NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong toàn thể Giáo hội.  Toàn thể ở đây được hiểu là bao trùm cả Giáo hội Đông phương, Công giáo lẫn Chính Thống giáo.

Theo truyền thống của Giáo hội Đông phương dành 15 ngày đầu tháng 8 để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn.

ZZTrong những thế kỷ đầu, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc.  Ngày lễ đã được mặc cho tất cả sự trang trọng kể từ năm 1950 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII định tín việc Đức Mẹ được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác.  Với tín điều này, Giáo hội chỉ công bố long trọng một chân lý vốn đã được các tín hữu Kitô tin từ ngàn xưa tôn kính.  Chân lý đó là: “Thân xác của Người phụ nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa.”

Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không những là lễ cổ xưa nhất về Đức Mẹ.  Nhưng ngày 15-8 hằng năm còn có một ý nghĩa rất đặc biệt.  Đa số ngày tháng của các ngày lễ trong Kitô giáo đều bắt nguồn từ những ngày lễ ngoại giáo.  Lễ Giáng sinh chẳng hạn, không gì khác hơn là lễ của thần mặt trời của đế quốc La-mã được rửa tội lại theo Kitô giáo mà thôi.

Đây không phải là trường hợp của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.  Đế quốc La-mã vốn dành ngày đầu tháng tám để tôn vinh hoàng đế.  Trong khi đó lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành vào ngày 15-8.  Như vậy lý do chọn ngày 15-8 để cử hành lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không bắt nguồn từ đế quốc La-mã, mà từ chính Giêrusalem cổ.

Trước thời hoàng đế Constantinope, trong ngày này đã diễn ra một cuộc lễ trong nhà thờ, trên núi cây dầu tại Jerusalem.  Truyền thống đã gọi lễ này là lễ Đức Mẹ an giấc.

Trong đế quốc La-mã ngoại đạo, không có bất cứ nguồn gốc nào về ngày lễ này đã đành, mà kể từ đó về sau cũng chẳng có đế quốc nào xóa bỏ, hay thay thế được lễ này.  Những cố gắng vô ích của một hoàng đế Napoléon của Pháp là một bằng chứng.

Ngày 15-8-1769 tại Ajaccio đảo Corse chào đời một đứa bé mà cha mẹ đã đặt cho một tên hiếm có là Napoléon.  Nếu ngày 15-8-1637 vua Louis XIII đã ban hành một sắc lệnh để đặt toàn nước Pháp dưới sự che chở của Mẹ Maria, thì năm1806 sau khi đã đăng quang làm hoàng đế của nước Pháp và khắp Âu Châu.  Napoléon tước đoạt mọi danh dự dành cho Mẹ Thiên Chúa, để biến thành một ngày lễ dành riêng cho ông.

Sinh trùng vào ngày 15-8, Napoléon bắt toàn dân nhớ đến ngày sinh của ông là điều dễ hiểu, là ngày được cha mẹ đặt tên cho là Napoléon.  Ông đã cố lục lọi trong danh sách các thánh trong Giáo hội tìm cho bằng được một vị thánh có tên là Napoléon.

Với sự đồng ý của một vị giám mục cung đình, ông đã tìm được mục danh sách các vị tử đạo Rôma, trong đó có một vị tên là Néopoli.  Không rõ do những lèo lái như thế nào mà cuối cùng cả triều đình của ông đều đồng thanh nhận á thánh Néopoli với tên gọi Napoléon của ông.  Vậy là ngày 15-8 không những là ngày sinh nhật của ông mà còn là ngày lễ bổn mạng của ông nữa.

Danh dự đã dành cho Mẹ Thiên Chúa được ông hoàng đế này đương nhiên chiếm đoạt.  Tại Roma, Đức Giáo Hoàng Piô VII tuyên bố rằng: “Việc quyền bính thế tục thay thế việc tôn kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng việc tôn kính một vị thánh không có tên trong lịch Phụng vụ là điều không thể chấp nhận được.”

Đây là một hành động xen lấn không thể dung thứ và chấp nhận được, không thể lấy thế quyền thay cho thần quyền.  Nhưng vì những hành động của bạo chúa Napoléon quá tàn nhẫn, cho nên bức kháng thư đã không được công bố.  Tột cùng hành động ngang ngược của Napoléon là ra lệnh đưa Đức Giáo Hoàng về giam giữ tại Fontainebleau bên Pháp.

Dĩ nhiên, rồi cuối cùng Trái Tim Mẹ vẫn thắng, sự cáo chung của đế quốc do Napoléon dựng nên cũng chấm dứt việc chiếm đoạt danh dự dành cho Mẹ Maria.  Vị thánh Napoléon được Napoléon tự phong cũng tự ý rút lui để trả ngày 15-8 lại cho Mẹ Thiên Chúa.  Điều kỳ diệu mà Mẹ Maria đã thực hiện là việc tôn kính vị thánh Napoleon do những kẻ dua nịnh bịa đặt ra hơn là đòi hỏi của lịch sử đã để lại một hậu quả không lường được.  Đó là kể từ ngày đó 15-8 hằng năm đã biến thành một ngày lễ buộc trên toàn nước Pháp.

Trên đây là một trong những ví dụ cho thấy những sự vụng về kỳ lạ của lịch sử, qua đó người ta thấy được sự hiện diện kín đáo nhưng vô cùng hữu hiệu của Mẹ Thiên Chúa.  Kẻ quyền thế muốn tước đoạt danh dự của Mẹ Maria đã bị hạ xuống khỏi tòa cao, như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat.

Ngày nay sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nước Pháp vẫn tiếp tục đóng cửa nghỉ ngày 15-8 để tôn vinh Mẹ Maria.  Danh vọng hão huyền mà một hoàng đế Napoléon đeo đuổi bằng cách hạ bệ Mẹ Thiên Chúa đã không kéo dài quá tám năm.  Kể từ tháng 3-1814 sau khi hoàng đế Napoléon thoái vị và bị đày ra đảo Sante Hélène để sống những ngày còn lại của ông.  Trong ăn năn sám hối, tên tuổi của ông vẫn được tiếp tục nhắc đến như một thiên tài cũng có, mà như một kẻ ngông cuồng thì nhiều hơn.

Trong khi đó Mẹ Maria vẫn tiếp tục ngự trị trong lòng người dân Âu châu, mặc dù họ có muốn tục hóa đến đâu đi nữa, thì trong lịch sử hàng năm của họ vẫn còn những dấu ấn không bao giờ tàn phai của Mẹ Thiên Chúa.  Mãi mãi như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat: “Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi là người có phúc.”

Sưu tầm

 

YÊU CHO ĐẾN CÙNG

Thánh Gioan viết: “Chúa Giêsu đã thương yêu những kẻ thuộc về Người còn ở thế gian, và Người yêu họ đến cùng”.  “Yêu cho đến cùng” không phải chỉ có nghĩa là yêu cho đến giây phút cuối cùng mà còn có nghĩa là yêu hết mình.  Đức Giêsu đã dùng hết mọi phương thế để biểu lộ tình yêu của Người và của Cha Người cho chúng ta.
  1. Tình yêu của Đức Kitô

Phương cách thứ nhất là mầu nhiệm Nhập thể: Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, đồng bản tính, đồng quyền năng và đồng vinh quang với Chúa Cha.  Nhưng vì thương yêu loài người, Người đến sống giữa chúng ta.  Người đã mặc lấy thân xác loài người như thế, mục đích là chia sẻ thân phận yếu hèn khổ đau của loài người và đồng thời thông ban cho loài người thần tính của mình, tức địa vị là Con Thiên Chúa, và cùng với thân tính ấy là sự sống đời đời.  Chính Đức Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Qua mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu, chúng ta thấy yêu là đến với loài người, là thông cảm, là chia sẻ.

ZZPhương cách thứ hai mà Đức Giêsu đã dùng để biểu lộ tình yêu của Người, được cụ thể hóa nơi cử chỉ Người quì xuống rửa chân cho các môn đệ.  Rửa chân là công việc của người nô lệ trong nhà đối với chủ mình.  Đó là công việc hèn hạ nhất.  Việc rửa chân mà Đức Giêsu làm đây, là một dụ ngôn bằng hành động.  Nó diễn tả cuộc đời của Đức Giêsu: Người đã đến trong thế gian, không phải như một ông vua, ông quan, nhưng như một người nô lệ.  Chính Đức Giêsu đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10, 45).  Thánh Phaolô cũng đã diễn tả rất rõ cuộc đời của Chúa Giêsu: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2, 6-7).

Thánh Phaolô đã dùng một tiếng rất mạnh: “Đã hoàn toàn trút bỏ”, nghĩa là coi mình là hư không; trong cụ thể, Đức Giêsu đã từ khước vinh quang, quyền lực khi còn sống ở trần gian.  Suốt đời Đức Giêsu không bao giờ nghĩ tới bản thân mình: Người đã không bao giờ làm phép lạ để có bánh ăn, có nước uống, hay để tìm danh dự cá nhân…  Người đã hiến tất cả thì giờ và sức lực của Người, để giảng dạy dân chúng, an ủi những kẻ liệt lào, chữa lành những người bệnh tật.  Cao điểm của cuộc đời phục vụ ấy là cái chết trên Thập giá, mà Đức Giêsu đã trình bày như một cái chết để phục vụ và để yêu thương: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con!  Này là Máu Thầy sẽ phải đổ ra để chuộc tội nhiều người”.  Hoặc Chúa còn nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu.”  Nhìn cuộc đời của Đức Giêsu, được tượng trưng qua việc rửa chân, chúng ta hiểu ra rằng yêu là phục vụ, phục vụ đến độ hy sinh cả mạng sống mình cho loài người. Đó là phương cách thứ hai để Đức Giêsu biểu lộ tình yêu của Người cho chúng ta.

Và đây là phương cách thứ ba:  Người đã lập ra Bí tích Thánh Thể để hiện diện mãi với chúng ta.  Khi người ta thương mến nhau, thì người ta muốn sống gần nhau mãi mãi, muốn giữ sự trung tín với nhau mãi mãi.  Chỉ vì muốn ở với chúng ta mãi mãi, mà Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể để hiện diện với chúng ta, để trở nên lương thực cho chúng ta, để tiếp tục đồng hành với loài người, với mọi người trong cuộc hành trình ở chốn sa mạc trần gian này.

Qua Bí tích Thánh Thể, chúng ta hiểu được rằng yêu là hiện diện với kẻ khác, giữ sự trung tín vững vàng với bạn hữu của mình.  Đức Giêsu Kitô đã yêu các bạn hữu của Người “cho đến cùng” là như thế đó!

  1. Noi gương Đức Kitô

Chúng ta là Kitô hữu, là môn đệ Đức Kitô, chúng ta đã cố gắng nên giống “Thầy và Chúa” của chúng ta hay chưa?  Chính trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã ban giới răn mới cho các môn đệ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34).  Vậy chúng ta phải thực hiện giới răn bác ái huynh đệ theo gương của Đức Giêsu (“Như Thầy đã yêu mến các con”).  Theo gương Đức Giêsu, thì trước hết yêu mến là đến với người đồng loại của mình: Chúng ta hãy tự vấn xem chúng ta đã quan tâm đến những người chung quanh chúng ta chưa?  Chúng ta đã chia sẻ cho họ phần nào hay chưa trên bình diện vật chất và trên bình diện tinh thần?

Tiếp đến, yêu mến và đặt mình trong tư thế tôi tớ để phục vụ.  Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có chu toàn bổn phận của mình với tinh thần phục vụ hay không?  Trong cách cư xử, nói năng với người khác, chúng ta có khiêm tốn như một người tôi tớ không?  Hay chúng ta tự xem mình như người trên, như kẻ cả?  Sau hết, yêu mến là chấp nhận ở với kẻ khác, hiện diện với kẻ khác, cộng tác với kẻ khác, giữ sự trung tín vững vàng với kẻ khác.

Theo khuynh hướng tự nhiên, khi chúng ta gặp một chút khó khăn với kẻ khác, là chúng ta muốn co rút lại, chia rẽ, đoạn tuyệt.  Chính vì chưa thấm nhuần tinh thần này của Đức Kitô, mà bao đôi vợ chồng khi gặp chút khó khăn, là nghĩ ngay tới việc ly thân, ly dị… Tình yêu của Đức Kitô mời gọi chúng ta phải giữ “chữ tín” đến muôn đời, nhất là trong đời sống gia đình, đời sống vợ chồng.

  1. Đức Kitô – sức mạnh của chúng ta

Tình yêu của Đức Kitô không phải chỉ là mẫu mực mà còn là sức mạnh cho chúng ta.  Trong dụ ngôn về cây nho, được Chúa kể trong bài diễn từ chia tay, Chúa nói: “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).  Chúng ta ở lại trong Đức Kitô, như trong thân cây nho, nhờ đức tin và nhờ vào việc tham dự vào Bí tích Thánh Thể.  Chiều hôm nay, khi tiến lên rước lễ, chúng ta hãy ý thức là chúng ta đang được tiếp nhận sức mạnh của Đức Kitô, nhờ đó chúng ta có thể yêu mến anh em chúng ta như chính Đức Kitô đã yêu mến chúng ta.

LM Norberto

 

BẢY DI NGÔN TRÊN THÁNH GIÁ (2)

  1. Lạy Thiên Chúa! Lạy Thiên Chúa của con! Sao Ngài bỏ rơi con (Mt 27, 46)

Ba Lời Di Ngôn đầu từ thánh giá phán ra được gởi đến các kẻ được Thiên Chúa yêu thương theo thứ tự: kẻ thù địch, kẻ tội lỗi, người lành thánh.  Hai lời thứ tư, thứ năm biểu lộ sự đau khổ của Thiên Chúa làm người trên thánh giá.  Lời thứ tư biểu lộ sự khốn khổ của con người bị Thiên Chúa phế bỏ.  Lời thứ năm nói lên nổi cay cực của Thiên Chúa bị con người chối bỏ.

Ngày Thứ Sáu Chịu Nạn là ngày đen tối nhất trần gian.  Bóng tối bao trùm trái đất in mờ Thập Giá Đức Kitô trên nền trời đen thẳm.  Mọi sự đều tối tăm mịt mùng!  Ngài từ bỏ Mẹ hiền và môn đệ yêu dấu.  Thiên Chúa xem ra cũng như từ bỏ Ngài luôn. ”Eli ! Eli ! Lamma sabacthani! Chúa ơi! Chúa ơi! Sao Chúa bỏ con?  Tiếng kêu than này, trong ngôn ngữ huyền nghĩa Do thái tiết diễn một mầu nhiệm kinh khủng về sự kiện: Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa.  Chúa Con gọi Chúa Cha là Thiên Chúa.  Khác hẳn lời cầu ngày nào Ngài dạy:  “Lạy Cha chúng con ở trên trời.”  Chúa Cha cũng có vẻ như ngoảnh mặt đi, khi Ngài hứng chịu lấy tội lỗi trần gian.  Ngài cam chịu nổi đớn đau bi thống đó vì con người để chúng ta hiểu rằng:  Khi con người mất Thiên Chúa thì tình trạng khủng khiếp chừng nào.

  1. Ta Khát (Ga 19, 28)

Đây là lời ngắn nhất trong bảy Di Ngôn, chỉ vỏn vẹn một tiếng Ta khát.  Tận đáy tâm hồn Chúa chỉ bật ra một nỗi thao thức: Ta Khát.

Hiện tượng khát nước là sự kiện bình thường của một người tử tội đóng đinh thập giá, do việc người đó mất quá nhiều máu trong người.  Nhưng ở đây, chắc chắn Gioan không có ý nói tới điều đó mà nói đến nghĩa thiêng liêng.  Đức Giêsu khao khát thông truyền hiệu quả cuộc khổ nạn của Người là Ơn cứu độ cho tất cả mọi người và như thế thì lời Kinh thánh mới nên trọn.  Ý nghĩa của lời Ta Khát gắn liền với việc “để lời kinh thánh được nên trọn.”  Lời Kinh Thánh có thể hiểu là Lời các Tiên tri trong Cựu ước loan báo về sứ mạng Cứu thế của Đấng Messia; Lời Kinh Thánh còn có thể hiểu là chính công việc cứu thế của Đức Giêsu.  Vì thế, Đức Giêsu biết rằng sứ mạng cứu thế của Người đã được thi hành trọn vẹn và đầy đủ; kể từ nay bắt đầu giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, con người sẽ lãnh nhận hiệu quả do cuộc khổ nạn người đem đến thì Ngài nói: Ta Khát.

Trong Phúc âm Gioan, từ ngữ “khát” thường chỉ nguyện vọng sâu xa của con người khát mong những hồng ân của Thiên Chúa vào thời Đấng Messia “Ai uống nước Ta ban thì đời đời sẽ không còn khát nữa, nước Ta ban sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13); ” Ai đến với Ta sẽ không hề đói,và kẻ tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” (Ga 6,35);  “Ai khát hãy đến với Ta, ai tin vào ta hãy đến mà uống! Như kinh thánh đã nói: Tự lòng Ngài sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.” (Ga 7, 37)

ZZNhư thế Di Ngôn “Ta Khát” chính là nguyện vọng sâu thẳm của Chúa muốn mọi người lãnh nhận ơn cứu độ mà cuộc khổ nạn Ngài đem đến cho thế gian.

  1. Mọi sự đã hoàn tất (Ga 19, 30)

Mọi sự là sự gì?  Thưa là Thánh ý Chúa Cha.  Lật trong sách Tin mừng rất nhiều chỗ nói “để ứng nghiệm lời Thiên Chúa, để lời các Ngôn sứ được hoàn tất.”  Trong cuộc đời dương thế, Đức Giêsu luôn thực thi Thánh ý.  Và giờ đây trong giây phút cuối đời trên thập giá, hình như Đức Giêsu làm bảng tổng kết: mọi sự Chúa Cha đã hoạch định, Ngài đã chu toàn, mọi sự đã hoàn tất từ ngày lọt lòng mẹ tại Bêlem cho đến nghiêng đầu trước khi chết.

Công cuộc cứu độ trần gian đã được thể hiện.  Đây là lời Ngài trình lại với Chúa Cha và đây cũng chính là lời loan báo sự chiến thắng của Ngài.  Quyền lực bóng tối đã giết được thân xác Ngài,vị vua Messia.  Nhưng qua cái chết này, ơn cứu độ được trao ban cho mọi người và giải thoát con người khỏi vòng cương toả của bóng tối, tội lỗi, Satan.  Đúng như Thánh Gioan đã suy niệm “Sự sáng đã rạng trong tối tăm và tối tăm đã không triệt được ánh sáng.” (Ga 1, 5)

  1. Lạy Cha! Con phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46)

Lời thứ sáu là lời biệt ly trần gian.  Lời thứ bảy là lời khải hoàn thiên quốc.

Chúa Kitô, Đấng từ trời xuống, đã chu toàn nhiệm vụ, hoàn thành cuộc hành trình, nay lại trở về cùng Chúa Cha để tỏ niềm tôn phục Đấng đã phái Ngài đi thực thi công cuộc cứu chuộc thế gian: “Lạy Cha,Con phó thác linh hồn con trong tay Cha.

Ba mươi năm trước, Ngài từ bỏ Nhà Cha để đến một xứ xa lạ là trần gian.  Ở đó, Ngài sống cuộc đời tiêu xài không kể mức độ nào cả.  Quyền năng và sự khôn ngoan được Ngài phân phát vô số kể.  Ân sủng và lòng ái tuất được Ngài chuẩn ban cách quãng đại.  Đến giờ sau hết, Ngài còn ban luôn cả bản thể của mình cho kẻ tội lỗi.  Và Ngài đã đổ đến giọt máu cuối cùng để làm giá cứu chuộc thế gian.  Trên đường về Nhà Cha, từ Thập giá Ngài dâng lên Chúa Cha lời nguyện hoàn hảo nhất “Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha.”

Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Ít-ra-en, Ngài đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi.  Ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài.  Sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Sa-ma-ri-a, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh: “Ta khát.”  Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết.  Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta.

Phó thác linh hồn cho Chúa Cha, thân xác Ngài trao trong tay Đức Mẹ. Từ chén cứu chuộc những giọt máu cuối cùng nhỏ xuống nhuộm đỏ cây thập giá.

Đây cũng là giờ bi thảm nhất của Đức Mẹ.  Có nỗi đớn đau nào hơn của nỗi đớn đau của người Mẹ ôm xác người con yêu dấu?  Đức Giêsu sinh ra trong vòng tay mẹ hiền, đến chết vẫn ở trong vòng tay Mẹ từ ái.

Chúa Giêsu đã để lại sứ điệp cuối cùng: Bảy Di Ngôn trên thánh giá.  Trong cao điểm mầu nhiệm cứu độ, Chúa đã mạc khải tình yêu hiến tế qua Bảy Di Ngôn do lòng yêu thương.  Những lời này vang dội qua mọi thời đại, xuyên qua tâm trí nhân loại, cải hoá và dẫn đưa bao linh hồn về với Chúa.

Calvê nơi hành hình tội nhân giờ đây đã trở thành ngọn núi đầy hấp dẫn lôi cuốn thế giới đến chiêm ngắm và đón nhận tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

(Viết theo cuốn: Trên đỉnh cao thập giá của ĐGM Fulton Sheen)

BẢY DI NGÔN TRÊN THÁNH GIÁ (1)

Có hai sứ điệp nổi bật nhất của Chúa Cứu Thế được gởi đến cho loài người.  Sứ điệp đầu tiên là Tám Mối Phúc Thật được Chúa công bố trên một sườn núi.  Sứ điệp cuối cùng là Bảy Di Ngôn trên Thánh Giá.

Tuần Thánh, chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa, dừng lại nơi Bảy Di Ngôn của Đấng Cứu Thế để nhận thấy Calvê là ngọn núi đầy hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta hưởng nếm tình yêu hiến dâng phục vụ.

  1. Khi đến nơi gọi là “Ðồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái.  Bấy giờ Ðức Giêsu cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người.” (Lc 23,33-34)
  2. Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”  Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng”. (Lc 23, 42-43).
  3. Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. (34) Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15, 33-34).
  1. Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm (Lc 23, 34)

ZZLẽ thường, vào giờ hấp hối, tự đáy lòng con người bộc lộ những lời tha thiết với người thân yêu, người lân cận.  Lời đầu tiên của Chúa là xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ bách hại, kết án, lăng nhục, đóng đinh Ngài.

Triết gia Xê-nê-ca kể lại rằng, người bị treo trên thập giá thường trù ẻo cha mẹ, nguyền rủa ngày sinh tháng đẻ, mắng nhiếc lý hình, thậm chí còn khạc nhổ vào bất cứ ai qua lại đứng ngồi dưới chân cây thập giá.

Nhà hùng biện Si-sê-rô còn cho biết rằng, đôi khi phải cắt lưỡi người bị đóng đinh vào thập giá, để họ thôi buông lời phạm thượng.  Bởi thế, dân chúng bồn chồn.  Đám lý hình, luật sĩ, biệt phái chờ đợi tiếng la thét, mắng nhiếc, nguyền rủa của người bị đóng đinh đang hấp hối.  Nhưng, cũng như loại hương mộc tiết hương thơm ra cho cả chiếc rìu hạ chúng, Thánh Tâm trên cây Tình Thương tự đáy lòng đã thoát toả ra một lời nguyện thầm thỉ đầy êm ái về sự dung thứ và xá tội “Lạy Cha xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm.”

Tha thứ, vì họ không biết.  Giả mà họ biết tội họ phạm kinh tởm đến đâu khi lên án chết cho Đấng ban sự sống; giả mà họ biết rằng họ đang đổ máu Đức Giêsu dùng để cứu chuộc họ, giả mà họ biết như thế thì đời nào họ lại được tha?

Giả mà ta biết tội lỗi khủng khiếp dường nào mà cứ phạm tội; giả mà ta biết Chúa yêu ta đến nỗi Nhập Thể Làm Người mà ta vẫn khước từ không chịu đón nhận và tin yêu; giả mà ta thấu hiểu tình yêu tha thứ trong Bí Tích Giải Tội thật là vô biên mà không chịu xưng tội; giả mà ta biết Bí Tích Thánh Thể hàm chứa một sức sống vô song mà cứ khước từ không chịu ăn Mình Thánh và uống Máu Thánh.  Giả mà ta biết rõ những điều ấy, ta sẽ bị hư mất.  Ta không thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa, đó là lý lẽ độc nhất rộng thứ cái tội chưa chịu làm thánh của ta.

Chúa không chấp nhất, nhưng lại tha thứ, thì ta cũng phải tha thứ cho nhau (x Mt 6, 12; 6, 15; 18, 23-35).

  1. Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23, 43)

Kẻ tử tội bị đóng đinh bên hữu ngoảnh đầu nhìn sang đọc được tấm bảng: Giêsu Nazareth, Vua dân Do thái.  Trong tâm hồn người đạo chích này dậy lên những tâm tình nồng nàn.  Một tia sáng từ Thập giá chiếu ra làm rực sáng đức tin của anh nên anh đã dâng lời khẩn cầu:  Xin Ngài nhớ đến con khi Ngài về nơi vương quốc.  Chính lúc tử thần rình rập bên cạnh, chỉ có một người nhìn biết Chúa Kitô là minh chủ một vương quốc.  Chúa đã cứu chữa anh khi phán:  Hôm nay, con sẽ ở trên thiên đàng cùng với Ta.

Trước đó đã chẳng có ai được hứa ban như vậy, cho dù là Môisen hay Gioan, Mađalêna hay cả Đức Maria.

Người đạo chích đã gõ cửa, đã cầu xin chỉ có một lần, anh đã dám làm tất cả nên đã được tất cả.  Liệu có thể nói được rằng: Người trộm này đến chết vẫn còn hành nghề đạo chích, vì đến lúc chết, còn ăn trộm được thiên đường?

Lòng từ ái của Chúa đối với người trộm gợi nhớ lời sấm ngôn: Tội lỗi con có thắm như hồng điều, cũng sẽ nên trắng sạch như tuyết, có thẫm như vải đỏ, cũng sẽ mịn mướt như lông chiên.

Ơn dung thứ Chúa ban cho người trộm thống hối càng làm chúng ta hiểu hơn lời Chúa phán: “Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi… không phải người mạnh khoẻ nhưng người bệnh tật mới cần đến lang y… một người tội lỗi thống hối làm cho cả thiên đường vui mừng hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải thống hối.”

Người trộm biết sám hối ăn năn tiêu biểu cho thế giới dân ngoại tin và tuyên xưng Đức Giêsu là Vua.   Miễn là con người biết sám hối, Thiên Chúa luôn bao dung và từ ái.

  1. Thưa Bà, đây là con Bà (Ga 19,26)

Những lời Sứ thần Gabriel nói tại Nazareth: “Kính chào Bà đầy ân phúc” (Lc 1, 28) cũng soi sáng cho khung cảnh Calvê.  Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu, Thánh giá đánh giá một kết thúc.  Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá, nơi Thánh Gioan, Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ.  Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, Mẹ đã trở thành mẹ của loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ.  Dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận từ Chúa Giêsu như một lời truyền tin thứ hai: “Hỡi Bà này là con Bà” (Ga 19,26).

Lời truyền tin thứ nhất do Sứ thần đem đến, lần truyền tin thứ hai lại do chính Chúa phán ra. Lời truyền tin thứ hai long trọng, Đức Giêsu, Ngôi Lời truyền tin cho Mẹ mình, công bố vai trò Đức Maria là Mẹ Nhân Loại, Mẹ Giáo Hội.

Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người.
Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người.

Đức Maria là mẹ Thiên ân vì là mẹ của Tác giả ơn thánh.  Các con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ!  Hãy chiếu toả rạng ngời vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

(Viết theo cuốn:Trên đỉnh cao thập giá của ĐGM Fulton Sheen)

CÀNH LÁ PHẢN BỘI

ZZ(Mt 26,14-27,66)

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh hoạ Rembradt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh “Ba Thập Giá”.  Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: Giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu trổi lên một cách ngạo nghễ.  Dưới chân thập giá là cả một đám đông mà gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét… Tác giả như muốn nói rằng: Không trừ một người nào mà không dính líu vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

Nhìn kỹ vào đám đông, người ta thấy có một gương mặt như mất hút trong bóng tối, nhưng một vài nét cũng đủ cho các nhà chuyên môn chuẩn đoán rằng đó chính là khuôn mặt của danh họa Rembrandt, tác giả của bức tranh này.

Tại sao giữa đám đông của những kẻ đằng đằng sát khí khi tham dự vào cuộc thảm sát Chúa Giêsu, Rembradt, nhà danh họa lại chen vào khuôn mặt của mình?

Câu trả lời duy nhất mà người ta có thể đưa ra để giải thích về sự hiện diện của tác giả giữa đám người lý hình: đó là ý thức tội lỗi của chính ông.  Rembrandt muốn thú nhận rằng: Chính tội lỗi của ông đã đóng góp vào việc treo Chúa Giêsu lên thập giá.  Và qua sự có mặt của ông, tác giả cũng muốn nói với mỗi người chiêm ngắm bức tranh rằng, họ cũng dự phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

Anh chị em thân mến,

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm.  Phêrô đã chối bỏ Ngài.  Philatô đã rửa tay để chối bỏ trách nhiệm của ông.  Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Ngài vào thập giá.  Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài lên thập giá.

Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một mầu nhiệm.  Mầu nhiệm bởi vì chúng ta không thể hiểu được tại sao Con Một Thiên Chúa đã phải trải qua một thân phận đớn đau như thế?  Mầu nhiệm, bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy.  Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là chính do tội lỗi của chúng ta mà Ngài đã phải bị treo trên thập giá.  Tội lỗi của chúng ta ngày này, cho dù cách xa hai ngàn năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một xỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Ngài…

Thử hỏi, nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án của Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào và với thái độ nào?

Phải thú nhận rằng, tôi không dễ gì làm được như ông Simon thành Syrênê đã vác đỡ thập giá Chúa Giêsu.  Nhưng cũng đừng vội quả quyết rằng, tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm tông đồ trốn chạy, hoặc là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa.  Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ ràng tôi rất yếu đuối, dễ đứng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ dàng trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể và khi gặp nghịch cảnh, tương tự hành động của Giuđa!  Chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến ngày tận thế.

Thưa anh chị em, với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Tuần Thánh đã bắt đầu.  Đức Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người.  Bề ngoài, cuộc tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông quần chúng nô nức phất cao cành lá “hoan hô Con Vua Đavit” có vẻ một cuộc toàn thắng vang dội.  Thực ra, đây là một cuộc mở màn Thương Khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó.  Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của quần chúng đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô, trong tiếng kêu gào và những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo!  Đóng đinh nó đi!  Đóng đinh nó vào thập giá!”.

Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm.  Đi theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng.  Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó khó hơn nhiều.  Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba.  Nếu Kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến.  Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buồn.  Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành đô Giêrusalem và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

Trong những ngày thánh này, chúng ta phải tìm thời giờ đọc lại chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.  Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết… Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu.  Tình yêu vô cùng lớn của Đức Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại.  Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

Càng suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’ của – R. Veritas

 

TẤT CẢ CẦN LẶNG LẼ

ZZChiêm ngắm cuộc Thương khó, tôi ngỡ ngàng nhận ra bầu khí ấy mang dáng dấp của một xã hội thu nhỏ đầy phức tạp và ồn ào.  Quần chúng thì cứ chộn rộn, la ó mà thiếu một chút yên ắng để suy xét xem mình đang bàn tán về ai, hay đang to thét về điều gì.  Đám đông mãi là thế: thích tin đồn, vội xầm xì và dễ bị giựt dây.  Họ như những con sóng nhô thật cao, vỗ bờ thật kêu, để rồi vỡ tan xì xèo trống rỗng.

Ít ồn ào điên cuồng như quần chúng, nhưng sự lặng lẽ của các bác Pharisêu lại là chiếc mặt nạ che giấu bao đợt sóng ngầm đầy mưu toan, ác ý bên trong.  Họ chính là những người tạo tin đồn, tìm cách giựt dây quần chúng.  Họ chính là những người bắt và xử án Thầy Giêsu trong đêm. Họ chính là những người mệt mỏi vặn óc, khô hơi thuyết phục Philatô đóng đinh Thầy Giêsu ở hậu trường sân khấu.  Lặng lẽ bề ngoài kia liệu ích gì cho một tâm hồn đầy giông bão ngổn ngang, gai góc và cuồng nộ?

Còn một sự lặng lẽ khác trong màn kịch Thương khó, đó là sự lặng lẽ rút êm của một Philatô rửa tay chạy tội.  Ông đầu hàng, bỏ chạy sau một cuộc đấu tranh để sống cho cái tâm thiện bất thành của mình. Ông quý sự chân thật, thánh thiện, cao thượng nơi Thầy Giêsu; vì đó là những điều ông không có và đang mơ ước.  Song, ông cũng lo bảo vệ cho vị thế, gia sản mà bấy lâu nay ông tốn công vun vén trước sự đe dọa và áp lực của các bác Pharisêu ác tâm, và đám đông ba phải.  Sự lặng lẽ nơi ông khoác lên mình một màu tím tang tóc để khóc than cho cái thiện tâm bị khai tử.  Đáng buồn thay!

Đời vẫn thế!  Người vẫn vậy!  Từ bao nhiêu lâu nay!  Hoặc ồn ào để che đi sự trống rỗng bên trong. Hoặc yên ắng để che đi giông tố trong lòng.  Hoặc im lặng vì chẳng còn đủ sức chiến đấu trong cuộc chiến thiện – ác.  Liệu còn sự lặng lẽ nào cao quý hơn, tinh ròng hơn, thuần nhất hơn nơi lòng con người chăng?  Đó là sự lặng lẽ của Thầy Giêsu.

Thầy không nói bởi Thầy muốn cảm nghiệm.  Cảm nghiệm lòng đám đông hời hợt và phụ bạc.  Hời hợt nên chỉ lo nhu cầu của cái bụng, thích được ăn bánh cá no nê hơn là suy ngẫm “Lời mang sự sống đời đời.”  Hời hợt nên thích xem phép lạ hơn là tin người làm phép lạ.  Không sâu, không thân, không bám rễ nên dễ phụ bạc.

Thầy không nói bởi Thầy muốn hòa giải.  Thầy thèm tranh chi quyền giảng dạy của các bác Pharisêu. Thầy ham hố gì những thứ danh ảo chóng tàn của chức Rabbi.  Vậy mà các bác cứ đinh ninh Thầy cũng dừng ở quyền – danh như các bác.  Thế nên, các bác tìm mọi cách để loại trừ Thầy ra khỏi thị trường độc quyền ấy.  Thầy nhìn các bác mà ưu tư.  Bởi còn bám vào hình danh sắc tướng thì bao giờ các bác mới chạm được bề sâu của Chân lý, Tình yêu của Thiên Chúa.  Chưa kết thân với Thiên Chúa thì các bác cũng vô tình “khóa luôn cửa Nước Trời” cho những người mà các bác giảng dạy.  Những lời chửi của Thầy cũng chỉ như những cái tát cho các bác tỉnh cơn say của hơi men quyền – tiền – danh mà thôi.  Tỉnh để rồi làm hòa với Trời với người.

Thầy không nói bởi Thầy muốn tha thứ.  Những bội bạc, những hiểu lầm kia như những chiếc gai nhọn đâm thấu vào trái tim yêu của Thầy.  Vết đâm nào chẳng gây đau đớn.  Hiểu lầm nào chẳng gây thương tổn.  Tình trao đi càng nhiều, mong mỏi càng lớn thì những phản bội và ác ý càng thêm chua xót, hằn vết.  Thầy yêu ý thức.  Người hờ hững vô tình.  Xót xa mà phải chịu đựng.  Tổn thương mà phải hàn gắn.  Hiểu lầm mà không thể giải thích.  Thầy âm thầm cầu nguyện cùng Cha để có đủ nội lực bao chứa tất cả.  Thầy xin Cha thêm tình yêu để đắp vào những vết thương sâu khoắm nơi con tim Thầy.

Tất cả cần lặng lẽ.  Tất cả cần lặng lẽ…!

Bảo Ân, SJ

 

 

KHOẢNG LẶNG… KHI CON BỎ ĐI

ZZCó những giây phút ta đắm mình trong hạnh phúc, cũng có giây phút ta bị đau khổ giày vò.   Có lúc ta cuồng nhiệt, sôi nổi lao vào cuộc sống, lại có khi ta miên man, đắm chìm cùng những dòng suy tư trong tâm tưởng.  Người ta thường nói đó là “khoảng lặng” trong cuộc sống mỗi người.  Có bao giờ bạn tự hỏi: “tại sao khoảng lặng ấy xuất hiện trong tôi?  Có phải do tâm trạng tôi không?” Nâng cao hơn một chút, “Thiên Chúa tôi thờ có hay không những khoảng lặng ấy?”

Thiên Chúa, Ngài là Đấng tạo thành vũ trụ, là Chúa tể muôn loài.  Thì “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến. Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm” chứ?  Thế nhưng, vì tình yêu, chúng ta được gọi Ngài là Cha – một người Cha tràn đầy yêu thương và luôn lo lắng cho con được hạnh phúc.  Những lúc con vô tình làm trái ý Cha, khăng khăng theo ý mình, ấy là lúc con vô tình tạo nên khoảng lặng trong Cha.  Thiên Chúa Tối Cao nhưng Ngài cũng có… tâm trạng của một người Cha.

Ai trong chúng ta cũng không khỏi xúc động khi đọc dụ ngôn “người Cha nhân hậu” hay “đứa con hoang đàng”! ( Lc15, 11-32)  Vì yêu thương con, tôn trọng tự do của con, người cha đã chia gia tài, để con trẩy đi phương xa.  Người con thu góp tất cả những gì mình sở hữu và đi tìm cuộc sống phóng túng.  Chàng nào nghĩ tới cảm xúc của cha mình.  Ta cùng hình dung xem khung cảnh khi người cha tiễn biệt con.  Hai con người với hai thái độ, hai tâm trạng hoàn toàn trái ngược nhau.  Người con phấn khởi, vui mừng hả hê còn người cha đau khổ, lo lắng cách thầm lặng.  Phương xa với con là cả bầu trời hạnh phúc và tự do tuyệt đối nhưng lại là nơi đầy cạm bẫy, một màu đen bao phủ đối với cha.

Người con hoan hỉ ra đi, bước nhanh, bước nhanh tới nơi mình mong ước.  Anh đâu nào hay biết sau lưng mình, người cha đang đau đáu dõi theo, nhìn từng bước, từng bước con xa mình.  Cái nhìn của cha vời vợi cho tới khi bóng hình con khuất lấp đằng kia chân trời.   Giây phút ấy, lòng cha như thắt lại, như dứt từng khúc ruột, tê tái nhường bao.  Giây phút ấy, cha đã đấu tranh rất nhiều để kìm lòng cho con bước đi.  Giây phút ấy, cha đã lo lắng, đau đớn khi con bước chân vào tội lỗi.  Cũng giây phút ấy, dường như cha đã mất con… Nhưng, đó là giây phút hạnh phúc tột cùng của con.  Con say sưa với phần gia tài và sự tự do mà bấy lâu con hằng ao ước.  Làm sao con hiểu được nỗi lòng của cha.  Cha chỉ muốn nói rằng: Con ơi, hãy quay về đi, về bên cạnh cha đi con… Con đi rồi, cha đứng lại một mình trong cô đơn, trống vắng.  Để lại sau đó là tháng ngày dài cha sống trong nỗi nhớ thường trực, khôn nguôi.

Ngày hôm nay, Cha ngự trong nhà tạm đợi chờ con đến viếng thăm mỗi ngày.  Những giây phút một mình, chắc cha cô đơn, trống vắng lắm!  Nhưng Cha vẫn kiên nhẫn đợi chờ, vẫn mòn mỏi trông mong. Lòng Cha chợt hân hoan, trái tim Cha bỗng rộn rã, nét mặt Cha rạng ngời khi nghe có tiếng guốc lộc cộc tiến lại gần cánh cửa.  Nhưng niềm vui chưa kịp nhen lên đã vội vụt tắt.  Tiếng guốc dừng lại trước cánh cửa.  Một giây, hai giây, ba giây…Cánh cửa vẫn không hé mở.  Tiếng guốc lại lộc cộc trên nền gạch, nhưng không phải tiến vào, mà mỗi ngày một nhỏ dần, xa dần.  Cha lắng nghe tiếng guốc chân của con trong nỗi tê tái, ngậm ngùi.  Con đã không vượt qua được chính mình, vẫn mải mê thế sự và bị cuốn vào giữa dòng xoáy cuộc đời.  Con không thể mở rộng cánh cửa lòng mình để tìm đến bên Cha, tâm sự với Cha.  Chỉ một lí do đơn giản rằng con còn quá nhiều việc bận Cha ơi: nào là làm việc kiếm tiền nuôi bản thân và gia đình, học tập đủ thứ trau dồi bản thân, nào là đi chơi cùng bạn bè, người yêu, rồi hướng dẫn mấy em nhỏ học bài, hay con phải…phải…  Toàn những lí do chính đáng.  Cha hãy hiểu và thông cảm với con.  Cuộc sống đã biến con thành một người hay gắt gỏng, khó tính, nhìn đâu cũng thấy công việc chất chồng.  Con không thể bỏ những thứ ấy để đến bên Cha, tâm sự cùng Cha… Vâng, con người hôm nay sống quá thực dụng để rồi lãng quên Thiên Chúa tình yêu.  Người ta đi tìm những cái phồn hoa đô hội hơn là “mất thời giờ” cả tiếng bên Chúa.  Ngồi như vậy không làm việc thì nào được ích gì?  Chỉ có công việc, công việc và công việc là chiếm trọn thời gian của ta.  Tôi vẫn nhớ một câu nói rất hay rằng: nếu muốn biết bạn yêu mến ai, hãy xem thì giờ trong một ngày bạn giành cho ai nhiều nhất!  Đúng thế, chỉ khi ta yêu họ thật lòng, ta mới “can đảm” giành nhiều thời gian cho họ. Ngồi bên người yêu hàng tiếng mà cứ ngỡ mấy phút.  Còn ngồi bên Thiên Chúa thì sao?  Mấy phút thôi mà sao cảm thấy dài ghê vậy?  Có lẽ con cần kiểm điểm bản thân và quyết tâm đến bên Chúa nhiều hơn.

Chúa ơi! Con là đứa con hoang đàng, đã bỏ Chúa mà chạy theo đam mê trần thế, đã từ chối vòng tay yêu thương của Cha mà sa vào bóng đêm của tội lỗi, đã ép buộc Cha cho con tự do tuyệt đối để kiếm tìm thú vui riêng.  Con xin lỗi, xin lỗi Cha nhiều!  Không ít lần, con ra đi rồi trở về, ra đi rồi trở về lại… Nhưng Cha vẫn đứng đó, mỉm cười nhân hậu, đầy âu yếm.  Vì Cha biết rằng, xa Cha, con không thể có hạnh phúc.

Cha yêu ơi! Con sẽ trở về cùng Cha, sống trong vòng tay yêu thương, bao bọc của Cha, mãi không rời xa nữa.  Con sẽ cố gắng không tạo nên những “khoảng lặng” trong trái tim bao dung của Cha nữa.  Xin Cha là điểm tựa đỡ nâng con trên mọi bước đường của cuộc sống!

Bình An

NỐI KẾT VỚI CHÚA GIÊSU LÀ NGUỒN BAN SỰ SỐNG

Sự sống vô cùng quý báu

Mạng sống hơn đống vàng. “Thà là một con chó (đang) sống còn hơn là một con sư tử chết.” (nhà văn Jack London)

Ai cũng khao khát sống, sống lâu sống khoẻ, trẻ mãi không già.

Người ta mưu cầu sự sống bằng đủ mọi cách, với bất cứ giá nào.

Nếu có phương thuốc trường sinh, thì dù phải mua với giá cao ngất, thậm chí phải bán cả gia tài mới đủ, người ta cũng quyết mua cho bằng được.

Thế nhưng, cuộc sống lại quá mỏng giòn

Thực tế cho thấy cuộc sống hiện tại thật mỏng giòn, mong manh, tạm bợ.  Như quả bong bóng xà phòng do một em bé thôi lên, trông long lanh hấp dẫn, óng ánh muôn màu.  Nhưng rồi, bụp một cái! Nó tan biến hết, chẳng còn gì!

Vì thế mà một nhà thơ Việt nam, ông Nguyễn công Trứ than rằng: “Ôi, nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao…”

************************************

ZZCái chết của Ladarô nói lên thân phận mong manh kiếp người.

Cuộc đời của Ladarô cũng mong manh như thế.  Đang nửa chừng xuân, đang tuổi còn dồi dào sức sống, Ladarô vội vã từ giã cuộc đời, để lại vô vàn đau thương tiếc nuối cho thân nhân cũng như bè bạn.

Đó là một mất mát vô cùng lớn lao mà không gì trên đời bù đắp nổi.  Mất gì người ta cũng có thể kiếm lại được và có thể tậu lại cái mới tốt hơn; còn mất mạng sống là mất tất cả và dường như chẳng còn cách nào phục hồi lại được!

Chính vì thế mà khi Lagiarô chết đi, bà con họ hàng vô cùng thương tiếc.  Cho dù Lagiarô đã an nghỉ trong mộ bốn ngày rồi mà hai người chị là Matta và Maria vẫn còn ngậm ngùi thổn thức…  Ngay cả Chúa Giêsu khi đến thăm mộ cũng không cầm được nước mắt trước cái chết của người thanh niên còn xuân trẻ nầy.

Khát vọng lớn nhất của nhân loại là khát sống.  Cho dù cuộc sống hôm nay chỉ là tạm bợ, nay có mai không, có nhiều đắng cay cơ cực, có nhiều vất vả muộn phiền, nhưng ai ai cũng khát khao được sống.

Chúa Giêsu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại.

Vậy phải tìm đâu cho có sự sống lâu bền?  Phải làm gì để biến đổi đời sống mau qua trở thành vĩnh cửu?

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta bí quyết.  Ngài tỏ cho Matta và Maria biết bí quyết nầy: “Ta là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống”.

Nếu chỉ nói suông thì lời nói đó chẳng có giá trị gì.  Điều quan trọng là lời khẳng định của Chúa Giêsu được củng cố bằng sự việc kèm theo.  Dù Lagiarô đã chết và được mai táng trong mộ bốn ngày rồi, thân xác bắt đầu sình lên và đã nặng mùi, thế mà khi Chúa Giêsu kêu gọi: “Lagiarô, hãy ra đây!” thì người chết bắt đầu vươn vai chỗi đậy, bước ra khỏi mồ theo lời Chúa truyền dạy trước sự kinh ngạc của những người chứng kiến, trước sự hoan hỉ khôn tả của thân nhân họ hàng.

Sự kiện Chúa Giêsu làm cho Lagiarô sống lại, kèm theo sự kiện chính Ngài đã tự mình sống lại sau khi đã chết trên thập giá và mai táng trong mồ… chứng tỏ rằng Ngài là Đấng hằng sống và có thể ban sự sống cho mọi người.

Hãy kết nối với Chúa Giêsu để nhận được sự sống đời đời.

Chúa Giêsu là Nguồn ban sự sống.  Muốn sống đời đời thì hãy nối kết với Chúa Giêsu.

Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.

Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái phải được sát nhập vào thân nho.

Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể.

Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với Nguồn ban sự sống là Chúa Giêsu.

************************************

Lạy Chúa Giêsu, qua bí tích Rửa Tội, Chúa đã nối kết chúng con nên một với Chúa, để được trở thành chi thể của Chúa.

Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu cho chúng con được trở nên đồng huyết nhục với Chúa và từ đó, sự sống thần linh của Chúa được thông truyền cho chúng con.

Tiếc thay, khi phạm tội trọng, chúng con đã tự cắt lìa mình ra khỏi Chúa như cành nho lìa thân nho, như bàn tay bị cắt lìa khỏi cơ thể và như thế chúng con đánh mất sự sống đời đời.

Xin cho chúng con sớm giao hoà với Chúa qua bí tích Giải Tội, để được nối kết lại với Chúa và để cho sự sống thần linh của Chúa tiếp tục thông truyền cho chúng con.  Amen!

Lm Ignatiô Trần Ngà

 

CON CÓ UỐNG NỔI CHÉN THẦY SẮP UỐNG KHÔNG?

Thầy yêu mến;

Có một câu chuyện được kể lại trong Thánh Kinh như sau: “Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su, có các con bà đi theo; bà bái lạy và kêu xin Người một điều.  Người hỏi bà: “Bà muốn gì?” Bà thưa: “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong nước Thầy.” Đức Giê-su bảo: “Các người không biết các người xin gì.  Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” Họ đáp: “Thưa uống nổi.” Đức Giê-su bảo: “Chén của Thầy, các người sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được.”(Mt 20, 20-23)

Thầy kính mến!  Hơn lúc nào hết, chính lúc này đây trong tâm tình của những tuần mùa chay thánh này, con cũng đang nghe bên mình câu hỏi của Thầy Giê-su: “Con có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” (Mt 20, 22).  Câu hỏi đó giống như là:

Lời mời gọi bước theo dấu chân của Thầy Chí Thánh.

Mùa Chay là thời giờ mà Giáo Hội dành tặng cho con để con có thể tái khám phá khuôn mặt Đức Giê-su qua những đau khổ của anh chị em xung quanh con.  Và nhắc nhở con đứng dậy để “trở về” với tình yêu của Thiên Chúa bằng việc từ bỏ những thói hư tật xấu của bản thân và những gì có thể ngăn trở việc tiến về Chúa.  Để cho chúng con được trở nên một với Ngài.

Trước những đau khổ và phiền muộn của kiếp người, con được mời gọi dâng những “chén đắng” trong hành trình trần thế của con kết hợp với những nỗi thống khổ Chúa Giê-su đã chịu trên Thánh Giá xưa.  Để cho chúng con được trở nên một với Ngài.

Hơn thế nữa, Mùa Chay, Giáo Hội cũng dạy cho con biết: Thiên Chúa Đấng toàn năng đã chết thật vì tội lỗi của loài người thế nhưng Ngài đã chiến thắng sự chết và đã trỗi dậy thật.  Ngài yêu nhân loại cho đến độ hy sinh mạng sống mình và lại còn khiêm nhường ở lại trong tấm bánh trắng nhỏ bên hòm chầu hàng ngày.  Con được mời gọi để chia sẻ “tình yêu cao vời” hơn cả trời xanh ấy với anh chị em con.  Để cho chúng con được trở nên một với Ngài.

Thầy yêu mến; Thầy mời gọi con uống chung một chén với Thầy để con có thể trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy trong một tình yêu duy nhất.  Xin ban cho con có một Đức tin cứng cáp, lòng cậy vững vàng để con có thể trỗi dậy sau những lần gục ngã mà không để ngọn lửa Đức tin bị lụi tàn.

ZZVà… Câu trả lời của con.

Thầy kính mến; câu hỏi của Thầy sẽ mãi là câu hỏi mà cuộc hành trình trần thế của người Ki-tô hữu như con là chính câu trả lời.  Câu trả lời ấy chính là sự đáp trả lại tình yêu của Đức Giê-su bằng việc chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa với những người anh em xung quanh cuộc sống hàng ngày.  Điều đó có thể chỉ là những lời ủi an người anh em khi họ đang trong cơn đau khổ.  Cũng có thể chỉ là ngồi lắng nghe ai đó chia sẻ nỗi đau với một trái tim cảm thông và yêu mến.  Đôi khi cũng là chia san chén nước mát với người lữ khách đang khát.  Con xin nguyện làm khí cụ trong tay Ngài.

Thầy yêu mến, câu trả lời chính là sống với tâm tình tạ ơn, chia sẻ tình yêu Thầy với những người anh em nghèo khó và kể câu chuyện cổ tích tình yêu mà Giê-su đã chết trên thập giá xưa chỉ vì “yêu”.

Con DomStone

 

VÀO SA MẠC CÙNG TỔ PHỤ MÔSÊ

Mùa chay là thời điểm Thiên Chúa mời gọi chúng ta từ bỏ cuộc sống nô lệ cho tội lỗi để đi đến vùng đất tự do mà Thiên Chúa đã hứa ban.  Sa mạc là vùng đất trung gian cần vượt qua giữa 2 miền đất tội lỗi và tự do ấy.  Với ý nghĩa đó, suy niệm về cuộc ra đi 40 năm trong sa mạc của dân Do Thái ở Cựu ước sẽ giúp ta nhận ra vài ý nghĩa sâu sa của mùa chay Thánh.

Vào sa mạc, nghĩa là ta từ bỏ các lo toan cơm áo gạo tiền thường nhật quá mức, các tiện nghi vật chất của cuộc sống hiện đại và biết phó thác những lo lắng, thiếu thốn này vào tình yêu của Thiên Chúa quan phòng.  Cơm cá hàng ngày sẽ thay thế bởi manna và chim cút mà Thiên Chúa bằng nhiều cách khác nhau sẽ ban cho con cái Ngài.  Cảm nghiệm bằng tinh thần tin tưởng tuyệt đối, hãy để Ngài cầm tay dẫn dắt, chúng ta sẽ nhận ra lòng quảng đại và tính quan phòng của Thiên Chúa.  Ở đó Ngài không chỉ tính toán cho 1, 2 ngày mà lập trình cho kế hoạch dài hạn 40 năm và hơn thế nữa.

Vào sa mạc, nghĩa là phải đối diện với một không gian rộng lớn, ở đó không thấy các con đường, phố xá quen thuộc.  Chúng ta rơi vào cảm giác bơ vơ, chông chênh, lạc lõng.  Nhưng cũng chính nơi này, Thiên Chúa lại biểu thị sự hiện diện của mình để dẫn dắt dân Ngài.  Ban ngày Thiên Chúa dẫn đường qua một cột mây, còn ban đêm là cột lửa.  Ngài là  Đấng vừa tỏ hiện vừa che dấu.

ZZVào sa mạc không chỉ để cầu nguyện mà là tiếp tục dấn bước tới đích đến là vùng đất xa mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai tin tưởng và chọn Ngài làm Cha của cơ nghiệp riêng mình.  Vùng đất mà chúng ta chưa từng chứng kiến bằng mọi giác quan, chỉ biết nơi ấy rất phù sa, màu mỡ.

Vào sa mạc không phải để đón nhận sự an bình, tự tại mà là tiếp tục một cuộc chiến đấu, chiến đấu với việc từ bỏ những nhu cầu dễ dãi của một con người và chiến đấu với cả quân thù.  Kẻ thù có thể là những phần thuộc thế giới hữu hình lẫn vô hình, những thứ gây cản trở cho chúng ta trên đường tiến về đất hứa.  Hình ảnh của Môsê và Giosuê trong cuộc chiến với người Amalếch cho chúng ta những kinh nghiệm.  Phải nỗ lực chiến đấu bằng sự cầu nguyện liên lỉ, đồng hành với ý chí tiến công của cá nhân.

Vào sa mạc, chúng ta được Thiên Chúa mời gọi kí kết với Ngài một giao ước mới.  Ở đó chúng ta sẽ mãi mãi gọi Thiên Chúa là Cha duy nhất.  Muốn thế chúng ta phải tuân giữ các lề luật mà Ngài đã ban hành.  Lề luật không phải là mục đích, nó là phương tiện giúp ta không vượt khỏi ranh giới, để mối liên kết giữa con người và Thiên Chúa không bị cắt đứt.  Nhìn như thế, lề luật là ân sủng.  Thánh Phaolô nói “Cho nên Lề luật đã thành quản giáo dẫn tới Ðức Kitô, ngõ hầu ta được giải án tuyên công do đức tin.” ( Gl 3, 24).

Hành trình vào sa mạc không chỉ là 1 tuần hay 40 ngày mà là cả cuộc đời.  Trên hành trình dài như thế, bản tính yếu đuối con người lại bộc lộ.  Khi thuận lợi thì sinh kiêu căng, lúc gian nan lại trở nên hèn yếu.  Và tại những thời khắc nhất định, con người dễ rơi vào trạng thái phản Thầy (dựng và thờ thần khác: thần Ba-an), nổi loạn và vô ơn.  Lúc đó Thiên Chúa nổi giận và trừng phạt.  Để được ơn tha thứ, con người hãy ngước nhìn lên Thánh giá.  Chính Đức Giêsu đã chịu chết để trở thành phương thế cứu độ cho loài người.

Lạy Chúa, xin ban thêm cho chúng con lòng dũng cảm để luôn kiên trung bước đi trong sa mạc, nghĩa là chọn con đường thánh giá, để  tiến về miền đất mà Chúa đã hứa ban cho những ai biết trung thành với Ngài.

Gia Tuấn Anh