TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

ZZMột câu ca dao thật đẹp và đáng nhớ, đã được cha ông chúng ta rút từ kinh nghiệm sống bao thế hệ mà hầu hết người Việt đều biết, đó là: “Yêu nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.”  Câu ca thật đẹp vì nó đã nói lên được giá trị cao quý của tình yêu nam nữ; cụ thể hơn qua tình yêu đôi lứa.

Tình yêu đôi lứa là chủ đề cho các nghệ sĩ sáng tạo ra biết bao bài hát, bức họa, bài thơ và những áng văn tuyệt vời.  Dường như tình yêu đôi lứa đã làm cho cuộc đời này tươi đẹp và phong phú hơn.  Và, đối với một Kitô hữu, tình yêu đôi lứa thật đẹp và đáng tôn trọng vì nó đã phản ánh phần nào về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.  Tình yêu đôi lứa chỉ thật sự đẹp và cao trọng nếu đặt trong tương quan với Chúa; chính Chúa đã mời gọi và là sợi chỉ thắt chặt đôi bạn trẻ với nhau; nếu không có sự tương quan với Chúa, tình yêu đôi lứa sẽ không bền vững.

Người nam và người nữ cần có nhau

Khởi đầu tạo dựng vũ trụ, theo Sáng thế ký, Chúa đã dựng người nam và người nữ để hổ trợ cho nhau. Lúc đầu, Chúa đã tạo dựng nên Ađam mà không có Evà, có dương mà không có âm.  Ađam một mình thui thủi hết đứng lên lại ngồi xuống, nhìn các loài vật mà ông mới đặt tên cho đều có đôi có cặp, và không có loài nào giống mình nên ông thấy thiếu một cái gì đó mà chính ông cũng không biết.  Và, Thiên Chúa thấy tội nghiệp cho ông, Người mới nói: “Đàn ông ở một mình không tốt” (St 2,18), nên Thiên Chúa rút một xương sườn của Ađam để dựng nên người nữ là Evà.  Khi đã có người nữ bên cạnh, Ađam đã vui mừng mà thốt lên: “Này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!  Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2,23).

Như vậy, ngay từ khởi đầu, người nam đã hướng về người nữ, như là tìm kiếm cái gì đã mất; người nữ hướng về người nam như tìm lại cội nguồn xuất phát ra mình.  Khuynh hướng thầm kín này đã thúc đẩy người nam và người nữ tìm đến với nhau.  Và nam nữ tìm đến nhau đã khởi đầu cho mối tình đôi lứa thật huyền diệu.

Tuy nhiên, nam nữ đến với nhau có thể tạo nên một tình yêu cao cả và huyền diệu; nhưng cũng có thể họ đến với nhau mà không chân thành, không có tình yêu.

Một tình yêu cao cả

Một tình yêu đôi lứa chỉ cao cả và huyền diệu khi họ thực sự đến với nhau bằng con tim chân thành. Lúc đó, họ sẵn sàng chia sẻ cho nhau những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống, và họ luôn mong những điều tốt đẹp nhất cho người yêu.  Chỉ cần người nam được nhìn thấy người nữ hay người nữ nhìn thấy người nam là họ đã vui tươi hớn hở.  Những lúc yêu nhau, chỉ với nụ cười, cử chỉ, hay một món quà của một người cũng đủ đem hạnh phúc và niềm vui đến cho người kia.  Khi yêu nhau chân thành, người bạn trai sẽ không ngần ngại cho bạn gái biết rằng: “Em là dòng sông mát trong/ Em là mùa thu nhớ mong/ Em là mùa xuân khát vọng/ Em là mùa hạ nắng hồng” (Nhạc sĩ La Hối, bài hát Xuân và tuổi trẻ ).  Còn đối với bạn nữ, khi vắng người yêu, họ sẽ cảm nhận thiếu thốn và cô đơn mà thốt lên: “Nếu vắng anh, ai dìu em đi trong chiều lộng gió/ nếu vắng anh, ai đón em khi tan trường về”.

Một tình yêu đôi lứa cao cả và huyền diệu là dám hy sinh cho nhau.  Dám hy sinh cho nhau sẽ làm cho tình yêu trở nên linh thiêng hơn; họ luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến cho người mình yêu dù phải hy sinh cả bản thân mình, như lời Chúa dạy: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15,13).  Nếu người yêu gặp khó khăn, buồn khổ trong cuộc sống, họ sẽ hy sinh mọi thứ của bản thân để đến chia sẻ và mang lấy đau khổ của người yêu với mong ước người yêu được vui tươi và hạnh phúc.

Một tình yêu đôi lứa cao cả và chân thành sẽ nhắm đến hôn nhân.  Khi tạo dựng, Chúa đã muốn Ađam và Evà đến với nhau và sinh con đẻ cái cho đầy mặt đất, có nghĩa rằng hai ông bà sẽ đến với nhau để làm thành một gia đình gồm người vợ, người chồng và con cái.  Bởi thế tình yêu đôi lứa là nền tảng xây dựng tình yêu hôn nhân gia đình hay tình yêu vợ chồng.  Do đó, tình yêu đôi lứa có vai trò quan trọng và cần thiết để xây dựng một gia đình hạnh phúc.  Không thể có một gia đình hạnh phúc nếu trong giai đoạn hẹn hò, đôi bạn trẻ không có được một tình yêu chân thành.  Cho nên, khi yêu nhau, đôi bạn trẻ cần trân trọng nhau, đến với nhau bằng tình yêu chân thành và gìn giữ cho nhau vì hạnh phúc sau này.  Nếu đôi bạn trẻ hiểu nhau và dám hy sinh cho nhau, thì họ dễ có được một gia đình hạnh phúc.

Như vậy, để đôi bạn có thể nói được: “Tôi thuộc về người tôi yêu dấu/ Người yêu tôi thuộc trọn về tôi” (Dc 6,3), thì họ cần có được một tình yêu đôi lứa cao thượng và chân thành.

Quan niệm lệch lạc về tình yêu đôi lứa

Tuy nhiên, ngày nay, người ta cho rằng để tìm ra một đôi bạn trẻ yêu nhau với tình yêu cao cả như trên thật hiếm hoi.  Bằng chứng là nhiều bạn trẻ ngày nay có những cái nhìn lệch lạc về tình yêu đôi lứa. Họ cho rằng tình yêu đôi lứa là trò giải trí nhằm thoả mãn thân xác mà thôi.  Đối với họ, tình yêu đôi lứa tách biệt khỏi hôn nhân, yêu cho thoả mãn ham muốn còn hôn nhân thì tính sau.  Điều đó dẫn đến nhiều bạn trẻ đã sống buông thả, chạy theo dục vọng riêng tư mà xem thường người khác.  Nhiều bạn trẻ đã rơi vào đường cùng và đau khổ khi bị người yêu lừa dối; nhiều bạn gái đã đi nạo phá thai; nhiều bạn trai đã lây nhiễm HIV, và kéo theo nhiều tệ nạn khác nữa.

Vậy làm sao để giúp các bạn trẻ có cái nhìn đúng đắn về tình yêu?

Biểu tượng cho tình yêu của Thiên Chúa đối với con người

Qua sách Diễm ca, Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết: Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương với tình yêu chân thành, vị tha và cao cả như một chàng trai đang yêu một cô gái.  Minh chứng cho tình yêu Thiên Chúa dành cho con người được thể hiện trọn vẹn qua Đức Giêsu Kitô.  Có thể nói nhiều bạn trẻ hiểu sai lệch bản chất tình yêu đôi lứa, bởi vì họ chối bỏ Đức Kitô và đạo lý của Người.  Đức Kitô là nhân chứng và mẫu mực tuyệt vời cho tình yêu trọn vẹn.  Người đã yêu thương con người đến nỗi đã “hy sinh mạng sống vì con người”. Qua mẫu gương yêu thương của Đức Kitô dành cho con người, thánh Gandhi đã đúc thành một đặc tính của tình yêu: “Tình yêu bao giờ cũng hiến tặng, mà không bao giờ đòi đền đáp.  Tình yêu luôn giày vò và khắc khoải, nhưng chẳng bao giờ phản kháng và trả thù”.  Và Thiên Chúa muốn các đôi bạn trẻ yêu nhau như Người đã yêu con người:

Qua việc chấp nhận thân phận con người, sống kiếp phàm nhân như một người trần thế của Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn những đôi bạn yêu nhau phải biết bỏ đi những cái tôi của bản thân, để biết chấp nhận sự khác biệt của nhau.

Qua cái chết trên Thập giá của Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn những đôi bạn trẻ hãy yêu nhau với tình yêu chân thành, “dám hy sinh mạng sống vì người mình yêu”.

Qua cuộc Phục Sinh vinh thắng của Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn đôi bạn yêu nhau hãy tin tưởng vào nhau và giúp nhau vượt qua những khó khăn trong đường đời.

Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã hứa sẽ ở lại với con người cho đến tận thế, Thiên Chúa muốn đôi bạn hãy yêu nhau suốt đời, để trở nên “thuộc về nhau”, đó là tiến tới tình yêu hôn nhân cao đẹp.

Như vậy, tình yêu đôi lứa là hình ảnh của mối tình Thiên Chúa đối với loài người; và tình yêu lứa đôi chỉ trở nên cao cả và huyền diệu khi họ biết sống theo lời Chúa dạy và nhờ ơn Chúa.  Nhờ đó, tình yêu đôi lứa thật sự thiêng liêng và bền vững, và “nước lũ không dập tắt nổi tình yêu/ sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp” (Dc 8,6).

Lạy Chúa Giêsu, Ngày Lễ Tình Yêu nhằm tôn vinh nét đẹp và giá trị cao cả của tình yêu đôi lứa.  Tình yêu đôi lứa chân chính là hình ảnh tình yêu của Chúa dành cho chúng con, bởi vì chính “Chúa là Tình Yêu”.  Xin cho các đôi bạn trẻ đang yêu nhau nhận ra được giá trị chân thật và cao quý của tình yêu, để họ trân trọng và giữ gìn tình yêu cho nhau, để họ có thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Amen!

Giuse Hồ Viết Sinh, OP

KINH VINH DANH: DANH TÍNH CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

“Không phải những con người vĩ đại thay đổi thế giới, nhưng những con người yếu đuối trong bàn tay của một Thiên Chúa vĩ đại” – thầy Yun

Vào mỗi dịp đầu năm, chúng ta thường hay có những giây phút suy tưởng để nhìn lại những buồn vui của một năm trôi qua, và mong ước cho một năm mới tốt đẹp.  Có lẽ ai trong chúng ta cũng có một cái gì đó muốn được chôn vùi đi với năm cũ và mong được đón chào một hy vọng nào đó trong năm mới.

Đây là một khái niệm mà từ lâu nay tất cả mọi người không kể chủng tộc hoặc sắc dân đều thực hành. Chúng ta nhìn lại chuyện cũ để học hỏi, cảm thông, và tạ ơn trời đất, như Socrates nói “một cuộc sống không biết nhìn lại thì không đáng sống” vì đối với ông, hành trình làm người là một hành trình giúp cho ta tăng trưởng để thành nhân, để giúp ta đạt đến ơn gọi của sự hiện hữu của mình.  Mỗi tạo vật đều có mục đích của sự hiện hữu của nó.  Thế còn chúng ta, mục đích của sự hiện hữu của mỗi người chúng ta là gì?  Đó là câu hỏi mà có lẽ ai trong chúng ta đều nghĩ đến và có lẽ đây cũng là dịp chúng ta ngồi lại với Đấng Sinh Thành, xin ơn để nhận ra mục đích của sự hiện hữu của chính mình, vì chỉ có mỗi mình Ngài mới có thể giúp ta nhận ra điều đó bằng con mắt của con tim, cảm nhận nó với tất cả tâm trí, và xác tín nó với tất cả con người mình.  Lúc đó chúng ta mới thật sự sống với mục đích và ơn gọi mình đã được trao ban.

Mặc dầu ai trong chúng ta đều có hành trình riêng tư với Chúa Giêsu và qua đó Ngài dạy cho ta sống ơn gọi của mỗi người, tất cả chúng ta đều có hành trình và ơn gọi chung đó là con đường đi về Thiên Quốc và ơn gọi làm con Chúa.  Trong mỗi thánh lễ Chúa Nhật, Giáo Hội giúp ta nhìn lại hành trình chung của mình và nhắc nhở chúng ta sống với ơn gọi làm con Chúa qua những lời kinh nguyện và đặc biệt qua Kinh Vinh Danh.  Chúng ta có thể nói rằng Kinh Vinh Danh là bản đồ sống, là kim chỉ nam cho người Kitô Hữu.

Nếu chúng ta đọc kỹ lại Kinh Vinh Danh, chúng ta thấy hai câu đầu nói lên Thiên Chúa là ai, chúng ta là ai và chúng ta được mời gọi để sống ZZnhư thế nào: “Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.”  Chúng ta hãy thử lắng đọng tâm hồn và lập đi lập lại hai lời kinh mở đầu này với tất cả tâm trí mình “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.”  Đây là lời chào của các Thiên Sứ trong đêm Con Một Thiên Chúa xuống làm người, khi trời và đất được hoà hợp qua con người của Đức Giêsu.  Qua hai lời kinh tiềm ẩn lời mời gọi chân thành của Triều Đình Thiên Quốc, chúng ta được mời gọi hãy sống trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và nhận ra ánh sáng của Ngài.  Hãy xin ơn để luôn được biết mình đang sống trong sự vinh quang vô tận của Đấng Chí Thánh.  Hãy nhìn nhận kỳ công của Đấng Tác Thành trong mọi nơi và mọi lúc, và hãnh diện về hình ảnh của Đấng mà ta đang mang.  Trong hình ảnh ấy chúng ta được mời gọi để sống sung mãn trong thực tại với Ngài vì sự sống sung mãn mà Thiên Chúa hứa ban là sự sống trong giây phút hiện tại – “Vinh quang của Thiên Chúa là một con người hoàn toàn sống thật, và sống thật cốt ở chiêm ngắm Thiên Chúa.” –Thánh Irenaeus

Muốn được sống trong và cảm nhận sự vinh quang của Thiên Chúa, tâm hồn chúng ta cần được tĩnh lặng và bình an vì bình an là danh tính của Ngài, “bình an dưới thế cho người thiện tâm.”  Khi chúng ta để sự thánh thiện và tình yêu của Ngôi Lời NhậpThể làm chủ tâm hồn của mình, chúng ta sẽ nhìn mọi tạo vật trong sự thánh thiện và tình yêu của Ngài.  Chúng ta sẽ nhận ra được sức sống và sự sắp đặt tài tình của Thiên Chúa qua mọi sinh linh, và qua đó chúng ta cũng tập để biết phó thác cuộc đời của mình cho Đấng Quan Phòng.  Bao lâu chúng ta còn chưa biết quý mến lời chúc của các Sứ Thần “bình an dưới thế cho người thiện tâm” và sống chiêm niệm với sứ mạng cũng như mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, chúng sẽ chẳng bao giờ để sự thánh thiện của Ngài làm chủ tâm hồn mình và chúng ta cũng sẽ chẳng biết nhận ra vinh quang và sự hiện diện của Ngài trong các sinh linh.  Khi chúng ta chưa nhận ra được sự sắp đặt tài tình của Thiên Chúa, chúng ta chẳng bao giờ biết buông thả những gì của ta và đưa tay ra cho Chúa Giêsu cầm lấy và dẫn dắt chúng ta sống ơn gọi riêng và sống với mục đích thực của mình; Vì chúng ta chẳng ai để kẻ lạ hay người chúng ta chưa hoàn toàn tin tưởng làm chủ lấy đời mình bao giờ, cũng như chẳng có người mẹ nào dám gởi con mình cho một người mà mình chưa tin tưởng dù chỉ là một chốc lát.

Kinh Vinh Danh là danh tính thật của người Kitô Hữu vì những lời kinh ấy nói lên một sự liên kết huyền diệu giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và loài người. Kinh Vinh Danh nói về một tình yêu vĩ đại đang bao trùm và mời gọi con người sống bình an trong tình yêu ấy. Lời kinh nhắc nhở và mời gọi chúng ta luôn biết Thiên Chúa là ai và ta là ai, luôn biết chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa để nhắc nhở cho chính mình một tình yêu bao dung đang mong chờ ta đến để chia sẻ sự thánh thiện của Đấng Sinh Thành; và trong sự thánh thiện ấy, chúng ta sẽ sống thật cho chính mục đích chung của con người và mục đích riêng cho từng người trong sự tĩnh lặng của con tim; bởi vì trong sự thánh thiện của Thiên Chúa, chúng ta chẳng bao giờ nhìn đến hoặc chấp nhận điều ác, chúng ta cũng sẽ chẳng để giận dữ chiếm lấy tâm hồn mình, hoặc làm ngơ trước những bất công và cũng không để những bất công làm cho ta mất đi bình an.  Khi chúng ta để sự thánh thiện làm chủ tâm hồn mình, chúng ta sẽ biết nhìn mọi sự như Chúa nhìn và tin tưởng rằng chính Thiên Chúa là Đấng duy trì mọi sự.

Trong năm mới này, bạn và tôi hãy suy niệm về Kinh Vinh Danh và hãy xin ơn để được sống như lời mời gọi: Vinh danh và tạ ơn Thiên Chúa mọi nơi mọi lúc, luôn sống trong bình an, biết để tình yêu và sự thánh thiện của Thiên Chúa dẫn dắt và soi lối cho cuộc đời chúng ta.  Nguyện xin Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô luôn ban cho chúng ta ơn biết nhận ra Ngài là Cha là Chúa của chúng ta,  biết chúng ta là những người con yêu quý của Thiên Chúa và biết ca ngợi như lời các thiên thần ca ngợi trong đêm Nôen: “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.”

Củ Khoai

 

SỐNG CÓ ÍCH CHO THA NHÂN

Người ta kể đoạn kết của bộ phim Tôn Ngộ Không như sau: Vào đêm trước khi thầy trò Tam Tạng bước vào cửa Phật.  Thầy trò ngủ chung với nhau, nhưng lòng bồi hồi xao xuyến không sao ngủ được. Ngộ Không thấy Thầy mình nằm trăn trở hết nghiêng bên này, lại nghiêng bên kia.  Bèn quay sang nói với Thầy: “Ngày mai chúng ta vào cõi Phật rồi, sao Thầy không vui?”.  Thầy Tam Tạng thở dài nói rằng: “Ngộ Không con ơi, con là khỉ, cả đời con theo Thầy chỉ mong thành người.  Còn Thầy đã là Người, lại bỏ kiếp người vào cõi Phật.  Biết có hay không!  Làm người mà chưa giúp gì cho đời, liệu thành Phật, Thầy còn có cơ hội cứu đời cứu người nữa hay không?”

Thực vậy Tôn Ngộ Không, khi theo thầy đi Thỉnh kinh đã mang hoài bão trở thành một con người, nhưng Ngộ Không đã không có cơ hội thay đổi bản chất của mình, vì khỉ vẫn là khỉ, cho dù có 72 phép thần thông cũng không thay đổi phận số của mình.  Còn chúng ta là người, nhưng sống cho trọn kiếp người, cho xứng với bản chất và phẩm giá làm người đôi khi chúng ta vẫn chưa thực sự nên người.  Có một nhà tu đức nói rằng: Bạn muốn là một người Kitô hữu tốt trước hết bạn hãy là một con người tốt.  Bạn muốn là một vị thánh, thì bạn phải là một người Kitô hữu tốt.  Dù chúng ta có muốn làm thánh làm phật, dù chúng ta có muốn trở thành những con người siêu phàm làm được nhiều chuyện lớn lao, phi thường nhưng trước hết và trên hết chúng ta phải là một con người hoàn hảo, một con người biết sống đúng bổn phận của mình. “Tu thân tích đức – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ.”  Một em học sinh muốn trở thành những nhà bác học lừng danh, thì trước hết, tuổi thơ của em phải là những học sinh gương mẫu, em phải biết chu toàn tốt bổn phận học trò của mình mới mong lập được công trạng cho gia đình và xã hội.  Hơn nữa, người có tài nhưng không sống đúng bản chất con người là “nhân chi sơ tính bản thiện” thì cũng chỉ là kẻ gieo vãi sự chết chóc nơi nhân thế thay vì dùng tài năng để phục vụ cho đời.

ZZLời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy bản chất của người Kitô hữu không phải là những gì cao xa nhưng chỉ là những hạt muối bé nhỏ hay chỉ là một chút ánh sáng lẻ loi.  Thật bình thường và cũng thật tầm thường nhưng lại thật hữu ích cho đời sống con người.  Không có muối làm sao có những bữa tiệc thơm ngon mặn mà.  Không có ánh sáng làm sao con người có thể nhìn ngắm những vẻ đẹp muôn màu của vũ trụ mà Thiên Chúa đã dựng nên.

Các con là muối cho đời – là ánh sáng cho trần gian.  Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn.  Nhưng muối làm cho người phụ nữ nội trợ thêm rạng rỡ niềm vui, cho bữa cơm gia đình thơm ngon đậm đà.

Ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng.  Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, cho con người nhận ra nhau, cho quan hệ giữa người với người thêm trong sáng chân thành.  Mọi mối quan hệ còn ở trong bóng tối, thì đó chỉ là những mối quan hệ bất chính và tội lỗi.

Nhưng thân phận cả hai đều phải chịu hao mòn hy sinh thì mới thực sự có ích cho đời: Muối tan dần đi, ngọn đèn ngày càng lụn xuống.  Lý do tồn tại của cả hai là để gây tác động tốt: Nếu muối không mặn và đèn không sáng thì không có ích gì nữa, chỉ nên vất ra đường phố cho người ta chà đạp và khinh bỉ.

Thân phận và hoàn cảnh của mỗi Kitô hữu khác nhau: Có người âm thầm hèn mọn như hạt muối, có người rực rỡ huy hoàng như ánh sáng.  Nhưng mọi người đều có sứ mạng phải tác động tốt lên môi trường mình sống.  Không tác động tốt thì không còn là Kitô hữu nữa.

Là muối đất, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống tỏa lan tình người.  Dù chỉ là một ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi, cho dù phải đương đầu với biết bao sống gió nhưng vẫn phải giữ cho ngọn đèn đó cháy sáng, vì biết đâu xa xa ngoài khơi vẫn còn có ai đó đang cần một chút ánh sáng để định hướng vào bờ.

Ngược dòng lịch sử 600 năm trước Chúa Giáng Sinh, tiên tri Isaia đã dạy chúng ta phương thế để trở thành ánh sáng cho đời:

Về mặt tiêu cực: đừng bao giờ khinh bỉ người khác, phải loại bỏ những tranh chấp, hăm dọa, nói xấu anh chị em mình; về mặt tích cực là chia cơm cho kẻ đói, chia áo cho người nghèo, làm cho người đau khổ được hạnh phúc…

Và “Như thế, sự sáng của ngươi sẽ tỏa rạng như hừng đông, ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong đêm tối và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày”.

Một buổi chiều, Mẹ Têrêsa đi qua một căn nhà ngoại ô ở Calcutta.  Nhà tối om và có tiếng rên từ bên trong vọng ra.  Mẹ đẩy cửa bước vào, sờ soạng, đi lại giường một cụ già tiều tụy đau yếu, Mẹ hỏi: Nhà cụ không có đèn đóm gì ư? – Có một chiếc đèn còn tốt, nhưng không có dầu.  Vả lại có ai đến thăm tôi đâu mà phải đèn với đóm!  Mẹ lục lọi tìm ra chiếc đèn, lau chùi, mua dầu cho vào và đốt lên.  Mặt cụ tươi tỉnh lên.  Ít lâu sau Mẹ nhận được một lá thơ với mấy dòng chữ: “Nụ cười vui tươi của Mẹ, như dầu khích lệ, như đèn đốt sáng đời tôi, mỗi khi chiều về”.

Mỗi người chúng ta cũng được Chúa mời gọi để thắp sáng cuộc đời kẻ khác.  Mỗi người đều có một khả năng cá biệt để thắp sáng niềm tin cho anh chị em chúng ta và ướp mặn trần gian bằng tình yêu thương bác ái và cảm thông. Vì:

“Làm thân cây nến vào đời
Càng tiêu hao cháy, càng ngời vinh quang”

Nhưng tiếc thay, vì lười, vì ích kỷ, vì hèn nhát, ngọn đèn của chúng ta lu mờ dần đi và có khi tắt ngấm. Vì thiếu bác ái, thiếu lòng nhân từ nên những ai tiếp xúc với chúng ta đều cảm thấy mặn chát, khô cằn thiếu sức sống vui tươi.  Xin Chúa giúp chúng ta dám hy sinh và từ bỏ mình mỗi ngày để trở nên ánh sáng và muối men cho đời. Amen.

LM Jos Tạ Duy Tuyền

(Trích từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’)

 

NHỮNG NÉT ĐẸP TIN MỪNG CỦA NGÀY TẾT

Mùa Xuân đến làm đẹp đất trời.  Những cành đào đua nhau khoe sắc.  Những chồi non bụ bẫm nhú ra khỏi cành cây khô khẳng.  Chợ búa đông vui và đẹp đẽ với những hàng hoá đủ mọi loại.  Những tà áo mới tha thướt làm đẹp phố phường.  Trong khung cảnh vui tươi tấp nập ấy, khuôn mặt mọi người như rạng rỡ tươi cười.  Mùa Xuân đem đến nhiều vẻ đẹp.  Cao quý nhất là những nét đẹp văn hoá dân tộc đậm đà mầu sắc Tin Mừng.

ZZNgày Tết có nét đẹp của lòng biết ơn.  Năm hết Tết đến, người Việt nam thường nhớ đến công ơn của những người đã giúp đỡ mình trong năm qua.  Biết ơn là một nét đẹp văn hoá đáng trân trọng và cũng là một điều hợp lý.  Năm 2000 phải biết ơn 1999 năm qua. Dòng sông lớn phải mang ơn những con suối nhỏ.  Hạt lúa phải nhớ ơn những hạt mưa, hạt nắng, hạt phân.  Ngày hôm nay phải biết ơn ngày hôm qua.  Thế hệ này phải nhớ ơn thế hệ trước.  Đời sống ta chịu ơn biết bao người.  Cảm nghiệm sâu xa chân lý này, nên mỗi dịp Tết đến, người Việt nam ta thường bày tỏ lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ và các ân nhân.  Những món quà nho nhỏ nhưng thắm đượm tình nghĩa làm vui cả người nhận lẫn người cho.  Riêng với người Công giáo, bày tỏ lòng tri ân đối với Thiên chúa là một bổn phận không thể thiếu.  Vì Thiên chúa chính là tổ tiên đã sinh thành nên ta.  Vì Thiên chúa là ân nhân lớn nhất đời ta.  Chính Người đã ban cho ta món quà cao quý nhất: đó là sự sống.  Chính Người tiếp tục chăm sóc gìn giữ ta từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.  Biết ơn là việc làm của lương tri, cổ võ cho một thế giới mới chan chứa tình người.  Biết ơn cũng là một giá trị đạo đức được Chúa Giêsu đề cao trong Tin Mừng.

Ngày Tết có nét đẹp của sự cho đi.  Ta gửi đi những cánh thiệp như những sứ giả của tình cảm yêu thương.  Ta gửi đi những lời cầu chúc như tâm tình mến yêu tha thiết dành cho nhau.  Ta sửa sang quét dọn nhà cửa để đón tiếp nhau.  Ta dành thời giờ viếng thăm nhau để xiết chặt thêm tình thân ái.  Ta ăn mặc tề chỉnh để tỏ lòng kính trọng nhau.  Ta nói năng tế nhị để làm vui lòng nhau.  Ta rộng rãi tặng tiền mừng tuổi cho con cháu.  Tóm lại, tất cả những gì ta làm trong ngày Tết đều vì người khác và cho người khác.  Đặc biệt trong lãnh vực ăn uống.  Ngày Tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn đồ ăn thức uống cho gia đình, nhưng nhất là để mời khách.  Khách vào nhà bao giờ cũng được mời thưởng thức ấm chè mới, nếm kẹo bánh ngon.  Sự chiếu cố của khách làm vui lòng cho chủ.  Sự vui vẻ của người nhận là hạnh phúc của người cho.  Có niềm vui cho đi và có niềm vui lãnh nhận.  Những niềm vui ấy tạo cho ngày Tết một nét đẹp đầy mầu sắc Tin Mừng: Nét đẹp của sự quên mình, của sự quảng đại cho đi, của sự khiêm tốn đón nhận, của tình liên đới.

Ngày Tết có nét đẹp của sự đổi mới.  Thiên nhiên đổi mới với sự hồi sinh của cây cỏ.  Phố phường đổi mới với những căn nhà mới, với những gian hàng mới và với quần áo mới.  Hoà vào cái mới của đất trời, của xã hội, lòng người cũng nôn nao trong niềm hy vọng đổi mới bản thân và cuộc đời.  Ai cũng mong tống tiễn những điều xấu vào quá khứ.  Ai cũng mong đón nhận một tương lai tươi đẹp.  Niềm mong ước đổi mới được thể hiện qua những cố gắng giữ vẻ mặt tươi cười, không tức giận, không nói những lời thô tục, những điều rủi ro, nhưng chỉ nói những điều tốt đẹp, đối xử hoà nhã với mọi người trong những ngày Tết.  Phút giao thừa thật thiêng liêng.  Nó đánh dấu một khởi đầu mới.  Người ta tin rằng sống tốt đẹp những giây phút đầu tiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến cả năm.  Nên mỗi dịp Tết là một lần khuyến khích ta cố gắng đổi mới đời sống, đổi mới bản thân.

Đổi mới đời sống là điều Chúa Giêsu tha thiết mong muốn nơi ta.  Người không ngừng mời gọi ta hãy từ bỏ con đường tội lỗi xưa cũ, bước vào con đường mới, con đường tự do, thánh thiện của con cái Thiên chúa.  Người không ngừng mời gọi ta trở thành bầu da mới để có thể chứa đựng thứ rượu mới là giáo lý của Người . Ngày Tết chính là một cơ hội cho ta thực hành Lời Chúa dạy, tích cực đổi mới đời sống nên tốt đẹp hơn.

Với tất cả những nét đẹp trên đây, tinh thần ngày Tết cổ truyền dân tộc rất gần gũi với Tin Mừng.  Rõ ràng nét đẹp văn hoá Việt nam đã chất chứa những giá trị Tin Mừng.  Rõ ràng Tin Mừng đang đi vào cuộc sống của người Việt nam.

Vì thế, người Việt nam Công giáo không những có trách nhiệm gìn giữ những nét đẹp văn hoá của ngày Tết cổ truyền mà còn phải biến những nét đẹp ấy thành những trang Tin Mừng sống động.  Khi ta sống tâm tình biết ơn trong ngày Tết, đừng chỉ giữ hình thức bề ngoài hay chỉ chú ý tới khía cạnh vật chất.  Hãy có tâm tình biết ơn sâu xa.  Hãy nhìn thấy ơn Chúa ban qua mọi ân huệ nhận được.  Khi ta cho đi trong ngày Tết, đừng chỉ cho đi như một hình thức xã giao hay như một thói tục bắt buộc.  Hãy cho đi với tâm tình yêu mến, kính trọng thực sự.  Hãy đón tiếp khách thăm viếng như đón tiếp chính Chúa.  Khi ta muốn đổi mới đời sống, đừng chỉ giữ như một hình thức và không chỉ giữ trong những ngày Tết, nhưng duy trì sự cố gắng đổi mới trong suốt cả đời với quyết tâm thực sự đổi mới đời sống.

Khi ta sống tinh thần Tin Mừng trong những phong tục ngày Tết, ta góp phần xây dựng một mùa Xuân mới, một mùa Xuân dân tộc, một mùa Xuân tình thương.  Mùa Xuân ấy sẽ vĩnh cửu vì sẽ dẫn đến mùa Xuân Nước Trời.

Lạy Đức Kitô là mùa Xuân đích thực, không bao giờ tàn úa, xin đổi mới tâm hồn con. Amen!

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

TIẾN DÂNG CHO CHÚA

ZZSống là chấp nhận thuộc về.  Mở mắt chào đời là thuộc về một gia đình, một đất nước.  Càng sống con người càng thấy mình thuộc về nhiều hơn.  Thuộc về một nhóm, một giáo xứ, một nơi làm việc…

Khi đôi bạn trẻ yêu nhau, họ muốn trái tim của họ thuộc về nhau.  Thuộc về nhau là nền tảng của sự chung thủy.  Đối với Do Thái giáo, bé trai đầu lòng mới sinh ra thì thuộc về Chúa, được thánh hiến dành riêng cho Chúa.  Cha mẹ cậu phải bỏ ra một món tiền tượng trưng để chuộc cậu về cho mình (x. Ds 18,15-16; Xh 13,13)

Bài Tin Mừng hôm nay không nói đến chuyện chuộc con, nhưng lại nói đến việc bà Maria và ông Giuse tiến dâng con trai đầu lòng cho Chúa.

Đức Giêsu đã sống nghiêm túc sự tiến dâng này suốt đời.  Ngài thuộc về Thiên Chúa Cha một cách trọn vẹn.  Từ khi vào đời làm người, Ngài đã nói: “Này tôi xin đến để thực thi ý Chúa.” (Dt 10, 9) Năm 12 tuổi, cậu Giêsu đã cố ý ở lại Đền Thờ, mà cậu gọi là nhà Cha của cậu (x. Lc 2, 49).  Khi chịu phép rửa ở sông Giođan, Đức Giêsu ý thức rõ hơn mình là Con, thuộc về Cha, được Cha sai vào giữa lòng nhân loại (x. Mc 1,11).

Có biết bao cám dỗ trong những năm rao giảng, cám dỗ từ ma quỷ, từ đám đông, từ môn đệ.  Cám dỗ lôi kéo Ngài sống cho mình, và không muốn thuộc về Cha, Đấng sai Ngài đi.  “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra” (Ga 14,10).

“Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì ngoại trừ điều Con thấy Chúa Cha làm” (Ga 5,19).  Đức Giêsu không tự mình nói, tự mình làm, vì Ngài đã vượt qua được cái tôi, và để cho Cha chiếm hữu toàn bộ cuộc sống.

Nếu chúng ta dám nói và làm theo ý Cha, chúng ta sẽ giống Đức Giêsu: Thuộc trọn về Thiên Chúa. Thuộc về Thiên Chúa phải là nền tảng chi phối mọi tương quan của ta với thụ tạo khác.

Cậu bé Giêsu được đưa lên Đền Thờ lần đầu tiên.  Chúng ta thấy một đôi vợ chồng nghèo với đứa con nhỏ, đứng lẫn trong đám đông, chờ đến phiên mình.  Ai có mắt để thấy được sự lớn lao của mầu nhiệm?

Si-mê-on: Một người công chính và mộ đạo, một người đầy Thánh Thần và sống trong chờ đợi.  An-na: một góa phụ già nua phụng thờ Chúa đêm ngày trong ăn chay và cầu nguyện.  Để thấy Chúa trong cái đều đặn, bình thường, buồn tẻ, cần có một đời sống đạo đức sâu xa.  Chúa có thể gặp ta như một sự tình cờ, nhưng thật ra lại là kết quả của những năm dài chuẩn bị.

****************************

Lạy Chúa Giêsu,

Sống cho Chúa thật là điều khó.  Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
Chúa đòi con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.
Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.
Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con từ lâu.  Amen!

NĂM MỚI CẦU GÌ? 

Năm mới, mọi người thường trao tặng nhau những lời cầu chúc thật tốt đẹp.  Một trong những lời chúc được ưa chuộng nhất đó là lời chúc: Phúc – Lộc – Thọ.  Lời chúc này được tạo nên bởi một hình tượng khá rõ nét với bộ Tam Đa: ông Phúc bế đứa trẻ; ông Lộc mặc phẩm phục đeo đai, trên đầu đội mão cánh chuồn; ông Thọ, người lùn thấp, đầu nhẵn bóng trán dô lên, một tay chống gậy, một tay cầm quả đào.  Cả ba ông đều có chòm râu dài bạc trắng, nét mặt hồng hào, cười tươi rạng rỡ.

Vậy, Phúc- Lộc- Thọ: Các ông là ai?

Ông Phúc là Quách Tử Nghi – Thừa tướng thời nhà Đường.  Ông là một vị quan thanh liêm nên cũng nghèo.  Đổi lại nhà ông ngũ đại đồng đường, con cháu đề huề.  Lúc ông mất, con cháu năm đời đều có đủ.

Ông Lộc là Đậu Tử Quân, làm Thừa tướng thời nhà Tấn.  Trái ngược với Quách, Đậu là quan tham, tiền của như núi nhưng khi trăm tuổi không có người nối dõi.

Ông Thọ là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng thời nhà Hán.  Ông này giỏi xu nịnh, được lòng vua nên hưởng nhiều bổng lộc.  Ông mang lộc vua ban mua nhiều gái đẹp làm thê thiếp, mục đích dưỡng sinh.  Và cũng sống dai, trên trăm tuổi.  Khi chết thì chỉ có đứa chút bốn đời lo tang ma, còn cháu chắt chết hết cả.

Ba vị đó được người Trung Quốc dựng lên ba hình tượng, không phải để thờ mà để người đời nhìn gương đó mà lựa chọn cách sống cho phù hợp.  Phúc –Lộc – Thọ có lối sống khác nhau.  Phúc thì tử tế, còn cầu như Lộc Thọ là cầu cái vô phúc, liệu có ai muốn không?

Xem ra lời cầu chúc “Phúc – Lộc – Thọ” đã được hiểu sang một ý khác không còn mang ý nghĩa ban đầu của hình tượng Tam Đa.  Nhưng thực tế, có lộc mà không có an bình, có Thọ mà không có niềm vui cũng là điều bất hạnh cho con người.  Thế nên, không cần cầu cho có nhiều tiền, không cần cầu cho sống dai mà là cầu cho có phúc được hưởng niềm vui trong cuộc sống mới là quan yếu.

Có ai đó đã nói rằng: “Ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao.  Tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao”.  Có được niềm vui thanh cao là hạnh phúc.  Đây mới là mục đích tìm kiếm ZZcủa đời người.  Con người sinh ra để đi tìm hạnh phúc.  Hạnh phúc là điều ai cũng khao khát, tìm kiếm suốt cả cuộc đời.

Tóm lại, Phúc – Lộc – Thọ là ước nguyện lớn nhất của mọi người.  Thế nhưng, trong ba điều ước Phúc – Lộc – Thọ thì Phúc mới là điều chính yếu mà chúng ta cần cầu mong.  Vì được đông con, có tiền, sống dai mà không có hạnh phúc thì cũng là những tháng ngày bất hạnh cho cuộc đời chúng ta.

Chúa Giê-su ngay trong bài giảng đầu tiên Ngài cũng nhắc đến cái Phúc của con người.  Cái phúc của Chúa Giê-su không phải là con cháu đầy nhà.  Cũng không phải là nhiều tiền nhiều của.  Cũng không phải là sống lâu đến độ “bách niên giai lão”.  Cái phúc mà Chúa mời gọi chúng ta ao ước, tìm kiếm là có Chúa ở cùng.  Có Chúa làm gia nghiệp.  Hay được Chúa xót thương….

Những mối phúc này hoàn toàn lệ thuộc vào sự tự do chọn lựa của chúng ta.  Chọn Chúa để sống khó nghèo, thanh sạch, hiền lành, nhẫn nại, hy sinh…  Đổi lại người ấy được nhìn xem Thiên Chúa và có Chúa làm gia nghiệp đời đời.

Nhưng ở đời hôm nay người ta ít chọn Chúa khi mà nhu cầu hưởng thụ mỗi ngày một cao hơn.  Người ta cần tiền để thoả mãn nhu cầu vật chất của mình nên không chịu sống khó nghèo.  Có tiền người ta rải tiền trong các cuộc truy hoan trụy lạc.  Thế nên, người ta ít sống thanh sạch.  Cuộc sống luôn tất bật, bon chen, xô đẩy con người, khiến có mấy ai hiền lành, nhẫn nại, hy sinh…?

Hôm nay ngày đầu năm, chúng ta cầu chúc cho nhau một năm mới chứa chan ơn Phúc từ Trời.  Xin cho chúng ta luôn là người có Phúc khi chọn Chúa làm gia nghiệp, khi chọn Chúa hơn những của cải mau qua trần gian.  Xin cho chúng ta luôn tìm được niềm vui có Chúa ở cùng khi biết sống phụng sự Chúa với hết cả tấm lòng.  Amen!

LM Jos Tạ Duy Tuyền

ƯỚC ĐƯỢC TRỞ VỀ TUỔI THƠ

ZZCó người hỏi tôi: Cha có vui khi tết đến không?
Tôi trả lời: Tết nay đâu vui bằng tết xưa mà thích.
Người ấy nói: Tết xưa nghèo có gì mà vui.

Tôi nói: Vâng, vì nghèo nên nó mới vui.  Vì nhà nghèo nên tết đến đồng nghĩa với việc tôi sẽ có được những điều mà ngày thường tôi không có.  Có tiền lì xì, có quần áo mới, được ăn dưa hấu, được ăn mứt, ăn bánh kẹo thỏa thích …

Thế nên, nếu bây giờ trời cho tôi điều ước, tôi sẽ ước được trở về như xưa.  Được trờ về với tuổi thơ, được sống với bầu khí tết thuở nào tuy nghèo nhưng đầy ắp tiếng cười.  Nhưng thời gian cứ phũ phàng trôi đi.  Thời gian tiến chứ không lùi.  Con người thì cứ lớn lên, già đi cũng đồng nghĩa lo toan nhiều và niềm vui bớt đi.

Có một người khi  bước qua tuổi thơ đã ước rằng:

ZZƯớc gì mình có thật nhiều tiền!
Mua chiếc vé về tuổi thơ
Chơi với búp bê, siêu nhân và gấu bông với đàn trẻ con hàng xóm.
Những đứa trẻ ngây ngô ngày nào giờ khôn lớn,
Chẳng hiểu vì sao xa lạ một góc trời…
Ước gì có điều kỳ diệu trên đời!
Một sớm mở mắt ra có mẹ, có bà, có tiếng nói cười thân thương quen thuộc.
Người lớn thức dậy với chiếc bóng dưới chân giường đơn độc,
Tự mỉm cười: Lại thêm một ngày nữa sắp sửa trôi qua…

Hôm nay , khi bóc tờ lịch cuối cùng của năm cũ chúng ta mới bàng hoàng sao thời gian đi nhanh thế?  Liệu mình có thể níu kéo được thời gian?  Mới mừng đó năm Tỵ mà giờ đây ngày cuối của năm Tỵ đã hết.  Con ngựa đang tung tăng bước vào thời gian.  Thời gian như chẳng chờ chẳng đợi ai.

Người ta thống kê rằng: Tuổi thọ của con người trung bình chỉ kéo dài được 4,000 tuần tức là xấp xỉ với 77 năm cuộc đời.

Nếu mình đang bước vào tuổi trung niên, nghĩa là đã đi được nửa chặng đường đời, chỉ còn khoảng 2,000 tuần nữa để sống, để thực hiện những ước mơ, hoài bão, nhưng liệu thời gian có còn đủ để ta thực hiện ước mơ?

Một điều kỳ lạ của thời gian là hiện tại dường như trôi qua nhanh hơn thời gian trước đó, dường như tuần này trôi nhanh hơn tuần đã qua và chắc tuần sau sẽ trôi nhanh hơn tuần này.

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ.  Nó rất vô tình.  Hãy dùng nó cho có ý nghĩa.  Hãy tận dụng từng thời khắc cuộc sống kẻo thật uổng phí thời gian.  Có lẽ, không có cụm từ nào tai hại cho bằng ba chữ “Giết – thời – gian”.  Nhiều người tìm những thú vui, tìm những việc làm để chỉ mong giết thời gian.  Có người giết thời gian trong đam mê cờ bạc.  Có người trong tửu sắc.  Có người hoang phí trong những tiệc tùng thâu đêm vô bổ hay rong chơi đàn ca hát sướng.

Thật ra chúng ta được ban cho thời gian để sử dụng chứ không phải để giết chúng.  Lời Chúa trong thơ của thánh Phaolo gởi tín hữu Ê-phê-sô (5,16) đã đề cao giá trị về thời gian như sau: “Thế thì anh chị em hãy cẩn thận về cách sống của mình; đừng sống như kẻ dại dột, nhưng như người khôn ngoan.  Hãy tận dụng thì giờ, vì thời buổi nầy thật đen tối”

Thời gian là một tài sản vô giá.  Nó giúp chúng ta có thời gian giúp người giúp đời.  Thời gian không bao giờ quay ngược trở lại được.  Hãy trân trọng thời gian.  Hãy sống từng giờ cho có ý nghĩa. Hãy tận dụng nó để sống có ích cho đời, cho gia đình và bạn bè.  Hãy luôn nhớ rằng thời gian không chờ đợi bất cứ ai.

Giờ đây trong giây phút giao thừa chúng ta lại càng thấy thời gian trân trọng biết bao.  Đây là thời gian giao thoa giữa mới và cũ.  Giữa con Rắn và con Ngựa.  Giữa quá khứ và tương lai.  Thế nên, hãy sử dụng thời khắc hiện tại này thật ý nghĩa.  Hãy sống như thể đây là giây phút cuối đời.  Hãy trân trọng những người đang sống bên ta.  Hãy dùng nó để xây dựng tình người, để kiếm tìm hạnh phúc. Hãy khai mở mùa xuân trong nụ cười rạng ngời, trong cái bắt tay yêu thương.  Và hãy mang mùa xuân yêu thương gieo vào nhân thế hôm nay.

Lạy Chúa, Chúa là chủ thời gian.  Chúng con là người quản lý.  Xin Chúa tha thứ vì những lần chúng con đã không quản lý thời gian cho đúng.  Xin giúp chúng con biết trân trọng thời gian, biết dùng thời gian để làm việc thiện, để tôn vinh Chúa và sống có ích cho tha nhân.

Chúng con xin dâng lên Chúa giây phút giao thừa này.  Xin Chúa chúc lành cho những giây phút hiện tại này trần ngập niềm vui.  Xin cho những ngày xuân là những ngày họp trong yêu thương hạnh phúc.  Amen!

LM Jos Tạ Duy Tuyền

 

 

CON PHẢI LÀM GÌ?

ZZBài sách Công vụ Tông đồ hôm nay kể về một cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Đức Giêsu Nadarét với anh Saun, kẻ đang bách hại các Kitô hữu.  Chính Ngài muốn gặp anh trên con đường anh đang đi.  Dưới mắt Saun, Kitô hữu là những kẻ bỏ đạo Do Thái chính thống, để chạy theo một tà phái của ông Giêsu nào đó mà họ tin là đã phục sinh.  Trong tư cách là một người Pharisêu nhiệt thành và nghiêm túc (c. 3), Sa-un thấy mình có bổn phận phải trừng trị những kẻ phản đạo, bằng cách bắt bớ, xiềng xích, tống ngục, thậm chí thủ tiêu (cc. 4-5).

Chính lúc đang say sưa đến gần thành Đamát thì anh bị quật ngã.  Cuộc gặp gỡ bắt đầu, đời anh từ nay giở sang một trang mới.  Khi anh đang tự tin và hiên ngang tiến bước, thì ánh sáng chói lòa từ trời làm anh ngã quỵ (c. 7).  Khi Saun nghĩ mình là người sáng mắt, thì ngay giữa trưa, anh trở nên mù lòa (c. 11).  Khi anh định chỉ đạo cho những kẻ lầm đường lạc lối, thì bây giờ anh lại cần một người cầm tay dắt đi (c. 11).  Cuộc đối thoại bắt đầu giữa anh với người mà anh chỉ nghe tiếng nói.

Ngài âu yếm gọi tên anh hai lần và tự giới thiệu:  “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?  Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ” (c. 8).  Bắt bớ các Kitô hữu là bắt bớ chính Đức Giêsu.  Đức Giêsu và các Kitô hữu là một.  Bài học đầu tiên này Saun sẽ chẳng thể nào quên.

“Lạy Chúa, con phải làm gì?” (c. 10).  Lần đầu tiên Saun gọi người mà anh không hề tin là Chúa.  Khi tuyên xưng Đức Giêsu Nadarét là Chúa, anh lập tức phó thác cho Ngài, để Ngài chỉ bảo điều mình phải làm.  Nhưng Chúa Giêsu phục sinh đã không nói gì.  Ngài trao anh cho ông Khanania, một người chưa phải là Kitô hữu.  Chính ông này cho mắt anh thấy lại và cho anh biết anh được chọn để làm chứng nhân cho Ngài trước mặt mọi người.

Đa-mát là nơi Đức Giêsu tỏ mình cho Saun, cũng được gọi là Phaolô, là nơi ông nghe tiếng gọi trở nên tông đồ cho dân Ngoại, và cũng là nơi khởi đầu cho cuộc hoán cải tận căn của ông.  Chính mặc khải của Đấng phục sinh dẫn đến ơn gọi và hoán cải.  Từ nay cuộc đời của Phaolô đi sang một hướng mới.  Giêsu đã trở nên trung tâm của đời ông.  “Tôi coi tất cả như đồ bỏ, để chiếm được Đức Kitô” (Ph 3, 8).  Biến cố trên đường đi Đamát đã chia đời ông làm hai.  “Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước” (Ph 3, 13).

Chúng ta cũng có những kinh nghiệm như Phaolô: Ngã ngựa, mù lòa, nghe và gặp Đức Kitô, rồi hoán cải.  Như Phaolô, mong chúng ta để cho Đức Kitô Giêsu chiếm lấy mình, và trở nên người tông đồ nhiệt thành cho thế giới.

Lm Nguyễn Cao Siêu

***********************************

Xin hãy dẫn dắt con
đi từ cõi chết đến sự sống,
từ lầm lạc đến chân lý.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ thất vọng đến hy vọng,
từ sợ hãi đến tín thác.
Xin hãy dẫn dắt con
đi từ ghen ghét đến yêu thương,
từ chiến tranh đến hòa bình.
Xin hãy đổ đầy bình an
trong trái tim chúng con,
trong thế giới chúng con,
trong vũ trụ chúng con.

(Mẹ Têrêxa Calcutta)

LỰA CHỌN CỦA CHÚA GIÊSU

ZZĐịa lý nước Do Thái chia làm ba miền.  Miền Nam được gọi là Giuđêa.  Miền Trung là Samaria.  Miền Bắc là Galilêa.  Thủ đô Giêrusalem thuộc về miền Nam.  Đây là trung tâm chính trị và tôn giáo.  Vua Hêrôđê đóng đô ở Giêrusalem.  Đền thờ Giêrusalem là trái tim của dân tộc Do Thái.  Hằng năm người ở mọi miền tuôn về Giêrusalem dự lễ.  Đây cũng là nơi quy tụ quyền lực tôn giáo.  Có dinh thầy cả thượng phẩm.  Có các luật sĩ, biệt phái, văn nhân.  Người ở Giuđêa coi Giêrusalem là đền thờ duy nhất, đạo ở Giuđêa là chính thống.  Họ tẩy chay người ở Samaria, coi Samaria là ngoại đạo vì người ở Samaria xây cất đền thờ riêng trên núi Garidim.  Người ở Giuđêa không bao giờ đi lại tiếp xúc với người Samaria.  Còn miền Galilêa ở phía Bắc, tuy không có đền thờ đối nghịch với Giuđêa, nhưng bị Giuđêa khinh miệt vì đó là nơi pha tạp đủ mọi sắc dân, là đất của dân ngoại.

Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã không chọn rao giảng tại Giêrusalem.  Bởi vì Giêrusalem là vùng toàn tòng theo đạo, nhưng lại kiêu căng hợm mình, loại trừ người khác.  Khi mới sinh ra, Chúa Giêsu đã phải chạy trốn bạo vương Hêrôđê.  Hôm nay Hêrôđê con ông lại ra lệnh giết thánh Gioan Baotixita chỉ để thỏa mãn ước vọng ngông cuồng của một phụ nữ.  Chúa Giêsu đã không chọn Giêrusalem làm điểm xuất phát, bởi vì các thày thượng tế, các văn nhân, luật sĩ, biệt phái đã chai đá, luôn tìm cách bắt bẻ, chứ không biết mở rộng tâm hồn đón nhận giáo lý của Người.

Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng quê nghèo khiêm tốn, nhưng dân cư thuộc đủ mọi chủng tộc đã biết mở lòng đón nhận giáo lý của Người.  Người đã chọn Galilêa vì ở đây không có loại trừ, mọi người biết đón nhận nhau, chung sống hòa thuận.  Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội.  Ngay từ buổi ban đầu Chúa Giêsu đã không để giáo lý của Người bị đóng khung trong bốn bức tường đền thờ, bị giới hạn trong một khung cảnh địa lý và dành riêng cho một giai cấp.  Ngay từ buổi ban đầu Chúa Giêsu đã vạch ra cho Giáo Hội một đường hướng. Đó là ra đi, ra đi không ngừng nghỉ, ra đi đến những chân trời xa lạ, ra đi đến với mọi người thuộc đủ mọi chủng tộc, ngôn ngữ, màu da.  Đó là đi đến với những người bị bỏ rơi, bị khinh miệt, bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Việc lựa chọn môn đệ của Chúa Giêsu cũng rất độc đáo.  Người không lựa chọn môn đệ trong đền thờ, nhưng lựa chọn môn đệ giữa chợ đời.  Người không lựa chọn những kẻ nhàn hạ rảnh rang, nhưng lựa chọn những người đang tất bật làm việc.  Người không chọn những người trí thức uyên thâm, thông kinh hiểu luật, nhưng lựa chọn những anh thuyền chài, đơn sơ, cục mịch.  Ý định truyền giáo của Người là rất rõ ràng.  Người lựa chọn những người dám ra đi, dám mạo hiểm, sẵn sàng từ bỏ, không ngần ngại, không do dự.  Người lựa chọn những con người có trái tim mở rộng, biết hy sinh quên mình, không bám víu vào bất cứ một điểm tựa nào, dù là lề luật, dù là đền thờ, dù là kiến thức.  Buông tất cả để chỉ nắm lấy Thiên Chúa.  Bỏ tất cả để chỉ đi theo Chúa.

Những lựa chọn của Chúa Giêsu khiến tôi hiểu rằng: Người yêu thích những tâm hồn rộng mở biết sống hài hòa, biết đón nhận anh em.  Người yêu thích những tâm hồn đơn sơ nhỏ bé, ưa thích sống đời khiêm nhường bình dị.  Người yêu thích những tâm hồn nồng nàn yêu thương.  Đó là những tâm hồn dễ dàng đón nhận và chia sẻ Tin Mừng.  Đó là những thửa đất tốt cho hạt giống Tin Mừng nảy mầm, đơm bông kết trái.

Lạy Chúa Giêsu, xin mở lòng con để con đón nhận được Lời Chúa và để Lời Chúa sinh nhiều bông hạt.

TGM Ngô Quang Kiệt.

TỪ NGHIỆN NGẬP TRỞ THÀNH LINH MỤC

Món quà từ sự trở về của linh mục Phanxico xavie Trần An!  Cảm nhận từ cuộc gặp gỡ với “người cha” của Trung Tâm Hướng Thiện – La Vang

Trong một con người ta sẽ luôn tìm thấy món quà vô giá mà Thiên Chúa ban tặng, đó chính là sự sống. Sự sống vẫn luôn triển nở cho dù con người có nhận ra và trân trọng điều đó hay không.  Có những người tự vùi dập món quà mà Chúa ban tặng.  Để rồi, họ sống mà như đã chết.  Tồn tại mà như ở trong cõi hư vô.  Tuy nhiên, Thiên Chúa là Đấng hết mực yêu thương vẫn luôn quan phòng gìn giữ sự sống mà Ngài đã thông ban.  Bởi thế, Ngài vẫn dùng tình yêu của mình để cảm hóa những cuộc đời còn đang chìm lạc trong bóng tối của u mê khờ dại vì buông mình theo thế gian.  Ngài dẫn đưa họ về với ánh sáng của Chân Lý, dẫn đưa họ về với tình yêu và để cho họ cũng trở thành những chứng tá cho tình yêu.

Trong đời sinh viên của mình, tôi cũng từng suy nghĩ rất hạn hẹp.  Cuộc sống vẫn cứ trôi trong cái dòng chảy không biết điểm dừng chân, không biết đích đến.  Nhưng rồi, một cuộc gặp gỡ đã khiến tôi hồi tâm và dừng lại trong chính bản thân để suy gẫm về món quà của Thiên Chúa ban tặng.  Suy gẫm về cuộc đời và về sự sống. Đó là cuộc gặp gỡ khiến tôi thay đổi về cả cách sống cũng như cách nhìn về một con người.

Theo cách thông thường, chúng ta thường đánh giá người khác qua lăng kính chung:  Địa vị, danh vọng, tiền bạc… hoặc tốt hơn một chút ta đánh giá cái đạo đức, cái tính tình, cái thể hiện ra bên ngoài.  Qua lăng kính đó đôi lúc khiến ta quên mất cái chính yếu nhất trong một con người: Nhân vị!  Qua cái lăng kính đó ta quên rằng: Con người mà ta đang nhìn đến đang mang trong mình hình ảnh và tình yêu mà Thiên Chúa đặt để.  Chính việc nhìn vào sự thay đổi của một con người bằng xương bằng thịt mà tôi có cách nhìn nhận trọn vẹn và sâu sắc hơn.  Chính sự thay đổi của một con người từ trong vũng bùn của tội lỗi, của sự tha hóa biến chất trở thành một vị Linh mục, thành một mẫu gương cho người khác mà tôi mới biết tình yêu Thiên Chúa dành cho con người thật vô tận và chương trình của Ngài thật không thể nào suy thấu.  Câu Kinh Thánh: “Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ta vượt trên tư tưởng của các người bấy nhiêu” (Isaia 55:8-10) thật ứng với tôi lúc này.

Có một con người đã thay đổi như thế. Một chàng thanh niên từ cảnh giàu sang đến sự thấp hèn vì lối sống buông thả.  Từ cảnh được mọi người ngưỡng mộ đến lúc phải trốn chạy sự dèm pha của người đời.  Bởi chìm trong lạc thú, bởi sa đọa trong những thói hư tật xấu, bởi tự vùi dập mình trong tệ nạn chích hút hoang đàng.  Tuy ZZnhiên, Thiên Chúa đã đánh thức lương tri nơi con người ấy.  Ngài đã giúp cho khao khát sống, khao khát tự do trong tình yêu nơi con tim chàng trở nên mãnh liệt.  Để rồi, chàng trai đã trở về sống đời công chính.  Chàng trai ấy đã trở thành một vị linh mục của tình yêu.  Hơn nữa, từ sự tha hóa đến lúc trở về của chàng thanh niên ấy Thiên Chúa đã hoạch định một chương trình cho biết bao con người khác.  Qua cuộc đời của chàng thanh niên này, rất nhiều cuộc đời đã đổi thay, rất nhiều con người đã tìm lại sự sống thật.  Chính chàng trai, chính cuộc đời của vị linh mục đó cũng đã đánh thức con tim và cho tôi một cách nhìn mới về tha nhân.  Vị linh mục mà tôi muốn nhắc đến ở đây là cha Phanxicô Xaviê Trần An, linh mục Đan viện Thiên An – Huế.

Sinh ra trong một gia đình thuộc loại khá giả thời bấy giờ ở giáo xứ Cầu Rầm, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.  Cha Phanxicô Trần An được sống trong cảnh bao bọc yêu thương của những người cha, người mẹ đạo hạnh.  Lớn lên, giỏi dang trong học tập và được sự yêu mến của mọi người chung quanh. Nhưng rồi cậu thanh niên Trần An đã thay đổi từ một quyết định của tuổi trẻ, của sự tự do và trong sự tin tưởng của cha mẹ.  Một khoản vốn đã được cha mẹ chấp thuận khi cậu muốn tách riêng để làm ăn kinh doanh: Làm nghề vàng và buôn bán vàng bạc. Bằng tài năng của mình, chàng trai đã rất thành công và gây dựng được danh tiếng mà không phải ai ở độ tuổi của cậu cũng có được.  Rất nhiều người ngưỡng mộ, rất nhiều người yêu mến bởi vì dù thành công An vẫn luôn tỏ ra là một con người lịch sự, lễ phép và sống chân thành với người khác.

Thế nhưng, chuyện gì đến cũng sẽ đến.  Sống trong một xã hội của một thành phố Vinh nổi tiếng chất chứa nhiều cạm bẫy, nhiều sự lôi kéo vào con đường ăn chơi, hưởng thụ.  Cũng yếu đuối, cũng nông nổi, cũng ham muốn như bao người trẻ khác, hơn nữa, trong cảnh đầy đủ và thành công ban đầu dễ khiến Trần An bị cuốn vào vòng xoáy của lớp thanh niên đương thời.  Ăn chơi, tiêu phá hết tất cả những gì đã gầy dựng.  Sa vào bất mãn và mong muốn gỡ lại những gì nhận từ phụ mẫu.  Trần An đã sai lại càng thêm sai.  Chán nản, buồn bã Trần An lại càng lâm vào vui chơi hoang đàng, sa đọa trong men đắng tình trường, trong nghiện ngập chích hút.  Cuộc đời và những người bạn xấu đã đẩy Trần An đến việc lỗi phạm đức công bằng, đưa Trần An đến chỗ thân tàn ma dại và sa vào vòng lao lý.

ZZ“Giữa cuộc đời tha hương lữ thứ
Tôi đi tìm lạc thú niềm say
Khi cuộc tình khi chén rượu cay
Khi quân bài hay khi khói thuốc…
Bỗng đâu chiếc còng người cảnh sát
Dẫn tôi đi vào chốn quạnh hiu
.. ….”

(Trần An, 10.1995)

Thế nhưng, tình yêu của người mẹ, lời cầu nguyện và nước mắt của bà, cũng như chương trình của Chúa dành cho cậu thật quá ư vĩ đại.  Được thức tỉnh và muốn làm vui lòng cha mẹ, Trần An đã được gửi đến Đan viện Thiên An để tĩnh tâm, để cai nghiện.  Trải qua bao thăng trầm của một cuộc sống thật quá ư xa lạ, Trần An đã thành công và còn dâng hiến đời mình cho Chúa.  Chàng muốn dâng cả thân xác và linh hồn mình để một đời thân mật với Chúa, đáp lại ân huệ yêu thương mà Chúa đã dành cho mình.  Để rồi, bây giờ không ai không biết đến một vị linh mục mang cái tên rất đỗi thân thương và chứa đựng nhiều ý nghĩa: Phanxicô Trần An hay thường gọi là “Tràn Ân”.

“……….
Con xin cảm tạ Chúa nguồn yêu
Đã thương ban tặng biết bao điều
Từ vũng bùn nhơ Ngài thánh hiến
Đưa về chung sống bến “Trời yêu”
.. ….”

(Trần An, 28.5.1995)

Không dừng ở đó, cha Trần An còn đã và đang thực hiện một công việc mà đối với cuộc đời từng trải như cha thật không mấy người có thể thay thế.  Cha đã xin phép và được bề trên chấp thuận để lập một trung tâm giúp đỡ cho những thanh niên từng lâm vào cảnh nghiện ngập trở về.  “Trung tâm Hướng Thiện” do cha An sáng lập và điều hành đã được xây dựng ngay phía sau linh địa Đức Mẹ La Vang (Quảng Trị), nơi mà Đức Mẹ không ngừng kêu gọi ăn năn hoán cải.  Đến nay, dù thời gian chưa đầy hai năm, nhưng đã có hàng trăm con người sa ngã đã đến và được cha Trần An hướng dẫn tĩnh tâm. Trong số đó, đã rất nhiều người trở về lại với gia đình, thành công trong công việc kinh doanh.  Hơn nữa, có 6 người tại Trung Tâm Hướng Thiện đã bước theo con đường của cha An để dâng mình cho Chúa trong các tu viện và đan viện, 6 người anh chị em từ trung tâm đã được hồng phúc lãnh nhận phép rửa để trở thành con cái của Thiên Chúa.  Tôi cũng từng có may mắn được viếng thăm và sinh hoạt cùng những con người nơi Trung tâm Hướng Thiện mà cha An đã gầy dựng nên.  Những con người mà có lẽ khi nghe nói về họ, về quá khứ nghiện ngập, trường trại và lối sống buông thả mà họ đã từng chúng ta sẽ có một cảm giác sợ hãi hay khinh thường… Thế nhưng, nơi Trung tâm Hướng Thiện những con người ấy lại trở nên thu hút một cách lạ kỳ.  Nơi ấy đầy ắp tiếng cười và như một cộng đoàn dòng tu thực thụ với lối sống kỷ luật, tự giác.  Họ đã không còn bị tiền bạc chi phối khi chấp nhận sống mà không giữ tiền riêng.  Họ đã trở nên những con người có nề nếp khi chấp nhận một lối sống mới đúng giờ giấc, đúng lịch trình sinh hoạt hằng ngày.  Họ đã trở về với Chúa và đến với Ngài mỗi ngày trong các giờ kinh phụng vụ, các thánh lễ bên người cha yêu quý của họ.  Những con người đã quen với lối sống giành giật, trộm cắp, phung phí, chích hút… nay lại đổ mồ hôi hằng ngày để lao động, để làm việc.  Họ đã bị đánh động bởi một cuộc đời đổi thay để rồi cũng thay đổi chính mình.  Họ đã bị tiếng đàn, tiếng hát, hay những lời thơ chứa đựng bao niềm cảm xúc, chứa đựng bao tâm tư và cũng là nhật ký của một con người mang tên Trần An đánh động.  Từ những người xa lạ với Thiên Chúa, xa lạ với đời sống Đức Tin thế mà giờ đây họ đang nếm hưởng những mật ngọt của tình Chúa.  Họ đã và đang dần nhận ra Chúa nơi chính bản thân và nơi người khác để rồi biết tôn trọng món quà quý giá mà họ được lãnh nhận nơi Ngài.

Thật là một câu chuyện cảm động về kế hoạch yêu thương mà Thiên Chúa đã hoạch định.  Dù Trung Tâm Hướng Thiện của vị linh mục “Tràn Ân” còn gặp nhiều khó khăn và thách đố, nhưng tin tưởng rằng: Chúa đang cùng cha An đồng hành để đưa tin vui đến cho nhiều gia đình, đưa niềm hy vọng đến cho nhiều phận người sa ngã, khổ đau.

Peter Thái Hùng