ĐỪNG CẬY VÀO SỨC NGƯỜI SỨC TRÂU

Năm nay, được gọi là năm con Trâu.  Một con vật gắn bó với con người, luôn đi chung với con người, luôn làm theo ý của chủ mình, như ca dao xưa thường nói:

Rủ nhau đi cấy đi cầy,
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu,
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.”

Sự gắn bó, chia sẻ việc đồng áng của con trâu khiến người ta nhân cách hoá con vật như là loài hiểu biết để có thể nói với trâu như nói với bạn:

Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cầy với ta,
Cầy cấy nối nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Khi nào cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn“.

Tuy nhiên, dầu sức người, sức trâu có khỏe mấy cũng chỉ là “dã tràng se cát biển đông” nếu Trời không cho mưa thuận gió hòa.  Thế nên, từ lâu cha ông ta vẫn luôn cầu Trời ban cho mưa thuận gió hòa để cuộc sống được ấm no hạnh phúc, để công việc đồng áng được thuận lợi quanh năm.

“Nhờ Trời mưa thuận gió hoà
Nào cày, nào cấy trẻ già đua nhau.

Vì thế, từ lâu người Việt Nam đã biết có ông Trời.  Tin ông Trời.  Cầu khẩn ông Trời.  Ông Trời trở thành một thần linh luôn đồng hành với con người qua mọi thăng trầm.  Tuy không rõ Ông Trời thế nào nhưng không ai lại không kính Trời.  Ai cũng sợ Trời và cố gắng làm vui lòng Trời.  Vì ông trời làm chủ vận mệnh muôn loài.  Ông Trời quyền phép vô cùng.  Thế nên,

Mưu sự tại nhân – Thành sự tại thiên
Trời cho ai nấy hưởng
Sống nhờ ơn Trời – Chết về chầu Trời.

Niềm tin Kitô giáo cho chúng ta biết ông Trời của người Việt Nam chính là Thiên Chúa, Ngài là Chúa Cả Trời đất, chính Ngài chúc phúc cho công việc của con người được “thuận buồm xuôi gió” như lời thánh Phaolo quả quyết: “Phaolô trồng, Apollô tưới, nhưng chính Thiên Chúa mới làm cho mọc lên” (1Cr 3,6).  Điều này cho ta thấy, Thiên Chúa chỉ chúc lành cho công việc của con người, đúng như câu ca dao xưa: “Có làm thì mới có ăn.  Không dưng ai dễ mang phần cho ta.”

Chính Ngôi Hai Thiên Chúa đến trong thế giới, Ngài đã sinh ra trong một gia đình lao động, qua đó Chúa nâng đời sống lao động và thánh hoá đời sống lao động, Chúa làm gương về đời sống phục vụ, mỗi giọt mồ hôi, mỗi sự mệt mỏi trong lao động của Chúa Giêsu đều mặc một giá trị cứu rỗi.  Con người luôn phải ý thức lời Kinh Thánh viết, hướng dẫn và chỉ bảo:

Bốn mùa Chúa đổ hồng ân,
Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi ( Tv 64, 2 ).

Vì thế, người tín hữu Việt Nam luôn có một thói quen tốt lành là dâng mọi công việc làm của mình cho Thiên Chúa trong ngày đầu năm mới.  Đây gọi là thánh hóa công ăn việc làm cho Thiên Chúa.  Thánh hoá công ăn việc làm là xin Chúa lau sạch những giọt mồ hôi vất vả đổ ra vì sựlàm việc của chúng ta.  Thánh hoá công ăn việc làm là cầu xin Chúa chúc lành cho nghề nghiệp của chúng ta trở nên hữu ích, không chỉ là làm ra của cải mà còn phục vụ tha nhân trong tình bác ái; thánh hoá công ăn việc làm là cầu xin Chúa hướng dẫn chúng ta sử dụng tay nghề ngày càng tốt hơn để làm góp phần xây dựng quê hương ngày một giầu đẹp hơn.

Trong ngày lễ thánh hoá công việc làm ăn hôm nay, chúng ta cũng cầu xin cho những ai đang thất nghiệp có công việc làm ăn để nuôi sống bản thân.  Cầu chúc cho mọi gia đình trong năm mới luôn tìm được niềm vui của sự chia sẻ của các thành viên trong gia đình, nhờ đó mà chúng ta có thể vẽ lên bức tranh thanh thản, bình an nơi gia đình như câu ca dao xưa: “chồng cầy vợ cấy, con trâu đi cầy.”

Cầu chúc cho mọi người có sức khỏe để “cày như Trâu,” chúc cho mọi người một năm mưa thuận gió hòa, người người người tận tụy, chăm chỉ làm ăn và sống hiền hòa bên nhau.  Và cầu chúc cho anh em chị em một năm mới:

Phước lộc ơn trời tuôn đổ mãi
An bình hạnh phúc chẳng hề vơi.”  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

LỜI CẢM TẠ TRI ÂN

Ngày cuối của một năm, thường con người vẫn có thói quen ngồi lại để tính sổ với Chúa, với đời xem mình đã làm được gì, chưa làm được gì và rồi con người dù thế nào đi nữa vẫn phải nói lên lời tạ ơn Thiên Chúa vì do tình thương của Ngài mà con người vẫn còn tồn tại.

Cuộc Đời Phải Là Lời Cảm Tạ

Nhìn lại một năm với bao biến cố xẩy ra trong đời: buồn có, vui có, khó khăn có, may mắn có, con người vẫn tự nhủ tại sao mình còn hiện diện?  Tại sao mình còn thở, còn sinh hoạt được, còn đi dứng, ăn uống, ngủ nghỉ được?  Chắc chắn với lòng tin sẵn có, người Kitô hữu luôn ý thức Thiên Chúa đang tiếp tục làm phép lạ trong cuộc đời của mình.  Như vậy, tâm tình của con người là tạ ơn.  Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã viết: “Đàn hát lên!  Nhờ Thánh Thần linh hứng, trót tâm tình, dâng Thiên Chúa là Cha.  Luôn cảm tạ Người, nhân danh Thánh Tử vì Người ban muôn phúc lộc chan hòa” (Eph 5, 19-20).  Vâng, Thiên chúa đã ban cho nhân loại, cho mỗi người muôn vàn hồng phúc.  Những ân huệ cao quí, Thiên Chúa tặng ban cho con người quả không kể xiết.  Con người chỉ có thể hiểu được những điều quí hóa ấy khi họ biết hồi tỉnh, suy nghĩ và cầu nguyện.  Hồi tỉnh để thấy mình đã lãnh nhận quá nhiều ân phúc mà chỉ Thiên Chúa mới có thể trao ban.  Suy nghĩ để con người nhận ra họ được hạnh phúc có Thiên Chúa là Cha nhân từ không nỡ cho con người con bọ cạp hoặc hòn đá khi họ xin bánh ăn.  Cầu nguyện để thân mật trao đổi và cám ơn Thiên Chúa vì tình thương vô biên Chúa đã tặng ban cho con người.  Chính vì thế, con người phải luôn có tâm tình như Chúa Giêsu vì cuộc đời của Ngài là bài ca cảm tạ tri ân Thiên Chúa Cha.  Chúa luôn cảm tạ Chúa Cha trong mỗi biến cố cuộc đời: khi làm phép lạ cho cá và bánh hóa nên nhiều, khi lập bí tích Thánh Thể, khi chọn các môn đệ và nhiều việc Chúa Giêsu làm trong đời của Ngài.  Bao giờ, Chúa cũng nói lên lời tạ ơn Thiên Chúa Cha.  Tạ ơn là điều tối hệ trọng trong đời Chúa Giêsu.  Mẹ Maria cũng thế, Mẹ đã nói lên lời xin vâng và tạ ơn trong cả cuộc đời của Mẹ.  Bài kinh Magnificat Mẹ cất lên hôm nay là một lời cảm tạ Thiên Chúa Cha.  Mẹ mời gọi mỗi người Kitô hữu hãy cùng Mẹ hát bài tạ ơn vì chính Mẹ và con cái của Mẹ đã được Thiên Chúa trao ban quá nhiều hồng phúc.

Ngày Cuối Năm Luôn Là Lời Tạ Ơn

Nhìn lại một quãng đời, suy nghĩ về một chặng đường đã qua, con người chỉ biết thốt lên như Mẹ: “…Đấng toàn năng đã làm cho Tôi biết bao điều kỳ diệu.”  Đời con người là một huyền nhiệm.  Chúa đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, Ngài lại ban cho con người biết bao hồng phúc khiến con người không thể nào hiểu hết sự lạ lùng của Thiên Chúa.  Con người chỉ có thể cùng với tác giả thánh vịnh: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?  Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (Tv 115, 12-13).

Ngày cuối năm, người Kitô hữu luôn phải ngồi lại để suy nghĩ, điều chỉnh tâm hồn và nói lời tạ ơn Thiên Chúa.  Đây là dịp rất tốt để con người hồi tỉnh xem điều gì mình đã làm được tốt, điều gì mình chưa làm tốt và điều còn thiếu xót để rồi chấn chỉnh điều chưa tốt, và nhân lên càng nhiều càng tốt điều tốt lành mình đã làm được.  Điều quan trọng con người cần phải xét tới xem mình đã có quan hệ thế nào đối với Thiên Chúa và có thái độ ra sao đối với tha nhân?  Chúa luôn mời gọi mỗi người quay trở về với Thiên Chúa và làm hòa với anh em.  Như thế, ngày cuối năm là dịp để hồi tỉnh, trở về với Chúa và thắp sáng đức tin cho anh em.  Những việc làm tỏa sáng vẫn là những việc Chúa mời gọi con người thực hiện để làm vinh danh Chúa và nối kết anh em.  Ngày cuối năm cũng là ngày tạ lỗi Chúa và tạ lỗi mọi người.  Tạ lỗi là nói lên lòng sám hối, ăn năn và tạ ơn.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong suốt cả năm nay, Chúa đã thương ban phù trợ cho hồn xác chúng con an toàn.  Giờ đây năm cũ sắp qua, chúng con cùng họp nhau dâng lên Chúa lời cảm tạ tri ân, và xin Chúa thứ tha tội lỗi, để chúng con được thư thái bình an trước thềm năm mới (Lời nguyện nhập lễ, lễ tất niên).

Lm. Jos. Nguyễn Hưng Lợi

DỪNG LẠI!

CSC – Cuộc sống xô bồ và chạy quá nhanh làm ta chẳng có nhiều dịp may để đứng lại, ngắm nhìn những bước đường đã qua.  Chỉ có dừng lại, dù chỉ một chút thôi, ta mới có cơ hội nhìn lại cuộc đời mình cho cẩn thận.  Chỉ khi dìm mình vào suy tư, ta mới thấy mình đã làm được gì, đã bỏ lỡ gì hay đã thất bại những điều gì nữa.

Cuộc sống luôn công bằng, nó không cho không ai cái gì, và cũng chẳng vô tình lấy đi của ai bất cứ điều gì mà không có sự bù đắp, trả giá.  Đừng cảm thấy mình mất tất cả hay có tất cả mà không suy nghĩ cho những người xung quanh.  Sẽ đến một lúc nào đó, bạn phải bật khóc, nhưng không vì một lý do nào cả.  Đó là lúc bạn nhận ra mình đã đánh mất quá nhiều thứ và không bao giờ lấy lại được chúng nữa.  Đã đến lúc phải biết dừng lại!

Lại một năm mới sắp đến, một năm cũ sắp sang trang.  Ta lại có dịp ngồi lại, suy tư về một năm đã qua với những được mất, vui buồn, sướng khổ hay đơn giản, chỉ là về những gì đã và đang xảy ra quanh mình.  Cuộc sống xô bồ và chạy quá nhanh làm ta chẳng có nhiều dịp may để đứng lại, ngắm nhìn những bước đường đã qua.  Chỉ có dừng lại, dù chỉ một chút thôi, ta mới có cơ hội nhìn lại cuộc đời mình cho cẩn thận.  Chỉ khi dìm mình vào suy tư, ta mới thấy mình đã làm được gì, đã bỏ lỡ gì hay đã thất bại những điều gì nữa.  Thật ra, khoảnh khắc cuối năm hay đầu năm cũng chẳng khác những giây phút ngắn ngủi khác của cuộc đời ta.  Có chăng thì đó chỉ là vì nó đánh dấu một cột mốc nho nhỏ trong hành trình của đời người, mang thêm một chút dư vị, một chút ý nghĩa mà người ta tự gắn cho nó, như kim đồng hồ mỗi khi qua con số 12 thì lại qua thêm một giờ thôi vậy.  Có ai mà biết được đồng hồ của mình sẽ chạy tiếp vào ngày mai, hay sẽ dừng lúc nào mà mình chẳng ngờ tới.  Thế nên, ta mới tìm cho mình một khoảnh khắc làm khởi điểm cho một vòng quay mới mà nhìn lại.  Sự dừng lại ấy sẽ giúp ta có thêm cơ hội để bù đắp, sửa chữa, canh tân cách làm, cách nghĩ của mình.

Dừng lại để nghĩ về những điều đã qua.  Những gì đã qua thì chẳng bao giờ lấy lại hay làm lại được.  Cơ hội, thời gian hay lời nói là những điều mà khi ta để chúng vuột mất, ta sẽ chẳng lấy lại được.  Cơ hội thì như nước chảy bèo trôi, bèo trôi qua mà ta không vớt lấy, nó sẽ chảy đến chỗ người khác hoặc sẽ đi mất.  Thời gian thì chỉ có đi mà chẳng có lại, đã qua rồi sao ta tìm được đây.  Nói về thời gian, nhà thơ Xuân Diệu đã viết nên những vần thơ đầy tình cảm sâu lắng, đậm sự tiếc nuối và xót xa:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian.

Lời nói thì gió thổi bay, một lời đã nói thì người nào rút lại được.  Thế nhưng, có lẽ, chẳng mấy ai biết trân trọng nó khi mình còn có được, mà chỉ vội hối tiếc khi mọi sự đã qua rồi.  Một năm hay một đời cũng thế thôi, nó sẽ trôi qua một cách vô nghĩa nếu ta không biết nắm giữ và phát huy hết giá trị của nó.  Mọi hối tiếc sau đó sẽ chỉ là vô dụng.

Dừng lại để tri ân.  Có những lúc, ta sống quá vội vã, vội vã cả những lúc nhận được ân huệ, sự quan tâm, lời dạy dỗ, để rồi vội cả lời cảm ơn.  Giây phút dừng lại này còn là cơ hội để thực hiện lại những lời cảm ơn ấy cho thật chân thành.  Cảm ơn cha mẹ, anh chị em hay những người đã giúp ta trong hành trình cuộc đời.  Cha mẹ vốn chẳng cần lời cảm ơn của ta, vì ta chẳng khi nào cám ơn các ngài cho đủ.  Thế nhưng, các ngài mong mỏi sự cố gắng của ta.  Cảm ơn cha mẹ bằng đời sống tốt lành, xứng bậc làm con mới là điều thiết thực nhất ta có thể làm được.  Những người xung quanh ta cũng vậy, lời nói thôi sẽ chẳng đủ chân tình, nhưng có lẽ, ta cần có hành động cụ thể xuất phát tự con tim.  Cảm ơn người thân bằng gương sáng, việc làm, sự quan tâm.  Cảm ơn đồng nghiệp bằng sự cố gắng chăm chỉ, bằng sự hòa đồng vui vẻ.  Cảm ơn bạn bè bằng cử chỉ thân tình… Tất cả chẳng phải khó, nhưng khó vì chưa làm cho tận, làm cho có tình chân thật.  Khi biết dừng lại, ta mới thấy lời cảm ơn của ta đối với họ thật quý giá biết bao, đáng được trân trọng dường nào.

Kiên Vũ, CSC

http://dongthanhtam.net

MỘT CON TIM MỚI MẺ

y lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất bất ngờ khi Tin Mừng hôm nay cho thấy một kiểu đi nghỉ khác thường mà Chúa Giêsu mời các môn đệ Ngài cùng đi; qua đó, việc “nghỉ ngơi” bên Chúa sẽ làm cho họ có được “một con tim mới mẻ” như con tim của Ngài, một con tim cứu độ và xót thương.

Trở về sau những ngày rao giảng thấm mệt, và dẫu không nói ra điều đó, các môn đệ vẫn không tài nào giấu được đôi mắt tinh tường của Chúa Giêsu.  Sẽ không ngạc nhiên, khi với lòng trắc ẩn, Ngài lập tức mời họ xuống thuyền; Tin Mừng nói, “Thầy trò chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh.”  Ấy thế, khi thuyền vừa cập bến, đã có một đám đông đợi các ngài ở đó.  Như vậy, những người này đã đoán trước Thầy trò Chúa Giêsu sẽ đến đó; hoặc chí ít, đã có sự “rò rỉ” thông tin từ các tông đồ.  Qua đó chúng ta thấy lòng khao khát mãnh liệt được ở bên Chúa nơi những con người đang kiếm tìm Ngài.  Phải chăng đây cũng là cách đám đông “nghỉ ngơi” bên Chúa; và phải chăng đây cũng là cách “nghỉ ngơi” Chúa Giêsu mong muốn ở mỗi người chúng ta?  Lạ thay!  Ngài không bực nhọc; chẳng than thở, “Ôi chao, những người này không để mình yên dù chỉ một chút sao?”  Không, thay vào đó, “Thấy dân chúng thật đông, Ngài động lòng thương.”  Như thế, Ngài vẫn luôn giữ cho mình “một con tim mới mẻ” đầy cứu độ và thương xót ngay trong khoảng trời riêng tư của Ngài, Ngài chấp nhận thay đổi kế hoạch vì người khác.

Trong cuộc sống, sau khi phục vụ người khác chu đáo tận tình, ai trong chúng ta cũng muốn được nghỉ ngơi, đó là điều dễ hiểu; cả Chúa Giêsu cũng muốn điều này cho Ngài và các môn đệ.  Thế nhưng, một điều cho phép Ngài “làm gián đoạn” chương trình của mình chính là sự khát khao của những con người “muốn ở bên Ngài” và “được nuôi dưỡng bởi Lời Ngài”; Ngài sẵn sàng gác lại tất cả để thoả mãn khát khao của họ.  Như vậy, nơi Chúa Giêsu, xem ra không có “vacation”, kỳ nghỉ; nhưng chỉ có “salvation”, cứu độ.  Cũng thế, đối với bất cứ ơn gọi nào, bậc sống nào hay hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn có quyền và có thể nghĩ đến một khoảng riêng tư của mình; thế nhưng, nhiều lúc trách nhiệm lại buộc chúng ta chọn lựa một cách khác, “chọn lựa gián đoạn” kế hoạch của mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta có “một con tim mới mẻ”, con tim cứu độ giữa kỳ nghỉ và giờ nghỉ.

Chìa khoá để chúng ta có được “một con tim mới mẻ” như Chúa Giêsu chính là sự sẵn sàng; sẵn sàng với thời gian, sẵn sàng với sức lực của mình.  Khi điều này xảy ra, chúng ta sẽ luôn luôn biết rằng, Thiên Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của một ai; Người ban những ân sủng không bao giờ ngờ tới để chúng ta có thể rộng rãi trao ban.  Và tuyệt vời hơn, chính trong những thời điểm ngặt nghèo “bất tiện” nhất này, “một con tim mới mẻ” sẽ vui tươi làm những gì chợt đến, thì Thiên Chúa lại thường cho gặt hái những hoa trái mà đôi lúc suốt nhiều năm, chúng ta vất vả mà luống công; đó là lúc mà chính Chúa thực sự có thể biến đổi người khác.

Đang đi nghỉ ở Ireland, nhà sản xuất xe hơi, Henry Ford, được yêu cầu đóng góp cho một trại mồ côi mới xây.  Ford đã viết một tấm check trị giá hai nghìn bảng Anh, và thông tin đó đã xuất hiện trên các tờ báo địa phương.  Oái ăm thay, biên tập viên đã vô tình bất cẩn thông báo món quà là hai mươi nghìn bảng.  Giám đốc trại các em mồ côi lo lắng điện thoại xin lỗi Ford, “Tôi sẽ gọi ngay cho biên tập viên và yêu cầu anh ta sửa lại”, anh nói. “Không cần thiết phải như vậy!”, Ford trả lời; và ông nhanh chóng viết tấm check mười tám nghìn bảng bổ sung.

Anh Chị em,

Dẫu bị quấy rầy giữa kỳ nghỉ, nhưng Henry Ford đã có một tấm lòng nhân ái đáng trân trọng.  Với chúng ta, được nghỉ ngơi “vacation” bên Chúa Giêsu, con tim của chúng ta sẽ đầy sự cứu rỗi, “salvation” hơn Henry Ford biết bao!  Trong những ngày này, khi có thời giờ hơn để nghỉ ngơi, nếu không được nghỉ việc như những anh em đang sống ở hải ngoại, chúng ta vẫn có thời giờ nhiều hơn.  Đây là lúc chúng ta vào nơi thanh vắng để có thời gian ở bên người thân, làng xóm và nhất là được ở bên Chúa.  Hãy dừng lại để định hướng cho một năm mới, nhìn lại những gì đã qua hầu làm mới lại con tim của mình.  Đó chính là cách nghỉ ngơi đúng nghĩa mà Chúa Giêsu đang mong ước; và với ơn Chúa, sang năm mới, chắc chắn chúng ta sẽ có “một con tim mới mẻ.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Cúi lạy Chúa tôi, một năm qua rồi; ngày giờ quý báu, đâu còn trở lui.  Cám ơn Chúa, con được bình an qua một năm thế giới đầy tai ương và biến động.  Trong những ngày hôm nay, xin cho con biết dành giờ nghỉ ngơi bên Chúa nhiều hơn, biết sống tâm tình cảm tạ và sám hối; với ân sủng biến đổi của Chúa, chắc chắn con sẽ đi vào năm mới với một con tim mới mẻ.’”  Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HÀNH TRÌNH HẠNH PHÚC

Một tác giả đã viết: “Hạnh phúc không phải là đích đến.  Nó là một hành trình kết thành từ nhiều lựa chọn.  Trên con đường đời, bạn có thể chậm rãi bước trên những lối đi êm mát với bao hoa cỏ xinh tươi quấn quýt bên mình; hoặc bạn có thể băng băng tiến về phía trước để đuổi theo những sắc mầu lấp lánh ở cuối chân trời, nơi bạn thấy hiển hiện ánh cầu vồng mê hoặc, nhưng thực ra chỉ là một khoảng không vô định.  Tất cả tùy thuộc vào sự lựa chọn của bạn” (Tìm về sức mạnh vô biên, nxb Văn Hóa, tr. 7).  Với những dòng trên, tác giả muốn nói với chúng ta: hạnh phúc chẳng phải ở đâu xa, mà ở bên cạnh và trong tầm tay của chúng ta.  Nếu chúng ta chỉ coi hạnh phúc như một mục đích, chúng ta sẽ dồn hết sức lực để đi kiếm tìm, như thể mục đích đang ở xa xa phía chân trời.  Nhưng tiếc thay, khi đi kiếm tìm hạnh phúc như vậy, chúng ta quên mất hạnh phúc đang ở xung quanh mình.  Mặt trời vẫn luôn hiện hữu, nhưng những người khiếm thị lại không nhìn thấy mặt trời.  Không ai dựa vào sự kiện những người khiếm thị để khẳng định mặt trời không tồn tại.  Dù cuộc đời còn nhiều gian nan thử thách, những niềm vui và hạnh phúc ngọt ngào vẫn luôn hiện diện bên ta.  Một cách cụ thể, trong cuộc sống, chúng ta có bao niềm vui nơi bạn bè, gia đình và môi trường xã hội.  Hãy có cái nhìn lạc quan và trân trọng những giá trị đang hiện hữu xung quanh.  Đối với người tin Chúa, mỗi giây mỗi phút trong đời đều là những cơ hội để chúng ta nhận ra tình thương bao la của Ngài.  Mỗi hoàn cảnh đều có thể là cơ hội để ta thực thi lòng mến Chúa yêu người.  Thời gian là một quà tặng vô giá của Thiên Chúa.  Biết trân quý thời gian và sử dụng thời gian để làm những việc có ý nghĩa là nỗ lực đạt tới sự hoàn thiện.

Ông Gióp trong Cựu ước là một người đạo đức và sống đẹp lòng Chúa.  Nhưng rồi, chỉ trong một thời gian ngắn, rất nhiều điều rủi ro xảy đến cho gia đình ông, làm ông mất hết con cái cũng như cơ nghiệp.  Ông lâm vào cảnh bất hạnh chỉ trong vài ngày.  Ngay người bạn đời của ông cũng xỉ vả và bỏ ông mà đi.  Trong cơn đau khổ, ông đã suy nghĩ về sự vô nghĩa của cuộc đời: “Vừa nằm xuống tôi đã nhủ thầm: khi nào trời sáng; mới thức dậy, tôi liền tự hỏi: bao giờ chiều buông.  Mãi tới lúc hoàng hôn, tôi chìm trong mê sảng.”

Tâm trạng của ông Gióp cũng là tâm trạng của một số người trong cuộc sống của chúng ta hôm nay.  Họ luôn cảm thấy cuộc đời này vô vị.  Họ bất mãn và nhìn cuộc đời với lăng kính u buồn.  Thay vì quan tâm đến người khác, họ chỉ muốn người khác quan tâm đến mình.  Họ phàn nàn trách Chúa, trong khi Ngài ban cho họ biết bao cơ hội để cải thiện đời sống.  Tuy vậy, nếu ông Gióp nhìn cuộc đời với cái nhìn bi quan, thì ông lại không bao giờ xúc phạm Chúa.  Ông tin Ngài sẽ giải cứu ông và cuối cùng, Chúa đã phục hồi cho ông những gì đã mất, đem lại cho ông danh dự và niềm vui.  Sau những tháng ngày gian truân, ông được bù đắp xứng đáng.  Tài sản có được tăng gấp nhiều lần so với trước đó.  Lòng kiên trì phó thác nơi Chúa đã giúp ông ta nhận được muôn hồng ân Chúa ban.

Như thế, mỗi người cần nhận ra những điều tốt đẹp Chúa ban, đồng thời chu toàn bổn phận của mình trong cuộc sống.  Chúng ta hãy nghe thánh Phaolô nói về chính mình: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!  Tôi mà tự ý làm việc ấy thì mới đáng Thiên Chúa thưởng công.”  Dù bất kỳ hoàn cảnh nào, thánh nhân cũng không quên sứ mạng quan trọng là giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người.  Ông luôn tận dụng thời gian tối đa để thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, vì ông coi đó là một bổn phận Chúa trao.  Kể cả trong lao tù, thánh Phaolô cũng không quên nhiệm vụ quan trọng này.  Nhờ việc rao giảng Lời Chúa mà ông tìm được niềm vui và nghị lực, bởi ông thấy những hiệu quả của công việc ông đã làm, đó là những cộng đoàn Kitô hữu được thiết lập và phát triển (Bài đọc II).

Nếu chúng ta cảm thấy cuộc sống lặng lẽ trôi một cách vô nghĩa, là vì chúng ta chưa biết sử dụng thời gian một cách đúng đắn, nhằm để đem lại hạnh phúc cho mình và cho tha nhân.  Thời gian vẫn lặng lẽ trôi, mặc chúng ta có để ý hay không.  Dòng sông cuộc đời vẫn âm thầm chảy, dù con người thánh thiện hay tội lỗi.  Nếu chúng ta biết trân trọng thời gian như một quà tặng của Thiên Chúa, thì thời gian sẽ mang lại biết bao điều tốt đẹp, và mỗi ngày sống đều đong đầy ý nghĩa.  Thánh Máccô kể lại một ngày sống và làm việc của Chúa Giêsu.  Những cụm từ chỉ thời gian cho chúng ta thấy đó là một ngày rất bận rộn.  Buổi sáng, Chúa giảng dạy và chữa bà nhạc mẫu của ông Phêrô đang cảm sốt; buổi chiều cho đến khi mặt trời lặn, Chúa chữa rất nhiều bệnh nhân, kể cả người bị quỷ ám; sáng sớm tinh mơ, Chúa đến nơi thanh vắng để cầu nguyện với Chúa Cha.  Phần cuối của bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cuộc sống của Chúa Giêsu luôn là một cuộc lên đường.  Người không dừng lại ở một nơi, nhưng tiếp tục đi đến các làng mạc để loan báo Tin Mừng.  Lộ trình của Chúa không có điểm kết thúc.  Chúa Giêsu làm việc miệt mài, quên cả thời gian để đem niềm vui và hạnh phúc cho hết mọi người.  Những việc làm của Chúa Giêsu tập trung ở ba khía cạnh: thứ nhất là rao giảng Tin Mừng; thứ hai là chữa lành các bệnh nhân đủ mọi tật nguyền; thứ ba là cầu nguyện.  Ba khía cạnh này đã tạo nên sự quân bình trong đời sống.  Đó cũng là mẫu mực cho đời sống Kitô hữu của chúng ta.  Cần phải kết hợp khía cạnh “động” và khía cạnh “tĩnh” để tạo nên một thế quân bình.  Những giây phút tĩnh lặng trong cầu nguyện sẽ giúp chúng ta nhìn lại công việc chúng ta đang làm.  Những hoạt động hằng ngày là hoa trái của những suy tư và cầu nguyện trước nhan Chúa.

“Lương thực của Thày là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thày” (Ga 4, 3).  Noi gương Chúa Giêsu, mỗi chúng ta hãy chuyên cần làm việc, tùy theo khả năng và địa vị của mình.  Bí quyết của hạnh phúc là hãy sống vì người khác và đem cho họ niềm vui.  Càng dấn thân phục vụ anh chị em, chúng ta càng thấy cuộc đời có ý nghĩa, và như thế, chúng ta càng cảm nghiệm được niềm vui.  “Nhàn cư vi bất thiện”, cuộc sống quá nhàn rỗi sẽ làm chúng ta cảm thấy đơn điệu, lạc lõng và tìm đến những thú vui trần tục.

Chúng ta đang chuẩn bị đón xuân Tân Sửu.  Thời điểm cuối năm nhắc chúng ta nhìn lại những việc đã làm.  Cuối năm cũng là lúc nhìn lại chặng đường đã đi.  Có những con đường lệch lạc được tô vẽ bằng những màu sắc hấp dẫn nhiều người muốn đi.  Có những con đường ngay chính nhưng phải ngang qua cửa hẹp ít người muốn vào.  Người tin Chúa cần phải cẩn trọng, vì có những ngã rẽ làm chúng ta đau khổ suốt đời.

Năm Canh Tý sắp qua có biết bao biến động, do thiên tai và nhất là do đại dịch Covid-19.  Phải chăng đây là những dấu chỉ thời đại, nhắc nhở chúng ta suy tư về sự mỏng giòn của kiếp con người.  Những dấu chỉ thời gian này cũng mời gọi chúng ta có trách nhiệm hơn đối với tha nhân, với môi trường và với thiên nhiên vũ trụ.  Đừng đổ lỗi cho Chúa như một số người vô thần.  Trái lại, hãy nhận ra quyền năng của Ngài xuyên qua những hiện tượng xảy đến trong cuộc sống.

Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy có cái nhìn tích cực về cuộc sống hôm nay.  Bởi lẽ giữa những thử thách chông gai và bon chen tính toán, tình yêu Chúa vượt lên trên tất cả.  Những nhỏ nhen sẽ qua đi và tình yêu tồn tại mãi.  Đừng luôn than phiền vì những người xung quanh thiếu thiện cảm.  Bạn hãy tự xét mình xem mình có tạo được thiện cảm với họ hay không.  Đừng quá chú trọng đến những thất bại bạn gặp trên đường đời; nhưng hãy nhớ đến những thành công nho nhỏ bạn đã đạt được.  Đừng bất mãn vì cuộc đời đen bạc; hãy vui mừng vì xung quanh ta có biết bao bạn thân.  Người tin Chúa còn vui mừng vì luôn được Chúa chở che, dìu dắt thương yêu trên mọi nẻo đường đời.

Hãy yêu mến cuộc sống hiện tại và hãy chuyên tâm làm việc thiện, vì tất cả những gì tốt lành chúng ta làm ở đời này, sẽ theo chúng ta đến cõi trường sinh.  Ước gì ngay ngày hôm nay, chúng ta biết quý trọng những người xung quanh, vì họ là những người Chúa gửi đến cho chúng ta để đồng hành cùng chúng ta trên đường về quê trời.  Như thế, hạnh phúc chẳng ở đâu xa mà ở bên cạnh và xung quanh chúng ta.  Hạnh phúc không phải là một đích điểm, mà là một hành trình.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

BẢO VỆ ÁNH SÁNG

Khi dâng Đức Giêsu trong đền thờ, Đức Mẹ tự nhận mình không có quyền trên Đức Giêsu.  Đức Giêsu thuộc về Thiên Chúa.  Thiên Chúa trao cho Đức Mẹ để Đức Mẹ chăm sóc dưỡng nuôi.  Đức Mẹ dâng Đức Giê-su trong đền thờ không chỉ nhằm chu toàn lề luật, nhưng là công nhận quyền của Thiên chúa và cũng là để cầu xin Chúa chúc phúc cho Hài Nhi Giê-su.

Lễ Đức Mẹ dâng Con cũng được gọi là lễ Nến.  Việc làm phép nến nói lên Đức Giê-su là ánh sáng soi trần gian.

Cụ Si-mê-on đã nhận biết Đức Giêsu là ánh sáng.  Nhưng ánh sáng khởi đầu còn non nớt.  Mà chung quanh thì bóng đêm và cuồng phong đang thét gào, hằm hè huỷ diệt làn ánh sáng run rẩy yếu ớt vừa ló dạng.

Có bóng tối cám dỗ của loài ma quỉ thâm độc lúc nào cũng rình chờ phá hoại chương trình của Thiên chúa.  Có bóng tối độc ác của Vua Hêrôđê ghen ghét vì sợ mất quyền hành.  Có bóng tối chán nản do những thất bại trong công cuộc rao giảng.  Có bóng tối u mê của đám đông không hiểu những mầu nhiệm Nước Trời.  Có bóng tối nhút nhát của các môn đồ mau chóng bỏ cuộc.  Có cuồng phong ganh ghét của các thượng tế, luật sĩ.  Có bóng tối vô tình của quân lính hành hình.  Có bóng tối của cái chết đau đớn tủi nhục.

Đức Mẹ đã là người che chở làn ánh sáng, chống lại mọi bóng tối vây bọc.  Đức Mẹ đã ấp ủ làn ánh sáng chống lại bão gió cuồng phong.  Vì thế Đức Mẹ đã bị một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn.

Hôm nay các bà mẹ trong xứ noi gương Đức Mẹ, đến nhà thờ dâng con cho Chúa.  Khi dâng con các bà công nhận con cái là hồng ân Chúa ban tặng.  Khi dâng con các bà cũng cầu mong Chúa chúc phúc cho tương lai của con cái.

Nhìn những đôi má, những bàn tay trắng hồng của các em nhỏ đang vây quanh bàn thờ, tôi tưởng như đang thấy những mầm cây non mơn mởn vừa mới lú lên khỏi mặt đất.

Nhìn những đôi mắt long lanh, trong sáng, tôi thấy hiển hiện những làn ánh sáng xinh tươi vừa hé.

Đó là ánh sáng đức tin mà các em đã lãnh nhận ngày chịu phép rửa tội.  Đó là ánh sáng trí tuệ trinh nguyên như một tờ giấy trắng.  Đó là ánh sáng nhân đức của một linh hồn chưa vương tội lỗi.

Thế nhưng chung quanh các em có biết bao hiểm nguy rình rập.  Những cơn nắng cháy khô hạn tình người rình chực thiêu rụi mầm cây vừa hé.  Những lớp bóng tối vật chất đang tìm vây bủa ánh sáng đức tin.  Những cơn gió lười biếng đang kéo màn mây ngu muội dập tắt ánh sáng trí tuệ.  Những cơn cuồng phong sự dữ đang huy động lực lượng dập tắt ánh sáng nhân đức của linh hồn.

Các bà mẹ đang dâng con cho Chúa.  Các bà hãy bảo vệ kho tàng quý giá Chúa trao cho các bà gìn giữ chắc chắn.  Khi đương đầu với sự dữ để bảo vệ ánh sáng nơi con cái, các bà sẽ phải chịu những thương tích như Đức Mẹ.  Hãy học nơi Đức Mẹ nghệ thuật nuôi dạy con cái, để các cháu bé hôm nay được Chúa chúc phúc sẽ “càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan, càng được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến.”

Lạy Đức Ki-tô là ánh sáng soi trần gian, xin chiếu ánh sáng ân sủng vào các em nhỏ đang chờ được Chúa chúc phúc, để làn ánh sáng đức tin, ánh sáng nhân đức và ánh sáng trí tuệ Chúa đã nhóm lên trong các em ngày càng vươn cao và lan rộng.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp các bà mẹ can đảm bảo vệ ánh sáng của con cái, để ánh sáng của chúng vẫn còn sáng mãi cho đến ngày ra đón rước Chúa.

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

THIÊN CHÚA KHÔNG THỂ NÓI DỐI

Dối trá là sự dữ tai hại nhất, là tội nguy hiểm nhất, xúc phạm nặng nề nhất, và là tội không thể tha thứ.  Có lẽ thời nay chúng ta cần được nhắc nhớ chuyện này, bởi nền văn hóa hiện thời đang có nguy cơ đánh mất khái niệm về hiện thực và sự thật. Chẳng có gì nguy hiểm hơn thế.

Có một câu trong Kinh Thánh hiếm khi được trích dẫn, nằm trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Do Thái, đơn giản nói thế này: “Thiên Chúa không thể nói dối được” (Do Thái 6, 18).  Chắc chắn là thế, không thể nào khác được.  Thiên Chúa là Sự Thật, làm sao Thiên Chúa nói dối được?  Vì Thiên Chúa nói dối sẽ là chối bỏ bản tính của Thiên Chúa.  Như thế, chúng ta nói dối là đi ngược lại với Thiên Chúa.

Dối trá chính là bất kính và phạm thượng.  Nó là phỉ báng bản tính của Thiên Chúa.

Nếu nhận thức được thế, thì có lẽ gần đây, chúng ta không thật tâm với xác quyết này.  Khắp mọi nơi, từ vô số các bài đăng trên mạng xã hội, tin nhắn, blog, cho đến phát biểu của các nhân viên cấp cao trong chính phủ, công ty kinh doanh hay thậm chí trong cả giáo hội, chúng ta đều thấy một sự tách ly ngày càng xa rời hiện thực và sự thật.  Dối trá và tạo ra phiên bản sự thật của mình, bây giờ đã trở thành một thứ được xã hội chấp nhận (đến một mức độ đáng kinh sợ).

Chuyện gì đã làm thay đổi như vậy?  Chẳng phải trong bao lâu nay chúng ta vẫn không nói dối đó sao?  Trong chúng ta có ai dám nói mình chưa hề nói dối hoặc ngụy tạo thông tin theo cách này hay cách khác?  Vậy thì thời nay có gì khác thời xưa?

Cái khác là, trước thế hệ này, chúng ta vẫn còn có thể khó chịu vì sự dối trá của mình, thấy hổ thẹn và buộc phải thừa nhận mình bất lương.  Nhưng bây giờ đã không còn như thế này nữa.  Thời nay, mối quan hệ của chúng ta với sự thật đang rạn nứt đến mức độ chúng ta không còn phân biệt được, cả về đạo đức và thực tế, giữa dối trá và sự thật.  Hiện giờ, một lời dối trá chỉ đơn giản là một thể thức khác của sự thật.

Và chuyện này tác động chúng ta thế nào?  Nó là thứ chúng ta đang sống cùng, nó tác động mọi nơi mọi lúc.  Trước hết, nó phá vỡ ý thức hiện thực chung, và cả cộng đồng không còn một nhận thức luận chung, không còn ý thức thiện ác chung nữa.  Người ta không còn liên hệ với hiện thực theo cùng một cách như nhau nữa.  Sự thật với người này lại là dối trá với người khác.  Chúng ta không còn có thể xác định cái gì cấu thành một lời dối trá.

Nó không chỉ hủy hoại sự tin tưởng giữa chúng ta, mà nó còn tác hại sự ôn hòa lành mạnh và cả những đặc tính tôn giáo và luân lý của chúng ta.  Như trong một bài tôi viết cách đây vài tháng, chúng ta tin rằng có bốn đặc tính siêu việt của Thiên Chúa.  Đó là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ.  Bởi Thiên Chúa là Duy nhất, trọn vẹn và nhất quán, nên không thể nào có sự mâu thuẫn nội tại trong Ngài.  Điều này có vẻ trừu tượng và hàn lâm quá, nhưng nó lại chính là mỏ neo giữ cho chúng ta được ôn hòa lành mạnh.  Chúng ta tỉnh táo chỉ khi chúng ta luôn có thể tin rằng hai cộng hai bằng bốn.  Sự Duy nhất của Thiên Chúa chính là mỏ neo đó.  Nếu chuyện đó thay đổi, thì cái neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta sẽ mất đi.  Khi hai cộng hai không còn bằng bốn, thì chúng ta chẳng còn gì biết chắc hay đáng tin tưởng nữa.  Đấy là mối nguy hại tối cùng của tình trạng thời nay.  Chúng ta là con thuyền trôi dạt.

Mối nguy tiếp theo của dối trá là nó tác hại trực tiếp đến những người dối trá.  Fyodor Dostoevsky đã tóm gọn nó thế này: “Những kẻ dối trá với chính mình, lắng nghe lời dối trá của họ đến nỗi trở nên không thể phân biệt sự thật trong bản thân và quanh bản thân, để rồi mất đi mọi sự tôn trọng đối với bản thân và tha nhân.  Và khi không còn tôn trọng, họ chẳng còn yêu thương nữa.”  Jordan Peterson thì nói thêm: Nếu chúng ta nói dối đủ lâu “thì sẽ xuất hiện sự ngông cuồng và ý thức thượng đẳng vốn đi kèm với những lời dối trá thành công, và nó là một trong những mối nguy lớn nhất, khi có vẻ ai cũng bị lừa, ai cũng ngu ngốc trừ mình ra, nên mình làm gì cũng được, chẳng bao giờ phải trả giá.”  Và còn có câu: “Nó dễ bị tôi thao túng.  Thế nên, nó đâu đáng để tôi tôn trọng”.

Cuối cùng, là lời cảnh báo nặng nhất của Chúa Giêsu nói trong phúc âm thánh Gioan.  Ngài bảo nếu chúng ta nói dối đủ lâu, thì cuối cùng sẽ tin vào lời dối trá của mình và nhầm lẫn giữa dối trá và sự thật, và nó trở thành tội không thể tha thứ (một sự xúc phạm Thần Khí) bởi vì kẻ nói dối chẳng còn muốn được tha thứ.

Cuối cùng, dối trá phá vỡ sự tin tưởng giữa chúng ta.  Sự tin tưởng tồn tại dựa trên niềm tin rằng chúng ta đều chấp nhận rằng hai cộng hai bằng bốn, rằng chúng ta đều chấp nhận nó là hiện thực, chúng ta đều chấp nhận rằng hiện thực có thể bị bóp méo bởi một lời dối trá, và một lời dối trá là giả dối chứ không phải một thể thức của sự thật.  Dối trá hủy hoại sự tin tưởng đó.

Dối trá trong một thế giới xem nhẹ hiện thực và sự thật cũng có thể gây ra sự cô độc cho chúng ta.  George Eliot từng viết rằng: “Còn gì cô đơn hơn là không thể tin tưởng?”  Quá đúng.  Cô đơn nhất là khi không thể tin tưởng. Vậy mà thế giới của chúng ta là thế đấy.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

HÃY XUẤT KHỎI NGƯỜI NÀY

Một ông thợ ở Nadarét được mời giảng trong hội đường.

Mác-cô không cho ta biết Đức Giêsu đã giảng gì.  Chỉ biết nội dung của lời giảng thì mới mẻ, và cách giảng thì khác hẳn với các kinh sư.  Kinh sư thì giải thích Kinh Thánh với thẩm quyền.  Còn Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh với uy quyền.  Ngài chẳng phải dựa vào sách vở, vào truyền thống có sẵn.  Một cách mới mẻ và đầy uy quyền, Đức Giêsu loan báo Triều đại Thiên Chúa đã đến, triều đại của Xa-tan phải bị đẩy lui.

Quả vậy, sự hiện diện của Ngài trong hội đường ngày hôm ấy đã khiến cho thần ô uế phải chường mặt ra và khiếp sợ.  Đức Giêsu ra lệnh: “Hãy câm đi và xuất khỏi người này.”  Thần ô uế chẳng muốn từ bỏ căn nhà nó đã ở.  Nó chỉ ra sau khi đã vật vã người ấy và thét lên.  Đức Giêsu đã chiến thắng và giải phóng ta khỏi nô lệ.  Ngài khai mở Nước Thiên Chúa trên mặt đất.  Nhưng cuộc chiến với Xa-tan còn kéo dài đến tận thế.  Chúng ta phải cộng tác để Nước Chúa mau thành tựu.

Quỷ thường được vẽ như một con vật xấu xí đáng sợ.  Nếu thế thì ta rất dễ nhận ra nó, và nó cũng khó lòng cám dỗ được ta.  Trong thực tế, quỷ mang dáng dấp xinh đẹp và hấp dẫn.  Nó tấn công ta bằng những thủ đoạn tinh tế, ngọt ngào.  Nó nắm rõ điểm yếu nhất của từng cá nhân, tập thể.  Xưa nay, người bị quỷ nhập thực sự chắc không nhiều.  Nhưng hẳn nhiều người bị quỷ lèo lái mà không biết.

Kitô giáo không bịa ra quỷ để hù dọa tín đồ.  Quỷ là những mãnh lực xấu xa, cố kéo ta xa Chúa.  Chúng chống lại Thiên Chúa và hạnh phúc đích thực của con người.  Quỷ phỉnh phờ con người bằng thứ hạnh phúc giả tạo.  “Nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, tôi sẽ cho tất cả.”  Làm gì có hạnh phúc vững bền khi ta quay lưng với Thiên Chúa!  Chúng ta tự hào mình không bị quỷ ám.  Nhưng thế giới hôm nay vẫn bị ám ảnh bởi nhiều thứ khác: tham vọng và dục vọng, sợ hãi và oán thù, ích kỷ và hưởng thụ…

Có những điều vốn không xấu cũng trở thành ngẫu tượng: tiền bạc, tiện nghi, thời trang, công việc làm ăn, phim ảnh…  Cái ám nào cũng làm ta bớt tự do, bớt là mình.  Cái ám từ ngoài vào, ở lại trong ta và không chịu ra.  Cái ám khi trở thành tuyệt đối thì làm ta trở nên ô uế.  Nó bắt ta phải nghĩ, phải sống như theo một lập trình.  Ta không thể làm khác, không thắng được bản năng và thói quen.  Ta thấy mình bất lực, nên cần Đấng Thánh của Thiên Chúa.

“Hãy xuất ra khỏi người này”: Hôm nay Chúa muốn nói với tà thần ở trong tôi như vậy.

Tôi cầu xin Ngài trục xuất khỏi tôi điều gì?

“Hãy xuất ra khỏi thế giới này”: Nhờ ơn Chúa, tôi cũng phải ra lệnh cho ma quỷ như vậy.

**********************************

Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua
vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để tin;
vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;
vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;
vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;
vẫn có những người bị sống bên lề xã hội, dù không phải là người phong…
Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con Cha.
Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chính bản thân chúng con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu (Trích trong ‘Manna’)

VƯỢT LÊN CÁC SAI LẦM VÀ ĐIỂM YẾU

Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa, và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được.

Tác giả Michael Buckley đã viết những lời này và đó là cả một thách thức quan trọng.  Chúng ta luôn biện minh cho những chuyện mà chúng ta không cần phải biện minh, và luôn cố gắng bào chữa cho những chuyện không bào chữa được.  Chuyện này chuyện kia đều không cần thiết, cũng chẳng ích lợi gì.

Chúng ta có thể học bài học này từ cách Chúa Giêsu đối xử với những người phản bội Ngài.  Ví dụ điển hình là với Thánh Phêrô, người được Chúa chọn đặc biệt, và được Chúa đặt là hòn đá tảng của cộng đoàn tông đồ.  Thánh Phêrô là người trung thực, với tấm lòng chân thành như trẻ thơ, ngài có đức tin sâu đậm, và hơn người khác, ngài hiểu được ý nghĩa sâu xa Chúa Giêsu là ai, và ý nghĩa giáo huấn của Chúa Giêsu.  Đúng vậy, khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ (còn các anh, các anh nói tôi là ai?), Thánh Phêrô trả lời: “Ngài là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống.”  Nhưng vài phút sau lời tuyên xưng đó, Chúa Giêsu đã phải sửa lại quan niệm sai lầm của Thánh Phêrô về ý nghĩa của điều này, và Ngài đã quở trách ông vì ông muốn làm chệch hướng chính sứ mệnh của Ngài.  Nghiêm trọng hơn, chính Thánh Phêrô trong giây phút huyênh hoang đã nói, dù ai phản bội Chúa Giêsu, nhưng ông thì không, vậy mà ông đã chối Chúa ba lần trong giây phút khó khăn nhất của Chúa Giêsu.

Sau đó, chúng ta biết cuộc trao đổi của Chúa Giêsu với Thánh Phêrô về chuyện phản bội này.  Điều quan trọng là Chúa Giêsu không đòi hỏi Thánh Phêrô phải giải thích, phải xin lỗi và cũng không nói những câu đại loại như: “Anh thực sự không phải là chính anh!  Tôi hiểu ai ở trong tình trạng này sẽ rất hãi sợ!  Tôi hiểu nỗi sợ hãi có thể làm cho anh làm như vậy!”  Không có những lời này.  Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa, và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được.  Trong sự phản bội của Thánh Phêrô, cũng như trong sự phản bội của chính chúng ta, khi nào cũng có hai khía cạnh này, có thể bào chữa và không thể bào chữa.

Vậy Chúa Giêsu làm gì với Thánh Phêrô?  Ngài không đòi Thánh Phêrô phải giải thích, cũng không đòi phải xin lỗi, cũng không nói… không sao, không bào chữa cho Phêrô, cũng không nói mình yêu thương Thánh Phêrô.  Thay vào đó, ngài hỏi: “Con có yêu Thầy không?” và tất cả mọi sự tiến đến đàng trước từ đó.

Mọi sự tiến đến đàng trước từ đó.  Mọi thứ đều có thể tiến lên sau lời thú nhận yêu thương, nhất là lời thú nhận yêu thương sau khi phản bội.  Lời xin lỗi là cần thiết (vì đó là nhận lỗi lầm và điểm yếu để vực tâm hồn của người bị phản bội lên, nhưng lời xin lỗi không hữu ích.  Nếu hành động đó không phải là phản bội, thì không cần bào chữa; nếu là phản bội thì không lời xin lỗi nào có thể tha thứ được.  Một lời xin lỗi hay một cố gắng xin lỗi để nhắm đến hai mục đích đều không có cái nào tốt.  Đầu tiên, nó dùng để hợp lý hóa và biện minh, không cái nào hữu ích cho kẻ phản bội hay người bị phản bội.  Điều thứ hai, nó làm suy yếu lời xin lỗi và làm cho lời xin lỗi trở nên không tinh sạch và trọn vẹn, do đó không thể xóa bỏ hoàn toàn sự phản bội khỏi tâm hồn người đã bị phản bội; và vì thế, đây không phải là lời nói thể hiện tình yêu cũng hữu ích như sự công nhận rõ ràng, trung thực về sự phản bội của chúng ta, và một lời xin lỗi không cố gắng bào chữa cho sự yếu đuối và phản bội của mình.

Điều mà tình yêu đòi hỏi khi chúng ta yếu đuối là chân thành thừa nhận, không bào chữa lý luận về sự yếu đuối của mình, đồng thời thốt lên lời nói từ trái tim: “Tôi yêu bạn!”  Mọi sự có thể tiến lên từ đó. Quá khứ và sự phản bội của chúng ta không được xóa bỏ, cũng không được bào chữa; nhưng, trong tình yêu, chúng ta có thể sống vượt lên chúng.  Xoá bỏ, bào chữa hoặc hợp lý hoá là không sống trong sự thật; thật không công bằng cho người bị phản bội vì người đó phải gánh các vết sẹo và hậu quả.

Chỉ có tình yêu mới giúp chúng ta vượt lên yếu đuối và phản bội và đó là nguyên tắc quan trọng không chỉ đối với các trường hợp trong cuộc sống khi chúng ta phản bội và làm tổn thương người thân yêu, mà còn với sự thông hiểu của chúng ta về cuộc sống nói chung.  Chúng ta là con người, chúng ta không phải là thần thánh, và do bẩm sinh, vì thế cơ thể tâm trí chúng ta bị dày vò với các yếu đuối và bất cập thuộc đủ mọi loại.  Như Thánh Phaolô đã nói trong thư gởi tín hữu Rôma, không bao giờ chúng ta đủ tốt.  Điều tốt chúng ta muốn làm thì chúng ta không làm, điều xấu chúng ta không muốn làm thì chúng ta lại làm.  Dĩ nhiên một số điều này có thể hiểu được, có thể bào chữa được, cũng như một số điều là không thể bào chữa, vì chúng ta là người và một phần điều này đã là một bí ẩn cho chính chúng ta.  Dù sao đến tận cùng, không có lời biện minh hay lời bào chữa nào là cần thiết (hoặc hữu ích).  Chúng ta không tiến về phía trước trong quan hệ với Chúa hoặc với người bị chúng ta làm tổn thương mà nói: “Bạn phải hiểu!  Trong hoàn cảnh này, tôi làm gì khác được?  Tôi không muốn làm bạn tổn thương, chỉ là tôi quá yếu đuối để chống lại!”  Những câu này không hữu ích, cũng không cần thiết. Mọi thứ tiến lên khi chúng ta, không bào chữa, chúng ta chấp nhận sự yếu đuối và chúng ta xin lỗi vì đã phản bội.  Giống như Thánh Phêrô, khi Chúa Giêsu hỏi ông ba lần: “Con có yêu Thầy không?” từ trong trái tim, chúng ta phải nói: “Chúa đã biết tất cả, Chúa đã biết con yêu Chúa như thế nào.”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

CÚ NGÃ NGỰA LỊCH SỬ

Đọc lại cuộc đời Thánh Phaolô, ta nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.  Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.

Đọc Công vụ Tông đồ từ chương 8 trở đi, ta sẽ bắt gặp một Saolô, ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem.  Saolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Têphanô và rong ruổi mọi đường Đamát truy lùng các Kitô hữu.

Được ơn trở lại qua cú ngã ngựa trên đường Đamat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô, Tông Đồ dân ngoại.  Từ đây cuộc đời của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca.  Thiên anh hùng ca của vị Tông Đồ đã sống và đã chết cho Đức Kitô.

Cuộc sống bôn ba vì Nước Trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô?  Phải chăng là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo?…  Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).

Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã viết rằng: nét đẹp nhất nơi Phaolô là cú ngã ngựa lịch sử.  Cuộc đời Thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp.  Chẳng hạn khi ngài xuất thần thì được đưa lên tầng trời thứ ba; khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hylạp; hay như khi Ngài lênh đênh trên biển đi tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa.  Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ?  Thưa vì đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai hình ảnh ấy dường như hội tụ lại trong chân dung thánh Phaolô ngã ngựa mà Giáo hội mừng kính hôm nay.

1. Cú ngã ngựa chia đôi cuộc đời

– Về danh xưng, nửa đời trước là Saolô với một câu hỏi “tại sao?” đang cưỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả biết bao nhiêu linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

– Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị Tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi.”

– Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô, và tự ý đến xin các Thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những người Kitô hữu, và bất kể sự nguy hại tính mạng do những người Biệt phái cũ của ông.

– Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ khi gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

– Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng những mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi.”

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời Thánh Phaolô.  Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ con người, và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa. (x Bài giảng Chúa nhật, Tổng GP Sàigòn, tháng 01. 2008).

2. Cú ngã ngựa, một dấu ấn không phai

Biến cố ngã ngựa đã ghi dấu đậm nét trong cuộc đời Phaolô.  Sách Công vụ Tông đồ kể lại: thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông.  Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó.  Từ đó trở đi, Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô.  Từ đó trở đi, chỉ có Chúa Kitô là đáng kể.  Khi đã biết Chúa Kitô thì “Những điều kể được như lợi lộc cho tôi đó, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Đức Kitô.  Mà chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự hết thảy là thua lỗ, là bất lợi cả, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi.  Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô, và được thuộc về Ngài, không có sự sông chính của riêng tôi, sự công chính nại vào Lề luật, song là sự công chính nhờ vào lòng tin của Đức Kitô…” (Pl 3, 7-9).  Từ đó trở đi, Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất, bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người: “vì anh em, phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô, thì đã được mặc lấy Đức Kitô: không còn Do thái hay Hy lạp; không còn nô lệ hay tự do; không còn nam hay nữ; vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu” (Gal 3, 27-28).  Vì Đức Kitô là “tất cả mọi sự và trong mọi người” (Cl 3, 11).  Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô.  Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cr 9, 3-18; 2Cr 11, 8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô.  Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những “… lao tù đòn vọt, bao lần suýt chết, năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi”; phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi “phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng” (2Cor 11, 23-27).  Phaolô ra vào tù nhiều lần.  Có lần Ngài viết từ ngục thất cho Timôthê, người môn đệ có khi không khỏi nao núng: “anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, là kẻ bị tù vì Ngài.”  Phaolô không hổ thẹn vì tôi biết tôi đã tin vào ai… (2 Tim 1, 8-12).  Vì đức Kitô “tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi, nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” (2Tim 2, 9).  Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2Cor 12, 9).  Không gì có thể làm nao núng lòng tin ấy “chúng tôi bị dồn ép mọi mặt nhưng không bị đè bẹp; hoang mang nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt” (2Cor 4, 8-9).   Phaolô nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1Cor 5,14).  Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài “tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi” (Gal 2, 20).

3. Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu

Biến cố ngã ngựa đã chia đôi cuộc đời Thánh Phaolô.  Từ một kẻ thù, Chúa đã biến ngài thành một người bạn, một người tình.  Từ một người đi lùng bắt những Kitô hữu, Chúa đã biến ngài trở thành người rao giảng về Người và sẵn sàng chết vì Người.

Phaolô đã viết những lời thật cảm động: “Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô.  Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….  Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (x. 2 Tm 4, 6-8; Rm 8, 18-19. 32. 33. 38. 39).

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp thấy rất nhiều những cú “ngã ngựa.”  Có những cú “ngã ngựa” trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có những cú “ngã ngựa” trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú “ngã ngựa” trong đời sống chiến đấu nội tâm; và có những cú “ngã ngựa” trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được.  Hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh.  Ăn trái cấm là một thất bại của Ađam – Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người.  “Tội hồng phúc” là thế.  Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang.

Và cú “ngã ngựa” của Thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt cuộc đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị Tông đồ dân ngoại.

Như vậy người ngã ngựa không chỉ nhìn vào mình để cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sánh niềm tin.  Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy.  Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

Lm Nguyễn Hữu An