LỰC ÂN SỦNG

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”

“Thiên Chúa tạo tác con người trong vẻ đẹp nguyên sơ; Ađam Eva sống ở một tầm cao vượt xa chúng ta.  Nhưng khi khuất phục con rắn, điều kỳ diệu ấy tan biến.  Giờ đây, nhân loại như cố ráp lại một chiếc máy bay từ đống đồng nát: vật liệu vẫn còn, nhưng khả năng bay đã mất!” – Dave Breese.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhận xét của Breese thật tinh tế!  Tuy nhiên, với ‘lực ân sủng’ của Thiên Chúa, mọi vật có thể được tái tạo, ‘bay trở lại’ và bay cao vút.  Đó là một sự thật hấp dẫn khơi gợi niềm hy vọng nơi chúng ta trong ngày mừng kính Đức Trinh Nữ Maria, Vô Nhiễm Nguyên Tội!

Các bài đọc tường thuật hai cuộc đối thoại: một mất, một được.  Eva – mẹ của “cuộc đối thoại mất mát” – Sợ hãi, trần truồng, ẩn núp, ngài không đủ can đảm để đứng trong ánh sáng.  Một sự đổ vỡ – Ađam đổ cho Eva, Eva đổ cho con rắn… và kết cục, hậu duệ bị tước “khả năng bay.”  Nhưng lạ lùng thay, ngay trong đổ nát đó, Thiên Chúa hé lộ một động lực mới, một “gia tốc âm thầm” của lòng thương xót, “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà… dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi!”  Đó là ‘lực ân sủng’ khởi động lịch sử cứu độ – nhẹ như một lời hứa, nhưng mạnh như một vụ phóng mở ra kỷ nguyên mới.  “Ân sủng tăng tốc ngay tại những vùng tội lỗi đã làm chúng ta trì trệ!” – Max Lucado.

Maria – mẹ của “cuộc đối thoại được lại.” Trái tim Mẹ tinh khôi, tự do; Mẹ không ẩn núp nhưng mở toang lòng mình.  Lời “Xin vâng!” như một cánh cửa bật mở cho ‘lực ân sủng’ bùng lên trọn vẹn.  “Ân sủng chỉ có thể đi vào nơi nào trái tim chịu mở ra!” – Karl Rahner.  Nhờ lời xin vâng ấy, con người – từng bị trục xuất – được dẫn vào lại nhà Cha nhờ Đấng Mẹ cưu mang.  Với Ngài, ‘lực ân sủng’ không chỉ nâng dậy nhân loại ngã quỵ, nhưng nâng bổng và biến đổi nó.  Thánh Vịnh đáp ca chúc khen công trình kỳ vĩ ấy, “Hát lên mừng Chúa… vì Người đã thực hiện bao kỳ công!”  Trong Đức Kitô, con người được lại phiên bản nguyên thuỷ, “Trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện” – bài đọc hai – và giờ đây, nó có thể bay lên, bay cao vút.

Anh Chị em,

“Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng!”  Không chỉ Mẹ đầy ân sủng; bạn và tôi cũng đầy ân sủng.  Từ ngày chịu phép Rửa, ‘lực ân sủng’ đã được cấy vào linh hồn chúng ta như một lực nâng thầm lặng.  Sống trong ân sủng, nghĩa là sạch tội và làm theo thánh ý Chúa, con người có thể bay trở lại, bay cao, bay xa, bay trong tự do của con cái Chúa.  Các thánh mọi thời ‘đã bay’ như thế nhờ ‘lực ân sủng.’  Ngược lại, một khi nuông chiều xác thịt, liều lĩnh đánh mất ơn thánh, “lực nâng” ấy suy yếu; nên dù vật liệu giống nhau, khả năng bay không còn.  Mùa Vọng, mùa tìm lại ‘lực bay’: trở về, hòa giải, thanh tẩy, cho cánh hồn nhẹ lại và bay lên.  “Ân sủng là tình yêu nâng ta dậy khi ta không còn đôi cánh!” – Brennan Manning.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con chỉ còn là một đống đồng nát, xin nhúng con vào dòng Hoà Giải để được sạch, được tái tạo và được tiếp lực; hầu con có thể bay trở lại, bay cao vút!” Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

MONG CHỜ

Một vài năm trước đây tờ Chicago Tribune cho biết tia sáng laser có thể dùng để tẩy xoá các hình xăm dấu hiệu băng đảng trên thân thể của các phần tử.

Một chỗ thi hành công việc này là Trung Tâm Y Tế Sinai ở phía tây thành phố Chicago.  Viên giám đốc điều hành trông coi chẩn y viện này nói rằng: Có một nhu cầu rất lớn cho chương trình này. Chúng tôi có trên 700 người đang chờ đợi để được hưởng dịch vụ này.

Vào một ngày thứ Bẩy mới đây, 45 người đã đến chẩn y viện này.  Sử dụng một dụng cụ phát ra tia sáng laser, các bác sĩ tình nguyện đã hoàn toàn tẩy xoá được vết xăm chỉ trong vòng vài phút.

Một phụ nữ 25 tuổi cho biết một sự kiện xảy ra vào chiều Chúa Nhật đã khiến cô quyết định tẩy xoá các hình xăm trên thân thể.  Khi cô đang đẩy đứa con gái nhỏ trên xích đu, một vài phần tử băng đảng nhìn thấy hình chĩa ba trên cánh tay và chân của cô, hình này là dấu hiệu của băng địch thủ, bọn chúng đã nổ súng.  Thật may mắn, khi vội vàng nổ súng chúng đã không bắn trúng cô và đứa con gái.

Một người khác trước đây thuộc về băng đảng cũng đến chẩn y viện chiều hôm đó để tẩy xoá hình xăm ba giọt nước mắt bên mắt trái.  Mỗi giọt nước mắt tiêu biểu cho một người bạn đã bị băng thù nghịch bắn chết.  Anh ta nói: Bây giờ tôi đã có vợ và một đứa con nhỏ.  Tôi muốn từ giã tất cả những thứ này.  Nó là một điều ngu xuẩn mà tôi đã làm trước đây.

Câu chuyện của tờ Chicago Tribune cho thấy một điểm quan trọng.  Trong cuộc đời, tất cả chúng ta đều đã thi hành những gì mà giờ đây chúng ta hối hận và muốn xoá bỏ chúng.

Điều này không chỉ đúng với người trẻ, nhưng còn đúng với người già.  Thí dụ, nếu tôi ngưng nói ở đây khoảng nửa phút, tôi chắc rằng mọi người đều có thể nhớ lại một vài điều gì đó mà họ đã thi hành và giờ đây họ sẵn sàng đánh đổi lấy bất cứ gì để có thể đưa những điều ấy ra khỏi cuộc đời.

Điều bi thảm là rất nhiều người trên thế giới hối hận về những gì họ đã thi hành nhưng không biết cách nào để tẩy xoá chúng.  Do đó họ phải chấp nhận sống với tình trạng như vậy.  Bất cứ khi nào họ cảm thấy hối hận hay bứt rứt, họ cố gắng quên đi.  Nhưng thường những tâm trạng ấy lại trở lại.

Tiểu thuyết gia Somerset Maugham đã viết nhiều cuốn tiểu thuyết và được dựng thành phim — tỉ như The Razor’s Edge, The Moon and Six Pence, và Of Human Bondage.  Ông đã lên tiếng thay cho nhiều người khi nói rằng:

Tôi có một lương tâm bén nhậy và tôi từng thi hành một vài điều trong đời sống mà tôi không thể nào thực sự quên được.

Nếu tôi may mắn là một người Công Giáo, tôi có thể tự giải thoát mình khỏi những điều ấy qua việc xưng tội… lãnh nhận sự tha tội và có thể mãi mãi quên đi những điều ấy.

Lời phát biểu của ông giúp chúng ta thấy mình thật có phúc là chừng nào khi có được một phương cách để tẩy xoá tội lỗi khỏi cuộc đời.

Cũng như người cựu băng đảng thấy vui khi có thể tẩy xoá vết xăm thì người Công Giáo chúng ta cũng hân hoan khi Chúa Giêsu giúp chúng ta một phương cách để mãi mãi xoá bỏ tội lỗi của chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến mùa Vọng.  Hàng năm Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về món quà vĩ đại này mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta và thúc giục chúng ta hãy xử dụng nó để đưa tội lỗi ra khỏi cuộc đời.

Nó không chỉ đem lại cho chúng ta sự bình an lớn lao, nhưng còn chuẩn bị cho chúng ta về ngày giờ khi chúng ta phải đứng trước mặt Thiên Chúa để trả lời về những gì chúng ta đã làm và những gì không làm trong đời sống chúng ta.

Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta rằng lời của Thánh Gioan Tẩy Giả trong bài phúc âm hôm nay không chỉ nói với người thời đó, nhưng còn cho con người thuộc mọi thời đại.  Những lời đó nói với tôi và anh chị em: Hãy thay đổi đời sống…  Hãy chuẩn bị con đường của Chúa.

Một cách cụ thể, những lời này có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngay bây giờ?  Chúng cũng có cùng một ý nghĩa đối với những người thời Chúa Giêsu.  Chúng có nghĩa hãy sám hối và tẩy xoá tội lỗi bằng bí tích hoà giải, là một trong những món quà vĩ đại của Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Chúng có nghĩa thi hành điều mà phần tử băng đảng trước đây đã thi hành.  Chúng có nghĩa hãy thi hành những gì mà người nghiện rượu thi hành trong bước đầu tiên của chương trình 12 bước chừa rượu.  Bước quan trọng này nói:

Chúng ta thú nhận với Thiên Chúa, với chính mình, và với người khác về bản chất sai lầm của những điều chúng ta làm.

Về bước này, cuốn cẩm nang AA, “12 Steps and 12 Traditions”, viết:

Một vài bước thì khó hơn để thi hành và … không có bước nào cần thiết hơn.  Tuy sự sợ hãi của chúng ta thật lớn và chúng ta do dự thi hành, nhiều người AA bỏ qua Bước Năm…

Không biết tại sao, ở một mình với Thiên Chúa thì không có vẻ bối rối như khi đối diện với người khác…  Khi chúng ta thành thật với người khác, điều đó xác nhận rằng chúng ta đã từng thành thật với chính mình và với Thiên Chúa.

Nhiều người AA, đã một lần vô thần hay bất khả tri, nói với chúng tôi rằng chính trong bước này mà lần đầu tiên họ cảm thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa.  Và ngay cả những người đã có đức tin họ cũng thường ý thức hơn về Thiên Chúa như chưa bao giờ có.

Và như vậy Mùa Vọng là một sự nhắc nhở rằng đó không chỉ là thời gian chuẩn bị mừng Chúa đến lần thứ nhất vào ngày Giáng Sinh đầu tiên.

Nó còn nhắc nhở rằng đây là thời gian chuẩn bị cho Chúa đến lần sau cùng vào lúc tận thế.

Chúng ta hãy vui mừng và cảm ơn Chúa Giêsu vì đã ban cho chúng ta một phương cách để tẩy xóa quá khứ và làm lại từ đầu.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Origen, một tín hữu thời tiên khởi:

Lạy Chúa Giêsu, chân của con thì đầy bụi và dơ bẩn.  Chúa hãy đổ nước vào bồn và đến rửa chân con như Chúa đã rửa chân các tông đồ trong bữa Tiệc Ly.

Con nhận ra rằng, con thật can đảm khi xin Chúa thi hành điều ấy.  Nhưng con sợ lời cảnh cáo mà Chúa đã nói với ông Phêrô, “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con không thể làm bạn với Thầy.”

Vậy, lạy Chúa Giêsu, xin hãy rửa chân con, bởi vì con muốn được làm bạn với Ngài – hơn bất cứ gì khác trong đời.

Lm. Mark Link, S.J.

THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ

Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7 tháng 4 năm 1506.  Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán.  Anh em ngài theo binh nghiệp.  Riêng Phanxicô ham thích học hành.  Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới.  Khi còn ở học viện thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Favre, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước.  Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhaxiô thành Loyoa.

Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư.  Ngài dạy triết học.  Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng.  Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập.  Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình.  Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng :

“Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì.”

Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng.  Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn:

“Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được.  Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh.  Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời.”

Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu.  Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối.  Ngài quyết định theo sát Phúc âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm mình.  Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

Ngày lễ Mông triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa.  Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hóa lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh.  Phanxicô còn học thần học hai năm nữa, rồi cùng sáu bạn đi Italia.

Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Kinh Thánh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt.  Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi.  Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột giây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ.  Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ.  Phanxicô và Inhaxiô thụ phong linh mục ngày 16 tháng 6 năm 1537.  Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương.  Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét.  Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh cha gửi các thừa sai sang Ấn độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

Ngài bộc lộ cho một người bạn:

“Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Rôma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la:

“Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không?  Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô.  Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức.  Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa.”

Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường.  Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang.  Với vài bộ đồ cũ.  Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng.  Ngài đáp tàu.  Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng.  Đau bệnh, ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân.  Những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa.  Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

Sau bảy tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique.  Khí trời ngột ngạt.  Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây.  Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất.  Ngài lặp lại:

“Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo.”

Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5 năm 1542.  Ngài phát khóc vì vui mừng.  Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã.  Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo.  Còn dân Ấn thì thờ ngẫu tượng.  Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên.  Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý.  Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ.  Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng.  Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân.  Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng.  Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca.  Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

Phanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai.  Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý.  Rồi ngài lại qua các làng khác.  Cứ như thế ngài đi khắp Ấn độ.  Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi.”  Người nói : “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo hội sơ khai.”

Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện.  Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân.  Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người.  Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên.  Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui.  Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca.  Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc…

Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi.  Phanxicô đáp lại:

  • “Thì tôi bơi tới vậy.”
  • Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao?

Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc.  Rồi ngài thêm : “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quí hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay.  Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi.  Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi.”

Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và thánh Inhaxiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại.  Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức.  Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Rôma.  Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào.  Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài.  Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến.  Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước.  Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

Được hai năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

Phanxicô trở lại Ấn độ.  Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm.  Bấy giờ, việc chinh phục Trung hoa ám ảnh tâm hồn ngài.  Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này.  Vào cuối tháng 11 năm 1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét.  Giữa cơn đau, ngài đã lập lại:

Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavid, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa.  Khi hồi tỉnh, Ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ:  “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con.”

Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến.  Phanxicô qua đời ngày 03 tháng 12 năm 1552.  Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa.  Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài vào ngày 12 tháng 3 năm 1622, Đức Grêgôriô XV đã phong thánh cho ngài cùng với thánh Inhaxiô.  Nay Ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Lm. Phao lô Phạm Quốc Túy
Trích: Theo vết Chân Người

HIỂU VÀ SỐNG MÙA VỌNG

Năm Phụng vụ bắt đầu với Mùa Vọng, chuẩn bị chúng ta mừng đại lễ Giáng Sinh, một lễ tưng bừng nhất trong năm, xét về mặt xã hội, không những trong đạo mà cả “ngoài đời” nữa.  Tôi luôn luôn biết ơn và cảm phục Giáo Hội, người mẹ hiền của chúng ta.  Giáo Hội thật khôn ngoan, biết rõ lòng người.  Con người có nhu cầu vui chơi và mừng lễ.  Trong đời sống xã hội có biết bao nhiêu là ngày lễ, biết bao nhiêu mùa lễ và cao điểm.

Và ai cũng biết: các ngày lễ, các mùa lễ như thế không chỉ có mục đích giải trí, vui chơi mà thôi.  Trong năm Phụng Vụ, Giáo Hội cũng cho ta sống nhiều mùa đại lễ, nhiều cao điểm Phụng vụ, để bồi dưỡng tinh thần chúng ta, giúp ta sống bởi sự sống của Thiên Chúa cách dồi dào, phong phú hơn.  Đức Kitô tự ví mình như cây nho và chúng ta là cành.  Cây nho này lại phải nẩy sinh thêm những cành mới, lại phải trở nên xanh tươi và sinh hoa kết quả qua các mùa Phụng vụ: Mùa Vọng và Giáng sinh, Mùa Chay và Phục sinh, rồi đến Mùa Thường niên.

Năm Phụng Vụ nhắc lại lịch sử Dân Chúa trong Cựu ước hoặc làm sống lại những biến cố lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu, hoặc gợi lại gương sáng của Đức Mẹ và các thánh, nhưng đó không phải là do lòng sùng bái quá khứ, thích thú những chuyện đã qua rồi.  Điều Phụng Vụ nhắm tới không phải là quá khứ nhưng là hiện tại, là đời sống ân sủng của chúng ta hôm nay.  Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông nối tiếp nhau không phải chỉ là lặp lại y nguyên một vòng tròn, song là điều kiện cho con người trưởng thành và sung mãn.  Cũng vậy, người Kitô hữu phải chờ đợi nơi năm Phụng Vụ sự sống của Chúa ngày càng dồi dào hơn trong mình, sự sống mà họ đã nhận lãnh như một mầm mống trong Bí tích Thánh Tẩy.

Các mùa Phụng Vụ đều nhắm cùng một mục đích như nhau nhưng theo những cách thức khác nhau, cũng như tứ thời bát tiết đều là những mùa của trời đất xoay vần song không giống nhau.  Vậy Mùa Vọng có gì đặc trưng?  Chúng ta cử hành gì trong mùa này?

Một Chút Lịch Sử.

Cho đến thế kỷ thứ IV, Giáo Hội Tây phương mừng một đại lễ duy nhất là lễ Phục Sinh.  Tất nhiên là có một số lễ khác song tất cả đều qui về Phục Sinh và không bao giờ long trọng bằng Phục Sinh.  Đến thế kỷ thứ IV, Tây phương mới bắt đầu mừng lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12.  Theo thời tiết, thì đó là kỳ đông chí, lúc mà đêm ngắn lại và ngày bắt đầu dài thêm.  Vào dịp này, người ngoại giáo cử hành lễ mừng Ánh sáng.  Giáo Hội đã đặt lễ Giáng sinh vào đúng ngày đó để công bố rằng chính Đức Giêsu Kitô mới thực là Ánh sáng, là Mặt trời soi sáng thế gian.

Nhưng lúc đầu Giáng sinh cũng chỉ là lễ thường thôi.  Mãi đến thế kỷ thứ VI mới trở thành một đại lễ, và cũng kể từ đó, người ta mới tổ chức một thời gian chuẩn bị tương đương với Mùa Chay trước Phục sinh, và được gọi là mùa Adventô tức là Mùa Vọng như ta quen gọi ngày nay.  Năm Phụng Vụ được tổ chức thành 2 chu kỳ xoay quanh 2 trung tâm là Phục sinh và Giáng sinh.  Chu kỳ Giáng Sinh vươn lên từ đêm tối đến ánh sáng (như mùa đông qua mùa xuân) còn Phục Sinh thì đầm đìa trong ánh sáng chan hòa.

Tinh thần và Ý Nghĩa của Mùa Vọng.

Vọng là trông mong.  Trong thời gian Mùa Vọng, Giáo Hội muốn chúng ta sống mãnh liệt hơn tâm tình khát mong Chúa đến.  Nhưng Chúa đến lúc nào?  Ta biết Chúa đã đến cách nay 2000 năm, trong thận phận làm người.  Mùa Vọng có mục đích đầu tiên là chuẩn bị tâm hồn ta mừng lễ Giáng sinh, tức là kỷ niệm biến cố Ngôi Hai xuống thế làm người tại Bêlem xưa.  Nhưng ta cũng tuyên xưng Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét thế gian và hoàn thành công cuộc cứu độ không những đối với loài người mà còn đối với toàn thể vũ trụ nữa.

Mùa Vọng mời gọi chúng ta sống tích cực hướng về ngày đó mà giáo lý quen gọi là ngày cánh chung.  Giữa hai lần Chúa đến ấy, còn có thể nói tới một lần nữa, đó là cuộc Chúa ngự đến cách nhiệm mầu trong tâm hồn chúng ta bằng ân sủng, như lời Kinh thánh: “Ai yêu mến Ta, thì Cha Ta sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ cư ngụ trong người ấy.”  Như vậy Mùa Vọng cử hành ba cuộc ngự đến.  Cần nhớ tới cả ba nếu chúng ta muốn hiểu rõ nội dung của các bản văn Kinh thánh và Phụng vụ của mùa này và có được những tâm tình thích hợp.  Hồng Y Newman đã viết: “Trong linh đạo Mùa Vọng, Đức Kitô xuất hiện như một người đã có mặt đó rồi, và đồng thời vẫn không ngừng được chờ mong.  Và Kitô hữu sống linh đạo này như một người chờ đợi Đức Kitô.”

Có thể nói chúng ta càng sống càng tiến về phía trước.  Mùa Vọng đến nhắc nhở chúng ta rằng cuộc đời ta còn dang dở và quê hương thật của ta ở trên trời.  Mùa Vọng mời gọi ta nhổ trại lên đường tiến về Ngày của Chúa, ngày Chúa đến làm cho cuộc đời chúng ta cũng như toàn thể lịch sử nên sung mãn.  Chính ngày đó đem lại cho cuộc sống hiện tại một hướng đi và một ý nghĩa cao cả.  Vì thế nỗi chờ mong của ta cũng là một niềm hy vọng.  Chúng ta chờ đợi với sự tin tưởng và nôn nóng như người vợ hiền chờ đợi người chồng mà bà đã biết, mà bà yêu mến và được yêu mến.  “Đức Kitô về trời mang theo trái tim của Hội thánh.  Tất cả đời sống của Hội thánh chỉ là một hành vi khao khát, hy vọng, cầu nguyện và đợi chờ” (Jean Daniélou).  Lời cầu nguyện kết thúc toàn bộ Kinh thánh mà thánh Gioan Tông đồ đã đặt vào miệng Giáo Hội đang bị bách hại là: Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến !

Ba Thái Độ Sống Cụ Thể.

Theo tinh thần Mùa Vọng, sống hướng về ngày Chúa đến có thể được diễn tả trong ba thái độ cụ thể.  Trước tiên là tương đối hóa hiện tại.  Mọi giá trị ở đời này như của cải, danh vọng, tình yêu, gia đình, khoa học, kỹ thuật, văn hóa v.v… là những điều tốt lành mà chúng ta phải ra sức thực hiện theo thánh ý của Chúa trong hoàn cảnh sống cụ thể của mình, nhưng đó chưa phải là những cái tuyệt đối đáng cho ta coi là mục đích phải gắn bó và đeo đuổi với bất cứ giá nào.  Trái lại, chúng chỉ tìm được trọn vẹn giá trị khi đối chiếu với cùng đích tối hậu, đích thực của đời ta.

Thái độ sống này làm cho ta nên khôn ngoan, sáng suốt, chừng mực và tự do.  Sống hướng về ngày Chúa đến còn đòi hỏi nơi ta một thái độ thứ hai là phải cương quyết chống lại tội lỗi và sự ác nơi mình và chung quanh mình, nơi gia đình và trong xã hội.  Đó là dọn đường cho Chúa ngự đến, như chúng ta thường hát trong Mùa Vọng theo lời Kinh Thánh: “Quanh co uốn cho ngay, Gồ ghề san cho phẳng, Hố sâu lấp cho đầy, Nơi cao phải bạt xuống.”

Sau hết, sống hướng về ngày Chúa đến buộc ta phải tỉnh thức và luôn luôn sẵn sàng như người tôi trung: hết lòng với nhiệm vụ được trao phó, tận dụng mọi khả năng của mình để hoàn thành mọi việc theo ý chủ nhà hiện đang vắng mặt và mau mắn mở cửa đón chủ về bất cứ lúc nào.

Lm. Nguyễn Hồng Giáo OFM – Viết theo J. Daniélou:Le Mystère de l’Avent, Paris 1948

ĐỪNG ẢO TƯỞNG

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.

Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.  Nói chung, hoạt động cám dỗ không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.

Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ hữu hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.  Các quỷ tham gia tranh luận sôi nổi, bày ra nhiều mưu chước nhằm làm cho loài người sa vòng tội lỗi.  Ý kiến thì nhiều, nhưng chỉ nêu ra đây một số ý kiến tiêu biểu.  Có quỷ đề nghị hãy cám dỗ các bạn trẻ rằng: “Không có Thiên Chúa, không có thiên đàng hoả ngục.  Thiên đàng là ảo tưởng do Giáo Hội bày ra để dụ khị loài người; hoả ngục chỉ là sản phẩm do Cha Cố thêu dệt để hù dọa những người yếu bóng vía.  Đừng dại dột tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau mà phí cả cuộc đời!”  Mưu chước nầy cũng chưa thuyết phục nên không được đa số chấp nhận.  Có quỷ thì hiến kế nên thuyết phục người ta biết rằng Đức Giêsu chỉ là hạng phàm phu tục tử, Phúc Âm của Ngài gồm toàn những chuyện bịa đặt viển vông…” nhưng rồi ý kiến nầy cũng không được hưởng ứng.

Cuối cùng có lão quỷ già có tiếng là đa mưu túc kế lên tiếng: “Theo tôi, chúng ta nên cám dỗ thế nầy: “có Thiên Chúa, có thiên đàng hoả ngục, có linh hồn, có sự sống đời sau… (mình phải nói như vậy để người ta tin mình đã, rồi ta sẽ thêm) nhưng bạn hãy nhớ rằng: Đời bạn còn dài mà, bạn chưa chết đâu!  Vậy hãy vui hưởng lạc thú đời nầy đi!  Đợi đến khi già yếu rồi ăn năn sám hối cũng chưa muộn.”

Một tràng pháo tay giòn vang tán thưởng diệu kế của lão quỷ già thâm độc.  Thế là hội nghị nhất trí với phương thức cám dỗ được xem là sẽ rất kiến hiệu của lão quỷ già đa mưu.

********************

Hiện nay, hầu như mọi người đều tin theo lời cám dỗ độc hại ấy.  Ai cũng tin rằng đời mình còn dài, chưa đến lúc phải ăn năn hối cải.  Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ta sẽ sám hối, sẽ cải thiện cuộc đời, còn hôm nay, thì…

Qua bài trích thư gởi tín hữu Rô-ma trích đọc hôm nay (Rm 13, 11-14) thánh Phaolô kêu gọi chúng ta hãy mau quay về với Chúa, hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, đừng mơ tưởng đời còn dài rồi cứ đắm mình trong lạc thú:  “Đêm sắp tàn, ngày gần đến.  Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.  Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương.  Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.”

Và Lời Chúa trong Tin Mừng cũng kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức vì giờ Chúa đến thật bất ngờ; vì như “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.  Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu.  Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy.  Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.”

“Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.  Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.  Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Nếu hôm nay, lúc còn an bình khoẻ mạnh, ta không tưởng gì đến Chúa; đợi đến lúc lâm nguy rồi mới chạy đến với Ngài thì chúng ta xem Chúa có khác gì chiếc phao.  Bình thường khi trời quang mây tạnh, mọi sự an lành thì không ai thèm ngó lại chiếc phao, xem nó như cái gì thừa thãi vô tích sự, có thấy nó nằm giữa lối đi thì người ta cũng đá nó sang một bên, không ai thèm đoái hoài.  Nhưng khi gặp phong ba bão táp, nguy khốn đến nơi thì tranh nhau giành lấy phao cho bằng được!

Lạy Chúa, Chúa là Chúa Tể quyền năng, là Thiên Chúa tối cao mà chúng con phải phụng thờ suốt đời, ngay cả bây giờ, chứ không phải là chiếc phao cứu mạng chỉ cần dùng lúc gặp gian nguy khốn khó.  Xin cho chúng con đừng khờ khạo tin rằng đời còn dài, hãy tận hưởng đời và mê đắm trong tội mà lãng quên phần rỗi đời đời của chúng con.

Lm Ignatiô Trần Ngà

LỜI KINH TẠ ƠN

Thông thường khi ta muốn cám ơn ai cách đặc biệt, ta thường mang theo món quà thường gọi là tạ ơn.  Món quà nhỏ hay lớn tùy theo điều ta được đón nhận, hoặc có khi vì quá thân thiết không khách sáo ta đến với tấm lòng tri ân là đủ.  Khi ta tạ ơn Chúa Cha, ta được mời gọi thông hiệp vào hy lễ của Chúa Giêsu, là hy lễ tạ ơn vẹn toàn.

Tạ ơn có một ý nghĩa đặc biệt trong phụng vụ Kitô giáo.  Lời tạ ơn này bắt nguồn từ việc kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại.  Khi Chúa Cha ban cho nhân loại Chúa Con là Đấng Cứu Thế, như Phúc Âm Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3, 16 – 17).  Quà tặng Chúa Cha ban cho nhân loại không phải là món quà tinh thần hay vật chất mà là chính Người Con của Chúa Cha.  Một Người Con đầy quyền năng đã vâng phục Cha hoàn toàn như Thánh Phaolô tuyên xưng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2, 6 – 7).

Quà tặng Chúa Cha ban cho nhân loại là một Thiên Chúa làm người ở giữa nhân loại.  Người là Đấng vô tội đã mang lấy tội lỗi của nhân loại và chết cho tội lỗi nhân loại.  Qua sự chết của Người mà nhân loại được giải thoát khỏi tội, khỏi sự chết.  Thánh Phaolô viết: “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5, 8).

Ơn đặc biệt nhân loại được nhận, đó là được cứu thoát khỏi tội, khỏi sự chết nhờ Chúa Giêsu chịu chết và sống lại.  Ta có thể dâng gì để tạ ơn Chúa Cha, nếu không phải là ta được mời gọi thông hiệp hy sinh nhỏ bé của ta vào trong hy lễ vẹn toàn của Chúa Giêsu.  Kinh nguyện Tạ Ơn II dâng lên: “Vì vậy, lạy Chúa, khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại, chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa.”  Không phải vì ta được xứng đáng tạ ơn Chúa Cha, mà vì Chúa Cha đã thương cho ta được thông hiệp cùng Chúa Con dâng lên Chúa Cha lời tạ ơn thanh sạch, trang trọng, vẹn toàn nhất.

Tạ ơn không phải là mang theo món quà vật chất mà tạ ơn bằng chính đời sống “Này con xin đến để thi hành theo ý Chúa.”  Của lễ tạ ơn, Chúa không đòi ta đổ máu hy sinh cho bằng vâng theo ý Chúa qua đời sống hằng ngày vì khi tạ ơn, kinh nguyện đã thưa: “Chúng con tha thiết nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Ðức Ki-tô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.”

Thánh Phaolô viết: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Chúa Kitô ư?  Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?  Bởi vì chỉ có một Tấm Bánh và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể (1 Cor 10, 16 – 17).

Lời kinh tạ ơn dâng lên Chúa Cha chỉ trong Chúa Giêsu Kitô nhờ Chúa Thánh Thần mà ta được xứng đáng.  Khi ta dự lễ ta hãy sống với hết tâm tình nguyện dâng: “Vì vậy, lạy Chúa, khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại, chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa.  Chúng con tha thiết nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Ðức Ki-tô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần.”

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

TẠI SAO THÁNH CECILIA TRỞ THÀNH BỔN MẠNG CỦA CÁC NHẠC SĨ?

Được mừng lễ vào ngày 22 tháng 11, Thánh Cecilia, vị thánh bổn mạng của các nhạc sĩ, đã được tôn kính ở Rôma từ cuối thế kỷ thứ V.  Việc tôn kính ngài dường như đã lan rộng ở vùng Albigeois từ đầu thời Trung cổ.  Vị thánh được các Kitô hữu cầu khấn và là thánh bổn mạng của Nhà thờ chánh tòa Albi này là ai?

Câu chuyện về cuộc đời của Cecilia được mượn từ cuốn Các Cuộc Thương Khó tập hợp cuộc đời của các vị tử đạo trong các thế kỷ đầu tiên.  Người ta lấy cảm hứng từ đó cho các vị thánh mà người ta mong muốn tôn vinh.  Jacques de Voragine, giám mục của Genoa, Dòng Đa Minh, đã mượn cho cuốn Légende dorée của mình (khoảng 1261-1266) từ truyện thánh Cecilia (khoảng 500).

Thánh Cecilia hẳn đã sống vào khoảng đầu từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3, và đã chết vì đạo vào khoảng năm 223.  Thuộc gia đình quý tộc lừng danh Caecilii, được lớn lên trong đức tin Kitô giáo, thánh nữ, ngay từ khi còn rất trẻ, đã quyết định dâng hiến đời mình cho Chúa và tuyên khấn đồng trinh.  Bị buộc phải kết hôn với Valêriô, thánh nữ thuyết phục anh tôn trọng sự trong trắng của mình và hoán cải anh sang Kitô giáo.

Tiburce, em trai của Valêriô, cũng trở lại và hai anh em từ chối hiến tế các vị thần.  Họ làm việc để chôn cất các vị tử đạo, bị hành quyết vì đức tin Kitô giáo của họ.  Hai anh em bị tố cáo và chặt đầu.  Khi họ qua đời, Thánh Cecilia tiếp tục loan báo Tin Mừng và cải đạo cho những người ngoại giáo, cho đến ngày thánh nữ bị bắt, bị kết án tử hình rồi bị chặt đầu.  Sau ba nhát rìu, Thánh Cecilia vẫn sống, nhưng vì luật cấm đánh quá ba nhát trong một cuộc hành quyết nên người ta đã để cho ngài hấp hối trong ba ngày.

Nhà thờ đầu tiên dưới sự bảo trợ của thánh nữ

Theo truyền thuyết, thánh nữ phân phát tất cả tài sản của mình cho người nghèo và giới thiệu với Đức Giám mục Urbain tất cả những tín hữu mà thánh nữ đã cải đạo, và đồng thời nói rằng: “Con đã cầu xin Chúa cho ba ngày trì hoãn này để khuyên Đức Cha lần cuối và để xin Đức Cha cung hiến một nhà thờ trên địa điểm ngôi nhà mà con qua đời.

Hài cốt của thánh nữ, được tìm thấy vào năm 821 trong hầm mộ Thánh Callixtô, đã được chuyển đến Trastevere, một quận của Rôma, nơi mà theo mong muốn của ngài, một nhà thờ đã được xây dựng để đón nhận lăng mộ của ngài.  Nhà thờ này vẫn còn tồn tại, đó là nhà thờ Sainte-Cécile-du-Trastevere.  Trong cuộc khai quật phục hồi năm 1599, thi thể được tìm thấy nguyên vẹn.  Sự kiện này đã góp phần tạo nên danh tiếng cho ngài.

Tại sao ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ?

Nguồn gốc của việc ngài là thánh bổn mạng của các nhạc sĩ xuất phát từ một điệp khúc được sáng tác vào thời Trung Cổ cho phụng vụ mừng lễ ngài mà, do giải thích sai, đã khiến người ta nghĩ rằng ngài là một nhạc sĩ.  Việc phổ cập sự bảo trợ của các vị thánh, những biến đổi sâu sắc về lý thuyết, sáng tác và thực hành âm nhạc sẽ làm phần còn lại, đến mức từ hậu bán thế kỷ 16, Thánh Cecilia đã trở thành vị thánh bảo trợ không thể tranh cãi của âm nhạc và các nhạc sĩ.  Nhiều ban nhạc kèn đồng ở Pháp cho đến ngày nay vẫn được đặt dưới sự bảo trợ của thánh nữ.

Việc sùng kính Thánh Cecilia ở Albi

Việc sùng kính Thánh Cecilia hẳn đã được đưa vào Albi bởi những người Wisigoths từ Rôma đến Gaule narbonnaise vào năm 413, phụng vụ của họ dành một vị trí đáng chú ý cho việc sùng kính Thánh Cecilia.

Sự hiện diện của thánh tích của Thánh Cecilia ở Albi được chứng thực lần đầu tiên vào khoảng năm 1130 – hài cốt và vải lanh liên quan đến thân xác của ngài.  Năm 1468, thánh tích mới được Đức Giáo hoàng Phaolô II trao tặng cho Đức Hồng y Jean Jouffroy, Giám mục giáo phận Albi lúc bấy giờ.  Những thánh tích này – xương quay của cánh tay trái và hàm dưới của thánh nữ, một mảnh vải tạo thành một phần trang phục của ngài, một mảnh vải liệm được Thánh Giáo hoàng Urbain I quấn quanh thi thể của ngài – được bảo quản trong một hòm thánh tích được thực hiện vào năm 1887.  Hòm thánh tích này vẫn còn được rước trong thánh lễ Thánh Cecilia, vào ngày Chúa nhật gần nhất với ngày 22 tháng 11.

Geneviève Pasquier
Chuyển ngữ: Tý Linh
Theo: La Croix

TÊN TRỘM VÀ NGƯỜI CHỦNG  SINH

Tập san Catholic Digest có mục thường xuyên được gọi là “The Open Door” (Cửa Rộng Mở). Trong mục này thường có hai hay ba câu chuyện do độc giả gởi đến. Những câu chuyện này kể lại sự hoán cải trở lại đạo Công Giáo của độc giả.

Có một câu chuyện thật cảm động về chàng thanh niên lớn lên trong một gia đình Công Giáo, từng tích cực hoạt động trong Giáo Hội, và sau đó gia nhập chủng viện.

Rồi đến những năm đầy xáo trộn thời chiến tranh Việt Nam. Trong thời gian này, ba sinh viên ở một đại học Ohio bị giết trong lúc biểu tình phản đối chiến tranh. Những cuộc dấy loạn về sắc tộc như xé nát nhiều thành phố trong nước Mỹ. Các nhà lãnh đạo quốc gia bị ám sát. Mọi sự bỗng dưng trở nên rời rạc.

Chàng thanh niên này rời chủng viện, tham gia phong trào chống chiến tranh, từ bỏ Giáo Hội, và chế nhạo đức tin mà trước đây anh từng ấp ủ.

Gia đình anh bàng hoàng vì sự thay đổi này. Và khi thái độ của anh ngày càng thù nghịch với tôn giáo, họ đã hoàn toàn tuyệt vọng.

Sau đó là Tuần Thánh và trong Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1970, chàng thành niên, lúc ấy 22 tuổi, lái xe ngang qua một nhà thờ Công Giáo. Anh nhận ra tên của cha xứ trên tấm bảng trước nhà thờ. Đó là vị linh mục anh rất kính trọng. Điều gì đó đã thúc đẩy anh dừng xe và đi vào nhà thờ.

Khi bước vào cửa, nghi thức Tôn Kính Thánh Giá bắt đầu. Anh ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Anh theo dõi dân chúng xếp hàng lên hôn thánh giá, trong khi ca đoàn hát bài “Were You There When They Crucified My Lord?” (Bạn có ở đó khi họ đóng đinh Chúa không?)

Và rồi điều gì đó thật lạ lùng đã xảy ra. Anh viết:

“Trong con người tôi, điều gì đó đột ngột xảy ra và tôi bắt đầu khóc. Sau khi dằn được xúc động, tôi nhớ lại sự bình an mà từ lâu tôi đã bỏ lại nơi nhà thờ. Đức tin đơn sơ mà giờ đây tôi đang chứng kiến thì dường như có ý nghĩa hơn là điều tôi tuyên xưng. Tôi bước ra khỏi ghế và quỳ xuống hôn Thánh Giá. Vị linh mục nhận ra tôi, ngài đến ôm lấy tôi.”

“Từ ngày đó trở đi,” anh cho biết, “tôi trở nên một người Công Giáo tái sinh.”

Anh kết thúc với nhận xét sau: “Tại sao tôi dừng xe ở nhà thờ đó vào ngày hôm ấy, cho đến giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng tôi biết rằng tôi thật sung sướng với các kết quả.”

****************

Tôi thích câu chuyện này vì nó thích hợp với các bài đọc trong ngày lễ “Chúa Giêsu là Vua” hôm nay.

Vì bài Phúc Âm diễn tả một thanh niên vô tôn giáo cách đây hai ngàn năm, Anh là một tên trộm cướp, với đầy giận dữ trong lòng nhưng anh đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên ấy.

Và điều thay đổi cuộc đời của người thanh niên này cách đây hơn hai ngàn năm cũng chính là điều thay đổi anh chủng sinh trong câu chuyện trên đây.  Đó chính là việc đóng đinh Đức Kitô.

Và điều mà Đức Kitô trên thập giá đã nói với người trộm thì Người cũng nói với anh chủng sinh: “Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Thật khó có bài đọc nào thích hợp hơn để kết thúc năm phụng vụ.  Bài đọc đã tóm lược lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian.  Chính là để tha thứ cho tội nhân, như tên trộm-và như anh chủng sinh.

Và điều này đưa chúng ta đến việc áp dụng tất cả những điều này vào thực tế đời sống chúng ta.  Đó là:

–  Điều Chúa Giêsu đã làm cho người trộm lành và anh chủng sinh, Người cũng muốn làm cho mỗi người chúng ta.

–  Người muốn tha thứ tội lỗi chúng ta, bất kể có to lớn đến đâu và lâu đời đến đâu.

–  Người muốn nói với chúng ta điều mà Người đã nói với tên trộm và anh chủng sinh:
Ta hứa với con là hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng.”

Đây là tin mừng khiến chúng ta quy tụ nơi đây để mừng lễ Chúa Kitô Vua.

Đây là tin mừng mà Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta và thi hành cho chúng ta điều mà Người đã làm cho tên trộm và anh chủng sinh.

Đây cũng là tin mừng mà Thánh Phaolô đã diễn tả  trong bài đọc thứ hai của Chúa Nhật hôm nay:

[Thiên Chúa] đã cứu chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa chúng ta một cách bình an đến vương quốc của Con yêu dấu của Người, mà nhờ Người chúng ta được tự do, đó là, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi.

LM. Mark Link, S.J.

ĐÓI GIÊSU

“Vì Người sắp đi qua đó!”

“Của cải có thể khiến một người nghèo trở nên giàu; nhưng một trái tim đói khiến một người giàu trở nên nghèo!” – Benjamin Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Câu nói của Franklin được chứng thực qua Tin Mừng hôm nay.  Giàu sang không làm Giakêu hạnh phúc; quyền lực không khiến ông được tôn trọng.  Trong sâu thẳm, ông mang một ‘cơn đói không tên,’ không gì lấp đầy – ‘đói Giêsu!’

Chức vụ trưởng quan thuế đem lại cho ông nhiều thứ, nhưng lại lấy đi những gì cần thiết nhất: ánh mắt chấp nhận, lời gọi yêu thương, sự nâng đỡ của một người hiểu tận lòng mình.  Nghe Chúa Giêsu sắp đi qua, cơn đói ấy trỗi dậy mãnh liệt.  Ông chạy lên trước, leo lên một cây sung, “vì Người sắp đi qua đó!”  Không chỉ leo lên một cành cây; ông leo lên nỗi trống rỗng của mình.  Khi trái tim đã ‘đói Giêsu,’ nó sẽ làm những điều không giống ai để chạm Ngài; mọi trái tim thiếu thốn đều tìm một ‘nơi cao’ để không nghẹt thở.  “Nghèo khó khủng khiếp nhất là cô đơn và cảm giác không được yêu thương!” – Mẹ Têrêxa.

Và rồi khoảnh khắc ấy đến.  Chúa Giêsu dừng lại.  Một trái tim đói gặp một Trái Tim biết mọi cơn đói của nhân loại.  Ánh mắt Ngài không chỉ nhìn Giakêu; nó như muốn nói, “Ta biết con đang đói một Ai đó đến mức nào!”  Rồi Ngài gọi, “Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay, tôi phải ở lại nhà ông!”  Điều kỳ diệu xảy ra!  “Khi ai đó thật sự lắng nghe bạn, điều ấy giống như một phép lạ!” – Carl Rogers.  Giakêu lập tức tụt xuống – như một cuộc thoát xác.  Khi một trái tim chạm vào tình yêu thật, nó không còn tính toán: Giakêu cho đi một nửa tài sản, đền bù gấp bốn cho ai đã thiệt hại.  Sự quảng đại – đúng hơn, hoán cải – bất ngờ chỉ có thể diễn ra khi một người đã được Ai đó chạm đến tận sâu thẳm linh hồn mình.

Hình ảnh Giakêu phản chiếu hình ảnh cụ già Êlêazarô, người có một cơn đói tương tự – đói sự thánh khiết, đói trung tín – bài đọc một.  Cụ không thoả hiệp chỉ để giữ mạng sống; nhưng chọn sống chân thật trước mặt Chúa, cả khi trả giá đắt.  Ai biết mình đói, và sống thật với cơn đói ấy, sẽ tìm được tự do.  Thật ý nghĩa, “Có Chúa nâng đỡ tôi!” – Thánh Vịnh đáp ca – Chúa luôn nâng đỡ những ai nhận mình yếu đuối, thiếu thốn.  “Sức mạnh thật sự đến từ việc ôm lấy chính sự yếu đuối của mình!” – Paulo Coelho.

Anh Chị em,

Hôm nay, Chúa Giêsu đi ngang qua linh hồn chúng ta, Ngài cảm nhận điều gì?  Ngài có tìm thấy trong bạn và tôi một trái tim biết mình nghèo, cần Ngài – nói cách khác, một trái tim ‘đói Giêsu?’  Mỗi ngày, Chúa vẫn “đi qua đó”: qua Lời, qua Thánh Thể, qua những con người.  Nếu chúng ta dám ‘leo lên’ khỏi những bận rộn, vỏ bọc, hay cái tôi cồng kềnh – như Giakêu – có lẽ bạn và tôi cũng sẽ nghe những gì Ngài nói, “Hôm nay, Ta phải ở lại nhà con!”  Và khi ấy, không chỉ trái tim chúng ta được no thoả, nhưng chính Ngài – Đấng từng nói “Ta khát” – cũng được no thoả. “Sự hiện diện thật sự nuôi dưỡng cả người trao và người nhận!” – Parker Palmer.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đói một điều chi ngoài Chúa.  Hãy đến với con và con cũng tạo nên một sự khác biệt – hoán cải!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TỬ ĐẠO, MỘT CHỌN LỰA CỦA LÒNG TIN

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam.  Đây là một ngày vui mừng chung của tất cả chúng ta, những Kitô hữu mang trong mình dòng máu con Rồng, cháu Tiên.  Cách đây gần 400 năm, hay đúng hơn từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bugiơmi, dòng Tên, người Ý dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giờ, đạo Công giáo đã được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam.  Hạt giống Tin mừng đã được gieo vãi trên mảnh đất hình chữ “S” thân yêu này.  Cha ông chúng ta những con người có tâm hồn hiền hậu, chất phác đã đón nhận và sẵn sàng dùng chính mạng sống mình để làm chứng cho Tin mừng đó.

Thật vậy, “Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng.”  Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, vợ con để chết đi làm chứng điều gì?  Chắc chắn việc các ngài sẵn sàng chết không phải vì các ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu.  Với cái chết của mình, cha ông chúng ta đã cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngõ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong lòng người dân Việt: “sống gởi, thác về.”  Và chính dòng máu nóng của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đã làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Đức Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”

a. Chọn lựa của dân Do thái:

Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin mừng, cha ông chúng ta đã phải làm một cuộc chọn lựa thật quyết liệt trong tâm hồn.  Bởi vì, trong thực tế, hạnh phúc đời sau thì bây giờ chúng ta không thấy, còn tiền của, danh vọng cùng với những vinh hoa phú quý của nó, thì lại nằm ngay trước mắt.  Chính dân Do Thái khi bước vào được Đất Hứa, sau cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc, cũng đã phải làm một cuộc chọn lựa cơ bản này.  Ông Môisê đã nói với họ: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là bị chết, bị tai họa.”  Khi dân Do thái chọn lựa “yêu mến Đức Chúa,… và gắn bó với Người,” thì không phải vì trước mắt họ nhận được một cuộc sống sung sướng, dễ dãi.  Họ chọn lựa Thiên Chúa chỉ vì họ tin tưởng vào tình yêu của Giavê Thiên Chúa, Đấng đã từng giải thoát họ thoát ách nô lệ Ai Cập, kết ước với họ, để họ được làm dân của Ngài.  Đồng thời, còn ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp.

b. Chọn lựa của cha ông chúng ta:

“Trung thành với Thiên Chúa” cũng chính là chọn lựa, mà cha ông chúng ta ngay từ những ngày đầu đón nhận Tin mừng đã quyết định.  Một cuộc chọn lựa nhìn bên ngoài có vẻ đơn giản: đó là bước qua thập giá hay không bước qua.  Bước qua thì có ngay tiền bạc, vinh hoa phú quý, còn như không bước qua thì có thể lập tức lãnh lấy cái chết.  Đứng trước thập giá, đã có người bước qua, nhưng cũng đã có nhiều người không bước qua, không quá khoá (không nhảy qua thập tự).  Đã có người được khiêng qua thánh giá, nhưng đã co chân lên như thánh Antôn Nguyễn Đích.  Đã có người bước qua thánh giá, nhưng sau lại hối hận: đó là trường hợp của ba vị thánh Augustin Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể, và Đaminh Đinh Đạt.  Vua quan đã bày ra trước mặt các ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.”

Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của chính mình.  Chọn lựa này bày tỏ thái độ của bản thân tôi đối với Đức Giêsu.  Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi.  Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được.”  Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được?  Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”  Một chọn lựa có thể nói là đầy bấp bênh theo cái nhìn tự nhiên của con người.  Chính vì bấp bênh như thế mà những chọn lựa này trở nên có giá trị, vì nó đúng là một chọn lựa của lòng tin.

Vâng, mỗi người chúng ta chỉ nhờ có lòng tin chứ không phải nhờ bất cứ điều gì khác, mới có thể giúp mỗi người chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ.  Ý thức điều đó, thánh Phaolô mời gọi tín hữu thành Côlôsê và cũng là lời nhắc nhở từng người chúng ta: “Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc kiên quyết, và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng.”  Đức tin này mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận khi chịu phép Rửa, nhưng như thế thì chưa đủ.  Đức tin đó còn phải được minh chứng bằng chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta.  Nhiều vị tử đạo đã được mời giả vờ bước qua thánh giá, để quan có cớ mà tha, còn đức tin bên trong thì quan không đụng đến.  Đây là một cám dỗ khá tinh vi và hấp dẫn, có vẻ như được cả hai, đời này và đời sau.  Nhưng liệu tôi có thể bên ngoài chà đạp một Đấng mà bên trong tôi tôn thờ không?  Đứng trước thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hoà hay lập lờ.  Không ai có thể làm tôi hai chủ (x. Mt 6, 24), điều này vẫn đúng cho những chọn lựa mỗi ngày của các Kitô hữu chúng ta qua mọi thời đại.

c. Chọn lựa của chúng ta hôm nay:

Mừng lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam hôm nay, lời Chúa một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của mình.  Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày.  Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi?  Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình?  Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó.  Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng?  Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều gì?

Chớ gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quý ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình.  Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.”  Amen!

Lm. Đaminh Xuân Trường, GP.Bắc Ninh