA.

Nhân vật chính của dụ ngôn là NGƯỜI CHA.  Ông là hình ảnh của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su kể dụ ngôn này sau khi những người Pha-ri-siêu và kinh sư xầm xì bàn tán vì thấy những người thu thuế và tội lỗi đến với Chúa và được Người đón tiếp.  Đối lại, Chúa Giê-su giảng một chuỗi ba dụ ngôn, gồm dụ ngôn con chiên bị mất; dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất; và dụ ngôn người cha nhân hậu.  Thiên Chúa là Cha của những người Pha-ri-siêu, của những người kinh sư và cũng là Cha của những người thu thuế và người tội lỗi.  Người không nỡ bỏ một ai, như lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó (kẻ gian ác) đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành!  Chúa là Thiên Chúa phán: Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?” (Ed 18,22-23).

Khi cảm nhận được lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa, chúng ta hãy trỗi dậy và vững tâm trở về, dù tội lỗi đến đâu.  Thánh Phao-lô khuyên chúng ta: “Ai ở trong Đức Ki-tô, đều là tụ tạo mới!”  Nếu chúng ta tự tin và can đảm trở về với Chúa, là vì chúng ta vừa xác tín vào lòng nhân hậu của Ngài, vừa cậy nhờ vào Đức Giê-su, vì “trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Ngài(Bài đọc II).

Thiên Chúa là Cha, đang giang rộng cánh tay đón chờ các con cái trở về.  Xin cho chúng ta được hưởng niềm vui của sự trở về, để nhờ đó chúng ta được vững tin và phó thác, tiếp tục bước đi trong hành trình hy vọng.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

LỜI “XIN VÂNG” TRONG LỄ TRUYỀN TIN

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng.  Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Đức Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ.  Phản ứng của Đức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng (Lc 1, 38).  Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa.  Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.  Lập tức sau lời “xin vâng” của Đức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Đức Mẹ.  Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn.  Từ đó “xin vâng” đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.

Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Đức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét (Lc 1, 39 – 45).  Đi thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét.  Theo Đức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác.  Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác.  Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.

Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Đức Mẹ trong kinh Tạ Ơn “Linh hồn tôi tung hô Chúa” (Lc 1, 46 – 55).  Tâm tình Đức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa.  Tâm tình Đức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại.  Tâm tình Đức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.

Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Đức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem (Lc 2, 1 – 7).  Đang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu giá trị con người, thì Đức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy.  Trái lại, Đức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo.  Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Đức Mẹ.  Trên con đường đó, Đức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.

Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.  Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Đức Mẹ là con người mới.  Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ (Lc 1, 35).

Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.

Do đó, Đức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh.  Với đặc điểm là Đức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.

Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.

Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại.  Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa.  Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa.  Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình.  Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình.  Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.  Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Đức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu.  Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân.  Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới.  Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Đức Mẹ.

Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta.  Ta có lắng nghe ý Chúa không?  Và ta có xin vâng ý Chúa thực không?  Đoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:

“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng.  Đức Giê-su đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.”  “Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13, 1 – 5).

Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa.  Đó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình.  Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình.  Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.

Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó.  Rất rõ ràng.  Ở Fatima Đức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó.  Cũng rất rõ ràng.  Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.

Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa.  Hãy bước đi với những bước nhỏ.  Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi.  Như hằng ngày đến bên trái tim Đức Mẹ, để xin trái tim Đức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó.  Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ.  Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị.  Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.

Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Đức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

ĐGM GB. Bùi Tuần

TÌM KIẾM BÌNH AN NỘI TÂM Ư?  HÃY THỬ ĐI XƯNG TỘI!

Có một hiện tượng rất thú vị: quan sát một người chuyển từ trạng thái căng thẳng bên trong được thể hiện qua sự căng thẳng bên ngoài, rồi sang trạng thái bình an và thanh thản!  Chúng ta có thể liên kết hiện tượng này với trường hợp của một hối nhân đứng xếp hàng, chờ đợi đến phiên mình lãnh nhận Bí tích Giải tội, ít nhiều gì, họ dễ bộc lộ chút nào đó của sự bồn chồn, căng thẳng.  Tuy nhiên, sau khi xưng tội và lãnh nhận ơn tha tội, chúng ta rất dễ nhận ra sự bình an nội tâm tỏa ra ngay từ chính nét mặt của người đó khi rời tòa giải tội.

Khoảng 35 năm trước, Mary Ann Budnik đã viết một cuốn sách ngắn nhưng rất tuyệt vời về Bí tích Giải tội với tựa đề “Tìm kiếm sự bình an ư?  Hãy thử Xưng tội!”  Tác giả khuyến khích tín hữu hãy lãnh nhận Bí tích Giải tội thường xuyên để xin ơn bình an và thánh hóa cho các thành viên trong gia đình.

Bà Budnik đã đưa ra một nhận xét rất sâu sắc và thú vị: Khi căng thẳng, áp lực có dấu hiệu gia tăng, và những bất đồng, cãi vã giữa các thành viên trong gia đình có xu hướng tăng lên, thì có thể dẫn đến kết luận rất rõ ràng, đó là, đã đến lúc tất cả các thành viên trong gia đình cần đến với Tòa giải tội.  Chắc chắn là sau khi mỗi người đi xưng tội đàng hoàng về, thì sự hòa thuận sẽ trở lại với bầu khí của gia đình.

Về mặt thần học, nhận xét này rất vững vàng và hợp lý.  Lý do đơn giản là: trong số những hậu quả của tội lỗi phải kể đến: sự căng thẳng, hỗn loạn, ích kỷ, kiêu ngạo, tự ái và lục đục.  Ân sủng của Bí tích giải tội sẽ giúp chống lại những hậu quả tiêu cực này của tội lỗi.

Có thể nói, một đề xuất tuyệt vời để củng cố sự thánh thiện, hòa thuận, yêu thương, bình an và niềm vui trong gia đình, còn được gọi là “Giáo hội tại gia,” là thực hành việc xưng tội hàng tháng.  Từ người gia trưởng cho đến thành viên nhỏ nhất, hãy quyết tâm cùng nhau đi xưng tội hàng tháng, và khuyến khích cả gia đình có được thói quen tốt lành này!

Bốn yếu tố để thực hiện việc Xưng Tội cách Tốt Lành

Thánh Josemaria Escriva Balaguer, đã đặt ra một từ viết tắt dễ nhớ gồm 4 từ nhằm giúp chúng ta lãnh Bí tích hoà giải cách sốt sáng: Rõ ràng (Clear); Súc tích (Concise); Cụ thể (Concrete) và Trọn vẹn (Complete).

1. RÕ RÀNG. Trong Nhật Ký của Thánh Faustina, “Lòng Chúa Thương Xót trong Linh Hồn Tôi”, Chúa Giêsu đã nói rõ với Thánh nữ rằng, điểm khởi đầu để lãnh nhận Bí Tích Giải Tội hiệu quả là phẩm chất không thể thiếu của SỰ MINH BẠCH.  Nói cách khác, đó là sự Rõ ràng.  Thật thế, trong khi các dấu chỉ của Thần Lành là rõ ràng và minh bạch, thì trái lại, sự lộn xộn, mập mờ, mơ hồ, nhập nhằng đều là những dấu chỉ của kẻ thù của linh hồn chúng ta, chính là ma quỷ.  Do đó, khi xưng tội nơi tòa giải tội với linh mục, vị đại diện Chúa Giêsu Kitô, chúng ta hãy nói chậm rãi, rõ ràng, chân thành và hết sức cởi mở.  Hiệu quả chính của Bí tích Giải tội là chữa lành những vết thương mà chúng ta mắc phải do tội lỗi.  Chúa Giêsu, vị Thầy Thuốc Thiêng liêng sẽ chữa lành chúng ta.  Giống như một Bác sĩ sẽ chẳng thể chữa lành cho bệnh nhân trừ khi bệnh nhân bộc lộ những bệnh tật trên cơ thể mình một cách minh bạch và rõ ràng.  Căn bệnh càng rõ ràng thì các ứng dụng của phương thuốc điều trị càng hiệu quả.

2. SÚC TÍCH. Có lẽ vị Thánh và vị linh mục giải tội nổi tiếng nhất trong Giáo hội Công giáo là Thánh Gioan Vianney thành Ars.  Sau khi vượt qua nhiều trở ngại mà ngài gặp phải khi mới đến Giáo xứ, mọi người từ khắp nơi đổ về tòa giải tội của ngài.  Người ta tính rằng thánh nhân giải tội từ 13 giờ đến 18 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong gần 40 năm.  Sức thu hút của ngài với tư cách là một linh mục, một cha giải tội, và một vị thánh đạt đến mức tín hữu đôi khi phải chờ đợi nhiều ngày để đến phiên vào tòa giải tội của ngài.  Những người viết tiểu sử của Thánh Gioan lưu ý rằng, theo nguyên tắc chung, ngài không dành thời gian dài cho mỗi hối nhân.  Thông thường, không kể các trường hợp đặc biệt, mỗi người vào toà xưng tội sẽ mất khoảng 3 phút.

Súc tích có nghĩa là hối nhân cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc xưng tội.  Điều có thể rất hữu ích là hối nhân viết ra tội của mình trước khi bước vào tòa giải tội.  Ngoài ra, ngay cả trước khi gặp linh mục, hối nhân đã phải cố gắng thực hiện một Hành vi ăn năn tội cách trọn vẹn.  Tóm lại, 95% việc xưng tội tốt lành là điều đã được thực hiện trước khi hối nhân bước vào tòa giải tội.

Trong Chương trình truyền hình Dragnet with Joe Friday, có một câu nói cổ điển và dễ nhớ mà ông ấy đưa ra trước khi tham gia vào vụ án: “CHỈ CÓ SỰ THẬT, THƯA BÀ, CHỈ LÀ SỰ THẬT THÔI…” Theo nghĩa song song, hối nhân cần vào tòa giải tội với điều kiện tiên quyết này: “CHỈ LÀ TỘI LỖI, CHỈ LÀ TỘI LỖI THÔI….”  Các yếu tố không liên quan đến việc Xưng tội nên được đặt sang một bên.  Hết sức rõ ràng: Bản chất và nội dung chính của bất kỳ lời xưng tội tốt lành nào đều là lời thú nhận chân thành, minh bạch và súc tích về tội lỗi cá nhân của chính mình.  Điều này có nghĩa là, lời xưng tội của bạn không phải là lời thú nhận của chồng/vợ, con cái, mẹ chồng của bạn, mà là tội lỗi của chính bạn.  Đôi khi, chúng ta có thể nói quá nhiều vì đang lảng tránh vấn đề thực sự về tội lỗi của mình.  Súc tích có nghĩa là ngắn gọn, chính xác; không dài dòng và vòng vo!

3. CỤ THỂ. Một phẩm chất thiết yếu khác để thực hiện Bí tích Giải tội là tầm quan trọng của việc xưng tội một cách cụ thể.  Nên tránh những cách diễn đạt trừu tượng, mơ hồ, chung chung, thiếu diễn tả cụ thể, chẳng hạn như: “Con không đủ tốt…  Con có thể trở thành một người tốt hơn Con không hoàn hảo… Con đã vi phạm các điều răn… Con là một tội nhân thực sự tồi tệ.. . Con đã làm Chúa thất vọng…  Lời nói của con có thể tốt hơn…  Con cũng giống như đại đa số nhân loại – là một tội nhân…  Tội lỗi của con cũng giống như tội lỗi của mọi người,...”  Trái lại, có thể diễn tả cụ thể như sau: “Con bỏ lễ Chúa Nhật vì lười biếng… Con xem phim khiêu dâm 3 lần, mỗi lần nửa tiếng… Con lấy trộm tiền của Công ty vì con tham lam…  Con cố tình uống rượu say 3 lần vào cuối tuần với những người bạn nghiện rượu của con, …” Những lời thú nhận này đều cụ thể và cho thấy nguyên nhân gốc rễ của việc phạm tội!

4. TRỌN VẸN. Bí Tích Giải Tội phải hoàn chỉnh.  Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, cũng như Bộ Giáo luật, quy định rằng để việc Xưng tội được trọn vẹn, hối nhân phải thú nhận cả số tội trọng, cũng như loại tội – nghĩa là loại tội đã phạm.

Ví dụ, một cặp vợ chồng trước khi kết hôn có lẽ đã lâu không xưng tội, một năm chẳng hạn.  Nếu người chồng tương lai này đã không đi lễ trong một năm và rơi vào việc quan hệ trước hôn nhân hoặc lạm dụng ma túy, thì một Lời xưng tội hoàn chỉnh có thể như sau: “Thưa Cha, xin giải tội cho con, vì con đã phạm tội, lần xưng tội cuối cùng của con là một năm trước và đây là tội lỗi của con…. Con lạm dụng ma túy 10 lần; con bỏ Lễ 52 lần, và quan hệ trước hôn nhân 15 lần.”   Việc Xưng tội của người này được xưng một cách hoàn chỉnh: cả về số lần cụ thể, cũng như loại tội.  Sau đó, người ấy nghe thấy những lời tuyệt vời này: “… Cha tha tội cho con nhân danh Cha, Con và Thánh Thần.  Amen.”

Nếu 4 yếu tố này, Rõ ràng, Súc tích, Cụ thể và Trọn vẹn được áp dụng khi chúng ta đến với Bí tích Giải tội – thì hy vọng rằng ơn chữa lành qua Bí tích của Thiên Chúa sẽ đổ tràn xuống tâm hồn, để rồi chúng ta sẽ rời khỏi tòa Giải tội với một sự bình an chẳng thể hiểu và diễn tả nổi.

Bạn và gia đình đang tìm kiếm sự bình an thực sự của tâm hồn ư?  Hãy thử đến với bí tích Hoà giải, ngay trong những ngày còn lại của Mùa Chay này!

Lm. Ed Broom, OMV
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP, chuyển ngữ từ: catholicexchange.com (07. 3. 2023)

CƠ HỘI THỨ HAI

Tờ báo Dallas Morning News đăng một tấm hình của một số tù nhân trong chương trình làm-việc-để-được-tha.  Họ đang phục hồi một căn nhà đổ nát ở phía tây thành phố.  Một vài ngày sau, một trong những tù nhân viết cho ban biên tập, anh nói rằng:

“Cảm ơn quý vị đã loan tin…  Lần sau cùng tên và hình ảnh của tôi được đăng trong tờ báo là ngày tôi bị kết án tù…  Vì thế, đó thực sự là một niềm vui khi tôi thấy hình của mình đang làm một công việc tốt được đăng trong tờ báo của quý vị…

“Khi vào tù 18 tháng trước, tôi rất giống như căn nhà đổ nát mà chúng tôi phục hồi lại…  Nhưng Thiên Chúa đã chăm sóc tôi và làm cho tôi trở nên một tạo vật mới trong Chúa Kitô.”

Thật khó có một minh họa nào tốt hơn cho điều mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài phúc âm hôm nay.

Nửa phần đầu của bài phúc âm nói về hai nhóm người bị giết trong các tai nạn ở Giêrusalem.  Đức Giêsu kết thúc lời nhận xét về các tai nạn này như sau, “Và tôi nói cho quý vị biết rằng nếu quý vị không xa lánh tội lỗi, tất cả quý vị sẽ chết như những người ấy.”

Phần thứ hai của bài phúc âm nói về một cây vả được trồng trong một vườn nho.  Vườn nho là một nơi lý tưởng để cây vả lớn lên.  Nếu một cây vả không thể phát triển ở đó, nó không thể lớn lên ở bất cứ đâu khác.

Cây vả cần ba năm để lớn mạnh.  Nếu nó không sinh trái trong thời gian đó, có lẽ nó sẽ không thể sinh trái vào bất cứ lúc nào.

Điều này giải thích tại sao chủ vườn lại ra lệnh cho người làm vườn phải chặt cây đó xuống.

Và vì thế, thật ngạc nhiên khi thay vì chặt cây ấy xuống người làm vườn lại xin ông chủ cho cây ấy một cơ hội thứ hai.  Ông nói, “Thưa ngài, xin để nó thêm chỉ một năm nữa thôi; tôi sẽ đào xới chung quanh và bón phân cho nó.”

Đức Giêsu có ý định nói dụ ngôn này cho hai nhóm người.  Trước hết, Đức Giêsu có ý nói với dân chúng thời bấy giờ.  Thứ hai, Người muốn nói dân chúng thuộc mọi thời đại.

Nhóm người mà Đức Giêsu nói với họ dụ ngôn hôm nay, dĩ nhiên, là dân Ít-ra-en.  Đức Giêsu nói với họ rằng Thiên Chúa đã ban cho họ một chỗ được chọn lọc trong kế hoạch của Người và đặc biệt chăm sóc họ.  Nhưng họ không sinh kết quả.

Đức Giêsu còn nói với họ rằng, bất kể sự thất bại này, Thiên Chúa sẽ kiên nhẫn với họ thêm chút nữa.  Người sẽ cho họ một cơ hội thứ hai, giống như cây vả.

Nhóm người rộng hơn mà Đức Giêsu muốn nói dụ ngôn này bao gồm tất cả chúng ta ngày hôm nay.

Dụ ngôn của Đức Giêsu cũng áp dụng cho chúng ta.  Chúng ta giống như dân Ít-ra-en.  Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một nơi được chọn lọc trong kế hoạch của Người, và Người đặc biệt chăm sóc chúng ta.  Thiên Chúa mong đợi chúng ta sinh kết quả.  Nếu không, giống như dân Ít-ra-en, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta một cơ hội thứ hai để sám hối.  Nếu chúng ta không sám hối, thì giống như dân Ít-ra-en, chúng ta sẽ chết.

Điều này đưa chúng ta đến câu chuyện phần mở đầu.  Cả tù nhân cũng như căn nhà đổ nát minh họa cho điểm trong dụ ngôn của Đức Giêsu.  Cả hai đều được cơ hội thứ hai.

Căn nhà này bị thành phố loại bỏ.  Nó nằm trong chương trình bị phá hủy.  Nhưng một số người đã thuyết phục các viên chức thành phố là hãy cho nó một cơ hội thứ hai.

Họ nói, “Hãy để các tù nhân làm việc đó.  Nếu họ có thể làm cho nó thành một bất động sản hữu ích, thì chúng ta sẽ không phá hủy nó.”

Chính người tù nhân cũng bị loại bỏ.  Anh được coi là không thích hợp với xã hội.  Anh bị giam trong tù.

Tuy xã hội đã từ bỏ anh, Đức Giêsu thì không.  Người đã cho anh một cơ hội thứ hai.  Cũng như người làm vườn trong bài phúc âm hôm nay, Đức Giêsu đã tưới nước và chăm sóc tinh thần của anh.  Anh đã đáp ứng và trở nên một tạo vật mới.

Mọi người chúng ta đều có thể liên hệ đến câu chuyện này.  Ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời, nhiều người chúng ta cũng giống như cây vả, căn nhà, và người tù.

Chúng ta cũng trong nguy cơ bị coi là vô ích.  Nhưng trong sự thương xót, Thiên Chúa đã xót thương chúng ta.  Giống như căn nhà, người tù, và cây vả, chúng ta được ban cho cơ hội thứ hai.

Vì thế, bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy chân thành biết ơn Thiên Chúa vì Người đã ban cho chúng ta cơ hội thứ hai.  Bài này cũng mời gọi chúng ta hãy quyết tâm tận dụng cơ hội thứ hai của mình.

Và vì thế chúng ta nói với Chúa Giêsu, “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con cơ hội thứ hai.  Xin hãy giúp con tận dụng cơ hội ấy. Xin hãy giúp con thực hiện kế hoạch của Ngài trên chúng con.  Xin giúp chúng con thi hành điều này nhất là trong thời gian còn lại của mùa Chay.”

Chúng ta hãy kết thúc với câu chuyện về một cây vĩ cầm cũ, mà giống như chúng ta, nó được ban cho cơ hội thứ hai.

Nó là một hình ảnh khác về cuộc đời của bạn và tôi và tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.  Tôi hy vọng câu chuyện này sẽ đánh động tâm hồn bạn và khích động bạn cử hành Thánh Lễ hôm nay với sự biết ơn và yêu mến Thiên Chúa hơn bình thường.

“Cây vĩ cầm bầm dập, sứt sẹo và người bán đấu giá.  Tuy không đáng để tốn nhiều thời giờ với cây đàn cũ, người bán đấu giá đã mỉm cười cầm nó lên.  ‘Quý vị ơi, tôi đặt giá bao nhiêu đây?’  Ông lớn tiếng.  ‘Ai là người trả giá đầu tiên?  Một đồng, một đồng, vậy hai đồng, chỉ hai đồng thôi sao?  Hai đồng và có ai trả ba đồng không?’

“‘Ba đồng, gọi lần thứ nhất và ba đồng gọi lần thứ hai, và sẽ được bán với giá ba đồng, nhưng khoan đã…!’ Từ cuối căn phòng một ông già tóc hoa râm tiến lên và cầm lấy cây cung kéo đàn.  Sau khi phủi bụi chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ và căng lại dây đàn, ông chơi một cung điệu thật tinh khiết và ngọt ngào, ngọt như tiếng hát của thiên thần.

“Tiếng đàn chấm dứt và tiếng của người đấu giá ôn tồn nói, ‘Tôi đặt giá bao nhiêu cho cây đàn cũ này?’  Và ông cầm cây đàn ấy lên, ông nói, ‘Một ngàn đồng và có ai trả hai ngàn không?  Hai ngàn đồng và có ai trả ba ngàn không?  Ba ngàn, gọi lần thứ nhất, ba ngàn, gọi lần thứ hai và chấm dứt!’

“Dân chúng hoan hô nhưng có một vài người la lớn, ‘Chúng tôi không hiểu được.  Cái gì đã thay đổi giá trị của nó?’  Có tiếng người đáp ngay lập tức, ‘Bàn tay của một bậc thầy.’  Nhiều khi có người mà cuộc đời đã lạc điệu và bầm dập và sứt sẹo với tội lỗi cũng được bán đấu giá cách rẻ mạt cho đám đông vô tư, rất giống như cây vĩ cầm cũ kỹ này.

“Một bát canh hổ lốn, một ly rượu, một trò chơi và hắn cứ như thế.  Hắn được rao bán lần thứ nhất, được rao bán lần thứ hai, cứ như thế và hầu như sắp chấm dứt.  Nhưng Thầy đã đến và đám đông dại khờ không thể hiểu nổi giá trị của linh hồn và sự thay đổi đã xảy ra bởi bàn tay của Thầy khi chạm đến.”  Tác giả vô danh.

Lm. Mark Link, S.J

GIUSE: CON NGƯỜI CỦA MÙA CHAY

Trong niên lịch Phụng vụ hiện hành tháng ba kính Thánh Giuse thường trùng hợp với thời gian Phụng vụ Mùa Chay, tín hữu được mời gọi để nhìn lên Thánh Giuse như một mẫu gương và đồng thời hướng đến lễ Phục sinh như một chuẩn đích đang đến gần.  Sự trùng hợp ấy lặp đi lặp lại khiến tôi có ý nghĩ: Giuse là con người của Mùa Chay.

Gọi như thế không muốn nói ngài đã thực hành việc ăn chay nghiệm ngặt hơn mấy ông Biệt phái; gọi như thế cũng chẳng có ý xa gần ám chỉ đến kiếp chồng chay chồng hờ chả sơ múi gì như kiểu nói vui của mấy vị xồn xồn; nhưng gọi như thế chỉ muốn nêu lên những đức tính nổi bật của ngài, vừa tự nhiên, vừa dễ dàng gần gũi cho mọi người trong hướng sống Mùa Chay, nhất là trong khuôn khổ những ngày tĩnh tâm ở đây.

1. Gọi Giuse là con người của mùa Chay vì lý do thứ nhất là ngài yêu thích sự lặng thầm.

Cuộc đời của Giuse qua Phúc Âm là một cuộc đời gắn liền với gia đình thánh, một cuộc đời có nhiều sóng gió bất ngờ.  Thế nhưng, trên nền những sóng gió ấy, người ta gặp thấy một Giuse hoàn toàn lặng thầm, lặng thầm đến độ khó tin.  Trong Phúc Âm, Đức Maria vốn thích giữ kín và suy niệm trong lòng, ít ra người ta cũng nghe được nơi Mẹ bảy lời vắn gọn gợi mở suy tư, đằng này, tìm đỏ mắt cũng chẳng gặp một lời nào của Giuse hết, ngay cả một lời vâng vắn gọn, ngay đến một tiếng thở dài.  Tuyệt đối không.

Điều này được chứng thực qua những biến cố trong đời của ngài.  Sau biến cố truyền tin, thuở Giuse và Maria mới quen nhau, người ta muốn thấy một Giuse nhút nhát không nói được một câu nào.  Rồi khi đã đính hôn, Giuse bỗng thấy Maria đã đổi khác nơi vòng số hai, thì thay vì phải làm cho ra lẽ, người ta lại thấy một Giuse băn khoăn, cạy miệng cũng chẳng hé lời.  Có người bảo Giuse yếu, có kẻ nói Giuse dại.  Mặc kệ.  Ồn ào quá dễ, còn biết im lặng trong tình huống căng thẳng như thế không phải ai cũng làm được.  Im lặng vốn là quê hương của những tâm hồn lớn mạnh. “Phải can đảm mới bền gan yếu đuối, phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ.”

Nhưng phải đến biến cố tìm lại Chúa Giêsu sau ba ngày lạc mất trong Đền thánh, người ta mới thấy lặng thầm là điều Giuse đã chọn lựa như châm ngôn cuộc đời.  Trong biến cố ấy, thay vì trong tư cách trưởng gia đình, có thể trách móc Chúa Giêsu như những người cha khác, người ta thấy Giuse lùi lại đằng sau cho Maria tiến lên, người ta thấy Giuse rút vào im lặng cho Maria cất tiếng mở lời.  Rõ ràng, đây không chỉ là một tính cách tự nhiên, mà còn là một chọn lựa thực thi đến độ thuần thục.

Thinh lặng là nét đẹp của chay tịnh.  Giuse yêu thích sự im lặng, ngài là con người của Mùa Chay.

Trong dịp hành hương tại Nagiarét quê hương của Giuse, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy ngoài đường phố, trong cửa hiệu buôn bán, thậm chí ngay ở quầy tiếp tân của khách sạn, tuyệt nhiên không có lấy một bóng người phụ nữ.  Họ ở đâu, không ai biết rõ, chỉ biết chắc rằng tất cả mọi sinh hoạt công khai ngoài mặt phố đều do đàn ông đảm trách.  Tôi thắc mắc, và hướng dẫn viên đã giải thích rằng: đây là xã hội của đàn ông, đàn bà không có quyền ăn nói, thậm chí không có quyền xuất hiện.  Trong một nếp sống như thế, lẽ ra Giuse có quyền và có bổn phận phải nói, nhưng một khi ngài đã chọn thinh lặng, ắt hẳn sự thinh lặng ấy phải có một giá trị đặc biệt.  Vâng, đó là tĩnh tâm, đó là đi vào sa mạc tâm hồn, đó là đường vào của một tình yêu.  Thảo nào cha Philippon, OP, đã có lần viết : “Ai yêu mến sự thinh lặng sẽ được Thiên Chúa dẫn tới thinh lặng của mến yêu.”

2. Gọi Giuse là con người của Mùa Chay, vì lý do thứ hai, ngài biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

Cầu nguyện theo định nghĩa đầy đủ gồm nhiều động tác như thờ lạy, tạ ơn, tạ tội, dâng hiến, xin ơn.  Nhưng với Giuse, đơn giản thôi, cầu nguyện có nghĩa là lắng nghe và thực thi ý Chúa.  Sự lặng thầm của ngài không phải là một thứ ù lì chẳng có gì để nói ra, hay một thứ trống rỗng chẳng thấy chi mà ghi nhận vào.  Ngược lại, đó là điều kiện để ngài cầu nguyện.  Từ ngữ “giấc mơ” mà Phúc Âm nhắc đi nhắc lại nhiều lần, không muốn nói tới một điều gì khác ngoài hình ảnh của một tâm hồn bỏ ngỏ cho thánh ý Thiên Chúa tự do tác động.  Giống như chiếc ống sáo sẵn đợi đó cho làn hơi Thiên Chúa thổi vào làm phát ra những giai điệu ngọt ngào đầm ấm.

Trong biến cố phải đưa Chúa Giêsu và Mẹ Maria lánh nạn sang Ai Cập, rồi sau đó từ Ai Cập trở về Nagiarét, Giuse đã cho thấy một dáng hình cầu nguyện không thể quên được.  Ngài vâng nghe và thực hành lệnh Chúa mau mắn đến độ lạ lùng.  Thảo nào, con người ấy phút trước đã có thể đi vào giấc ngủ một cách ngon lành, lại còn mơ một cách vô tư, phút sau đã choàng tỉnh dậy khẩn trương lên đường.  Thế mới biết người quen lắng nghe và thực thi ý Chúa thì tâm hồn họ bình an chừng nào.  Ta gọi đó là tâm tình phó thác.  Nghe tưởng dễ, nhưng thực ra từ nghe Lời Chúa đến thực hành Lời Ngài là cả một khoảng cách không chỉ đo bằng thiện chí, mà còn bằng nỗ lực không ngừng.  Vất vả đường lưu lạc và bơ vơ nơi đất khách, đó là cái giá Giuse phải trả cho đời phó thác tin yêu.

Mùa Chay cũng là mùa cầu nguyện, là mùa bắc những nhịp cầu thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa bằng những kinh nguyện hằng ngày, nhưng cầu nguyện không chỉ là cầu kinh, nghĩa là đọc những kinh quen thuộc soạn sẵn trong sách toàn niên như thói quen đạo đức vốn được thực hiện trong các giáo đường, mà cầu nguyện còn là lắng đọng tâm hồn nhận ra ý Chúa mà đem ra thực hiện.  Bằng một hình ảnh khá gợi ý, có tác giả tu đức bảo rằng : nhiều người chỉ quen chắp tay cầu nguyện mà không biết mở tay ra đón nhận ý Chúa.  Trong ý hướng ấy, tinh thần cầu nguyện biết lắng nghe và thực thi ý Chúa của Giuse cũng là tinh thần cầu nguyện Mùa Chay cần có cho đời tín hữu.

Có lần một bạn trẻ tân tòng hỏi tôi phải làm những gì khi cầu nguyện, bởi anh không thuộc kinh như những giáo dân đạo gốc, đạo dòng vốn đọc kinh từ khi còn bé, tôi hỏi xem anh đã làm gì khi đến nhà thờ.  Anh cho biết: mỗi lần đến nhà thờ anh chỉ biết ngồi đực ra nghe: nghe đọc, nghe giảng, nghe hát.  Thế thôi, Anh thích lắm nhưng không làm gì hơn được.  Tôi bảo anh: tốt lắm, anh đã bắt đầu cầu nguyện rồi đấy, nhưng mới được một nửa, còn một nửa nữa anh có thể tự làm lấy không cần sách vở kinh kệ gì cả, đó là hãy sống những gì anh tâm đắc khi nghe được nơi giáo đường.  Cứ nghe và thực hiện như thế, dần dần anh sẽ biết cách cầu nguyện cho mà xem.  Qủa nhiên, sau này mỗi khi gặp lại tôi, anh đều xa gần nhắc lại:  cách cầu nguyện như thế đã giúp anh sống đạo rất nhiều, nhất là nó đã giúp anh vượt qua được những nghịch cảnh không thiếu trong cuộc sống hiện tại, khi mà vẫn thấy đó đây cái cảnh dật dờ dắt díu dây dưa, đạo đời điên đảo đá đưa đôi đàng.

3. Gọi Giuse là con người của Mùa Chay, còn vì ngài đã tận tụy quên mình phục vụ.

Qua cương vị là “bạn thanh sạch của Đức Maria trọn đời đồng trinh”, có lẽ người ta chỉ cảm nhận được một sự hiện diện nhạt nhòa của Giuse cặm cụi làm được mọi việc, trừ mỗi việc làm chồng, thế mà trên vai lại chất chồng không biết bao nhiêu là trách nhiệm.  Nhưng chính ở đó đã sáng lên hình ảnh của một con người tận tụy hy sinh.  Đối với thánh nhân, làm là cách nói hay hơn cả.  Không băn khoăn, chẳng dị ứng, ngài hết mình làm việc bổn phận được trao phó và hết tình gắn bó yêu thương để trở nên trụ cột không phải của một mái nhà che nắng trú mưa cho qua ngày đoạn tháng, mà là cột trụ của một mái ấm gia đình ở đó mọi thành viên đều cảm nhận được hạnh phúc an sinh.

Qua cương vị là “cha nuôi của Đấng Cứu Thế,” có lẽ người ta cũng chỉ thấy sự có mặt của một người đàn ông lủi thủi, phải cưu mang giọt máu chẳng phải của mình.  Nhưng đó lại là ơn gọi lớn Giuse đã khẳng định được với tất cả ý thức trách nhiệm cao độ quên mình.  Tất nhiên, không có Thánh Giuse vẫn có Chúa Giêsu, nhưng Chúa Giêsu ấy sẽ khác lắm, không có một gia đình đúng nghĩa, cũng chẳng được pháp luật chở che.  Nhưng bởi vì đã có Thánh Giuse, nên Chúa Giêsu đã có nơi an toàn để mà lớn lên trước mặt Thiên Chúa và trước mắt người đời.  Chính ở điểm này, hậu thế thích xưng tụng Thánh Giuse là người tận tụy canh giữ Đấng Cứu Thế, đúng như tên gọi một Tông huấn về Thánh Giuse của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Thực ra thì Phúc Âm có gọi Thánh Giuse là người công chính, nhưng danh xưng đẹp nhất của thánh nhân chính là danh xưng đặt ngài trong tương quan với Chúa Giêsu và Đức Maria.  Thành thử, qua cương vị “bạn thanh sạch Đức Maria” và “ Cha nuôi Đấng Cứu Thế,” Thánh Giuse đã xuất hiện như một người tận tụy hy sinh quên mình phục vụ.  Với tính cách ấy, ngài chính là con người của Mùa Chay, bởi Mùa Chay cũng là mùa phục vụ.

Tuần trước, ở một giáo xứ nhỏ mới tách ra khỏi giáo xứ mẹ được vài tháng, thấy hầu hết những người trong ban đại diện đều là người trẻ độ 30, tôi ngẫu hứng nói đến tính cách trẻ của yếu tố nhân sự trong Giáo hội.  Sau đó, một người trẻ chia sẻ lại với tôi rằng: anh góp mặt trong ban hành giáo không nhắm đến một quyền lợi nào trong tôn giáo cả, mà chỉ muốn đóng góp cùng với người khác một chút gì đó gọi là phục vụ.  Bởi anh hiểu phục vụ không phải là nói mà là làm, phục vụ không phải là làm vì mình mà là làm cho người khác, rồi phục vụ không phải là làm để cho người khác biết, mà chỉ để một mình Chúa biết thôi.  Tôi lưu ý anh: coi chừng, khi nhấn mạnh đến phục vụ như thế là dấu hiệu cho biết mình vật lộn để có tinh thần phục vụ ấy.  Anh thú nhận rằng đúng, và bảo rằng đó là điều anh phải chọn lại mỗi ngày.  Tôi bỗng hiểu ra: quên mình chính là điều kiện tiên quyết cho phục vụ, và phục vụ có ý nghĩa nhất là phục vụ khởi đi từ sự quên mình.  Như Thánh Giuse đã quên mình, như Thánh Giuse đã phục vụ Đấng Cứu Thế.

Tóm lại, im lặng, nghe và thực thi Lời Chúa, đồng thời quên mình để phục vụ, đó là ba đức tính làm nên một Giuse, con người của Mùa Chay.

Trong một thành phố lớn khá ồn ào như Sài Gòn đây, có là lạc điệu không khi nói đến sự tĩnh lặng?  Trong một nhịp sống kinh tế nhốn nháo thời hội nhập có đầy đủ gió đông gió tây ùa vào, vàng thau lẫn lộn, như một mời mọc giới trẻ, có là lỗi điệu không khi đề cao việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa?  Và cuối cùng, trong một bầu khí cạnh tranh thi thố khả năng, qua đó người tài mới được tuyển dụng, còn phó thường dân nam bộ chỉ biết cặm cụi ngày hai buổi đến xưởng đến trường, có là đơn điệu không khi nhà thờ lại cứ thích kêu gọi sống tinh thần phục vụ?

Những câu hỏi ấy và những câu tương tự có thể do người khác hay do tự ta đặt ra với mình, luôn luôn là những trăn trở gợi mở suy tư và gọi mời chọn lựa.  Không có câu trả lời soạn sẵn như những người thi vào quốc tịch Mỹ, chỉ cần nhấn nút cuốn Kim Tự Điển là gặp thấy đáp án, rồi ráng học thuộc lòng là xong.  Vâng, không có giải pháp làm sẵn, nhưng bù vào đó vẫn có những mẫu gương, những kinh nghiệm, và Thánh Giuse chính là một trong số những mẫu gương gần gũi bình dị ấy.

Thật vậy, đặt ngài trong tương quan với tiếng gọi Mùa Chay, người ta sẽ thấy Giuse như một mẫu gương đời thường khiến ta sẵn sàng noi theo soi bóng, như một kẻ đồng hành dầy dạn kinh nghiệm sẵn sàng chỉ bảo cho ta phương cách hữu hiệu để sửa chữa đổi đời, và còn hơn thế nữa, như một Vị bổn mạng đầy thế lực sẵn sang chuyển cầu cho ta trong những tình huống khó khăn gay cấn nhất của sức khoẻ linh hồn.

Xin nhờ kinh nghiệm của ngài ngày xưa đã thành công trong trách vụ anh giữ Đấng Cứu Thế, ngày nay cũng nâng đỡ phù trợ mọi người trong nhiệm vụ gìn giữ Đấng Cứu Thế trong chính cuộc đời ta và cuộc đời những người lân cận, có thể không bằng cánh tay ở phía trước, nhưng rất thường là bàn tay âm thầm phía sau cho ta được nâng đỡ thôi thúc vững vàng đi lên

Xin Thánh Giuse cầu cho chúng con biết sống Mùa Chay trọn vẹn như ngài.  Amen.

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống

CÁI TÔI THAO THỨC

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton sống ở một ẩn viện bên ngoài tu viện, hy vọng được cô tịch thêm, nhưng cô tịch là một điều viển vông, và nó cứ mãi chạy trốn ngài.

Rồi một sáng nọ, trong một khoảnh khắc, ngài nhận thấy mình đã tìm thấy cô tịch.  Tuy nhiên, điều ngài trải nghiệm đã làm cho ngài ngạc nhiên.  Hóa ra, cô tịch không phải là một tình trạng ý thức được biến đổi hay là một nhận thức cao hơn về Thiên Chúa và sự siêu việt trong cuộc đời chúng ta.  Theo những gì ngài trải nghiệm, thì cô tịch đơn giản là bình an trong chính mình, ý thức một cách tri ân và hít lấy một cách bình an sự phong phú vô vàn trong cuộc đời mình.  Cô tịch hệ tại ở việc thân mật ngủ với trải nghiệm của mình, bình an trong đó, ý thức sự phong phú và kỳ diệu của nó.

Nhưng đâu dễ như vậy.  Hiếm được như vậy lắm.  Chúng ta hiếm khi thấy mình bình an với thời khắc hiện tại trong bản thân mình.  Vì sao?  Vì chúng ta được dựng nên như vậy.  Chúng ta quá hăng hái so với thế giới này.  Khi Thiên Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, thì như sách Giảng viên đã nói, Ngài đặt sự “vô tận” vào lòng chúng ta và vì thế chúng ta không dễ bình an với cuộc sống của mình.

Chẳng hạn như, trong đoạn về nhịp điệu các mùa trong sách Giảng viên.  Tất cả mọi sự đều có thời điểm và thời của nó.  Một thời để sinh, một thời để chết, một thời để gieo, một thời để gặt, một thời để giết, một thời để chữa… cứ thế mà tiếp.  Rồi sau khi đưa ra nhịp điệu tự nhiên của thời gian và các mùa, tác giả kết lại bằng những lời này: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời.

“Vô tận” trong tiếng Do thái là Olam, một từ có cùng ý với “vĩnh cửu” và “siêu việt.”  Một vài bản dịch tiếng Anh viết như sau: Thiên Chúa đã đặt ý thức về quá khứ và tương lai vào lòng chúng ta.  Có lẽ lối diễn đạt rõ nhất cho điều này chính là cách chúng ta thường trải nghiệm điều này trong đời mình.

Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng thật khó để bình an trong thời khắc hiện tại, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên.  Chúng luôn mãi nhuốm màu lên quá khứ.

Quá khứ ám ảnh chúng ta với những lời ru và giai điệu mà chúng ta nửa nhớ nửa quên, khơi lên trong chúng ta những ký ức về tình yêu tìm thấy và đánh mất, về những vết thương chẳng bao giờ lành, và những cảm giác mơ hồ về những hoài niệm, hối tiếc và mong muốn bám vào một thứ gì đó từng có.

Quá khứ luôn mãi gieo thao thức vào thời khắc hiện tại.

Còn tương lai?  Nó cũng xuyên thấu vào hiện tại, ló dạng lên như một lời hứa và mối đe dọa, luôn mãi đòi chúng ta phải chú ý, luôn mãi gieo lo lắng vào cuộc đời chúng ta, luôn mãi tước đi năng lực nghỉ ngơi trong hiện tại của chúng ta.

Hiện tại luôn bị nhuốm màu của những nỗi ám ảnh, mối thương tâm, mối lao tâm và lo lắng vốn chẳng mấy liên quan đến những người đang ngồi cùng bàn với chúng ta bây giờ.

Các triết gia và thi sĩ đã đặt nhiều tên cho chuyện này.  Platon gọi nói là “cơn điên đến từ các vị thần”, các nhà thơ Hinđu gọi đó là “hoài niệm về vô tận”, Shakespeare nói về “khao khát bất diệt”, Thánh Augustinô có định nghĩa có lẽ là lừng danh hơn tất cả, ngài gọi đó là thao thức không thể xóa bỏ Thiên Chúa đặt vào lòng con người để con người không thể nào tìm được mái ấm nếu mái ấm đó không vô tận và vĩnh cửu – “Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”

Và thế là, rất hiếm khi chúng ta hiện diện bình an trong đời, hay thoải mái trong chính mình.  Nhưng như T.S. Eliot từng nói, “sự dằn vặt” này có một ý định thiêng liêng với chủ ý của Thiên Chúa.

Linh mục Henri Nouwen, trong một đoạn văn phi thường, đã xác định sự vật lộn này và mục đích của nó: “Cuộc đời chúng ta là một thời gian ngắn sống trong kỳ vọng, một thời gian mà nỗi buồn và niềm vui quấn lấy nhau trong mỗi một khoảnh khắc.  Có chất buồn thấm đẫm mọi thời khắc đời sống.

Dường như chẳng điều gì là vui thú trọn vẹn hoàn toàn, nhưng thậm chí trong cả những thời khắc hạnh phúc nhất của hiện hữu này chúng ta vẫn cảm nhận một thoáng đượm màu buồn.  Trong mọi thỏa mãn, vẫn nhận thức được giới hạn, trong mọi thành công vẫn có nỗi sợ bị ganh ghét.  Phía sau nụ cười là giọt nước mắt.  Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có sự cô đơn.  Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách.  Và trong tất cả những gì rạng rỡ, vẫn nhận thấy bóng tối quanh mình.  Nhưng trải nghiệm thân mật này, với mỗi một chút của sự sống được chạm đến bởi một chút của cái chết, có thể hướng chúng ta vượt quá những giới hạn hiện sinh.  Nó có thể làm thế bằng cách khiến chúng ta nhìn quá kỳ vọng để hướng đến ngày mà lòng chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui toàn vẹn, một niềm vui mà không ai lấy được của chúng ta.”

Tâm hồn thao thức của chúng ta giữ chúng ta khỏi quên mất ngọn lửa thiêng liêng trong mình.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HAI NGỌN NÚI

Một cuốn phim tựa đề là Mask được dựa trên câu chuyện có thật của một bé trai tên là Rocky Dennis.  Em bị bệnh rất hiếm mà nó làm cho xương sọ và mặt của em lớn hơn bình thường.

Hậu quả là khuôn mặt của Rocky thì méo mó và biến dạng khủng khiếp.  Dáng vẻ kỳ quái của em làm cho nhiều người phải tránh xa em, và nhiều người khác lại nhạo cười em.

Qua tất cả những điều đó, Rocky không bao giờ thấy thương hại chính mình.  Em cũng không tức giận.  Em cảm thấy buồn về diện mạo của mình, nhưng em chấp nhận điều đó như một phần của cuộc đời.

Một ngày kia, Rocky và chúng bạn đến thăm một khu giải trí.  Chúng đi vào một “căn phòng đầy tấm gương” và cười thích thú khi nhìn đến thân hình và diện mạo của chúng bị các tấm gương làm méo mó.

Bỗng dưng Rocky nhìn thấy điều gì đó làm em sững sờ.  Một tấm gương làm méo mó diện mạo dị thường của em cách nào đó mà nó làm cho khuôn mặt của em trở nên bình thường – ngay cả đẹp trai lạ lùng.

Lần đầu tiên, chúng bạn của Rocky nhìn thấy em trong một cách hoàn toàn mới.  Chúng nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong con người em: một người thực sự xinh đẹp.

Điều gì đó giống như vậy đã xảy ra cho Đức Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.  Trong sự biến hình của Người, các môn đệ của Đức Giêsu đã nhìn thấy Người trong một phương cách hoàn toàn mới.  Lần đầu tiên họ nhìn thấy ở bên ngoài những gì bên trong của Người: là Con Thiên Chúa vinh hiển, xinh đẹp.

Điều này nêu lên một câu hỏi.  Tại sao sự biến hình của Đức Giêsu lại được đặt vào các bài đọc mùa Chay, mà chúng thường ảm đạm, thay vì các bài đọc mùa Phục Sinh, thường đối diện với sự vinh hiển của Đức Giêsu?

Câu trả lời nằm trong bối cảnh của sự biến hình trong bài Phúc Âm.  Sự kiện này xảy ra sau khi Đức Giêsu nói với các môn đệ là Người phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ và chịu chết.

Khi ông Phêrô nghe Đức Giêsu nói điều này, ông lớn tiếng nói, “‘Lạy Chúa đừng để việc đó xảy ra cho Thầy!’ Đức Giêsu quay lại và nói với ông Phêrô, ‘Xatan, hãy tránh xa ta! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người’.” (Mt 16:22-23)

Các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan có lẽ cần một mũi thuốc bổ tinh thần chích vào cánh tay sau cảm nghiệm chấn động này.

Có lẽ đó cũng là lý do tại sao Giáo Hội lại đưa biến cố Biến Hình vào các bài đọc mùa Chay.  Giáo Hội muốn cho chúng ta một mũi thuốc bổ tinh thần trước khi giúp chúng ta chú ý đến những đau khổ của Đức Giêsu trong Thứ Sáu Tuần Thánh.

Nhưng còn có một lý do khác tại sao sự biến hình lại được đưa vào các bài đọc mùa Chay.  Đó là vì sự biến hình có sự tương đồng kinh ngạc với sự thống khổ trong một khu vườn.

Cũng như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra trên một ngọn núi – Núi Cây Dầu, sự biến hình cũng xảy ra trên một ngọn núi – Núi Tabo.

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, sự biến hình cũng chỉ được chứng kiến bởi ba môn đệ: Phêrô, Giacôbê, và Gioan.

Và giống như sự thống khổ trong khu vườn, nó xảy ra vào ban đêm, sự biến hình cũng xảy ra vào ban đêm.  Và trong cả hai trường hợp, các môn đệ thiếp ngủ trong khi Đức Giêsu vẫn tỉnh thức, cầu nguyện.

Sau cùng, và đây là lý do quan trọng, hai sự kiện này – sự thống khổ và sự biến hình – bổ sung cho nhau.

Trên núi Tabo, ba môn đệ được thấy Đức Giêsu trong một giây phút xuất thần, khi thiên tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa từng có.

Trên núi Cây Dầu, ngược lại, họ nhìn thấy Đức Giêsu trong giây phút thống khổ, khi nhân tính của Người chiếu tỏa qua một phương cách chưa bao giờ được thấy trước đó.

Núi Tabo và núi Cây Dầu tiết lộ sự tương phản kinh ngạc về nhân tính và thiên tính của Đức Giêsu.

Hai biến cố trên các núi này là các mặt không thể tách biệt của một đồng tiền.  Chúng cho chúng ta thấy toàn thể Đức Giêsu trong một cách toàn thể: nhân tính và thiên tính của Người.

Và ngay ở đây, các biến cố trên hai ngọn núi này chứa đựng một thông điệp quan trọng, thực tiễn cho chúng ta.

Cũng như Đức Giêsu, chúng ta cũng có hai chiều kích về chúng ta.  Trong mỗi người chúng ta đều có điều gì đó mà nó nhân bản và điều gì đó mà nó thánh thiêng.  Trong mỗi người chúng ta đều có một tia sáng của Adong và một tia sáng của Thiên Chúa.

Cũng như Đức Giêsu trên núi Tabo, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút xuất thần, khi tia sáng của Thiên Chúa chiếu qua thật rực rỡ đến độ hầu như làm chúng ta mù lòa.  Chúng ta cảm thấy thật gần với Thiên Chúa đến độ dường như có thể chạm đến Người.

Trong những giây phút này, chúng ta bàng hoàng thấy cuộc đời thật xinh đẹp biết chừng nào.  Chúng ta yêu quý mọi người.  Chúng ta ôm hôn bạn bè và tha thứ cho kẻ thù.

Đàng khác, giống như Đức Giêsu trong núi Cây Dầu, chúng ta cũng cảm nghiệm những giây phút thống khổ.  Trong những giây phút này, tia sáng Adong xuất hiện thật bén nhọn trong chúng ta đến độ tia sáng của Thiên Chúa lập lòe và như muốn tắt.

Trong những giây phút này, cuộc đời thật thê thảm.  Chúng ta cảm thấy không có ai yêu thương chúng ta.  Chúng ta nhìn thấy lỗi lầm nơi bạn hữu, và chúng ta nguyền rủa kẻ thù.  Chúng ta hồ nghi sự hiện diện của Thiên Chúa.

Khi các giây phút thống khổ và xuất thần này xảy đến, chúng ta phải nhớ đến hai ngọn núi: Núi Tabo và núi Cây Dầu.  Chúng ta phải nhớ lại rằng Đức Giêsu cũng kinh qua các thăng trầm trong cuộc đời của Người.

Chúng ta phải nhớ đến những gì quan trọng hơn.  Chúng ta phải nhớ rằng trong cả hai trường hợp, trong sự xuất thần của Người trên núi Tabo, và trong sự thống khổ của Người trên núi Cây Dầu, Đức Giêsu đã cầu nguyện.

Nếu sự cầu nguyện là cách Đức Giêsu đáp trả với các giây phút này thì đó cũng phải là cách chúng ta đáp ứng với chúng.

Và nếu chúng ta làm như thế, cũng như Đức Giêsu trong sự biến hình trên núi Tabo, chúng ta cũng sẽ nghe Cha chúng ta nói với chúng ta, “Đây là Con ta, người mà ta đã chọn…” Và giống như Đức Giêsu trong sự thống khổ trên núi Cây Dầu, chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được bàn tay chữa lành của Cha chúng ta chạm đến chúng ta.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con,
xin cho chúng con biết đến những giây phút xuất thần
như Đức Giêsu đã biết trên núi Tabo.
Khi những giây phút này xảy đến,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
và xin cho chúng con được nghe những gì Ngài nói với chúng con,
“Con là đứa con được chọn của ta.”

Và, lạy Cha, cũng giống như vậy,
khi những giây phút thống khổ xảy đến cho chúng con,
như chúng đã xảy ra cho Đức Giêsu trên núi Cây Dầu,
xin giúp chúng con thi hành những gì Đức Giêsu đã làm.
Xin giúp chúng con quay về với Ngài trong sự cầu nguyện
Và xin giúp chúng con cảm được bàn tay chữa lành của Ngài
chạm đến chúng con.

Lm. Mark Link S.J.

Ý NGHĨA CON SỐ 40 TRONG KINH THÁNH

Khi bước vào Mùa Chay Thánh, Giáo hội Công giáo dành ra 40 ngày – khởi đầu từ Thứ Tư Lễ Tro – để nhắc nhở các tín hữu sống tinh thần sám hối, chay tịnh, tập luyện nhân đức và chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh.  Vậy tại sao lại là 40 ngày mà không phải một con số khác?  Con số 40 trong Kinh Thánh ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, gắn liền với những sự kiện quan trọng, đánh dấu những cột mốc “thanh tẩy”, “chuẩn bị” hay “hoán cải” trong lịch sử cứu độ.

I. Con số 40 trong Cựu ước

 – 40 ngày lụt Đại hồng thủy (St 7, 4.17)

Theo sách Sáng Thế, cơn lụt Đại hồng thủy kéo dài 40 ngày đêm, như một cuộc thanh tẩy hoàn toàn trái đất khỏi những gian ác của con người.  Khi nước rút, ông Nô-ê và gia đình bắt đầu một khởi đầu mới, biểu tượng cho lòng thương xót của Thiên Chúa và sự đổi mới trong đời sống đức tin.

Ý nghĩa: Thời gian 40 ngày ở đây mang hàm ý “thanh tẩy”, “tái sinh” và “bắt đầu một giai đoạn mới” cho nhân loại.

– 40 ngày ông Môsê lên núi Sinai (Xh 24, 18; 34, 28)

Ông Môsê đã lên núi Sinai 40 ngày để lắng nghe lời Thiên Chúa, đón nhận Thập Giới và giao ước.  Thời gian này đánh dấu sự chuẩn bị và kết hiệp sâu xa giữa con người với Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Tìm kiếm Lời Chúa” và “được biến đổi” trong tương quan với Ngài.  Con số 40 cho thấy quá trình tập trung, kiên trì và sẵn sàng đón nhận những chỉ dẫn mới cho cuộc sống dân Chúa.

– 40 năm dân Israel lưu lạc trong sa mạc (Ds 14, 33-34)

Sau khi rời khỏi Ai Cập, dân Israel mất 40 năm để băng qua sa mạc tiến về Đất Hứa.  Trong thời gian này, họ trải qua vô vàn khó khăn, thử thách, đồng thời học cách tin tưởng, phó thác hoàn toàn vào sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

Ý nghĩa: “Thử thách” và “rèn luyện” đức tin.  Hành trình 40 năm này biểu thị giai đoạn thanh luyện cần thiết để dân Chúa được xứng đáng bước vào miền đất hứa.

– 40 ngày ông Môsê đi khám phá vùng đất mới (Ds 13, 25)

Môsê cử các thám tử đi dò xét vùng đất Ca-na-an trong 40 ngày để chuẩn bị cho việc định cư của dân Israel.

Ý nghĩa: “Khám phá” và “tìm kiếm” hướng đi mới.  40 ngày này là thời gian để cân nhắc, đánh giá thực trạng và lập kế hoạch cho tương lai.

– 40 ngày ông Giona dành cho thành Ninivê (Gn 3, 4)

Tiên tri Giona loan báo cho dân thành Ninivê biết rằng họ chỉ còn 40 ngày để sám hối nếu không sẽ bị hủy diệt.  Cuối cùng, họ đã hoán cải và được Thiên Chúa tha thứ.

Ý nghĩa: “Sám hối” và “hoán cải” để được cứu rỗi.  40 ngày đánh dấu cơ hội cuối cùng để thay đổi cuộc sống, từ bỏ đường tội lỗi.

– 40 năm trị vì của vua Đavít và vua Salômôn (2 Sm 5,4; 1 V 11,42)

Kinh Thánh ghi lại rằng vua Đavít và vua Salômôn đều cai trị 40 năm.  Triều đại của họ là thời gian thiết lập và củng cố vương quốc, xây dựng đền thờ, thúc đẩy sự thờ phượng đúng đắn.

Ý nghĩa: “Chuẩn bị” và “xây dựng” đời sống đức tin.  Dưới thời trị vì 40 năm, dân Chúa được hưởng một giai đoạn an bình, tạo điều kiện để tôn vinh và phụng sự Thiên Chúa.

II. Con số 40 trong Tân Ước

– 40 ngày Chúa Giêsu vào sa mạc (Mt 4, 1-2; Mc 1, 12-13; Lc 4, 1-2)

Trước khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện suốt 40 ngày.  Ở đây, Người chịu ma quỷ cám dỗ nhưng đã chiến thắng nhờ sự kết hiệp với Chúa Cha.

Ý nghĩa: “Chay tịnh và cầu nguyện” để chuẩn bị bắt đầu sứ vụ.  Đây cũng là tấm gương cho các Kitô hữu noi theo: trước khi làm việc lớn, cần có thời gian tĩnh lặng, kết hợp với Thiên Chúa và canh tân đời sống thiêng liêng.

– 40 ngày Chúa Giêsu ở lại thế gian trước khi lên trời (Cv 1, 3)

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong 40 ngày, dạy dỗ và củng cố đức tin cho họ, trước khi về trời.

Ý nghĩa: “Xây dựng và củng cố” đức tin.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ hiểu rõ sứ mạng, đồng thời nhận lãnh Thánh Thần để tiếp tục công cuộc loan báo Tin Mừng.

III. Con số 40 và mùa Chay Thánh

Từ những sự kiện Cựu Ước và Tân Ước, ta thấy con số 40 gắn liền với ý niệm “thanh tẩy”, “rèn luyện”, “sám hối” và “chuẩn bị” cho một giai đoạn mới.  Trong Mùa Chay, Giáo hội Công giáo dành 40 ngày để nhắc nhở các Kitô hữu:

– Tập luyện nhân đức và canh tân đời sống: Bằng cách thực hành chay tịnh, hãm mình, cầu nguyện, và làm việc bác ái, mỗi tín hữu được mời gọi bước vào cuộc hành trình nội tâm, sửa đổi những yếu đuối và định hướng lại đời sống theo tinh thần Tin Mừng.

– Sám hối và hoán cải: 40 ngày là thời gian để kiểm điểm lương tâm, ý thức tội lỗi, xin ơn tha thứ và đón nhận bí tích Hòa Giải, chuẩn bị tâm hồn để kết hợp mật thiết hơn với Chúa.

– Thông phần cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu: Mùa Chay gắn liền với biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Khi ăn chay, cầu nguyện và làm việc lành, ta cùng chia sẻ nỗi khổ đau của Chúa, để sau đó được vui mừng đón nhận ơn Phục Sinh.

– Đón nhận niềm vui Phục Sinh: Qua 40 ngày tập luyện, thanh luyện bản thân, chúng ta sẽ hân hoan mừng đại lễ Phục Sinh với một tâm hồn mới mẻ, tràn đầy niềm tin và ơn sủng.

– Kiên trì và bền chí: Con số 40 gợi nhắc đến sự bền chí trong thời gian dài. Hành trình đức tin đòi hỏi chúng ta kiên trì vượt qua thử thách, cám dỗ, không chỉ trong Mùa Chay mà suốt cả đời sống.

– Tâm tình sám hối và hoán cải: Mỗi Mùa Chay là một dịp để chúng ta “làm mới” lại giao ước với Chúa, làm mới lại tương quan với anh chị em, và quan trọng hơn là học cách bỏ đi những gì cản trở ta đến với Thiên Chúa.

– Chuẩn bị cho tương lai: Dân Israel đã trải qua 40 năm sa mạc trước khi vào Đất Hứa, Chúa Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày trước khi bắt đầu sứ vụ. Tương tự, 40 ngày Mùa Chay là thời gian chuẩn bị cho đại lễ Phục Sinh, giúp chúng ta canh tân tinh thần và sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ.

Con số 40 trong Kinh Thánh không chỉ là một con số mang tính biểu tượng, mà còn chất chứa những thông điệp sâu xa về sự thanh tẩy, sám hối, rèn luyện và chuẩn bị cho một cuộc sống mới.  Đối với người Kitô hữu, 40 ngày của Mùa Chay Thánh là cơ hội quý báu để sống lại những sự kiện cứu độ trong lịch sử dân Chúa, đồng thời canh tân mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân.

Bằng việc tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, chay tịnh, cầu nguyện, và làm việc bác ái trong 40 ngày này, chúng ta được mời gọi biến đổi nội tâm, để sẵn sàng cùng Chúa Giêsu bước vào cuộc Thương Khó và Phục Sinh.  Cũng như Chúa Giêsu đã dùng 40 ngày sa mạc để chuẩn bị cho sứ vụ công khai, chúng ta hãy dùng 40 ngày Mùa Chay để thanh luyện tâm hồn, củng cố đức tin và đón nhận niềm vui Phục Sinh cách trọn vẹn hơn.

Lm. Anmai, CSsR