THINH LẶNG VÀ CẦU NGUYỆN

Nếu không biết cách cầu nguyện thì bạn sẽ khó mà cầu nguyện được.  Nên cần phải học cho biết cách cầu nguyện.  Trước hết là phải nhờ đến sự thinh lặng.  Chúng ta không thể đặt mình trước sự hiện diện của Chúa nếu chúng ta không tập luyện thinh lặng bên trong cũng như bên ngoài.

Không dễ mà đạt được sự thinh lặng nội tâm, nhưng đây là điều không thể thiếu.  Chỉ trong thinh lặng ta mới tìm được sức mạnh và được thực sự nên một với Chúa: sức mạnh của Chúa cần phải trở thành của ta để ta có thể hoàn thành mọi sự như ý Chúa muốn; cũng thế, mọi tư tưởng, mọi lời cầu nguyện, mọi hành động và toàn thể cuộc sống của ta cần phải được nên một với tư tưởng, lời cầu nguyện, hành động và cuộc sống của chính Chúa.  Sự hiệp nhất này là hoa trái của cầu nguyện, khiêm tốn và tình yêu.

Chúa chỉ có thể ngỏ lời với ta khi trái tim của chúng ta thinh lặng.  Nếu bạn tự đặt mình trước mặt Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Chúa sẽ nói với bạn.  Và khi đó bạn sẽ biết rằng bạn chẳng là gì cả.  Chỉ khi bạn biết mình chỉ là hư vô, là trống rỗng, thì Chúa mới có thể lấp đầy bạn bằng chính Ngài.  Những linh hồn cầu nguyện vĩ đại là những linh hồn biết thường xuyên thinh lặng thẳm sâu.

Sự thinh lặng giúp ta có cái nhìn khác về mọi sự.  Chúng ta cần có sự thinh lặng để có thể thấu hiểu các tâm hồn.  Điều cốt yếu không phải là những lời chúng ta nói, nhưng là những lời Chúa nói – những lời Ngài nói với chúng ta, và những lời Ngài nói qua chúng ta.  Trong sự thinh lặng như thế, Ngài lắng nghe chúng ta; trong sự thinh lặng như thế, Ngài nói với linh hồn ta, và chúng ta nghe được tiếng Ngài.

Hãy lắng nghe trong thinh lặng.  Khi trái tim bạn bị ngập tràn trong hàng triệu nỗi niềm, bạn không thể nghe được tiếng Chúa trong tim bạn.  Nhưng từ lúc bạn đặt mình lắng nghe được giọng nói của Chúa trong con tim bình an, con tim của bạn sẽ tràn ngập Thiên Chúa.  Điều này đòi hỏi nhiều hi sinh.  Nếu bạn đã nghĩ đến và muốn cầu nguyện, bạn phải sẵn sàng, không trì hoãn.  Ngay từ đầu, nếu bạn không quyết tâm, bạn sẽ không đạt đến tột đỉnh của sự cầu nguyện là chính sự hiện diện của Chúa.

Vì thế ngay từ đầu phải tập luyện cầu nguyện cách hoàn hảo: Phải đặt mình lắng nghe tiếng Chúa trong con tim; và trong sự tĩnh lặng của trái tim chúng ta, Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta.  Rồi khi con tim ta đã đạt được sự tròn đầy như thế, miệng lưỡi ta sẽ thốt ra những điều cần phải nói với Chúa.  Sự nối kết sẽ vận hành như thế.  Trong thinh lặng của con tim chúng ta, Thiên Chúa nói, và chúng ta chỉ lắng nghe Ngài nói thôi.  Khi trái tim bạn đã đạt được sự tròn đầy vào lúc nó thấy mình được tràn đầy Thiên Chúa, tràn đầy tình yêu, tràn đầy lòng thương xót, tràn đầy niềm tin, nó sẽ thúc đẩy môi miệng bạn lên tiếng nói với Chúa.

Hãy nhớ rằng, trước khi nói, bạn cần phải lắng nghe; và chỉ khi đó, từ tận đáy sâu của một con tim đang triển nở, chúng ta có thể nói với Chúa và Thiên Chúa lắng nghe chúng ta.

Những nhà chiêm niệm, những bậc tu hành của mọi thời đại, mọi tôn giáo, luôn tìm kiếm Thiên Chúa trong thinh lặng, trong sa mạc tịch liêu, trong rừng vắng, trên núi cao…  Chính Chúa Giêsu cũng đã sống 40 ngày trong tịch liêu trọn vẹn, dành những khoảng thời gian dài, lòng bên lòng với Chúa Cha, trong thinh lặng của đêm đen.

Chúng ta cũng được mời gọi dành riêng ra những khoảng thời gian đặc biệt để đi vào thinh lặng thẳm sâu trong cô tịch với Thiên Chúa.  Một mình với Chúa, không sách vở, dẹp qua mọi tư tưởng, mọi kỷ niệm, hoàn toàn trống rỗng để ở trong sự hiện diện của Chúa – chờ đợi Chúa trong thinh lặng, trống rỗng và bất động.

Chúng ta không thể tìm thấy Chúa trong ồn ào, náo động.  Hãy ngắm nhìn thiên nhiên: cây cối, hoa cỏ, những cánh đồng lớn lên trong tĩnh lặng; tinh tú, mặt trăng, mặt trời chuyển động trong tĩnh lặng.  Điều cốt yếu không phải là những gì chúng ta có thể nói, nhưng là những điều Thiên Chúa nói với chúng ta, những điều Thiên Chúa nói với người khác thông qua chúng ta.  Trong thinh lặng, chúng ta lắng nghe.  Trong thinh lặng, Chúa nói với linh hồn chúng ta.  Chúa ban cho chúng ta đặc quyền nghe được giọng nói của Ngài trong thinh lặng:

thinh lặng của con mắt,
thinh lặng của lỗ tai,
thinh lặng của môi miệng,
thinh lặng của tinh thần.
Trong thinh lặng của con tim chúng ta, Thiên Chúa lên tiếng nói.

Chúng ta cần có sự tĩnh lặng trong trái tim để có thể nghe được tiếng Chúa ở khắp mọi nơi: tiếng Chúa nơi cánh cửa khép lại, tiếng Chúa nơi những người đang yêu cầu chúng ta, tiếng Chúa nơi chim chóc, cây cối, muông thú…

Nếu chúng ta biết lắng nghe trong thinh lặng, chúng ta sẽ cầu nguyện cách dễ dàng.  Càng ngày càng có nhiều những điều bép xép, lải nhải, kể lể được nói ra, viết ra.  Đời cầu nguyện của chúng ta sẽ bị tổn thương mỗi ngày một nhiều hơn khi trái tim của chúng ta không có được sự thinh lặng.

Tôi cẩn thận gìn giữ sự thinh lặng trong tim tôi để từ trái tim thinh lặng, tôi nghe được những lời an ủi của Chúa.  Và trong sự tròn đầy của con tim, đến lượt tôi, tôi an ủi Chúa nơi những người nghèo khổ.

Vi Hữu
Chuyển ngữ từ: Il n’y a pas de plus grand amour (p. 22-25)
Nguồn: tgpsaigon.net

CHÚA GIÊSU DẠY TA CÁCH TIÊU TIỀN

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cập đến một thứ rất quen thuộc và được sử dụng hằng ngày trong cuộc sống đó là “tiền.”  Kết quả của việc làm, tương quan đổi chác là “tiền.”  Chẳng ai muốn nói tới tiền, vì đó là một chủ đề cấm kỵ.  Tiền vừa là thứ được yêu thích, và cũng là thứ gây mặc cảm.  Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta cách sử dụng đồng tiền khi kiếm được.

Tiền chỉ là một mảnh giấy, một vật làm bằng kim loại vô tri vô giác, nhưng nó đã được chọn làm tương giao đổi chác, chi phối chúng ta quá nhiều.  Tiền giữ một vị trí quan trọng, khiến nhiều bậc thang có giá trị bị đảo lộn.

Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây ra tội lỗi, nhưng thánh Phaolô nhấn mạnh rằng: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham thích tiền bạc” (1Tm 6,10).  Vì ham thích tiền mà một số người từ bỏ đức tin.  Lòng tham lam và thái độ tôn thờ tiền bạc khiến người ta trở thành kẻ bất lương.   Bất lương đưa đẩy người ta đến hành động bất chấp và bất chính, khiến anh em gia đình bất hòa, làm xã hội bất công.  Hậu quả là, mọi người chịu cảnh sống bất an, bất mãn, bất bình và bất hạnh, rồi nhanh bị… bất tỉnh!

Bài đọc trích sách tiên tri Amos cho thấy vì tiền mà người ta bất chấp tốt xấu.   Người ta sẵn sàng làm ăn bất chính lừa gạt mua thừa bán thiếu, coi thường giá trị con người, hạ xuống chỉ như món hàng, sánh bằng đôi giầy đôi dép, thậm chí có người còn coi tiền hơn cả những giá trị tôn giáo cao quí nên họ chỉ mong cho ngày lễ mau qua để còn kiếm tiền (x. Am 8, 4-7).

Bài Phúc Âm cho thấy vì tiền mà viên quản lý được chủ tín nhiệm đã trở thành kẻ bất lương, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, bất chấp sự thật, gian giảo đổi trắng thành đen, viết sai văn tự, miễn là có lợi cho mình. Đến ông chủ cũng phải thốt lên tay này thật khôn ngoan quỷ quyệt!

Cách sử dụng của cải gian dối

Chúa Giêsu đưa ra ví dụ này chắc chắn không phải để khuyến khích sự xảo quyệt hay bất lương, không cần sống trung thực.  Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta: Hãy khôn ngoan và trung thực, biết chọn điều tốt và không xấu.  Chúa muốn mời gọi chúng ta hãy sống khôn khéo!  Với trí thông minh và sự khôn khéo giúp chúng ta chiếm hữu được nước trời bằng những đồng tiền gian dối.

Anh quản lý có phần thông minh nhưng lại bất lương, anh bị tố cáo là đã phung phí tài sản của chủ, và sắp bị sa thải.  Ðối mặt với một tình cảnh bị đuổi việc, ý thức mình không thể làm được các việc khác, về nhà “cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi” anh tìm ra một lối thoát.  Với sự khôn ngoan nhưng xảo quyệt, anh quyết định lấy cắp lần cuối.  Anh đã làm gì?  Anh gọi các con nợ của chủ lại và giảm các khoản nợ mà họ đã nợ ông chủ trước đó.  Chính điều này giúp anh biến họ thành bạn bè và vì thế mà được đền ơn.  Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” (Lc 16,9).

Có người hỏi, khi Chúa Giêsu nói: “Hãy dùng tiền của mà mua lấy bạn bè” có nghĩa là gì, và việc sử dụng của cải mà Chúa Giêsu đã nói liên quan gì đến “đời sống vĩnh cửu”?  Thưa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta kết bạn bằng tiền của.  Chúa chỉ cho chúng ta biết dùng tiền của để thương giúp tha nhân vì con người thì quí hơn mọi thứ mà chúng ta có thể chiếm hữu, dùng tiền mà mua lấy bạn hữu để chính họ sẽ đền ơn mà mời đón chúng ta vào nước trời, dùng tiền của sang giàu mà xây dựng tình huynh đệ và đoàn kết, thì sẽ không chỉ chiếm hữu được Thiên Chúa mà còn nối kết được với tha nhân trong tình sẻ chia những gì Chúa đặt để trong tay chúng ta.

Câu hỏi tự vấn lương tâm của viên quản lý bất lương “Mình phải làm gì đây?” (Lc 16, 3) khiến chúng ta suy nghĩ.  Ðối diện với những thiết sót, sai lầm và thất bại của chúng ta, Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta luôn có thời gian và cơ hội để sửa điều ác bằng cách làm điều thiện.  Ai đã từng làm cho người khác phải đau khổ, hãy làm cho ai đó hạnh phúc.  Ai đã từng chiếm đoạt hoặc tham ô, hãy giúp đỡ người thiếu thốn.  Làm như vậy, chúng ta sẽ được Chúa ca ngợi, bởi vì chúng ta đã hành động khôn khéo, nghĩa là với sự khôn ngoan của người nhận biết mình là con cái Thiên Chúa và dám đánh liều đời mình vì Nước Trời.

Vì thế, chúng ta hãy xin Ðức Trinh Nữ rất thánh cho chúng ta biết trở nên khôn ngoan lựa chọn những bảo đảm của sự sống đời đời, chứ không phải thành công thế trần; để đến ngày phán xét chung cục, những người đã từng cần đến sự giúp đỡ của chúng ta chứng thực rằng chúng ta đã chiêm ngưỡng và phục vụ Thiên Chúa.  Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU THỜI GIAN

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện.  Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không?”  Vị mục sư già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ.  Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha.  Nó không còn sức lực… Giờ cha vật lộn với Chúa.” “Với Chúa!” Kazantzakis kinh ngạc kêu lên.  “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?”  “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta.”

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời.  Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già.  Sự chín chắn luôn luôn tiến triển. Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau.  Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.

Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồ cốt yếu.”  Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta.

Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình.  Trong thời gian này, chúng ta gắng gỗ gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình.  Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu.  Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai?  Tôi sẽ làm gì với đời mình?  Ai thương yêu tôi?  Ai sẽ kết hôn với tôi?  Tôi nên sống ở đâu?  Tôi nên làm gì?  Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối.  Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi.  Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta.  Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn.  Đây là những năm tháng sinh sôi và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu.  Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn?  Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín?  Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình?  Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ.  Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn.  Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình.  Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm?  Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác?  Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

THƯƠNG XÓT VÀ NIỀM VUI

Đề tài lòng thương xót của Thiên Chúa rất phong phú, dễ đánh động con tim và tâm tình đạo đức của người tín hữu.  Vì thế mà từ khi Thánh Gioan Phaolô II khởi xướng và cổ võ hình thức cầu nguyện kính Lòng Chúa thương xót, trong Giáo Hội đã có biết bao người tham gia cầu nguyện và thực tế họ đã nhận được rất nhiều ơn lành.

Tuy vậy, trong quan niệm của nhiều người, cầu nguyện tôn vinh lòng thương xót Chúa đi liền với xin ơn chữa lành, cho nên người ta đến cầu nguyện chỉ với mục đích được chữa khỏi bệnh tật, nhất là những bệnh nan y.  Có người đã mất đức tin và bỏ cầu nguyện vì họ xin ơn chữa lành mà không được nhận lời.  Thực ra, việc tôn kính lòng thương xót của Thiên Chúa không dừng lại ở những lời kinh, mà phải giúp cho con người thương xót tha nhân, tức là thực thi lòng thương xót trong cuộc sống hằng ngày.  Nhận ra lòng thương xót của Chúa, mỗi chúng ta cũng phải có trái tim nhân hậu đối với đồng loại, để lòng thương xót như một dòng chảy yêu thương, đem an vui cho mọi người.

Thánh Luca đã tổng hợp ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa ở chương 15.  Mỗi dụ ngôn mang một sắc thái khác nhau, nhưng cả ba đều mang nội dung nói về tình thương bao la của Chúa.  Trong ba dụ ngôn này, dưới ngòi bút của tác giả, Thiên Chúa rộng rãi bao dung đến mức “phung phí” lòng thương xót.  Quả vậy, một con chiên lạc so với 99 con còn lại, một đồng bạc bị mất so với 9 đồng bạc vẫn còn thật chẳng đáng là bao, nhưng Chúa vẫn để ý tới và tìm cho bằng được.  Khác với lối suy nghĩ của chúng ta.  Nhiều khi chúng ta sẵn sàng bỏ đi những điều nhỏ mọn, nhưng Chúa lại quan tâm đến từng chi tiết.

Việc tìm thấy một con chiên hoặc một đồng bạc, xem ra đơn giản, mà lại là niềm vui lớn lao của người sở hữu chúng.  Đó không chỉ là niềm vui của cá nhân, nhưng là niềm vui của cả một tập thể.  Đó không chỉ là niềm vui dưới đất, nhưng là niềm vui trên trời.  Chúa Giêsu đã nói rõ, một người trở về không chỉ là niềm vui của con người, nhưng là niềm vui của Thiên Chúa và triều thần thánh trên trời.  Niềm vui ấy thật lớn lao, làm cho người mục tử quên hết mọi mệt nhọc trong việc tìm kiếm.  Cả ba trường hợp, người mục tử, người phụ nữ và người cha, đều mời hàng xóm láng giềng đến để chia vui.  Người cha trong dụ ngôn còn thết đãi cả làng với thịt con bê mà ông đã chăm sóc vỗ béo.  Ông tin chắc có ngày cậu con trai hoang đàng sẽ trở về.  Vì vậy, ông chuẩn bị sẵn nhẫn, giày, quần áo và những gì cần thiết cho một bữa tiệc.  Những đồ trang sức này thường được dùng cho một tiệc cưới.  Ngày cậu con trai trở về, cũng là một tiệc cưới, là niềm vui không chỉ cho người cha mà cho cả xóm làng.  Niềm vui được nhân lên khi được chia sẻ với người khác.

Tuy vậy, niềm vui ấy xem ra không được trọn vẹn, vì theo thói đời, vẫn luôn có những ghen tỵ thù ghét.  Đó là tâm trạng của người anh cả.  Anh nổi giận vì sự trở về của người em.  Có thể anh sợ người em sẽ chiếm gia tài.  Lòng thù hận và tư lợi ngăn cản không cho người khác phục thiện.  Con đường trở về, vừa phải gạt bỏ những mặc cảm thành kiến, vừa phải đối diện với những thù hận của chính những người thân.  Lộ trình phục thiện xem ra đơn giản mà cũng lắm gian truân.  Có những người vì lỡ lầm mà sa vào cảnh tù tội, sau khi mãn hạn tù, trở về quê hương muốn sống như một người bình thường cũng không được yên, vì con mắt dò xét và thành kiến của những người xung quanh.  Những ngôn từ của người anh cả trong Tin Mừng cho thấy anh đã nung nấu mối hận thù.  Anh không còn coi em mình là huyết nhục, mà như người dưng, thậm chí như kẻ thù.  Vì thế, việc người em trở về làm cho anh thấy khó chịu.

Thiên Chúa là Cha của người tốt cũng như của người xấu.  Ngài xót thương và không giáng phạt dân Do Thái phản nghịch (Bài đọc I).  Vòng tay của Ngài vừa giang rộng đón người con thứ, vừa choàng lên vai của người con cả để anh cảm nhận được lòng xót thương.  Ngài không muốn loại trừ ai, bất kể người đó như thế nào.  Nước mắt của người cha nhỏ xuống khi người con thứ ra đi.  Dòng lệ ấy cũng tuôn chảy khi người con cả bất bao dung với em mình.  Trước khi trở lại, Phaolô là người hăng say tìm giết các Kitô hữu.  Cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu trên đường đi Damas đã biến đổi cuộc đời của ông Phaolô là chứng nhân của lòng Chúa thương xót (Bài đọc II).  Ước chi mỗi chúng ta cũng hãy trở nên chứng nhân của lòng Chúa thương xót, để rồi, “nơi đâu có cộng đoàn tín hữu, là ở nơi đó có thành trì của lòng xót thương” (Đức Thánh Cha Phanxicô).

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THẬP GIÁ TRONG ĐỜI

Ở đời người ta vẫn thường nói: Tu là cõi phúc – tình là giây oan.  Thực ra, cuộc đời nào cũng có thập giá.  Thập giá như là lẽ sống của cuộc đời.  Có thập giá thoáng qua và cũng có những thập giá liên lỉ dài lâu.  Có thập giá nhẹ nhàng mà mình tự nguyện vác lấy nhưng cũng có thập giá nặng nề mà mình phải gánh giùm tha nhân.  Có thập giá khiến ta mệt mỏi nhưng cũng có thập giá khiến ta vui mừng.

Xem ra thập giá là tất yếu trong cuộc sống.  Con người không thể trốn chạy thập giá.  Và dường như chúng ta vẫn khuyên bảo nhau hãy can đảm đón nhận vì là ý Chúa, vì là điều tốt cho mình và cho tha nhân.

Tôi đã nghe người ta an ủi một người mẹ có đứa con duy nhất đang bị ung thư, với lời lẽ hết sức phó thác: “Thiên Chúa yêu thương chị lắm cho nên Ngài mới gởi Thánh Gía để thử thách chị đấy!”

Hoặc gặp một người bạn đang bị thất nghiệp, nợ nần chồng chất, vợ bệnh, con đau.  Chúng ta thường khích lệ họ: “Người càng giỏi thì Chúa lại càng gởi khó khăn để mình vượt qua.  Thế nên đừng sợ!”

Khuyên người thì dễ nhưng bản thân khi phải đối diện với thập giá lại không dễ dàng.  Vì thập giá là đau thương, là tủi hận, nên đâu dễ đón nhận.  Đón nhận thập giá là chấp nhận từ khước sự an nhàn, hạnh phúc cho bản thân để sống cho Chúa và đồng loại.  Đón nhận thập giá là đón nhận sự ô nhục, và khinh khi của đồng loại.

Có lẽ chúng ta vẫn nhớ hình ảnh Thầy Chúa Giêsu vác thập giá lên đỉnh đồi Calve và chấp nhận chết treo trên cây thập giá.  Quả thật Thập giá là “một ô nhục đối với người Do thái và; là điều điên rồ đối với dân ngoại giáo” (1Cr 1,23).

Thế mà Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta vác lấy cái ô nhục đó!  Vì đối với Thiên Chúa đó là dấu chỉ của sự chiến thắng “vì qua đau khổ mới tiến tới vinh quang.”  Và thập giá đối với Chúa còn có giá trị cứu độ vì “khi nào Ta bị giương cao lên, Ta sẽ kéo mọi người lên.”

Có lẽ chúng ta cũng thắc mắc: “Thiên Chúa gửi thập giá hay thử thách đến cho tôi để làm gì vậy?”  Điều này chúng ta cũng phải hỏi: “Tại sao người ta cứ phải trải qua những kỳ thi, những cuộc trắc nghiệm, khảo hạch,… rồi mới lãnh được bằng tốt nghiệp trung học, đại học, mới được công nhận là bác sĩ, giáo sư, luật sư?”

Như vậy, thập giá là nhịp cầu để cho ta tiến lên và chắc chắn sẽ trưởng thành hơn khi vượt qua thập giá.  Hơn nữa, thập giá còn cho ta được thông phần vào sự thương khó của Chúa để cứu độ bản thân và anh em.  Khi chúng ta đón nhận thập giá trong đời là dịp để chúng ta dâng đau khổ hầu xin Chúa tha thứ những hình phạt cho bản thân chúng ta.  Và dâng hy sinh đau khổ để xin Chúa nguôi cơn thịnh nộ giáng xuống địa cầu vì tội lỗi nhân loại.  Như vậy, chúng ta đón nhận thập giá là vì Chúa và vì nhân loại.  Và phải có cái nhìn như vậy chúng ta mới có thể vui vẻ lạc quan ngay cả khi khốn khó tư bề.

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta yêu mến người bên cạnh, người đồng hành luôn gây gỗ với chúng ta, có khi còn luôn thù ghét chúng ta?

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta hy sinh chu toàn bổn phận hằng ngày để đem lại hạnh phúc cho gia đình?

Chúng ta thử nghĩ nếu chúng ta không vì Chúa thì làm sao chúng ta có thể đón nhận biết bao nghịch cảnh trái ngang đến với chúng ta như: bệnh tật, hiểu lầm, già yếu, ganh ghét, chê bai.

Mỗi người đều có thánh giá phải mang.  Nhưng Chúa sẽ không bao giờ trao thánh giá vượt khả năng của chúng ta.  Thế nên, chúng ta hãy tin tưởng đón nhận mọi khó khăn vì Chúa, nhất là hãy biết cậy dựa vào ơn Chúa để vượt qua.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn tìm ra ý Chúa trong cuộc sống và đón nhận theo thánh ý cho dù có vì đó mà phải vác thập giá hằng ngày theo chân Chúa.  Amen!

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

KHÔNG THỂ CHÌM

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.”

“Hãy xin Chúa đặt chúng ta trên đôi vai Ngài, bạn và tôi bám chặt chúng; và sau đó, xem Ngài giữ chúng ta nổi – ngay khi chúng ta nghĩ mình sắp chìm!” – Charlie Riggs.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhờ việc bám chặt đôi vai của Chúa Cha, cuộc sống của Chúa Giêsu dường như đã ‘không thể chìm!’  Tin Mừng hôm nay cho biết, trước khi chọn các tông đồ, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, Ngài “đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.”

Những lời giới thiệu như thế có thể không được chú ý trong việc đọc Tin Mừng hàng ngày của chúng ta; trong khi trên thực tế, chúng có một tầm quan trọng khôn lường!  Cuộc sống của Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện liên lỉ, tín thác tuyệt đối vào Chúa Cha và nhờ đó, luôn được hỗ trợ bởi Chúa Thánh Thần.  Bởi thế, Ngài đủ sức mạnh và ánh sáng cần thiết để tiếp tục thực hiện điều Chúa Cha muốn.  “Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, giữ cho nó sống khi mọi sự khác có thể nhấn chìm nó!” – Oswald Chambers.

Mặc dù đã dành suốt đêm để cầu nguyện với Cha trước khi chọn nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu vẫn bị phản bội.  Dâng quyết định của mình lên Thiên Chúa không có nghĩa là mọi việc sau đó sẽ xuyên suốt.  Tuy nhiên, khi mở lòng với Chúa trong cầu nguyện, chúng ta để Ngài trở thành trung tâm mọi quyết định và là trung tâm của tất cả những gì xảy ra kế tiếp – phản bội hay bất cứ gì – thì như Chúa Giêsu, chúng ta vẫn không bao giờ nao núng.  “Cầu nguyện không bảo đảm sự dễ dàng, nhưng bảo đảm rằng bạn sẽ không thể chìm!” – Charles Spurgeon.

Bên cạnh đó, một yếu tố cực kỳ quan trọng khác là – đừng bao giờ quên – điều nâng đỡ chúng ta nhất chính là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dành cho mỗi người.  Ngài xướng cả tên lẫn họ của từng người trước Chúa Cha, Ngài tỏ cho Chúa Cha thấy những thương tích của mỗi người là giá cứu rỗi Ngài sẽ trả.  “Niềm an ủi lớn nhất là biết rằng tên của bạn được mang trong lời cầu nguyện của ai đó!” – Richard J. Foster.  Thư Côlôssê hôm nay viết, “Anh em đã nhận Đức Kitô Giêsu làm Chúa, thì hãy tiếp tục sống kết hợp với Người!”  “Sống kết hợp với Người” là cầu nguyện và tạ ơn liên lỉ.  “Con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời,” vì “Chúa tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện.”  Ước gì, như Chúa Giêsu, cuộc sống của chúng ta luôn đắm mình trong cầu nguyện và được lời cầu nguyện dẫn dắt trong mọi sự; nhất là trước các quyết định quan trọng, khi phải ‘ra những vùng nước sâu’ mà bạn và tôi biết chắc, không có Chúa, chúng ta nhất định sẽ chìm.  Chính trong cầu nguyện, chúng ta mới có đủ sức mạnh và ánh sáng cần thiết để tiếp tục thực hiện điều Chúa muốn – cả khi ở giữa giông bão của phản bội và gian truân.  “Khi cầu nguyện, Thiên Chúa ban ánh sáng cho bước kế tiếp, chứ không phải cho cả con đường!” – Elisabeth Elliot.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con mỏi gối chồn chân và chao đảo vì những nghịch cảnh, cho con biết giữ chặt ‘đôi vai’ Chúa, để con ‘không thể chìm!’” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TIẾNG GÕ NHẸ CỦA THIÊN CHÚA TRONG TÂM HỒN CHÚNG TA

Sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn mỗi người và giữa thế giới này hiếm khi xuất hiện một cách kịch tính, choáng ngợp, hay gây chấn động đến mức không thể phớt lờ.  Thiên Chúa không hành động theo cách đó.  Thay vào đó, Ngài hiện diện một cách âm thầm, khiêm hạ, tưởng chừng bất lực nơi sâu thẳm lòng người.  Một sự hiện diện không ồn ào, không gây náo động.

Ta có thể nhận ra điều ấy ngay từ cách Con Thiên Chúa giáng sinh vào trần gian.  Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu sinh ra không kèn trống, không quyền thế – chỉ là một hài nhi bé nhỏ, nằm bất lực trên rơm cỏ, như muôn vàn trẻ thơ khác.  Không có điều gì lạ lùng hay ngoạn mục theo con mắt nhân loại.  Trong suốt sứ vụ công khai, Chúa Giêsu cũng không dùng phép lạ để chứng minh thần tính, mà chỉ như những hành động đầy lòng thương xót và để mạc khải tình yêu Thiên Chúa.  Ngài không tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà là để dạy chúng ta biết Thiên Chúa là ai, và yêu thương chúng ta thế nào – một tình yêu vô điều kiện.

Về cốt lõi, giáo huấn của Đức Giêsu về sự hiện diện của Thiên Chúa cho thấy: đó là một sự hiện diện âm thầm, ẩn giấu bên dưới bề mặt cuộc sống – như hạt giống âm thầm lớn lên khi người ta ngủ say, như men đang làm dậy bột trong âm thầm, như mùa xuân dần dần làm xanh một thân cây khô cằn, như hạt cải nhỏ bé bất ngờ vươn mình lớn mạnh, như người biết tha thứ cho kẻ thù của mình.  Thiên Chúa hành động trong âm thầm và nhẹ nhàng – một cách dễ dàng bị bỏ qua nếu ta không tỉnh thức.  Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải không phải là một Đấng thích gây ấn tượng hay ồn ào.

Và điều này dạy chúng ta một bài học rất quan trọng: Thiên Chúa hiện diện trong lòng ta – rất sâu, nhưng lại rất nhẹ, đôi khi khó cảm nhận, và dễ dàng bị lãng quên.  Tuy nhiên, dù không bao giờ áp đảo, sự hiện diện ấy vẫn mang một sức hút âm thầm nhưng mãnh liệt – như một tiếng gọi không ngừng nghỉ, mời ta hướng về Ngài.  Và nếu ta đáp lại, sự sống thiêng liêng sẽ tuôn trào – hướng dẫn, nuôi dưỡng và ban tràn đầy sức sống và năng lượng.

Điều này rất quan trọng để hiểu cách Chúa hiện diện trong chúng ta.  Sự hiện diện như một lời mời gọi luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta.  Thiên Chúa không áp đặt.  Ngài không rút lui, nhưng cũng không xâm lấn.  Ngài hiện diện nơi tâm hồn, như một hài nhi nằm bất lực trong máng cỏ – dịu dàng mời gọi ta bồng ẵm, nhưng hoàn toàn không cưỡng ép.

Tác giả C.S. Lewis từng kể về cuộc trở lại Kitô giáo của ông – rằng ông là “người trở lại không mong muốn nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Lewis vốn không mặn mà về mặt tình cảm và trí tuệ với đức tin, nhưng ông không thể tiếp tục phớt lờ một tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng dai dẳng bên trong mình.  Vì nó tôn trọng tự do, nên ông có thể bỏ qua nó trong một thời gian dài.  Nhưng điều đó không đồng nghĩa là tiếng gọi ấy biến mất.

Về sau, ông nhận ra tiếng nói ấy luôn ở đó – như một cú thúc nhẹ không ngừng, một lệnh truyền đầy yêu thương, một “sự thôi thúc” mà nếu nghe theo, sẽ dẫn đến sự giải thoát đích thực.

Ruth Burrows – một nữ tu dòng Cát Minh và cũng là một nhà huyền nhiệm người Anh – đã mô tả một trải nghiệm tương tự.  Trong cuốn hồi ký “Trước Nhan Thiên Chúa Hằng Sống,” bà kể về những năm tháng tuổi trẻ ít quan tâm đến tôn giáo.  Vậy mà cuối cùng bà không chỉ nghiêm túc với tôn giáo mà còn trở thành một nữ tu dòng Cát Minh và một nhà văn tâm linh tài năng.  Chuyện gì đã xảy ra?

Bị kích động bởi một loạt tình huống ngẫu nhiên, một ngày nọ, bà thấy mình đang ở trong một nhà nguyện, nơi mà, gần như trái với ý muốn của mình, bà đã để mình mở lòng đón nhận một tiếng nói bên trong mà cho đến lúc đó bà chủ yếu phớt lờ, chính xác là vì nó chưa bao giờ xâm phạm đến tự do của bà.  Nhưng một khi được chạm đến, nó trào dâng như điều sâu sắc và chân thực nhất bên trong bà và định hướng cuộc đời bà mãi mãi.

Giống như C.S. Lewis, một khi để cho tiếng gọi ấy vang lên trong lòng, bà cảm nghiệm nó như một mệnh lệnh nội tâm không thể lay chuyển – dẫn bà đến với sự tự do đích thực.

Tôi cũng đã từng trải nghiệm điều đó.  Năm mười bảy tuổi, khi tốt nghiệp trung học, tôi chẳng có chút ước muốn tự nhiên nào để trở thành linh mục Công giáo.  Thế nhưng, giữa sự kháng cự mạnh mẽ về mặt cảm xúc, tôi vẫn cảm thấy một tiếng gọi bước vào đời sống tu trì.  Dù trong lòng còn chống đối, tôi đã vâng theo tiếng gọi ấy – một sự thôi thúc sâu thẳm.  Giờ đây, sau sáu mươi năm, tôi nhìn lại quyết định ấy như là một trong những quyết định sáng suốt, vô vị kỷ, đầy đức tin và đem lại sự sống phong phú nhất mà tôi từng chọn.  Tôi hoàn toàn có thể đã phớt lờ tiếng gọi ấy – và tôi mãi mãi biết ơn vì đã không làm vậy.

Fredrick Buechner từng viết rằng: Thiên Chúa hiện diện trong ta như một dòng ân sủng tiềm ẩn.  Ân sủng ấy không phải như dàn kèn đồng chói lòa vang lên báo hiệu; nhưng nó đến, chạm vào và đánh động – nhẹ nhàng đến mức ta có thể chẳng nhận ra, hoặc lựa chọn quay lưng lại với nó.

Thiên Chúa không bao giờ tìm cách áp đảo chúng ta.  Hơn ai hết, Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta.  Ngài hiện diện khắp nơi – trong ta và quanh ta – âm thầm, nhẹ nhàng, dễ bị quên lãng: như một tiếng gõ nhỏ, một cú chạm nhẹ.  Nhưng nếu ta mở lòng ra, đó sẽ là dòng chảy không ngừng của tình yêu và sự sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TỪ BỎ ĐIỀU QUÝ ĐỂ CÓ ĐƯỢC ĐIỀU QUÝ HƠN

Lời Chúa Giê-su nói hôm nay thật không dễ nghe, thậm chí còn gây sốc nếu ta hiểu theo nghĩa đen. Chúa nói “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta”

(Lc 14,26).  Lời mời gọi của Chúa Giê-su thật mạnh mẽ và dứt khoát.

Theo Chúa là một lựa chọn và hy sinh

Nghe lời tuyên bố của Đức Giê-su ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Đức Giê-su thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải từ bỏ tận căn, không những của cải, người thân, mà cả những tiện nghi, kế hoạch riêng, sự quyến luyến, những giao tiếp hợp pháp và thậm chí cả chính mạng sống mình nữa (x. Lc 14). Chúa yêu cầu phải “bỏ” cha mẹ, vợ con, anh em, chị em.

Có người hỏi: Phải chăng, điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giê-su, người ta phải thay thế tình yêu đối với người thân cận bằng sự từ bỏ đối với họ? Không phải thế, Đức Giê-su đòi hỏi người môn đệ phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Thiên Chúa là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Đức Giê-su yêu cầu con người dành cho Thiên Chúa một vị trí đặc biệt và cao nhất. Chúa Giê-su không cổ võ việc từ bỏ gia đình hay cắt đứt tình thân, mà Người đòi hỏi một sự đảo chiều trong ưu tiên của ta: Phải đặt Thiên Chúa làm trung tâm, hơn cả những điều quý nhất.

Chúa không xem thường cha mẹ, vợ con, nhưng Chúa biết rằng: nếu ta yêu mến Người hơn, thì ta sẽ yêu người thân một cách đúng đắn hơn, yêu với tình yêu vô điều kiện và không chiếm hữu.

Thánh Gio-an Kim Khẩu đã từng nói: “Đức Ki-tô không lấy đi khỏi chúng ta những gì là quý giá, mà Người dạy chúng ta đặt mọi sự vào đúng trật tự: yêu Chúa trước hết, để mọi tình yêu khác được thanh luyện.”

Theo Chúa là từ bỏ điều quý để đạt được điều quý hơn. Như người xây tháp hay vị vua sắp ra trận trong Tin Mừng hôm nay, ai cũng cần lượng giá, biết người, biết mình.

Xin ơn khôn ngoan

Tác giả sách Khôn Ngoan thốt lên: “Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa?” (Kn 9,13).

Đúng vậy, nhiều lúc con người tưởng mình khôn ngoan, thành công, sắp đặt được mọi sự, nhưng không biết rằng khôn ngoan đích thực là nhận ra điều Chúa muốn nơi mình, và sống theo đó. Vì thế, trong Hiến chế Gaudium et Spes, Công đồng Vaticanô II đã viết: “Con người chỉ thực sự là chính mình khi hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa” (GS 24).

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta xét lại: Tôi có đang chọn Chúa là nhất chưa? Tôi có sẵn sàng từ bỏ một chút tiện nghi, một chút thời gian, một chút tự ái… để sống theo thánh ý Chúa không?

Đón nhận tha nhân với niềm tin yêu

Trong thư gửi ông Phi-lê-môn, thánh Phao-lô nài xin ông đón nhận lại người đầy tớ tên Ô-nê-xi-mô không còn như một nô lệ, nhưng như một người anh em trong Chúa (Plm 16). Đây là một bằng chứng sống động rằng: theo Chúa không chỉ là lựa chọn cá nhân, mà còn là thay đổi cách ta nhìn người khác. Từ bỏ sự phân biệt, tự cao, thành kiến để đón nhận tha nhân với tình yêu mới.

Đến nhà thờ, chúng ta không chỉ gặp Chúa, mà còn gặp nhau. Và nếu gặp Chúa thật sự, thì ta cũng phải đối xử với anh em như những người cùng được Chúa yêu thương.

Chúa Giê-su chính là mẫu gương tuyệt đối của tình yêu tự hiến: Chúa từ bỏ vinh quang Thiên Chúa để mang lấy phận người. Từ bỏ sự sống để chết trên thập giá. Từ bỏ mọi quyền năng để ẩn mình trong tấm bánh nhỏ bé, một sự ẩn mình khó tin để ở lại với chúng ta.

Theo Chúa là một chọn lựa có hy sinh. Nhưng Chúa cũng hứa: “Ai bỏ mọi sự vì Thầy, sẽ được gấp trăm ở đời này, và sự sống đời đời” (x. Mc 10,29-30).

Ước chi mỗi người chúng ta, Lễ xong ra khỏi nhà thờ mà không kết thúc, nhưng kéo dài trong từng chọn lựa hằng ngày: Chọn nói lời yêu thương thay vì giận dữ. Chọn tha thứ thay vì chấp nhất. Chọn phục vụ thay vì đòi hỏi, và nhất là, chọn Chúa thay vì chính mình. Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Chúng ta hãy trở nên điều chúng ta lãnh nhận.”  Chúng ta đã rước Chúa Giê-su Thánh Thể, vậy chúng ta hãy trở nên “tấm bánh bẻ ra” cho gia đình, giáo xứ và xã hội hôm nay.

Theo Chúa không dễ vì đòi hỏi chúng ta từ bỏ điều quý. Nhưng nếu từ bỏ vì tình yêu, vì Chúa, thì ta đạt được điều quý hơn gấp bội. Chúa Giê-su hỏi từng người chúng ta: “Con có sẵn sàng chọn Thầy, chọn thánh ý Thầy, dù phải hy sinh điều gì đó không?”

Câu trả lời không nằm trong lời nói, mà trong chọn lựa sống mỗi ngày. Xin Thánh Thể Chúa giúp chúng ta can đảm chọn Chúa, vì chỉ có Chúa mới là kho tàng đích thực của đời ta.  Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

HỌC BIẾT SỐNG THINH LẶNG TRONG VIỆC CẦU NGUYỆN

Đối thoại trong cầu nguyện được hình thành từ sự thinh lặng và lắng nghe. Chúng ta nói chuyện với Chúa, thế nhưng chúng ta cũng cần lắng nghe Ngài.

Linh mục Emmanuel Albuquerque

Chúng ta đang sống trong một thời đại thích thể hiện bản thân. Người ta phô diễn hầu như tất cả mọi thứ. Món ăn mà chúng ta ăn, quần áo chúng ta mặc, quan điểm của chúng ta… tất cả đều trở thành một bài đăng trên mạng xã hội cách dễ dàng. Chúng ta thường phải đối mặt với tình trạng lộn xộn, ồn ào và những thứ đó cứ bủa vây chúng ta. Vì thế mà thinh lặng trở nên ít hơn, rụt rè hơn, lãng quên nhiều hơn. Để lắng nghe cần phải biết thinh lặng. Lắng nghe người khác, Thiên Chúa hay chính mình là một bài tập rất khó, vì nó buộc chúng ta phải rời xa ánh đèn sân khấu, nơi mà chúng ta chỉ thể hiện những gì mà người khác muốn thấy, để bước vào trong thâm sâu của con người mình.

Trong nền văn hóa âm thanh mà chúng ta đang sống, thinh lặng có thể làm chúng ta sợ, bởi vì sống trong thinh lặng là bước vào trong một mối tương quan khác, và điều này có thể ảnh hưởng đến mối liên hệ liên vị với nhau, cũng như ảnh hưởng đến mối quan hệ với Thiên Chúa.

Kinh nghiệm Kitô giáo cho thấy có ba trong số các nền tảng căn bản của cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là tùy thích nếu chúng ta muốn trưởng thành trong sự mật thiết với Thiên Chúa, trong việc nhận biết Ngài và chính mình. Cầu nguyện là một thực tại quý báu, nhưng bằng cách này hay cách khác chúng ta đã biết được điều đó. Tuy nhiên, một số người cảm thấy duy trì việc cầu nguyện cách trung thành, cảm thấy cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn này sao cho được hiệp nhất trong một cuộc đối thoại đầy yêu thương thật khó biết là dường nào.

Thinh lặng, cầu nguyện và đối thoại

Cầu nguyện là đối thoại. Nó phải là như vậy. Chính Chúa Giêsu đã chỉ dẫn về việc này trong Matthêu 6, 6 “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” Cầu nguyện là một cuộc gặp gỡ. Chúng ta mong đợi. Trong sự mong đợi này, Chúa muốn đón tiếp chúng ta để thiết lập một cuộc đối thoại, trong đó có người nói, có người nghe.

Trong cuộc gặp gỡ đó điều Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm là hãy cho thấy cách chúng ta có thể sống lời cầu nguyện của mình. “Đóng cửa lại…” Chúng ta nghĩ rằng Chúa nói chuyện với chúng ta từ cánh cửa của căn phòng chúng ta ra vào, nhưng nghịch lý là chúng ta có thể hiểu hành động đóng cửa giống như lời mời đóng cửa tâm hồn. Cái gì vậy? Cầu nguyện với tâm hồn khép kín sao?  Rõ ràng là không. Hãy đóng cửa tâm hồn trước những tiếng ồn ào đến từ bên ngoài, trước những lộn xộn đang bủa vây chúng ta. Và hãy bước vào sống trong sự thinh lặng hầu lấp đầy chúng ta bằng sự hiện diện của Đấng đang ở đó đợi chờ chúng ta.

Thinh lặng trong cầu nguyện Kitô giáo không được hiểu như là sự im lặng trống rỗng, hay dẫn chúng ta đến một sự trống rỗng hiện sinh. Chúng ta thấy Chúa Giêsu mời gọi chúng bước vào trong căn phòng đã có sự hiện diện của Chúa Cha ở đó. Thinh lặng trong cầu nguyện Kitô giáo là một sự thinh lặng trọn vẹn và hướng tới việc đưa chúng ta đến một sự viên mãn, bởi vì Thiên Chúa đang ở đó để lắng nghe và nói chuyện với chúng ta.

Thinh lặng để lắng nghe

Đối thoại trong cầu nguyện được tạo ra từ sự im lặng và lắng nghe. Chúng ta nói với Chúa, nhưng chúng ta cũng cần lắng nghe Ngài, và hầu như không xảy ra cách ồn ào hay bạo lực. Hầu như lúc nào cũng được nhận biết qua “một cơn gió thoảng nhẹ nhàng” (1V 19,12). Thinh lặng trong cầu nguyện trở thành một yếu tố nền tảng để có thể lắng nghe điều Thiên Chúa nói với chúng ta. Thường thì không dùng lời lẽ. Lắng nghe là chiêm nghiệm, thinh lặng tạo thành. Tạo ra những mối liên kết khác, nhịp cầu khác.

Để lắng nghe cần phải ở trong thinh lặng. Sống trong thinh lặng để lắng nghe những nỗi đau và nỗi buồn phiền của thế giới bị tổn thương. Hãy lắng nghe những gì đang diễn ra xung quanh cuộc sống của chúng ta. Và thinh lặng cho phép chúng ta lắng nghe vượt ra khỏi những tiếng ồn quanh quẩn để trở thành người sáng tạo, và những gì mà chúng ta nhận được trong sự thinh lặng trở thành chất dinh dưỡng cho lời cầu nguyện của chúng ta.

Học cách sống thinh lặng

Sống giữa một thế giới bị bao trùm bởi những tiếng ồn ào và tiêu khiển, tôi mời gọi các bạn hãy sống một lộ trình thân mật với Chúa. Sự thân mật với Thiên Chúa là con đường để thăng tiến nội tâm, để lắng nghe tiếng Chúa cách rõ ràng và để hiểu biết bản thân.

Chúng ta hiện đang lắng nghe điều gì? Và đâu là chất lượng của việc chúng ta lắng nghe? Làm sao để nuôi dưỡng cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Các bạn hãy bước vào căn phòng của mình. Đóng cửa lại và hãy cầu nguyện với Chúa Cha, Đấng đang đợi chờ các bạn. Cùng với Ngài để việc thinh lặng của chúng ta được trọn vẹn. Bởi đó sẽ là kết quả của việc lắng nghe.

G. Võ Tá Hoàng 

QUAN NIỆM CỦA THÁNH AUGUSTINÔ VỀ Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA BÌNH AN

Bình an thay thế sự bồn chồn khi cuộc đời chúng ta hướng về Thiên Chúa.  Chúng ta nên sống phù hợp với nhân đức mà thánh Augustinô định nghĩa là “trật tự của tình yêu” ( virtus est ordo amoris )…

Cách đây một thời gian, khi phong trào bình an trong trường đại học đang rất sôi nổi, tôi quyết định thực hiện một cuộc khảo sát giữa các sinh viên của mình để tìm hiểu xem liệu ý tưởng khiến họ say mê đó có phải là điều họ thực sự hiểu rõ hay không. Câu hỏi mà tôi đặt ra trong lớp học rất ngắn gọn: “Bình an là gì?” Một loạt các bàn tay lập tức giơ lên. Các bạn sinh viên tự tin rằng họ đã nắm đầy đủ thông tin về chủ đề này. Thật không may, tất cả các câu trả lời của họ đều được diễn đạt theo lối phủ định: “Bình an là không có chiến tranh; Bình an là tránh xa sự thù địch; Bình an là thoát khỏi sự hỗn loạn, rối ren; Bình an là chấm dứt sự lo lắng…”

Cuối cùng, để làm cho câu hỏi của tôi trở nên thực tế hơn, tôi đã hỏi những sinh viên hiện đang im lặng xem họ có thể làm gì để trải nghiệm được bình an, dù chỉ trong mười phút. Một sự im lặng đáng sợ bao trùm lớp học. Cuối cùng, một sinh viên dũng cảm đã thú nhận một cách khá thất vọng rằng với tất cả các bài tập mà cô ấy phải gánh và tất cả các deadline mà cô ấy phải đáp ứng, việc tìm kiếm sự bình an là điều không thể trong ít nhất vài tuần. Tôi nghĩ cô ấy đã nói thay cho nhiều người, nếu không nói là tất cả, những người bạn cùng lớp của cô ấy. Tôi nghĩ thật đáng buồn khi giáo dục chính quy lại là một sự gián đoạn của bình an. Liệu các bạn sinh viên có bình an sau khi tốt nghiệp không? Chúng ta có thể tìm thấy thời gian cho bình an không? Ngay cả trong giấc ngủ, chúng ta cũng có thể bị quấy rầy bởi những cơn ác mộng. Nếu chúng ta phải đợi cho đến khi không làm gì để tìm thấy bình an, thì không có gì làm nền tảng cho bình an, không có gì bình an có thể đụng chạm để mang lại cho cuộc sống của chúng ta một ý nghĩa cao cả hơn. Sự bình an như thế sẽ chìm vào hư vô. Đây không phải là bình an mà chúng ta hy vọng, mà chỉ là ảo tưởng về bình an.

Thánh Augustinô giải gỡ

Không có bất kỳ thánh Augustinô nào trong lớp của tôi. Nhưng tôi có thể chiêu mộ vị Tiến sĩ khôn ngoan này của Giáo hội vì lợi ích của sinh viên. Đối với vị Giám mục thành Hippo này, bình an là “sự yên tĩnh của trật tự” (Tranquilitas ordinis). Thánh Augustinô đề cập đến trải nghiệm cá nhân về bình an. Con người đã sống một cuộc sống không có trật tự kể từ khi bị tổn thương bởi Tội Nguyên Tổ. Tâm hồn họ trở nên “bồn chồn.” Sự bồn chồn (inquietum) này đã tạo ra niềm khao khát bình an. Nhưng bình an sẽ luôn khó nắm bắt chừng nào nó còn được coi là đối tượng trực tiếp của sự lựa chọn. Chúng ta không thể chọn bình an như cách hái một quả táo từ trên cây. Chúng ta phải chọn “điều gì đó khác” trước khi có đủ điều kiện để trải nghiệm bình an. Theo thánh Augustino, một “điều gì đó khác” chính là trật tự. Nhưng có nhiều loại trật tự khác nhau. Cụ thể trật tự mà vị thánh vĩ đại này nghĩ đến là gì? Đó là trật tự của những hành vi nhân đức dẫn đến Thiên Chúa. Câu nói nổi tiếng nhất của ngài xuất hiện ở phần đầu cuốn Tự thuật: “Tâm hồn con khắc khoải không ngừng cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa” (cor nostrum inquietum est donc requiescat in Te).

Bình an thay thế sự bồn chồn khi cuộc đời chúng ta hướng về Thiên Chúa. Chúng ta nên sống phù hợp với nhân đức mà thánh Augustinô định nghĩa là “trật tự của tình yêu” ( virtus est ordo amoris ). Bây giờ chúng ta thấy rõ hai điều: Tại sao chúng ta bồn chồn và khao khát bình an; và giải pháp cho sự bồn chồn của chúng ta. Nếu chúng ta muốn bình an, trước hết chúng ta phải hướng tình yêu của mình đến Thiên Chúa. Khi đó chúng ta sẽ trải nghiệm được sự yên tĩnh của trật tự, đó là sự bình an.

Vậy bình an là gì? Đó là sự tĩnh lặng mà chúng ta cảm nghiệm được khi chúng ta hướng tình yêu của mình, qua nhân đức, tới Thiên Chúa. Tình yêu này, một cách tự nhiên, bao gồm cả tình yêu tha nhân. Vì vậy, sự bình an tương thích với mọi hoạt động sống của chúng ta, trong đó có “gánh nặng” bài vở. Chúng ta không nên tìm kiếm bình an nhưng hãy yêu mến Thiên Chúa. Bình an là điều gì đó “xảy ra” với chúng ta khi chúng ta tìm thấy một điều gì đó khác. Nó rất giống với hạnh phúc, như Nathaniel Hawthorne đã nói: “Giống như một con bướm, khi theo đuổi, luôn nằm ngoài tầm nắm bắt của chúng ta, nhưng nếu bạn ngồi yên, nó có thể đậu xuống trên bạn.”

Dr. Donald Demarco
Chuyển ngữ: Kim Linh – Chuyển ngữ từ: Catholic Exchange