CHỈ VỀ TÌNH YÊU

“Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê”

“Thách thức của Tin Mừng là nó vẫn dang dở mà chúng ta được mời gọi viết ra bằng những việc bác ái.  Chúa Kitô muốn Giáo Hội luôn là một Giáo Hội đi ra như Ngài đã đi ra, bỏ trời xuống thế.  Ngài hướng chúng ta đi vào con đường một chiều, không có vé khứ hồi: “Đi ra từ chính mình!”  Hy sinh mạng sống vì người khác và bắt đầu con đường tự hiến.  Đó là tình yêu!  Vì Ngài sẽ luận thưởng mỗi người chỉ về tình yêu!” – Đức Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ngài sẽ luận thưởng mỗi người chỉ về tình yêu!”  Tin Mừng lễ Chúa Kitô Vua nói với chúng ta về cuộc phán xét cuối cùng.  Với hình ảnh sống động của dụ ngôn chiên đứng bên hữu, dê đứng bên trái, Chúa Giêsu cho thấy đó sẽ là cuộc xét xử ‘chỉ về tình yêu!’

Gioan Thánh Giá nói, “Vào buổi chiều của cuộc đời, chúng ta sẽ bị phán xét chỉ về tình yêu!”  Ignatiô Loyola thì nói, “Tình yêu được thể hiện nhiều bằng việc làm hơn là lời nói!”  Mỗi việc bác ái chúng ta làm ‘là làm’ cho Chúa Kitô, “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống…”  Và còn hơn thế, “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta!”

Vương quyền của Chúa Kitô hoàn toàn khác vương quyền thế gian.  Nó đơn giản là thực tại căn bản của mọi sự tồn tại: “Tình yêu!”  Tình yêu sẽ là tiếng nói cuối cùng, cũng là tiếng nói đầu tiên.  Với Chúa Kitô, vương quyền đó lên tiếng từ một chiếc nôi khiêm tốn, máng cỏ; và sau cùng, từ một ngai vàng rất khó chịu, thập giá!  Vậy mà, trên đó ghi: “Giêsu Nazareth, Vua Do Thái.”  Chúa Kitô hiển trị từ thập giá tự hiến nên Ngài cũng luận thưởng chúng ta bằng mức độ ‘thập giá tự hiến’ của mỗi người, nghĩa là ‘chỉ về tình yêu!’

Vì thế, những con chiên được cứu là những ai đã giúp đỡ kẻ khác.  Chúa Giêsu không khen ngợi họ vì họ cầu nguyện nhiều mà vì việc lành họ làm.  Cầu nguyện là quan trọng, nhưng ngần ấy không đủ!  Ngài muốn tình yêu dành cho Ngài phản ánh qua tình yêu dành cho tha nhân.  Điều kỳ lạ là nhiều người trong số những người được cứu lại không nhận ra rằng, họ thực sự đang giúp đỡ chính Ngài.  Ngài đang ở nơi những ai cần giúp đỡ, nơi các thành viên trong gia đình tôi, nơi các đồng nghiệp; nơi ông chủ khó tính hoặc các bạn cùng lớp của tôi hoặc ngay cả nơi những người ăn xin hôi hám.

Thật đáng sợ khi nghĩ rằng những con dê hư mất không nhất thiết là “người xấu.”  Họ không bị khiển trách vì đã làm điều ác.  Chúa không buộc tội họ gây chiến tranh, buôn người hay khủng bố; đúng hơn, Ngài trách họ về tội thiếu sót, những điều họ không làm, “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn…”  Bạn và tôi có thể nghĩ mình là những Kitô hữu tốt vì không gian lận, không xem phim xấu hay bỏ lễ Chúa Nhật; nhưng việc bác ái từ thiện cũng rất quan trọng.  Hãy làm những việc này mà không bỏ bê những việc khác.

Anh Chị em,

“Như mục tử tách biệt chiên với dê.”  Bênêđictô XVI nói, “Nếu thực hành tình yêu thương người lân cận theo sứ điệp Tin Mừng, chúng ta sẽ nhường chỗ cho quyền thống trị của Chúa Kitô và Vương Quốc Ngài được hiện thực hoá giữa chúng ta.  Thay vào đó, nếu mỗi người chỉ nghĩ đến lợi ích riêng mình thì thế giới sẽ chỉ có thể sụp đổ!”  Hãy giàu có không chỉ về của cải mà còn về lòng đạo đức; không chỉ bằng vàng mà còn cả đức hạnh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con kết thúc đời mình với lũ dê trong ngày phán xét.  Giúp con đi vào con đường một chiều yêu thương ngay hôm nay mà không cần vé khứ hồi!”  Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐỈNH CAO TẠ ƠN

“Thấy mình được khỏi, anh liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.”

“Hãy đặt trái tim vào những gì bạn đang tận hưởng, dẫu trọn vẹn hay không trọn vẹn; cho dù những thứ ấy chỉ là những thứ thuộc về thời gian.  Nhưng những lời ngợi khen, cảm tạ dâng lên Đấng Ban Ơn là những gì vượt quá thời gian; và nếu tháp nhập với Đức Kitô, nó sẽ trở thành ‘đỉnh cao tạ ơn!’”

Elisabeth Elliot.

Kính thưa Anh Chị em,

“Tháp nhập với Đức Kitô, nó sẽ trở thành ‘đỉnh cao tạ ơn!’”  Ý tưởng của Elliot được gặp lại qua câu chuyện Tin Mừng hôm nay!  Một trong những người cùi được lành quay trở lại tạ ơn và tôn vinh Thiên Chúa.

Trong tiếng Hy Lạp, để biểu lộ lòng biết ơn ai, người ta nói “EuXaristia”, “Tạ Ơn”; “EuXaristia” còn có nghĩa là “Thánh Thể.”  Như thế, cử hành Thánh Thể hay tham dự Thánh Thể là hành vi tạ ơn đúng nghĩa nhất, cao cả nhất; Thánh Thể là ‘đỉnh cao tạ ơn’ vậy!

Luca nói đến mười người phong cùi nghèo hèn, những con người mà hy vọng duy nhất còn lại của họ là lòng thương xót của Thiên Chúa, “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!”  May thay, lời họ cầu xin được nhậm, Chúa Giêsu chữa lành tất cả.  Và họ ‘tiếp tục bước đi trên con đường của họ,’ lòng hỷ hoan với quà tặng vừa lãnh nhận.  Tuy nhiên, một người trong họ quay trở lại để tạ ơn và tôn vinh Thiên Chúa; và điều này khiến Chúa Giêsu vừa ngạc nhiên, vừa thất vọng, “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?”  Ngài lấy làm tiếc, không phải vì đã trót làm phúc cho chín người hờ hững; nhưng tiếc vì họ không hiểu rằng, biết tạ ơn, họ sẽ được nhận nhiều hơn!

Sẽ được nhận nhiều hơn!  Một chi tiết thú vị cần lưu ý là, khi chữa lành họ, Chúa Giêsu nói, “Hãy đi trình diện với các tư tế!” nói như thế, khác nào nói, “Hãy đi dâng lễ!”  Tuyệt vời!  Chỉ một người đã khôn ngoan quay trở lại ‘trình diện’ Ngài, Tư Tế Tối Cao thánh thiện nhất.  Và ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nâng anh lên một cấp độ cao hơn, cấp độ vốn cho anh khả năng nhận được nhiều hơn.  Nhiều hơn ở đây là: Anh được cứu!  Được cứu bởi lòng thương xót, giờ đây, anh có khả năng lớn lên hơn nữa trong sự thông hiệp với Ngài!  “Communion”, “Hiệp Thông” còn có nghĩa là “Rước Lễ.”  Biết đâu, người ngoại này sẽ là môn đệ của Chúa Giêsu; “EuXaristia”, “Hiệp Thông với Thánh Thể” là ‘đỉnh cao tạ ơn’ vậy!

Anh Chị em,

“Anh liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.”  Như những người cùi, bạn và tôi có thể là những người đang lở loét thiêng liêng được Chúa Giêsu chữa lành.  Và nếu lãnh nhận quà tặng của Ngài mà không biết tạ ơn, chúng ta khác nào những người ‘tiêu thụ ân sủng’ đơn thuần mà không có khả năng ‘cho lại’ bất cứ thứ gì.  Chúa Giêsu muốn cứu chúng ta khỏi tình trạng ‘thiếu khôn ngoan’ đó.  Ngài muốn chúng ta tạ ơn, “EuXaristia!” mặc dầu “những lời ca tụng của chúng con không thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại ơn cứu độ cho chúng con.”  Vì nhờ đó, Ngài mới có thể nâng chúng ta lên cấp độ thiết thân, sâu nhiệm hơn.  Sống trong môi trường tạ ơn, ‘môi trường Thánh Thể,’  chúng ta sẽ kín múc nhiều ơn lành hơn cho linh hồn mình, cho gia đình, cho cộng đoàn và cho thế giới.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dìm con sâu hơn vào Thánh Thể, cho con yêu thích ngụp lặn trong ‘môi trường’ này; tháp nhập với Chúa, con hưởng nhận nhiều hơn những gì vượt quá thời gian!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NHỮNG LỜI CHIÊM NIỆM THEN CHỐT

Gần đây tôi có dự một buổi ở Hội Suy niệm trong Ý thức, với James Finley là diễn giả chính.  Ông là chuyên gia trong lãnh vực này.  Ông đã có gần bốn mươi năm kinh nghiệm chuyên gia trị liệu, là diễn giả được nhiều nơi mời, đã viết nhiều và sâu sắc về chủ đề chiêm niệm, và khi còn trẻ có theo học mấy năm với Thomas Merton.  Ông biết mình nói gì.

Tôi muốn chia sẻ ở đây vài tư tưởng sáng suốt của ông bằng cách sắp đặt những câu then chốt, mỗi câu, khi đứng riêng tự nó đã có một giá trị, nhưng khi phối với nhau, cũng thể hiện một vài ánh sáng trên bản chất Thiên Chúa, bản chất chiêm niệm và các đấu tranh của chúng ta trong đức tin cũng như chiêm niệm.

Đây là một vài quan điểm của Finley:

Các nhà thần nghiệm là chứng nhân cho bản chất thiêng liêng hoàn hảo của hiện hữu con người, cho sự việc, rằng chúng ta được yêu thương vô bờ và được tồn tại nhờ tình yêu, có những lúc chúng ta thoáng thấy và cảm nghiệm điều này trong đời mình.  Nhà thần nghiệm là người đã được biến đổi nhờ trải nghiệm đó.

Chúng ta lo lắng là do không cảm nhận được tình yêu của Chúa ở trong lòng mình.

Tại sao chúng ta mất quá nhiều giờ để tách mình ra khỏi gia tài phong phú của cuộc sống mình, như thử mình là người ngoài cuộc, đứng bên ngoài căn nhà nhìn vào qua cửa sổ?  Hoặc tệ hơn, tại sao chúng ta ở trong nhà nhưng lại rơi vào trạng thái tâm thần, nghĩ mình đang sống ở ngoài?  Chúng ta phải làm gì để tỉnh khỏi cơn mê này trước khi từ giã cuộc đời?

Đời sống chúng ta thường xuyên chịu áp lực, do đó nhiệm vụ mãi mãi sẽ là: Giữa cuộc sống đầy áp lực của mình, làm sao chúng ta tặng cho mình một tình yêu, để tình yêu đó ôm trọn chúng ta?  Chúng ta không thể tạo ra giây phút ân sủng, nhưng có thể làm để đặt mình vào vị thế mà ở đó, chúng ta ít kháng cự nhất, để từ đó giây phút ân sủng đó có thể chiếm trọn chúng ta.

Suy niệm trong ý thức không khó tìm, nhưng đừng chạy trốn nó mới là chuyện khó.

Suy niệm trong ý thức là thấy sự việc theo bản chất của nó.  Là nghỉ ngơi trong Chúa.  Đi sâu vào suy niệm trong ý thức là ngồi như “đứa trẻ chưa biết gì,” trong một khoảng thời gian “vô niệm.”

Khi ngồi yên chúng ta học được an bình.  Chiêm niệm tùy thuộc vào lòng trung tín.  Nếu bạn trung thành với việc bạn làm, thì việc bạn làm sẽ trung thành với bạn.

Có một vài nguyên tắc đơn giản cho việc thực hành chiêm niệm.  Ngồi yên.  Ngồi thẳng.  Nhắm hay khép hờ mắt.  Thở chậm sâu tự nhiên.  Để tay thoải mái.  Rồi sẵn sàng, mở rộng lòng, và tỉnh thức: Đừng bám cũng như đừng loại bất kỳ điều gì đến trong suy nghĩ của bạn.  Khi một suy nghĩ xuất hiện, cứ để nó xuất hiện, nếu nó kéo dài, cứ để nó kéo dài, nếu nó qua đi, cứ để nó qua đi, nhưng đừng để ý nghĩ đó kéo bạn theo.  Cử động chầm chậm và nhẹ nhàng trong khi cầu nguyện – đừng thô bạo với sự yên bình của cơ thể.

Một bài tập nên theo: Vào phòng ngay trước khi mặt trời lặn, lý do duy nhất là để được ở đó với Chúa khi hoàng hôn xuống.  Đừng vướng bận bất kỳ việc gì trong đầu trừ việc nhìn ráng chiều.  Ngồi đúng một giờ trọn.  Ngồi trong sức mạnh tối thượng của buổi cuối ngày.  Ngồi trong sự tuân phục triệt để ánh sáng chập choạng.  Bạn sẽ biết được cô tịch.

Những người thường xuyên cầu nguyện thì không cầu nguyện giỏi… nhưng họ trở nên người nhờ cậy Thiên Chúa để làm cho lời cầu nguyện của họ được nên tốt.  Và những người thường xuyên cầu nguyện, sẽ như tất cả những người khác, tiếp tục trải nghiệm nỗi buồn và cái chết, nhưng nỗi buồn và cái chết không còn là bạo chúa hành hạ họ.

Có một sự khác biệt giữa “dịu ngọt” tâm hồn và “an ủi” tâm hồn.  “Dịu ngọt” là cảm giác tốt đẹp khi cầu nguyện, “an ủi” là cảm nhận tâm hồn bạn được mở rộng (và vì thế có thể đau khổ).

Tôi trích lại đây lời của Gabriel Marcel: Chúng ta biết mình yêu ai đó khi thoáng thấy nơi người đó một điều gì quá đẹp đến có thể chết được.

Còn thánh Têrêxa Avila nói:

– Khi bạn chạm đến mức cao nhất của trưởng thành nhân bản, bạn sẽ chỉ có một câu hỏi:  Tôi sẽ có ích đến đâu.

– Tình yêu nghĩa là hai người ngồi trong phòng và nói chuyện với nhau. Dù cả hai đều chẳng biết nói gì, nhưng đều nhận biết nhau.

Tại sao Phật tử nói về “vô niệm” khi nói đến quan niệm về Thượng đế?  Họ nói như vậy để nhắc đến sự tối đơn giản của Thượng đế, nghĩa là một Thượng đế có trước tất cả mọi dấu hiệu nhận biết về Ngài.  “Vô niệm” là đứng trước sự khôn tả thấu của Thiên Chúa, hoàn toàn bị chiếm trọn bởi một sự quá trọn vẹn.

Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ cho những ai đang đau khổ, nếu chúng ta cảm thấy mình bất lực không làm được chuyện đó?  Khi người ta chia sẻ sự yếu đuối mong manh và nỗi đau của mình với người biết lắng nghe thật sự, thì chính người lắng nghe đang hé mở “viên ngọc quý” trong chính tâm hồn họ.

Và vẫn còn nữa:

Lòng quảng đại của Đấng Vô Hạn là vô hạn.  Giữa những chuyện khác, lời này có nghĩa chúng ta phải trao ban chính mình cho một sự chính truyền quảng đại.

Không để cho Thiên Chúa biết mình là giữ quá nhiều chuyện cho riêng mình!

Với Thiên Chúa, chỉ một chút chân thành là đi được cả một con đường dài!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

TỬ ĐẠO – NGƯỜI LÀM CHỨNG

Thật là lạ lùng khi mà các bài đọc trong Thánh lễ mừng các Thánh Tử Đạo hôm nay lại chỉ toàn nói đến niềm vui.  Đặc biệt là lời đáp trong Thánh Vịnh hôm nay: “Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan.  Vậy đâu là lý do để Giáo Hội chọn những bài đọc này?

Nếu cứ theo cách nghĩ của người đời thì làm sao có thể ca lên lời Thánh Vịnh nói trên, khi mà trong suốt gần 300 năm bị bách hại, người Công Giáo Việt Nam đã phải trải qua biết bao nhiêu gian nan thử thách: nào là gông cùm, tù tội, nào là đòn vọt, xích xiềng…  Với 6 triều vua cùng 53 sắc dụ cấm đạo đã cướp đi mạng sống của trên 130 ngàn người Công Giáo.  Họ đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ niềm tin của mình.

Có lẽ, không chỉ giáo đoàn Việt Nam, mà trong suốt dọc dài của lịch sử Giáo Hội, người tín hữu Chúa Kitô dường như đều gắn liền với những cuộc bách hại.  Trong thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu cũng bị bách hại dữ dội, thế nhưng các ngài vẫn không hề nao núng.  Sách Công vụ Tông Đồ thuật lại rằng, mặc dù bị đánh đập, hành hạ, nhưng khi các Tông đồ ra khỏi hội đường của người Do Thái thì “lòng đầy hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Chúa Giêsu Kitô.”

Cũng vậy, các thánh Tử Đạo Việt Nam – cha ông chúng ta – đã cảm thấy hãnh diện vì được chịu khổ nhục vì đạo Chúa.  Không những thế, các ngài còn đón nhận những hình khổ cũng như cái chết một cách vui mừng, mà không một chút nao núng, như trường hợp của Thánh Phêrô Đoàn Công Quý: “Dù trăng trói, gông cùm tù rạc, Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề.  Miễn vui lòng cam chịu một bề.  Cho trọn đạo trung thần hiếu tử.”; hay trường hợp của Thánh Anrê Trần An Dũng Lạc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới.  Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.  Làm kẻ anh hùng chi quản khó.  Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn.”

Đã có một thời, thậm chí ngay cả ngày hôm nay, nhiều người không cùng niềm tin với chúng ta vẫn còn tỏ ra dè dặt về danh xưng “Tử Đạo.”  Có lẽ vì hai chữ “Tử Đạo” dễ khiến người ta liên tưởng đến những cuộc thánh chiến hay những cuộc đánh bom tự sát chăng?

Nhưng đối với trường hợp của các thánh Tử Đạo Việt Nam thì không như vậy.  Mặc dù các ngài ở những bậc sống khác nhau, xuất thân từ những môi trường không giống nhau: có vị là Giám mục, có vị là linh mục, rồi thầy giảng, trùm trưởng, giáo dân; thậm chí có vị còn nắm giữ những trọng trách trong triều đình như Thánh Micae Hồ Đình Hy.  Tuy nhiên, các ngài đều có một điểm chung đó là tình mến Chúa thiết tha và lòng yêu mến quê hương nồng nàn.  Cái chết của các ngài không hề mang màu sắc của sự thù hận, nhưng phát xuất từ một niềm tin, như lời Thánh Micae Hồ Đình Hy: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước.  Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”

Nguyên ngữ của chữ Tử Đạo (Martyr) có nghĩa là “Người làm chứng.”  Ngày hôm nay, có lẽ không còn những cuộc bách hại đẫm máu, những tra tấn, gông cùm, tù tội…, hoặc ít ra là không gắt gao như thời của các Thánh Tử Đạo – cha ông chúng ta.  Tuy nhiên, người tín hữu sống đạo hôm nay, vẫn phải đối mặt với muôn vàn thử thách.

Văn hóa thực dụng và lối sống hưởng thụ thời nay, một cách nào đó, đã và đang cản trở chúng ta thực thi các đòi hỏi của Tin Mừng.  Giữa thế giới văn minh, tiện nghi, việc đạo được nhiều thuận lợi, biết đâu, có khi chúng ta lại dễ dàng chối bỏ niềm tin của mình?  Đó là khi chúng ta sống ích kỷ, chỉ chăm lo đến ốc đảo của riêng mình; đó là khi chúng ta bỏ qua lời thề ước của hôn nhân để ngoại tình; đó là khi những người mẹ giết con bằng hành vi phá thai; đó là khi những người trẻ sống một cách buông thả; đó là khi chúng ta coi trọng những cuộc nhậu nhẹt say sưa hơn là các giờ kinh lễ; đó là khi chúng ta chia rẽ, hận thù và phá vỡ mối giây hiệp nhất trong cộng đoàn…

Làm sao để chúng ta có thể vẫn ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, là điều không hề đơn giản.  Chúa muốn chúng ta là nắm men vùi trong đống bột.  Men không được tách khỏi bột, và men cũng không được biến chất thành bột . Bởi vì nếu như thế, men sẽ trở nên vô ích.  Cũng như muối mà mất đi chất mặn thì chỉ còn cách đổ ra đường để cho người ta chà đạp lên…

Sẽ khó có thể nói được rằng Tử đạo ở thời nào hay nơi nào khó hơn.  Bởi vì, mỗi thời, mỗi nơi, đều có những khó khăn thử thách riêng.  Các vị Tử đạo cha ông chúng ta, đã phải hứng chịu những bách hại, đặc biệt là những gian khổ về mặt thể lý, như đòn vọt, gông cùm, tù tội… còn chúng ta ngày hôm nay, mặc dù không chịu những thử thách tương tự, thế nhưng để giữ đạo và sống đạo cho đúng với ơn gọi làm người Kitô hữu của mình, chúng ta đã phải tử đạo mỗi ngày, mà người ta vẫn gọi là “những người tử đạo trắng.

Người Kitô hữu sống đạo hôm nay được kể như người đang “lội ngược dòng đời.”  Đang khi thế gian chạy theo tiền bạc và hưởng thụ, tìm mọi cách để vun vén cho bản thân, chúng ta lại được mời gọi sống cho tha nhân, và mưu cầu hạnh phúc cho người khác.  Đang khi cuộc sống hôm nay đầy dẫy những lọc lừa, gian dối, chúng ta lại được mời gọi sống ngay thẳng và làm chứng cho sự thật.  Đang khi thế gian coi nhẹ phẩm giá con người, chúng ta được mời gọi tôn trọng sự sống và bảo vệ những mầm sống đó ngay từ những giây phút đầu tiên trong thai bào.  Đang khi mối quan hệ gia đình, sự thủy chung trong đời sống vợ chồng ngày một trở nên lỏng lẻo, chúng ta lại được gọi mời sống trung thành với nhau cho đến chết…  Và mỗi lần sống như thế, là mỗi lần chúng ta tử đạo.

Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, mỗi người chúng ta đều được mời gọi trở nên những chứng nhân cho Đức Kitô qua đời sống yêu thương phục vụ.  Nhờ đó, Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô sẽ được lan tỏa đến tận cùng trái đất.

Lạy Chúa Giêsu, vị tử đạo tuyệt vời!  Chúa đã hy sinh mạng sống mình vì lòng yêu mến Chúa Cha và yêu thương loài người chúng con.  Xin hãy dạy chúng con biết đáp đền tình yêu lớn lao ấy bằng chính cuộc sống chứng tá của chúng con.  Xin cho chúng con giữ được vị mặn của muối, và độ nồng của men, để đem đến cho cuộc đời này một sức sống mới.  Amen!

Lm Jos. Nguyễn Văn Tuyên

SIÊNG NĂNG VÀ BIẾNG NHÁC

Giữa những toan tính bon chen của cuộc sống hằng ngày, vào lúc cuối năm, Phụng vụ nhắc chúng ta đừng quên tính sổ với Chúa, để “kết toán” những gì chúng ta đã sống, đã hành động, đồng thời đừng quên ơn mà chúng ta đã lãnh nhận từ Chúa.  Những ơn đó cũng chính là số vốn mà Chúa trao cho chúng ta quản lý và sinh lợi.  Có những người sử dụng ơn Chúa ban một cách siêng năng và sinh lợi gấp nhiều lần, nhờ vậy mà được ban thưởng; nhưng cũng có những người biếng nhác, chẳng chịu làm gì, để rồi bị chúc dữ và chịu án phạt.  Vào lúc năm cùng tháng tận, chúng ta cần suy xét cuộc đời, nhờ đó, xác định hướng đi, với hy vọng đạt tới hạnh phúc vào lúc cuối cuộc đời.

Bài Tin Mừng hôm nay được đặt vào ngữ cảnh một chuỗi những bài giảng về cánh chung, tức là ngày tận thế.  Chúa Giêsu đã giáo huấn bằng 5 dụ ngôn liên tiếp, đó là dụ ngôn về đại hồng thủy (Mt 24,37-42); về kẻ trộm ban đêm (Mt 24,43-44); về người đầy tớ trung tín (Mt 24,45-51); về mười cô trinh nữ (Mt 25,1-13).  Như vậy, dụ ngôn những nén bạc (Mt 25,14-30) là dụ ngôn cuối cùng của chuỗi dụ ngôn này, trước khi Chúa nói về cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46).

Thật hiếm thấy tác giả Tin Mừng dùng ngôn ngữ của thương mại để diễn tả giáo huấn của Chúa Giêsu.  Nên lưu ý, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, chữ “Talent” vừa có nghĩa là “yến bạc” hoặc đơn vị tiền tệ, vừa có nghĩa là “tài năng.”  Một tác giả đã nghiên cứu lịch sử và lượng giá một “Talent” hay một yến bạc thời Chúa Giêsu tương đương với thu nhập của 15 năm đối với một người lao động bình thường.  Dụ ngôn muốn nói với chúng ta, những gì chúng ta có được, kể cả tài năng và của cải, đều là Chúa trao cho chúng ta quản lý và sinh lợi.  Sẽ đến lúc chúng ta phải tường trình về cách sử dụng những tài năng và của cải đó.

Ông chủ trong dụ ngôn vừa khôn ngoan và vừa quảng đại.  Ông khôn ngoan vì biết khả năng của mỗi đầy tớ.  Ông quảng đại vì không hề ra điều kiện buộc phải sinh lợi bao nhiêu với số vốn đã trao.  Ông chủ chính là hình ảnh Thiên Chúa.  Ngài ban cho chúng ta những yến bạc, những tài năng để chúng ta sinh lợi.  Người ban nhiều hay ít là tùy theo khả năng của mỗi người.  Chúa trao cho chúng ta sức khỏe, trí thông minh, hoàn cảnh gia đình, bạn bè và những điều kiện thuận lợi.  Đó là vốn liếng chúng ta được nhận từ Chúa và chúng ta có bổn phận phải sinh lợi.  Sau khi trao phó của cải cho các đầy tớ, ông chủ đi xa lâu ngày.  Thiên Chúa cũng dường như vắng bóng trong cuộc đời của chúng ta.  Chúng ta không nhìn thấy Ngài.  Nhưng chắc chắn có ngày Ngài đến để thanh toán sổ nợ với chúng ta.  Người Kitô hữu tin rằng đó là lúc sau hết của cuộc đời con người.  Khi ấy, Thiên Chúa sẽ đến gặp gỡ chúng ta và chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa về số vốn được trao.

Người đầy tớ thứ nhất và thứ hai được ông chủ khen là “tài giỏi và trung thành,” vì họ đã làm lợi gấp đôi số vốn được trao.  Khi tuyên bố: “Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh,” ông chủ đã đưa anh từ địa vị đầy tớ lên ngang hàng với ông chủ, không còn phân biệt “chúa-tôi” nữa.  Nói cách khác, nhờ sự trung thành và cần mẫn, hai người đầy tớ đã thoát khỏi thân phận nô lệ mà trở nên như con cái của ông chủ, được cho hưởng niềm vui và vinh quang.  Đây cũng là mạc khải Kitô giáo về ý nghĩa và phẩm giá con người.  Những ai tin vào Chúa Giêsu và thực hành giáo huấn của Người sẽ trở nên những nghĩa tử của Thiên Chúa.  Sau khi kết thúc cuộc sống đời này, họ được đón nhận vào nhà Chúa để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.  Họ không còn phải than khóc, buồn sầu, nhưng được hưởng niềm vui trọn vẹn mà Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến và phụng sự Ngài.

Thân phận của người đầy tớ thứ ba thì lại không được như thế.  Anh bị ông chủ mắng là “vô dụng, xấu xa và biếng nhác.”  Anh không thật tâm với ông chủ.  Bằng chứng là mặc dù anh chịu ơn ông chủ, nhưng trong đầu óc của anh luôn nghĩ xấu về chủ mình.  Những nhận định của anh về ông chủ vừa thiếu thiện chí vừa mang tính vu khống: “Tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi…”  Tại sao lại nói ông chủ là người “gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi” trong khi chính ông chủ đã trao tận tay anh ta một yến bạc để làm vốn?  Hơn nữa, trong khi hai người đầy tớ trước rất tự tin nói với ông chủ: “Ông đã trao cho tôi năm (hai) yến, tôi đã gây lời được năm (hai) yến khác đây,” thì anh đầy tớ lười nhác này lại nói với ông chủ: “Của ông vẫn còn nguyên đây này!”  Cách nói “Nén bạc của ông” và “Của ông vẫn còn nguyên” ở câu 25 cho thấy người đầy tớ xấu xa và lười nhác chưa bao giờ coi số vốn đó là như của mình, để rồi anh quan tâm làm cho sinh lợi.  Anh là người vô trách nhiệm và thiếu thiện chí.  Một điều nhỏ nhất anh có thể làm được mà anh cũng bỏ không làm, đó là đem gửi số bạc đó vào ngân hàng để hưởng lợi.  Anh đáng khiển trách không phải vì đã làm điều xấu, nhưng vì anh biếng nhác không chịu làm gì.  Hơn thế nữa, anh còn có lối suy nghĩ không tốt về chủ mình, người chủ đã tin tưởng trao vốn cho anh một yến bạc, dù biết khả năng anh khiêm tốn.  Hình phạt cho anh đã rõ ràng và thích đáng: anh bị tước mất một yến bạc được trao phó và bị tống ngục.  Ngục giam ở đây được trình bày như một nơi tăm tối và khóc lóc, là nơi thiếu vắng tình yêu.  Đó chính là cách diễn tả hỏa ngục theo niềm tin của Do Thái giáo.

Siêng năng là một đức tính cần thiết trong đời sống Đức Tin cũng như trong đời sống xã hội.  Tác giả sách Châm ngôn diễn tả sự siêng năng qua chân dung một người phụ nữ đức hạnh.  Nàng biết miệt mài làm việc trong gia đình.  Nơi nàng, người chồng đặt niềm tin tưởng hoàn toàn.  Nàng luôn biết quan tâm đến những người xung quanh, mang cho họ niềm vui và nụ cười (Bài đọc I).  Đó là vẻ đẹp nội tâm, vượt xa những vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài.

Siêng năng cũng mang một khuôn mặt khác là tỉnh thức.  Vâng, chúng ta cần tỉnh thức, vì cuộc sống này chính là một cuộc chờ đợi không ngừng.  Chúa sẽ đến vào giờ chúng ta không ngờ, ngay cả lúc người ta nghĩ là yên ổn và an bình.  Hãy tỉnh thức và sống tiết độ, đó là lời khuyên của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Thessalonica (Bài đọc II).  Đó cũng là thông điệp mà Giáo Hội gửi đến chúng ta trong những ngày cuối năm này.

Bốn điều mà thế hệ trẻ nên suy gẫm:

– Thất bại là gì?  Bỏ cuộc là thất bại lớn nhất.

– Kiên cường là gì?  Một khi bạn đã kinh qua gian khó, uất hận và thất vọng, chỉ khi đó bạn mới hiểu được kiên cường là gì.

– Nghĩa vụ của bạn là: Siêng năng hơn, chăm chỉ hơn, và tham vọng hơn người khác.

– Chỉ kẻ ngu muội mới dùng miệng để nói.  Người thông minh dùng trí óc, và người sáng suốt dùng trái tim (Samuel Johnson).

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

THƯỚC ĐO ĐỨC TIN

“Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi!”

Tại một miền quê khá yên tĩnh, một mục sư tận tụy phục vụ, dù con số giáo dân thật ít ỏi.  Năm này qua năm khác, sứ vụ của ông xem ra khá đơn điệu.  Chỉ sau nhiều năm, ông mới biết, một trong những người mà ông đã chinh phục cho Chúa Kitô là Charles Spurgeon, mệnh danh “Hoàng Tử của Các Nhà Truyền Giáo.”  Spurgeon đã đem về cho Chúa hàng vạn linh hồn.  “Không có giới hạn nào cho những điều tốt mà một người có thể làm, nếu người ấy không quan tâm đến phần thưởng!”

Kính thưa Anh Chị em,

Sứ điệp Tin Mừng hôm nay không dựa trên thái độ của ‘chủ’ nhưng dựa trên thái độ của ‘tớ,’ thái độ phục vụ!  Chúa Giêsu cho biết, đó chính là ‘thước đo đức tin’ của người môn đệ.  ‘Tớ’ phải hoàn thành nhiệm vụ mà không mong đợi phần thưởng của ‘chủ.’

Chúa Giêsu tiết lộ điều này bằng một dụ ngôn, mà thoạt đầu, gây bối rối: một ông chủ hống hách và thờ ơ.  Nhưng chính thái độ khô khốc ‘chủ tớ’ của ông lại làm nổi bật sự nhu mì nơi người đầy tớ.  Đây là cách bày tỏ đức tin bạn và tôi cần có đối với Chúa: khiêm tốn phục vụ, không tính toán hay viện cớ mình đã làm được điều này điều kia.

“Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng” diễn tả sự khiêm nhường và sẵn lòng, mang lại nhiều lợi ích cho Giáo Hội và thế giới từ những con người thầm lặng.  Nếu tôi tớ phải hoàn thành bổn phận của họ, thì chúng ta, môn đệ Giêsu, phải hoàn thành sứ mệnh Ngài trao biết bao!  Chúng ta sẽ làm tất cả cách hân hoan, vui vẻ; vì lẽ, bất cứ điều gì chúng ta có, chúng ta là, đều đã là quà tặng của Thiên Chúa và chúng đến từ Ngài.

Đối với những người có đức tin, mọi sự đều là dấu chỉ; đối với những người yêu thương, mọi thứ đều là quà tặng!  Làm việc cho Vương Quốc đã là một phần thưởng lớn lao; do đó câu nói “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng” không nên được giải thích với sự chán nản hay buồn bã, nhưng đó phải là tâm tình của một môn đệ đầy tràn niềm vui thực sự khi biết mình được mời cộng tác với Chúa trong tiến trình cứu độ của Ngài.  Thánh Vịnh đáp ca thật sâu lắng, “Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa!”  Thế thôi!

Đức Bênêđictô 16 nói, “Nếu chúng ta phục vụ ý muốn của Thiên Chúa với lòng khiêm tốn, không đòi hỏi bất cứ điều gì từ Ngài, thì chính Chúa Giêsu lại phục vụ chúng ta, giúp đỡ chúng ta, khích lệ chúng ta; Ngài ban cho chúng ta sức mạnh và sự thanh thản!” Bài đọc khôn ngoan hôm nay viết, “Ai trung thành, sẽ được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân phúc và xót thương những ai Người tuyển chọn!”  Sự trung thành tin yêu đó là ‘thước đo đức tin’ của người môn đệ!

Anh Chị em,

“Chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi!”  Phục vụ Thiên Chúa, bạn và tôi đừng bao giờ nghĩ mình đang ‘làm ơn’ cho Ngài!  Đó không phải là một hành động ‘rộng lượng’ từ phía chúng ta mà là ‘rộng lượng’ từ phía Ngài!  Chúa chẳng hề nợ ai!  Như Mẹ Maria, bạn và tôi xem những gì Chúa trao là một ân phúc trọng đại; và coi đó là ‘phương tiện’ nhanh nhất Chúa ban để chúng ta cất bước trên lộ trình hướng tới đỉnh trọn lành.  Hiểu được Chúa là ai, chúng ta sẽ không bao giờ ngần ngại làm tôi tớ, thậm chí là nô lệ Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, thông thường, ‘chưa làm, con đã đòi thưởng.’  Dạy con làm điều tốt một cách không giới hạn, chẳng màng quan tâm đến việc thưởng khen chốn bụi trần này!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LUYỆN NGỤC Ở ĐÂU TRONG KINH THÁNH

Đã bao giờ có ai hỏi bạn rằng tại sao người Công giáo lại tin có Luyện Ngục khi người đó vui vẻ nói rằng Luyện Ngục không có trong Kinh Thánh?  Vậy tại sao tín nhân Công giáo có thể tin có Luyện Ngục khi không tìm thấy chữ “Luyện Ngục” trong Kinh Thánh?

Người đó đúng, trong Kinh Thánh không thấy chữ “Luyện Ngục” nào.  Là người Công giáo, bạn trả lời thế nào?  Có ba điều cần biết để trả lời.

1. DÙNG TÍNH LOGIC CỦA CÂU HỎI ĐỂ NÓI VỚI HỌ

Giả định trong câu hỏi là nếu điều gì đó không tìm thấy trực tiếp trong Kinh Thánh thì Kitô hữu chúng ta không nên tin điều đó.  Kiểu suy nghĩ này là hệ quả của giáo điều Tin Lành về Sola Scriptura – Duy Kinh Thánh, họ cho rằng chỉ có Kinh Thánh là tất cả những gì tín nhân cần để xác định giáo lý và giáo điều đúng đắn.  Họ cho rằng điều đó làm cho tín nhân Công giáo sai lầm khi tin có Luyện Ngục, bởi vì chữ “Luyện Ngục” không có trong Kinh Thánh.

Vậy làm thế nào để biến logic của họ chống lại họ?  Tôi hỏi họ xem họ có bao giờ nghe nói bàn thờ trong nhà thờ của họ hay không.  Nếu họ nói có, tôi yêu cầu họ chỉ cho tôi nơi các chỗ bàn thờ được đề cập trong Kinh Thánh.  Nhưng họ không thể dẫn chứng.  Sau đó, tôi hỏi họ có đến nhà thờ vào đêm thứ Tư hay không.  Tôi không biết các nơi khác thế nào, nhưng ở miền Nam, đêm thứ Tư là đêm nhà thờ của những người theo đạo Tin Lành.  Nếu họ nói có đến nhà thờ vào đêm thứ Tư, tôi yêu cầu họ chỉ cho tôi việc thực hành đó được đề cập ở chỗ nào trong Kinh Thánh.  Họ không trả lời được.  Cuối cùng, tôi hỏi họ có tin vào Chúa Ba Ngôi hay không. Tất nhiên họ tin vào Chúa Ba Ngôi.  Vì thế, tôi hỏi: “Bạn có thể chỉ cho tôi chữ ‘Ba Ngôi’ ở chỗ nào trong Kinh Thánh?”  Họ không trả lời được.

Tuy nhiên, chắc chắn họ sẽ nói rằng Chúa Ba Ngôi thực sự có trong Kinh Thánh.  Chúa Cha được nhắc đến.  Chúa Con được nhắc đến.  Chúa Thánh Thần được nhắc đến.  Khi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, cả ba ngôi vị của Chúa Ba Ngôi đều hiện diện.  Tôi nói: “Vì vậy, mặc dù chữ ‘Ba Ngôi’ không được đề cập trong Kinh Thánh, nhưng khái niệm về Chúa Ba Ngôi vẫn có trong Kinh Thánh, điều này khiến các tín nhân tin được chứ?”  Tôi luôn nhận được câu trả lời xác định.  Đó là cách tôi lý luận để họ thấy khái niệm về Luyện Ngục trong Kinh Thánh.

2. SÁCH SAMUEL

Tôi thích bắt đầu từ 2 Sm 12:13-18.  Sách này ghi:  Bấy giờ vua Đavít nói với ông Nathan: “Tôi đắc tội với Đức Chúa.”  Ông Nathan nói với vua Đavít: “Về phía Đức Chúa, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết.  Thế nhưng vì trong việc này ngài đã cả gan khinh thị Đức Chúa, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết.”  Rồi ông Nathan trở về nhà.  Vua Đavít cầu khẩn Thiên Chúa cho đứa trẻ, vua ăn chay nhiệm nhặt, và khi về nhà ngủ đêm thì nằm dưới đất.  Các kỳ mục trong nhà của vua nài nỉ xin vua trỗi dậy, nhưng vua không chịu và cũng chẳng ăn chút gì với họ.  Đến ngày thứ bảy, đứa bé chết.  Triều thần vua Đavít sợ không dám báo tin cho vua biết là đứa bé đã chết, vì họ bảo nhau: “Khi đứa trẻ còn sống, chúng ta đã nói với đức vua và người đã không nghe chúng ta.  Bây giờ làm thế nào để nói với người là đứa bé đã chết?  Hẳn người sẽ làm liều!”

Chúng ta thấy gì ở đây?  Vua Đavít phạm tội – ngoại tình và giết người.  Ông nhận ra mình đã phạm tội, ông ăn năn và được tha thứ – Chúa “xóa bỏ” tội lỗi của ông.  Tuy nhiên, ông nhận hình phạt về tội lỗi của mình sau khi ông được tha thứ – đứa con chết.

Nguyên Tắc Kinh Thánh Công giáo 1 – có thể bị trừng phạt vì tội lỗi ngay cả khi người ta đã được tha thứ.  Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang Tân Ước.  Kh 21:27 nói: “Tất cả những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không được vào thành, mà chỉ có những người có tên ghi trong Sổ trường sinh của Con Chiên mới được vào.”  Điều này đề cập Giêrusalem Mới – Thiên Đàng.

Nguyên Tắc Kinh Thánh Công giáo 2 – không có gì ô uế, nói cách khác là không có dấu vết tội lỗi, sẽ được vào Thiên Đàng.

Dt 12:22-23 nói: “Nhưng anh em đã tới núi Sion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ.  Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời.  Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện.”

Nguyên Tắc Kinh Thánh Công giáo 3 – có một cách, một quá trình, qua đó tinh thần của những người “công chính” được “hoàn thiện.”

Cuối cùng, tôi dùng 1 Cr 3:13-15: “Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng.  Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì Ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người.  Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng.  Còn công việc của ai bị thiêu huỷ, thì người ấy sẽ phải thiệt.  Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa.”

Sau khi chết, nơi nào người ta được thử nghiệm các công việc của mình, và có thể mất mát – như qua lửa, nhưng vẫn được cứu độ?  Hỏa Ngục chăng?  Không, một khi bạn ở trong Hỏa Ngục thì bạn không thể thoát ra.  Thiên Đàng chăng?  Không, bạn không mất mát như qua lửa trên Thiên Đàng.  Vậy thì phải ở một nơi khác.

Nguyên Tắc Kinh Thánh Công giáo 4 – có một địa điểm, hoặc trạng thái tồn tại, không phải là Thiên Đàng hoặc Hỏa Ngục.

Bây giờ, chúng ta hãy tóm tắt bốn nguyên tắc Kinh Thánh Công giáo như sau: Có thể bị trừng phạt vì tội lỗi ngay cả khi người ta đã được tha thứ.  Không có dấu vết tội lỗi sẽ được vào Thiên Đàng.  Có một số cách, hoặc một quá trình, nhờ đó mà linh hồn của những người công bình được hoàn thiện.  Có một nơi ngoài Thiên Đàng và Hỏa Ngục, nơi mà bạn có thể chịu mất mát sau khi chết, nhưng vẫn được cứu độ, nhưng chỉ như qua lửa.  Bạn đặt tất cả các nguyên tắc đó lại với nhau, và về bản chất, bạn vừa mô tả giáo huấn của Công giáo về Luyện Ngục.  Kết luận: Luyện Ngục có trong Kinh Thánh.

3. CHÚNG TA CÓ THỂ HOÀN HẢO NGAY BÂY GIỜ?

Vượt ra ngoài Kinh Thánh, bạn có thể thêm vào cái mà tôi gọi là viễn cảnh thông thường về Luyện Ngục – điều 3.  Nó thế này: Hãy hỏi: Hiện tại bạn có hoàn hảo hay không?  Về mọi mặt – thể chất, tinh thần, cảm xúc và tinh thần – bạn có hoàn hảo hay không?  Bạn có vướng mắc tội lỗi gì hay không?  Bạn chưa bao giờ có ý nghĩ xấu, nói lời xấu, làm điều gì đó không nên hoặc không làm điều gì đó nên làm?  Bạn có bao giờ bị bệnh?  Tôi đã hỏi rất nhiều người như thế và chưa bao giờ có ai nói với tôi rằng họ hoàn hảo!

Tôi nói: “Vậy là bạn không hoàn hảo.  Giả sử bạn chết ngay lúc này và được lên Thiên Đàng.  Bạn sẽ được hoàn hảo trên Thiên Đàng chăng?”  Những người Tin Lành luôn trả lời: “Vâng, tôi sẽ hoàn hảo trên Thiên Đàng.”

Chắc chắn là vậy.  Bạn sẽ hoàn toàn hiệp nhất với Thân Thể của Đức Kitô, không còn tội lỗi, không còn đau đớn, không còn đau khổ, không còn bệnh tật.  Linh hồn của bạn sẽ không còn tội lỗi và thể xác của bạn – sau khi phục sinh từ cõi chết – sẽ ở trong trạng thái vinh quang.  Bạn sẽ là người hoàn hảo trên Thiên Đàng.

Sau đó, tôi yêu cầu họ suy nghĩ về những gì họ vừa thừa nhận.  Bạn chết không hoàn hảo; nhưng bạn vào Thiên Đàng hoàn hảo.  Làm thế nào mà điều đó xảy ra?  Giữa lúc chết và lúc được vào Thiên Đàng, phải có một quá trình nào đó mà linh hồn của “những người công chính được nên hoàn thiện.” (Dt 12:23) N hững điểm không hoàn hảo của bạn được “thanh lọc” khỏi bạn.  Tôi bảo người Tin Lành gọi quá trình đó là bất cứ thứ gì họ muốn, nhưng quá trình đó là cái mà người Công giáo chúng ta gọi là “Luyện Ngục.”

John MartignoniTrầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

ĐỨC KHÔN NGOAN

“Khôn ngoan”, trong từ điển Tiếng Việt được định nghĩa là “khéo léo trong việc cư xử với mọi người.”  Từ điển Wikipedia lại giải thích dài hơn như sau: “Sự khôn ngoan hay sự thận trọng (tiếng Latinh: prudentia, tiếng Anh: prudence) là khả năng quản trị và kỷ luật bản thân thông qua việc sử dụng lý trí.  Sự khôn ngoan được coi là một đức hạnh, và đặc biệt là một trong bốn đức hạnh cốt yếu (cùng với Can đảm, Công bằng và Tiết độ).”  Đối với thánh Tô-ma A-qui-nô, ngài coi khôn ngoan là nguyên nhân, phương pháp và hình thức của mọi đức hạnh.

Lời Chúa trong cuốn sách mang tên “Sách Khôn Ngoan” của Chúa nhật 32 hôm nay lại định nghĩa “khôn ngoan” theo một ý hướng khác.  Xin lưu ý là chữ “Khôn Ngoan” tác giả đặt ở chữ viết hoa.  Điều này cho thấy “Đức Khôn Ngoan” ở đây không theo nghĩa thông thường.  Dưới lăng kính Ki-tô giáo, Đức Khôn Ngoan chính là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người có từ thuở ban sơ, hiện diện cùng với Thiên Chúa, để cùng Chúa Cha sáng tạo muôn loài.  Những ai thiện chí tìm kiếm Đức Khôn Ngoan thì Người sẽ cho gặp.  Đức Giê-su đã quả quyết: “Hãy đến với Ta tất cả, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi” (Mt 11,28).  Hôm nay, Đức Giê-su, tức là Đức Khôn Ngoan, vẫn đang không ngừng tìm kiếm chúng ta.  Người sẽ tỏ mình ra cho chúng ta, nếu chúng ta trở nên nghĩa thiết với Người.  Người soi sáng cho chúng ta, nhờ đó chúng ta nhận ra lẽ phải để biết đối nhân xử thế một cách hài hòa.

Hiểu như thế, chúng ta sẽ nhận ra, lý tưởng đời sống Ki-tô hữu là tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, tức là Đức Ki-tô, đồng thời cố gắng mỗi ngày để nên giống như Người.  Danh xưng “Ki-tô hữu”, vừa có nghĩa “người được xức dầu”, vừa khẳng định chúng ta thuộc về Đức Ki-tô, tin vào Đức Ki-tô và phấn đấu để nên giống Đức Ki-tô trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Một khi có Đức Khôn Ngoan hướng dẫn, chúng ta sẽ biết nhìn xa trông rộng, để sống tốt hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.  Trên đời, có những người đạt được Đức Khôn Ngoan; nhưng cũng có người không được như vậy.  Dụ ngôn “Mười trinh nữ” được thánh Mát-thêu đặt vào văn mạch những bài giảng của Chúa Giê-su về cánh chung, tức là vào lúc tận thế.  Người ta có thể khôn ngoan trong những suy tính thế gian, nhưng chưa chắc đã khôn ngoan khi lo liệu hạnh phúc vĩnh cửu.  Những cô khờ dại chỉ nhìn trước mắt.  Họ chú ý đến trang điểm và làm duyên cầu kỳ, mà không nghĩ đến sự thận trọng và vẻ đẹp tâm hồn.  Một điều cần lưu ý là cả người khôn và người dại cuối cùng đều phải trình diện trước nhan Chúa, nhưng tương lai của họ thì hoàn toàn khác nhau.

Như chúng ta đã biết, hình ảnh tiệc cưới được Chúa Giê-su sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng, hầu hết đều mang nội dung giáo huấn về ngày cánh chung.  Sống ở đời, chúng ta đang chuẩn bị cho ngày đó. Dù sớm hay muộn, ngày ấy cũng sẽ đến.  Nhiều người lập luận rằng: những người Công giáo cứ nói đến cánh chung từ hàng ngàn năm nay rồi, mà ngày ấy đâu có đến.  Quả thật, ngày cánh chung chưa đến, nhưng Chúa Giê-su nói với chúng ta trong câu kết của bài Tin Mừng hôm nay: “Anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào” (câu 13).  Hơn nữa, nếu ngày cánh chung hay tận thế hiểu theo nghĩa phổ quát chưa đến, thì đối với mỗi chúng ta, lúc kết thúc cuộc đời dương thế, mà chúng ta vẫn gọi là giờ chết, thì đó chính là tận thế và là ngày phán xét riêng Chúa dành cho chúng ta.  Đó là lý do vì sao chúng ta phải luôn khôn ngoan chuẩn bị cho tương lai đời mình.  Năm trinh nữ khờ dại đã không nghĩ đến chuyện đó, nên các cô đã bị lỡ.

Qua dụ ngôn “Mười trinh nữ” Chúa Giê-su cũng dạy chúng ta về sự sống sau khi chết.  Chết là biến đổi sang trạng thái khác.  Đối với những ai tín trung với Chúa, chết là gặp gỡ Chúa, và là dự tiệc vui muôn đời.  Thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Thê-xa-nô-ni-ca đã đưa ra lời giải thích về sự chết, để người tín hữu không còn buồn phiền bi quan.  Chúng ta kẻ trước người sau, ai cũng phải đến lúc kết thúc cuộc đời.  Nếu sống thánh thiện thì sẽ được gặp nhau mãi mãi trên quê trời.

Tháng Mười Một hằng năm được dành riêng để tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người đã khuất.  Dụ ngôn “Mười trinh nữ” cũng thường được đọc trong thánh lễ an táng và cầu hồn, như một lời mời gọi những ai đang sống hãy tỉnh thức và sẵn sàng.  Khi cầu nguyện cho người đã qua đời, chúng ta cũng nghĩ đến thân phận mình.  Hãy tìm kiến Đức Khôn Ngoan.  Hãy theo học với Người.  Tác giả Thánh vịnh (Đáp ca) đã thưa với Chúa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, ngay từ rạng đông, con tìm kiếm Chúa.”  Ước chi mỗi chúng ta cũng khởi đầu ngày mới bằng việc tìm kiếm Chúa, tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, để chúng ta cũng được nên khôn ngoan giống như Người.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

SỰ HIỆP THÔNG CỦA CÁC THÁNH

Hầu hết thế giới tin rằng chết không phải là hết, tin rằng có một dạng bất diệt.  Hầu hết mọi người tin rằng những người đã chết vẫn còn tồn tại trong một tình trạng nào đó, theo phương thức nào đó, ở một nơi nào đó, là thiên đàng hay hỏa ngục, dù cho chúng ta không biết được.  Trong một vài khái niệm, sự bất tử được xem là một tình trạng nơi con người đó vẫn ý thức và lý luận, trong khi khái niệm khác, thì xem sự hiện hữu sau cái chết là có thực nhưng phi nhân thể, như một giọt nước rơi vào đại dương.

Còn chúng ta, những Kitô hữu, thì chúng ta có niềm tin.  Chúng ta tin rằng người chết vẫn còn sống, vẫn là họ, và rất quan trọng là vẫn trong một mối liên hệ sống động, có ý thức và đầy yêu thương với chúng ta và với nhau.  Đây là khái niệm chung của chúng ta về thiên đàng, dù cho có đơn giản hóa các trình bày theo từng thời điểm, nhưng khái niệm này thật đúng.  Đây chính xác là những gì mà đức tin và tín lý Kitô giáo mời gọi chúng ta.  Sau cái chết, chúng ta sống trong mối hiệp thông có ý thức, tự ý thức, với những người đã chết trước chúng ta, hiệp thông với những người còn ở trần thế, và hiệp thông với sự thần thiêng.  Đây chính là giáo lý Kitô giáo về sự Hiệp thông của các thánh.

Vậy chúng ta phải hiểu thế nào đây?  Và làm sao để chúng ta kết nối với những người thân yêu sau khi họ đã chết?  Hai hình ảnh Kinh thánh sau đây có thể cho chúng ta một điểm mở để hiểu được điều này.  Cả hai đều ở trong Tin mừng.

Tin nói rằng, ngay khi Chúa Giêsu chết, thì màn đền thờ xé ra làm hai, và đất rung chuyển, các tảng đá nứt ra.  Các mộ phần mở ra và xác của nhiều vị thánh trỗi dậy (Mt 27, 50-52).  Tin mừng còn kể cho chúng ta biết vào rạng sáng ngày Phục Sinh, có vài phụ nữ đến mộ Chúa để xức dầu thơm cho xác Ngài, nhưng họ chỉ thấy ngôi mộ trống và hai thiên thần: ‘Tại sao các bà tìm người sống ở nơi mồ mả?  Ngài không có ở đây.  Ngài đang sống, và các bà có thể thấy Ngài ở Galilee.’ (Lc 24, 5).  Những hình ảnh đó có thông điệp gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng chúng ta được ban sự sống bất diệt qua cái chết của Chúa Giêsu.  Và Tin mừng trình bày sự thật này qua hình tượng trên.  Cái chết của Chúa Giêsu ‘mở toang cửa mồ’ và làm cho các ngôi mộ nên trống không.  Vì lý do đó, các Kitô hữu chưa bao giờ có những việc sùng kính lớn với nghĩa trang.  Là Kitô hữu, chúng ta không cử hành nhiều các việc thiêng liêng quanh các phần mộ?  Tại sao?  Bởi chúng ta tin rằng tất cả những phần mộ này đều trống không.  Người thân yêu của chúng ta không có ở đó và chẳng thể tìm thấy ở đó.  Họ đang ở cùng với Chúa Giêsu, ở ‘Galilee.’

Vậy ‘Galilee’ trong hình ảnh kinh thánh này là gì?  Trong Tin mừng, Galilee không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà là một nơi chốn bên trong Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Thiên Chúa và của chúng ta.  Trong Tin mừng, Galilee là một nơi mà nhiều việc tốt đẹp diễn ra.  Đây là nơi mà các môn đệ lần đầu gặp Chúa Giêsu, nơi họ bắt đầu yêu mến Ngài, nơi họ dấn thân theo Ngài, và nơi xảy ra nhiều phép lạ.  Galilee là nơi Chúa Giêsu mời chúng ta đi trên mặt nước.  Galilee là nơi mà linh hồn các môn đệ được mở mang và bồi dưỡng.

Và đây cũng là nơi cho mỗi một người thân yêu đã khuất của chúng ta.  Trong đời sống của mỗi người, có một Galilee, là nơi mà nhân thể và linh hồn họ sống động nhất, nơi đời sống của họ chiếu rạng sinh lực mở lòng với thiêng liêng.  Khi nhìn vào cuộc đời của một người thân yêu đã chết, chúng ta cần tự hỏi rằng: Đâu là nơi mà cô ấy sống động nhất?  Phẩm chất nào mà cô ấy, gần như độc nhất vô nhị, đã thể hiện và trao đi?  Ở điểm nào mà cô ấy nâng lòng tôi lên và làm cho muốn trở nên một con người tốt đẹp hơn?

Hãy xác định những điều này, và bạn sẽ sẽ xác định được Galilee của người yêu dấu của mình, và bạn cũng sẽ xác định được Galilee của Tin mừng, cụ thể là một nơi mà Chúa Giêsu mời gọi bạn đến gặp gỡ Ngài.  Và đây cũng là nơi bạn sẽ gặp những người thân yêu của mình trong cộng đoàn các thánh.  Đừng tìm người sống ở nơi mồ mả.  Cô ấy không có ở đó.  Cô ấy ở Galilee.  Gặp cô ấy ở đó.

Elizabeth Johnson, có chiều hướng của Karl Rahner, đã thêm cho chúng ta suy tư này: ‘Hi vọng, chúng ta quả quyết rằng những người thân yêu đã qua đời, họ không rơi vào quên lãng, nhưng đi vào trong vòng tay của Thiên Chúa hằng sống.  Và đây là nơi chúng ta có thể tìm thấy họ lần nữa, khi chúng ta mở rộng lòng mình với sự dịu dàng của chính sự sống Thiên Chúa mà chúng ta dấn vào, không phải bằng sự ích kỷ đòi họ về lại với chúng ta, nhưng bằng việc đi vào sâu trong lòng của chúng ta, nơi Thiên Chúa ngự trị.’

Và có thể tìm thấy Galilee của những người thân yêu của chúng ta nơi Galilee của chính mình.  Có một nơi thâm sâu trong lòng, trong đức tin, đức cậy và đức ái, nơi mọi người, còn sống hay đã chết, gặp gỡ.

Rev. Ron Rolheiser, OMIJ.B. Thái Hòa chuyển dịch

GIẢ HÌNH

SUY NIỆM CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – NĂM A

Từ điển Công giáo định nghĩa giả hình là “hình thức dối trá, giả vờ có các nhân đức hoặc lòng đạo đức mà thực ra bên trong không có”. Tội giả hình đã bị lên án gay gắt trong Cựu ước. Quả vậy Thiên Chúa đã phán trong ngôn sứ I-sai-a: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta (Is 29,13). Chúa Giê-su trích dẫn nguyên văn những lời này, trong khi một số người biệt phái phê phán các môn đệ vì không rửa tay trước khi ăn (x.Mc 7,1-8)

Tội giả hình đã ăn sâu nơi bản chất con người. Tâm lý tự nhiên, ai cũng muốn mình được nhiều người biết tới và khen ngợi tung hô. Không chỉ che mắt người đời, người ta còn giả hình trước mặt Thượng Đế và các thần linh nữa. Những câu chuyện liên quan đến những chiếc bánh chưng, bánh giày vĩ đại mà lại có xốp bên trong để tiến Vua Hùng cách đây vài năm đã cho thấy điều đó. Nhiều người cho rằng “Dương sao âm vậy; con người sao thì thần linh cũng vậy”, cho nên họ đút lót hối lộ các vị thần thánh để được bổng lộc chức tước, vì nghĩ rằng “tốt lễ thì dễ kêu”.

Thiên Chúa không có nhu cầu nhận lễ vật. Đôi khi lễ vật làm cho ngài không vui. Ngôn sứ Hô-sê đã thuật lại lời Đức Chúa: “Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú. Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu…những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài. Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi. Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa (Hs 3,21-23).

Nội dung Lời Chúa của Chúa nhật này gồm những lời oán trách. Đối tượng của những lời oán trách gay gắt ấy lại là những tư tế. Như chúng ta đã biết, các tư tế là thành phần ưu tuyển, được chọn trong chi tộc Lê-vi. Họ là trung gian giữa Thiên Chúa và Dân Người, để chuyển tải phúc lành của Chúa cho dân và để thay mặt dân dâng lời thỉnh cầu lên Chúa. Nhiệm vụ thì cao cả là thế, nhưng con người tư tế thì lại đầy những thấp hèn. Qua ngôn sứ Ma-la-khi, Thiên Chúa đã khiển trách các tư tế nặng lời, thậm chí còn đe dọa sẽ trừng phạt: “Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật”. Chắc hẳn các tư tế thời ngôn sứ Ma-la-khi đã có nhiều lỗi phạm và sa đọa trong đời sống. Họ là những người giả hình. Bởi lẽ lời giảng dạy của họ thì tốt lành cao siêu, nhưng cuộc sống của họ thì không được như vậy.

Vào thời Chúa Giê-su, Phụng vụ Đền thờ Giê-ru-sa-lem cũng nhuốm màu thương mại. Chúng ta còn nhớ sự kiện Đức Giê-su chắp dây thừng làm roi, xua đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền thờ với lời khiển trách: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp” (Lc 19,46). Cả bốn tác giả Phúc âm đều thuật lại sự kiện này, trước sự ngỡ ngàng của độc giả. Có lẽ các tư tế thời ấy cũng tham lam, ăn hối lộ và sống buông thả bê tha. Chúa Giê-su đã khiển trách họ: “Họ làm việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài…” Đúng với định nghĩa về giả hình trên đây. Họ tỏ ra đạo đức thánh thiện, nhưng trong thực tế thì ngược lại.

Lời khiển trách của Chúa Giê-su phải là điều suy niệm nghiêm túc của các linh mục. Bởi lẽ các linh mục hôm nay là những tư tế của Giao ước mới. Các ngài được tham dự vào chức tư tế của Đức Ki-tô. Tuy vậy, các linh mục vẫn là những con người, vẫn mang trong mình tham, sân, si và hỷ, nộ, ái, ố của kiếp nhân sinh. Linh mục là người rao giảng Chúa Ki-tô chứ không phải rao giảng chính mình. Những lời giáo huấn của Chúa Giê-su ở phần hai của bài Tin Mừng hôm nay đã nói lên ý nghĩa những danh xưng mà chúng ta thường sử dụng. Nếu chúng ta gọi các linh mục là “cha”, không có nghĩa là nhằm tôn vinh cá nhân của các ngài. Bản thân linh mục, khi được người ta gọi là “cha”, phải luôn tâm niệm, mình phải trở nên hiện thân của Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, luôn nhân từ và yêu thương gần gũi mọi người. Có tác giả gọi danh xưng “cha” của linh mục hay danh xưng “bề trên” của các dòng là những danh xưng mang tính bí tích, tức là những dấu chỉ hướng người ta về một thực tại cao siêu vô hình. Bản thân những người được gọi với những danh xưng này phải cố gắng mỗi ngày để dần dần nên xứng đáng với những danh xưng ấy. Linh mục với danh nghĩa là “cha” phải làm cho người khác thấy hình ảnh Chúa Cha nơi cuộc đời mình.

Một cách rất tự tin, thánh Phao-lô tâm sự với giáo dân Thê-xa-nô-li-ca, đồng thời nêu chính bản thân mình như mẫu gương của đời sống khiêm nhường, bác ái. Ngài tự làm việc kiếm sống, không muốn mình trở nên gánh nặng của tín hữu. Ước chi các tư tế của Giao ước mới, tức là các linh mục, cũng biết noi gương vị thánh tông đồ, luôn sống thánh thiện để không trở nên gánh nặng cho Dân Chúa, hiểu theo mọi chiều kích khác nhau.

Sự giả hình dường như ăn sâu nơi mỗi người chúng ta. Tin vào quyền năng của Thiên Chúa, xác tín vào sự hiện diện của Người, sẽ giúp chúng ta sống ngay thẳng và trung thực hơn, vì hằng giây hằng phút, chính Chúa đang ngắm nhìn chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên